Thực trạng tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam

Việt Nam đang hội nhập và tham gia sâu vào “sân chơi” của khu vực và thế giới, điều đó mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức cho nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàngnói riêng.

Thế giới chúng ta đang bước vào kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức, trong đó khoa học và công nghệ giữ vai trò chủ đạo. Sản phẩm của khoa học và công nghệ chiếm phần lớn giá trị của nhiều hàng hóa, dịch vụ. Khoa học và công nghệ đang tạo ra sự khác biệt to lớn trong sự phát triển giữa các quốc gia với nhau.
Việt Nam đang hội nhập và tham gia sâu vào “sân chơi” của khu vực và thế giới, điều đó mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức cho nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng. Cuộc cách khoa học và công nghệ diễn ra, kèm theo dịch vụ ngân hàng số nở rộ, tội phạm công nghệ cao tấn công vào lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam có xu hướng gia tăng cả về số lượng và mức độ ngày càng tinh vi hơn.
Bài viết này khái quát về thực trạng tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Namtrong thời gian qua, đồng thời đưa ra những dự báo về nguy hại mà tội phạm này mang lại, từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng trong thời gian tới.

Thực trạng tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam

Trên thế giới, có khoảng 3,9 tỷ người (tương đương khoảng 60% dân số toàn cầu) sử dụng internet. Công nghệ thông tin, viễn thông trở thành một lĩnh vực mà các đối tượng tội phạm tập trung khai thác, sử dụng.
Theo báo cáo của Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (INTERPOL), tội phạm sử dụng công nghệ cao đang trở thành mối nguy hại lớn trên giới với thiệt hại gây ra hàng năm khoảng 400 tỷ đô la Mỹ, cao hơn số tiền mà tội phạm buôn bán ma túy thu được và cứ 14 giây lại xảy ra 01 vụ phạm tội sử dụng công nghệ cao.
Ở Việt Nam, theo Công ty mạng Bkav, thiệt hại do loại tội phạm công nghệ cao gây ra năm 2018 là 14.900 tỷ đồng, đặc biệt, chiếm tỷ trọng lớn trong đó là những thiệt hại xảy ra trong những lĩnh vực ngân hàng, tài chính. Nhóm tội phạm này thường tập trung tại một số tỉnh, thành phố trọng điểm, nơi diễn ra hoạt động kinh tế lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, Hồ Chí Minh, Bình Dương…
Về đối tượng phạm tội, ban đầu chỉ có một số ít người nước ngoài hoặc Việt kiều, nhưng đến nay, loại tội phạm này đã mở rộng đến từ nhiều quốc gia như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Anh… Thậm chí, việc người Việt Nam sử dụng công nghệ cao để phạm tội trong lĩnh vực ngân hàng đã gia tăng, đặc biệt, có cả sinh viên có hiểu biết sâu về công nghệ thông tin.
Tội phạm này có tổ chức, liên kết các cá nhân từ khắp nơi trên thế giới, sử dụng “lính đánh thuê” với mục tiêu tấn công vào hệ thống máy chủ của các ngân hàng, từ đó hình thành lên các nhóm như: nhóm viết mã độc, phát tán mã độc, thu thập lợi ích, tái phân phối; nhóm lắp đặt thiết bị sao chép dữ liệu; nhóm sử dụng thiết bị làm giả thẻ ngân hàng; nhóm sử dụng thẻ giả để rút tiền…
Về phương tiện phạm tội trong lĩnh vực ngân hàng, nhóm tội phạm này đã sử dụng công nghệ cao làm phương tiện thực hiện tội phạm trong khi công nghệ ngày một phát triển, đổi mới. Thủ đoạn phạm tội diễn ra ngày càng phức tạp, tinh vi dưới một số hình thức phổ biến sau:
Xâm phạm thiết bị điện tử, thiết bị số của ngân hàng, cá nhân, tổ chức
Nhóm tội phạm này đã xâm phạm an ninh, an toàn thiết bị điện tử (máy tính, mạng máy tính), thiết bị số của ngân hàng hoặc doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có thực hiện mua bán – thanh toán trực tuyến bằng hình thức phát tán virus, phần mềm gián điệp, mã độc hại với nhiều biến thể qua thư điện tử, đường link website, diễn đàn, mạng xã hội hoặc các phần mềm miễn phí, phần mềm được sử dụng phổ biến (Unikey, phần mềm đọc file PDF/ảnh…) để thu thập, trộm cắp, thay đổi/phá hủy trái phép cơ sở dữ liệu; chiếm quyền điều khiển máy chủ, sau đó thay đổi giao diện của trang web bị tấn công, tạo website giả…. Theo Bkav, năm 2018, Việt Nam có 9.300 website bị hacker xâm nhập và 30% website các ngân hàng Việt Nam có lỗ hổng.
Lừa đảo nhằm lấy cắp thông tin cá nhân
Nhóm tội phạm này đã sử dụng phần mềm gửi thư rác có nội dung khuyến mại, trúng thưởng… giả danh các ngân hàng gửi đến khách hàng với yêu cầu người dùng phải đăng nhập tài khoản ngân hàng của mình và cung cấp mã xác thực mật khẩu (OTP) để nhận được phần thưởng, khi khách hàng làm theo hướng dẫn thì máy tính sẽ bị cài virus, mã độc.
Ngoài ra, còn có hình thức giả mạo như thông qua Facebook gửi cảnh báo đến người dùng Facebook và đề nghị bấm vào đường dẫn để chuyển hướng đến website giả mạo. Một số khách hàng của các ngân hàng như HSBC, Vietcombank, BIDV, ACB… cũng nhận được các cuộc gọi đến xưng danh là cán bộ của ngân hàng thông báo việc khách đã trúng thưởng, đề nghị khách hàng chuyển tiền để làm thủ tục nhận thưởng; hoặc thông báo thẻ tín dụng có vài vấn đề và yêu cầu cung cấp những thông tin liên quan để điều chỉnh; xưng danh là cán bộ điều tra yêu cầu nộp tiền vào một tài khoản khác để bảo lãnh, phục vụ việc điều tra…
Trộm cắp, mua bán và sử dụng trái phép thẻ ngân hàng giả
Nhóm tội phạm này thường sử dụng thiết bị hiện đại gắn vào máy ATM/POS; cài phần mềm gián điệp, mã độc tấn công máy ATM và hệ thống thẻ; bẻ khóa hệ thống bảo mật, đánh cắp thông tin của chủ thẻ rồi chế tạo thẻ ngân hàng giả để sử dụng bất hợp pháp dưới thủ đoạn mua bán thẻ ngân hàng giả; rút tiền tại các máy ATM/POS; thanh toán trực tuyến…
Hack sim điện thoại của khách hàng để lấy thông tin hoặc lấy tiền
Nhóm tội phạm này thông qua các công đoạn như: tìm kiếm mục tiêu, thông qua các kỹ thuật hỗ trợ lừa đảo, tráo đổi thẻ sim, truy cập vào các tài khoản trực tuyến từ đó chiếm quyền sở hữu các tài khoản. Thủ đoạn phạm tội này không chỉ nhằm lấy được tiền trong tài khoản mà còn có thể bán tài khoản ấy cho người khác hoặc lấy hết tiền trong ngân hàng khi sim được liên kết với tài khoản ngân hàng.

Dự báo nguy cơ và thách thức tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam

Quá trình hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới của Việt Nam cho thấy tình hình phạm tội công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng dự báo sẽ còn diễn biến khó lường với hành vi ngày càng phức tạp, tinh vi hơn bởi những yếu tố sau:
Thứ nhất, chỉ số an toàn về thông tin ở Việt Nam đang còn thấp.
Theo Công ty Phần mềm Hoa Kỳ (Symantec), Việt Nam đứng thứ 11 thế giới về các hoạt động đe dọa tấn công mạng. Theo Hiệp hội An toàn thông tin số Việt Nam (VNISA), chỉ số an toàn thông tin năm 2018 là 45,6% mặc dù chỉ số an toàn thông tin của Việt Nam đã cải thiện qua các năm (năm 2015 là 47,4%; năm 2016 là 59,9%; năm 2017 đạt 46,8%) nhưng vẫn được dự báo là nước có tỷ lệ lây nhiễm phần mềm độc hại, mã độc ở mức cao.
Thứ hai, chiến lược phát triển ngành ngân hàng trong thời đại 4.0.
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra dự báo rằng, ngân hàng số sẽ là tương lai của ngành ngân hàng và là mảnh đất màu mỡ để tội phạm công nghệ cao khai thác phi pháp theo phương thức và công cụ ngày càng tinh vi hơn. Tại Việt Nam, năm 2018 có 47 ngân hàng cung cấp dịch vụ internet banking, 27 tổ chức cung cấp hơn 3,5 triệu tài khoản ví điện tử nhưng đến 2020, Việt Nam sẽ có 95% ngân hàng triển khai dịch vụ internet banking, mobile banking và 30% ngân hàng sẽ triển khai ngân hàng số.
Thứ ba, sự bùng nổ của thương mại điện tử và thị trường thiết bị số.
Xu hướng tấn công bằng mã độc sẽ tiếp diễn mạnh mẽ, thậm chí bùng nổ bởi thương mại điện tử và thị trường thiết bị số đang tăng lên nhanh chóng cùng với các dịch vụ tài chính số ngày càng được sử dụng rộng rãi. Hiện nay, hơn 60% người dân (khoảng 55 triệu người) dùng internet ở Việt Nam, có 58 triệu người dùng Facebook.
Theo hãng Ericsson dự báo đến năm 2018, tại Việt Nam tỷ lệ thuê bao smartphone sẽ tăng mạnh lên khoảng 70% và khoảng 10% tỷ lệ người dùng điện thoại sẽ dùng mạng 4G; đến năm 2021, số lượng thuê bao smartphone sẽ tăng gấp hơn 3 lần so với năm 2015 trong khi xét ở thời điểm cuối năm 2015, tỷ lệ thuê bao di động băng rộng đạt gần 40%.
Như vậy, nguy cơ dường như sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn. Theo Kaspersky và Symantec, Việt Nam được xếp đứng thứ 3 về số người dùng di động bị mã độc tấn công nhiều nhất trên thế giới; thứ 6 trên thế giới về số lượng địa chỉ IP trong nước được dùng trong các mạng máy tính ma tấn công nước khá và đứng thứ 12 trên thế giới về các hoạt động tấn công mạng.
Thứ tư, phát triển thanh toán không dùng tiền mặt.
Theo Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2545/QĐ-TTg ngày 30/12/2016, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2020, có 100% các siêu thị, trung tâm mua sắm và cơ sở phân phối hiện đại có POS; 50% cá nhân, hộ gia đình ở các thành phố lớn sử dụng phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt; toàn thị trường có trên 300.000 thiết bị chấp nhận thẻ POS.
Tuy nhiên, sự tiện lợi này lại tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho chủ thẻ, trong đó phổ biến nhất là thủ đoạn lắp đặt thiết bị tại máy ATM/POS để sao chép, trộm cắp dữ liệu, làm giả thẻ ngân hàng.

Kiến nghị giải pháp nhằm phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển mạnh của các dịch vụ ngân hàng điện tử cùng các thiết bị điện tử thông minh sẽ là những điều kiện thuận lợi để tội phạm công nghệ cao tấn công. Cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm công nghệ cao là cuộc chiến “không tiếng súng”, cuộc chiến của trí tuệ và công nghệ từ 3 bên: Nhà nước, ngân hàng và khách hàng. Từ đó tác giả kiến nghị một số giải pháp sau:
Phòng, chống tội phạm công nghệ cao từ các cơ quan quản lý nhà nước
Để phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng đòi hỏi sự quyết liệt, mạnh mẽ từ các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương thông qua các nhóm giải pháp sau:
Một là, kịp thời ban hành các chính sách, biện pháp cụ thể bảo đảm an ninh trật tự trong phát triển các lĩnh vực khoa học và công nghệ để phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao nói chung và trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng.
Hai là, hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực công nghệ cao thông qua các văn bản như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính… Cần phải tăng nặng chế tài hình sự và chế tài hành chính đối với nhóm vi phạm pháp luật về công nghệ cao.
Ba là, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sớm ban hành văn bản về phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng. Đồng thời, có sự phối hợp chặt chẽ với các bộ, ban, ngành khác nhằm phòng chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng.
Bốn là, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao nói chung và lĩnh vực ngân hàng nói riêng. Tập trung trao đổi thông tin tội phạm, nhận sự tài trợ các thiết bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại và đào tạo cán bộ trình độ cao từ các tổ chức quốc tế, phục vụ cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao.
Phòng, chống tội phạm công nghệ cao từ ngân hàng
Trong thời gian tới, các ngân hàng phải tiến hành các nhóm giải pháp sau:
Một là, triển khai áp dụng sớm và đồng bộ các biện pháp bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng điện tử với các công nghệ bảo mật tiên tiến như xác thực sinh trắc học, công nghệ chống tấn công, công nghệ phát hiện giao dịch gian lận, hệ thống bảo mật ba lớp… Bên cạnh đó, cần rà soát, kiểm tra thường xuyên tình hình bảo mật, an ninh để sớm phát hiện các lỗ hổng bảo mật, mã độc… có nguy cơ làm lộ, lọt thông tin khách hàng.
Hai là, triển khai áp dụng các biện pháp bảo đảm an toàn hoạt động thanh toán thẻ của máy ATM/POS như trang bị POS không dây có tính năng định vị qua GPS; kiểm tra, giám sát chặt chẽ các chủ thể thanh toán thẻ. Triển khai các biện pháp bảo vệ dữ liệu khách hàng và bảo đảm hoạt động liên tục của hệ thống thông tin trong ngân hàng.
Ba là, đào tạo nguồn nhân lực có nghiệp vụ trong lĩnh vực ngân hàng và lĩnh vực công nghệ cao nói riêng nhằm ứng phó khi bị nhóm tội phạm này xâm nhập. Ngoài ra, tăng cường trách nhiệm của từng cá nhân trong ngân hàng tham gia phòng ngừa, phát hiện kịp thời, tố giác tội phạm công nghệ cao.
Phòng, chống tội phạm công nghệ cao từ khách hàng
Trong hoạt động phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng không thể thiếu khách hàng, vì nếu Nhà nước và ngân hàng dù có nỗ lực bao nhiêu mà khách hàng không tuân thủ thì cũng không hạn chế được loại tội phạm trên. Vì vậy, khách hành cần có các nhóm giải pháp sau:
Cần tuân thủ các quy định pháp luật về lĩnh vực công nghệ cao theo quy định; tuân thủ quy định của ngân hàng khi tham gia vào các giao dịch liên quan đến ngân hàng. Từ đó, nếu có thiệt hại do tội phạm công nghệ cao gây ra thì sẽ xác định được trách nhiệm của các bên theo quy định pháp luật.
Tăng cường công tác tuyên truyền cho khách hàng nâng cao ý thức và trách nhiệm phòng chống tội phạm công nghệ cao; cảnh báo khách hàng cần cẩn trọng trong việc cung cấp thông tin cá nhân, mật khẩu khi thực hiện các giao dịch thanh toán hoặc thực hiện bất kỳ yêu cầu thay đổi thông tin trên mạng xã hội, website, email, điện thoại…
ThS. Trần Thế Hệ
Nguồn: Luật sư Việt Nam Online

Vấn đề áp dụng pháp luật đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm có diễn biến phức tạp trong thời gian vừa qua, gây ra những hoang mang trong quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử đối với loại tội phạm này còn có nhiều vướng mắc, nhất là việc đánh giá xác định tội danhkhông thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và giữa các Tòa án.

Điều này phần nào đã làm giảm hiệu quả công tác phòng ngừa và đấu tranh, chống tội phạm đối với loại tội phạm này. Trong phạm vi bài viết, tác giả đi sâu phân tích làm rõ khái niệm, phân tích dấu hiệu pháp lý và nêu quan điểm tranh luận đối với một số vụ án phức tạp có liên quan đến tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.

1. Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là gì?

Theo khoản 1 Điều 169 BLHS năm 2015 quy định: “Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Về kỹ thuật lập pháp, nhà làm luật không mô tả hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trong điều luật. Do đó, dưới khía cạnh nghiên cứu, có nhiều quan điểm khác nhau được đưa ra khi định nghĩa về hành vi phạm tội này như: “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là bắt đem giấu đi để làm con tin nhằm buộc gia đình, người thân phải nộp tiền chuộc“.
Tội phạm hoàn thành khi đã có hành vi bắt cóc và đòi tiền chuộc không kể là có lấy được tiền hay không. Nếu vì không đạt được mục đích đòi tiền chuộc mà kẻ phạm tội xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của con tin thì tùy hành vi thực hiện mà xử thêm tội giết người hoặc cố ý gây thương tíchcùng với tội bắt cóc theo nguyên tắc phạm nhiều tội”; “Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bắt, giữ người khác làm con tin do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý nhằm buộc người muốn chuộc phải nộp cho mình tiền hoặc tài sản thì mới thả người bị bắt, giữ”; “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bắt người làm con tin nhằm buộc người khác phải nộp cho mình một khoản tiền hoặc tài sản thì mới thả người bị bắt”…
Trên phương diện lý luận có thể thấy, các quan điểm trên đã nêu ra được một số dấu hiệu pháp lý đặc trưng của hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Điều này đã góp phần làm rõ lý luận và định hướng tích cực cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, giải quyết các vụ án bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trên thực tế.
Tuy nhiên, theo quy định của một số văn bản pháp luật hiện hành có liên quan và thực tiễn công tác phòng ngừa và đấu tranh, chống tội phạm này cho thấy: Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”.  Do đó, tiền cũng là tài sản nên việc sử dụng cụm từ “tiền hoặc tài sản” là chưa thật phù hợp. Khoản 1 Điều 169 BLHS quy định: “Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Tức là hành vi phạm tội thể hiện bằng việc “bắt cóc người khác” nhưng một số quan điểm chưa nêu ra được điều này. Ví dụ: Vụ án xảy ra tại Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, do nợ tiền thua số đề hàng trăm triệu đồng, đối tượng nảy sinh ý định “moi” tiền cha mẹ bằng chiêu giả bị bắt cóc. Anh ta nhờ bạn trói tay chân, bịt mặt, cầm cưa doạ nạt khi gọi điện thoại video về cho gia đình đòi một tỷ đồng tiền chuộc. Gia đình K năn nỉ giảm xuống còn 800 triệu đồng và được “nhóm bắt cóc” đồng ý nhưng phải đưa trước 100 triệu qua ATM. Số tiền còn lại được hẹn giao nhận tại gần siêu thị Lotte Biên Hòa. Khi chúng vừa lấy tiền từ gia đình K thì bị lực lượng công an bắt giữ. Vụ án trên, “nhóm bắt cóc” bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản quy định tại Điều 170 BLHS, mà không phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 169 BLHS. Do đó, khái niệm về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản cần phải nêu rõ dấu hiệu pháp lý này.
– Một số quan điểm trên chưa cắt nghĩa được thuật ngữ “bắt cóc” hoặc điểm khác biệt của hành vi “bắt, giữ người khác làm con tin” trong tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với các tội phạm khác. Thực tế đã xảy ra vụ án, nửa đêm đối tượng đột nhập vào nhà của hai mẹ con (đứa con còn nhỏ). Đối tượng đã bắt, giữ, kề dao vào cổ đứa con làm con tin để uy hiếp, yêu cầu người mẹ phải đưa cho đối tượng 30 triệu đồng thì mới thả đứa con, nếu không đứa con sẽ bị nguy hiểm đến tính mạng. Xung quanh vụ án này, có nhiều quan điểm tranh luận giữa các cơ quan tiến hành tố tụng khi định tội danh, đối tượng phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản hay cướp tài sản?
Theo Từ điển Tiếng Việt, “bắt cóc là bắt người một cách đột ngột và đem giấu đi”. Chúng tôi cho rằng, việc giải thích thuật ngữ “bắt cóc” trong Từ điển Tiếng Việt là tương đối sát nghĩa, thể hiện được bản chất của hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản so với các tội phạm khác.
Bắt cóc người khác phải thể hiện việc đưa người bị bắt giấu đi ở một nơi nào đó mà không muốn cho người khác biết, đặc biệt là đối với người thân, gia đình của người bị bắt (người muốn chuộc con tin). Do đó, trong vụ án trên, nếu xử lý đối tượng về hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là chưa thật sự phù hợp, chưa đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Với những phân tích trên, chúng tôi cho rằng, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bắt người khác đem giấu ở một địa điểm nào đó để làm con tin, nhằm uy hiếp buộc người muốn chuộc con tin (có thể là người thân trong gia đình, bạn bè của người bị bắt…) phải giao tiền hoặc tài sản khác thì mới thả người bị bắt.

2. Một số vấn đề cần chú ý trong quá trình áp dụng pháp luật đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

2.1. Vấn đề xác định thời điểm hoàn thành đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Dưới khía cạnh nghiên cứu lý luận, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được xác định là tội phạm có cấu thành hình thức. Tội phạm hoàn thành khi đối tượng thực hiện được hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác. Việc người phạm tội có chiếm đoạt được tài sản của người khác hay không thì không có ý nghĩa trong việc định tội. Tuy nhiên, việc xác định thời điểm hoàn thành của tội phạm vẫn có một số quan điểm khác nhau.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, khi người phạm tội đã bắt đầu thực hiện hành vi bắt cóc, không phụ thuộc vào việc đã bắt cóc được người khác làm con tin hay chưa và chứng minh được hành vi bắt cóc đó nhằm chiếm đoạt tài sản thì tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản đã hoàn thành. Quan điểm thứ hai cho rằng, khi người phạm tội đã thực hiện được hành vi bắt cóc người khác làm con tin và hành vi đó nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác thì tội phạm đã hoàn thành.
Quan điểm thứ ba cho rằng, khi người phạm tội đã thực hiện được hành vi bắt cóc và đe dọa, có yêu sách về tài sản, không phụ thuộc vào việc họ có chiếm đoạt được tài sản hay không thì tội phạm đã hoàn thành. Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai, khi xác định rằng, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản hoàn thành khi người phạm tội thực hiện được hành vi bắt cóc người khác làm con tin và hành vi đó nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.
Điều này sẽ phù hợp về mặt kỹ thuật lập pháp vì khi đó hành vi của người phạm tội đã thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý được mô tả trong cấu thành tội phạm. Khi người phạm tội đã bắt đầu thực hiện hành vi bắt cóc nhưng chưa bắt cóc được người khác làm con tin thì hành vi đó chưa thỏa mãn dấu hiệu pháp lý được mô tả trong cấu thành cơ bản của tội phạm “Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản…” (Khoản 1 Điều 169) nên tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản chưa hoàn thành. Còn việc đối tượng đã thực hiện hành vi đưa ra yêu sách về tài sản, đe dọa đòi tiền chuộc hay chưa, điều đó không phải dấu hiệu pháp lý được mô tả trong cấu thành tội phạm, mà nó thuộc về vấn đề chứng minh tội phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án hình sự.

2.2. Thời gian giam giữ con tin trong tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Trong thực tiễn xét xử hiện vẫn còn đang có sự tranh cãi về thời gian giam giữ người bị hại. Quan điểm thứ nhất cho rằng, nếu có hành vi bắt và giam giữ con tin nhằm chiếm đoạt tài sản thì có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, bất kể thời gian giam giữ là bao lâu. Quan điểm thứ hai cho rằng, nếu thời gian giam giữ con tin không nhiều, chẳng hạn như chỉ vài phút, thì không thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được mà phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản.
Chúng tôi cho rằng, việc phân biệt giữa tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản không phải dựa trên thời gian giam giữ người bị hại như một số quan điểm được nêu ra. Việc phân biệt các tội phạm với nhau cần được dựa trên dấu hiệu pháp lý đặc trưng của mỗi tội phạm theo luật định. Khoản 1 Điều 170 BLHS quy định: “Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
Người phạm tội cưỡng đoạt tài sản có thể dùng bất cứ phương thức, thủ đoạn nào để uy hiếp tinh thần của người khác nhằm chiếm đoạt tài sản nhưng họ không thực hiện hành vi bắt cóc người khác làm con tin để uy hiếp tinh thần người khác. Nếu người phạm tội có hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản thì không kể thời gian giam, giữ con tin là bao lâu thì vẫn phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, ngay cả trong trường hợp đối tượng chưa bắt cóc được người khác làm con tin nhưng đủ căn cứ chứng minh đối tượng có ý định bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản.

2.3. Nếu người phạm tội bắt cóc người khác làm con tin nhưng không đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản nên đã có hành vi xâm hại tính mạng, sức khỏe của con tin thì có cấu thành tội phạm độc lập hay không?

Hành vi khách quan của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bắt cóc người khác làm con tin và hành vi chiếm đoạt tài sản. Thiệt hại do những hành vi này gây ra cho quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu là hậu quả của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, đó là những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác.
Hành vi bắt cóc là tiền đề, cơ sở và là thủ đoạn quyết định đến việc đối tượng có thể thực hiện được hành vi chiếm đoạt tài sản và những thiệt hại do hành vi bắt cóc gây ra cho con tin cũng nhằm hướng đến việc thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
Do đó, những thiệt hại nào xuất hiện trong quá trình thực hiện hành vi bắt cóc gây ra cho con tin mà không hướng đến việc thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản thì không phải là hậu quả của tội phạm và hành vi gây thiệt hại đó cũng không phải là hành vi khách quan của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, nếu người phạm tội không đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản nên đã có hành vi xâm hại tính mạng, sức khỏe của con tin thì hành vi này sẽ bị truy cứu theo cấu thành tội phạm độc lập. Điều này thể hiện đúng bản chất của hành vi phạm tội, nó giống như một hành vi trả thù nạn nhân khi không chiếm đoạt được tài sản.

2.4. Vấn đề mấu chốt để phân biệt tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản

Đối với tội cướp tài sản, người phạm tội thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Hành vi của người phạm tội hướng đến việc tấn công, uy hiếp, đe dọa trực tiếp đối với người đang quản lý tài sản hoặc đối với người có thể gây cản trở việc chiếm đoạt tài sản của đối tượng. Với hành vi của mình, người phạm tội mong muốn đặt người bị tấn công vào tình trạng không thể chống cự được, để chiếm đoạt được tài sản ngay tức khắc (tại thời điểm thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác).
Người bị tấn công thường không có nhiều thời gian để suy nghĩ, lựa chọn việc có nên giao tài sản cho đối tượng hay không. Đây chính là thủ đoạn quyết định đến việc đối tượng chiếm đoạt được tài sản. Trong trường hợp, nếu người bị tấn công có hành vi chống trả lại đối tượng thì điều đó là những yếu tố khách quan, nằm ngoài ý muốn chủ quan của các đối tượng phạm tội và điều này không ảnh hưởng đến việc định tội, nhưng có ý nghĩa trong việc xem xét về mức độ trách nhiệm hình sự.
Đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, người phạm tội có hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản. Người phạm tội đã thực hiện hành vi bắt người khác đem giấu ở một địa điểm nào đó để làm con tin, nhằm uy hiếp buộc người muốn chuộc con tin (có thể là người thân trong gia đình, bạn bè của người bị bắt…) phải giao tiền hoặc tài sản khác thì mới thả người bị bắt. Cụm từ “đem giấu ở một địa điểm nào đó” thể hiện việc người phạm tội không muốn cho người muốn chuộc con tin hoặc cơ quan chức năng biết được địa điểm “giấu con tin” và dùng nó để uy hiếp người khác nhằm chiếm đoạt tài sản.
Đây chính là thủ đoạn quyết định đến việc đối tượng chiếm đoạt được tài sản. Thông thường, người phạm tội sẽ hẹn người muốn chuộc con tin ở một địa điểm nào đó (khác địa điểm giấu con tin) để chiếm đoạt tài sản của họ. Hành vi của người phạm tội chưa đến mức làm cho người bị đe dọa tê liệt ý chí, mất sức phản kháng ngay tức khắc mà họ vẫn có điều kiện để thỏa thuận, thương lượng về giá trị tài sản chuộc; vẫn có điều kiện cân nhắc xem có nên giao tài sản cho đối tượng hay không; vẫn có điều kiện nhờ sự can thiệp của các cơ quan chức năng trong việc giải cứu con tin, bắt giữ đối tượng… Chính vì vậy, dưới phương diện lý luận và kỹ thuật lập pháp, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được xác định là có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với tội cướp tài sản.
Đối với tội cưỡng đoạt tài sản, người phạm tội có hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản. Người phạm tội không có hành vi bắt cóc người khác làm con tin; không có hành vi dùng vũ lực đối với người khác nhằm chiếm đoạt tài sản; không có hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, mà chỉ là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực để uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản.
Người bị hại không bị tê liệt hoàn toàn về ý chí, không bị lâm vào tình trạng không thể chống cự được mà vẫn có thời gian suy nghĩ có nên giao tài sản cho đối tượng hay không; vẫn có điều kiện để thỏa thuận, thương lượng về giá trị tài sản giao cho đối tượng; vẫn có điều kiện nhờ sự can thiệp của các cơ quan chức năng, của người khác trong việc ngăn chặn hành vi của đối tượng, bắt giữ đối tượng…
Tội cưỡng đoạt tài sản xâm phạm đến quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân, nếu quan hệ nhân thân có bị xâm phạm cũng chỉ gây thiệt hại về tinh thần mà không gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe. Do đó, điều luật không quy định dấu hiệu gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe là dấu hiệu định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Do đó, nếu không chiếm đoạt được tài sản mà người phạm tội có hành vi dùng vũ lực, tấn công hoặc bắt, giữ, giam người khác làm con tin để trả thù hoặc gây thêm áp lực cho người khác nhằm chiếm đoạt bằng được tài sản thì tùy theo từng trường hợp mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm độc lập khác.
Trên đây là một số kết quả nghiên cứu, quan điểm trao đổi của tác giả về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 169 BLHS năm 2015, xin được nêu ra để cùng được trao đổi.
Hy vọng các vấn đề trao đổi trên sẽ tiếp tục được nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa và đấu tranh, chống tội phạm bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trong thời gian tới.

Nguyễn Thị Hải Yến

(Khoa Luật – Học viện Cảnh sát nhân dân)

Nguồn: Luật sư Việt Nam Online