Cần thống nhất cách hiểu thời điểm xác định “người dưới 18 tuổi bị kết án” theo quy định tại Điều 107 Bộ luật hình sự 2015
Thực tế có nhiều vụ án có những cách hiểu khác nhau về cách tính thời điểm “người dưới 18 tuổi bị kết án”; dẫn đến áp dụng quan điểm giải quyết khác nhau khi tính toán để xác định bị cáo có tái phạm, tái phạm nguy hiểm hay không khi phạm tội mới.
Điều 107 Bộ luật hình sự năm 2015 về xóa án tíchquy định:
“1. Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi;
b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý;
c) Người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 Chương này.
2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đương nhiên được xóa án tích nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
a) 06 tháng trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;
b) 01 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;
c) 02 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;
d) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm.”.
Điều luật có quy định cụm từ người dưới 18 tuổi bị kết án, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án hay người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án, vậy cần xác định  tuổi (dưới 18 tuổi, đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi) vào thời điểm nào khi xét xử bị kết án hay thời điểm khi người đó phạm tội? Trong thực tế, có một số vụ án do hiểu quy định này khác nhau nên áp dụng quan điểm giải quyết khác nhau khi tính toán để xác định tái phạm hay tái phạm nguy hiểm, cụ thể:
Quan điểm thứ nhất:
Thời điểm xác định độ tuổi dưới 18 tuổi theo Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 là vào thời điểm người đó bị kết án, tức là vào thời điểm bị xét xử, vì:
Theo cấu trúc từ ngữ trong câu tại Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định rõ: “Người dưới 18 tuổi bị kết án” ở đây quy định là kết án chứ không phải là phạm tội khác với các quy định tại Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 nêu rõ “người dưới 18 tuổi phạm tội”. Kết án nói lên một trình tự thủ tục tố tụng, còn phạm tội là thời điểm thực hiện  hành vi trái pháp luật, bị xử lý theo Bộ luật Hình sự.
Trong Bộ luật Hình sự năm 2015 có nhiều từ ngữ ở các điều luật xác định thời điểm tính tuổi người dưới 18 tuổi khác nhau. Độ tuổi theo từ, ngữ quy định tại Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 là tính thời điểm phạm tội, còn độ tuổi theo quy định tại Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 là tính đến thời điểm người bị kết án.
Mặt khác, tại Khoản 7 Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “Án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm”. Quy định này bao hàm cả quy định tại điểm a khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 vì: “không tính để xác định tái phạm”, “đương nhiên xóa án tích”, “coi như không có án tích” đều có thể hiểu giống nhau.
Như vậy, chỉ khi bị kết án mà người đó dưới 18 tuổi mới được hưởng các quy định theo Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015; Quy định tại Điều 107 này không áp dụng đối với trường hợp người khi phạm tội dưới 18 tuổi nhưng khi bị kết án đã trên 18 tuổi (người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng các quy định tại Điều 91). Quy định này chỉ nhằm xem xét giảm nhẹ tội đối với người khi bị kết án là người dưới 18 tuổi.
Quan điểm thứ hai:
Thời điểm xác định độ tuổi dưới 18 tuổi là  vào thời điểm phạm tội  bởi vì:
Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì “người chưa thành niên phạm tội” tức vào thời điểm phạm tội chưa thành niên, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “người  dưới 18 tuổi bị kết án” tuy không nêu rõ thời điểm xác định độ tuổi dưới dưới 18 là vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội hay thời điểm bị kết án, nhưng theo hướng có lợi cho người phạm tội, đồng thời để đảm bảo sự công bằng trong xử lý thì cần coi thời điểm để xác định độ tuổi dưới 18 là vào thời điểm người đó thực hiện hành vi phạm tội (ngày phạm tội), khi kết án họ cần được hưởng các quy định nhân đạo của Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Quan điểm thứ hai này cũng đồng thời là quan điểm của tác giả bài viết, bởi:
Người dưới 18 tuổi khi phạm tội có những hạn chế về nhận thức, về mặt tâm sinh lý cũng chưa phát triển hoàn thiện ổn định;, họ phải chịu trách nhiệm theo pháp luật về hành vi phạm tội của mình nhưng cũng cần có những quy định khác với người đã thành niên phạm tội để họ có thể dễ dàng hòa nhập với cộng đồng sau khi chấp hành xong bản án về hành vi họ gây ra khi dưới 18 tuổi.
Với từ ngữ dùng trong quy định Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 thể hiện dưới 18 tuổi tính  đến thời điểm người đó bị kết án; như vậy phải đến thời điểm bị kết án mà chưa 18 tuổi mới được hưởng quy định tại Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015, thì pháp luật được áp dụng hay không sẽ phụ thuộc vào các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết nhanh hay chậm vụ án, phụ thuộc vào các yếu tố khách quan, chủ quan khác,  từ đó tạo nên sự không công bằng, thống nhất trong áp dụng pháp luật.
Đồng thời, khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng quy định thời hạn đương nhiên xóa án tích đối với người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (ngắn hơn người đã thành niên). Nếu là hiểu chỉ khi bị kết án dưới 18 tuổi mới được hưởng quy định này, thì người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi ở thời điểm phạm tội không được hưởng chính sách gì về xóa án tích (như vậy sẽ bất lợi so với quy định đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, chưa đúng với chủ trương, đường lối của Bộ luật Hình sự năm 2015 là sửa đổi quy định có lợi hơn so với Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với người chưa thành niên phạm tội).
Thiết nghĩ, trong thời gian tới, các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu, hướng dẫn thống nhất cách hiểu để áp dụng phù hợp; đồng thời sửa đổi từ, ngữ dùng trong Điều 107 Bộ luật Hình sự thay cụm từ “người dưới 18 tuổi bị kết án” bằng “người dưới 18 tuổi phạm tội” đảm bảo thực hiện quy định của pháp luật được rõ ràng, cụ thể.
Nguồn: Tạp chí Kiểm sát
Quy định của pháp luật hình sự về vấn đề xóa án tích

Theo quy định của Bộ luật hình sự 2015, người được xóa án tích coi như chưa bị kết án. BLHS quy định có 02 loại xóa án tích: đương nhiên được xóa án tích và xóa án tích theo quyết định của Tòa án, cụ thể:
(1) Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII (các tội xâm phạm an ninh quốc gia) và Chương XXVI của BLHS (các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh). Điểm mới của BLHS năm 2015 là quy định thời điểm để tính thời hạn xóa án tích sớm hơn so với BLHSnăm 1999 theo hướng kể từ khi người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án[1]; đồng thời, rút ngắn thời hạn để được xóa án tích theo hướng còn 02 năm (đối với trường hợp bị phạt tù đến 05 năm); 03 năm (đối với trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm) và 05 năm (đối với trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án) (khoản 2, 3 Điều 70).
Đặc biệt, BLHS năm 2015 đã bỏ quy định Tòa án cấp giấy chứng nhận đương nhiên được xóa án tích cho người bị kết án, mà giao trách nhiệm cho Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp (LLTP)cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp Phiếu LLTP xác nhận không có án tích nếu có đủ điều kiện theo quy định củaBLHS[2]. Tại Khoản 4, điều 70, BLHS năm 2015, quy định: “Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu LLTP có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu LLTP xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này”. Đồng thời, khoản 1 Điều 369 của Bộ luật tố tụng hình sựnăm 2015 quy định: “Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của người được đương nhiên xóa án tích và xét thấy có đủ điều kiện quy định tại Điều 70 của BLHS thì cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP cấp Phiếu LLTP là họ không có án tích”.
(2) Xóa án tích theo quyết định của Tòa án được áp dụng đối với người bị kết án về các tội quy định tại
Chương XIII và Chương XXVI của BLHS. Khác với trường hợp đương nhiên được xóa án tích, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền quyết định việc xóa án tích đối với những người đã bị kết án về các tội nêu trên (Điều 71 BLHS 2015).Người bị kết án phải có đơn gửi Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án. Nếu xét thấy đủ điều kiện, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định xóa án tích; trường hợp chưa đủ điều kiện thì quyết định bác đơn xin xóa án tích (khoản 2 Điều 369 Bộ luật tố tụng hình sự).
Ngoài ra, BLHS 2015 (Điều 72) cũng quy định về việc xóa án tích trong trường hợp đặc biệt, theo đó trong trường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị, thì Tòa án quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.

Một số điểm mới về xoá án tích theo BLHS 2015

So với quy định về xóa án tíhc của BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009), thì BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) có nhiều quy định mới có lợi hơn cho người đã chấp hành xong bản án và người bị kết án do lỗi vô ý, cụ thể:
 

Khái niệm xoá án tích: K1 Đ69 BLHS 2015 đã quy định: Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án

 
Tại k2 Đ69 BLHS 2015 q/đ “Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích.”Đây là q/đ mới, khi người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, lỗi vô ý về tội phạm nghiêm trọng có thể chịu hình phạt, nhưng không bị coi là có án tích hoặc người bị kết án về mọi loại tội nếu được miễn hình phạt thì cũng được coi là ko có án tích. Do đó những người này nếu phạm tội mới thì không được lấy bản án trước để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm. Tuy nhiên người bị kết án trong trường hợp này vẫn phải tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm tội mới mà họ chưa chấp hành bản án trước đó.
 

Đương nhiên được xóa án tích

Điều 70 BLHS 2015 thì đương nhiên được xóa án tích được q/đ như sau:
 

Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;
b) 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;
c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;
d) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.
Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.
Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này.
c/q quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này.

 
So với BLHS 1999 thì BLHS 2015 đã rút ngắn thời gian để xoá án tích đối với hình phạt tù đi rất nhiều, chỉ còn 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo ko giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo; 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án. Thời điểm để tính xoá án tích cũng thay đổi, theo BLHS 1999 thì thời điểm để xoá án tích là kể từ khi chấp hành xong bản án còn theo BLHS 2015 thì thời điểm xoá án tích kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, cụ thể:
Trước đây theo K2 Đ64 BLHS 1999 quy định “Người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật này, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn…”. Từ khi chấp hành xong bản án là chấp hành xong tất cả hình phạt chính, hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự, án phí và các quyết định khác của bản án.
Tuy nhiên, quy định này đã được sửa đổi, bổ sung tại k1 Đ70 BLHS 2015, theo đó thời điểm để tính đương nhiên được xóa án tích là kể từ khi người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án; K2 Đ70 BLHS 2015 cũng quy định: “Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn …” Tức người bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu từ ngày chấp hành xong hình phạt chính mà họ không phạm tội trong thời gian quy định tại k2 Đ70 BLHS 2015, còn các hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự, án phí và các quyết định khác của bản án họ có thể thực hiện bất kỳ lúc nào, chỉ cần trước ngày phạm tội mới.
Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c k2 Đ70 BLHS 2015 thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.
Theo k4 Đ70 BLHS 2015 thì Toà án sẽ không cấp giấy chứng nhận xoá án tích trong trường hợp đương nhiên được xoá án tích mà c/q quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích cho người này.
 

Xoá án tích đối với người dưới 18 tuổi

Theo k1 Đ1 BLHS 2015 thì nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là để bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho x/h. Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho x/h của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm. Do đó việc xoá án tích đối với người dưới 18 tuổi cũng ngắn hơn các trường hợp khác, cụ thể tại Đ107 quy định như sau:      
 

Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi;
b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý;
c) Người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 Chương này.
Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đương nhiên được xóa án tích nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
a) 06 tháng trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;
b) 01 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;
c) 02 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;
d) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm.

 
Theo đó, mọi trường hợp người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị kết án; Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý hoặc người dưới 18 tuổi bị áp dụng biện pháp tư pháp thì được coi là ko có án tích.
Thời hạn đương nhiên được xoá án tích đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng cũng ngắn hơn người trên 18 tuổi phạm tội, chỉ còn 06 tháng trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo; 01 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; 02 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; 03 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm.