Quy định của pháp luật và thực trạng xét xử các vụ án xâm hại trẻ em và kiến nghị hoàn thiện

Trong những năm gần đây, số vụ án hình sự xâm hại trẻ em do Tòa án xét xử và số trẻ em bị xâm hại có xu hướng gia tăng và nghiêm trọng với nhiều thủ đoạn mới. Từ thực trạng nêu trên, cần phải đưa ra giải pháp đưa ra trong xét xử các vụ án xâm hại trẻ em. Tác giả bài viết nêu thực trạng xét xử các vụ án xâm hại trẻ em và đưa ra các giải pháp, kiến nghị …
 

Quy định của pháp luật và thực trạng xét xử các vụ án xâm hại trẻ em và kiến nghị hoàn thiện

Mục lục:

  1. Khái quát chung
  2. Thực tiễn xét xử các vụ án xâm hại trẻ em
  3. Thực trạng và giải pháp trong xét xử các vụ án xâm hại trẻ em
  4. Giải pháp đưa ra trong xét xử các vụ án xâm hại trẻ em
Bị cáo Nguyễn Trọng Trình xâm hại bé gái 9 tuổi ở Chương Mỹ bị phạt tù chung thân – Ảnh: Tư Viễn, NĐT
Bị cáo Nguyễn Trọng Trình xâm hại bé gái 9 tuổi ở Chương Mỹ bị phạt tù chung thân – Ảnh: Tư Viễn, NĐT

1. Khái quát chung

Theo Luật Trẻ em năm 2016, “trẻ em” là người dưới 16 tuổi. Xâm hại trẻ em được hiểu là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác.
Tội phạm xâm hại trẻ em, trong BLHS năm 2015, một số được quy định thành tội danh cụ thể như tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” (Điều 142), tội “Cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” (Điều 144), tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” (Điều 145)… một số được quy định thành tình tiết định khung hình phạt như tội “Giết người” (“giết người dưới 16 tuổi” điểm b khoản 1 Điều 123), tội “Làm chết người trong khi thi hành công vụ” (“đối với người dưới 16 tuổi” điểm b khoản 2 Điều 127), tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” (“đối với người dưới 16 tuổi” điểm c khoản 1 Điều 134)…hoặc được quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (“phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” hoặc “xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” các điểm i và o khoản 1 Điều 52).
So sánh với nội dung quy định của BLHS năm 1999, nội dung tại các điều luật quy định về tội phạm xâm hại tình dục trẻ em của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có sự thay đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế tình hình diễn biến và tính chất của loại tội phạm này nhằm xử lý đúng người, đúng tội, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Thứ nhất, thay đổi tên một số tội danh và cụ thể hóa độ tuổi của bị hại vào tên tội danh, giúp thể hiện rõ hơn các dấu hiệu pháp lý của tội phạm (thể hiện ngay trong tên điều luật), đây là một trong những điều kiện thuận lợi giúp các cơ quan hành pháp, tư pháp điều tra xử lý đúng hành vi, đúng tội đảm bảo tính nghiêm minh, tính răn đe của pháp luật. Cụ thể, tội “Hiếp dâm trẻ em” (Điều 122) thành tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” (Điều 142); tội “Cưỡng dâm trẻ em” (Điều 114) thành tội “Cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” (Điều 144); tội “Giao cấu với trẻ em” (Điều 115) thành tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” (Điều 145); tội “Dâm ô trẻ em” (Điều 116) thành tội “Dâm ô với người dưới 16 tuổi” (Điều 146).
Ngoài ra, BLHS năm 2015 còn cụ thể hoá một số cụm từ khác như “người đã thành niên” được thay bằng “người đủ 18 tuổi trở lên”; “nhiều người” được thay bằng “từ 02 người trở lên”; “nhiều lần” được thay bằng “từ 02 lần trở lên”; “hiếp dâm trẻ em” được thay bằng “dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ” hoặc “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi”. Cùng với đó, cụm từ “cưỡng dâm trẻ em”, “giao cấu với trẻ em”, “dâm ô với trẻ em” cũng được khái niệm cụ thể để đảm bảo tính thống nhất trong cách hiểu và quá trình áp dụng của các cơ quan có thẩm quyền.
Thứ hai, bổ sung thêm “hành vi quan hệ tình dục khác” vào mặt khách quan của tội phạm. Theo quy định của BLHS năm 1999 thì yếu tố bắt buộc để chứng minh trong một số tội xâm hại tình dục như tội hiếp dâm, cưỡng dâm là thực hiện việc “giao cấu” với nạn nhân. Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay đã xuất hiện các hành vi quan hệ tình dục phi truyền thống như quan hệ tình dục bằng miệng… Do vậy, ngoài hành vi “giao cấu” BLHS năm 2015 bổ sung thêm hành vi “quan hệ tình dục khác” làm cơ sở để chứng minh tội phạm. Việc bổ sung thêm hành vi vào mặt khách quan của tội phạm giúp nâng cao tính bao quát, toàn diện, phát triển và đảm bảo sự phù hợp của các điều luật có liên quan được quy định trong BLHS năm 2015, tránh để loại tội phạm, loại bỏ hành vi “lách luật”, lợi dụng “kẽ hở” của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội.
Thứ ba, mở rộng chủ thể thực hiện tội phạm xâm hại tình dục và nạn nhân. Trong BLHS năm 1999, những tội phạm xâm hại tình dục được cấu thành bằng hành vi “giao cấu” như tội Hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em, tội cưỡng dâm… Mặc định được hiểu chủ thể thực hiện là nam giới; đồng thời, nữ giới chỉ có thể trở thành chủ thể của Tội hiếp dâm trong trường hợp đồng phạm với vai trò người giúp sức. Tuy nhiên, với BLHS năm 2015, do công nhận các hành vi quan hệ tình dục khác trong mặt khách quan của tội phạm nên chủ thể của tội phạm xâm hại tình dục có thể là nam giới hoặc nữ giới.
Thứ tư, thay đổi khung hình phạt đối với các hành vi phạm các tội thuộc nhóm tội phạm liên quan đến xâm hại tình dục: Đối với tội “Hiếp dâm” so với BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 đã thêm trường hợp bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm khi hành vi hiếp dâm gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%; thêm trường hợp bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân khi hành vi hiếp dâm gây thương tích cho nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 46% trở lên. Việc thay đổi khung hình phạt đối với các tội danh thuộc nhóm tội phạm xâm hại tình dục đảm bảo khung hình phạt tương ứng với hậu quả do hành vi phạm tội, qua đó đảm bảo tính nghiêm minh, chính xác, tính răn đe của pháp luật.

Thứ năm, BLHS năm 2015 quy định thêm tội Sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147). Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đấu tranh, phòng ngừa tội phạm vì trên thực tế, các hình thức khiêu dâm bùng nổ và gia tăng khắp nơi dưới nhiều hình thức. Trong đó, xuất hiện cả những hiện tượng sử dụng trẻ em, người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm. Mặc dù, BLHS năm 1999 đã quy định về tội dâm ô trẻ em, song quy định này chưa bao quát hết các hành vi xâm hại tình dục trẻ em đã và đang diễn ra hiện nay. Hiện tượng ép buộc trẻ em phải biểu diễn các hành vi khiêu dâm, đóng phim khiêu dâm, xem những hình ảnh khiêu dâm… đang diễn ra khó kiểm soát. BLHS năm 2015 bổ sung thêm quy định về tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm nhằm xử lý triệt để mọi hành vi xâm phạm tình dục trẻ em là rất hợp lý, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm và hạn chế sự gia tăng của tội phạm này.
Có thể nói, BLHS năm 2015 đã khắc phục hạn chế của những quy định trước, kịp thời ban hành những quy định cụ thể, chặt chẽ, phù hợp và có hình phạt nghiêm khắc đối với loại tội phạm xâm hại trẻ em nói chung và đối với loại tội phạm xâm hại tình dục trẻ em nói riêng.

2. Thực tiễn xét xử các vụ án xâm hại trẻ em

Từ ngày 01/01/2015 đến ngày 30/6/2019, các Tòa án đã đưa ra xét xử 6.585 vụ với 7.339 bị cáo phạm các tội xâm hại trẻ em. Trong tổng số các vụ án đã đưa ra xét xử, số trẻ em là nạn nhân bị các tội phạm này xâm hại là 7.654 em (trong đó có 7.121 em nữ, 533 em nam).
Trong số trẻ em là nạn nhân của hành vi xâm hại, phần lớn là nạn nhân của hành vi xâm hại tình dục (6.429 em, chiếm 84% tổng số trẻ bị xâm hại); bị bạo lực là 727 em (chiếm 9,5% tổng số trẻ bị xâm hại); bị mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt là 264 em (chiếm 3,4% tổng số trẻ bị xâm hại), còn lại là các hình thức gây tổn hại khác (như bóc lột; bắt cóc; tổ chức, hỗ trợ, xúi giục, ép buộc trẻ em tảo hôn và các hành vi xâm hại khác…).
Trong tổng số 7.339 bị cáo phạm tội xâm hại trẻ em đã đưa ra xét xử: 432 bị cáo là người ruột thịt, người thân thích khác với nạn nhân (chiếm 5,9%); 37 bị cáo là giáo viên, cán bộ, nhân viên tại các cơ sở giáo dục (chiếm 0,5%); 776 bị cáo là người có trách nhiệm chăm sóc, chữa bệnh, người quen của trẻ em (chiếm 10,6%); 20 bị cáo là người nước ngoài (chiếm 0,3%); còn lại chủ yếu là các đối tượng khác (82,7%).
Trong tổng số các tội phạm xâm hại trẻ em đã bị đưa ra xét xử:
+ Chiếm phần lớn là các hành vi xâm hại tình dục trẻ em: 5.851 vụ với 6.165 bị cáo đã đưa ra xét xử sơ thẩm (89% số vụ và 84% số bị cáo). Trong đó: chiếm tới 46% là hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; 29,2% hành vi hiếp dâm người dưới 16 tuổi; 13,1% hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi; 0,7% hành vi cưỡng dâm người dưới 16 tuổi;
+ Hành vi bạo lực trẻ em: có 514 vụ/769 bị cáo đã đưa ra xét xử sơ thẩm (8,7% số vụ và 11,5% số bị cáo);
+ Mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em: có 180 vụ/350 bị cáo đã đưa ra xét xử sơ thẩm (2,7% số vụ và 4,8% số bị cáo);
+ Còn lại là các hành vi xâm hại khác.
Hậu quả của hành vi xâm hại trẻ em gây ra thường rất nghiêm trọng, kết quả xét xử các vụ án xâm hại trẻ em tại các Tòa án:
+ Số trẻ em tử vong do bị xâm hại: 100 em,
+ Số trẻ em bị thương tật do bị xâm hại: 199 em,
+ Số trẻ em bị rối loạn tâm thần do bị xâm hại: 51 em,
+ Số trẻ em có thai do bị xâm hại tình dục: 251 em,
+ Số trẻ em phải bỏ học do bị xâm hại: 84 em,
+ Số trẻ em bị các tác động khác về thể chất, tinh thần do bị xâm hại: 6.969 em.
Một số tội phạm xâm hại trẻ em ngoài việc gây tổn hại về thể chất như thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; từ 61% trở lên; có trường hợp trẻ em bị hoảng loạn tinh thần, tổn thương sâu sắc về mặt tâm lý…

Từ thực tiễn nêu trên cho thấy, số các vụ án về tội phạm xâm hại trẻ em là rất lớn, trong đó nhiều nhất là xâm hại tình dục trẻ em. Thời gian qua, các tội phạm xâm hại tình dục đối với trẻ em diễn biến phức tạp, có xu hướng gia tăng, nhiều vụ việc nghiêm trọng xảy ra gây bức xúc trong dư luận xã hội. Bên cạnh đó, việc triển khai các quy định của BLHS, BLTTHS, các đạo luật có liên quan và hướng dẫn thi hành trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án xâm hại tình dục cũng phát sinh một số khó khăn, vướng mắc. Để kịp thời phòng ngừa, đấu tranh với loại tội phạm này, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên; ngày 20/9/2019, Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã thông qua Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của BLHS và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi. Nghị quyết gồm 08 điều, trong đó có các nội dung hướng dẫn cụ thể về các tình tiết xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi, bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác trên cơ thể, dụng cụ tình dục hoặc dụng cụ khác được sử dụng vào hoạt động tình dục; giải thích cụ thể thế nào là hành vi giao cấu, hành vi quan hệ tình dục khác, hành vi dâm ô, trình diễn khiêu dâm, các hình thức biểu hiện trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm…
Nghị quyết cũng hướng dẫn cụ thể về một số tình tiết định tội, tình tiết định khung hình phạt; các trường hợp loại trừ xử lý hình sự; nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi và việc tổ chức xét xử vụ án xâm hại tình dục có bị hại là người dưới 18 tuổi. Tóm lại, Nghị quyết được ban hành có ý nghĩa quan trọng trong việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS năm 2015 về các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và đảm bảo áp dụng đúng, thống nhất, phù hợp với quy định pháp luật trong nước cũng như quốc tế.
Ngoài ra, TANDTC đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tiến hành tố tụng ở Trung ương trong việc hướng dẫn áp dụng pháp luật, chỉ đạo xử lý, giải quyết các vụ án xâm hại trẻ em, nâng cao hiệu quả trong công tác phòng chống loại tội phạm này, cụ thể: Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 quy định về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng Điều 150 về tội mua bán người và Điều 151 về tội mua bán người dưới 16 tuổi của Bộ luật Hình sự. Chánh án TANDTC ban hành Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21/9/2018 quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Toà gia đình và người chưa thành niên. Thông tư này đã quy định về việc xét xử vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi hoặc vụ án hình sự có người bị hại là người dưới 18 tuổi bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lý hoặc cần sự hỗ trợ về điều kiện sống, học tập do không có môi trường gia đình lành mạnh như những người dưới 18 tuổi khác thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên.

3.Thực trạng và giải pháp trong xét xử các vụ án xâm hại trẻ em

Thực trạng xét xử các vụ án xâm hại trẻ em thời gian từ ngày 01/01/2015 đến ngày 30/6/2019, cho thấy các Tòa án đã phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cùng cấp từ giai đoạn điều tra, truy tố để giải quyết kịp thời, đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội và áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với những hành vi xâm hại trẻ em, nhất là hành vi xâm hại tình dục trẻ em.
Ví dụ: Vụ án Liễu Diệp Quần (sinh năm 1987; trú tại thôn Dục Thanh, thị trấn Bách Thạch Sơn, thành phố Giao Hà, tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc), Quần và Quách Đại Phát nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, ngày 26/02/2014, đột nhập vào nhà anh Long Văn Linh (huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn), bị cháu Long Thanh Tuyền phát hiện (cháu Long ở nhà một mình, khi bị xâm hại là 10 tuổi), Quần và Phát đã dùng dao cắt cổ cháu Tuyền đến chết. TANDCC tại Hà Nội xử phạt Liễu Diệp Quần tử hình về tội “Giết người” với tình tiết định khung tăng nặng “giết trẻ em” (Bản án hình sự phúc thẩm số 307/2016/HSPT ngày 23/5/2016).
Tuy nhiên, việc giải quyết các vụ án xâm hại trẻ em còn gặp nhiều khó khăn, có nhiều trường hợp, khi xảy ra sự việc trẻ bị xâm hại, gia đình ngại tố cáo tội phạm hoặc chính tội phạm là người thân trong gia đình nên dấu kín vì sợ tai tiếng và mặc cảm. Hoặc do tác động tiêu cực của văn hóa phẩm kích động, bạo lực, phim ảnh khiêu dâm, kích dục trên internet. Tình trạng không có việc làm, trình độ văn hóa thấp, không hiểu biết pháp luật, coi thường pháp luật. Sự xuống cấp về đạo đức của một số không ít người là nguyên nhân chính gây ra tình trạng xâm hại trẻ em, có nhiều trường hợp là cha đẻ.
Ví dụ: Vụ án Phạm Văn Hoanh (sinh năm 1982; trình độ văn hóa: Lớp 3/12; trú tại thôn Trường An, xã Ba Thành, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi), sau khi ly hôn vợ, Hoanh ở cùng con gái là cháu Phạm Thị Hiếu (khi bị xâm hại là 12 tuổi 04 tháng). Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2015 đến tháng 3/2016, Hoanh đã 03 lần thực hiện hành vi dùng miệng, tay kích thích vào bộ phận sinh dục của cháu Hiếu nhằm giao cấu với cháu Hiếu nhưng không thành. TANDCC tại Đà Nẵng đã xử phạt Phạm Văn Hoanh 15 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em” (Bản án hình sự phúc thẩm số 68/2017/HSPT ngày 27/3/2017).
Ví dụ: Vụ án Đoàn Huy Hoàng (sinh năm 1982; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; trú tại ấp Cấp Rang, xã Suối Tre, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai), do có mâu thuẫn với vợ, ngày 07/01/2015, Hoàng đã dùng dao giết vợ và đâm một nhát vào ngực con trai là cháu Đoàn Phi Long (khi bị xâm hại là 12 tuổi) gây thương tích cho cháu Long tỷ lệ thương tật 57%. TAND tỉnh Đồng Nai xử phạt Đoàn Huy Hoàng tử hình về tội “Giết người” với tình tiết định khung tăng nặng “giết trẻ em” (Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2017/HSST ngày 27/6/2017).
Do đặc điểm về tâm sinh lý của trẻ em, sự bồng bột thiếu suy nghĩ và non nớt về trí tuệ, trình độ nhận thức còn nhiều hạn chế, thiếu kiến thức về xã hội và pháp luật là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ em bị xâm hại. Về thể chất, các em còn chưa phát triển đầy đủ, chưa có khả năng chống cự lại những hành vi xâm hại của tội phạm.
Ví dụ: Vụ án Nguyễn Văn Mười (sinh năm 1972; trú tại tổ 25, ấp Thành Phú, xã Thành Lợi, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long), sau khi uống rượu và xem phim sex, thấy cháu Phạm Ngọc Bích đi ngang qua nhà, Mười đã thực hiện hành vi hiếp dâm cháu Bích (khi bị xâm hại là 07 tuổi 07 tháng); sau đó, Mười giết cháu Bích để che giấu tội phạm. TANDCC tại Tp Hồ Chí Minh kết án Nguyễn Văn Mười tử hình về tội “Giết người”, 12 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em”; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là tử hình (Bản án hình sự phúc thẩm số 465/2017/HSPT ngày 30/8/2017).
Đối với việc giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em hiện nay cho thấy, việc phát hiện, thu thập tài liệu chứng cứ ban đầu như các dấu vết, mẫu tinh dịch, mẫu AND của đối tượng gây án để lại trên người và quần áo của nạn nhân hoặc ở hiện trường còn gặp nhiều khó khăn vì có nhiều trường hợp, trẻ em bị xâm hại tình dục, khi gia đình biết đã lưỡng lự trong việc giải quyết dẫn đến khai báo muộn, hoặc không biết cách thu giữ vật chứng cần thiết để giao nộp cho cơ quan chức năng, dẫn đến việc vô hình chung đã tạo điều kiện để người phạm tội có đủ thời gian xóa dấu vết. Do đó, việc thu thập chứng cứ đầy đủ, chính xác gặp nhiều khó khăn (không thu được tinh dịch, vùng kín bị hóa sẹo…) nên rất khó để xác định người bị hại có bị hiếp dâm hay không và ai là người thực hiện hành vi phạm tội. Có trường hợp, việc xác định độ tuổi của trẻ bị xâm hại có nhiều mâu thuẫn, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng, dẫn đến việc vụ án phải điều tra lại nhiều lần, kéo dài thời gian giải quyết.

4. Giải pháp đưa ra trong xét xử các vụ án xâm hại trẻ em

– TAND các cấp cần tiếp nhận, giải quyết kịp thời, xử lý nghiêm các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em; Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo việc rà soát hồ sơ, vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em để xử lý dứt điểm, có giải pháp tích cực trong việc xử lý các vụ án xâm hại trẻ em, không để tồn đọng, kéo dài.
– Tổ chức các lớp tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ xét xử để nâng cao năng lực và kỹ năng xét xử cho các Thẩm phán được giao nhiệm vụ giải quyết các vụ án về xâm hại trẻ em, bảo đảm nhận thức, áp dụng đúng đắn thống nhất pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em. Đối với các vụ án xâm hại trẻ em đã xảy ra, bên cạnh việc đấu tranh, xử lý đối tượng phạm tội thì Thẩm phán phải là người hiểu tâm lý và thân thiện với trẻ em là nạn nhân trong vụ án.
– TAND các cấp cần chủ động phối hợp với Cơ quan điều tra, VKSND cùng cấp ngay từ giai đoạn điều tra, truy tố để kịp thời nắm bắt diễn biến vụ án để lên kế hoạch xét xử, đảm bảo kịp thời giải quyết các vụ án xâm hại trẻ em được nhanh chóng, đúng thời hạn luật định và xử lý nghiêm khắc đối với loại tội phạm xâm hại trẻ em; rà soát hồ sơ, xử lý dứt điểm không để tồn đọng việc xâm hại trẻ em. Ngoài ra, tổ chức thực hiện tốt và có hiệu quả quy trình, thủ tục xét xử thân thiện đối với trẻ em, đặc biệt là trẻ em bị xâm hại tình dục.
– Nâng cao hiệu quả điều tra, xử lý tội phạm xâm hại trẻ em, cần xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật, kiên quyết đấu tranh không để lọt tội phạm. Trong công tác tổ chức các phiên tòa xét xử các vụ án hình sự về các tội xâm hại đối với trẻ em, nhất là xâm hại tình dục đối với trẻ em, các Tòa án cần cân nhắc kỹ lưỡng, đảm bảo vừa làm rõ các tình tiết của vụ án, đồng thời đảm bảo thuần phong mỹ tục, các yếu tố văn hóa, bảo vệ danh dự, nhân phẩm của trẻ em. Hình phạt áp dụng đối với các tội xâm hại trẻ em cần phải đảm bảo nghiêm minh, đúng quy định, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về xâm hại trẻ em nói riêng.
– Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các văn bản pháp luật tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình xét xử, góp phần xử lý nghiêm minh các vụ án xâm hại trẻ em nói chung và xâm hại tình dục trẻ em nói riêng.
– Hiện nay, Tòa gia đình và người chưa thành niên đã được triển khai ở 03 TANDCC và 38 tỉnh, thành phố ở Việt Nam. Đây là một cột mốc quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp cũng như cụ thể hóa chủ trương, đường lối của đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước nhằm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và xử lý người chưa thành niên phạm tội. Trong thời gian tới, với việc tội phạm xâm hại trẻ em ngày càng gia tăng, cần thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên tại tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước. Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em nói chung và trẻ em là nạn nhân trong các vụ án hình sự nói riêng cần được quan tâm hơn nữa; cần đổi mới cách thức và tổ chức hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng mà trước hết là Tòa án để bảo đảm việc tiến hành tố tụng không gây tác động xấu đến tâm sinh lý của trẻ em; xây dựng cơ chế hữu hiệu để tư vấn, hỗ trợ các nạn nhân là trẻ em bị tổn hại về tinh thần và sức khỏe, giúp các em phục hồi và phát triển lành mạnh.

PHẠM THỊ BÍCH NGỌC (Vụ Giám đốc, kiểm tra 1, TANDTC)

Nguồn: Hocluat.vn

Bàn về lỗi cố ý gián tiếp hay lỗi vô ý vì quá tự tin dưới góc độ tâm lý tội phạm
Thực tiễn cho thấy việc đánh giá để phân biệt lỗi cố ý gián tiếp và lỗi vô ý vì quá tự tin là một quá trình phân tích phức tạp do phải chứng minh yếu tố chủ quan trong ý thức của người phạm tội.

Bàn về lỗi cố ý gián tiếp hay lỗi vô ý vì quá tự tin dưới góc độ tâm lý tội phạm

Theo quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi 2017):
Lỗi cố ý gián tiếp là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra (Khoản 2 Điều 10). Còn lỗi vô ý vì quá tự tin là trường hợp người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được (Khoản 1 Điều 11).
Những trường hợp thường xảy ra nhầm lẫn trong phân biệt lỗi để định tội danh trong hoạt động tố tụng như tội Giết người (với lỗi cố ý gián tiếp) với tội Vô ý làm chết người; tội Giết người với tội Cố ý gây thương tích (trường hợp dẫn đến chết người); tội Giết người với tội Cản trở giao thông đường bộ (hành vi rải đinh, đặt vật cản trên đường bộ dẫn đến hậu quả chết người), giữa việc định tội danh về xâm phạm sở hữu và tội giết người hay chỉ định tội về tội xâm phạm sở hữu với tình tiết định khung “làm chết người”?…
Điểm khác biệt lớn nhất và qua đó có thể phân biệt được nằm ở lý trí của người phạm tội thông qua việc trả lời câu hỏi người phạm tội “bỏ mặc, chấp nhận hậu quả nếu nó xảy ra” hay chỉ là “tin rằng hậu quả không xảy ra”. Chính bởi yếu tố quyết định để có thể nhận định lại nằm trong ý thức chủ quan nên cách phân biệt chính xác nhất không chỉ dựa vào lời khai của người phạm tội trong quá trình tố tụng, vào các biểu hiện khách quan như vị trí bị tấn công trên cơ thể người bị hại, mức độ của hành vi tấn công… mà còn phải kiểm chứng thông qua các biểu hiện ra bên ngoài (biểu hiện tâm lý) của người phạm tội.
Dưới góc độ tâm lý, chúng ta có thể thấy diễn biến trong ý thức của người phạm tội trong suốt quá trình thực hiện tội phạm như sau:

Trường hợp 1: Vô ý vì quá tự tin
Trường hợp 1: Vô ý vì quá tự tin

Trong trường hợp này, trước khi bắt tay vào thực hiện tội phạm, người phạm tội hình dung được cả hai khả năng, đó là (1) khả năng sẽ không xảy ra hậu quả và (2) khả năng xảy ra hậu quả nguy hiểm. Tuy nhiên, điểm mấu chốt ở chỗ, thời điểm chính thức thực hiện hành vi, người phạm tội đã tự loại trừ khả năng xảy ra hậu quả (khả năng 2), và trong ý thức chủ quan lúc này chỉ còn lại khả năng sẽ không để lại hậu quả (khả năng 1), việc loại trừ này phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có thể về chủ quan do người phạm tội tin tưởng vào khả năng, kinh nghiệm của mình, cũng có thể do đánh giá các yếu tố khách quan như thời gian, địa điểm, thời tiết, thậm chí tin tưởng vào chính “xử sự” của nạn nhân… Chính bởi sự loại trừ này nên người đó mới quyết định thực hiện hành vi nguy hiểm. Vì vậy, về biểu hiện tâm lý, nếu hậu quả thực tế xảy ra thật thì người phạm tội sẽ bị bất ngờ do nằm ngoài tính toán của mình.

Trường hợp 2: Cố ý gián tiếp
Trường hợp 2: Cố ý gián tiếp

Do vậy, việc phân biệt chính xác được hai loại lỗi này có ý nghĩa rất lớn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, là cơ sở để xác định tội danh đúng và qua đó đảm bảo việc quyết định hình phạt có căn cứ và đúng quy định của pháp luật./.Trong trường hợp này, trước khi bắt tay vào thực hiện tội phạm, người phạm tội cũng hình dung được cả hai khả năng, đó là (1) khả năng sẽ không xảy ra hậu quả và (2) khả năng xảy ra hậu quả  nguy hiểm. Tuy nhiên, điểm khác biệt so với vô ý vì quá tự tin ở chỗ, thời điểm chính thức thực hiện hành vi và kể cả sau đó, người phạm tội vẫn hình dung trong ý thức của mình cả hai khả năng đều có thể xảy ra và sẵn sàng chấp nhận cả hai khả năng nếu thực tế nó xảy ra. Do đó về biểu hiện tâm lý, nếu hậu quả thực tế xảy ra thật thì cũng đã nằm trong tính toán và người phạm tội hoàn toàn không bị bất ngờ.

Nguồn: Hocluat.vn
Các nguyên tắc xử lý người phạm tội và pháp nhân thương mại phạm tội

Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định 07 nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội và 04 nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

Các nguyên tắc xử lý người phạm tội và pháp nhân thương mại phạm tội theo quy theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015

Nguyên tắc xử lý đối với các đối tượng phạm tội quy đinh tại Điều 3 Bộ luật Hình sự 2015:

1. Đối với người phạm tội:
a) Mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;
b) Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội;
c) Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;
d) Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn, hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;
đ) Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục;
e) Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện;
g) Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích.
2. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội:
a) Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;
b) Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế;
c) Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;
d) Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra.

Như vậy là có 07 nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội và 04 nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội.
Người chưa thành niên phạm tội

7 nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội

Các nguyên tắc này đã được sửa đổi bổ sung từ 5 nguyên tắc xử lý quy định tại Điều 3 Bộ luật Hình sự được Quốc hội thông qua ngày 21- 12- 1999, sửa đổi bổ sung ngày 16- 9- 2009 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự 1999). Các nguyên tắc này đã được áp dụng có hiệu quả trong thời gian thi hành Bộ luật Hình sự 1999 và các nguyên tắc này còn được quy định cụ thể thành từng điều luật.
Ví dụ có điều luật quy định “Khái niệm tội phạm”, có điều luật quy định phân loại tội phạm, có điều luật quy định “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự” đối với từng loại tội phạm, có điều luật quy định không áp dụng thời hiệu truy cập truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia và phạm các tội phá hoại hòa bình, chống lại loài người và tội phạm chiến tranh. Có các điều luật giải thích từng loại hình phạt, giải thích về “cố ý phạm tội”, “vô ý phạm tội”, về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, về chuẩn bị phạm tội, về phạm tội chưa đạt, về tự ý nửa chừng.chấm dứt việc phạm tội…Có điều luật quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự để khi giải quyết hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định loại hình phạt mức phạt tương xứng với hành vi phạm tội và thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
Bộ luật Hình sự cũng có các điều luật quy định về không áp dụng thời hiệu thi hành bản án đối với người phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia (chương XIII), các tội phá hoại hòa bình, chống lại loài người, tội phạm chiến tranh (Chương XXVI), người phạm tội tham ô tài sản thuộc khoản 3 khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015 và người phạm tội nhận hối lộ thuộc khoản 3 khoản 4 Điều 354 Bộ luật Hình sự 2015. Có các điều luật quy định về miễn chấp hành hình phạt đối với người bị kết án khi được đặc xá hoặc đại xá, quy định về giảm mức hình phạt đã tuyên, quy định về giảm thời thời hạn chấp hành phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện, về hoãn chấp hành hình phạt tù, về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, về xóa án tích. Có như vậy mới đảm bảo việc thực hiện thống nhất các nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội.

4 nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Pháp nhân thương mại phạm tội quy định trong Bộ luật Hình sự 2015 là pháp nhân thương mại được hiểu theo quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) được Quốc hội thông qua ngày 24/11 năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 (sau đây gọi là BLDS năm 2015). Điều 75 BLDS năm 2015 quy định pháp nhân thương mại như sau:

1. Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.
2. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác.
3. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Để thực hiện đúng và thống nhất 4 nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội, Bộ luật Hình sự 2015 có một số điều luật quy định cụ thể 4 nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội cụ thể là:
– Điều 74 quy định về: “Áp dụng quy định của bộ luật hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội”
– Điều 75 quy định về: “Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại”
– Điều 76 quy định về: “Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại” với nội dung là pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại một trong các điều: “Điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196,200, 203, 209, 210, 211, 213, 216, 217, 225, 226,227, 232, 234,235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245, 246, 300 và 304 của Bộ luật Hình sự 2015.
– Điều 77 quy định về: “Phạt tiền”
– Điều 78 quy định về: “Đình chỉ hoạt động có thời hạn”
– Điều 79 quy định về: “Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn”
– Điều 80 quy định về: “Cấm kinh doanh hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định”
– Điều 81 quy định về: “Cấm huy động vốn”
– Điều 82 quy định về: “Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội”
– Điều 83 quy định về: “Căn cứ quyết định hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội”
– Điều 84 quy định về: “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại”
– Điều 85 quy định về: “Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại”
– Điều 186 quy định về: “Quyết định hình phạt trong trường hợp pháp nhân thương mại phạm nhiều tội”
– Điều 187 quy định về: “Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án
– Điều 188 quy định về: “Miễn hình phạt”
– Điều 189 quy định về: “Xóa án tích”
Về xóa án tích quy định là: “Pháp nhân thương mại bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 2 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không thực hiện hành vi phạm tội mới”.
Theo quy định tại khoản 3 điều 60 Bộ luật Hình sự 2015 thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với pháp nhân thương mại là 05 năm và theo quy định tại khoản 4 Điều 60 Bộ luật Hình sự 2015 thì thời hiệu thi hành bản án được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Xóa án tích được coi như chưa bị kết án./.

ĐỖ VĂN CHỈNH

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

File word Toàn bộ 10 Nghị quyết hướng dẫn Bộ luật hình sự 2015

Mới đây, TANDTC đã ban hành Nghị quyết 07/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn về tội khủng bố và tội tài trợ khủng bố.

>>> Tài về máy: File word Toàn bộ 10 Nghị quyết hướng dẫn Bộ luật hình sự 2015
Theo đó, nâng tổng số Nghị quyết hướng dẫn BLHS 2015 (còn và sắp có hiệu lực) lên con số 10, tính tới thời điểm hiện tại; cụ thể bao gồm:
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
(1) Nghị quyết 01/2016/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng quy định tại khoản 3 điều 7 Bộ Luật hình sự 100/2015/QH13.
(2) Nghị quyết 41/2017/QH14 thi hành Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật 12/2017/QH14.
(3) Nghị quyết 01/2018/NQ-HĐTP về hướng dẫn áp dụng điều 66 và điều 106 của Bộ luật Hình sự về tha tù trước thời hạn có điều kiện.
(4) Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
(5) Nghị quyết 05/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 234 về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã và Điều 244 về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm của Bộ luật Hình sự.
(6) Nghị quyết 02/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 150 về tội mua bán người và Điều 151 về tội mua bán người dưới 16 tuổi của Bộ luật Hình sự.
(7) Nghị quyết 03/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 324 của Bộ luật Hình sự về tội rửa tiền.
(8) Nghị quyết 05/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 214 về tội gian lận BHXH, bảo hiểm thất nghiệp, Điều 215 về tội gian lận BHYT và Điều 216 về tội trốn đóng BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp cho NLĐ của Bộ luật Hình sự.
(9) Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP về hướng dẫn áp dụng quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi.
(10) Nghị quyết 07/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng quy định tại Điều 299 và Điều 300 của Bộ luật Hình sự (bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/12/2019).
Nguồn: Bích Tuyền / Thư viện pháp luật (https://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/thong-bao-van-ban-moi/email/25944/file-word-toan-bo-10-nghi-quyet-huong-dan-bo-luat-hinh-su-2015)

Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm xâm phạm sở hữu khác

Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn có sự nhầm lẫn trong việc định tội danh giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội lừa dối khách hàng (Điều 198), tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175)…
Tác giả sẽ phân tích, làm rõ những điểm giống và khác nhau giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu khác nhằm đảm bảo cho việc định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được chính xác.
1.Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Chương XVI của BLHS năm 2015 (từ Điều 168 đến Điều 180), do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội xâm phạm sở hữu, là việc người phạm tội đã dùng những thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin sai sự thật, có thể bằng lời nói hoặc hành động làm cho người có tài sản hoặc người có trách nhiệm trông giữ, quản lý tài sản tin, tưởng giả là thật, mà “tự nguyện” giao tài sản cho người phạm tội.
Điều 174 BLHS năm 2015 quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: “1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…”. Do đó, ta có thể đưa ra khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân.
Trên thực tế hành vi gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hợp thành bởi hai yếu tố học luật. Đó là đưa ra những thông tin gian dối và chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản nhầm lẫn, tin tưởng vào những thông tin không đúng sự thật ấy mà trao tài sản cho người phạm tội. Khi giao tài sản chủ tài sản không biết mình bị lừa dối. Họ có thể phát hiện ra ngay sau khi trao tài sản nhưng bản chất của hành vi chiếm đoạt là dựa trên thủ đoạn lừa dối thì vẫn bị xử lý về tội này.
Nếu tài sản chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ tài sản thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi nhận tài sản từ người bị lừa dối. Khi nhận tài sản cũng là lúc người phạm tội đã làm chủ được tài sản đó trên thực tế và cũng là lúc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được coi là hoàn thành.
Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang ở trong sự chiếm hữu của người phạm tội thì hình thức thể hiện của hành vi chiếm đoạt là hành vi giữ lại tài sản đáng lẽ phải giao cho người bị lừa dối vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã nhận nhầm tài sản hoặc không nhận. Khi người bị lừa dối nhận nhầm hoặc không nhận tài sản cũng là lúc người phạm tội lừa đảo đã làm chủ được tài sản đó và cũng là thời điểm hoàn thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Ví dụ: A nhờ B chuyển cho C số tiền 50 triệu đồng. Trong lúc giao tiền cho C, B đã dùng thủ đoạn gian dối là ghi trong giấy giao nhận tiền là số tiền 50 triệu đồng, do tin tưởng B nên C đã ký vào giấy nhận tiền và không đếm cụ thể số tiền mình nhận, nhưng thực tế thì B chỉ giao cho C số tiền 40 triệu đồng. Khi về đến nhà C mới phát hiện ra số tiền mình nhận được chỉ là 40 triệu đồng, thiếu 10 triệu đồng. Như vậy B đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản thể hiện ở việc B ghi vào giấy giao nhận tiền với C là số tiền 50 triệu đồng, nhưng thực tế B chỉ giao cho C số tiền 40 triệu đồng và giữ lại 10 triệu đồng.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có cấu thành vật chất, chính vì vậy việc xác định tài sản bị chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc, đây là dấu hiệu định lượng để xác định cấu thành cơ bản hoặc cấu thành định khung tăng nặng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn có sự nhầm lẫn trong việc định tội danh giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu khác do có hành vi khách quan gần giống với hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như: tội lừa dối khách hàng (Điều 198), tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175)…
2.Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Điều 175 của BLHS năm 2015: “1. Người nào thực hiện một trong các hành vi phạm tội dưới đây chiếm đoạt tài sản của người khác giá trị từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a, Vay mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b, Vay mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản…”
Cả hai tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có các yếu tố về khách thể, mặt chủ quan, mặt khách quan và chủ thể của tội phạm cơ bản giống nhau. Tuy nhiên giữa hai tội có sự khác nhau về thời điểm thực hiện hành vi lừa dối, cụ thể:
Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi lừa dối được người phạm tội thực hiện trước thời điểm thực hiện sự giao kết, thỏa thuận. Việc thực hiện sự giao kết, thỏa thuận trong trường hợp này là sau khi người phạm tội đã chiếm được lòng tin của người bị hại. Như vậy hành vi lừa dối xảy ra trước hành vi chiếm đoạt, là điều kiện để hành vi chiếm đoạt tài sản xảy ra, không có hành vi lừa dối thì không thể chiếm đoạt được tài sản.
Ví dụ: A nói với B là do mẹ bị bệnh nặng và vay B số tiền 10 triệu đồng để đưa mẹ đi cấp cứu, do B tin tưởng nên cho A vay số tiền trên. Sau khi nhận được tiền A đã sử dụng số tiền đó để đánh bạc và bị thua, không có khả năng trả nợ cho B. Qua vụ án trên ta có thể thấy rằng A có hành vi lừa dối B làm cho B tin tưởng, sau đó B mới giao tài sản cho A. Như vậy, hành vi lừa dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra trước hành vi giao nhận tài sản giữa chủ tài sản và người phạm tội. Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt tài sản xảy ra.
Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, việc giao nhận tài sản là ngay thẳng thông qua các giao dịch dân sự hợp pháp như hợp đồng vay mượn, cho thuê, nhờ giữ hộ… do đó sau khi có được tài sản thông qua các hợp đồng, giao kết thì hành vi lừa dối mới xảy ra nhằm giữ lại tài sản đáng lẽ phải trả cho chủ tài sản. Sau khi hết thời hạn vay mượn, cho thuê … nhưng người phạm tội cố tình không trả hoặc sử dụng tài sản vào mục đích khác dẫn đến mất khả năng chi trả hoặc bỏ trốn nhằm trốn tránh trách nhiệm phải chi trả tài sản, do đó hành vi lừa dối trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được thực hiện nhằm che giấu hành vi chiếm đoạt tài sản và được thực hiện sau khi có sự giao nhận tài sản giữa chủ tài sản và người phạm tội.
Ví dụ: M là bạn của H, ngày 15/3/2017 M hỏi mượn chiếc xe mô tô của H để đi lại và hẹn 5 ngày sau sẽ trả, H đồng ý và giao xe cho M. Sau khi nhận được xe, M đã sử dụng xe để tham gia đánh bạc và bị thua, do không có tiền trả nợ nên M đã mang xe của H đi cầm cố lấy tiền trả nợ và tiêu xài, sau đó không có khả năng chuộc xe về trả cho H, sau 02 tuần M nói với H là xe bị mất trộm. Như vậy hành vi lừa dối của M có sau hành vi M nhận tài sản từ H, mục đích nói dối của M là nhằm che dấu hành vi chiếm đoạt tài sản của mình (do M đã mang xe đi cầm cố và không có khả năng chuộc xe về trả cho H).
Như vậy giữa tội lạm dụng tín dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản có sự khác nhau về thời điểm và mục đích của hành vi lừa dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Vì vậy để xác định người phạm tội thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản phải xem xét thời điểm giao nhận tài sản có hay không mục đích chiếm đoạt. Nếu người phạm tội có hành vi gian dối ngay từ đầu nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì đó là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nếu tại thời điểm giao nhận tài sản người phạm tội chưa có hành vi gian dối, mà việc giao nhận được thực hiện một cách ngay thẳng nhưng sau khi có được tài sản thì người phạm tội mới có hành vi gian dối nhằm che dấu việc chiếm đoạt tài sản thì đó là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản [1 ].
3.Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản
Điều 355 của BLHS năm 2015 quy định: “1. Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 06 năm: a) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm; b) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm…”
Hành vi khách quan của tội này là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi vượt ra khỏi phạm vi quyền hạn của mình khi thi hành công vụ nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác thể hiện ở các thủ đoạn sau: Lạm dụng chức vụ, quyền hạn uy hiếp tinh thần của người khác để chiếm đoạt tài sản; lạm dụng chức vụ, quyền hạn lừa dối người khác nhằm chiếm đoạt tài sản của họ; lạm dụng chức vụ quyền hạn để lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Việc phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản thực chất là việc phân biệt trường hợp “lợi dụng chức vụ quyền hạn” lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 174 BLHS với tội Lạm dụng chức vụ quyền hạn lừa dối chiếm đoạt tài sản của người khác quy định tại Điều 355 BLHS.
Cả hai trường hợp phạm tội trên đều được thực hiện bằng hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản, chỉ khác nhau ở cách thức thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể như sau: Ở trường hợp lạm dụng chức vụ quyền hạn lừa dối chiếm đoạt tài sản được thực hiện bằng việc sử dụng chức vụ, quyền hạn mà người phạm tội có trong khi thi hành công vụ để lừa dối chiếm đoạt tài sản của người khác. Đây là một trong số các tội phạm về chức vụ nên hành vi khách quan của tội lạm dụng chức vụ chiếm đoạt tài sản phải được thực hiện trong khi thi hành công vụ [ ].
Ví dụ: A là Chủ tịch xã, tuy không có thẩm quyền giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng A đã nói với B là mình có thẩm quyền và nhận của B số tiền 100.000.000 đồng để ký quyết định giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái quy định.
Ở trường hợp “lợi dụng chức vụ quyền hạn” lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điểm d, khoản 2 Điều 174 BLHS năm 2015), hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản được thực hiện bằng việc dựa trên chức vụ quyền hạn mà người phạm tội có để lừa dối người khác nhằm chiếm đoạt tài sản của họ. Việc lợi dụng chức vụ quyền hạn không đòi hỏi người phạm tội phải sử dụng chức vụ quyền hạn của mình trong khi thi hành công vụ để lừa dối người khác nhằm chiếm đoạt tài sản mà chỉ cần người phạm tội có chức vụ quyền hạn và dựa trên chức vụ quyền hạn để thực hiện hành vi phạm tội.
Ví dụ: A là điều tra viên huyện B, biết được vụ án H vận chuyển trái phép chất ma túy với khối lượng lớn do Công an tỉnh C đang thụ lý giải quyết. A biết M là người nhà của H nên đã gọi điện thoại cho M nói là mình được phân công giải quyết vụ án và có thể giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho H với điều kiện M phải giao cho A số tiền 10.000.000 đồng, M đã tin tưởng và giao cho A số tiền 10.000.000đ.
Trong tình huống trên A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tình tiết định khung là “Lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội”.
4.Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lừa dối khách hàng
Điều 198 của BLHS năm 2015 quy định: “1. Người nào trong việc mua, bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mà cân, đong, đo, đếm, tính gian hàng hóa, dịch vụ hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;b) Thu lợi bất chính từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng…”
Tội lừa dối khách hàng là trường hợp người phạm tội có hành vi gian dối trong cân đo, đong đếm, tính gian, đánh tráo loại hàng hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác… trong việc mua bán với khách hàng gây thiệt hại nghiêm trọng cho khách hàng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Điểm giống nhau của cả hai tội này đều được thực hiện bằng thủ đoạn gian dối, tuy nhiên đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hành vi gian dối được thực hiện dưới mọi hình thức còn đối với tội lừa dối khách hàng hành vi gian dối chỉ diễn ra trong quan hệ mua bán bằng những hành vi cụ thể như cân, đo, đong đếm thiếu, mua bán hàng giả …
5. Một số kiến nghị, đề xuất
Trên cơ sở nghiên cứu quy định của BLHS năm 2015 và thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật giải quyết các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong thời gian qua, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo áp dụng đúng quy định của pháp luật đối với tội phạm này như sau:
Thứ nhất: Hoàn thiện các quy định của pháp luật để làm rõ hơn dấu hiệu định tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đồng thời sớm ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định của BLHS nói chung và đối với các tội xâm phạm sở hữu nói riêng một cách toàn diện, phù hợp với quy định của BLHS hiện hành.
Thứ hai: Để tránh tình trạng nhầm lẫn giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội xâm phạm sở hữu cùng sử dụng hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản, cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể về hành vi khách quan của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo hướng: Hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gồm hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Giữa hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt phải là kết quả của hành vi lừa dối. Hành vi lừa dối nếu chỉ nhằm tiếp cận tài sản không có ý nghĩa quyết định đối với việc chiếm đoạt được tài sản thì không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy từng trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một trong các tội xâm phạm sở hữu khác nếu hành vi chiếm đoạt thỏa mãn CTTP của tội đó.
Thứ ba: Cần tăng cường về số lượng và nâng cao năng lực trình độ đối với các chủ thể tiến hành tố tụng như: Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán ….
Để thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự nói chung và đối với các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng, đòi hỏi các chủ thể tiến hành tố tụng phải thường xuyên trau dồi, nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, công tâm khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ, đặc biệt phải nắm vững các quy định của pháp luật, trú trọng đến việc nâng cao nhận thức và áp dụng thống nhất pháp luật hình sự nhằm khắc phục tình trạng điều tra, truy tố, xét xử oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm.
Tóm lại, việc làm rõ các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ tạo cơ sở lý luận cho việc nhận thức thống nhất, đúng đắn các quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong BLHS năm 2015, việc phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội có dấu hiệu pháp lý tương tự nhằm tránh sự nhầm lẫn trong việc áp dụng quy định của BLHS đối với các tội phạm này trên thực tế. Bên cạnh đó tác giả đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm đảm bảo cho việc áp dụng đúng các quy định của pháp luật đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, góp phần ngăn ngừa, đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm này, bảo vệ được quyền sở hữu về tài sản cho Nhà nước, tổ chức cá nhân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

TRIỆU THỊ TUYẾT (Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn)

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).


1.Lê Đăng Doanh (2005), Sự khác nhau giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS) với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 BLHS), Tạp chí Tòa án nhân dân.
2.Lê Đăng Doanh (2013), Định tội danh đối với các tội xâm phạm sở hữu, Bộ luật hình sự năm 1999, Nxb .Tư pháp, Hà Nội
.

Bàn về các quy định mới trong tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 134 BLHS
Quy định về tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 với nhiều nội dung, tình tiết mới so với BLHS năm 1999; tuy nhiên, có một số điểm mới còn chưa được hướng dẫn cụ thể, dẫn đến khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng.
Trong đó, nội dung chính được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là cơ cấu lại số khung hình phạt, giảm từ 7 khoản xuống còn 6 khoản, thay đổi mức hình phạt của từng khung cho phù hợp với sự thay đổi của số khung, đồng thời sửa đổi, bổ sung các tình tiết định khung tăng nặng từ khoản 2 đến khoản 5, pháp điển hóa các hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2006/NQ – HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (về các tình tiết quy định tại Điều 104 BLHS 1999) nhằm đảm bảo các quy định này được rõ ràng và thống nhất khi áp dụng vào thực tiễn. Mặc dù tăng về số lượng 2 khung hình phạt so với BLHS 1999, nhưng mức hình phạt thấp nhất và cao nhất không thay đổi. Quy định mới về hành vi chuẩn bị phạm tội tại khoản 6 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
So với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 104 BLHS năm 1999 thì Điều 134 BLHS năm 2015 có nhiều điểm mới. Cụ thể, Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 đã bổ sung mới tình tiết “dùng vũ khí, vật liệu nổ; dùng a xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê, đối với người chữa bệnh cho mình”. Sửa đổi các tình tiết: “Đối với trẻ em” thành “Đối với người dưới 16 tuổi”; “phụ nữ đang có thai” thành “phụ nữ  mà biết là có thai”; “Để cản trở người thi hành công vụ” thành “Đối với người thi hành công vụ”. Trong những tình tiết mới này có một số điểm nếu như không có hướng dẫn kịp thời sẽ gặp khó khăn, vướng mắc trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cụ thể:
Thứ nhất, về quy định “Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm” tại điểm b khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015.
Việc pháp điển hóa tình tiết này là rất cần thiết trong thực tiễn đấu tranh, phòng chống tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác bằng a-xít, hóa chất. Vì trong thực tiễn, khi các đối tượng sử dụng a-xít, hóa chất tấn công  nạn nhân, tuy nạn nhân không chết nhưng làm cho nạn nhân tàn phế, tổn thương khủng khiếp về tinh thần, làm cho dư luận phẩn uất. Việc xác định dùng a-xít, hóa chất gây thương tích cho nạn nhân với tỷ lệ thương tật 61% trở lên bằng với hậu quả làm chết 02 người người, hình phạt từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân là phù hợp.
Tuy nhiên, quy định a-xít “nguy hiểm” hoặc hóa chất “nguy hiểm”sẽ gây khó khăn trong việc áp dụng. Thế nào là a-xít nguy hiểm? A-xít với hàm lượng bao nhiêu được xem là a-xít nguy hiểm hay a-xít làm bỏng da là a-xít nguy hiểm hoặc dùng a-xít, hóa chất tấn công vào vùng nào được xem là nguy hiểm? Nếu lấy hàm lượng a-xít để xác định tính nguy hiểm thì khi không thu được a-xít để giám định hàm lượng thì xử lý như thế nào?
Thứ hai, về quy định “…người già yếu…” tại điểm c khoản 1 Điều 134 BLHS 2015. Vậy người như thế nào là người già yếu? Theo hướng dẫn tại tiểu mục 2.4 Mục 2 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì “Người già” là người tử 70 tuổi trở lên, còn theo hướng dẫn tại điểm a, tiểu mục 4.1 Mục 4 Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao thì “Người quá già yếu” là người từ 70 tuổi trở lên hoặc người từ 60 tuổi trở lên nhưng thường xuyên đau ốm. Khái niệm “Người già yếu” đến nay vẫn chưa cụ thể.
Như đã nêu trên, “người già” đã được hướng dẫn rõ, nhưng thế nào là “người già yếu” thì vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của người nhận định.
Thứ ba, về quy định “…đối với người chữa bệnh cho mình…” tại điểm d khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015 sẽ gặp khó khăn trong việc áp dụng như: “Đối với người chữa bệnh cho mình” nếu được hiểu là Bác sỹ, Ý tá… đang chữa bệnh cho đối tượng thực hiện hành vi cố ý gây thương tích… Vậy, người “đã chữa bệnh cho mình”, “chuẩn bị chữa bệnh cho mình” có được xem là“đối với người chữa bệnh cho mình” hay không?
Ngoài ra, quy định này cũng không phù hợp với thực trạng tội phạm gây thương tích xảy ra đối với người làm nghề chữa bệnh. Vì trong thời gian qua, đối tượng gây thương tích cho thầy thuốc và các nhân viên y tế hầu hết đều là người thân của bệnh nhân. Hành vi gây thương tích cho người đang làm công việc cứu người đã gây phẫn nộ trong xã hội nói chung, cho những người làm nghề y nói riêng, vì vậy yêu cầu đặt ra là phải xử lý nghiêm đối với hành vi này. Tuy nhiên với quy định tại điểm d khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015 thì hành vi này không thể xử lý được.
Thứ tư, quy định về chuẩn bị phạm tội tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. theo đó, tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác là hành vi cố ý gây ra cho người khác bị thương tích hoặc tổn hại đến sức khoẻ. Thực tiễn áp dụng pháp luật, hậu quả tổn thương về sức khoẻ (được thể hiện trong kết luận giám định của cơ quan chuyên môn) là căn cứ để xác định trách nhiệm hình sự và xác định khung hình phạt đối với người phạm tội. Nạn nhân phải bị thương tích hoặc bị tổn hại đến sức khoẻ ở mức đáng kể thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự còn nếu thương tích hoặc tổn hại về sức khoẻ không đáng kể hoặc không gây ra tổn hại về sức khoẻ thì chưa phải là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015 thì người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k thì người đó mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự; còn nếu một đối tượng cố ý gây thương tích cho người khác làm giảm dưới 10% sức khoẻ nhưng không thuộc quy định tại các điểm từ a đến k khoản 1 Điều này thì hành vi của người đó không cấu thành tội phạm, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trở lại với vấn đề chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích quy định tại khoản 6 Điều 134 BLHS năm 2015. Chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích được hiểu là tìm kiếm, sửa soạn các công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để nhằm gây thương tích cho người khác, chứ chưa gây ra hậu quả trên thực tế. Như vậy, nếu so sánh trường hợp chuẩn bị phạm tội quy định tại khoản 6 với các trường hợp không cấu thành tội phạm ở khoản 1 Điều 134 thì thấy rằng các trường hợp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 134 rõ ràng nguy hiểm hơn trường hợp chuẩn bị phạm tội nhưng lại không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Để các quy định của pháp luật có tính khả thi trong thực tiễn, kết cấu của điều luật được chặt chẽ, không mâu thuẫn với các quy định khác, quan điểm cá nhân tác giả cho rằng các cơ quan chức năng cần thống nhất hướng dẫn, giải thích để áp dụng điều luật cho chính xác; đồng thời nên cân nhắc, xem xét bỏ khoản 6 của Điều 134 BLHS năm 2015 và không nên truy cứu trách nhiệm hình sự đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích. Nếu các hành vi chuẩn bị phạm tội được nêu tại khoản 6 Điều 134 BLHS năm 2015 mà đủ yếu tố cấu thành của một tội độc lập nào đó được quy định trong Bộ luật Hình sự thì sẽ áp dụng xử lý theo tội phạm đó./.
Nguồn: Tạp chí Kiểm sát
Hạn chế, bất cập trong xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật về nghĩa vụ quân sự
Thời gian gần đây, tỉ lệ thanh niên không chấp hành pháp luật nghĩa vụ tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định có chiều hướng gia tăng; tuy nhiên, việc xử lý còn chậm, thiếu tính giáo dục và răn đe, nhiều trường hợp thể hiện sự lúng túng, thậm chí bế tắc trong khâu xử lý hình sự.
Trong những năm qua, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định luôn được đánh giá là đơn vị dẫn đầu trong việc hoàn thành chỉ tiêu giao quân hàng năm; tuy nhiên gần đây, tình trạng thanh niên không chấp hành pháp luật nghĩa vụ có biểu hiện gia tăng; trong đó trường hợp không chấp hành lệnh khám sức khoẻ gia tăng đột biến, từ 128 trường hợp (năm 2018) lên 379 trường hợp (năm 2019), có trường hợp tái phạm đến 03 lần; năm 2018, có 03 xã lập hồ sơ, báo cáo kiến nghị xử lý hình sự đối với 11 trường hợp vi phạm có tính chất tái phạm, trong đó có 06 trường hợp vi phạm do không chấp hành lệnh khám sức khỏe.
Đâu là nguyên nhân?
Theo chủ thể xử phạt vi phạm hành chính cũng như các cơ quan tiến hành tố tụng cấp huyện, việc xác lập hồ sơ ban đầu để xử lý thanh niên vi phạm thuộc trách nhiệm của cấp cơ sở; tuy nhiên, do trình độ và năng lực của một số xã đội trưởng còn hạn chế nên thiếu chặt chẽ, quy trình còn thiếu nhưng không thể khắc phục được. Sự hạn chế này dẫn đến tuy hành vi vi phạm (trốn lệnh nhập ngũ) đã được quy định trong Bộ luật Hình sự nhưng thiếu sót trong khâu lập thủ tục nên không thể xử lý được; có trường hợp hồ sơ tương đối chặt chẽ nhưng hành vi vi phạm chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự dẫn đến tình trạng lúng túng, hay nói đúng hơn là bế tắc trong quá trình xử lý về hình sự, nhất là đối với các trường hợp không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe.
Việc quyết định xử phạt vi phạm hành chính nói chung, đối với hành vi không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe nói riêng, chủ thể xử phạt là chủ tịch UBND các xã, thị trấn chưa thực hiện đúng nguyên tắc về xử phạt (tính chất, mức độ; hậu quả và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ) từ đó nảy sinh tình trạng cào bằng, trung bình trong xử phạt.
Ngoài ra, quy định về xử phạt, trong đó có mức xử phạt vi phạm pháp luật nghĩa vụ quân sự đã khá lạc hậu không đáp ứng được yêu cầu phòng, chống vi phạm pháp luật. Dễ nhận thấy, sở dĩ các trường hợp bị xử phạt dù nặng hay nhẹ; dù xử phạt ở mức cao nhất hay trung bình của khung xử phạt cũng không nảy sinh tình trạng khiếu nại quyết định xử phạt. Cũng có lẽ, do mức phạt tối đa đối với hành vi không chấp hành lệnh nhập ngũ cũng chỉ 2,5 triệu đồng, chênh lệch khoản cách giữa các khung cũng chỉ 500.000đ; mức phạt tối đa đối với hành vi không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe cũng chỉ 1,2 triệu đồng, chênh lệch giữa các khung chỉ 200.000 đồng.
Có thể nói, chế tài xử phạt và khoản cách giữa các khung phạt như quy định hiện nay còn khá thấp. Có trường hợp không chấp hành lệnh khám sức khỏe 03 năm liên tục nhưng chỉ bị phạt tổng cộng 3,4 triệu đồng (cho lần xử phạt đầu tiên được đánh giá là không có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ 1 triệu đồng; cho 02 lần tiếp theo được đánh giá là tái phạm, áp dụng mức khung tăng nặng 1,2 triệu đồng/ lần); có trường hợp, năm trước bị xử phạt hành chính về hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ bị phạt 2,5 triệu đồng, năm sau đó vi phạm về hành vi không chấp hành lệnh khám sức khỏe, bị phạt 1,2 triệu đồng. Điều đó cho thấy, người vi phạm đã cố tình “lách luật” bằng cách hoặc chỉ vi phạm không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe với mức phạt thấp hơn; hoặc trốn theo kiểu “giã gạo”, nếu năm trước bị xử phạt về hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ thì năm sau không chấp hành lệnh khám sức khỏe (sẽ không bị xử lý hình sự và mức phạt sẽ thấp hơn).
Quy định về xử lý hình sự đối với các trường hợp không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe mang tính chất tái phạm thiếu tính thống nhất giữa Bộ luật Hình sự 2015 và Luật Nghĩa vụ quân sự 2015 dẫn đến ách tắc, không xử lý hình sự được. Năm 2018, UBND các xã, thị trấn đã lập thủ tục và đề nghị cơ quan cảnh sát điều tra huyện xử lý hình sự 11 trường hợp. Tuy nhiên, hầu hết các cơ quan tiến hành tố tụng đều cho rằng cơ sở xác định trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 2 Bộ luật Hình sự năm 2015 là “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Điều đó cũng có nghĩa là, chỉ được xử lý hình sự những hành vi đã được quy định trong Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 332 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữu đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”. Như vậy, đối chiếu với quy định mang tính liệt kê trên thì về mặt khách quan của tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự chỉ 03 hành vi độc lập (không đăng ký, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, không chấp hành lệnh gọi tập trung huấn luyện); hành vi không chấp hành lệnh khám sức khỏe chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015 và được hiểu là độc lập với hành vi “không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự” như quy định tại Khoản 1 Điều 332 Bộ luật Hình sự.
Trong khi đó, tại Khoản 8 Điều 3 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 quy định “Trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự là hành vi không chấp hành lệnh gọi đăng ký nghĩa vụ quân sự; lệnh gọi khám sức khoẻ nghĩa vụ quân sự; lệnh gọi nhập ngũ; lệnh gọi tập trung huấn luyện, diễn tập…”. Tại Nghị định số 13/2016/NĐ-CP ngày 19/2/2016 của Chính phủ quy định về trình tự, thủ tục đăng ký, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự thì việc sau khi công dân đăng ký, Ban chủ huy quân sự cấp giấy chứng nhận đăng ký nghĩa vụ quân sự cho công dân; Chương 2 của Nghị định quy định về trình tự, thủ tục đăng ký nghĩa vụ quân sự; tuy nhiên, việc gọi công dân khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự không được đề cập như một bước thủ tục, quy trình của sau việc đăng ký nghĩa vụ quân sự. Như vậy, việc gọi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự được thực hiện sau khi đăng ký nghĩa vụ quân sự; là bước trung gian, mang tính độc lập giữa đăng ký nghĩa vụ quân sự và gọi công dân nhập ngũ. Do đó, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự không được xem là tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”.
Cần sớm sửa đổi, bổ sung chế tài xử phạt
Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong việc thực thi pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm pháp luật nghĩa vụ quân sự, cần sớm sửa đổi, bổ sung Nghị định số 120/2013/NĐ-CP ngày 09/10/2013 của Chính phủ theo hướng nâng mức phạt tiền, tăng khoảng cách giữa các mức phạt đối với hành vi không chấp hành lệnh gọi khám sức khoẻ để bảo đảm tính răn đe.
Về xử lý hình sự đối với hành vi không chấp hành lệnh khám sức khỏe có yếu tố tái phạm, cần sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 332 Bộ luật Hình sự theo hướng liệt kê thêm hành vi không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe; đồng thời sửa đổi quy định tại Chương 2, Nghị Định số 13/2016/NĐ-CP ngày 19/2/2016 của Chính phủ quy định về trình tự, thủ tục đăng ký, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự theo hướng: Hoặc bổ sung cụm từ “và các hành vi vi phạm pháp luật nghĩa vụ quân sự khác” (bao hàm cả hành vi không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe); hoặc lấy nguyên tắc trường hợp có xung đột thì ưu tiên sử dụng luật chuyên ngành quy định trong Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 2015 để tháo gỡ vướng mắc.
Trước mắt, các cơ quan chức năng cần sớm có văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật theo Điều 332 Bộ luật Hình sự, Điều 3 Luật Nghĩa vụ quân sự về tội trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự, làm cơ sở cho việc xử lý đúng pháp luật, bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần phục vụ nhiệm vụ chính trị tại các địa phương trong cả nước nói chung, tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định nói riêng.
Áp dụng biện pháp khiển trách theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015

Biện pháp khiển trách là quy định mới của Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015, có lợi, phù hợp với thực tiễn xét xử về xử lý và miễn trách nhiệm hình sựđối với người phạm tội dưới 18 tuổi ở Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình thực hiện có những vướng mắc cần tháo gỡ.
Do đây là biện pháp mới, lần đầu tiên được quy định trong luật nên trong quá trình triển khai thực hiện cần có những hướng dẫn cụ thể để đảm bảo việc áp dụng biện pháp này được hiệu quả, từ đó góp phần làm giảm số vụ việc người dưới 18 tuổi phạm tội, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật của người phạm tội, nguy cơ tái phạm thấp…

1. Quy định của Bộ luật Hình sự 2015 về áp dụng biện pháp khiển trách

Điều kiện áp dụng biện pháp khiển trách đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Kế thừa nguyên tắc nhân đạo của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999, BLHS 2015 đã có những sửa đổi quan trọng trong chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Trong đó, BLHS 2015 đã sửa đổi theo hướng cụ thể hơn BLHS năm 1999 và khẳng định nguyên tắc: Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất cho họ và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. BLHS 2015 quy định việc truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.
Theo đó, trường hợp áp dụng biện pháp khiển trách đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án có quyền quyết định áp dụng biện pháp khiển trách, khi người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 93 BLHS 2015, nhằm mục đích để người dưới 18 tuổi phạm tội sửa chữa sai lầm, giúp đỡ họ phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, không phải tất cả người dưới 18 tuổi phạm tội đều được áp dụng biện pháp khiển trách, mà họ chỉ được áp dụng biện pháp khiển trách khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 93 BLHS 2015, như sau:

1. Khiển trách được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây nhằm giúp họ nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả gây ra đối với cộng đồng, xã hội và nghĩa vụ của họ:
a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của Bộ luật này;
b) Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.
2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khiển trách. Việc khiển trách đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải có sự chứng kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người dưới 18 tuổi.

Để biện pháp khiển trách được thực hiện nghiêm túc và hiệu quả thì tại khoản 3 Điều 93 BLHS 2015 quy định người bị áp dụng biện pháp khiển trách phải thực hiện các nghĩa vụ như sau:

a) Tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc;
b) Trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu;
c) Tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp.

Tùy từng trường hợp cụ thể, cơ quan có thẩm quyền ấn định thời gian thực hiện các nghĩa vụ quy định tại điểm b và điểm c khoản 3 Điều này từ 03 tháng đến 01 năm.

Trình tự, thủ tục thực hiện biện pháp khiển trách

Về trình tự, thủ tục thực hiện biện pháp khiển trách được quy định tại Điều 427 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 như sau:

1. Khi miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội mà xét thấy có đủ điều kiện áp dụng biện pháp khiển trách theo quy định của Bộ luật hình sự thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng biện pháp khiển trách đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong vụ án do cơ quan mình thụ lý, giải quyết.
2. Quyết định áp dụng biện pháp khiển trách có các nội dung chính: a) Số, ngày, tháng, năm; địa điểm ra quyết định;b) Họ tên, chức vụ, chữ ký của người có thẩm quyền ra quyết định và đóng dấu của cơ quan ra quyết định;c) Lý do, căn cứ ra quyết định;d) Họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của bị can, bị cáo;đ) Tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự đã áp dụng;e) Thời gian thực hiện nghĩa vụ của người bị khiển trách.
3. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải giao ngay quyết định áp dụng biện pháp khiển trách cho người bị khiển trách, cha mẹ hoặc người đại diện của họ.

2. Một số khó khăn, vướng mắc và kiến nghị khi áp dụng biện pháp khiển trách

So với BLHS năm 1999, thì thủ tục áp dụng biện pháp khiển trách là một quy định mới của pháp luật hình sự, quy định này phù hợp với các Điều ước quốc tế, cũng như thể hiện sự tiến bộ, nhân văn, mang tính giáo dục trong nguyên tắc xử lý TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Quá trình thực hiện biện pháp khiển trách đã nảy sinh một số khó khăn, vướng mắc cần được hướng dẫn cụ thể trong quá trình thi hành, cụ thể như sau:
Thứ nhất: Khi xét thấy người dưới 18 tuổi phạm tội có đủ điều kiện để áp dụng biện pháp khiển trách, thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khiển trách. Việc khiển trách đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải có sự chứng kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người dưới 18 tuổi.
Vấn đề đặt ra, nếu việc khiển trách chỉ diễn ra trước sự chứng kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người dưới 18 tuổi phạm tội, thì việc khiển trách này chỉ mang tính hình thức, làm cho bản thân người bị khiển trách khó cảm thấy ăn năn, hối lỗi về hành vi phạm tội của mình. Mặt khác, nếu chỉ có sự chứng kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người dưới 18 tuổi phạm tội mà không thông báo hoặc không có sự chứng kiến của chính quyền địa phương nơi bị can, bị cáo cư trú, làm việc sẽ không phù hợp với thực tế áp dụng biện pháp khiển trách.
Bởi lẽ, trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng không thông báo cho chính quyền địa phương biết việc người dưới 18 tuổi phạm tội bị áp dụng biện pháp khiển trách hoặc người thân của người bị áp dụng biện pháp khiển trách hoặc người bị áp dụng biện pháp khiển trách cố tình không thông báo cho chính quyền địa phương biết việc người dưới 18 tuổi phạm tội đang bị áp dụng biện pháp khiển trách, thì chính quyền địa phương sẽ không biết, qua đó, không theo dõi, giám sát được người đó để yêu cầu họ thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại khoản 3 Điều 93 BLHS 2015 như: Trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp. Từ đó, việc áp dụng biện pháp khiển trách rất hình thức và không hiệu quả cho người dưới 18 tuổi phạm tội cũng như không đảm bảo trong việc chính quyền địa phương theo dõi, nhận xét, đánh giá sự tiến bộ của người bị áp dụng biện pháp khiển trách để giúp họ nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, giảm nguy cơ tái phạm.
Vì vậy, theo chúng tôi, đối với trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khiển trách, việc khiển trách đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải có sự chứng kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người dưới 18 tuổi cùng với đại diện của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú, làm việc. Trường hợp đại diện chính quyền địa phương vắng mặt thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tiến hành làm việc và thông báo kết quả cho chính quyền địa phương được biết.
Thứ hai: Đối với nghĩa vụ mà người bị áp dụng biện pháp khiển trách phải thực hiện tại khoản 3 Điều 93 BLHS 2015 như: Trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nào có nhiệm vụ theo dõi, giám sát cũng như thực hiện việc đánh giá, nhận xét kết quả thực hiện các nghĩa vụ của người đó? Đây là vấn đề mà BLHS chưa quy định rõ, cần có một quy định hướng dẫn cụ thể về cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giám sát, giáo dục và đánh giá kết quả chấp hành pháp luật của người bị áp dụng biện pháp khiển trách, nhằm đảm bảo cho người đó có trách nhiệm chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ. Cụ thể, trong trường hợp này, BLHS 2015 nên quy định giao cho cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị áp dụng biện pháp khiển trách cư trú, làm việc có trách nhiệm giám sát, giáo dục, đánh giá trong thời gian người đó thực hiện biện pháp khiển trách.
Thứ ba: Tại khoản 3 Điều 427 BLTTHS 2015 quy định về việc giao cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có trách nhiệm phải giao ngay quyết định áp dụng biện pháp khiển trách cho người bị khiển trách, cha mẹ hoặc người đại diện của họ mà Luật không quy định rằng quyết định phải được giao cho chính quyền địa phương nơi người bị áp dụng biện pháp khiển trách cư trú, làm việc. Bởi lẽ, chính quyền địa phương là nơi theo dõi, giám sát cũng như yêu cầu người đó tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 93 BLHS 2015.
Thứ tư: Ngoài ra, tại điểm c khoản 3 Điều 93 BLHS 2015 còn quy định người bị khiển trách phải thực hiện nghĩa vụ “tham gia lao động với hình thức phù hợp”. Như vậy, hiểu thế nào là lao động với hình thức phù hợp hay tiêu chí nào để xác định tính phù hợp của hình thức thức lao động; các hình thức lao động đó là gì; cơ quan, cá nhân nào có thẩm quyền giám sát quá trình lao động này của người bị khiển trách…? Vì vậy, theo quan điểm của tác giả, đây cũng là vấn đề cần sớm được hướng dẫn cụ thể./.

"Người có công với cách mạng” theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015

Bộ luật hình sự 2015 (BLHS 2015) có nhiều quy định mới thể hiện rõ tinh thần nhân đạo hơn với người phạm tội, đặc biệt làviệc cụ thể hóa thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Lần đầu tiên, bộ luật này quy định “người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sỹ, người có công với cách mạng” là một tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng ban đầu đã xuất hiện một số cách hiểu khác nhau về khái niệm “người có công với cách mạng” để làm cơ sở đánh giá là tình tiết giảmnhẹ theo khoản 1 hay khoản 2 Điều 51. Sau đây, tôi muốn trao đổi thêm với các đồng nghiệp về vấn đề này.
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
Trên thực tiễn, vấn đề “người có công với cách mạng” đã đượcghi nhận như một tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 46 BLHS 1999 (tức là nhữngtình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng Tòa án phải ghi rõ trong bản án). Điểm c mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ – HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng thẩm phán –Tòa án nhân dân tối cao (Nghị quyết 01) đã hướng dẫn các tình tiết được coi làtình tiết giảm nhẹ khác như sau:

Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công với nước hoặccó thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, người mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhândân, thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước…
Ngoàira, khi xét xử, tuỳ từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tộimà còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.

Hướng dẫn này chỉ nhắc tới đối tượng là “người có công với nước” hoặc có thànhtích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như đã được liệtkê chứ không nêu chính xác thuật ngữ “ngườicó công với cách mạng”. Tuy nhiên, vẫn có thể hiểu “người có công với cách mạng” cũng là “người có công với nước” hoặc là “tình tiết khác” và ghi rõ trong bản án để được áp dụng khoản 2 Điều46 BLHS 1999.
Khái niệm“người có công với cách mạng” đã chính thức được đề cập đến tại Điều1 Pháp lệnh04/2012/UBTVQH13 ngày 16/7/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều củapháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng (Pháp lệnh 04). Theo quy định này,“người có công với cách mạng” được liệt kê gồm những đối tượng cụ thể:

a)Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;
b)Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩatháng Tám năm 1945;
c)Liệt sĩ;
d)Bà mẹ Việt Nam anh hùng;
đ)Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân;
e)Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến;
g)Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;
h)Bệnh binh;
i)Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học;
k)Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;
l)Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụquốc tế;
m)Người có công giúp đỡ cách mạng.

Ngày 20/06/2017 Quốc hội nước Cộng hòaxã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộluật Hình sự năm 2015, đồng thời Bộ luật Hình sự 2015 sẽ chính thức có hiệu lựcthi hành kể từ ngày 01/01/2018. Vì vậy, việc hiểu chính xác khái niệm “ngườicó công với cách mạng” có ý nghĩa vô cùng quan trọng để cócơ sở áp dụng các chính sách hình sự.
Bởi lẽ, theo quy định của BLHS 1999, tấtcả các trường hợp bị cáo có vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột là ngườicó công với nước, có công với cách mạng hoặc có thành tích xuất sắc… (như đã đượchướng dẫn tại Nghị quyết 01) đều được nhận định là tình tiết giảm nhẹ theo khoản2 Điều 46. Tuy nhiên, hiện nay khi các Nghị quyết 109 ngày 27/11/2015, Nghị quyết 144 ngày 29/6/2016 của Quốc hội đangcòn hiệu lực, thì việc đánh giá bị cáo có vợ, chồng,cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột là “người có công với cách mạng”hay trườnghợp có công với nước, trường hợp khác… lại có giá trị khác hẳn nhau. Nếu xác địnhrõ là “người có công với cách mạng”thì cần phải áp dụng điểm x khoản 1 Điều 51 còn những trường hợp khác (người cócông với nước, anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, người mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân ….) thì chỉ được áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS2015 (tương ứng khoản 2 Điều 46 BLHS 1999). Việc áp dụng khoản 1 hay khoản 2 Điều51 có thể sẽ ảnh hưởng tới việc xem xét áp dụng nhiều chế định liên quan (nhưquyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, xem xét loại hình phạt…).
Vídụ:ngày 28/8/2016, Tòa án nhân dân huyện X xét xử Nguyễn Văn A về tội trộm cắp tàisản theo khoản 2 Điều 138 BLHS. Hồ sơ thể hiện ông Nguyễn Văn B – bố đẻ của A (sinh năm 1963, là quân nhân xuất ngũ) đã được tặng Huân chương chiến công hạng ba.
Trong trường hợp này, hiện nay có 2 quanđiểm về áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với A.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, BLHS 2015chưa hướng dẫn cụ thể như thế nào là “người có công với cách mạng”, trong khi Pháp lệnh 04 chỉ quy định về đối tượng,phạm vi, điều kiện, tiêu chuẩn, các chế độ ưu đãi người có công với cách mạngvà thân nhân của họ; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc thựchiện chính sách, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân của họ.Do đó, không thể hiểu Pháp lệnh 04 là văn bản hướng dẫn để thực hiện pháp luậthình sự. Vì vậy, theo nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo, có thể đánh giá ôngB là người có công với cách mạng và cần phải áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy địnhtại điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 đối với bị cáo A. Vì A có 2 tình tiết giảmnhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 (điểm s- thành khẩn khai báo,điểm x – có cha đẻ là người có công với cách mạng) nên đã được áp dụng Điều 47BLHS 1999 (Điều 54 BLHS 2015) để được xử dưới mức thấp nhất của khoản 2 Điều138 BLHS 1999.
Theo quan điểm thứ hai, tuy BLHS 2015chưa hướng dẫn cụ thể nhưng đến thời điểm hiện tại, Pháp lệnh 04 vẫn đang có hiệulực thi hành, không mâu thuẫn với các quy phạm pháp luật hình sự liên quan. Đâykhông phải là trường hợp không có văn bản nào hướng dẫn luật, không phải dạngquy phạm tùy nghi nên cần thiết vận dụng như quy định tại Pháp lệnh 04 để hiểuchính xác về khái niệm “người có công vớicách mạng”. Nghị định 31/2013/NĐ-CP ngày 9/4/2013 của Chính Phủ đã giảithích rõ về các trường hợp được đánh giá là người có công với cách mạng theoquy định từ điểm a đến điểm m Điều 1 Pháp lệnh 04. Theo các quy định đó, ngườiđược tặng Huân chương chiến công hạng ba không được liệt kê vào diện người cócông với cách mạng.
Hơn nữa, Khoản 1 Điều 36 Nghị định 42/2010/NĐ-CP ngày15/4/2010 của Chính phủ quy định:

1.”Huân chương Chiến công” hạng ba để tặng hoặc truy tặng cho cán bộ, chiến sỹtrong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, công an xã, dân quân tự vệ và trongcác tầng lớp nhân dân đạt các tiêu chuẩn sau:
a)Đã dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến đấu,phục vụ chiến đấu, chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật củaNhà nước, không vi phạm khuyết điểm lớn;
b)Mưu trí, dũng cảm, đạt hiệu quả cao trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu bảo vệchủ quyền, an ninh quốc gia hoặc đấu tranh với tội phạm, góp phần giữ vững anninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao;
c)Thành tích đạt được có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương trong toàn Quânkhu, Quân đoàn, Quân chủng, Binh chủng, Tổng cục, được cấp có thẩm quyền ghi nhận.

Tóm lại, đối chiếu với những quy địnhtrên, có thể hiểu ông B chỉ là người có thành tích xuất sắc khi công tác trongquân đội nhân dân Việt Nam, đã được cấp có thẩm quyền ghi nhận chứ không phảingười có công với cách mạng (hiểu đơn giản ông B là người có thành tích xuất sắctrong lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam). Với trường hợp này, có thể căn cứvào điểm c mục 5 Nghị quyết 01 và khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 để nhận định làtình tiết giảm nhẹ khác. Khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 quy định“Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiếtkhác là tình tiết giảm nhẹ nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.”
Theo quan điểm thứ hai, vì A chỉ được ápdụng 1 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 (thành khẩn khai báo) và 1 tìnhtiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS 1999 (khoản 2 Điều 51 BLHS 2015– có bố đẻ được tặng Huân chương chiến công hạng ba) nên không thể quyết địnhhình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là khoản 2 Điều138 BLHS 1999.
Qua ví dụ trên, có thể thấy, vì cách hiểukhái niệm “người có công với cách mạng” khôngthống nhất nên đã dẫn đến hai cách áp dụng chính sách hình sự khác hẳn nhau đốivới người phạm tội.
Theo ý kiến của cá nhân tôi, trong khichưa có hướng dẫn BLTTHS 2015 về khái niệm “người có công với cách mạng”, nên dẫn chiếu quy định tại Pháp lệnh 04 để hiểu và áp dụng thống nhất tình tiết giảm nhẹ “ngườiphạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sỹ, người có công với cách mạng”theo điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 (như đã phân tích tại phần quan điểm thứ hai). Như vậy, vừa thể hiện rõ sự khoan hồng của Nhà nước, vừa đảm bảo sự thốngnhất, nguyên tắc pháp chế trong các quy định của pháp luật.
Từ góc độ nghiên cứu, tiếp cận một vấn đềmới có thể nảy sinh vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật, tôi muốn đưara cùng trao đổi để có được nhận thức đúng đắn nhất. Rất mong nhận được hướng dẫncũng như ý kiến trao đổi của các đồng nghiệp để tôi có thể hoàn thiện hơn nhận thức của mình.

Góp ý kiến Dự thảo Nghị quyết hướng dẫn về các hành vi dâm ô, khiêu dâm

Dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng các điều 141,142, 143, 144, 145, 146 và 147 của Bộ luật Hình sự (BLHS) là rất cần thiết cho việc áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử. Do đó, vấn đề đặt ra là nội dung hướng dẫn phải thật đầy đủ, chặt chẽ và thuận tiện trong việc áp dụng.

BLHS 2015 với các quy định chung, chưa hướng dẫn cụ thể hành vi thế nào là dâm ô, thế nào là hành vi tình dục khác để có cơ sở truy tố, xét xử với tội dâm ô, giao cấu với người dưới 16 tuổi hoặc hành vi lôi kéo dụ dỗ ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm. Vì vậy, để kịp thời điều chỉnh xử phạt nghiêm đối với các hành vi đang diễn ra thực tế xâm hại tình dục đối với trẻ em rất cần thiết hướng dẫn quy định cụ thể. Nghiên cứu Dự thảo của Nghị quyết, chúng tôi xin góp ý như sau:

1. Góp ý Điều 2 khoản 8 Dự thảo Nghị quyết về giải thích hành vi dâm ô

Theo Dự thảo, hành vi dâm ô được hướng dẫn tại khoản 8 Điều 2 như sau:
“Dâm ô quy định tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự là một trong các hành vi sau đây nhằm kích thích tình dục nhưng không nhằm mục đích giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác:
a. Dùng tay, chân, miệng, lưỡi hoặc các bộ phận khác trên cơ thể của người phạm tội để tiếp xúc (trực tiếp hoặc qua lớp quần áo) vào bộ phận sinh dục, hậu môn, háng, đùi, mông, ngực, miệng của người dưới 16 tuổi;
b. Dùng các đồ vật để tiếp xúc (trực tiếp hoặc qua lớp quần áo) vào bộ phận sinh dục, hậu môn, háng, đùi, mông, ngực, miệng của người dưới 16 tuổi;
c. Dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi dùng tay, chân, miệng, lưỡi hoặc các bộ phận khác trên cơ thể của họ tiếp xúc (trực tiếp hoặc qua lớp quần áo) vào bộ phận sinh dục, hậu môn, háng, đùi, mông, ngực, miệng của người phạm tội hoặc của người khác.
Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định tại khoản 1 Điều 146. Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Chúng tôi đề nghị ban soạn thảo sửa thành “Điều 2 khoản 8. Dâm ô quy định tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự là một trong các hành vi sau đây nhằm kích thích tình dục nhưng không nhằm mục đích giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác:
a. Dùng tay, chân, miệng, lưỡi hoặc các bộ phận khác trên cơ thể của người từ đủ 18 tuổi trở lên để tiếp xúc (trực tiếp hoặc qua lớp quần áo) vào bộ phận sinh dục, hậu môn, háng, đùi, mông, ngực, miệng của người dưới 16 tuổi.
Ngoài ra, cần mở rộng phạm vi xử lý đối với hành vi dâm ô. Bổ sung thêm các hành vi sau cũng bị coi là dâm ô: thủ dâm trên phương tiện giao thông công cộng nhằm mục đích kích thích tình dục.

2. Góp ý khoản 9 Điều 2 Dự thảo Nghị quyết về hành vi lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm.

Theo Dự thảo, hành vi lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm được giải thích như sau:
Lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 thực hiện các cử chỉ, hành động, hình ảnh, âm thanh, mô tả (bằng lời nói hoặc chữ viết) nội dung gây kích thích ham muốn tình dục; phô bày bộ phận sinh dục, khỏa thân, thoát y hoặc thực hiện các động tác mô phỏng hoạt động tình dục (bao gồm giao cấu, thủ dâm và các hành vi tình dục khác).
Chúng tôi đề nghị Ban soạn thảo sửa thành:
“9. Lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người đủ 18 tuổi trở lên lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 thực hiện hoặc trực tiếp chứng kiến các cử chỉ, hành động, hình ảnh, âm thanh, mô tả (bằng lời nói hoặc chữ viết) nội dung gây kích thích ham muốn tình dục; phô bày bộ phận sinh dục, khỏa thân, thoát y hoặc thực hiện các động tác mô phỏng hoạt động tình dục (bao gồm giao cấu, thủ dâm và các hành vi tình dục khác) ở nơi công cộng, nhà ở hoặc các phương tiện internet, mạng xã hội .
Đề nghị Ban soạn thảo sửa đổi, bổ sung quy định nơi thực hiện lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc để phù hợp thực tiễn, với sự phát triển công nghệ thông tin, các đối tượng có thể lợi dụng Internet để gạ gẫm, dụ dỗ trẻ em, yêu cầu trẻ em chụp ảnh, quay video phơi bày các bộ phận trên cơ thể. Bởi vậy, Nghị quyết cần quy định những hành vi như vậy thực hiện qua mạng internet cũng bị xử lý về hành vi lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm.

3. Để bảo vệ tốt nhất trẻ em trong việc xét xử vụ án hình sự xâm hại tình dục có người bị hại là người dưới 18 tuổi.

Tại Điều 5 Dự thảo quy định tại điểm d. “Việc xét hỏi, tranh luận với bị hại là người dưới 18 tuổi tại phiên tòa được tiến hành phù hợp với lứa tuổi, mức độ phát triển của họ. Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu. Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc và hạn chế tối đa việc để bị hại là người dưới 18 tuổi tham gia đối đáp.”
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã dành riêng một chương đó là chương XXVIII để quy định về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi. Người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên, chưa phát triển đầy đủ cả về tâm lý và sinh lý. Việc để họ trực tiếp tranh luận tại tòa sẽ gây ra những áp lực tâm lý nhất định cho họ nên cần bổ sung thêm quy định việc tranh luận tại tòa của người dưới 18 tuổi có thể thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người giám hộ của họ. Ngoài ra, để giữ cho bị hại là người dưới 18 tuổi giữ được tâm lý ổn định tại phiên tòa cũng như cả những thời gian về sau, Nghị quyết cần bổ sung quy định: Nếu bị cáo không mời luật sư, hội đồng xét xử sẽ đặt câu hỏi. Trong quá trình đối đáp tranh luận, không ngắt lời người dưới 18 tuổi, cho các em thời gian suy nghĩ về câu hỏi và đưa ra câu trả lời.
Từ những phân tích trên, đề nghị Ban soạn thảo sửa điểm đ khoản 2 điều 5 như sau: “Việc xét hỏi, tranh luận với bị hại là người dưới 18 tuổi tại phiên tòa được tiến hành phù hợp với lứa tuổi, mức độ phát triển của họ. Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu. Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc và hạn chế tối đa việc để bị hại là người dưới 18 tuổi tham gia đối đáp. Tranh luận tại tòa của người dưới 18 tuổi có thể thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người giám hộ ”.