Tòa án có trả lại đơn khởi kiện khi đương sự không nộp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh thiệt hại?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 122 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 118 của Luật này thì Thẩm phán yêu cầu đương sự sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện. Vậy trường hợp đương sự đã sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện nhưng không nộp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh quyền và lợi ích bị xâm phạm thì Tòa án có trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 123 của Luật Tố tụng hành chính không?
 
Các nội dung liên quan:

 
Theo quy định tại khoản 2 Điều 118 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì: “Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Các tài liệu, chứng cứ khác, người khởi kiện phải tự mình bổ sung hoặc bổ sung theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án”.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì Thẩm phán chỉ được trả lại đơn khởi kiện trong những trường hợp được quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm h khoản 1 Điều 123 của Luật Tố tụng hành chính.

Điều 123. Trả lại đơn khởi kiện
1. Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong những trường hợp sau đây:
a) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện;
b) Người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ;
c) Trường hợp pháp luật có quy định về điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó;
d) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
đ) Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;
e) Người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại trong trường hợp quy định tại Điều 33 của Luật này;
g) Đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 118 của Luật này mà không được người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 122 của Luật này;
h) Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 1 Điều 125 của Luật này mà người khởi kiện không xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có lý do chính đáng.

Như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật Tố tụng hành chính thì không có quy định về trường hợp trả lại đơn khởi kiện nếu người khởi kiện không gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm.
Đối với trường hợp người khởi kiện không nộp hoặc nộp không đầy đủ kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm được xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều 118 của Luật Tố tụng hành chính. Thẩm phán không được căn cứ quy định tại điểm g khoản 1 Điều 123 của Luật Tố tụng hành chính để trả lại đơn khởi kiện. Bởi vì, điểm g khoản 1 Điều 123 của Luật Tố tụng hành chính quy định về trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện, nếu: “Đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 118 của Luật này mà không được người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 122 của Luật này”.
Trường hợp người khởi kiện không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm kèm theo đơn khởi kiện, thì Tòa án vẫn phải xem xét, thụ lý vụ án theo quy định. Trong quá trình tố tụng, trên cơ sở yêu cầu của người khởi kiện thì Tòa án yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp cho mình tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 93 của Luật Tố tụng hành chính. Trường hợp không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm thì Tòa án bác yêu cầu khởi kiện.

Bàn về các quy định mới trong tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 134 BLHS
Quy định về tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 với nhiều nội dung, tình tiết mới so với BLHS năm 1999; tuy nhiên, có một số điểm mới còn chưa được hướng dẫn cụ thể, dẫn đến khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng.
Trong đó, nội dung chính được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là cơ cấu lại số khung hình phạt, giảm từ 7 khoản xuống còn 6 khoản, thay đổi mức hình phạt của từng khung cho phù hợp với sự thay đổi của số khung, đồng thời sửa đổi, bổ sung các tình tiết định khung tăng nặng từ khoản 2 đến khoản 5, pháp điển hóa các hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2006/NQ – HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (về các tình tiết quy định tại Điều 104 BLHS 1999) nhằm đảm bảo các quy định này được rõ ràng và thống nhất khi áp dụng vào thực tiễn. Mặc dù tăng về số lượng 2 khung hình phạt so với BLHS 1999, nhưng mức hình phạt thấp nhất và cao nhất không thay đổi. Quy định mới về hành vi chuẩn bị phạm tội tại khoản 6 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
So với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 104 BLHS năm 1999 thì Điều 134 BLHS năm 2015 có nhiều điểm mới. Cụ thể, Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 đã bổ sung mới tình tiết “dùng vũ khí, vật liệu nổ; dùng a xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê, đối với người chữa bệnh cho mình”. Sửa đổi các tình tiết: “Đối với trẻ em” thành “Đối với người dưới 16 tuổi”; “phụ nữ đang có thai” thành “phụ nữ  mà biết là có thai”; “Để cản trở người thi hành công vụ” thành “Đối với người thi hành công vụ”. Trong những tình tiết mới này có một số điểm nếu như không có hướng dẫn kịp thời sẽ gặp khó khăn, vướng mắc trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cụ thể:
Thứ nhất, về quy định “Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm” tại điểm b khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015.
Việc pháp điển hóa tình tiết này là rất cần thiết trong thực tiễn đấu tranh, phòng chống tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác bằng a-xít, hóa chất. Vì trong thực tiễn, khi các đối tượng sử dụng a-xít, hóa chất tấn công  nạn nhân, tuy nạn nhân không chết nhưng làm cho nạn nhân tàn phế, tổn thương khủng khiếp về tinh thần, làm cho dư luận phẩn uất. Việc xác định dùng a-xít, hóa chất gây thương tích cho nạn nhân với tỷ lệ thương tật 61% trở lên bằng với hậu quả làm chết 02 người người, hình phạt từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân là phù hợp.
Tuy nhiên, quy định a-xít “nguy hiểm” hoặc hóa chất “nguy hiểm”sẽ gây khó khăn trong việc áp dụng. Thế nào là a-xít nguy hiểm? A-xít với hàm lượng bao nhiêu được xem là a-xít nguy hiểm hay a-xít làm bỏng da là a-xít nguy hiểm hoặc dùng a-xít, hóa chất tấn công vào vùng nào được xem là nguy hiểm? Nếu lấy hàm lượng a-xít để xác định tính nguy hiểm thì khi không thu được a-xít để giám định hàm lượng thì xử lý như thế nào?
Thứ hai, về quy định “…người già yếu…” tại điểm c khoản 1 Điều 134 BLHS 2015. Vậy người như thế nào là người già yếu? Theo hướng dẫn tại tiểu mục 2.4 Mục 2 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì “Người già” là người tử 70 tuổi trở lên, còn theo hướng dẫn tại điểm a, tiểu mục 4.1 Mục 4 Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao thì “Người quá già yếu” là người từ 70 tuổi trở lên hoặc người từ 60 tuổi trở lên nhưng thường xuyên đau ốm. Khái niệm “Người già yếu” đến nay vẫn chưa cụ thể.
Như đã nêu trên, “người già” đã được hướng dẫn rõ, nhưng thế nào là “người già yếu” thì vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của người nhận định.
Thứ ba, về quy định “…đối với người chữa bệnh cho mình…” tại điểm d khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015 sẽ gặp khó khăn trong việc áp dụng như: “Đối với người chữa bệnh cho mình” nếu được hiểu là Bác sỹ, Ý tá… đang chữa bệnh cho đối tượng thực hiện hành vi cố ý gây thương tích… Vậy, người “đã chữa bệnh cho mình”, “chuẩn bị chữa bệnh cho mình” có được xem là“đối với người chữa bệnh cho mình” hay không?
Ngoài ra, quy định này cũng không phù hợp với thực trạng tội phạm gây thương tích xảy ra đối với người làm nghề chữa bệnh. Vì trong thời gian qua, đối tượng gây thương tích cho thầy thuốc và các nhân viên y tế hầu hết đều là người thân của bệnh nhân. Hành vi gây thương tích cho người đang làm công việc cứu người đã gây phẫn nộ trong xã hội nói chung, cho những người làm nghề y nói riêng, vì vậy yêu cầu đặt ra là phải xử lý nghiêm đối với hành vi này. Tuy nhiên với quy định tại điểm d khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015 thì hành vi này không thể xử lý được.
Thứ tư, quy định về chuẩn bị phạm tội tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. theo đó, tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác là hành vi cố ý gây ra cho người khác bị thương tích hoặc tổn hại đến sức khoẻ. Thực tiễn áp dụng pháp luật, hậu quả tổn thương về sức khoẻ (được thể hiện trong kết luận giám định của cơ quan chuyên môn) là căn cứ để xác định trách nhiệm hình sự và xác định khung hình phạt đối với người phạm tội. Nạn nhân phải bị thương tích hoặc bị tổn hại đến sức khoẻ ở mức đáng kể thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự còn nếu thương tích hoặc tổn hại về sức khoẻ không đáng kể hoặc không gây ra tổn hại về sức khoẻ thì chưa phải là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015 thì người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k thì người đó mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự; còn nếu một đối tượng cố ý gây thương tích cho người khác làm giảm dưới 10% sức khoẻ nhưng không thuộc quy định tại các điểm từ a đến k khoản 1 Điều này thì hành vi của người đó không cấu thành tội phạm, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trở lại với vấn đề chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích quy định tại khoản 6 Điều 134 BLHS năm 2015. Chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích được hiểu là tìm kiếm, sửa soạn các công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để nhằm gây thương tích cho người khác, chứ chưa gây ra hậu quả trên thực tế. Như vậy, nếu so sánh trường hợp chuẩn bị phạm tội quy định tại khoản 6 với các trường hợp không cấu thành tội phạm ở khoản 1 Điều 134 thì thấy rằng các trường hợp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 134 rõ ràng nguy hiểm hơn trường hợp chuẩn bị phạm tội nhưng lại không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Để các quy định của pháp luật có tính khả thi trong thực tiễn, kết cấu của điều luật được chặt chẽ, không mâu thuẫn với các quy định khác, quan điểm cá nhân tác giả cho rằng các cơ quan chức năng cần thống nhất hướng dẫn, giải thích để áp dụng điều luật cho chính xác; đồng thời nên cân nhắc, xem xét bỏ khoản 6 của Điều 134 BLHS năm 2015 và không nên truy cứu trách nhiệm hình sự đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích. Nếu các hành vi chuẩn bị phạm tội được nêu tại khoản 6 Điều 134 BLHS năm 2015 mà đủ yếu tố cấu thành của một tội độc lập nào đó được quy định trong Bộ luật Hình sự thì sẽ áp dụng xử lý theo tội phạm đó./.
Nguồn: Tạp chí Kiểm sát
Hạn chế, bất cập trong xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật về nghĩa vụ quân sự
Thời gian gần đây, tỉ lệ thanh niên không chấp hành pháp luật nghĩa vụ tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định có chiều hướng gia tăng; tuy nhiên, việc xử lý còn chậm, thiếu tính giáo dục và răn đe, nhiều trường hợp thể hiện sự lúng túng, thậm chí bế tắc trong khâu xử lý hình sự.
Trong những năm qua, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định luôn được đánh giá là đơn vị dẫn đầu trong việc hoàn thành chỉ tiêu giao quân hàng năm; tuy nhiên gần đây, tình trạng thanh niên không chấp hành pháp luật nghĩa vụ có biểu hiện gia tăng; trong đó trường hợp không chấp hành lệnh khám sức khoẻ gia tăng đột biến, từ 128 trường hợp (năm 2018) lên 379 trường hợp (năm 2019), có trường hợp tái phạm đến 03 lần; năm 2018, có 03 xã lập hồ sơ, báo cáo kiến nghị xử lý hình sự đối với 11 trường hợp vi phạm có tính chất tái phạm, trong đó có 06 trường hợp vi phạm do không chấp hành lệnh khám sức khỏe.
Đâu là nguyên nhân?
Theo chủ thể xử phạt vi phạm hành chính cũng như các cơ quan tiến hành tố tụng cấp huyện, việc xác lập hồ sơ ban đầu để xử lý thanh niên vi phạm thuộc trách nhiệm của cấp cơ sở; tuy nhiên, do trình độ và năng lực của một số xã đội trưởng còn hạn chế nên thiếu chặt chẽ, quy trình còn thiếu nhưng không thể khắc phục được. Sự hạn chế này dẫn đến tuy hành vi vi phạm (trốn lệnh nhập ngũ) đã được quy định trong Bộ luật Hình sự nhưng thiếu sót trong khâu lập thủ tục nên không thể xử lý được; có trường hợp hồ sơ tương đối chặt chẽ nhưng hành vi vi phạm chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự dẫn đến tình trạng lúng túng, hay nói đúng hơn là bế tắc trong quá trình xử lý về hình sự, nhất là đối với các trường hợp không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe.
Việc quyết định xử phạt vi phạm hành chính nói chung, đối với hành vi không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe nói riêng, chủ thể xử phạt là chủ tịch UBND các xã, thị trấn chưa thực hiện đúng nguyên tắc về xử phạt (tính chất, mức độ; hậu quả và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ) từ đó nảy sinh tình trạng cào bằng, trung bình trong xử phạt.
Ngoài ra, quy định về xử phạt, trong đó có mức xử phạt vi phạm pháp luật nghĩa vụ quân sự đã khá lạc hậu không đáp ứng được yêu cầu phòng, chống vi phạm pháp luật. Dễ nhận thấy, sở dĩ các trường hợp bị xử phạt dù nặng hay nhẹ; dù xử phạt ở mức cao nhất hay trung bình của khung xử phạt cũng không nảy sinh tình trạng khiếu nại quyết định xử phạt. Cũng có lẽ, do mức phạt tối đa đối với hành vi không chấp hành lệnh nhập ngũ cũng chỉ 2,5 triệu đồng, chênh lệch khoản cách giữa các khung cũng chỉ 500.000đ; mức phạt tối đa đối với hành vi không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe cũng chỉ 1,2 triệu đồng, chênh lệch giữa các khung chỉ 200.000 đồng.
Có thể nói, chế tài xử phạt và khoản cách giữa các khung phạt như quy định hiện nay còn khá thấp. Có trường hợp không chấp hành lệnh khám sức khỏe 03 năm liên tục nhưng chỉ bị phạt tổng cộng 3,4 triệu đồng (cho lần xử phạt đầu tiên được đánh giá là không có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ 1 triệu đồng; cho 02 lần tiếp theo được đánh giá là tái phạm, áp dụng mức khung tăng nặng 1,2 triệu đồng/ lần); có trường hợp, năm trước bị xử phạt hành chính về hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ bị phạt 2,5 triệu đồng, năm sau đó vi phạm về hành vi không chấp hành lệnh khám sức khỏe, bị phạt 1,2 triệu đồng. Điều đó cho thấy, người vi phạm đã cố tình “lách luật” bằng cách hoặc chỉ vi phạm không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe với mức phạt thấp hơn; hoặc trốn theo kiểu “giã gạo”, nếu năm trước bị xử phạt về hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ thì năm sau không chấp hành lệnh khám sức khỏe (sẽ không bị xử lý hình sự và mức phạt sẽ thấp hơn).
Quy định về xử lý hình sự đối với các trường hợp không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe mang tính chất tái phạm thiếu tính thống nhất giữa Bộ luật Hình sự 2015 và Luật Nghĩa vụ quân sự 2015 dẫn đến ách tắc, không xử lý hình sự được. Năm 2018, UBND các xã, thị trấn đã lập thủ tục và đề nghị cơ quan cảnh sát điều tra huyện xử lý hình sự 11 trường hợp. Tuy nhiên, hầu hết các cơ quan tiến hành tố tụng đều cho rằng cơ sở xác định trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 2 Bộ luật Hình sự năm 2015 là “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Điều đó cũng có nghĩa là, chỉ được xử lý hình sự những hành vi đã được quy định trong Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 332 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữu đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”. Như vậy, đối chiếu với quy định mang tính liệt kê trên thì về mặt khách quan của tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự chỉ 03 hành vi độc lập (không đăng ký, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, không chấp hành lệnh gọi tập trung huấn luyện); hành vi không chấp hành lệnh khám sức khỏe chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015 và được hiểu là độc lập với hành vi “không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự” như quy định tại Khoản 1 Điều 332 Bộ luật Hình sự.
Trong khi đó, tại Khoản 8 Điều 3 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 quy định “Trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự là hành vi không chấp hành lệnh gọi đăng ký nghĩa vụ quân sự; lệnh gọi khám sức khoẻ nghĩa vụ quân sự; lệnh gọi nhập ngũ; lệnh gọi tập trung huấn luyện, diễn tập…”. Tại Nghị định số 13/2016/NĐ-CP ngày 19/2/2016 của Chính phủ quy định về trình tự, thủ tục đăng ký, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự thì việc sau khi công dân đăng ký, Ban chủ huy quân sự cấp giấy chứng nhận đăng ký nghĩa vụ quân sự cho công dân; Chương 2 của Nghị định quy định về trình tự, thủ tục đăng ký nghĩa vụ quân sự; tuy nhiên, việc gọi công dân khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự không được đề cập như một bước thủ tục, quy trình của sau việc đăng ký nghĩa vụ quân sự. Như vậy, việc gọi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự được thực hiện sau khi đăng ký nghĩa vụ quân sự; là bước trung gian, mang tính độc lập giữa đăng ký nghĩa vụ quân sự và gọi công dân nhập ngũ. Do đó, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự không được xem là tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”.
Cần sớm sửa đổi, bổ sung chế tài xử phạt
Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong việc thực thi pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm pháp luật nghĩa vụ quân sự, cần sớm sửa đổi, bổ sung Nghị định số 120/2013/NĐ-CP ngày 09/10/2013 của Chính phủ theo hướng nâng mức phạt tiền, tăng khoảng cách giữa các mức phạt đối với hành vi không chấp hành lệnh gọi khám sức khoẻ để bảo đảm tính răn đe.
Về xử lý hình sự đối với hành vi không chấp hành lệnh khám sức khỏe có yếu tố tái phạm, cần sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 332 Bộ luật Hình sự theo hướng liệt kê thêm hành vi không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe; đồng thời sửa đổi quy định tại Chương 2, Nghị Định số 13/2016/NĐ-CP ngày 19/2/2016 của Chính phủ quy định về trình tự, thủ tục đăng ký, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự theo hướng: Hoặc bổ sung cụm từ “và các hành vi vi phạm pháp luật nghĩa vụ quân sự khác” (bao hàm cả hành vi không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe); hoặc lấy nguyên tắc trường hợp có xung đột thì ưu tiên sử dụng luật chuyên ngành quy định trong Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 2015 để tháo gỡ vướng mắc.
Trước mắt, các cơ quan chức năng cần sớm có văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật theo Điều 332 Bộ luật Hình sự, Điều 3 Luật Nghĩa vụ quân sự về tội trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự, làm cơ sở cho việc xử lý đúng pháp luật, bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần phục vụ nhiệm vụ chính trị tại các địa phương trong cả nước nói chung, tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định nói riêng.
Vướng mắc về thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, liên quan đến thời hạn tạm giam

Sau khi đọc và nghiên cứu nội dung bài viết “Vướng mắc về biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử phúc thẩm” của Phạm Thị Thùy Dung trên Tạp chí TAND điện tử ngày 30/8/2019/, tác giả có ý kiến trao đổi về nội dung bài viết.
Trước hết chúng ta nghiên cứu thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm theo quy định tại Điều 346 BLTTHS 2015.
“1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 60 ngày; Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự Trung ương phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án.
2. Trong thời hạn 45 ngày đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu, 75 ngày đối với vụ án đối với vụ án Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự Trung ương kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định: a) Đình chỉ xét xử phúc thẩm; b) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm…”.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 347 BLTTHS 2015: “Thời hạn tạm giam để xét xử không được quá thời hạn xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 346 của Bộ luật này… Đối với bị cáo đang bị tạm giam, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa…”.
BLTTHS năm 2015 quy định về vấn đề tạm giam trong giai đoạn xét xử phúc thẩm là rất rõ. Trong thời hạn 45 ngày đối với TAND cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu, 75 ngày đối với vụ án đối với vụ án Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự Trung ương kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định: Đình chỉ xét xử phúc thẩm hoặc đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm (nghĩa là trong thời gian trong thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm).
Về vấn đề tác giả nêu ra “do yếu tố khách quan phiên tòa chưa được mở trong khi quyết định tạm giam đã hết mà Hội đồng xét xử chưa làm việc nên cũng không ra được quyết định tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa”, theo cá nhân tôi, khi chưa có quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thì không thể ra quyết định tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa được vì có thể vụ án bị đình chỉ xét xử phúc thẩm thì làm gì có phiên tòa được mở mà kết thúc.
Tuy nhiên, hiện nay còn vướng mắc về thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và liên quan đến thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử phúc thẩm. BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015 đều chưa quy định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, trong trường hợp vì lý do bất khả kháng học luật hoặc do trở ngại khách quan cũng chưa quy định Tòa án có thể mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn dài hơn, không như quy định hiện nay là: “Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm”.
Trong thực tiễn xét xử phúc thẩm cũng có những vụ án rất phức tạp hoặc có trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chưa ra được quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm hoặc khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm nhưng có yếu tố khách quan không xét xử được trong thời hạn 15 ngày, dẫn đến ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án hình sự phúc thẩm.
Nhằm hoàn thiện về thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 2, 3 Điều 346 như sau:

Điều 346: Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm
…
2. Trong thời hạn 45 ngày đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu, 75 ngày đối với vụ án đối với vụ án Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự Trung ương kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định: a) Đình chỉ xét xử phúc thẩm; b) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
Đối với vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm; trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày.

Để khắc phục được những vướng mắc về biện pháp tạm giam trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, rất mong các cơ quan pháp luật Trung ương hướng dẫn kịp thời và ý kiến trao đổi của quý độc giả.

Th.S TRẦN THANH BÀI (Thẩm phán Tòa án quân sự khu vực Thủ đô Hà Nội)

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Trách nhiệm pháp lý của hành vi vi phạm hợp đồng

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, tính hiệu quả mang lại phần lớn phụ thuộc vào thiện chí, thái độ hợp tác của các bên. Tuy nhiên, thực tế xảy ra không ít trường hợp có bên vi phạm hợp đồng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên còn lại. Vậy, hiện nay pháp luật quy định như thế nào về trách nhiệm pháp lý của hành vi vi phạm hợp?
Trước hết, hiểu một cách đơn giản, vi phạm hợp đồng là việc một bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo các quy định của pháp luật. Tạm chia thành 02 dạng:
– Vi phạm về chủ thể đối với hợp đồng đã giao kết:
Dạng vi phạm này được biểu hiện như sau:
+ Không thực hiện hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không có lý do chính đáng cho bên kia.
+ Không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng mặc dù đã hưởng các quyền lợi từ hợp đồng.
+ Không thực hiện đúng, đầy đủ các thỏa thuận đã được ghi nhận trong hợp đồng.
– Vi phạm quy định của pháp luật khi ký kết, thực hiện hợp đồng:
Dạng vi phạm này được biểu hiện như sau:
+ Giao kết hợp đồng không đúng đối tượng, chủ thể.
+ Giao kết hợp đồng không tuân thủ hình thức của hợp đồng đã được pháp luật quy định.
+ Đối tượng giao kết hợp đồng bị pháp luật cấm.
+ Hợp đồng thể hiện rõ ràng và thiếu các nội dung cơ bản của hợp đồng này.
+ Nội dung hợp đồng do các bên ký kết không bảo đảm các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, trung thực.
Khi có hành vi vi phạm hợp đồng, người vi phạm phải chịu trách nhiệm pháp lý là: (1) Bồi thườngthiệt hại và (2) Phạt vi phạm.
Chúng ta cần phân biệt 02 loại chế tài này có những điểm khác biệt cơ bản sau:

TIÊU CHÍ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI PHẠT VI PHẠM
Khái niệm Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận.(Riêng đối với hợp đồng thương mại trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 Luật Thương mại 2005 sẽ không phải chịu chế tài phạt vi phạm.)
Mục đích áp dụng Khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây nên Ngăn ngừa các vi phạm có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng
Căn cứ phát sinh Phát sinh khi có đủ 3 yếu tố:– Có hành vi vi phạm hợp đồng;
– Có thiệt hại thực tế xảy ra;
– Có mối quan hệ nhân quả: Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.
=>Cho dù các bên có thỏa thuận hay không, thì khi xảy ra thiệt hại, bên gây thiệt hại vẫn phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
– Có thỏa thuận;– Có hành vi vi phạm hợp đồng
=>Việc phạt vi phạm chỉ đặt ra nếu có sự thỏa thuận của các bên chủ thể trong hợp đồng. Nếu trong hợp đồng không có ghi nhận về vấn đề phạt vi phạm thì bên bị vi phạm không có quyền yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng đối với bên vi phạm.
Mức chế tài áp dụng Bồi thường toàn bộ thiệt hại, bao gồm:– Giá trị tổn thất trực tiếp và;
– Khoản lợi trực tiếp đãng lẽ được hưởng.
Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác:
– Do các bên chủ thể thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
– Thiệt hại gây ra không do lỗi của bên gây thiệt hại mà là do lỗi của bên bị thiệt hại.
– Thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng.
>>> Đối với hợp đồng dân sự:Mức phạt vi phạm hợp đồng do các bên tự do thỏa thuận (không bị khống chế mức tối đa)
Thỏa thuận phạt vi phạm được quy định tại Điều 418 Bộ luật dân sự 2015, theo đó, phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên hocluat trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác
>>> Đối với mức phạt hợp đồng thương mại:
Theo Điều 301 Luật Thương mại 2005, theo đó, mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này quy định về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại trong trường hợp kết quả giám định sai.
>>> Đối với mức phạt hợp đồng xây dựng:
Theo khoản 2 Điều 146 Luật xây dựng 2014 thì:“ Đối với công trình xây dựng sử dụng vốn nhà nước, mức phạt hợp đồng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm. Ngoài mức phạt theo thỏa thuận, bên vi phạm hợp đồng còn phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, bên thứ ba (nếu có) theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan khác”.
Quan hệ giữa hai chế tài >>> Đối với hợp đồng dân sự:–  Có thể chỉ thỏa thuận áp dụng chế tài phạt vi phạm;
– Có thể thỏa thuận áp dụng đồng thời hai chế tài;
– Có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm vừa phải bồi thường thiệt hại thì chỉ được áp dụng chế tài phạt vi phạm.
>>> Đối với hợp đồng thương mại:
– Không có thỏa thuận phạt vi phạm thì chỉ có quyền đòi yêu cầu bồi thường thiệt hại;
– Có thỏa thuận phạt vi phạm thì có thể áp dụng cả hai chế tài.

 

Màu mực chữ ký trên hợp đồng, hóa đơn, chứng từ kế toán

Chữ ký sẽ quyết định một phần tính hợp pháp của hợp đồng, hóa đơn hoặc chứng từ kế toán. Đặc biệt, màu mực chữ ký cũng sẽ ảnh hưởng tới giá trị của những loại giấy tờ này.

Màu mực chữ ký trong hợp đồng, văn bản

Khi ký văn bản không dùng bút chì; không dùng mực đỏ hoặc các thứ mực dễ phai (theo khoản 5 Điều 10 Nghị định 110/2004/NĐ-CP về công tác văn thư).
Quy định này áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức Nhà nước, tuy nhiên, qua đây có thể gián tiếp suy ra, trừ mực đỏ, các loại mực dễ phai hoặc bút chì thì có thể tùy chọn màu mực để ký hợp đồng, văn bản.
Tuy nhiên, cũng không nên dùng mực màu đen để tránh trùng với màu mực in, photo nhằm hạn chế bị giả mạo. Theo đó, tốt nhất nên dùng mực xanh để ký hợp đồng, văn bản.

Chữ ký trên hóa đơn, chứng từ kế toán

Chứng từ kế toán là những giấy tờ và vật mang tin phản ánh nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và đã hoàn thành, làm căn cứ ghi sổ kế toán (khoản 3 Điều 3 Luật Kế toán 2015).
Trong đó, hóa đơn là chứng từ kế toán do tổ chức, cá nhân bán hàng, cung cấp dịch vụ lập, ghi nhận thông tin bán hàng, cung cấp dịch vụ.
Chứng từ kế toán phải có đủ chữ ký theo chức danh quy định trên chứng từ. Chữ ký phải được ký bằng loại mực không phai.
Tuyệt đối, không được ký chứng từ kế toán bằng mực màu đỏ hoặc đóng dấu chữ ký khắc sẵn.
Đồng thời, điểm b khoản 1 Điều 16 Thông tư 39/2014/TT-BTC cũng nêu, nội dung trên hóa đơn phải đúng nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh; không được tẩy xóa, sửa chữa; phải dùng cùng màu mực, loại mực không phai, không sử dụng mực đỏ…
Như vậy, chữ ký trên hóa đơn, chứng từ kế toán không được dùng mực màu đỏ, mực dễ phai.
Trường hợp ký chứng từ kế toán bằng mực màu đỏ, mực phai màu sẽ bị phạt tiền từ 3 – 5 triệu đồng (điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị định 41/2018/NĐ-CP).

Nguồn: Luatvietnam.vn

Có bắt buộc phải làm thẻ Căn cước công dân không?

Thẻ Căn cước công dân được cấp từ năm 2016 và tồn tại đồng thời cùng với Chứng minh nhân dân 9 số, 12 số. Điều này khiến không ít băn khoăn có bắt buộc phải làm thẻ căn cước thay cho chứng minh nhân dân không?

Căn cước công dân dùng để làm gì?

Giống với Chứng minh nhân dân, thẻ Căn cước công dân được cấp cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi và là giấy tờ tùy thân có giá trị chứng minh về căn cước công dân của người được cấp thẻ để thực hiện các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam (khoản 1 Điều 20 Luật Căn cước công dân).
Đặc biệt, thẻ Căn cước công dân còn được sử dụng thay cho hộ chiếu trong trường hợp Việt Nam và nước ngoài ký kết điều ước hoặc thỏa thuận quốc tế cho phép công dân nước ký kết được sử dụng thẻ Căn cước công dân thay cho hộ chiếu.
Ngoài ra, Căn cước công dân được xuất trình khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu để kiểm tra về căn cước.
Lưu ý: Khi công dân xuất trình thẻ Căn cước công dân thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không được yêu cầu xuất trình thêm giấy tờ khác chứng nhận các thông tin trong thẻ Căn cước.

Khi nào phải đổi sang thẻ căn cước?

Theo khoản 2 Điều 38 Luật Căn cước công dân 2014, Chứng minh nhân dân đã được cấp trước ngày 01/01/2016 vẫn có giá trị sử dụng đến hết thời hạn theo quy định; khi công dân có yêu cầu thì được đổi sang thẻ Căn cước công dân.
Như vậy, không bắt buộc phải đổi Chứng minh nhân dân sang thẻ Căn cước công dân.
Chỉ bắt buộc phải làm thẻ Căn cước công dân khi Chứng minh nhân dân hết hạn sử dụng (15 năm kể từ ngày cấp). Khi làm thủ tục cấp đổi Chứng minh nhân dân hết hạn sẽ được cấp mới thẻ căn cước.
Trường hợp công dân có yêu cầu thì cũng được đổi sang thẻ Căn cước công dân.

Cách xử lý khi diện tích thực tế khác so với Sổ đỏ

Diện tích thực tế nhỏ hoặc lớn hơn so với Sổ đỏ khá phổ biến, mà nguyên nhân chủ yếu là do đo đạc bằng tay hoặc do lấn, chiếm. Dưới đây là cách xử lý khi diện tích thực tế khác so với Sổ đỏ.

Căn cứ:
– Luật Đất đai 2013;
– Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đất đai 2013;
– Nghị định 01/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các Nghị định hướng dẫn Luật Đất đai.

Diện tích thực tế khác với Sổ đỏ có ảnh hưởng gì?

Với người được miễn thuế, tiền sử dụng đất thì diện tích thực tế nhỏ hoặc lớn hơn diện tích trong Sổ đỏ thì không ảnh hưởng nhiều đến quyền, nghĩa vụ của họ. Tuy nhiên, với người phải nộp thuế sử dụng đất (thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế sử dụng đất nông nghiệp) hoặc khi chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế quyền sử dụng đất thường gặp phải những vấn đề sau:
1. Phải đóng nhiều tiền hơn trong quá trình sử dụng đất
Khi sử dụng đất thì phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp hoặc thuế sử dụng đất phi nông nghiệp tùy vào từng loại đất. Nếu diện tích thực tế nhỏ hơn trong Sổ đỏ nhưng nộp thuế thì tính theo diện tích trong Sổ (nộp nhiều hơn).
2. Có thể dẫn tới tranh chấp khi chuyển nhượng
– Thông thường khi chuyển nhượng đất có 02 phương thức tính giá gồm: Giá tính theo thửa hoặc giá tính theo m2. Mặt khác, không phải ai khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng tuân thủ quy định về đăng ký biến động đất đai (sang tên Sổ đỏ) tại cơ quan Nhà nước nên sẽ không được đo đạc lại.
– Khi chuyển nhượng xong vì không tự đo đạc trước hoặc do thỏa thuận giá theo thửa nên thường xảy ra tranh chấp nếu diện tích thực tế nhỏ hơn so với Sổ đỏ.
3. Diện tích thực tế nhiều hơn nhưng không được cấp Sổ đỏ
– Giá trị của thửa đất có Sổ đỏ lớn hơn rất nhiều so với thửa đất không được cấp Sổ đỏ. Nếu diện tích thực tế lớn hơn diện tích trong Sổ đỏ nhưng không được chứng nhận thì người sử dụng đất sẽ mất quyền, lợi ích của mình, nhất là khi chuyển nhượng (bán).

Cách xử lý khi diện tích thực tế khác so với Sổ đỏ

Khoản 5 Điều 98 Luật Đất đai 2013 quy định:
– “Trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này hoặc Giấy chứng nhận đã cấp mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề thì khi cấp hoặc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế. Người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch nhiều hơn nếu có.
– Trường hợp đo đạc lại mà ranh giới thửa đất có thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất và diện tích đất đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì phần diện tích chênh lệch nhiều hơn (nếu có) được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Điều 99 của Luật này”.
Theo quy định trên, diện tích thực tế khác với diện tích trong Sổ đỏ thuộc một trong hai trường hợp sau:
Trường hợp 1: Diện tích thực tế nhỏ hơn diện tích trong Sổ đỏ
Trường hợp diện tích đo đạc thực tế nhỏ hơn so với:
– Sổ đỏ (trường hợp đã được cấp Sổ đỏ);
– So với giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai 2013 (trường hợp đủ điều kiện cấp nhưng chưa được cấp Sổ đỏ), cụ thể:
+ Giấy tờ về quyền sử dụng đất;
+ Bản án, quyết định của tòa án;
+ Quyết định thi hành án;
+ Quyết định công nhận hòa giải thành;
+ Quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo;
+ Quyết định giao đất, cho thuê đất từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2014.
=> Khi cấp Sổ đỏ lần đầu hoặc cấp đổi Sổ đỏ thì công nhận theo diện tích thực tế.
Trường hợp 2: Diện tích thực tế lớn hơn diện tích trong Sổ đỏ
– Diện tích thực tế lớn hơn so với Sổ đỏ hoặc giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai 2013 mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề thì được công nhận theo diện tích thực tế và không phải nộp tiền sử dụng đất.
– Diện tích thực tế lớn hơn so với giấy tờ về quyền sử dụng đất mà ranh giới thửa đất có thay đổi so với ranh giới tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì phần diện tích chênh lệch nhiều hơn được xem xét cấp Sổ đỏ.
Xem chi tiết tại: Cấp Sổ đỏ cho diện tích tăng thêm.
Theo quy định khi phát hiện diện tích thực tế khác với Sổ đỏ, người sử dụng đất có quyền yêu cầu cấp đổi Sổ đỏ theo thủ tục sau:
Thủ tục cấp đổi Sổ đỏ:
Theo điểm c khoản 1 Điều 76 Nghị định 43/2014/NĐ-CP khi đo đạc xác định lại diện tích thì được cấp đổi Sổ đỏ theo thủ tục dưới đây:
1. Chuẩn bị hồ sơ
– Đơn đề nghị cấp đổi Sổ đỏ theo Mẫu số 10/ĐK;
– Bản gốc Sổ đỏ đã cấp;
Ngoài ra, khi nộp hồ sơ thì xuất trình thêm chứng minh thư nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân.
2. Trình tự thực hiện
Bước 1. Nộp hồ sơ
– Nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) hoặc Bộ phận một cửa với nơi đã tổ chức Bộ phận một cửa.
Nơi chưa tổ chức Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Bộ phận một cửa thì nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện.
– Hộ gia đình, cá nhân nộp hồ sơ tại UBND cấp xã (xã, phường, thị trấn) nơi có đất nếu có nhu cầu.
Bước 2. Tiếp nhận hồ sơ
– Cơ quan tiếp nhận hồ sơ ghi đầy đủ thông tin vào sổ tiếp nhận hồ sơ và trao Phiếu tiếp nhận cho người nộp hồ sơ.
Bước 3. Giải quyết
Bước 4. Trả kết quả
Thời hạn giải quyết:
– Không quá 07 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; không quá 17 ngày đối với các xã miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.
– Thời gian này không tính thời gian các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật; không tính thời gian tiếp nhận hồ sơ tại cấp xã.
Kết luận:
– Diện tích thực tế khác so với Sổ đỏ thì được công nhận theo diện tích thực tế nếu diện tích chênh lệch đó không phải do thay đổi ranh giới thửa đất.
– Diện tích thực tế khác so với Sổ đỏ do thay đổi ranh giới thửa đất thì không được cấp Sổ đỏ với diện tích đó (vì do lấn, chiếm), chỉ được xem xét cấp Sổ đỏ nếu diện tích thực tế khác với giấy tờ về quyền sử dụng đất.
(Diện tích thực tế khác với Sổ đỏ, giấy tờ về quyền sử dụng đất mà do lỗi của cơ quan Nhà nước thì được công nhận, nếu do lỗi của người sử dụng đất thì chỉ được xem xét cấp Sổ đỏ, nếu đã có Sổ đỏ mà có hành vi thay đổi ranh giới như lấn, chiếm thì bị xử lý).
– Khi người dân phát hiện diện tích thực tế khác so với Sổ đỏ thì có quyền đề nghị cấp đổi Sổ đỏ.

Nguồn: Hocluat.vn

Có phải trả lại thẻ bảo hiểm y tế khi nghỉ việc?

Có nhiều vấn đề cần được quan tâm khi người lao động nghỉ việc, trong đó, không thể bỏ qua sổ bảo hiểm xã hội và thẻ bảo hiểm y tế. Liệu đồng thời với việc nhận sổ BHXH thì người lao động phải trả lại thẻ BHYT cho doanh nghiệp?

3 trường hợp phải trả lại thẻ BHYT

Theo quy định tại Điều 20 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi, bổ sung 2014, người tham gia BHYT sẽ phải trả lại thẻ BHYT trong 03 trường hợp:
– Gian lận trong việc cấp thẻ BHYT;
– Người có tên trong thẻ BHYT không tiếp tục tham gia BHYT;
– Cấp trùng thẻ BHYT.
Ngoài ra, trong trường hợp người đi khám, chữa bệnh sử dụng thẻ BHYT của người khác thì thẻ đó sẽ bị tạm giữ cho đến khi chủ thẻ đến nhận lại và nộp phạt theo quy định.
Căn cứ quy định nêu trên, khi nghỉ việc, người lao động có trách nhiệm trả lại thẻ BHYT cho doanh nghiệp, bởi lúc này, người lao động sẽ không tiếp tục tham gia BHYT tại đơn vị nơi mình làm việc.

Cố tình không trả, thẻ BHYT vẫn được sử dụng?

Nhiều người nghĩ rằng, giữ lại thẻ BHYT để khi khám, chữa bệnh được thanh toán chi phí như thường lệ do vẫn trong thời hạn sử dụng ghi trên thẻ. Tuy nhiên, đây lại là quan niệm hoàn toàn sai.
Bởi theo Điều 47 Quyết định 595/QĐ-BHXH, việc thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT được thực hiện như sau:
– Thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT đối với người tham gia BHYT đang đóng BHYT và thẻ BHYT còn giá trị sử dụng.
– Không thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT đối với người tham gia đã báo giảm đóng BHYT nhưng tại thời điểm khám, chữa bệnh thẻ BHYT vẫn còn giá trị sử dụng.
Do đó, trong trường hợp người lao động nghỉ việc, doanh nghiệp sẽ lập danh sách báo giảm lao động gửi cơ quan bảo hiểm xã hội ngay trong tháng (tính đến ngày cuối cùng của tháng). Thẻ BHYT chỉ có giá trị sử dụng đến hết tháng doanh nghiệp báo giảm, còn sau đó, dù cầm thẻ BHYT trên tay nhưng người lao động vẫn không được thanh toán chi phí khi khám, chữa bệnh.
Ví dụ: Người lao động nghỉ việc vào ngày 20/8/2019, doanh nghiệp lập báo cáo giảm người tham gia BHYT vào ngày cuối cùng của tháng là 31/8/2019 thì thẻ BHYT cũng chỉ có giá trị sử dụng đến hết tháng 8/2019.
Để tiếp tục được hưởng các quyền lợi BHYT, người lao động nghỉ việc chỉ có cách tham gia BHYT tự nguyện.