Thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với người dưới 18 tuổi

Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung các quy định về việc áp dụngbiện pháp ngăn chặn tạm giam đối với người chưa thành niên, nhằm đảm bảo thuận lợi hơn nữa cho các hoạt động tố tụng, phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em, chặt chẽ hơn về cáccăn cứ, điều kiện áp dụng. Tuy nhiên, hiện nay quy định này đang có nhiều cách hiểu khác nhau, chưa đúng quy định của BLTTHS.
Sau hơn 10 năm thi hành các quy định của BLTTHS năm 2003 về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với người chưa thành niên (Điều 303) đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên các quy định này cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, có một số quy định chưa phù hợp và đáp ứng được với yêu cầu của thực tiễn làm ảnh hưởng không nhỏ đến quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên. Do đó BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung các quy định này tại Điều 419 nhằm đảm bảo thuận lợi hơn nữa cho các hoạt động tố tụng, phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em, chặt chẽ hơn về các căn cứ, điều kiện áp dụng. Tuy nhiên, hiện nay thời hạn tạm giam đối với người dưới 18 tuổi đang có nhiều cách hiểu khác nhau, chưa thống nhất, chưa đúng quy định của BLTTHS. Do đó, để hiểu rõ hơn quy định này, tôi xin trao đổi một số vấn đề cụ thể như sau:
Khoản 1 Điều 419 của BLTTHS quy định “Chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp áp giải đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi trong trường hợp thật cần thiết. Chỉ áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi khi có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả. Thời hạn tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi bằng hai phần ba thời hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi trở lên quy định tại Bộ luật này. Khi không còn căn cứ để tạm giữ, tạm giam thì cơ quan, người có thẩm quyền phải kịp thời hủy bỏ, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác.”. Như vậy, thời hạn tạm giam đối với người dưới 18 tuổi chỉ bằng “hai phần ba thời hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi trở lên”. Theo quy định tại Ðiều 413 của BLTTHS thì thủ tục tố tụng đối với người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng là người dưới 18 tuổi được áp dụng theo quy định của Chương XXVIII, đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy định của Chương XXVIII. Theo đó, thời hạn giải quyết vụ án hình sự có người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng vẫn được áp dụng theo quy định tại Điều 277 của BLTTHS, nên việc xác định thời hạn tạm giam đối với người dưới 18 tuổi căn cứ vào quy định tại các điều 277, 278 và 419 của BLTTHS để xác định như sau:
+ Đối với tội phạm ít nghiêm trọng, thời hạn tạm giam tối đa là 20 ngày. Trường hợp gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử thì tạm giam tối đa thêm là 10 ngày.
+ Đối với tội phạm nghiêm trọng, thời hạn tạm giam tối đa là 30 ngày. Trường hợp gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử thì tạm giam tối đa thêm là 10 ngày.
+ Đối với tội phạm rất nghiêm trọng, thời hạn tạm giam tối đa là 40 ngày. Trường hợp gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử thì tạm giam tối đa thêm là 20 ngày.
+ Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thời hạn tạm giam tối đa là 60 ngày. Trường hợp gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử thì tạm giam tối đa thêm là 20 ngày.
+ Trường hợp sau khi Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì Hội đồng xét xử quyết định tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa. Trường hợp này thời hạn tạm giam người dưới 18 tuổi giống người trên 18 tuổi được xác định cho đến ngày kết thúc phiên tòa. Vì theo quy định tại các điều 255, 258, 322 và Điều 326 của BLTTHS thì phiên tòa xác định cụ thể ngày bắt đầu, nhưng không xác định được ngày kết thúc. Đây là quy định phù hợp thực tiễn khách quan của từng vụ án cụ thể mà việc kết thúc phiên tòa diễn ra khác nhau.
Như vậy, thời hạn giải quyết vụ án hình sự có người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng vẫn áp dụng theo quy định tại Điều 277 của BLTTHS, nhưng thời hạn tạm giam đối với người dưới 18 tuổi chỉ bằng hai phần ba thời hạn tạm giam đối với người trên 18 tuổi, do đó để bảo đảm khi xét xử vụ án hình sự có người dưới 18 tuổi đang bị tạm giam “nhanh chóng, kịp thời” quy định tại khoản 7 Điều 414 thì Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa cũng cần phải giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời tránh trường hợp thời hạn tạm giam đối với người dưới 18 tuổi đã hết mà Tòa án chưa ra được một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều 277 của BLTTHS mà họ lại được trả tự do sẽ gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án.
Trường hợp, sau khi Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng chưa đến ngày mở phiên tòa mà thời hạn tạm giam của người dưới 18 tuổi đã hết thì Chánh án hoặc Phó Chánh án áp dụng biện pháp tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm theo mẫu số 05 ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngày 19-9-2017 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC ban hành một số biểu mẫu trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của BLTTHS.
Trường hợp, sau khi Tòa án tuyên án mà xét thấy cần thiết phải tiếp tục tạm giam bị cáo là người dưới 18 tuổi để bảo đảm thi hành án thì căn cứ khoản 1 Điều 419 của BLTTHS quyết định thời hạn tạm giam là 30 ngày mà không áp dụng thời hạn tạm giam 45 ngày như quy định tại khoản 3 Điều 329 của BLTTHS. Mặc dù, quy định này chưa phù hợp với khoản 1 Điều 337 về thời hạn kháng nghịcủa Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án. Tuy nhiên, căn cứ vào khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21-12-2018 đã hướng dẫn về trách nhiệm phối hợp của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự có người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng dưới 18 tuổi thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ, bảo đảm thực hiện đúng quy định tại Chương XXVIII và các quy định khác của BLTTHS về thủ tục tố tụng thân thiện đối với người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Do đó, trường hợp này Tòa án cần phải phối hợp với Viện kiểm sát để bảo đảm việc xem xét kháng nghị phù hợp tránh trường hợp đến ngày cuối cùng của thời hạn kháng nghị mới có kháng nghị mà thời hạn tạm giam của bị cáo đã hết sẽ gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.

Người chưa thành niên có đứng tên sổ đỏ được không?

Chào luật sư, tôi định tặng cho cháu nội một căn nhà gắn liền với đất, nhưng hiện cháu mới 14 tuổi. Vậy, lúc này cháu tôi có được nhận nhà đất và được đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất không?
Vấn đề bạn hỏi, Văn phòng Luật sư Hoàng Hưng trả lời như sau:
Ông hoàn toàn có quyền tặng cho cháu nội tài sản là nhà và quyền sử dụng đất, đó là một giao dịch dân sự thông thường. Tuy nhiên, do cháu ông mới 14 tuổi nên các giao dịch dân sự của người chưa thành niên có một số điều kiện nhất định.
Theo quy định của Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi. Tại khoản 4 Điều 21 BLDS thì giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản của người chưa thành niên phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật. Như vậy, cháu nội ông muốn được nhận tài sản tặng cho là bất động sản (nhà và đất) thì phải được sự đồng ý của cha mẹ cháu – người đại diện theo pháp luật đương nhiên của cháu (quy định tại Điều 136 Bộ Luật Dân sự).
Sau khi cha, mẹ cháu đồng ý thì ông sẽ ký Hợp đồng tặng cho tài sản cho cháu tại Phòng Công chứng Nhà nước hoặc Văn phòng Công chứng. Đối với bên nhận tài sản tặng cho là cháu ông thì phải có cả người đại diện theo pháp luật là bố mẹ cháu cùng ký tên. Khi Hợp đồng tặng cho đã được ký có sự chứng kiến của Công chứng viên, ông tiếp tục làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đó cho cháu.
Hiện nay, Luật Đất đai không có quy định nào hạn chế người chưa thành niên không được đứng tên trên giấy tờ về quyền sử dụng đất. Trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, ngoài tên cháu nội ông, là người chủ sở hữu, chủ sử dụng mới, thì có cả tên của người đại diện theo pháp luật của cháu để đảm bảo các giao dịch của người chưa thành niên được thực hiện đúng quy định.

Miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội

Trong các quy định về xử lý người chưa thành niên phạm tội thì việc miễn trách nhiệm hình sự đối với đối tượng này là một vấn đề cần để nghiên cứu. Trong phạm vi bài viết này, người viết trình bày cách hiểu là chế định trên, quy định của nó trong pháp luật hình sự Việt Nam qua từng giai đoạn, hạn chế và đề xuất một số ý kiến có liên quan.
 

1. Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự

Miễn trách nhiệm hình sự (TNHS) là một quy định trong Bộ luật Hình sự (BLHS) Việt Nam, được hiểu là tùy theo giai đoạn tiến hành tố tụng, cơ quan có thẩm quyền (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) cho bị can, bị cáo không phải chịu trách nhiệm hình sự, được thể hiện dưới hình thức văn bản tố tụng nhất định, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
Miễn trách nhiệm hình sự không có nghĩa là bị can, bị cáo không phạm tội. Đối tượng này đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự, khi thỏa mãn điều kiện cấu thành tội phạm mà luật quy định, họ được miễn trách nhiệm hình sự. Nói cách khác, không thể miễn trách nhiệm hình sự đối với người không phạm tội hoặc không đủ căn cứ để xác định được hành vi của người đó là hành vi phạm tội. Việc miễn trách nhiệm hình sự này là do chính sách nhân đạo của Nhà nước, chứ không phải oan saido cơ quan tiến hành tố tụng gây ra, do đó, người được miễn trách nhiệm hình sự không được yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Bồi thường nhà nước.
Hình thức văn bản tố tụng thể hiện việc miễn trách nhiệm hình sự có thê là quyết định đình chỉ điều tra vụ án; Quyết định đình chỉ vụ án, Bản án, cụ thể như sau:
– Cơ quan điều tra có quyền miễn trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể, sau khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành điều tra vụ án, nếu xét thấy có đủ căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự thì mới ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án. Tại điểm a khoản 1 Điều 230 BLTTHS 2015 quy định về đình chỉ điều tra “Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp: … có căn cứ quy định tại …. khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự”.
Viện kiểm sát cũng có thẩm quyền đình chỉ vụ án khi có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự cho người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội. Khoản 1 Điều 248 BLTTHS 2015 khẳng định “Viện kiểm sát quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ ….quy định tại khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự”.
Tại phiên tòa xét xử công khai, Hội đồng xét xử nghị án nhiều vấn đề, trong đó có: Bị cáo có thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, hay không. Nếu đủ điều kiện, thì Hội đồng xét xử phải tuyên miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo trong phần quyết định của Bản án (Điều 326 BLTTHS năm 2015).

2. Quy định về miễn trách nhiệm hình sự trong lịch sử lập pháp Việt Nam

Quốc triều hình luật
Quốc triều Hình luật (còn gọi là Bộ luật Hồng Đức), mặc dù mang bản chất giai cấp phong kiến sâu sắc nhưng Bộ luật Hồng Đức lại có những điểm tiến bộ, nhân đạo cho các đối tượng yếu thế trong xã hội như người già, trẻ nhỏ, người bị tàn tật.
Miễn, giảm trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 18, 19, 450, 499, 553 của Bộ luật, cụ thể trong các trường hợp như tự vệ chính đáng, tình trạng khẩn cấp, tình trạng bất khả kháng, thi hành mệnh lệnh, tự thú (trừ thập ác, giết người). Pháp luật thời kỳ này không nêu rõ thế nào là miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên. Tuy nhiên, Điều 16 đã nêu rõ người 15 tuổi trở xuống, phạm từ tội lưu [1] trở xuống đều cho chuộc bằng tiền, phạm tội thập ác [2] thì không theo luật này. Người từ 10 tuổi trở xuống, phạm tội phản nghịch, giết người, đánh phải tội chết thì cũng phải tâu để vua xác định; ăn trộm đánh người bị thương thì cho chuộc, còn ngoài ra thì không bắt tội. Từ 7 tuổi trở xuống dầu có bị tội chết cũng không hành hình. Điều đó người viết có thể hiểu là, người từ đủ 7 tuổi đến dưới 10 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi phạm tội, trừ trường hợp đứa trẻ đó phạm tội phản nghịch, giết người, đáng phải tội chết; ăn trộm đánh người bị thương.
Hoàng Việt luật lệ: [3]
Hoàng Việt luật lệ hay còn được biết đến với tên Hoàng triều luật lệ (Bộ luật Gia Long). Cũng giống như Bộ luật Hồng Đức, bộ luật này cũng có những quy định nhân đạo đối với “đối tượng dễ bị tổn thương” trong xã hội. Việc tôn trọng người già, nhân từ với con trẻ và thương xót những người tàn tật là một trong những tôn chỉ của Bộ luật này. Theo đó, người từ 15 tuổi trở xuống phạm tội lưu trở xuống, cho thu tiền chuộc; người từ 10 tuổi trở xuống phạm việc giết người, thì phải tâu lên vua xem xét quyết định; nếu trộm, làm tổn thương người khác cho chuộc bằng tiền, ngoài ra các điều khác thì không bắt tội; người từ 7 tuổi trở xuống là người thiếu trí và lực, dù mắc tội phản nghịch vẫn không cũng không bị hành hình [4]. Bộ luật không quy định rõ từng câu chữ là miễn trách nhiệm hình sự như luật hiện hành, nhưng qua nội dung được trích dẫn ở trên, người làm luật tại thời nhà Nguyễn đã nhận thức rõ và phát huy tinh thần nhân đạo cao cả. Theo đó, người từ đủ 7 tuổi  đến dưới 10 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi phạm tội, trừ trường hợp đứa trẻ đó phạm việc giết người, thì phải tâu lên vua xem xét quyết định; nếu trộm, làm tổn thương người khác cho chuộc bằng tiền.
BLHS 1985 quy định người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra hoặc xét xử, do sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội.
Chủ thể có quyền quyết định miễn trách nhiệm nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội là Viện kiểm sát, Tòa án nếu xét thấy người đó phạm tội ít nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và nếu được gia đình và tổ chức xã hội nhận trách nhiệm giám sát, giáo dục.
BLHS 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 khẳng định người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.
Thẩm quyền miễn trách nhiệm hình sự cho người chưa thành niên thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Tuy nhiên, chế định này trong quá trình áp dụng bộc lộ những hạn chế như: cơ sở pháp lý chưa cụ thể, quy định miễn trách nhiệm hình sự nhưng không kèm theo biện pháp giáo dục, dẫn đến khả năng tái phạm cao từ người chưa thành niên.

3. Điều kiện được miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội

Điều kiện để người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS năm 2015 là:
Thứ nhất, người phạm tội là người chưa thành niên. Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến chưa thành niên đã có lỗi cố ý hoặc vô ý trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm.
Thứ hai, tội phạm mà người đó thực hiện phải thuộc một trong các trường hợp nêu tại khoản 2 Điều 91 BLHS năm 2015, cụ thể:
– Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ tội phạm quy định tại các điều 134, 141, 171, 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật này;
– Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ tội phạm quy định tại các điều 123, 134, 141, 142, 144, 150, 151, 168, 171, 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật này;
– Người chưa thành niên là người đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể trong vụ án (điểm c khoản 2 Điều 90).
Thứ ba: Người chưa thành niên phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả.

4. Hạn chế và đề xuất

Trong quá trình nghiên cứu, người viết nhận thấy quy định miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội là rất cần thiết; tuy nhiên để triển khai chế định này trong thực tiễn xét xử, TANDTC cần có văn bản hướng dẫn quy định cụ thể miễn trách nhiệm hình sự về điều kiện được miễn trách nhiệm cho người chưa thành niên về các phương diện như sau:
Thứ nhất: Nếu người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại tại khoản 1 của các Điều 134, 141, 171, 248, 249, 250, 251 và 252 và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả… thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp khiển trách, giáo dục tại xã phường, thị trấn, hòa giải tại cộng đồng. 8 điều luật nêu trên, mỗi điều luật có nhiều khoản, trong đó, Điều 134 – Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, khung hình phạt ở khoản 1 là từ 06 tháng đến 03 năm; Điều 141 – Tội hiếp dâm– khung hình phạt ở khoản 1 là từ 02 năm đến 07 năm; Điều 171 – Tội cướp giật tài sản –  khung hình phạt ở khoản 1 là từ 01 năm đến 05 năm; Điều 248 – Tội sản xuất trái phép chất ma túy – khung hình phạt ở khoản 1 là từ 02 năm đến 07 năm; Điều 249 – Tội tàng trữ trái phép chất ma túy – khung hình phạt ở khoản 1 là từ 01 năm đến 05 năm; Điều 250 – Tội vận chuyển trái phép chất ma túy – khung hình phạt ở khoản 1 là từ 02 năm đến 07 năm; Điều 251 – Tội mua bán trái phép chất ma túy – khung hình phạt ở khoản 1 là từ 02 năm đến 07 năm; Điều 252 – Tội chiếm đoạt chất ma túy – khung hình phạt ở khoản 1 là từ 01 năm đến 05 năm. Như vậy người từ đủ 16 tuổi đến chưa thành niên phạm tội quy định tại khoản 1 các điều này, có khung hình phạt cao nhất là 07 năm – loại tội phạm nghiêm trọng, nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả… thì có được miễn trách nhiệm hình sự hay không [5]. Theo người viết, trường hợp này sẽ không được miễn trách nhiệm hình sự. Bởi vì nội dung khoản 2 Điều 91 BLHS đã nêu rõ, không miễn trách nhiệm hình sự khi người từ đủ 16 tuổi đến chưa thành niên phạm tội thuộc 08 tội danh ở trên. Do đó, văn bản hướng dẫn của TANDTC nên khẳng định lại nội dung này, để tránh gây ra sự nhập nhằng trong việc áp dụng pháp luật.
Thứ hai: Cấp có thẩm quyền cần xác định rõ tình tiết “có nhiều tình tiết giảm nhẹ” là như thế nào, với số lượng là bao nhiêu tình tiết. Có thể áp dụng tương tự như hướng dẫn tình tiết “có nhiều tình tiết giảm nhẹ” theo Nghị quyết 02/2018 của Hội đồng thẩm phán TANDTC về án treo theo Điều 65 BLHS không. Tại tiểu mục 3 Điều 2 của Nghị quyết 02/2018/NQQ-HĐTP xác định: Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Người viết không ủng hộ quan điểm tương tự này, Nghị quyết 02/2018 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn về án treo theo Điều 65 BLHS, án treo được hiểu là không chấp hành hình phạt tù có thời hạn nhưng có điều kiện. Mức độ hưởng sự nhân đạo từ Nhà nước đối với người chấp hành án treo là thấp hơn so với miễn trách nhiệm hình sự, nên điều kiện về tình tiết giảm nhẹ của người được miễn trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn so với quy định số lượng tình tiết giảm nhẹ án treo.
Người viết đề xuất: Có từ 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Thứ ba: Một trong những điều kiện để miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội là việc tự nguyện khắc phụ phần lớn hậu quả được hiểu là như thế nào? Có bao gồm việc người thân của bị can, bị cáo khắc phục hậu quả dùm cho bị can, bị cáo hay không, vì sẽ có tình huống bị can, bị cáo còn nhỏ tuổi không có tài sản để khắc phục hậu quả nhưng người thân của họ thì có tài sản. Mặc khác, theo quy định tại Điều 599 BLDS năm 2015, người chưa đủ 15 tuổi gây ra thiệt hại thì cha mẹ, người giám hộ của họ phải bồi thường trừ trường hợp người dưới 15 tuổi thực hiện hành vi vi phạm trong thời gian  trường học trực tiếp quản lý. Người viết đề xuất văn bản hướng dẫn của cấp có thẩm quyền ghi nhận việc người thân bồi thường cho hành vi gây thiệt hại của họ bằng tài sản của người thân cũng là điều kiện cần để áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự, tương đồng với quy định của BLDS đã nêu ra ở trên.
Thứ tư: Việc phối hợp trong áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục đối với người chưa thành niên phạm tội khi được miễn trách nhiệm hình sự cũng chưa được pháp luật quy định cụ thể. Theo đó, Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đương nhiên quyết định miễn trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn có tiêu chí tại khoản 2 Điều 91 BLHS và áp dụng các biện pháp khiển trách, giáo dục tại xã phường, thị trấn, hòa giải tại cộng đồng hay phải có yêu cầu của người chưa thành niên phạm tội hoặc người đại diện của họ? Nếu có, hình thức yêu cầu là gì? Trường hợp, hòa giải tại cộng đồng mà không thành thì xử lý người chưa thành niên thực hiện hành vi như thế nào, có tiếp tục cho họ được miễn trách nhiệm hình sự hay không?
Những hạn chế đã được Thông tư 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BTP-BLĐTBTBXH về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên giải quyết. Thông tư này có hiệu lực vào ngày 05/02/2019, thay thế Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12/7/2011 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTHS đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên. Nội dung của văn bản này quy định Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng chỉ quyết định miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng biện pháp khiển trách, giáo dục tại xã, phường, thị trấn nếu người chưa thành niên phạm tội hoặc người đại diện của họ có văn bản đề nghị áp dụng; Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng chỉ quyết định miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng nếu người chưa thành niên phạm tội hoặc người đại diện của họ có văn bản đề nghị áp dụng; người bị hại và người đại diện của họ tự nguyện hòa giải và có văn bản đề nghị miễn trách nhiệm hình sự. Kết quả hòa giải thành là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định miễn trách nhiệm hình sự. Trường hợp hòa giải tại cộng đồng mà không thành thì xử lý người chưa thành niên thực hiện hành vi thì cơ quan tiến hành tố tụng tiếp tục tiến hành điều tra, truy tố, xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Kết luận: Miễn trách nhiệm hình sự thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với người thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời động viên, khuyến khích, tạo điều kiện cho người phạm tội tự giáo dục, cải tạo để hòa nhập với cộng đồng và giúp họ trở thành người có ích cho xã hội. Thực tiễn áp dụng chế định này trong thời gian qua mà đặc biệt là từ khi BLHS năm 2015 có hiệu lực đã phát sinh có nhiều cách hiểu khác nhau khi áp dụng việc miễn trách nhiệm hình sự. Do đó, cơ quan có thẩm quyền cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn để chế định này được áp dụng triệt để hơn trong thực tiễn xét xử.

Th.s NGUYỄN THỊ THANH VÂN (TAND huyện Cần Giuộc, Long An)

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).


[1] Tức lưu đày đi nơi xa.
[2] Thập ác: Là 10 trọng tội nguy hiểm nhất như: Các tội liên quan đến vương quyền: mưu phản, mưu đại nghịch (điều 2, 411), mưu bạn (phản bội tổ quốc-điều 412), đại bất kính (430, 431). Các tội liên quan đến quan hệ hôn nhân-gia đình: ác nghịch (điều 416), bất hiếu (nhiều điều, chẳng hạn điều 475), bất mục, bất nghĩa, nội loạn. Tội liên quan đến tiêu chí đạo đức hàng đầu của Nho giáo: bất đạo (Điều 420 và Điều 421).
[3] Viện khoa học xã hội Việt Nam (2009), Cổ luật Việt Nam Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
[4] Điều 1 Luật Danh lệ  Quốc triều hình luật.
[5] Về vấn đề phân loại tội phạm, tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại Điều 9 BLHS năm 2015.

Quyền của người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam

Người chưa thành niên phạm tội là một hiện tượng, một thực tế tồn tại ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Mỗi quốc gia đều có những chế tài (hình phạt) giải quyết vấn đề của người chưa thành niên phạm tội ở nhiều góc độ khác nhau, cách thức khác nhau, tùy thuộc vào những điều kiện, tập quán và pháp luật mà quốc gia đó quy định.
 

1. Khái niệm người chưa thành niên

Người chưa thành niên là những người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về nhân cách, chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân. Pháp luật ở mỗi quốc gia quy định độ tuổi cụ thể của người chưa thành niên. Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên Hợp quốcthông qua ngày 20/11/1989 có ghi: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dước 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”.
Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến người chưa thành niên như: Công ước về Quyền trẻ em (United Nations Convention on the Rights of the Child) được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989; Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật với người chưa thành niên (United Nations Standard Minimum Rules for the Administration of Juvenile Justice /Beijing Rules) ngày 29/11/1985; Hướng dẫn của Liên Hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên (United Nations Guidelines for the Prevention of Juvenile delinquency/ Riyadh Guidelines) ngày 14/12/1990. Theo quan niệm quốc tế thì trẻ em (Child) là người dưới 18 tuổi, người chưa thành niên (Juvenile) là người từ 15 đến 18 tuổi, thanh niên (Youth) là người từ 15 đến 24 tuổi, người trẻ tuổi (Young persons) bao gồm trẻ em, người chưa thành niên và thanh niên.
Trong quá trình thực thi Công ước quốc tế về quyền trẻ em, mỗi quốc gia cần viện dẫn đến các Nghị định thư không bắt buộc bổ sung cho Công ước quốc tế về quyền trẻ em (1); các bình luận chung của Ủy ban Quyền trẻ em (2); và trong một số trường hợp cả những bộ quy tắc đã tồn tại trước khi Công ước được ban hành để có được những giải thích, hướng dẫn cụ thể và chi tiết trong từng lĩnh vực. Ví dụ, trong lĩnh vực Tư pháp người chưa thành niên thì luôn phải viện dẫn đến Bộ quy tắc Tiêu chuẩn tối thiểu về quản lý tư pháp người chưa thành niên (thường gọi là Quy tắc Bắc Kinh) được ban hành bởi Đại hội đồng LHQ năm 1985(3); Các hướng dẫn về Phòng ngừa các vi phạm pháp luật của người chưa thành niên (Quy tắc Riyadh) (4); Bộ quy tắc về Bảo vệ trẻ em bị tước tự do (Quy tắc Havana) được Đại hội đồng LHQ ban hành năm 1990 (5); Hướng dẫn về làm việc với trẻ em trong hệ thống tư pháp hình sự, được Hội đồng Kinh tế – Xã hội của LHQ thông qua năm 1997 (Hướng dẫn Viên) (7); và Bình luận chung số 10(2007) về Quyền của trẻ em trong lĩnh vực tư pháp người chưa thành niên của Ủy ban Quyền trẻ em ban hành năm 2007 (8).
Để chỉ định những đối tượng được bảo vệ theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em, các văn kiện pháp luật quốc tế sử dụng thuật ngữ không hoàn toàn thống nhất. Bên cạnh thuật ngữ “trẻ em” (child/children) được sử dụng trong Công ước và ba Nghị định thư không bắt buộc của Công ước quốc tế về quyền trẻ em, có các thuật ngữ khác-gồm: người chưa thành niên (juvenile) (1), thiếu niên (adolescence)(2), người trẻ tuổi (youth) (3) – được sử dụng nhiều trong các Bộ quy tắc, các Hướng dẫn và Bình luận chung. Dù có sự khác biệt như vậy, nhưng các văn kiện này đều thống nhất mục tiêu chung là để bảo vệ những người dưới 18 tuổi hay những người chưa đạt đến tuổi trưởng thành – trẻ em.
Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất trong Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Bộ Luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Lao động năm 2012, Luật Trẻ em năm 2016, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật và một số văn bản pháp luật khác có liên quan. Tất cả các văn bản pháp luật trên đều quy định tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đối với người chưa thành niên trong từng lĩnh vực pháp luật cụ thể; bên cạnh đó, khái niệm người chưa thành niên khác với khái niệm trẻ em, theo Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 thì “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”; khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi”.
Do vậy, theo quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia thì khái niệm người chưa thành niên đều quy định giống nhau: Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên.

2. Quyền của người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật quốc tế

Một hoạt động mà các nước trên toàn cầu đang nỗ lực thực hiện là tìm mọi cách bảo đảm hệ thống tư pháp người chưa thành niên tuân thủ theo đúng luật quốc tế về quyền con người. Kể từ năm 1989, với tốc độ ngày càng cao, các nước trên thế giới đã và đang đưa những nguyên tắc quốc tế vào các luật và chính sách quốc gia. Đã có nhiều văn bản quốc tế về quyền con người của trẻ em, của người chưa thành niên ra đời trong hơn nửa thế kỷ qua. Đồng thời, việc tăng cường bảo vệ các quyền của trẻ em cũng là một khía cạnh quan trọng trong hoạt động của các cơ quan và chương trình của Liên Hợp Quốc (LHQ). Trong các văn bản quốc tế và các chương trình của LHQ về vấn đề trẻ em sử dụng đồng thời cả hai khái niệm trẻ em và người chưa thành niên. Như ở trên đã nêu, Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em xác định rõ: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn“. Trong một số văn bản, khái niệm trẻ em được gọi là người chưa thành niên hoặc thanh, thiếu niên. Tuy nhiên, trong quan hệ với pháp luật và thực thi pháp luật, trẻ em thường được gọi là người chưa thành niên:
Một là, quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh), được Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 29/11/1985 nêu rõ: “Người chưa thành niên là trẻ em hay người ít tuổi tuỳ theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xét xử vì phạm pháp theo một phương thức khác với việc xét xử người lớn” (Quy tắc số 2.2 mục a).
Hai là, quy tắc tối thiểu phổ biến của LHQ về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do thông qua ngày 14/12/1990 nêu cụ thể: “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên” (Quy tắc 2.1 mục a).
Như vậy, có thể thấy rằng, khi đưa ra khái niệm về trẻ em hay người chưa thành niên, trong pháp luật quốc tế không dựa vào đặc điểm tâm – sinh lý hay sự phát triển thể chất, tinh thần… mà trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc xác định độ tuổi. Kể cả khái niệm trẻ em và khái niệm người chưa thành niên đều giới hạn là dưới 18 tuổi, đồng thời đưa ra khả năng mở cho các quốc gia tuỳ điều kiện kinh tế – xã hội, văn hoá, truyền thống của quốc gia mình có thể quy định độ tuổi đó sớm hơn. Nội dung các quy tắc trên có tính đến sự đa dạng và cơ cấu pháp luật của các quốc gia, phản ánh mục đích và tinh thần của tư pháp người chưa thành niên, đề ra những nguyên tắc mong muốn và thông lệ đối với việc quản lý những người chưa thành niên vi phạm pháp luật.
Quy tắc Bắc Kinh chỉ ra những mục đích của việc áp dụng pháp luật với người chưa thành niên và đảm bảo rằng bất cứ sự xử lý nào đối với người chưa thành niên phạm tội phải luôn xem xét tới điều kiện hoàn cảnh của người chưa thành niên và mức độ của tội phạm. Trong quy tắc này, bao gồm những quy định cụ thể điều chỉnh nhiều giai đoạn khác nhau của việc áp dụng tư pháp với người chưa thành niên. Các quy định này nhấn mạnh rằng việc đưa các em vào cơ sở quản lý, giáo dục tập trung chỉ được coi là biện pháp cuối cùng, chỉ nên áp dụng trong một thời gian tối thiểu, cần thiết. Liên quan đến thủ tục xét xử quy tắc này cho rằng, một trẻ em bị quy là phạm tội được hưởng quyền xử lý đúng theo luật định và quyền được hưởng sự đối xử đặc biệt, kể cả sự cần thiết phải “tiến hành tố tụngtrong một bầu không khí hiểu biết”, tầm quan trọng về sự có mặt của cha mẹ, tôn trọng những điều riêng tư của các em trong tố tụng cũng như hồ sơ và yêu cầu phải có những người được đào tạo chuyên sâu tham gia tố tụng để giải quyết vụ án.
Quy tắc của LHQ về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do quy định các nguyên tắc cụ thể áp dụng đối với tất cả các hình thức giam giữ ở bất cứ cơ sở giam giữ nào. Tách riêng những người chưa thành niên ra khỏi người lớn trong cùng các cơ sở giam giữ và phân loại các em là một yêu cầu cần thiết được nhắc đến trong quy tắc này. Đồng thời nhấn mạnh việc bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do không chỉ xác định các quyền của họ mà còn quy định cách đối xử khi các em phạm tội. Sự tôn trọng các quyền của người chưa thành niên cũng là một bộ phận khăng khít của công tác quản lý, giáo dục người phạm tội là người chưa thành niên. Các quy định đặc biệt nhấn mạnh sự liên hệ giữa người chưa thành niên với gia đình, tôn trọng nhân phẩm của các em và quyền người chưa thành niên được đối xử công bằng.
Các quy tắc và nguyên tắc nêu trên có chứa đựng một điều khoản cho thấy rằng, các quy tắc và các nguyên tắc đó được thực hiện dựa trên những điều kiện kinh tế – xã hội và văn hoá hiện có của mỗi quốc gia. Các tiêu chuẩn nêu ra là rất linh hoạt, nếu được áp dụng một cách thiện chí theo cách thức phù hợp nhất với hoàn cảnh kinh tế – xã hội, văn hoá của từng quốc gia, chúng sẽ là một công cụ hữu hiệu giúp cải thiện cuộc sống của số lượng ngày càng tăng người chưa thành niên bị đẩy tới chỗ vi phạm pháp luật và chống lại xã hội.
Trên cơ sở những văn bản pháp lý quốc tế nêu trên, có thể khái quát về các quyền cơ bản của người chưa thành niên phạm tội như sau:
Thứ nhất, quyền cơ bản của người chưa thành niên được luật pháp quốc tế quy định thông qua các nguyên tắc sau: (1) Trong bất kỳ hoàn cảnh, điều kiện nào, sự an toàn của người chưa thành niên phải được đặt lên hàng đầu; (2) Không bị phân biệt đối xử, tất cả các em đều được đối xử công bằng, không thiên vị, bất kể giới tính, độ tuổi, dân tộc, tôn giáo…; (3) Người chưa thành niên phải được đối xử một cách lịch sự, tôn trọng phẩm giá và chuyên nghiệp; (4) Trước khi xét xử, người chưa thành niên luôn luôn được suy đoán vô tội; (4) Người chưa thành niên được đối xử theo những quy định đã nêu trong hệ thống pháp luật của quốc gia;
Thứ hai, quyền cơ bản của người chưa thành niên phạm tội trong giai đoạn điều tra: (1) Tất cả những tiếp xúc giữa cán bộ thực thi pháp luật và người chưa thành niên phải mang tính thân thiện, nhạy cảm, phải diễn ra trong một môi trường phù hợp, hỗ trợ và đáp ứng những nhu cầu đặc biệt của lứa tuổi; (2)Trong quá trình giao tiếp với người chưa thành niên, phải sử dụng ngôn ngữ phù hợp và dễ hiểu với các em; (3) Cấm các biện pháp điều tra tùy tiện, trong mọi trường hợp, quyền riêng tư của các em phải được bảo vệ; (4) Những thông tin cá nhân và mang tính nhạy cảm liên quan đến người chưa thành niên phải được xử lý cẩn thận và được bảo đảm bí mật; (5) Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cán bộ thực thi pháp luật cũng phải tôn trọng và bảo vệ phẩm giá của con người, nêu cao các nguyên tắc nhân quyền cho tất cả mọi người, trong đó có người chưa thành niên; (6) Người chưa thành niên có quyền ghi lại một cách chi tiết, đầy đủ tất cả những lời khai khi cán bộ thực thi pháp luật lấy lời khai hoặc hỏi cung; (7) Người chưa thành niên có quyền được bảo vệ khỏi vũ lực và các hình thức lạm dụng của các cơ quan công quyền trong quá trình điều tra; (8) Trong bất kỳ trường hợp nào, cán bộ điều trađều phải tôn trọng và tuân thủ pháp luật; (9) Cần tránh những trì hoãn không cần thiết khi xử lý các vụ liên quan đến  người chưa thành niên phạm tội; (10) Việc giam giữ người chưa thành niên phạm tội cần phải cân nhắc kỹ lưỡng nếu mục đích chỉ là để phục vụ công việc của cán bộ điều tra; (11) Các cán bộ thực thi pháp luật cần sử dụng quyền tự quyết trong tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng trong đó có giai đoạn điều tra; (12) Người chưa thành niên có quyền trình bày quan điểm của mình và những quan điểm này phải được tôn trọng, xem xét một cách thận trọng; (13) Người chưa thành niên có quyền mong muốn rằng các hoạt động điều tra sẽ được tiến hành theo đúng luật pháp và với lý do thích hợp.
Thứ ba, quyền cơ bản của người chưa thành niên khi bị bắt giữ hoặc bị giam giữ: (1) Mọi người, trong đó có người chưa thành niên đều có quyền được tự do và được an toàn, trong đó có tự do đi lại; (2) Người chưa thành niên có quyền không bị bắt giữ và bị giam giữ tùy tiện; (3) Người chưa thành niên bị bắt giữ cần phải được thông báo vào thời điểm bị bắt và thông báo về lý do bắt giữ; (4) Không người chưa thành niên nào có thể bị tước quyền tự do trừ những trường hợp phù hợp với những thủ tục đã quy định trong pháp luật của quốc gia; (5) Khi bị giam giữ, người chưa thành niên phải được giam riêng với người đã thành niên; (6) Những người chưa thành niên bị giam giữ phải được gặp mặt và có liên lạc với gia đình mình; (7) Người chưa thành niên có quyền được thông tin kịp thời về tội danh mà các em bị cáo buộc; (8) Giam giữ chỉ được sử dụng như là biện pháp cuối cùng, giam giữ trong thời gian chờ xét xử chỉ được coi là ngoại lệ chứ không được coi là nguyên tắc; (9) Người chưa thành niên có quyền được thông báo kịp thời, có sự hiện diện và tham gia của cha mẹ (hoặc người lớn giám hộ) khi bị giam giữ hoặc bị bắt giữ, trong các lần lấy lời khai hoặc hỏi cung; (10) Cung cấp tham vấn pháp lý một cách kịp thời cho tất cả những người bị giam giữ hoặc bị bắt giữ; (11) Người chưa thành niên có quyền giữ im lặng và không bị buộc tội trong quá trình lấy lời khai và hỏi cung; (12) Người chưa thành niên có quyền được chăm sóc y tế kịp thời khi cần thiết, có bác sĩ nữ chăm sóc cho người chưa thành niên nữ; (13) Khi bị giam giữ, người chưa thành niên phải được chăm sóc, bảo vệ và hỗ trợ cần thiết, tùy vào độ tuổi, giới tính và tính cách của các em; (14) Khi bị giam giữ, quyền riêng tư của người chưa thành niên phải được tôn trọng và bảo mật; (15) Việc sử dụng vũ lực hoặc các biện pháp giới hạn khác đối với người chưa thành niên chỉ là ngoại lệ, chỉ được sử dụng khi tất cả các biện pháp kiểm soát khác đã thất bại. Nếu có sử dụng thì chỉ trong khoảng thời gian ngắn nhất.
Thứ tư, quyền của người chưa thành niên khi bị xét xử và tuyên án: (1) Giam giữ chỉ là biện pháp cuối cùng và nếu có chỉ áp dụng trong một khoảng thời gian ngắn nhất; (2) Người chưa thành niên có quyền giữ im lặng và quyền được chuyển đến những dịch vụ hỗ trợ phù hợp; (3) Người chưa thành niên có quyền được bảo vệ khỏi sự đối xử và trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, của các cơ quan chính quyền và các cơ quan khác; (4) Người chưa thành niên có quyền mong muốn rằng quyền tự quyết sẽ được sử dụng khi kết án, trong đó có các biện pháp thay thế; (5) Áp dụng xử lý theo hướng không giam giữ để tránh các thủ tục xét xử chính thức và chuyển sang các chương trình hoà nhập cộng đồng phù hợp.
Thứ năm, quyền của người chưa thành niên khi bị tước quyền tự do: (1) Người chưa thành niên bị tước quyền tự do có quyền sử dụng những phương tiện và dịch vụ đáp ứng các yêu cầu về sức khỏe và phẩm giá con người; (2) Người chưa thành niên có quyền được cung cấp đầy đủ thực phẩm, nước uống sạch, chỗ ngủ sạch sẽ, quần áo phù hợp với thời tiết cũng như việc phòng bệnh và chữa bệnh; (3) Người chưa thành niên được tiếp cận với các chương trình, hoạt động vui chơi giải trí có ý nghĩa cho việc phục hồi, tái hòa nhập và phát triển của họ; (4) Người chưa thành niên có quyền hưởng sự giáo dục và được đào tạo nghề để chuẩn bị cho mình có việc làm trong tương lai; (5) Cán bộ ở các cơ sở quản lý giáo dục tập trung cần được đào tạo về việc đối xử với người chưa thành niên sao cho phù hợp. Nghiêm cấm việc sử dụng vũ lực hoặc các hình thức trừng phạt, truy bức, nhục hình; đồng thời có cơ chế bảo vệ người chưa thành niên tránh khỏi mọi hình thức lạm dụng hoặc bóc lột; (6) Người chưa thành niên cần được hỗ trợ khi các em trở về với gia đình và xã hội, được ưu tiên đi học và tìm việc làm sau khi chấp hành xong biện pháp giáo dục. Nên áp dụng việc giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại các cơ sở quản lý giáo dục tập trung, hỗ trợ và giám sát người chưa thành niên ở cộng đồng sau khi chấp hành xong biện pháp này. Chính quyền các cấp phải cung cấp và đảm bảo các dịch vụ hỗ trợ cho người chưa thành niên khi các em trở về cộng đồng và giảm bớt các định kiến đối với các em. Đại diện của các cơ quan cung cấp các dịch vụ này cần được tiếp cận với người chưa thành niên khi các em bị giam giữ nhằm hỗ trợ các em khi trở về cộng đồng.
Dựa trên những quy định của luật pháp quốc tế về người chưa thành niên, các quốc gia trên thế giới cũng đã đưa ra các quy định về người chưa thành niên nói chung, người chưa thành niên phạm tội nói riêng, các chế tài xử lý người chưa thành niên phạm tội phù hợp với điều kiện kinh tế – văn hoá – xã hội, phong tục, tập quán, pháp luật của mỗi nước. Chẳng hạn như:
Ở Thái Lan, ngày 28/01/1952, Thái Lan đã thành lập Toà án người chưa thành niên trung ương. Mục đích của việc thành lập Toà án này là dành cho trẻ em và những người chưa thành niên dưới 18 tuổi một biện pháp xử lý đặc biệt khi họ vi phạm pháp luật hình sự. Tuy nhiên, thẩm quyền của Toà án người chưa thành niên còn được phép giải quyết một số trường hợp tranh chấp gia đình liên quan tới hạnh phúc và lợi ích của trẻ em và người chưa thành niên.
Theo Điều 72 BLHS Thái Lan, thì một đứa trẻ chưa đến 7 tuổi cũng bị áp dụng hình phạt vì những tội đã được pháp luật quy định. Trẻ em từ 7 đến 14 tuổi nếu phạm tội cũng bị xét xử và có thể chịu hình phạt tù nhưng Toà án sẽ quyết định biện pháp xử lý đặc biệt bằng cách đưa vào một trường cải tạo hoặc gửi trẻ em đó cho một người hay một cơ quan nào mà Toà án thấy có khả năng thích hợp với việc cải tạo, giáo dục trẻ em đó (Điều 74 BLHS Thái Lan). Người chưa thành niên từ 14 đến 17 tuổi có thể bị phạt và được hưởng hình phạt đặc biệt. Trong trường hợp ở độ tuổi này, trước khi xét xử, tuyên án, Toà án bao giờ cũng xem xét kỹ hoàn cảnh, nhân thân và môi trường của người đó (Điều 75 BLHS Thái Lan). Người chưa thành niên bị bắt phải được đưa ngay tới trại giam giữ trong vòng 24 giờ và trong vòng 30 ngày tạm giữ, công tố viên phải hoàn thành thủ tục và đưa ra xét xử tại Toà án người chưa thành niên (Điều 50 và 51 Luật tổ chức Toà án người chưa thành niên và gia đình 1991). Trong quá trình giam giữ người chưa thành niên vẫn được chăm sóc và bảo vệ tốt. Hội đồng xét xử người chưa thành niên phạm tội gồm 2 thẩm phán chuyên nghiệp, 2 hội thẩm nhân dân và bắt buộc một trong hai hội thẩm phải có 1 là nữ. Phiên toà xét xử người chưa thành niên phải được xử kín, trong đó phải có mặt người bào chữa, cha mẹ hoặc người giám hộ. Thủ tục tố tụng của Toà án người chưa thành niên cũng đòi hỏi phải có cán bộ chuyên sâu hơn như các nhà tâm lý, y tế, giám sát, công tác xã hội. Mục đích tố tụng với người chưa thành niên là tạo cho họ một cơ hội để sửa chữa, thay đổi hành vi và mong muốn sau cùng là giúp họ trở thành những công dân tốt cho xã hội chứ không nhằm vào mục đích xử phạt các em như xử phạt người lớn.
Ở Nhật Bản, có Luật người chưa thành niên, nhưng phân cho Toà người chưa thành niên của Toà án gia đình giải quyết các vụ việc liên quan đến người dưới 20 tuổi. Mục đích của Luật người chưa thành niên là không trừng phạt những người chưa thành niên phạm tội mà “giúp đỡ cho họ phát triển tốt, tiến hành những biện pháp bảo vệ để thay đổi tính cách của người chưa thành niên phạm tội và tạo ra một môi trường giáo dục để điều chỉnh người chưa thành niên đã chót mắc phải sai lầm”. BLTTHS của Nhật Bản quy định việc điều tra thuộc chức năng của cảnh sát và cơ quan công tố. Nếu Toà án xét thấy cần có biện pháp chăm sóc, bảo vệ thì thẩm phán ra quyết định đưa bị can, bị cáo vào trại giam chờ ngày xét xử. Thời hạn tạm giam không quá 4 tuần. Trong thời gian 4 tuần, Toà án phải hoàn tất những thủ tục cần thiết để đưa ra xét xử. Ở Nhật Bản không có thủ tục riêng cho việc truy tố và xét xử người chưa thành niên. Theo Luật người chưa thành niên, thì công tố viên không có quyền tham gia xét xử tại các Toà án gia đình. Tuy nhiên, thẩm phán có thể cho phép công tố viên tham dự và khi cần thiết có thể yêu cầu công tố viên tiến hành điều tra thêm.
Luật người chưa thành niên của Nhật Bản cho phép người chưa thành niên khi bị đưa ra xét xử tại Toà án gia đình được có một hoặc hai người đại diện. Người đại diện không phải là luật sư bào chữa như trong phiên toà xét xử người đã thành niên. Người đại diện này không nhất thiết phải là luật sư, có thể là giáo viên hoặc người làm công tác xã hội… Luật không quy định chi tiết các bước tiếp theo cần tiến hành như thế nào mà chỉ đưa ra chung chung rằng Toà án gia đình phải tiến hành xét xử trên cơ sở “chân tình, có lợi” cho người chưa thành niên và “cần có mọi cố gắng để bảo vệ cho được những thuộc tính cao đẹp nhất của người chưa thành niên và để cho người chưa thành niên có niềm tin” và việc xét xử cần tiến hành công khai.
Ở Hà Lan, lịch sử phát triển của chế tài áp dụng đối với người chưa thành niên trong Luật hình sự của Hà Lan đã góp phần tích cực vào việc hoàn thiện ngành luật hình sự của Hà Lan. Từ những yêu cầu thực tế của các cơ quan chức năng, cùng với những biến đổi của xã hội, việc nghiên cứu để tìm ra những chế tài thay thế là quan trọng và cần thiết. Khi người chưa thành niên phạm tội, người ta cân nhắc và áp dụng các chế tài thay thế, chỉ được phép tiến hành theo thủ tục tố tụng hình sự khi không còn cơ hội nào để có thể áp dụng chế tài thay thế. Trong vòng 10 năm qua, chế tài thay thế đã được áp dụng thường xuyên hơn đối với những vụ việc liên quan tới người chưa thành niên. Các chế tài thay thế áp dụng đối với người chưa thành niên không chỉ thay thế hình phạt tù mà còn thay thế cả những hình phạt truyền thống đang tồn tại như hình phạt tiền hay án treo. Có hai loại chế tài thay thế khác nhau được áp dụng với người chưa thành niên, đó là các dự án công tác (dịch vụ của cộng đồng đối với người chưa thành niên) và các dự án đào tạo.
Mục tiêu chung của các chế tài thay thế là tăng cường hệ thống giáo dục và hệ thống quản lý xét xử người chưa thành niên mà hệ thống này sẽ giúp cho các em hạn chế được tái phạm. Một mặt các chế tài thay thế hạn chế được việc áp dụng những chế tài truyền thống. Bởi lẽ, việc bỏ tù hay tống giam không đem lại sự thay đổi hành vi của các em theo hướng tốt nếu không muốn nói là có tác động ngược lại do sự tách biệt tạm thời môi trường tốt của gia đình, nhà trường và xã hội. Mặt khác, chế tài thay thế còn góp một phần tích cực vào hệ thống giáo dục cải tạo đối với người chưa thành niên bởi những nguyên tắc cụ thể đã được chú trọng tới trong quá trình giáo dục cải tạo của từng đối tượng vi phạm. Chính bản thân các em, về nguyên tắc phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với những hành vi của mình và cũng chính các em phải thực hiện những nhiệm vụ cụ thể đem lại lợi ích không chỉ cho riêng mình mà còn mang lại lợi ích cho người khác. Các thủ tục hình sự chỉ được phép tiến hành áp dụng khi không còn cơ hội nào để có thể áp dụng chế tài thay thế. Các chế tài thay thế có thể áp dụng thay thế cho tất cả các loại tội phạm do người chưa thành niên gây ra… và có thể áp dụng với bất cứ đối tượng người chưa thành niên nào vi phạm (từ vi phạm lần đầu hay tái phạm cho đến tội phạm là nam hay nữ…).

3. Quyền của người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật Việt Nam

Ở nước ta, bảo đảm quyền của người chưa thành niên phạm tội là bảo đảm cho những quy định của pháp luật về người được thực hiện trên thực tế, phù hợp với thông lệ quốc tế; đồng thời bảo vệ quyền của người chưa thành niên phạm tội khi có sự xâm hại, sự vi phạm quyền của các em từ các cơ quan, các chủ thể thực hiện việc xem xét, xử lý hành vi phạm tội của người chưa thành niên. Pháp luật tuy là yếu tố quan trọng không thể thiếu, nhưng không phải là yếu tố duy nhất bảo đảm cho các em được hưởng thụ các quyền, cũng như bảo đảm cho các em không bị tước mất quyền của mình trong hoàn cảnh đối mặt với pháp luật và là đối tượng xem xét của pháp luật. Trên cơ sở các văn bản pháp luật quốc tế nêu trên, hệ thống tư pháp người chưa thành niên ở nước ta đã được quan tâm nghiên cứu và ngày càng hoàn thiện. Việc bảo đảm quyền của người chưa thành niên phạm tội phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và văn hóa hiện có của Việt Nam. Sự phù hợp này thể hiện trên cả hai phương diện đó là xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật (1).
Hiện nay, trong pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, hàng loạt các chế định pháp luật mang tính cá biệt nhằm bảo đảm quyền của người chưa thành niên phạm tội. Đó là các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người chưa thành niên; nghĩa vụ của các cơ quan, người tiến hành tố tụng,…đối với người chưa thành niên phạm tội. Toàn bộ những quy định đó thể hiện những tư tưởng, nguyên tắc của Nhà nước ta mang tính nhân đạo và hướng tới mục tiêu chung bảo đảm cho quyền của người chưa thành niên không bị tước bỏ một cách trái luật (2).
Những quy định này không chỉ nhằm tạo ra cơ sở pháp lý cần thiết, quan trọng cho các cơ quan, người tiến hành tố tụng tránh được sự lạm dụng, vi phạm pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội, đồng thời cũng tạo ra hình ảnh về sự nghiêm minh của pháp luật giúp cho người chưa thành niên tự chấn chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với pháp luật (3).
Do đặc điểm của người chưa thành niên mà pháp luật nước ta cũng đã quy định nguyên tắc khi xử lý người chưa thành niên phạm tội nhằm bảo đảm “tính đặc biệt” của nhóm đối tượng này như sau: Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ  họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các cơ quan có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thứccủa họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, điều kiện gây ra tội phạm (4).
Các quy định trong pháp luật nước ta đề cao việc giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên phạm tội sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh trở thành công dân có ích cho xã hội là mục đích chủ yếu. Mọi biện pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định trong pháp luật nước ta đảm bảo phù hợp với hoàn cảnh và tương xứng với tính chất và mức độ vi phạm của người chưa thành niên. Việc buộc người chưa thành niên phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình là nhằm mục đích để các em nhận thức sâu sắc rằng hành vi phạm tội của các em đã vi phạm các chuẩn mực và quy tắc của nhà nước và của xã hội. Tuy nhiên, biện pháp xử lý đối với người chưa thành niên được ghi nhận trong Bộ luật Hình sự được xem xét không chỉ đơn thuần dựa vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi cũng như hậu quả do hành vi đó gây ra, mà còn tính đến hoàn cảnh riêng của các em, bởi vì mục đích của hình phạt và việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên không phải chỉ là để trừng phạt người vi phạm, mà còn nhằm hỗ trợ người vi phạm phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng. Việc xét xử người chưa thành niên chỉ đặt ra trong những trường hợp thật cần thiết, nếu có phải áp dụng hình phạt đối với các em thì cũng lấy mục đích giáo dục, cải tạo là chủ yếu, không để hình ảnh của pháp luật tồn tại trong tâm trí các em quá sợ hãi hoặc quá khắt khe, dễ gây ra sự bất mãn, lòng thù hận (5).
Quyền của người chưa thành niên chỉ có thể bị hạn chế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trên cơ sở quy định của pháp luật. Tòa án là cơ quan duy nhất nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định áp dụng hình phạt đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Sự phán quyết của Tòa án bao giờ cũng phải dựa trên cơ sở của pháp luật và chỉ tuân theo pháp luật. Điều này khẳng định, ở Việt Nam, ngoài Tòa án, không một cá nhân, một tổ chức hay một cơ quan nhà nước nào khác có quyền tước bỏ một hay một số quyền của người chưa thành niên. Khi quyền của người chưa thành niên phạm tội bị xâm phạm thì pháp luật đã quy định các trình tự, thủ tục khác nhau nhằm khôi phục lại các quyền đó. Vấn đề này đã được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự, nhằm hạn chế tới mức thấp nhất việc quyền con người nói chung, quyền của người chưa thành niên nói riêng bị vi phạm (6).
Tất cả người chưa thành niên phạm tội đều có quyền được bảo vệ và đối xử bình đẳng, không bị phân biệt dưới bất kỳ hình thức nào cho dù các em hoặc cha mẹ các em thuộc tôn giáo, quốc tịch, dân tộc hoặc nguồn gốc xã hội, tài sản, khuyết tật, dòng dõi, hay có chính kiến hoặc quan điểm khác nhau, hoặc các tiêu chí khác. Luật Hình sự và Luật Tố tụng hình sự ghi nhận rõ các nguyên tắc, trong đó có nguyên tắc không phân biệt đối xử khi giải quyết vụ án hình sự. Đồng thời, cũng quy định các chế tài áp dụng riêng đối với người chưa thành niên phạm tội nhằm phù hợp với đặc điểm tâm – sinh lý của lứa tuổi và bảo vệ khỏi sự vi phạm từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng. Người chưa thành niên thuộc nhóm đối tượng đặc biệt có các quyền cụ thể phải được tôn trọng ở mọi giai đoạn trong quá trình tố tụng. Do các em chưa trưởng thành, và dễ bị tổn thương nên pháp luật nước ta đã quy định hệ thống các quyền riêng phù hợp với lứa tuổi chưa trưởng thành của người chưa thành niên; đồng thời đặt ra các yêu cầu đối với người tham gia giải quyết vụ án có người chưa thành niên phạm tội đều phải tôn trọng và tuân thủ các quy định của pháp luật. Người chưa thành niên có quyền được bảo vệ ở mọi giai đoạn tố tụng nhằm đảm bảo cho các em được đối xử công bằng và các quyền của các em được tôn trọng đầy đủ (7).
Như vậy, người chưa thành niên nói chung, người chưa thành niên phạm tội nói riêng luôn được xác định là một chủ thể đặc biệt trong các quan hệ pháp luật của nhà nước ta. Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, trong đó các quyền con người nói chung, quyền của người chưa thành niên phạm tội nói riêng sẽ luôn được bảo đảm và bảo vệ. Tuy nhiên, những khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, cùng những tác động mang tính tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường, sự thiếu hoàn thiện của hệ thống pháp luật nói chung, hệ thống pháp luật Hình sự, Dân sự nói riêng cũng có ảnh hưởng nhất định đến các quyền của người chưa thành niên, thậm chí mức độ xâm hại đối với các quyền của người chưa thành niên trong thời gian vừa qua như một số vụ thảm sát mà nạn nhân là trẻ em đã xảy ra ở nước ta làm cho dư luận xã hội hoang mang và đây cũng là một chủ đề nóng bỏng.
Tuy nhiên, bên cạnh những tồn tại thì về cơ bản chúng ta vẫn phải thừa nhận rằng đời sống xã hội của đất nước ta trong thời kỳ đổi mới đã ngày một tốt hơn, các quyền của con người nói chung, quyền của người chưa thành niên phạm tội nói riêng ngày càng được đáp ứng tốt hơn. Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 được triển khai và đi vào cuộc sống đã thực sự làm thay đổi đất nước ta một cách tích cực trên nhiều phương diện, trong đó việc hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực thi pháp luật…đã và đang góp phần tăng cường hiệu quả của cả hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật hình sự nói riêng nhằm thực hiện và bảo vệ tốt hơn nữa các quyền của người chưa thành niên phạm tội trong thời gian tới./.

ThS. Đoàn Thị Ngọc Hải

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn) 


Danh mục tài liệu tham khảo
1. Xem, Quy tắc Bắc kinh năm 1985;
2. Xem, Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989;
3. Xem, Bộ quy tắc về Bảo vệ trẻ em bị tước tự do năm 1990;
4. Xem, Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020;
5. Xem, Hiến pháp năm 2013;
6. Xem, Bộ luật Dân sự năm 2015;
7. Xem, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
8. Xem, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
9. Xem, Bộ luật Lao động năm 2016;
10. Xem, Luật Trẻ em năm 2016;
11. Xem, TS Phạm Thị Thanh Nga & ThS Nguyễn Xuân Tĩnh “Trẻ em” và “người chưa thành niên” trong pháp luật Việt Nam: nhìn từ nghĩa vụ thực hiện Công ước của LHQ về quyền trẻ em và tính thống nhất của hệ thống pháp luật”, nclp.org.vn.
12. Xem, ThS Nguyễn Trường Sơn “Một số quy định của pháp luật quốc tế và một số quốc gia về vấn đề quyền của người chưa thành niên phạm tội” Bộ môn pháp luật, Học viện An ninh nhân dân;
13. Xem, ThS. Bùi Thành Chung “Khái niệm người chưa thành niên và khái niệm tội phạm do người chưa thành niên gây ra – cơ sở có tính pháp lí quan trọng để phòng ngừa, điều tra tội phạm và xử lí người chưa thành niên phạm tội”.

Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên

Trong những năm gần đây, tình trạng người chưa thành niên vi phạm pháp luật xảy ra có chiều hướng gia tăng và khá phổ biến, có những vụ án do người chưa thành niên gây ra mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng gây hoang mang trong dư luận xã hội. Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội là một việc khá phức tạp bởi người chưa thành niên còn có nhận thức chưa đầy đủ, hành vi của họ thường mang tính bột phát do bị lôi kéo hoặc kích động, hoặc chưa đủ khả năng làm chủ hành động của mình, hơn nữa họ còn có một tương lai dài phía trước. Do đó, không thể áp dụng các biện pháp xử lý người chưa thành niên phạm tội giống như những người đã thành niên.

 

1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên 

1.1. Khái niệm người chưa thành niên 

Pháp luật ở mỗi quốc gia khác nhau quy định khái niệm người chưa thành niên khác nhau. Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 có ghi: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổithành niên sớm hơn”. Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất trong Hiến Pháp năm 2013, Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của ngườichưa thành niên là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đối với người chưa thành niên trong từng lĩnh vực cụ thể. Theo Điều 1 Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”.

Có thể đưa ra khái niệm: Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên.

Ở Việt Nam, tuổi kết nạp Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh là từ 10 đến 15 tuổi, tuổi kết nạp Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là từ 15 đến 30 tuổi. Trong tuổi Đoàn gọi là thanh niên, trong tuổi Đội là thiếu niên, dưới tuổi Đội gọi là nhi đồng. Ở mỗi lứa tuổi, người chưa thành niên được Nhà nước và xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục để phát triển tốt nhất về thể chất và nhân cách, trở thành người khỏe mạnh, có ích cho xã hội

1.2. Đặc điểm tâm lí của người chưa thành niên 

Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân. Chính vì vậy mà họ có những đặc điểm riêng về tâm lý; Về trạng thái cảm xúc: Người chưa thành niên là người đang trong quá trình phát triển cả về sinh lí, tâm lí và ý thức; Về nhận thức pháp luật: khả năng nhận thức về pháp luật của người chưa thành niên còn nhiều hạn chế. Một phần không nhỏ người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội chỉ để thỏa mãn nhu cầu, hứng thú không đúng đắn của cá nhân, không quan tâm đến hậu quả nguy hiểm cho xã hội; Về nhu cầu độc lập: Nhu cầu độc lập có thể được hiểu là việc cá nhân tự hành động và tự ra quyết định theo ý kiến riêng mà không muốn bị ảnh hưởng của người khác. Ở lứa tuổi chưa thành niên, nhu cầu độc lập thái quá thường biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng các hành vi như ngang bướng, cố chấp, dễ tự ái, gây gổ, phô trương. Về nhu cầu khám phá cái mới: Tìm hiểu, khám phá cái mới là một trong những nhu cầu của các em ở lứa tuổi chưa thành niên. Tuy vậy, sự tò mò và khám phá cái mới cũng có thể trở thành một trong những nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm tội của các em.

1.3. Khái niệm trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên
Qua phân tích khái niệm trách nhiệm hình sự, khái niệm người chưa thành niên ta có thể rút ra khái niệm trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên như sau: Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên là trách nhiệm mà người chưa thành niên phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình.

 

2. Thực trạng về việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội 

2.1. Một số quy định của pháp luật về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội

2.1.1. Nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội 

Các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội được quy định tại Điều 91 BLHS 2015, có các nguyên tắc cụ thể như sau: Thứ nhất, so với Điều 69 BLHS 1999, Điều 91 BLHS năm 2015 bổ sung nguyên tắc:“Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi” (khoản 1, Điều 91). Đây là nguyên tắc định hướng, nội dung của nguyên tắc này là đòi hỏi các cơ quan, tổ chức, cá nhân, khi tiến hành một hoạt động liên quan đến việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội cần bảo đảm rằng quyết định đó là tốt nhất cho trẻ em trong mối quan hệ hài hòa với các lợi ích khác cũng như bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật.

Như vậy mục đích của việc xử lý người chưa thành niên phạm tội là để giáo dục, giúp họ sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội chứ không đề cập trực tiếp đến mục đích trừng trị. Do đó ta cần hiểu rằng, đối với người chưa thành niên, nếu như hành vi mà họ thực hiện bị BLHS coi là tội phạm nhưng việc có đưa ra truy tố xét xử hay không là việc mà các cơ quan chức năng có thẩm quyền phải xem xét, cân nhắc và ngay trong giai đoạn này mục tiêu giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên cũng phải được đặt lên hàng đầu. Để thực hiện được nguyên tắc này, khi người chưa thành niên phạm tội các cơ quan tư pháp phải xác định tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Việc làm này sẽ giúp người chưa thành niên phạm tội nhận thức một cách đầy đủ và sâu sắc về hành vi của mình có như vậy mới có thể giúp họ sửa chữa lỗi lầm và trở thành người có ích cho xã hội.

Thứ hai là điều kiện miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội thấp hơn so với người thành niên phạm tội.

Trên cơ sở kế thừa quy định tại khoản 2, Điều 69 của BLHS năm 1999 về miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên, khoản 2, Điều 91 của BLHS năm 2015 quy định người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp theo quy định của pháp luật và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục.

Theo đó, các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục gồm: người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ trường hợp quy định tại các điều: Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy). Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật tức là phạm tội rất nghiêm trọng thuộc một trong 28 tội danh mà BLHS năm 2015 quy định đối tượng này phải chịu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp quy định tại các điều: Điều 123 (tội giết người); Điều 134, các khoản 4, 5 và khoản 6 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm), Điều 142 (tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi); Điều 144 (tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy).Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể trong vụ án.

Như vậy, so với BLHS 1999, khoản 2, Điều 91 BLHS năm 2015 đã mở rộng đối tượng được miễn trách nhiệm hình sự đối với cả người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, quy định cụ thể điều kiện miễn trách nhiệm hình sự, đồng thời bổ sung quy định về việc áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục đối với các em được miễn trách nhiệm hình sự nhằm bảo đảm tính khả thi cũng như hiệu quả áp dụng của chế định pháp lý này.

Thứ ba, việc truy cứu TNHS người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm. Nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội thì tòa án áp dụng các biện pháp giám sát giáo dục và biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được quy định tại mục 2 và mục 3, Chương XII của BLHS, gồm: Khiển trách (Điều 93), Hòa giải tại cộng đồng (Điều 94), Giáo dục tại xã, phường, thị trấn (Điều 95) và biện pháp tư pháp Giáo dục tại trường giáo dưỡng (Điều 96).

Như vậy, có thể nói rằng việc truy cứu TNHS và áp dụng hình phạt đối với người thành niên phạm tội là biện pháp cuối cùng. Nguyên tắc thứ tư đối với người chưa thành niên phạm tội là nguyên tắc giảm nhẹ TNHS. Tính chất giảm nhẹ được thể hiện ở những quy định về loại và mức phạt  tù có thể áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội.

Thứ năm, “Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội”; Thứ sáu,“Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa.
Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội”.

Tử hình và tù chung thân là hai biện pháp nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt được quy định trong BLHS, người phạm tội chỉ bị áp dụng hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng và khi khả năng giáo dục không còn nữa. Chính vì vậy đối với người chưa thành niên phạm tội, khi mục đích của việc truy cứu TNHS chủ yếu là nhằm giáo dục cải tạo họ, thì không thể áp dụng hai hình phạt này.
Nguyên tắc cuối cùng đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định tại Khoản 7 Điều 91 BLHS: “Án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm”.

2.1.2. Các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội 

Trước đây Bộ luật hình sự 1999 chỉ quy định chung chung rằng người chưa thành niên phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự thì sẽ có gia đình hoặc cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục. Bộ luật hình sự 2015 bổ sung một số biện pháp giám sát, giáo dục đối với người chưa thành niên được miễn trách nhiệm hình sự là: biện pháp khiển trách (Điều 93), hòa giải tại cộng đồng (Điều 94) và giáo dục tại xã, phường, thị trấn (Điều 95). Đây là những quy định cụ thể nhằm đưa việc giáo dục, nâng cao nhận thức đối với người phạm tội đi vào thực tế và có hiệu quả.
Trên cơ sở quy định của BLHS, Bộ luật tố tụng hình sự năm (BLTTHS) 2015 cũng bổ sung các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại các Điều từ 426 đến 429 của bộ luật.

Ngoài ra, Bộ luật hình sự 2015 bỏ đi biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 (do đã có các biện pháp giám sát, giáo dục cụ thể nêu trên) và chỉ giữ lại 1 biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, đó là biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng (Điều 96).

+ Biện pháp khiển trách (Điều 93 BLHS 2015)

Được áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2, Điều 91 của BLHS 2015; người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.

Việc khiển trách đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải có sự chứng kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người dưới 18 tuổi. Người bị khiển trách phải tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc; trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp.

Tùy từng trường hợp cụ thể cơ quan có thẩm quyền ấn định thời gian thực hiện các nghĩa vụ quy định tại điểm b và điểm c khoản 3, Điều 93 BLHS 2015 từ 03 tháng đến 01 năm.

Biện pháp này nhằm giúp họ nhận thức rõ hành vi phạm tội và hậu quả gây ra đối với cộng đồng, xã hội và nghĩa vụ của họ.

+ Hòa giải tại cộng đồng (Điều 94 BLHS năm 2015)

Được áp dụng đối với  người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 điều 91 của BLHS 2015; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 91 của BLHS.
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức việc hòa giải tại cộng đồng khi người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại đã tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn TNHS.
Người được áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng phải xin lỗi người bị hại và bồi thường thiệt hại; tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc; trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp.
Tùy trường hợp cụ thể, cơ quan có thẩm quyền ấn định thời điểm xin lỗi, thời gian thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại quy định tại điểm a khoản 3 điều 94 BLHS 2015 và nghĩa vụ quy định tại điểm b và điểm c khoản 3 điều 93 của BLHS 2015 từ 03 tháng đến 01 năm.

+ Giáo dục tại xã, phường, thị trấn (Điều 95 BLHS năm 2015)

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án có thể áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ 01 năm đến 02 năm đối với  người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của BLHS; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 91 của BLHS.

Người được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức giám sát, giáo dục phải chấp hành đầy đủ nghĩa vụ về học tập, lao động; chịu sự giám sát, giáo dục của gia đình, xã, phường, thị trấn; không đi khỏi nơi cư trú khi không được phép và thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại khoản 3 Điều 93 của BLHS 2015.

Nếu người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã chấp hành một phần hai thời hạn, có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao trách nhiệm quản lý, giáo dục, cơ quan đã áp dụng biện pháp này có thể quyết định chấm dứt thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Việc áp dụng các biện pháp thay thế xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là một trong những điểm mới nổi bật của BLHS 2015, thể hiện rõ chính sách nhân đạo của Nhà nước ta, tăng tính hướng thiện trong chính sách xử lý hình sự, nhất là đối với đối tượng cần bảo vệ đặc biệt là người chưa thành niên.

2.1.3. Biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng (Điều 96 BLHS 2015)

Biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng là biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội nếu xét cần phải cách ly họ ra khỏi môi trường gia đình- xã hội để giáo dục và cải tạo họ thành công dân có ích.
Khi quyết định biện pháp tư pháp này, tòa án cần xem xét tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và môi trường sống của người đó. Thời hạn của biện pháp giáo dục trường giáo dưỡng là từ 1 năm đến 2 năm.

Trường giáo dưỡng là cơ sở giáo dục đặc biệt được Nhà nước thành lập để giáo dục, cải tạo người chưa thành niên phạm tội hoặc có những vi phạm pháp luật khác. Tuy biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng bắt buộc người chưa thành niên phạm tội phải chịu sự quản lý chặt chẽ và phải cách li ra khỏi xã hội nhưng họ được học tập văn hóa và nghề nghiệp. Tại đây, họ được học tập, rèn luyện để trờ thành công dân tốt trong tương lai.

Nếu người được giáo dục tại trường giáo dưỡng đã chấp hành một phần hai thời hạn, có nhiều tiến bộ, thì theo đề nghị của trường giáo dưỡng được giao trách nhiệm quản lý, giáo dục, Tòa án có thể quyết định chấm dứt thời hạn giáo dục tại trường giáo dưỡng (Điều 97 BLHS).

2.1.4. Hệ thống hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội 

Hệ thống hình phạt được quy định trong BLHS bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, căn cứ vào đặc điểm của người chưa thành niên, yêu cầu của việc phòng chống tội phạm, nguyên tắc nhân đạo XHCN, luật hình sự quy định các hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội bao gồm:

1. Cảnh cáo.

2. Phạt tiền.

3. Cải tạo không giam giữ.

4. Tù có thời hạn.

+ Cảnh cáo: Cảnh cáo là hình phạt chính, có tính giáo dục sâu sắc, thể hiện sự khiển trách công khai của Nhà nước đối với người phạm tội và hành vi phạm tội của họ. Cảnh cáo gây ra cho người bị kết án những tổn hại về tinh thần. Người chưa thành niên phạm tội bị phạt cảnh cáo khi phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ.

+ Phạt tiền: Phạt tiền là hình phạt chính áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội nhằm tước đi quyền lợi vật chất của họ. Người chưa thành niên phạm tội bị phạt tiền khi có đủ hai điều kiện: Họ là người đã từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và có thu nhập hoặc tài sản riêng.

+ Cải tạo không giam giữ: Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý.

Cải tạo không giam giữ là hình phạt chính có nội dung giáo dục sâu sắc không buộc người được áp dụng hình phạt này phải cách li khỏi xã hội. Họ vẫn có thể thực hiện công việc thường ngày và sống trong môi trường gia đình và xã hội như trước đây. Người chưa thành niên phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ cần đáp ứng hai điều kiện sau: Hành vi phạm tội thuộc vào tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng do vô ý hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý; Họ phải có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng.

+ Tù có thời hạn: Tù có thời hạn là hình phạt cách li người phạm tội ra khỏi xã hội để giáo dục, cải tạo họ trở thành công dân có ích cho xã hội. Đây là hình phạt có hiệu quả giáo dục và ngăn ngừa cao. Chính vì vậy loại hình này có thể áp dụng đối với mọi tội phạm được quy định trong luật hình sự Việt Nam. Tù có thời hạn là hình phạt nghiêm khắc nhất có thể áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội. Mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định như sau:
“Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;
Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định”.

2.2. Thực trạng tình hình truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở nước ta 

Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và pháp luật nhằm bảo đảm sự phát triển toàn diện của trẻ em và người chưa thành niên. Chính phủ, các Bộ, ban, ngành và chính quyền các cấp đã đề ra nhiều chương trình, kế hoạch cũng như áp dụng nhiều biện pháp để tăng cường bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng và chống vi phạm pháp luật nói chung trong đó có vi phạm pháp luật của người chưa thành niên nói riêng. Tuy nhiên, tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật và phạm tội ở nước ta hiện nay vẫn có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp. Đặc biệt có một bộ phận thanh thiếu niên đã tham gia vào các băng nhóm tội phạm có tổ chức, phạm tội có sử dụng bạo lực với tính chất côn đồ hung hãn; thực hiện các hành vi giết người, cướp của, chống người thi hành công vụ, bảo kê, đâm thuê, chém mướn gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng, báo động về số trẻ em phạm tội đang “gia tăng và trẻ hóa” thực sự trở thành mối lo ngại với con số trung bình 10.000 vụ tội phạm hình sự do trên 15.000 trẻ em gây ra trên toàn quốc mỗi năm [3]. Các vụ án, có người chưa thành niên phạm tội tham gia có xu hướng tăng nhanh cả ở cấp huyện và cấp tỉnh. Nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng, do các bị cáo đang ở độ tuổi chưa thành niên một mình hay cùng đồng bọn cũng là những người chưa thành niên gây ra như vụ án Đào Thị Thu Hương (tức My sói) sinh năm 1996 ở quận Hoàng Mai, Hà Nội và đồng bọn về tội “hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em và cướp tài sản” hay vụ án Lê Văn Luyện phạm tội “Giết người” xảy ra tại tiệm vàng Ngọc Bích ngày 20/8/2011.

Tuy ở độ tuổi còn rất trẻ, song hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm và quyết liệt, có sự chuẩn bị về công cụ, phương tiện với thủ đoạn tinh vi, xuống tay sát hại người khác một cách hết sức dã man. Do vậy, hậu quả để lại là rất nặng nề, gây bức xúc trong nhân dân và gây dư luận xấu trong xã hội.

 

3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội

3.1. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội

3.1.1. Về xác định độ tuổi của người chưa thành niên phạm tội

Theo qui định tại Điều 12 BLHS năm 2015, tuổi chịu TNHS là tuổi tính tròn. Nhưng vấn đề đặt ra là đột tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi hay 16 tuổi đó được tính từ thời điểm nào? Trường hợp chúng ta có đủ điều kiện xác định chính xác ngày tháng năm sinh (thông thường qua giấy khai sinh) thì việc tính tuổi không có điều gì cần bàn. Nhưng thực tế đấu tranh phòng chống tội phạm hiện nay cho thấy, có rất nhiều trường hợp không có căn cứ xác định chính xác ngày sinh, tháng sinh thậm chí cả năm sinh của người chưa thành niên có hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Giải quyết những tình trạng này, nghị quyết số 02 ngày 5-1-1986 của HĐTP TANDTC đã khẳng định: “Trong trường hợp không có điều kiện xác định chính xác ngày sinh thì tính ngày sinh theo ngày cuối cùng của tháng, và nếu cũng không có điều kiện xác định chính xác tháng sinh thì xác định là ngày cuối cùng của năm sinh”. 
Có thể nói việc đưa ra cách tính tuổi nêu trên hoàn toàn là sự áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo. Quán triệt nguyên tắc này tại Công văn số 81 ngày 10 tháng 6 năm 2002, TANDTC lại một lần nữa cụ thể hóa cách xác định tuổi trong từng trường hợp cụ thể. Nếu xác định được tháng cụ thể, nhưng không xác định được ngày nào trong tháng đó thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo. Nếu xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không xác định được cụ thể ngày nào, tháng nào của quí đó thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng của quí đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo. Nếu xác định được cụ thể nửa năm đầu hay nửa cuối năm, nhưng không xác định được ngày tháng nào trong nửa đầu năm hay nửa cuối năm thì lấy ngày 30 tháng 6 hay 31 tháng 12 tương ứng của năm đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo bị cáo. Tuy vậy, các văn bản hướng dẫn này mới chỉ nêu ra cách xác định mốc thời gian để tính tuổi chịu TNHS khi không có đủ điều kiện xác định được chính xác ngày sinh hoặc tháng sinh, quí sinh mà chưa đề cập đến trường hợp có sự tranh chấp chính năm sinh của người chưa thành niên phạm tội.

Thông thường đối với trường hợp này, người ta thường căn cứ vào kết quả giám định. Theo các cơ quan giám định Việt Nam thì đa số các trường hợp có thể xác định chính xác năm sinh, những trường hợp phức tạp thì xác định trong khoảng thời gian và độ sai số từ 1 đến 2 năm. Còn việc giám định để xác định tháng sinh, có trường hợp cho kết quả chính xác tới tháng, nhưng đa số trường hợp chỉ xác định trong một khoảng thời gian nhất định với mức sai số từ 3 đến 6 tháng. Như vậy việc xác định tuổi chịu TNHS trong trường hợp căn cứ vào kết quả giám định với mức sai số như trên chưa được pháp luật qui định. Trong những trường hợp như vậy, việc vận dụng để giải quyết thường chỉ mang tính tùy nghi. Do vậy, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể trường hợp không xác định được chính xác năm sinh mà phải căn cứ vào kết quả giám định theo hướng việc xác định đó dựa trên nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo.

3.1.2. Vấn đề áp dụng hình phạt

Trong một số hình phạt không tước tự do áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội chưa thực sự phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, cũng như nhu cầu giáo dục của đối tượng này. Hình phạt cảnh cáo (khoản 1, Điều 98 BLHS) là một ví dụ. Hình phạt này thể hiện sự khiển trách công khai của Nhà nước đối với người phạm tội. Khi hội đồng xét xử tuyên án xong, cũng có nghĩa rằng hình phạt được thi hành xong. Vì không có cơ chế theo dõi, hỗ trợ người chưa thành niên phạm tội thực sự nhận thức được lỗi lầm mình gây ra, cho nên không phải lúc nào hình phạt cảnh cáo cũng phát huy hiệu quả. Hay như hình phạt tiền (Khoản 2, Điều 98 BLHS) cũng là vấn đề phải suy nghĩ. Hình phạt này đánh vào lợi ích vật chất của người phạm tội. Thế nhưng phần lớn người chưa thành niên phạm tội đều không có tài sản và chưa nhận thức đầy đủ giá trị đồng tiền. Do vậy, áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên là không hợp lý.

Ở khía cạnh khác, một số tội phạm và ranh giới giữa tội phạm và vi phạm hành chính (bảo kê mại dâm, môi giới mại dâm người chưa thành niên…) chưa rõ ràng. Ngoài ra, BLHS chưa quy định một tội danh riêng, cụ thể về sản xuất, tàng trữ, lưu hành những văn hoá phẩm có sử dụng hình ảnh người chưa thành niên để khiêu dâm, mà chỉ có một tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147) và tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi (Điều 146). Do vậy, cần thiết kế một điều luật riêng về hành vi sản xuất, tàng trữ, lưu hành những văn hóa phẩm có sử dụng hình ảnh người chưa thành niên để khiêu dâm vào BLHS 2015.

3.1.3. Các biện pháp bảo vệ người chưa thành niên trong quá trình tham gia tố tụng

Mặc dù BLHS 2015 dành hẳn một chương quy định về người chưa thành niên phạm tội, nhưng nhìn chung chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu hỗ trợ và bảo vệ người chưa thành niên người chưa thành niên. Khi người chưa thành niên tham gia tố tụng với tư cách bị can, bị cáo, bị hại… dù ở giai đoạn điều tra, truy tố hay xét xử chưa được quan tâm đúng mức. Vấn đề bảo vệ bí mật đời tư của người chưa thành niên, đặc biệt là người chưa thành niên là nạn nhân trong các vụ án hình sự chưa được quy định đầy đủ, gây tổn thương cho các người chưa thành niên trong quá trình tố tụng. Do vậy, cần một cơ chế để giúp cho việc bảo vệ người chưa thành niên tốt hơn khi tham gia vào các hoạt động tố tụng.

3.1.4. Vấn đề khi xét xử người chưa thành niên phải có đại diện  gia đình 

Đây vấn đề đang rất vướng mắc hiện nay, Tại mục 16 phần II Công văn 81/2002/TANDTC ngày 10-6-2002 của TANDTC có hướng dẫn “…Trong trường hợp không xác minh được lý lịch của bị cáo thì tại phiên tòa xét xử không nhất thiết phải có mặt đại diện của gia đình bị cáo, đại diện của nhà trường  hoặc tổ chức xã hội…”.
Công văn trên chỉ hướng dẫn trong trường hợp không xác định được lí lịch của bị cáo, còn trong trường hợp xác định được lí lịch của bị cáo, nhưng gia đình bị cáo ở quá xa, không thể gửi giấy triệu tập được thì sẽ giải quyết thế nào? Thực tế, có những vụ án cơ quan chức năng không thể triệu tập được bất cứ người đại diện gia đình nào vì họ ở quá xa. Hồ sơ chuyển sang Tòa án, Tòa án cũng không triệu tập được. Trong những trường hợp này, Toà án thường gửi giấy triệu tập thông qua bưu điện (vì không có điều kiện đi trực tiếp). Đến ngày xử không có mặt của đại diện gia đình, nên phải hoãn phiên tòa. Có nhiều vụ án phải hoãn phiên tòa nhiều lần mới xét xử được.
Những trường hợp cán bộ Tòa án trực tiếp đi đến tận nơi để gửi giấy triệu
tập, thì tốn rất nhiều thời gian và chi phí. Trong trường hợp Toàn án không thể đi đến tận nơi trực tiếp được, thì Tòa án thường vận dụng linh hoạt bằng cách yêu cầu Đoàn thanh niên cử người tham gia tố tụng đại diện cho gia đình bị cáo và Tòa án tiến hành xét xử luôn. Nhưng việc Đoàn thanh niên tham gia như trên là không đúng với qui định của BLTTHS, bởi lẽ Đoàn thanh niên chỉ tham gia khi không có đại diện của gia đình bị cáo, chứ không tham gia trong trường hợp có đại diện của gia đình bị cáo là có, nhưng không thể triệu tập họ được.

3.1.5. Về hiểu biết và đánh giá tâm lý người chưa thành niên của Hội đồng xét xử: 

Đây là vấn đề thuộc về trình độ, kỹ năng của Hội đồng xét xử, bởi vì mỗi cá nhân người chưa thành niên, có môi trường sống hoàn toàn khác nhau. Cách nhìn nhận của họ về cuộc sống, về xã hội là khác nhau. Điều quan trọng là Hội đồng xét xử phải thấu hiểu và có cái nhìn đúng về mỗi cá nhân là người chưa thành niên phạm tội, để đánh giá chứng cứ và xác định hình phạt cho chính xác. Hiện nay, trong ngành Tòa án và các tổ chức giáo dục chưa có những lớp tập huấn riêng về tâm lý người chưa thành niên, nên việc hiểu tâm lý để đánh giá ý thức phạm tội của người chưa thành niên chưa sâu. Vì vậy, cần mở nhiều lớp tập huấn bài bản, một cách chuyên nghiệp về tâm lý người chưa thành niên trong ngành Tòa án, tại các trường Đại học, cơ quan chức năng và trong tổ chức Đoàn thanh niên.

3.1.6. Về việc áp dụng qui định của pháp luật về miễn TNHS và án treo 

Trên thực tế, rất ít (hầu như không có) áp dụng chế định miễn TNHS đối với người chưa thành niên phạm tội khi xét xử. Về vấn đề áp dụng chế định án treo cũng không có ưu tiên nào cho người chưa thành niên. Điều 65 BLHS qui định về án treo, Điều 91 BLHS qui định về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và hướng dẫn tại Mục 6 Nghị quyết 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02-10-2007 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn về việc áp dụng chế định án treo, cũng không có qui định nào về việc ưu tiên áp dụng án treo đối với người chưa thành niên.

Về việc giao người chưa thành niên cho cơ quan nào để giám sát, giáo dục trong trường hợp họ được hưởng án treo cũng gặp nhiều vướng mắc. Khoản 2, Điều 65 BLHS qui định: “Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó”.
Trên thực tế trong nhiều trường hợp, cha, mẹ người chưa thành niên không sống cùng địa chỉ và có nhiều người chưa thành niên có tên trong hộ khẩu của cha (hoặc mẹ), nhưng lại thường sống chung với người kia nên việc giao giám sát, giáo dục cũng còn áp dụng khác nhau. Vì vậy, TANDTC cần ban hành những qui định cụ thể cho việc áp dụng chế định án treo cho người chưa thành niên.

3.1.7. Về việc bồi thường thiệt hại và xác định trách nhiệm bồi thường

Điều 588 BLDS 2015 qui định:

“1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
2. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật dân sự 2015.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường”.
Luật chỉ qui định người chưa thành niên chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường. Như vậy, trường hợp bị cáo chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà không còn cha, mẹ đồng thời, họ cũng không có người giám hộ, thì ai phải bồi thường? Giả sử, người chưa thành niên đó có tài sản, thì có được phép lấy tài sản của người chưa thành niên bồi thường hay không? Luật chỉ qui định trường hợp người chưa thành niên dưới 15 tuổi còn cha, mẹ mà tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường và trong trường hợp người dưới 15 tuổi có tài sản, thì mới được lấy tài sản của ngưới dưới 15 tuổi để bồi thường, chứ luật không qui định người dưới 15 tuổi có tài sản nhưng không còn cha mẹ, không có người giám hộ thì lấy tài sản của người dưới 15 tuổi để bồi thường.

Mặt khác, trong trường hợp bị cáo chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại, nhưng không còn cha me và cũng không có người giám hộ, đồng thời, họ cũng không có tài sản để bồi thường, thì vấn đề bồi thường sẽ giải quyết như thế nào? Những vấn đề trên, luật không qui định nên việc áp dụng còn nhiều vướng mắc. Luật nên qui định rõ ràng trách nhiệm bồi thường là của bị cáo chưa đủ 15 tuổi trong trường hợp bị cáo không còn cha, mẹ, không có người giám hộ. Nếu bị cáo có tài sản, thì lấy tài sản của bị cáo bồi thường ngay. Nếu bị cáo không có tài sản, thì Tòa án vẫn tuyên trách nhiệm dân sự là buộc bị cáo bồi thường, chờ đến khi nào bị cáo có tài sản sẽ thực hiện nghĩa vụ thi hành bản án đã tuyên. Có như vậy, việc giải quyết mới dứt điểm và đầy đủ.

3.2. Một số giải pháp nhằm giảm việc vi phạm pháp luật hình sự của người chưa thành niên 

Từ thực trạng tình hình vi phạm pháp luật của người chưa thành niên có nhiều nguyên nhân, nguyên nhân từ phía gia đình, nguyên nhân từ nhà trường, xã hội, nguyên nhân từ phía cơ quan bảo vệ pháp luật và nguyên nhân từ chính người chưa thành niên phạm tội…Trước tình trạng người chưa thành niên phạm tội đang có chiều hướng gia tăng như hiện nay, thiết nghĩ, để làm giảm việc vi phạm pháp luật hình sự của người chưa thành niên thì cần có sự chung tay vào cuộc của toàn thể công đồng, xã hội nhằm giúp cho các em có được một môi trường giáo dục, sinh hoạt lành mạnh, tránh xa các cạm bẫy,…từ đó có cơ hội để phát triển đầy đủ cả về vật chất và tinh thần, trở thành một công dân tốt, có ích cho xã hội. Một số giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, tuyên truyền pháp luật sâu rộng đến mọi người dân đặc biệt là tầng lớp học sinh, sinh viên. Thường xuyên phát động các phong trào như tìm hiểu pháp luật, tọa đàm, giải thích pháp luật… nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết của các em đối với pháp luật, giáo dục ý thức “thượng tôn pháp luật”.

Thứ hai, Tăng cường quản lý chặt chẽ các lĩnh vực nhạy cảm như văn hóa, công nghệ thông tin (Internet)… Có chính sách ưu tiên dạy nghề, tạo công ăn việc làm cho những người chưa thành niên lang thang, không gia đình để khi bước vào đời họ có một nghề tự nuôi sống bản thân. Nhà nước cần đầu tư thêm nhiều khu vui chơi cho cộng đồng trong đó có người chưa thành niên như công viên, các câu lạc bộ…

Thứ ba, nâng cao giá trị đạo đức trong giáo dục, giảng dạy, kết hợp hài hòa quan hệ giữa nhà trường – gia đình, giữa thầy – trò để các học sinh, sinh viên hiểu biết hơn nữa về truyền thống “tôn sư trọng đạo”, “tiên học lễ, hậu học văn”… đây là một trong những cách để phòng ngừa tội phạm có hiệu quả nhất; Mỗi giáo viên, mỗi học sinh, sinh viên là một tấm gương điển hình về chấp hành pháp luật, là một gương tốt cho mọi người noi theo.

Thứ tư, hàng năm, các cơ quan tố tụng nên tổng hợp, có báo cáo về tình hình người chưa thành niên phạm tội, tìm ra được những nguyên nhân, thiếu sót, yếu kém, hạn chế từ khâu nào, từ đơn vị nào trong việc quản lý, giáo dục. Từ đó, đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm để cơ quan chức năng khắc phục và có những chương trình phù hợp.

Thứ năm, cần xây dựng một đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân chuyên trách, được đào tạo có hệ thống, được trang bị những kiến thức về tâm lý học, về khoa học giáo dục để có thái độ đúng mực khi tiến hành các hoạt động tố tụng đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của người chưa thành niên.

Người chưa thành niên chính là tương lai của đất nước, xuất phát từ chính sách nhân đạo của Nhà nước ta trong đường lối xử lý trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội là nhằm cảm hóa, giáo dục, giúp đỡ, tạo điều kiện cho họ để trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội. Do vậy, việc xử lý người chưa thành niên phạm tội là vấn đề vừa mang tính pháp lý vừa mang tính nhân văn sâu. Trong công tác xét xử người chưa thành niên phạm tội đòi hỏi các cơ quan tư pháp, nhất là Tòa án phải cân nhắc, xem xét kỹ lưỡng trước khi quyết định áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, nhằm đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, nhưng cũng thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước ta trong chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội. Bên cạnh đó, cần quan tâm chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ tư pháp chuyên trách tiến hành tố tụng, có kiến thức chuyên sâu về tâm lý người chưa thành niên, cũng như các kỹ năng làm việc phù hợp với người chưa thành niên là hết sức cần thiết.

 

Hồ Quân – Tòa án quân sự Khu vực 1 Quân khu 4 / Cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp

 

[1] Lê Văn Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2005];
[2] Đào Trí Úc (1993), Mô hình lý luận về Bộ luật Hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr41.]…
[3] http://congly.vn/