Đồng phạm theo quy định của Bộ luật hình sự 2015

Được quy định tại 1 Điều 17 Bộ luật hình sự 2015 thì: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm” Đồng phạm là một khái niệm pháp lý nói lên quy mô tội phạm, được thực hiện trong một vụ án có nhiều người tham gia. Tuy nhiên không phải cứ có nhiều người tham gia đã coi là đồng phạm, mà nhiều người đó phải cố ý cùng thực hiện 1 tội phạm.
 
Có hai loại đồng phạm: là đồng phạm giản đơn và đồng phạm có tổ chức

  • Đồng phạm giản đơn: là tất cả những người cùng thực hiện một tội phạm đều là người thực hành
  • Đồng phạm có tổ chức: là đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm (khoản 2 Điều 17).

Trong vụ đồng phạm tùy vào quy mô và tính chất mà có thể có nững người giữ vai trò khác nhau: người tổ chức, người xúi giục, người thực hành, người giúp sức
“Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm”. Chỉ trong trường hợp phạm tội có tổ chức mới có người tổ chức. Người tổ chức trong đồng phạm chính là người lên kế hoạch thực hiện tội phạm, xác định đối tượng, mục đích thực hiện tội phạm…
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm”.
Theo luật hình sự  Việt Nam có hai loại trường hợp sau được coi là trực tiếp thực hiện tội phạm:
Thứ nhất là trường hợp tự mình thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm. Đây là trường hợp trực tiếp thực hiện tội phạm thông thường trong thực tế. Tự mình thực hiện có thể là có sử dụng công cụ, phương tiện kể cả sử dụng cơ  thể người khác và súc vật như là công cụ, phương tiện hoặc có thể không sử dụng công cụ, phương tiện. Trong vụ phạm tội cố ý có thể có nhiều người cùng tự mình thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm. Trong trường hợp này, không đòi hỏi mỗi người phải thực hiện trọn vẹn hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm mà có thể mỗi người chỉ thực hiện một phần hành vi đó. Nhưng đòi hỏi hành vi tổng hợp của họ phải là hành vi có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm. Đối với những tội đòi hỏi chủ thể đặc biệt thì những người đồng thực hiện chỉ có thể là những người có đủ những dấu hiệu của chủ thể đặc biệt. Nếu không, họ chỉ có thể là người giúp sức hoặc cá biệt có thể phạm tội khác.
Thứ hai người trực tiếp thực hiện tội phạm là những người không tự mình thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm như không tự mình thực hiện hành vi tước đoạt sinh mạng người khác hoặc không tự mình thực hiện hành vi hủy hoại tài sản. Họ chỉ có hành động (cố ý) tác động đến người khác để người này thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm. Nhưng bản thân những người bị tác động mà đã thực hiện hành vi đó lại không phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với người đã tác động vì:

  • Họ là người không có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc chưa đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định.
  • Họ không có lỗi hoặc chỉ có lỗi vô ý do sai lầm.
  • Họ được loại trừ trách nhiệm hình sự do bị cưỡng bức tinh thần.

Do đặc điểm riêng, người trực tiếp thực hiện tội phạm ở dạng thứ hai không thể xảy ra ở những tội đòi hỏi chủ thể phải tự mình thực hiện như tội hiếp dâm hoặc tội loạn luân… Ở những tội này chỉ có thể có người trực tiếp thực hiện tội phạm ở dạng thứ nhất.
Trong thực tế, có thể chỉ có một người trực tiếp thực hiện tội phạm ở dạng này trong vụ phạm tội nhưng cũng có thể nhiều người.
Người thực hành thường là người giữ vai trò quan trọng trong vụ án. Nhưng cũng có nhiều trường hợp, người thực hành không phải là người đóng vai trò chính trong vụ đồng phạm. Tuy vậy, về mặt pháp lý, hành vi của người thực hành được coi là vị trí trung tâm vì nhiều vấn đề về định tội và quyết định hình phạt được giải quyết căn cứ vào hành vi đó.
Tuy nhiên trong thực tiễn không phải bao giờ người thực hành cũng thực hiện đúng những hành vi do các đồng phạm khác đặt ra đặc biệt với người tổ chức, có trường hợp người thực hành tự ý không thực hiện tội phạm hoặc tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm, nhưng thực tế cũng không ít trường hợp người thực hành tự ý không thực hiện tội phạm hoặc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, nhưng thực tế cũng không ít trường hợp người thực hành tự ý thực hiện hành vi vượt quá yêu cầu của người đồng phạm khác đặt ra. Khoa học luật hình sự gọi là hành vi thái quá của người thực hành trong vụ có đồng phạm. Hành vi thái quá của người thực hành là việc người thực hành tự ý thực hiện hành vi phạm tội mà những người đồng phạm khác không mong muốn. Hay nói cách khác là hành vi phạm tội của người thực hành mà những người đồng phạm khác không có ý định thực hiện.
“Người xúi giục là những người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm”. Hành vi
kích động, dụ dỗ thúc đẩy người khác thực hiện hành vi phạm tội chỉ được coi là người đồng phạm trong vụ án có tổ chức, khi hành vi xúi giục có liên quan trực tiếp đến toàn bộ hoạt động phạm tội của những đồng phạm khác và người thực hiện tội phạm trước khi bị xúi giục chưa có ý định phạm tội, vì có người khác xúi giục nên họ mới nảy sinh ý định phạm tội. Nếu việc xúi giục không liên quan trực tiếp đến hoạt động tội phạm của những người đồng phạm khác và người thực hiện tội phạm đã có sẵn ý định phạm tội thì không phải là người xúi giục trong vụ án có đồng phạm.
“Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm”
Người giúp sức có thể giúp bằng lời khuyên, lời chỉ dẫn, cung cấp phương tiện phạm tội hoặc khắc phục những trở ngại cho việc thực hiện tội phạm, hứa che giấu người phạm tội, phương tiện, xóa dấu vết, hứa tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có.
Dù tạo điều kiện vật chất hay tinh thần cho việc thực hiện tội phạm thì hành vi đó cũng chỉ tạo điều kiện dễ dàng cho việc thực hiện tội phạm chứ người giúp sức không trực tiếp thực hiện tội phạm
Hành vi tạo điều kiện cho việc thực hiện tội phạm của người giúp sức cũng có thể là hành vi của người tổ chức, nhưng khác với người tổ chức, người giúp sức không phải là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy mà chỉ có vai trò thứ yếu trong vụ án đồng phạm. Nếu các tình tiết khác như nhau thì người giúp sức bao giờ cũng được áp dụng hình phạt nhẹ hơn những người đồng phạm khác.

Khái quát chung về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật thuế

Khái niệm thanh tra thuế

Thanh tra thuế là một dạng thanh tra chuyên ngành. Khoản 3 Điều 3 Luật Thanh tra 2010 quy định: “Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó”. Như vậy, thanh tra thuế là việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành những hoạt động mang tính chất chuyên môn nghiệp vụ đối với các đối tượng nộp thuế và các chủ thể có liên quan trong lĩnh vực thuế nhằm phát hiện, xử lý vi phạm trong việc tuân thủ pháp luật về thuế của các đối tượng đó. Thanh tra thuế là kiểm tra đối tượng nộp thuế ở mức độ cao hơn, toàn diện hơn.
Điều 81 Luật Quản lý thuế năm 2006 quy định các trường hợp thanh tra thuế bao gồm: (i) Thanh tra thuế định kì một năm không quá một lần đối với các doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng; (ii) Thanh tra thuế khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế và (iii) Thanh tra thuế để giải quyết các khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ Tài chính.
 

Khái niệm kiểm tra thuế

Kiểm tra thuế là công việc thường xuyên mang tính chất nghiệp vụ của cơ quan quản lý thuế được thực hiện ngay tại trụ sở cơ quan thuế dựa trên hồ sơ khai thuế của người nộp thuế. Việc kiểm tra thuế được thực hiện tại trụ sở của người nộp thuế, chỉ thực hiện khi họ không tự giác sửa đổi, bổ sung những nội dung sai sót mà cơ quan thuế đã kiểm tra, phát hiện và yêu cầu. Nội dung kiểm tra thuế là việc kiểm tra tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế nhằm đánh giá sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế.
Có thể thấy rằng, cả thanh tra, kiểm tra thuế đều có mục đích nhằm phát hiện, ngăn ngừa và xử lý vi phạm pháp luật thuế, góp phần thúc đẩy cá nhân, tổ chức hoàn thành tốt nghĩa vụ của mình, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích của công dân. Hơn nữa, cả thanh tra và kiểm tra thuế đều phải xem xét hoạt động thực tế của đối tượng chịu sự quản lý để từ đó phát hiện đánh giá thực trạng tình hình một cách khách quan, chính xác, trung thực, làm rõ đúng sai, chỉ rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc phục và xử lý sai phạm tuy nhiên giữa chúng cũng có một số những điểm khác biệt nhất định như về chủ thể: đối với thanh tra thì chỉ có tổ chức thanh tra thuế chuyên trách mới có quyền thực hiện thanh tra (trừ trường hợp sử dụng cán bộ ngoài ngành nhưng phải do cơ quan có thẩm quyền quyết định) trong khi đó chủ thể tiến hành kiểm tra thuế thì rộng hơn gồm  cơ quan, bộ phận và công chức quản lý thuế nhà nước. Về nội dung: Thanh tra thuế thường áp dụng đối với những vấn đề phức tạp, bao gồm những hành vi thuộc về quá khứ nên để có kết luận chính xác và có những đánh giá đúng đắn các vụ việc đòi hỏi phải có thời gian, nghiệp vụ thanh tra để kiểm tra thu thập các tài liệu cần thiết. Còn kiểm tra thuế thường áp dụng đối với những vấn đề ít phức tạp hơn, thường là những vấn đề hiện tại dễ nhận biết thực chất của chúng hơn. Về thời gian tiến hành thì thanh tra thuế có thời gian tiến hành dài hơn kiểm tra thuế, cụ thể thanh tra thuế có thể kéo dài không quá 30 ngày còn kiểm tra thuế không quá 5 ngày..v..v..
 

Khái niệm xử lý vi phạm pháp luật thuế

Trong khoa học pháp lý, vi phạm pháp luật nói chung được hiểu là hành vi làm trái các quy định của pháp luật, do tổ chức hoặc cá nhân thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý, gây thiệt hại đến lợi ích chung và do đó phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi đó của mình. Theo đó, có thể hiểu vi phạm pháp luật thuế là hành vi làm trái các quy định pháp luật về thuế do tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, gây thiệt hại đến trật tự công cộng và phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi đó của mình. Trong thực tiễn, các hành vi vi phạm pháp luật thuế diễn ra rất đa dạng, tinh vi và phức tạp với nhiều dạng thức khác nhau. Chính vì vậy, việc phân loại vi phạm pháp luật về thuế có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt giúp cho các nhà làm luật xây dựng được cơ chế xử lí phù hợp, thỏa đáng đối với từng nhóm loại và từng hành vi vi phạm pháp luật về thuế. Trên thực tế, người ta thường phân chia vi phạm pháp luật thuế thành các loại sau đây:
Thứ nhất, vi phạm hành chính về thuế: Vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế là hành vi làm trái các quy định pháp luật hành chính trong lĩnh vực thuế, do tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến những lợi ích được pháp luật hành chính bảo vệ nhưng chưa đến mức xử lý hình sự và phải chịu trách nhiệm hành chính. Hành vi vi phạm pháp luật thuế sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính khi thỏa mãn các dấu hiệu sau đây:
– Có hành vi vi phạm pháp luật về thuế được phát hiện và lập biên bản bởi cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền.
– Có quy định xử phạt vi phạm hành chính tương ứng với hành vi vi phạm.
– Chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thứ hai, vi phạm hình sự về thuế: Vi phạm hình sự về thuế là hành vi trái pháp luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm hại đến các lợi ích phát sinh từ quan hệ nộp thuế được luật hình sự bảo vệ. Như vậy, trường hợp hành vi vi phạm pháp luật thuế được xác định là nghiêm trọng mà thỏa mãn dấu hiệu của tội phạm được quy định tại Bộ luật hình sự thì không xử phạt hành chính mà phải chuyển hồ sơ sang cơ quan có thẩm quyền để xử lý hình sự. Theo đó, ngoài tội trốn thuế (Điều 200 BLHS năm 2015), còn có 2 tội danh liên quan đến tài chính – kế toán (thực chất là các hoạt động hỗ trợ việc gian lận thuế), đó là Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 203 BLHS năm 2015) và Tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 204 BLHS năm 2015).
Thứ ba, các vi phạm khác về thuế: Nhìn từ góc độ pháp lý thì còn có các vi phạm khác về thuế như quy định về hình thức tờ khai đăng ký thuế, hình thức của văn bản đăng ký kê khai thuế và văn bản thông báo thuế, hình thức văn bản quyết định giải quyết khiếu nại về thuế…
Như vậy, xử lý vi phạm pháp luật thuế có thể được hiểu là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành, quyết định áp dụng các chế tài xử lý phù hợp với hành vi vi phạm pháp luật thuế đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về thuế.

Hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn

Sau bài viết về vấn đề phối hợp thực hiện tha tù trước thời hạn có điều kiện, có rất nhiều bạn đọc gửi câu hỏi về cho đội ngũ biên tập của văn phòng với nội dung:

  • Ai là người lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện?
  • Hồ sơ đề nghị tha từ trước thời hạn gồm những giấy tờ, tài liệu gì?

 
Tha tù trước thời hạn có điều kiện là một quy định thể hiện tính nhân đạo trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta. Việc tha tù trước thời hạn có điều kiện tạo điều kiện cho người đang chấp hành hình phạt tù có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật được sớm trở về hòa nhập với cộng đồng, khắc phục lỗi lầm, giúp đỡ gia đình cũng như có cơ hội để làm lại cuộc đời.
 
Trong phạm vi bài viết này, đội ngũ biên tập của văn phòng sẽ làm rõ theo quy định của pháp luật ai là người lập hồ sơ, hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện gồm những gì?
Theo quy định tại điều 368 Bộ luật tố tụng hình sự  2015 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, quy định định về thủ tục xét tha từ trước thời hạn có điều kiện thì:
 

Điều 368. Thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện
Trại giam; Trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn và chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù.

 
Như vậy, theo quy định trên thì: Trại giam; Trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn.
Trên cơ sở đấy ngày 09 tháng 02 năm 2018, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch quy định phối hợp thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 về tha tù trước thời hạn có điều kiện, có hiệu lực từ ngày 28 tháng 3 năm 2018. Theo đấy thì hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện bao gồm các giấy tờ, tài liệu sau:

  • Đơn xin tha tù trước thời hạn có điều kiện của phạm nhân kèm theo cam kết không vi phạm pháp luật, các nghĩa vụ phải chấp hành khi được tha tù trước thời hạn;
  • Bản sao bản án, Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; Quyết định thi hành án;
  • Tài liệu thể hiện phạm nhân có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt là các Quyết định hoặc bản sao Quyết định xếp loại chấp hành án phạt tù;
  • Bản sao Quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
  • Văn bản, tài liệu thể hiện việc chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nộp án phí.
  • Tài liệu để xác định thời gian thực tế đã chấp hành án phạt tù là bản án, Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, Quyết định thi hành án.
  • Đối với trường hợp người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người đang chấp hành án phạt tù dưới 18 tuổi thì phải có các tài liệu để chứng minh.
  • Văn bản đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

 
Cần lưu ý:
Thứ nhất: Văn bản, tài liệu thể hiện việc chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nộp án phí là các văn bản, tài liệu như:
Các biên lai, hóa đơn, chứng từ, Quyết định miễn hình phạt tiền, miễn nộp án phí của Tòa án, Quyết định đình chỉ thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, văn bản thỏa thuận của người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại về việc không phải thi hành khoản nghĩa vụ dân sự theo bản án, Quyết định của Tòa án được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc cơ quan thi hành án dân sự đang thụ lý vụ việc đó xác nhận hoặc các văn bản, tài liệu khác thể hiện việc trên.
 
Thứ hai: Đối với trường hợp người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người đang chấp hành án phạt tù dưới 18 tuổi thì phải có một trong các tài liệu chứng minh sau:
Tài liệu chứng minh người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc thân nhân của người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng. Trường hợp có thân nhân là người có công với cách mạng phải có giấy xác nhận hoặc bản sao giấy tờ chứng minh có thân nhân là người có công với cách mạng được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc đơn vị nơi người đó đã công tác, học tập xác nhận. Trường hợp là con nuôi hợp pháp của người có công với cách mạng thì phải có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trước thời điểm người đó phạm tội;
Bản sao giấy khai sinh hoặc bản trích sao phần bản án để xác định phạm nhân là người đủ 70 tuổi trở lên;
Giấy xác nhận khuyết tật để xác định phạm nhân là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng (theo quy định của pháp luật về người khuyết tật);
Bản sao giấy khai sinh hoặc giấy chứng sinh để xác định nữ phạm nhân có con dưới 36 tháng tuổi;
Bản sao giấy khai sinh hoặc bản trích sao phần bản án để xác định phạm nhân là người đang chấp hành án phạt tù dưới 18 tuổi;
 
Thứ ba: Mốc thời gian để xác định thời gian thực tế đã chấp hành án phạt tù được tính đến ngày họp Hội đồng xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của trại giam, trại tạm giam, ngày họp xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân.
Trên đây là quy định của pháp luật về chủ thể lập hồ sơ cũng như các giấy tờ, tài liệu cần có trong hồ sơ đề nghị tha tù trước thười hạn có điều kiện.
 
Cơ sở pháp lý:

  • Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
  • Thông tư liên tịch số: Số: 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC

Một số hạn chế, bất cập về Hoãn chấp hành hình phạt tù

1. Quy định về Hoãn chấp hành hình phạt tù:

Ngày 27/6/1985, Quốc hội khóa VII thông Bộ luật Hình sự (BLHS) đâu tiên của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây cũng là bộ luật đầu tiên quy định về Hoãn chấp hành hình phạt tù trong hệ thống pháp luật hình sự; tuy nhiên, quy định về Hoãn chấp hành hình phạt tù chỉ áp dụng đối với người phạm tội là quân nhân; đồng thời, với việc chưa đưa ra các tình tiết, khái niệm cụ thể nên quy định về Hoãn chấp hành hình phạt tù có nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau trong hoạt động tố tụng.
Xuất phát từ tính nhân đạo, nhân văn, đảm bảo quyền con người, quyền công dân, khắc phục những hạn chế về cách hiểu, áp dụng quy định Hoãn chấp hành hình phạt tù tại BLHS năm 1985; Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988 ra đời đã mở rộng đối tượng được áp dụngcũng như quy định rõ ràng các tình tiết, trường hợp được Hoãn chấp hành hình phạt tù, song lại đặt tên gọi Hoãn chấp hành hình phạt tù thành “Hoãn chấp hành án phạt tù” (HCHAPT), cụ thể:
 

Điều 231. Hoãn thi hành án phạt tù.
Đối với người bị kết án đang được tại ngoại, Chánh án Toà án có thể tự mình hoặc theo đề nghị của Viện kiểm sát, cơ quan công an hoặc người bị kết án, cho hoãn chấp hành hình phạt trong những trường hợp sau đây:
1. Người bị kết án bị ốm nặng được hoãn chấp hành hình phạt cho đến khi sức khoẻ phục hồi;
2. Người bị kết án là phụ nữ có thai hoặc mới sinh đẻ thì được hoãn chấp hành hình phạt từ ba tháng đến một năm;
3. Người bị kết án là người lao động duy nhất trong gia đình nếu ở tù sẽ làm cho gia đình đặc biệt khó khăn, thì có thể được hoãn chấp hành hình phạt đến một năm, trừ trường hợp là phần tử nguy hiểm cho xã hội hoặc bị kết án về tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội nghiêm trọng khác;
4. Quân nhân bị kết án về một tội ít nghiêm trọng, nếu do nhu cầu chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu mà được người chỉ huy từ cấp trung đoàn trở lên đề nghị thì có thể được hoãn chấp hành hình phạt từ sáu tháng đến một năm.

Đến BLHS năm 1999, BLTTHS năm 2003, Luật Thi hành án hình sự năm 2010 và đặc biệt BLHS năm 2015 (sửa đổi năm 2017 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018), quy định về HCHAPT tiếp tục được hoàn thiện cho phù hợp với Hiến pháp (đảm bảo quyền con người, quyền công dân), tạo cơ sở pháp lý nhằm phân biệt quy định Hoãn chấp hành hình phạt tù (đang tại ngoại) với “Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù” (đang chấp hành hình phạt tù) và được đổi tên thành Hoãn chấp hành hình phạt tù (Khoản 1, Điều 67 BLHS năm 2015); cụ thể:
 

1. Người bị xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây:
a) Bị bệnh nặng thì được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục;
b) Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi;
c) Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến 01 năm, trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
d) Bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến 01 năm.

 
Từ những quy định trên, chúng ta có thể thấy, Hoãn chấp hành hình phạt tù là quy định nêu cao quyền con người, thể hiện tính nhân đạo sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội khi họ có các điều kiện về nhân thân cần phải được Hoãn chấp hành hình phạt tù; do đó, việc hiểu đúng, áp dụng đúng và hiệu quả các quy định về Hoãn chấp hành hình phạt tù là hết sức cần thiết trong thực tiễn hiện nay, vì nó góp phần nâng cao tính nghiêm minh của pháp luật, tạo dựng lòng tin của người dân đối với hoạt động tư pháp, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người phạm tội mà Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận.
 

2. Một số bấp cập, hạn chế:

Theo BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015, có 04 trường hợp như bị bệnh nặng; phụ nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; người lao động duy nhất trong gia đình và bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng nhưng do nhu cầu công vụ thì được Hoãn chấp hành hình phạt tù. Tuy nhiên, việc hiểu và áp dụng quy định về Hoãn chấp hành hình phạt tù đối với từng trường hợp cụ thể lại có nhiều vướng mắc, bất cập, nhất là khi áp dụng BLHS năm 2015 kể từ ngày 01/01/2018.
Thứ nhất, theo điểm a Mục 7.1 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Nghị quyết 01) thì “bệnh nặng” được hiểu là “…bị bệnh đến mức không thể đi chấp hành hình phạt tù được và nếu bắt đi chấp hành hình phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ; do đó, cần thiết phải cho họ được hoãn chấp hành hình phạt tù để họ có điều kiện chữa bệnh; ví dụ: Ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ chướng, lao nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3 trở lên, suy thận độ 4 trở lên, HIV chuyển giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội và có tiên lượng xấu…”và để có cơ sở pháp lý chứng minh là “bệnh nặng”, người bị xử phạt tù phải có “kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên”; tuy nhiên hiện nay, việc hiểu “kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên” như thế nào còn nhiều cách hiểu khác nhau, có người cho rằng nội dung kết luận có trong bệnh án hoặc kết quả siêu âm, xét nghiệm hoặc cũng có người cho rằng, kết luận này là một văn bản riêng do bệnh viện cấp tỉnh hoặc người có thẩm quyền trong bệnh viện cấp tỉnh cấp. Bên cạnh đó, theo Mục 7.3 Nghị quyết 01 thì “người bị xử phạt tù bị bệnh nặng được hoãn chấp hành hình phạt tù một lần hoặc nhiều lần cho đến khi sức khỏe hồi phục” nhưng lại không có văn bản nào hướng dẫn cụ thể như thế nào là “sức khỏe được hồi phục” và do cơ quan nào xác nhận, đánh giá.
Do chưa có một hướng dẫn, quy định cụ thể nào về 02 vấn đề trên, nên trong thực tiễn có trường hợp người bị xử phạt tù bị bệnh nặng nhưng không được Hoãn chấp hành hình phạt tù với lý do không cung cấp được “kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên” theo cách hiểu, áp dụng riêng của cơ quan tiến hành tố tụng (đòi có văn bản kết luận riêng, nhưng thực tiễn, cơ quan y tế chỉ cung cấp bệnh án) hoặc có trường hợp người bị xử phạt tù lấy lý do “sức khỏe chưa được hồi phục” (mặc dù đã phục hồi) hoặc tìm kẻ hở của pháp luật (chưa quy định cơ quan xác nhận “sức khỏe được hồi phục”) mà trốn tránh trách nhiệm hình sự chấp hành án phạt tù hết lần này, đến lần khác,… làm cho bản án của Tòa án khó thực thi, quyết định của Tòa án nhân danh Nhà nước thiếu tôn trọng, pháp luật thiếu nghiêm minh và tạo hệ lụy xấu cho các đối tượng phạm tội tương tự.
 
Thứ hai, yêu cầu đối với người bị xử phạt tù phải có “kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên” là bị “bệnh nặng” mới được Hoãn chấp hành hình phạt tù trong một số trường hợp cụ thể lại rất khó thực thi; ví dụ như : Người bị xử phạt tù đang trong thời gian chờ thi hành án không may bị tai nạn giao thông hoặc đột quỵ, bị tai biến mạch máu não nằm một chỗ, lại không còn người thân, gia đình rất khó khăn về tài chính, không thuộc đối tượng bảo hiểm y tế chi trả, từ gia đình đến bệnh viện tuyến tỉnh hàng trăm km thì việc nằm viện tuyến tỉnh là rất khó; nhưng nếu không nằm tuyến tỉnh thì không có điều kiện Hoãn chấp hành hình phạt tù. Đây là một vấn đề tưởng chừng hy hữu nhưng lại xảy ra trong thực tế.
 
Thứ ba, hiện nay xung quanh quy định: “Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi” (tại điểm b Khoản 1 Điều 67 BLHS năm 2015) có 03 quan điểm áp dụng không thống nhất giữa các địa phương và cơ quan tiến hành tố tụng, gây khó khăn cho công tác theo dõi thi hành án phạt tù:
– Có người cho rằng, đây là quy định cho phép phụ nữ bị xử phạt tù được phép Hoãn chấp hành hình phạt tù từ lúc có thai đến lúc con của họ được 36 tháng tuổi;
– Ngược với quan điểm trên, có người lại cho rằng, cần tách 02 nội dung “có thai” và “nuôi con dưới 36 tháng tuổi” để thấy hiểu quy định này một cách công bằng; đó là quy định việc Hoãn chấp hành hình phạt tù đối với trường hợp “ có thai” riêng và “đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi” riêng; vì cho rằng trong thực tiễn có trường hợp người phụ nữ bị xử phạt tù lúc đầu có thai, song sau đó vì lý do nào đó bị sảy thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng đột nhiên con chết (không còn điều kiện để được Hoãn chấp hành hình phạt tù); do đó, nếu quy định như quan điểm thứ nhất thì thiếu tính chặt chẽ, đôi khi buông lỏng, thiếu công bằng, người phạm tội lẫn trách nhiệm chịu hình phạt tù trong khi họ có điều kiện chấp hành hình phạt tù.
– Ý kiến khác lại cho rằng, vẫn áp dụng như quan điểm thứ nhất; tuy nhiên, Tòa án cần cho phép Hoãn chấp hành hình phạt tù từng năm một cho đến khi con của người được Hoãn chấp hành hình phạt tù được 36 tháng tuổi để tiện theo dõi, quản lý công tác thi hành án phạt tù (trường hợp này vẫn khắc phục được những vướng mắc như quan điểm thứ hai đã nêu).
Với quan điểm người viết, thì ý kiến thứ hai có nhiều điểm phù hợp; bởi vì, theo quan điểm thứ nhất và thứ ba, không thể khắc phục được tình trạng người phụ nữ bị xử phạt tù lợi dụng “có thai” và “nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi” để được Hoãn chấp hành hình phạt tù nhiều lần như: Trường hợp người phụ nữ lúc bị xử phạt tù “có thai” (được Hoãn chấp hành hình phạt tù); tuy nhiên, sau đó sảy thai lại tiếp tục “có thai” (tiếp tục được Hoãn chấp hành hình phạt tù) hoặc trường hợp “nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi” (được Hoãn chấp hành hình phạt tù) thì con chết lại tiếp tục “có thai” và “nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi” (tiếp tục được Hoãn chấp hành hình phạt tù).
 
Thứ tư, khái niệm về “lao động chính” (hiểu là có nhiều người lao động, nhưng có một người lao động mang lại thu nhập chính cho gia đình)  và “lao động duy nhất” (hiểu là chỉ có một người lao động và chỉ người lao động này mang lại thu nhập cho gia đình mà không còn người nào khác) tuy khác nhau, nhưng vì chưa được quy định cụ thể, rõ ràng trong pháp luật hình sự cho nên một số nơi vẫn cố tình hiểu hai khai niệm này là một, tạo cơ hội cho một số người phạm tội né trách trách nhiệm hình phạt tù.
Mặt khác, một số trường người bị xử phạt tù là “lao động duy nhất” được Hoãn chấp hành hình phạt tù một lần hoặc nhiều lần nhưng tổng thời gian hoãn đã quá một năm nhưng họ có con duy nhất đã thành niên bị tâm thần, gia đình không còn người thân thích nào khác để giao nuôi dưỡng, chăm sóc; nếu không cho phép tiếp tục Hoãn chấp hành hình phạt tù thì con duy nhất đã thành niên bị tâm thần của người bị xử phạt tù phải như thế nào, trong khi quy định về trách nhiệm, thẩm quyền của cơ quan, tổ chức cũng như thủ tục thực hiện việc đưa người bị bệnh tâm thần đã thành niên vào Trung tâm Bảo trợ xã hội chưa được luật hóa hay hướng dẫn và dẫn đến người bị xử phạt tù cũng không yên tâm chấp hành án.
 
Thứ năm, quy định “do nhu cầu công vụ” thì người bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng được Hoãn chấp hành hình phạt tù; tuy nhiên, việc hiểu, áp dụng trường hợp “do nhu cầu công vụ” rất khác nhau ở các địa phương, có nơi lạm dụng điều này để người phạm tội né trách hình phạt tù.

Những tài sản phải đăng ký theo quy định của BLDS 2015

Bộ luật dân sự hiện hành quy định về các tài sản phải đăng ký như sau:

 

Tài sản là gì?

Bộ luật dân sự 2015 giải thích tài sản bao gồm:

 

Điều 105. Tài sản
1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.

 
Qua đó, có thể hiểu tài sản bao gồm: Vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.

Trong đó, tài sản được chia thành 2 bộ phận: Tài sản là động sản và bất động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai, được quy định chi tiết như sau:

 

Điều 107- BLDS 2015 Điều 108 – BLDS 2015
Bất động sản:

  • Đất đai;
  • Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;
  • Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;
  • Tài sản khác theo quy định của pháp luật.
Tài sản hiện có:
Là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch.
Động sản:  
Là những tài sản không phải là bất động sản
Tài sản hình thành trong tương lai:

  • Tài sản chưa hình thành;
  •  Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch.

 

Như vậy theo quy định của pháp luật, bất động sản là đất đai và những thứ gắn liền với đất đai, chúng không có tính biến động. Ngoài ra bất động động sản là những thứ khác mà pháp luật có quy định cụ thể. Còn động sản là những tài sản không phải là bất động sản, chúng có tính biến động và chuyển dịch dễ dàng hơn rất nhiều. Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và bản thân đã có xác lập về sở hữu hoặc đang xác lập quyền sở hữu còn những tài sản chưa hình thành hay đã hình thành mà chưa xác lập quyền sở hữu được gọi là tài sản hình thành trong tương lai.

 

Quy định về đăng ký tài sản

 

Điều 106. Đăng ký tài sản
1. Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký tài sản.
2. Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác.
3. Việc đăng ký tài sản phải được công khai.

 

Như vậy, Bộ luật dân sự quy định việc đăng ký tài sản là bắt buộc đối với bất động sản, còn đối với động sản không bắt buộc phải đăng ký chỉ trừ những trường hợp tài sản là động sản sau đây bắt buộc phải đăng ký theo quy định của pháp luật về đăng ký tài sản:

  • Đăng ký tàu biển
  • Đăng ký phương tiện nội thủy địa
  • Đăng ký tàu cá
  • Đăng ký phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
  • Đăng ký xe, máy chuyên dùng thi công đường bộ
  • Đăng ký quyền sở hữu tàu bay
  • Đăng ký phương tiện giao thông đường sắt
  • Đăng ký di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
  • Đăng ký tài sản là vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.

Phối hợp thực hiện quy định tha tù trước thời hạn có điều kiện
Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC quy định phối hợp thực hiện quy định của Bộ luật TTHS 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện; có hiệu lực ngày 28/3/2018.
 

Theo đó, sau khi hoàn thành việc đánh giá, xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân Quý I, 06 tháng, năm theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 368 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các trại giam, trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện rà soát, lập danh sách (kèm theo hồ sơ) đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân và chuyển cho cơ quan có thẩm quyền.
Khi thực hiện chức năng kiểm sát, Viện kiểm sát có thẩm quyền phát hiện những phạm nhân đủ điều kiện tha tù trước thời hạn nhưng không được cơ quan có thẩm quyền đề nghị thì yêu cầu cơ quan đó lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện cho họ.

Lập Hội đồng thẩm định hồ sơ

Bộ Công an quy định việc thành lập và thành phần Hội đồng xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an và trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh; thành phần họp xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện; quy định thành lập và thành phần Hội đồng xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Hội đồng thẩm định hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an.
Bộ Quốc phòng quy định việc thành lập và thành phần Hội đồng xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Hội đồng thẩm định hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng.

Xử lý phạm nhân vi phạm

Trường hợp phạm nhân đã được đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện mà vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ bị xử lý kỷ luật từ khiển trách trở lên trước khi có Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án, thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải kịp thời có văn bản (kèm theo hồ sơ kỷ luật) báo cáo Thủ trưởng Cơ quan thẩm định hoặc Thủ trưởng Cơ quan xét, đề nghị, Tòa án có thẩm quyền quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện và Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án để loại phạm nhân đó ra khỏi danh sách đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Trường hợp phạm nhân đã có Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án nhưng chưa công bố mà vi phạm Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ bị xử lý kỷ luật từ khiển trách trở lên, thì cơ quan lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện kịp thời có văn bản (kèm theo hồ sơ kỷ luật) đề nghị Tòa án đã ra Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện xem xét, giải quyết theo thẩm quyền, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án để thực hiện chức năng kiểm sát theo quy định của pháp luật.

Thi hành Quyết định của Tòa án

Trại giam, trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tổ chức công bố công khai Quyết định của Tòa án về tha tù trước thời hạn có điều kiện cho toàn thể phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ biết; cấp Giấy chứng nhận tha tù trước thời hạn có điều kiện và tha phạm nhân có Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được tha tù về cư trú lập hồ sơ thi hành Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện và giao cho Công an cấp xã để tham mưu giúp UBND cấp xã tổ chức quản lý, giám sát và giáo dục người được tha tù.
Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện về làm việc lập hồ sơ thi hành Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện và giao cho đơn vị quân đội nơi người được tha tù có điều kiện về làm việc để tổ chức quản lý, giám sát và giáo dục người được tha tù. Chỉ những người được tha tù trước thời hạn có điều kiện trước khi phạm tội do quân đội trực tiếp quản lý mới giao cho đơn vị quân đội quản lý, giám sát, giáo dục.
Công an cấp xã có trách nhiệm tham mưu giúp UBND cấp xã tiếp nhận, quản lý, bổ sung tài liệu hồ sơ thi hành Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, phân công người trực tiếp quản lý, giám sát, giáo dục người được tha tù và tổ chức quản lý, giám sát, giáo dục người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.

Quy định mới nhất về chế độ thăm gặp phạm nhân?

Hiện nay có rất nhiều câu hỏi gửi về cho văn phòng với nội dung:

  • Chế độ gặp thân nhân của phạm nhân như thế nào?
  • Ai là người được thăm gặp phạm nhân?
  • Thời gian thăm gặp phạm nhân tối đa là bao lâu?

Câu hỏi của các bạn, đội ngũ biên tập của văn phòng xin trả lời như sau:
 

1. Chế độ gặp thân nhân của phạm nhân:

Theo quy định tại điều 46, Luật thi hành án hình sự năm 2010 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010, quy đinh về chế độ gặp thân nhân của phạm nhân thì:
 

Điều 46. Chế độ gặp thân nhân, nhận quà của phạm nhân
Phạm nhân được gặp thân nhân một lần trong 01 tháng, mỗi lần gặp không quá 01 giờ, trường hợp đặc biệt thì được kéo dài thời gian nhưng không quá 03 giờ. Phạm nhân được khen thưởng thì được gặp thân nhân thêm một lần trong 01 tháng. Phạm nhân chấp hành nghiêm chỉnh nội quy, quy chế trại giam hoặc lập công thì được gặp vợ hoặc chồng ở phòng riêng không quá 24 giờ. Trường hợp đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác có đề nghị được gặp phạm nhân thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, giải quyết.

 
Quy định trên được hướng dẫn cụ thể bởi điều 3, Thông tư 07/2018//TT-BCA của Bộ trưởng Bộ Công an quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, đồ vật và liên lạc điện thoại với nhân thân có hiệu lực từ ngày 29 tháng 03 năm 2018 như sau:
 

Điều 3. Chế độ gặp thân nhân
Phạm nhân được gặp thân nhân theo quy định tại khoản 1, Điều 46 Luật Thi hành án hình sự, trừ trường hợp đang bị kỷ luật quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 38 Luật Thi hành án hình sự không được gặp thân nhân. Những phạm nhân chấp hành tốt Nội quy của cơ sở giam giữ; tích cực học tập, lao động hoặc để thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật thì được kéo dài thời gian thăm gặp nhưng không quá 3 (ba) giờ. Phạm nhân là người dưới 18 (mười tám) tuổi được gặp thân nhân theo quy định tại Điều 53 Luật Thi hành án hình sự.
Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải tổ chức cho phạm nhân gặp thân nhân vào tất cả các ngày trong tuần, kể cả ngày nghỉ, ngày Lễ, Tết. Thời gian tổ chức cho phạm nhân gặp thân nhân trong ngày do Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện quyết định theo giờ làm việc của đơn vị.
Khi phạm nhân gặp thân nhân được kéo dài thời gian thăm gặp không quá 3 (ba) giờ, gặp vợ hoặc chồng ở phòng riêng không quá 24 (hai bốn) giờ, căn cứ điều kiện cụ thể, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, quyết định có thể cho phạm nhân ăn cơm cùng thân nhân tại căng tin nhà thăm gặp trong thời gian 60 phút (mỗi lần không quá 3 (ba) người). Ngoài ra, khi tổ chức Hội nghị gia đình phạm nhân; hoặc trường hợp đặc biệt, do yêu cầu của công tác giáo dục, cần có sự phối hợp, tác động của gia đình để giáo dục phạm nhân; hoặc những phạm nhân có 2 (hai) quý liền kề ở thời điểm xét duyệt được xếp loại Tốt; hoặc lập công thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có thể xem xét, quyết định cho phạm nhân ăn cơm cùng thân nhân. Việc tổ chức cho phạm nhân ăn cơm cùng thân nhân phải kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ, bảo đảm tuyệt đối an toàn cơ sở giam giữ, quản lý chặt chẽ phạm nhân, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và an toàn cho thân nhân phạm nhân.

 
Theo quy định trên thì:

  • Phạm nhân được gặp thân nhân 01 tháng 01 lần, (trừ trường hợp vi phạm nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ đang bị giam tại buồng kỷ luật). Mỗi lần gặp thân nhân không quá 1 giờ. Phạm nhân chấp hành tốt nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, tích cực học tập, lao động hoặc để thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật thì Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện cho phép kéo dài thời gian thăm gặp nhưng không được quá 03 giờ;
  • Phạm nhân là người chưa thành niên được gặp thân nhân 01 tháng không quá 03 lần, mỗi lần gặp không quá 03 giờ; nếu chấp hành tốt nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, tích cực học tập, lao động hoặc để thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật thì được kéo dài thời gian thăm gặp nhưng không được quá 24 giờ;
  • Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải tổ chức cho phạm nhân được gặp thân nhân theo chế độ gặp vào tất cả các ngày trong tuần kể cả ngày nghỉ, ngày lễ, Tết. Thời gian thăm gặp trong ngày tùy thuộc vào thời gian thăm gặp của đơn vị;
  • Khi phạm nhân được kéo dài thời gian thăm gặp thân nhân thì căn cứ điều kiện cụ thể, Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, quyết định có thể cho phạm nhân ăn cơm cùng thân nhân tại căng tin nhà thăm gặp trong thời gian 60 phút (mỗi lần không quá 03 người). Ngoài ra, khi tổ chức Hội nghị gia đình phạm nhân; hoặc trường hợp đặc biệt, do yêu cầu của công tác giáo dục, cần có sự phối hợp, tác động của gia đình để giáo dục phạm nhân; hoặc những phạm nhân có 2 (hai) quý liền kề ở thời điểm xét duyệt được xếp loại Tốt; hoặc lập công thì Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có thể xem xét, quyết định cho phạm nhân ăn cơm cùng thân nhân. Đây là một điểm mới trong chế độ thăm gặp thân nhân của phạm nhân, thể hiện tính nhân đạo trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta.

 

2. Ai là người được thăm gặp phạm nhân?

Theo quy định tại điều 4, thông tư 07/2018/TT-BCA của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, đồ vật và liên lạc điện thoại với thân nhân có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29 tháng 3 năm 2018 quy định về đối tượng được thăm gặp phạm nhân:
 

Điều 4. Đối tượng được thăm gặp phạm nhân
Đối tượng được thăm gặp phạm nhân gồm: Ông, bà nội; ông, bà ngoại; bố, mẹ đẻ; bố, mẹ vợ (hoặc chồng); bố, mẹ nuôi hợp pháp; vợ hoặc chồng; con đẻ, con dâu, con rể, con nuôi hợp pháp; anh, chị, em ruột, dâu, rể; anh, chị em vợ (hoặc chồng); cô, dì, chú, bác, cậu, cháu ruột. Mỗi lần đến thăm gặp phạm nhân tối đa không quá 3 (ba) người.
Cá nhân, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc thân nhân khác ngoài những người được quy định tại khoản 1 điều này được thăm gặp phạm nhân nếu Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xét thấy phù hợp với lợi ích hợp pháp của phạm nhân và yêu cầu công tác phòng, chống tội phạm, quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân.

 
Theo quy định trên thì:

  • Đối tượng là thân nhân được thăm gặp phạm nhân bao gồm: Ông, bà nội; ông, bà ngoại; bố, mẹ đẻ; bố, mẹ vợ ; bố, mẹ nuôi hợp pháp; vợ hoặc chồng; con đẻ, con dâu, con rể, con nuôi hợp pháp; anh, chị, em ruột, dâu, rể; anh, chị em vợ; cô, dì, chú, bác, cậu, cháu ruột. Mỗi lần đến thăm gặp phạm nhân tối đa không quá 03 người;
  • Ngoài các đối tượng nêu trên thì phạm nhân còn có thể được gặp đại diện các cơ quan, tổ chức hoặc thân nhân khác nếu Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xét thấy phù hợp với lợi ích hợp pháp của phạm nhân cũng như yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân.

 
Trên đây là một số quy định của pháp luật về chế độ thăm gặp thân nhân, đối tượng được thăm gặp cũng như thời gian thăm gặp phạm nhân. Nếu có gì thắc mắc bạn đọc có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được tư vấn cụ thể./.

Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
Điều 54. Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.
2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.
3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.
Nếu so sánh quy định này với quy định cũ tại Điều 47 BLHS 1999 thì Bộ Luật mới đã thêm trường hợp quy định tại khoản 2 và mở rộng hơn việc áp dụng (không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề) đối với người phạm tội lần đầu với vai trò là người giúp sức và việc đóng góp không đáng kể. Bên cạnh đó quy định mới cũng tách ra làm 3 Khoản rất rõ rệt, dễ đọc dễ nắm bắt hơn so với quy định cũ khi tất cả nội dung dồn vào một đoạn mà không có sự chia tách để đảm bảo tính truyền đạt nội dung quy phạm.
Trước tiên chúng ta cần phân tích để hiểu hơn về Điều luật trên. Quá trình để tuyên một Bán án hình sự rất dài dòng, phức tạp tuy nhiên để dễ hiểu, tôi sẽ nêu một cách vắn tắt nhất.

  • Bước 1: Định tội (xem bị cáo phạm tội gì)
  • Bước 2: Định khung hình phạt (xem bị cáo sẽ thuộc khung hình phạt nào của tội đó)
  • Bước 3: Định lượng hình phạt (xem bị cáo bị phạt ở mức cụ thể là bao nhiêu (tiền, năm tù, v.v…)

Trong 3 bước này thì bước 2 là bước mà chúng ta sẽ quan tâm vì nó có liên quan trực tiếp đến quy định tại Điều luật này, cụ thể: Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
Như vậy việc đầu tiên cần làm là phải biết khung hình phạt là gì? Đã nói đến khung là chúng ta phải nói đến một khoảng, có điểm thấp nhất và cao nhất (giống như điểm sàn và điểm trần của khung giá) và về nguyên tắc khi đã xác định được khung hình phạt thì Tòa án chỉ được tuyên hình phạt nằm trong giới hạn của khung đó, nếu không có các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì mức án được tuyên sẽ là trung bình cộng điểm thấp nhất và cao nhất, ví dụ: khung từ 3 – 7 năm thì mức tuyên trong trường hợp này là 5 năm. Nếu càng nhiều tình tiết tăng nặng thì mức án được tuyên sẽ càng tiệm cận đến trần. Trường hợp ngược lại, có càng nhiều tình tiết giảm nhẹ thì mức án sẽ càng tiệm cận đến mức sàng (tối thiểu). Tuy nhiên dù lên trần hay xuống sàn thì mức án được tuyên bắt buộc phải nằm trong giới hạn, đó là nguyên tắc. Tuy nhiên, Điều 54 là ngoại lệ khi pháp luật cho phép Tòa án quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung (lọt sàn). Pháp luật cũng giới hạn chỉ có 2 trường hợp ngoại lệ được phép áp dụng:
Trường hợp 1: Khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.
Trường hợp ngoại lệ này có 2 lưu ý, lưu ý đầu tiên là số lượng tình tiết giảm nhẹ ít nhất phải từ 2 trở lên và tình tiết đó phải là những tình tiết đã được nhà làm luật chỉ định rõ tại Khoản 1 Điều 51. Trở lại với các tình tiết giảm nhẹ chúng ta có thể thấy tại Khoản 2 Điều 51 cho phép Tòa án mở rộng thêm các tình tiết giảm nhẹ kèm theo điều kiện ghi rõ lý do trong Bản án, nhưng những tình tiết giảm nhẹ đó sẽ không có giá trị (không được tính số lượng) để quyết định áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung. Quy định này được kế thừa từ những quy định cũ, không có gì mới lạ cho thấy quan điểm của nhà làm luật không đổi, cho phép Tòa án mở rộng tình tiết giảm nhẹ nhưng cũng kiềm chế việc lạm dụng nhằm chạy án.
Lưu ý thứ hai chính là giới hạn của việc lọt sàn, chính xác là bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn. Thực ra nếu không có 2 từ nhẹ hơn thì chúng ta cũng bắt buộc phải hiểu là nhẹ hơn vì không có chuyện lọt sàn mà lại nặng hơn, tuy vậy để đảm bảo tính chính xác tường minh thì việc quy định thêm hai chữ nhẹ hơn cũng không có gì là thừa. Thêm vào đó phải là liền kề, vì có thể trong một Điều luật (về một tội phạm) có rất nhiều khung khác nhau do vậy từ liền kề giới hạn rõ độ rơi của quyết định hình phạt, không cho phép lọt qua khung liền kề đến khung kế tiếp.
Ví dụ: Điều 173. Tội trộm cắp tài sản có các khung
i) [phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù 06 tháng – 03 năm]
ii) [Phạt tù 02 – 07 năm]
iii) [Phạt tù 07 – 15 năm]
iv) [Phạt tù 12 – 20 năm]
Giả định Tòa án xác định người phạm tội thuộc khung iii) nhưng do có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 51 nên Tòa án có sử dụng quy định tại Điều Luật này để tuyên mức án nằm trong khung ii) nhưng không được xuống tới khung i)
Trường hợp 2: Người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể (không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn).
Như đã đề cập đây là trường hợp hoàn toàn mới so với quy định cũ, mới cả về trường hợp được áp dụng và mới cả về giới hạn lọt sàn. Cụ thể, nếu trường hợp 1, việc lọt sàn bắt buộc phải rơi váo khung hình phạt liền kề thì trong trường hợp này việc lọt sàn không bắt buộc phải như vậy, trở lại ví dụ phía trên nếu Tòa xác định khung hình phạt áp dụng vẫn là iii) thì khi vận dụng quy định này Tòa có thể ra quyết định phạt trong khung i) mà không bắt buộc là khung ii), lưu ý là không bắt buộc chứ không phải là không, nghĩa là Tòa vẫn có quyền tuyên quyết định phạt ở khung ii) nếu xét thấy phù hợp.
Đối tượng mà nhà làm luật hướng đến ở đây là những người đồng phạm với vai trò là người giúp sức (bản thân vai trò này đã cho thấy mức độ gây thiệt hại cho xã hội đã ít hơn nhiều so với vai trò chủ mưu, cầm đầu, tổ chức, thực hành), thêm vào đó sự giúp sức này đóng góp không đáng kể, tức mức độ gây nguy hiểm cho xã hội đã ít lại càng ít thì sẽ thuộc điều chỉnh của quy định này. Đó cũng là nguyên nhân mà việc lọt sàn không bị giới hạn ở khung liền kề và xét thấy quy định như vậy đã là khá hợp lý.
Có một vấn đề là không phải Điều luật nào cũng có nhiều khung hình phạt hoặc khung hình phạt Tòa án đang định áp dụng đã là khung hình phạt thấp nhất (không có khung liền kề nhẹ hơn) thì không thể áp dụng 2 quy định tại Khoản 1 và Khoản 2. Do đó nhà làm luật đã dự liệu luôn trường hợp này tại Khoản 3, cụ thể như sau:
Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.
Giả định trường hợp trên xảy ra thì Tòa án có 2 sự lựa chọn: Một là tuyên hình phạt dưới mức thấp nhất của khung ví dụ khung hình phạt là [03 – 07 năm tù] và đã là khung thấp nhất thì Tòa có thể tuyên dưới 03 năm hoặc chuyển sang loại hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt tiền v.v…tùy từng trường hợp cụ thể.