Cách chứng minh tài sản riêng trước khi kết hôn

Hôn nhân luôn là vấn đề muôn thuở không chỉ riêng ai, khi mục đích hôn nhân không đạt được không ít thì nhiều vấn đề tranh chấp, phân chiatài sản sẽ diễn ra. Đối với tài sản chung thì mình tạm thời không đề cập đến nếu có chia cũng dễ và có nguyên tắc để xác định nếu không chứng minh được. Còn tài sản riêng, nhiều trường hợp dỡ khóc, dỡ cười khi tài sản riêng vô tình trở thành tài sản chung vì không chứng minh được đó là tài sản của mình.
Để hạn chế một số tranh chấp tài sản chung của vợ chồng cũng như có cơ sở xác định tài sản là của chung hay của riêng, pháp luật về hôn nhân và gia đình đã có một số quy định để điều chỉnh vấn đề này.
Điều 43 Luật hôn nhân gia định 2014 quy định:
– Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kếriêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
– Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợilợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.
Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.
Như vậy, về nguyên tắc, tài sản được tạo lập trước khi kết hôn là tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng trừ trường hợp người đó đồng ý hoặc thỏa thuận nhập tài sản đó vào khối tài sản chung của hai vợ chồng.
Trường hợp nếu có phát sinh tranh chấp về tài sản giữa hai vợ chồng thì bạn cần chứng minh được tài sản đó là tài sản do bạn tạo lập trước khi kết hôn và bạn không đồng ý về việc nhập tài sản đó vào làm tài sản chung (giấy tờ chứng minh gồm giấy chứng nhận kết hôn; giấy chứng nhận quyền sở hữunhà hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên của bạn; sổ tiết kiệm…).
Nếu chưa kết hôn, những tài sản được tặng, cho thừa kế nếu bạn không muốn phiền hà về sau thì nên có hợp đồng tặng cho cụ thể ghi rõ là tặng cho riêng khoản tiền, tài sản này. Hợp đồng tặng cho được công chứng để đảm bảo về mặt pháp lý.
Trường hợp đã kết hôn nếu vẫn mong muốn xác nhận đó là tài sản riêng, thì vợ chồng có thể cùng lập văn bản thỏa thuận tài sản riêng của vợ chồng  tại Văn phòng công chứng
Nguồn: Danluat.vn

Công văn trả lời đơn có là đối tượng khởi kiện hành chính?

Nguyên đơn khởi kiện đề nghị hủy Công văn của UBND thị xã S, đồng thời yêu cầu UBND thị xã S trả lại toàn bộ diện tích đất đã mượn của gia đình nguyên đơn theo quy định của pháp luậtTòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án với lý do Tòa án không có thẩm quyền giải quyết.

Đòi lại đất chính quyền mượn

Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Đ, ở thôn Mỹ Hòa, xã Xuân Cảnh, thị xã S, tỉnh P.
Người bị kiện: Chủ tịch UBND thị xã S, địa chỉ Khu phố Long Hải, phường Xuân Phú, thị xã S, tỉnh P.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: UBND xã X, thị xã S; Ông Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1964, trú tại: Thôn Hòa Mỹ, xã Xuân Cảnh, thị xã S, tỉnh P.
Theo bà Nguyễn Thị Đ: Trước đây, cha mẹ bà Đ là Nguyễn L và Phạm Thị D (đã chết) có tạo lập được một mảnh vườn dừa tại thôn Hòa Hiệp, Xuân Thịnh, thị xã S, tỉnh P có diện tích là 8 sào.
Cha mẹ bà Đ có đầy đủ giấy tờ nguồn gốc phần diện tích đất này và sử dụng đến năm 1977 thì chính quyền địa phương đã thương lượng với gia đình để mượn làm trạm chế biến, thu mua tài sản. Vì phục vụ cho việc phát triển kinh tế địa phương nên gia đình bà Đ đã đồng ý và hai bên có thỏa thuậnlà khi nào Nhà nước hết sử dụng làm công ty thì trả lại cho gia đình. Đến năm 1999, Nhà nước giải thể công ty hải sản và thu gom hết tài sản, bỏ hoang vườn dừa. Gia đình bà Đ nhiều lần viết đơn để yêu cầu chính quyền địa phương trả lại đất nhưng UBND huyện S (nay là UBND thị xã S vẫn không xem xét giải quyết). Việc khiếu nại của gia đình bà Đ liên tục qua nhiều cấp, nhiều cơ quan khác nhau nhưng không có kết luận giải quyết triệt để mà ngược lại UBND huyện còn sử dụng mặt bằng để giao đất xây dựng Bưu điện văn hóa xã năm 2001, xây dựng trường mẫu giáo thôn H năm 2014, và trường tiểu học X năm 2009. Việc khiếu nại kéo dài từ xã đến huyện, đến khởi kiện Tòa án các cấp nhưng sau đó đều có hướng dẫn bà Đ rút đơn để xem xét giải quyết nhưng không thực hiện.
Đến ngày 07/11/2016, sau nhiều lần giải quyết khiếu nại, khiếu kiện, UBND huyện S có văn bản số 1959/UBND-NC trả lời khiếu nại chung của Nguyễn Thị Đ và hộ ông Nguyễn Văn B, ông Đinh Văn C. Nội dung công văn giải quyết khiếu nại: “Không công nhận toàn bộ nội dung yêu cầu theo đơn khiếu nại” với lý do là cha mẹ bà Đ và các ông C, M đã nhất trí hiến toàn bộ diện tích đất để huyện làm trạm chế biến thu mua hải sản còn cây cối, hoa màu đã được nhận tiền đền bù.
Bà Đ cho rằng, việc UBND thị xã S không công nhận nội dung khiếu nại của bà Đ với lý do nói trên là hoàn toàn không đúng vì thực tế, cha mẹ bà Đ cũng như qua khẳng định của ông C, ông M hiện vẫn còn đang sống, thì chưa từng có ý kiến hoặc giấy tờ gì thể hiện việc hiến đất cho UBND huyện như công văn khẳng định. Hiện nay, phần diện tích đất của gia đình bà Đ theo biên bản đo đạc thực tế là 2989m2, cha mẹ bà Đ hiện đã mất, bà Đ và anh trai Nguyễn Văn Tr là người thừa kế hợp pháp của cha mẹ tiếp tục yêu cầu UBND huyện trả lại diện tích đất cho gia đình quản lý, sử dụng.
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy bỏ toàn bộ Công văn số 1959/UBND-NC ngày 07/11/2016 của UBND thị xã S; đồng thời yêu cầu UBND thị xã S trả lại toàn bộ diện tích đất đã mượn của gia đình nguyên đơn theo quy định của pháp luật.
Người bị kiện là UBND thị xã S trình bày: Phần diện tích đất hiện nay mà bà Nguyễn Thị Đ khiếu nại đòi Nhà nước trả lại là không có cơ sở để giải quyết, vì trên thực tế, toàn bộ diện tích đất vườn và ruộng của 03 hộ là Đinh Văn C, Nguyễn M (cha ông Nguyễn Văn B) và Nguyễn L (cha của bà Đ) đều đã tự nguyện hiến cho Nhà nước quản lý và sử dụng trên 40 năm. Do vậy, căn cứ khoản 5 Điều 26 Luật Đất đai năm 2013, việc khiếu nại đòi lại đất do Nhà nước quản lý của bà Nguyễn Thị Đ là không phù hợp quy định của pháp luật về đất đai hiện hành.

Cấp sơ thẩm đình chỉ, cấp phúc thẩm hủy quyết định sơ thẩm

Vụ án hành chính được TAND tỉnh P thụ lý sơ thẩm số 68/2017/TLST-HC ngày 11/11/2017. Ngày 22/10/2018, TAND tỉnh P ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 20/2018/QĐST-HC căn cứ vào khoản 5 Điều 38, Điều 143, Điều 144 của Luật Tố tụng hành chính: Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 68/2017/TLST-HC ngày 11/11/2017 về việc: “Khởi kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, giữa người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Đ và người bị kiện là Chủ tịch UBND thị xã S với lý do: “Công văn số 1959/UBND-NC ngày 07/11/2016 của UBND thị xã S về việc trả lời đơn khiếu nại đòi lại đất của các ông bà Đ, B, C (Trong đó có người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Đ) có nội dung liên quan đến việc đòi lại đất Nhà nước đã đưa vào sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước. Việc bà Đ khiếu nại đòi lại đất là việc xem xét đối với chính sách đất đai theo Điều 1 Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội nên không thuộc đối tượng khởi kiện theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính. Tòa án không có thẩm quyền giải quyết.”
Ngày 25/10/2018, bà Nguyễn Thị Đ có đơn kháng cáo toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 20/2018/QĐST-HC ngày 22/10/2018 của TAND tỉnh P.
Ngày 28/2/2019, theo đề nghị của Kiểm sát viên VKSND cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên họp phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm TAND cấp cao tại Đà Nẵng ra “Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án” số 22/2019/QĐ-PT. Căn cứ điểm c khoản 5 Điều 243 Luật Tố tụng hành chính, quyết định:
-Chấp nhận đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Đ. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 20/2018/QĐST-HC ngày 22/10/2018 của TAND tỉnh P. Chuyển hồ sơ vụ án cho TAND tỉnh P để tiếp tục giải quyết vụ án.
-Về án phí hành chính phúc thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bà Nguyễn Thị Đ không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm…
-Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 28/2/2019.

Áp dụng không đúng quy định của pháp luật

VKSND cấp cao tại Đà Nẵng tổ chức rút kinh nghiệm về việc xác định đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính trong công tác kiểm sát giải quyết vụ án “Khởi kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, đánh giá rằng:
Ngày 16/10/2017, bà Nguyễn Thị Đ có gửi đơn khởi kiện và đề nghị TAND tỉnh P hủy toàn bộ Quyết định giải quyết khiếu nại số 1959/UBND-NC ngày 07/11/2016 của UBND thị xã S.
Xét Công văn giải quyết khiếu nại số 1959/UBND-NC ngày 07/11/2016 của UBND thị xã S: Về mặt hình thức, việc giải quyết khiếu nại được ban hành dưới hình thức Công văn là vi phạm về mặt hình thức theo quy định của Luật Khiếu nại. Tuy nhiên, về bản chất, Công văn số 1959 của UBND thị xã S chính là Quyết định giải quyết khiếu nại đối với đơn khiếu nại ngày 01/10/2016 của các ông, bà: Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Văn B, Đinh Văn C (Trong đó có người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Đ).
Do áp dụng cho một đối tượng cụ thể (bà Nguyễn Thị Đ) và chứa đựng nội dung ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà Đ nên Công văn số 1959/UBND-NC ngày 07/11/2016 của UBND thị xã S là Quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính.
Việc TAND tỉnh P ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 68/2017/TLST-HC ngày 11/11/2017 về việc: “Khởi kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, giữa người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Đ và người bị kiện là Chủ tịch UBND thị xã S với lý do: “Công văn số 1959/UBND-NC ngày 07/11/2016 của UBND thị xã S về việc trả lời đơn khiếu nại đòi lại đất của các ông bà Đ, B, C (Trong đó có người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Đ) có nội dung liên quan đến việc đòi lại đất Nhà nước đã đưa vào sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước. Việc bà Đ khiếu nại đòi lại đất là việc xem xét đối với chính sách đất đai theo Điều 1 Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội nên không thuộc đối tượng khởi kiện theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính. Tòa án không có thẩm quyền giải quyết” là không phù hợp theo quy định pháp luật.

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)

Vấn đề xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể trong vụ án hình sự

Qua nghiên cứu quy định của pháp luật, cũng như thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự có liên quan đến vấn đề xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể, chúng tôi nhận thấy xung quanh vấn đề này vẫn còn tồn tại bất cập cần trao đổi và đưa ra nhận thức thống nhất.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể là một trong những yếu tố quan trọng trong việc giải quyết nhiều vụ án hình sự, đặc biệt là các vụ án về xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người. Nó là căn cứ trực tiếp để định tội danh và định khung hình phạt đối với người phạm tội, đồng thời cũng là cơ sở để giải quyết các vấn đề liên quan khác. Qua nghiên cứu quy định của pháp luật, cũng như thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự có liên quan đến vấn đề xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể, nhận thấy xung quanh vấn đề này vẫn còn tồn tại bất cập cần trao đổi và đưa ra nhận thức thống nhất.
Thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự cho thấy, tổn thương cơ thể của người bị thương tích gồm hai loại: Tổn thương cơ thể hình thành do chính hành vi phạm tội của bị canbị cáo gây ra và tổn thương cơ thể hình thành từ những can thiệp y tế trong quá trình điều trị cho người bị thương tích.
Trong một số trường hợp khi mà tổn thương cơ thể của người bị thương tích bao gồm cả hai loại trên thì vấn đề cần đặt ra ở đây là việc xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể dùng làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
 Quan điểm thứ nhất cho rằng: Người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự trên cơ sở tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của người bị hại mà không cần bóc tách, xem xét và đánh giá tính chất, mức độ của can thiệp y tế đến việc hình thành tổn thương cơ thể của người bị thương tích. Bởi xuất phát từ hậu quả do hành vi của người phạm tội gây ra mới dẫn đến việc phải có những can thiệp y tế đối với người bị hại.
 Quan điểm thứ haiđây cũng đồng thời là quan điểm của người viết, cho rằng, trong trường hợp tổn thương cơ thể của người bị hại bao gồm cả tổn thương cơ thể hình thành do hành vi phạm tội của bị can, bị cáo và tổn thương cơ thể hình thành từ những can thiệp y tế trong quá trình điều trị thì cần thiết phải có sự xem xét, đánh giá tính chất, mức độ của can thiệp y tế đến sự hình thành tổn thương cơ thể người bị hại. Nếu xét thấy sự can thiệp về y tế là đòi hỏi cần thiết và buộc phải thực hiện để điều trị tổn thương do hành vi của bị can, bị cáo gây ra thì bị can, bị cáo sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự trên cơ sở tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể được xác định.
Ví dụ: Nguyễn Văn A có hành vi dùng dao đâm nhiều nhát vào vùng bụng Trần Bá V, hậu quả khiến Trần Bá V phải tiến hành phẫu thuật để điều trị vết thương. Quá trình điều trị, cơ quan y tế bắt buộc phải mổ vùng bụng của V để tiến hành các phẫu thuật nối ruột và xử lý các tổn thương trong vùng bụng. Trường hợp này, Nguyễn Văn A sẽ phải chịu tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể, trong đó có tỷ lệ tổn thương hình thành do hành vi của Nguyễn Trọng A gây ra và cả tỷ lệ tổn thương hình thành do phẫu thuật.
Mặt khác, nếu vì những nguyên nhân chủ quan của cơ quan y tế dẫn đến sự can thiệp y tế không phù hợp về tính chất, mức độ, vượt quá đòi hỏi cần thiết của yêu cầu điều trị, dẫn đến hình thành thêm tổn thương, làm gia tăng tỷ lệ tổn thương cơ thể cho người bị thương tích thì phần tỷ lệ tổn thương cơ thể vượt quá mức được đánh giá là cần thiết sẽ không được tính làm căn cứ để xác định trách nhiệm hình sự cho người phạm tội. Nói cách khác, người phạm tội trong trường hợp này sẽ chỉ chịu trách nhiệm hình sự trên cơ sở phạm vi tỷ lệ tổn thương cơ thể do hành vi phạm tội gây ra và tỷ lệ tổn thương cơ thể do can thiệp y tế ở mức cần thiết gây ra trong quá trình điều trị.
Ví dụ: Nguyễn Trọng A có hành vi dùng tuýp sắt đập nhiều nhát vào đùi Trần Bá V, hậu quả xương đùi của Trần Bá V bị gẫy phải tiến hành bó bột. Tuy nhiên, do nguyên nhân chủ quan của cơ quan y tế, dẫn đến can thiệp y tế không hiệu quả, làm cho xương đùi bị lệch. Sau đó Trần Bá V phải tiến hành phẫu thuật lại, mổ để xếp lại xương đùi. Quá trình giải quyết vụ án, cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định để xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Bá V. Kết luận giám định pháp y về thương tích của Trần Bá V cho thấy, tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể là 35%, trong đó tỷ lệ tổn thương hình thành do phẫu thuật lần đầu sau để xếp lại xương đùi là 7%. Như vậy, trong trường hợp này, trách nhiệm hình sự của Nguyễn Trọng A sẽ sẽ chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trên cơ sở tỷ lệ tổn thương cơ thể là 28%
Vấn đề xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể nêu ra trên đây thuộc về quy trình, nghiệp vụ của cơ quan giám định tư pháp. Đối với cơ quan tiến hành tố tụng, trong quá trình giải quyết các vụ việc có liên quan đến xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể, các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ căn cứ vào kết luận giám định pháp y để tiến hành truy tốxét xử. Tuy nhiên, như đã đề cập, người viết cho rằng cần thiết phải có sự đánh giá khách quan giữa các nguồn hình thành tổn thương cơ thể cho người bị thương tích, từ đó có thể đánh giá được đúng mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và có căn cứ pháp lý vững chắc để giải quyết được vụ án đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)

Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận ở một số quốc gia và Việt Nam

Chế độ tài sản theo thỏa thuận (chế độ tài sản ước định) không còn là điều mới lạ với nhiều quốc gia trên thế giới, ngược lại, nó đã tồn tại từ rất sớm. Phần lớn các quốc gia phát triển trên thế giới hiện nay đều qui định cả hai chế định tài sản vợ chồng: theo pháp luật và theo thỏa thuận, tiêu biểu như Pháp, Nhật Bản, Hoa kỳ, Bỉ, Trung Quốc và ngoài ra còn có Argentina và một số bang ở Mehico còn duy trì duy nhất một chế độ tài sản pháp định đối với vợ chồng.

Đặt vấn đề

Chế độ tài sản theo thỏa thuận (chế độ tài sản ước định) không còn là điều mới lạ với nhiều quốc gia trên thế giới, ngược lại, nó đã tồn tại từ rất sớm. Trước đây, người La Mã cổ đại khi kết hôn thường tự lập thỏa thuận trong đó ghi xác định trước quan hệ tài sản giữa họ với nhau trong cuộc sống tương lai, đồng thời cũng nêu rõ những điều kiện thừa kế tài sản khi một bên vợ (chồng) chết. Hiện tượng thể hiện sự độc lập không vụ lợi trong quan hệ tài sản của các bên nam nữ khi lập gia đình.
Phần lớn các quốc gia phát triển trên thế giới hiện nay đều qui định cả hai chế định tài sản vợ chồng: theo pháp luật và theo thỏa thuận, tiêu biểu như Pháp, Nhật Bản, Hoa kỳ, Bỉ, Trung Quốc và ngoài ra còn có Argentina và một số bang ở Mehico còn duy trì duy nhất một chế độ tài sản pháp định đối với vợ chồng. Trong khu vực, Trung Quốc trước đây không có qui định chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận, nay đã công nhận chế độ này. Nhật Bản vốn là quốc gia nặng về truyền thống cộng đồng và gia đình cũng đã có qui định về thỏa thuân vợ chồng đối với tài sản. Ở Việt Nam, chế độ tài sản này được quy định như một điểm mới rất tiến bộ trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, tồn tại song song cùng với chế độ tài sản theo luật định (được áp dụng khi vợ chồng không xác lập chế độ tài sản theo thoả thuận).

1. Chế độ tài sản theo thỏa thuận trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới

1.1. Những vấn đề cơ bản trong pháp luật của Cộng hòa Pháp về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận
Thứ nhất, những vấn đề chung về chế độ tài sản thỏa thuận 
Điều 1387 BLDS Pháp “công bố về nguyên tắc tự do lựa chọn chế độ tài sản giữa vợ chồng và đó là sự tự do có kiểm soát”. Theo quy định này thì: “Pháp luật chỉ điều chỉnh các quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi mà giữa họ không có thỏa thuận đặc biệt liên quan đến vấn đề này, miễn là các thỏa thuận đó không trái với đạo đức hoặc các quy định sau đây của pháp luật”. Quy định này đã gián tiếp cho phép các cặp vợ chồng trước ngưỡng cửa hôn nhân có quyền tự do đưa ra các quy tắc pháp lý áp dụng cho quan hệ tài sản giữa họ. Hoặc là chế độ tài sản họ tự xây dựng nên bằng hợp đồng hôn nhân hoặc bằng chế độ tài sản luật định.
Khi đã quyết định lựa chọn chế độ tài sản theo hợp đồng hôn nhân, pháp luật lại một lần nữa cho phép các bên lựa chọn, hoặc một trong số ba mô hình quan hệ tài sản được luật đề xuất hoặc họ tự thiết kế một mô hình quan hệ tài sản cho riêng họ trên cơ sở các dữ liệu mà pháp luật đề xuất. Sự tự do của các cặp vợ chồng là rất thực, rất hào phóng. Tuy nhiên, sự tự do này không phải là sự tự do không kiểm soát mà pháp luật đã đặt ra các giới hạn chủ yếu liên quan đến trật tự công cộng và đạo đức xã hội (Điều 1387), các giới hạn về một chế độ tài sản cơ bản cần tuân thủ theo luật dân sự Pháp “các thỏa thuận của vợ chồng không thể vi phạm các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ hôn nhân, không được vi phạm các quy tắc về thẩm quyền của cha mẹ hay trách nhiệm giám hộ”(Điều 1388). Hay giới hạn đề ra ở Điều 1389: “Thỏa thuận của vợ chồng không được gây tổn hại đến những quyền lợi được quy định bởi bộ luật này, các thỏa thuận của vợ chồng cũng không được làm chấm dứt hay thay đổi trật tự thừa kế theo pháp luật”… Như vậy, sự tự do của vợ chồng trong việc xây dựng chế độ tài sản thỏa thuận phải tuân thủ các quy tắc (hay các điều cấm) như đã đề cập ở trên. Tập hợp những quy tắc cần tuân thủ hay các hạn chế này gọi là chế độ tài sản cơ bản được thiết lập để duy trì trật tự công về gia đình.
Điều 1394 BLDS Pháp quy định: “Tất cả hợp đồng hôn nhân sẽ được soạn thảo bằng văn bản công chứng lập bởi Công chứng viên với sự hiện diện và sự đồng ý của tất cả các bên của hợp đồng hoặc người được ủy quyền của họ”. Tại thời điểm ký kết hợp đồng, Công chứng viên phải cấp cho mỗi bên một giấy chứng nhận (không tốn phí), trong đó nêu tên và nơi cư trú của Công chứng viên, họ, tên, nơi ở của cặp vợ chồng tương lai, ngày ký của hợp đồng. Giấy chứng nhận này cũng chỉ ra rằng, nó phải được giao cho viên chức hộ tịch trước khi đăng ký kết hôn.
Nếu giấy chứng nhận kết hôn không thể hiện rằng vợ chồng đã có thỏa thuận xác lập hợp đồng thì hai vợ chồng, đối với các bên thứ ba, được coi là kết hôn dưới chế độ tài sản luật định, trừ khi, trong các hành vi ký kết với bên thứ ba đó, họ cho biết đã thực hiện một hợp đồng hôn nhân.
Có thể thấy, BLDS Pháp yêu cầu một hình thức cũng như trình tự có liên quan đến việc xác lập hợp đồng hôn nhân rất chặt chẽ. Để đảm bảo rằng (bằng những yêu cầu về hình thức và thủ tục này) người thứ ba có thể dễ dàng tiếp cận với nội dung hợp đồng, để các giao dịch giữa vợ, chồng với người thứ ba được thực hiện trên cơ sở thông tin rõ ràng để đảm bảo sự bình đẳng trong giao dịch. Điều này củng cố, một lần nữa, đề xuất trên đây về việc các bên kết hôn phải xuất trình với viên chức hộ tịch thoả thuận của họ về chế độ tài sản tại thời điểm kết hôn, và rằng viên chức hộ tịch phải ghi nhận thông tin này trong giấy đăng ký kết hôn là hoàn toàn hợp lý. Nó cần thiết cho một quy trình chặt chẽ và có kiểm soát đối với chế độ tài sản thoả thuận của vợ chồng.
Về hiệu lực của hợp đồng hôn nhân: Hợp đồng hôn nhân có hiệu lực phát sinh phụ thuộc vào quan hệ hôn nhân và chỉ có giá trị trong chừng mực quan hệ hôn nhân còn được duy trì. Điều này có nghĩa là nếu như không có quan hệ hôn nhân thì hợp đồng hôn nhân sẽ… không là gì cả. Với logic như vậy, Điều 1395 BLDS Pháp quy định: “Hợp đồng hôn nhân phải được soạn thảo trước khi kết hôn và không có hiệu lực cho đến ngày kết hôn”. Như vậy, kết hợp hai quy định ở Điều 1394 và 1395 đã dẫn ở trên, ta có một tình trạng như sau: (1) nếu tại thời điểm kết hôn mà không có bằng chứng (hay vợ chồng không đưa ra bằng chứng) cho sự tồn tại hợp đồng hôn nhân thì quan hệ hôn nhân giữa họ sẽ được xác lập trong tình trạng đặt dưới chế độ tài sản luật định; (2) nếu các bên đã xác lập hợp đồng hôn nhân nhưng sau đó vì các lý do cá nhân, quan hệ hôn nhân không được xác lập thì hợp đồng đã xác lập sẽ không có giá trị (không phát sinh hiệu lực).
Thứ hai, các mô hình quan hệ tài sản được đề xuất đối với chế độ tài sản thỏa thuận
Về cơ bản, BLDS Pháp đề xuất ba mô hình quan hệ tài sản giữa vợ và chồng cho chế độ tài sản thỏa thuận. Và một thực tế được nhiều học giả đồng tình là các mô hình đề xuất này đều dựa trên chế độ tài sản luật định, hay nói chính xác hơn là dựa trên mô hình quan hệ tài sản theo chế độ tài sản luật định.
Một là, mô hình quan hệ tài sản chung theo thỏa thuận
Mô hình quan hệ tài sản chung theo thỏa thuận là thể hiện rõ nhất của quan điểm rằng chế độ tài sản thỏa thuận theo hợp đồng hôn nhân là sự mô phỏng có điều chỉnh chế độ tài sản luật định. Với mô hình quan hệ tài sản này, người ta đã thống kê có sáu bổ sung có thể xoay quanh chế độ tài sản luật định.
Sáu bổ sung mà vợ chồng có thể đưa vào hợp đồng hôn nhân của mình trong chế độ tài sản chung theo thỏa thuận lần lượt có ý nghĩa như sau:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 1497 BLDS Pháp: “Tài sản chung của vợ chồng bao gồm các động sản và những tài sản được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân”. Theo giải thích tại Điều 1498 BLDS Pháp: “Nếu vợ chồng thỏa thuận rằng động sản và những tài sản tạo ra trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của họ thì các tài sản chung sẽ bao gồm những tài sản chung thông thường theo chế độ tài sản luật định, các tài sản là động sản mà mỗi bên vợ, chồng đã xác lập quyền sở hữu tại thời điểm kết hôn, tài sản mà cá nhân mỗi bên vợ, chồng có quyền sở hữu do được tặng cho hay nhận thừa kế, trừ khi những  người tặng cho hoặc để lại di sản đã có ý chí khác. Những tài sản riêng còn lại là những động sản mà xét về bản chất nó là tài sản riêng theo quy định tại Điều 1404 dưới chế độ tài sản theo luật định”. 
Do vậy, với thỏa thuận đặc biệt này trong chế độ tài sản chung theo thỏa thuận, có thể hình dung khối tài sản chung của vợ chồng được làm tăng thêm về giá trị và số lượng từ phần động sản có trước khi kết hôn (những tài sản mà về bản chất thuộc về tài sản riêng trong chế độ tài sản luật định). Với tinh thần như vậy, một cách hợp lý, khối tài sản chung này cũng phải gánh chịu những khoản nợ mà về bản chất nợ này là nợ riêng của một bên vợ, chồng (Điều 1499). Dĩ nhiên, tài sản chung không gánh chịu toàn bộ nợ riêng mà phần gánh chịu này sẽ được xác định tương ứng với đóng góp của tài sản riêng vào tài sản chung.
+ Về điều khoản quản lý tài sản chung. Điều khoản này cho phép vợ chồng có quyền quản lý khối tài sản chung cùng nhau. Trên cơ sở của điều khoản, tất cả các giao dịch liên quan đến tài sản chung phải có chữ ký của cả hai vợ chồng (Điều 1503) trừ giao dịch liên quan đến việc bảo quản tài sản. Cũng phát sinh từ điều khoản này là trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng đối với các nghĩa vụ tài sản phát sinh.
+ Điều khoản về việc bồi thường cho một bên vợ hoặc chồng sau khi chấm dứt hôn nhân (do vợ, chồng chết, do ly hôn…). Điều khoản này cho phép trong trường hợp chấm dứt quan hệ tài sản, một bên vợ, chồng sẽ được quyền giữ lại một phần tài sản chung trên cơ sở có tính toán cân nhắc đến tổng thể giá trị tài sản chung tại thời điểm phân chia (Điều 1511 BLDS Pháp).
+ Điều khoản “tiên thủ” theo quy định tại Điều 1515 BLDS Pháp cho phép trong trường hợp một bên vợ, chồng chết thì bên còn sống có thể lấy đi trước tiên một hoặc một số tài sản chung (tiền hoặc tài sản cụ thể), việc trích này được ưu tiên thực hiện trước tất cả việc phân chia, kể cả chia di sản theo quy định của pháp luật.
+ Điều khoản về việc phân chia một cách bất bình đẳng giữa vợ, chồng khi chấm dứt quan hệ hôn nhân, chấm dứt quan hệ tài sản (Điều 1520 BLDS Pháp).
+ Điều khoản cộng đồng toàn bộ tài sản (Điều 1526 BLDS Pháp). Điều khoản này cho phép vợ chồng thỏa thuận toàn bộ các tài sản (động sản hay bất động sản, hiện có hay sẽ có trong tương lai) đều là tài sản chung. Loại thỏa thuận này cũng có ngoại lệ, đó là những tài sản được quy định tại Điều 1404 BLDS Pháp sẽ luôn là tài sản riêng.
Hai là, mô hình quan hệ tài sản riêng
Với chế độ tài sản riêng, đây là chế độ tài sản thường được các cặp vợ chồng mà một trong số họ điều hành các hoạt động kinh doanh chứa đựng nhiều rủi ro lựa chọn. Theo quy định tại Điều 1536 BLDS Pháp, “vợ chồng đã thỏa thuận trong hợp đồng hôn nhân rằng họ sẽ có chế độ tài sản riêng, mỗi bên sẽ giữ quyền quản lý, hưởng dụng và định đoạt tự do các tài sản riêng của mình. Mỗi người trong số họ một mình chịu trách nhiệm về các khoản nợ do mình gây ra trước hoặc trong quá trình hôn nhân, trừ trường hợp quy định tại Điều 220”.
Với chế độ tài sản này, thường trong hợp đồng hôn nhân các bên sẽ phải xác định rõ trách nhiệm của mỗi bên trong việc đóng góp để duy trì sự tồn tại của gia đình (chăm sóc giáo dục con hay chi phí nhà ở… Nếu không có thỏa thuận này thì phần đóng góp sẽ được xác định tương ứng với phần tài sản của mỗi bên. Việc chấm dứt quan hệ tài sản đối với mô hình quan hệ tài sản này rất đơn giản, mỗi bên sẽ lấy đi tài sản của riêng họ. Đối với những tài sản đã được mua chung bởi vợ chồng thì sẽ chia theo tỷ lệ góp tiền của họ ở thời điểm mua.
Với chế độ tài sản này, nợ của mỗi bên tạo ra sẽ là nợ riêng của người đó. Do đó, chế độ tài sản này thường được các cặp vợ chồng kinh doanh lựa chọn. Vì nó giúp bên vợ, chồng không trực tiếp kinh doanh không phải gánh chịu nợ mà chồng, vợ mình gây ra trong quá trình đầu tư, kinh doanh. Đặc biệt trong trường hợp người đầu tư kinh doanh bị tuyên bố phá sản.
Ba là, mô hình quan hệ tài sản chia sẻ khối tài sản tạo ra trong thời kỳ hôn nhân
Theo Điều 1569 BLDS Pháp: “Khi vợ chồng kết hôn dưới chế độ tài sản có sự chia sẻ khối tài sản tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, mỗi bên bảo toàn quyền của mình trong việc quản lý, hưởng dụng và định đoạt tự do các tài sản thuộc sở hữu riêng của mình, mà không phân biệt giữa những tài sản đã có quyền sở hữu vào ngày kết hôn hoặc được thừa kế hay tặng cho sau ngày kết hôn. Trong thời kỳ hôn nhân, chế độ tài sản này vận hành như là vợ chồng đã kết hôn theo chế độ tài sản riêng. Tại thời điểm chấm dứt quan hệ tài sản, mỗi bên vợ, chồng được quyền chia một nửa giá trị của các tài sản và được đo lường bằng cách ước tính bằng chênh lệch giữa tài sản ban đầu và tài sản tại thời điểm phân chia. Quyền được chia này là không thể thực hiện chừng nào quan hệ tài sản còn chưa chấm dứt. Nếu quan hệ tài sản chấm dứt do vợ, chồng chết, những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia trên phần tài sản còn lại”. 
Các tài sản được xem là “tài sản ban đầu” thông thường bao gồm những tài sản mà vợ chồng đã có quyền sở hữu ở thời điểm kết hôn… Pháp luật yêu cầu mỗi bên phải xác lập bằng chứng về các “tài sản ban đầu” này bằng văn bản xác nhận (có thể văn bản thường không cần công chứng). Tuy nhiên, văn bản xác nhận (hay bản tự khai tài sản này) phải có chữ ký xác nhận của bên vợ, chồng còn lại. Các tài sản ban đầu nhưng đã được định đoạt trong thời kỳ hôn nhân (bán, tặng, cho) vẫn phải được kể đến khi tính toán để phân chia. Nếu tại thời điểm thanh lý quan hệ tài sản mà tài sản hiện có cuối cùng ít hơn so với tài sản gốc ban đầu của vợ (chồng), thì khoản thiếu hụt của bên nào bên ấy sẽ phải chịu. Và đương nhiên, bên còn lại thì không được chia (Điều 1575 BLDS Pháp).
Mô hình quan hệ tài sản này rõ ràng là rất có lợi cho những người có thu nhập kém trong thời kỳ hôn nhân và có sự chênh lệch lớn trong thu nhập của hai vợ chồng.
1.2. Những vấn đề cơ bản trong pháp luật của Bỉ về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận 
BLDS Bỉ được ban hành ngày 21/3/1804 và bắt đầu phát sinh hiệu lực ngày 13/9/1807. BLDS Bỉ gồm ba quyển, Quyển một về con người (cá nhân), Quyển hai về tài sản và Quyển ba về các phương thức xác lập quyền sở hữu. Phần về quan hệ tài sản giữa vợ, chồng được đặt ở Quyển 3 về các phương thức xác lập quyền sở hữu.
Cũng giống như mô hình của BLDS Pháp, luật Bỉ cũng cho phép vợ chồng có quyền tự do lựa chọn chế độ tài sản cho riêng mình. Theo quy định tại Điều 1390 BLDS Bỉ, “Trong trường hợp không có thỏa thuận đặc biệt giữa vợ chồng, các quy tắc được quy định tại Chương 2 phần này sẽ là luật chung để áp dụng”. Như vậy, nếu không có thỏa thuận đặc biệt, quan hệ tài sản giữa vợ, chồng sẽ đặt dưới chế độ tài sản luật định. Và “chế độ tài sản giữa vợ chồng, dù là chế độ luật định hay thỏa thuận, có hiệu lực tại thời điểm kết hôn, dù vợ chồng có thỏa thuận ngược lại” (Điều 1391 BLDS Bỉ).
Pháp luật giành phần lớn các quy định về quan hệ tài sản giữa vợ, chồng để điều chỉnh chế độ tài sản luật định. Một khi vợ chồng đã lựa chọn chế độ tài sản luật định, họ vẫn có quyền lập hợp đồng hôn nhân để bổ sung vào chế độ luật định những thỏa thuận đặc biệt của họ (Điều 1451 BLDS Bỉ).
Với chế độ tài sản thỏa thuận thiết lập theo hợp đồng hôn nhân, vợ chồng có một vài lựa chọn sau đây:
Thứ nhất, mô hình tài sản chung 
Theo quy định tại Điều 1451 BLDS Bỉ, “Vợ chồng đã xác lập một chế độ cộng đồng tài sản (chế độ tài sản chung) thì không thể vi phạm các quy tắc của chế độ tài sản luật định có liên quan đến việc quản lý các tài sản riêng và chung của họ. Theo các quy định tại các Điều 1388 và 1389, họ có thể, theo hợp đồng hôn nhân, thực hiện bất kỳ thay đổi bổ sung nào vào chế độ tài sản luật định”. Một cách gián tiếp, quy định này thể hiện rằng, cũng giống như luật của Pháp và cũng là mô hình pháp luật áp dụng tại Việt Nam hiện nay, chế độ tài sản thiết lập theo các quy định của pháp luật xây dựng cho vợ chồng mô hình cộng đồng tài sản hay chế độ tài sản chung, cho phép công nhận hầu hết các tài sản tạo ra trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng.
Các thoả thuận mà vợ chồng có thể tiến hành để bổ sung thêm vào mô hình tài sản chung đã lựa chọn trong hợp đồng hôn nhân được gợi ý bao gồm các loại thỏa thuận có thể sau đây theo quy định cũng tại Điều 1451 BLDS Bỉ: (1) Thỏa thuận rằng các tài sản chung bao gồm tất cả hoặc một phần tài sản hiện tại và tương lai của vợ, chồng; (2) Thỏa thuận rằng giữa vợ, chồng chỉ tồn tại khối tài sản chung; (3) Thỏa thuận rằng một bên vợ, chồng sẽ được hưởng điều khoản “tiên hưởng”; (4) Thỏa thuận rằng trong trường hợp chấm dứt quan hệ hôn nhân bởi cái chết của một bên vợ, chồng, việc phân chia tài sản chung sẽ tiến hành một cách không bình đẳng hoặc tất cả các tài sản chung sẽ được chia cho một bên vợ, chồng.
Thứ hai, mô hình tài sản riêng
Theo Điều 1466 BLDS Bỉ: “Nếu vợ chồng đã thỏa thuận trong hợp đồng hôn nhân rằng mô hình tài sản giữa họ là mô hình tài sản riêng thì mỗi người sẽ có tất cả các quyền trong việc quản lý, hưởng dụng và định đoạt tài sản của mình mà không ảnh hưởng đến việc áp dụng các quy định tại Điều 215; các hoa lợi lợi tức cũng là tài sản riêng của mỗi bên”. 
Mô hình tài sản riêng giữa vợ, chồng không những chỉ tồn tại theo thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng hôn nhân mà còn có thể được áp dụng trong trường hợp có phán quyết của tòa án. Điều 1470 BLDS Bỉ quy định: “Mỗi bên vợ chồng hoặc đại diện theo pháp luật của họ có thể kiện yêu cầu áp dụng mô hình quan hệ tài sản riêng khi mà xuất hiện tình trạng bừa bãi của bên vợ chồng còn lại trong hoạt động kinh doanh, việc quản lý yếu kém hoặc mất mát của cải của vợ chồng và rằng việc duy trì chế độ tài sản hiện hữu là nguy hiểm cho lợi ích của bên vợ, chồng đưa ra yêu cầu”. 
Một điểm cũng cần lưu ý và có thể là bài học kinh nghiệm tốt cho luật Việt Nam, đó là mô hình tài sản riêng giữa vợ, chồng còn được áp dụng trong việc “chung sống hợp pháp” giữa hai bên không phải là vợ chồng. Đây là trường hợp chung sống như vợ chồng không có đăng ký kết hôn mặc dù các bên chung sống thỏa mãn các điều kiện để kết hôn với nhau. Việc sống chung hợp pháp này theo quy định của luật Bỉ cũng phải được đăng ký tại cơ quan đăng ký hộ tịch theo trình tự, thủ tục luật định với các yêu cầu khá chặt chẽ. Việc sống chung này cũng làm phát sinh quan hệ thừa kế giữa họ với nhau theo quy định của pháp luật. Việc chung sống hợp pháp này có thể chấm dứt rất đơn giản bằng thỏa thuận của hai bên, bằng việc một trong hai bên kết hôn với người khác hoặc bằng tuyên bố đơn phương chấm dứt quan hệ chung sống. Tuy nhiên, tuyên bố này phải hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, mô hình tài sản chung hoàn toàn.
Điều 1453 BLDS Bỉ quy định: “Nếu hai vợ chồng thỏa thuận rằng sẽ áp dụng mô hình cộng đồng tài sản với nhau, thì tất cả các tài sản hiện hữu và tương lai của họ sẽ đi vào tài sản chung, ngoại trừ những tài sản có đặc tính cá nhân, gắn liền mang tính tuyệt đối với người đó thì sẽ là tài sản riêng. Khối tài sản chung chịu trách nhiệm với tất cả các khoản nợ”. Mô hình tài sản chung này chỉ được quy định duy nhất tại Điều 1453 nêu trên. Riêng về vấn đề quản lý tài sản này như thế nào thì có quy định như sau: “Trừ khi có quy định khác trong hợp đồng hôn nhân, bên chồng hoặc vợ đã nhập vào tài sản chung những tài sản hiện hữu hay tương lai của mình mà không cần xác định cụ thể các tài sản này thì sẽ giữ lại quyền quản lý được cho phép theo quy định tại Điều 1425”. Trong khi đó, Điều 1425 xác định mỗi bên vợ, chồng có quyền quản lý một cách tuyệt đối đối với tài sản riêng của người đó mà không vi phạm các nguyên tắc trong quan hệ tài sản giữa vợ, chồng được quy định tại Điều 215 BLDS Bỉ.
1.3 . Những vấn đề cơ bản trong pháp luật của Thái Lan về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận 
Không có Luật Hôn nhân và gia đình riêng biệt, phần về hôn nhân và gia đình cũng như về các quan hệ tài sản giữa vợ chồng được quy định chung trong BLDS và Thương mại thành một phần riêng.
Theo quy định của BLDS và Thương mại, trường hợp trước khi kết hôn, nếu vợ chồng không ký kết với nhau một thỏa thuận đặc biệt liên quan đến quan hệ tài sản giữa họ, thì mối quan hệ giữa họ liên quan đến tài sản sẽ được điều chỉnh bởi các quy định của Bộ luật này.
Bất cứ điều khoản nào trong thỏa thuận trước khi kết hôn (còn gọi là thỏa thuận tiền hôn nhân) trái với trật tự công cộng hoặc phong tục đạo đức tốt đẹp của xã hội, hoặc chỉ ra rằng mối quan hệ tài sản giữa họ sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật nước ngoài thì thỏa thuận đó sẽ không có hiệu lực.
Với quy định này, Bộ luật đã cho phép vợ chồng có thể xây dựng cho riêng họ các thỏa thuận tiền hôn nhân nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản và có quy định khá chi tiết về các điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận tiền hôn nhân. Trường hợp các thỏa thuận tiền hôn nhân thuộc một trong những trường hợp sau thì sẽ không có giá trị pháp lý: (i) Không được xuất trình với cơ quan đăng ký kết hôn tại thời điểm đăng ký kết hôn; (ii) Không được thực hiện bằng văn bản, có chữ ký của cả hai vợ chồng và ít nhất hai người làm chứng; (iii) Không được đưa vào đăng ký kết hôn tại thời điểm đăng ký kết hôn với tư cách là một phần phụ lục của đăng ký kết hôn.
Việc thay đổi chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng được Bộ luật quy định: “Sau khi kết hôn, thỏa thuận tiền hôn nhân không thể bị thay đổi, ngoại trừ bởi thẩm quyền của Tòa án”.
Khi có phán quyết cuối cùng của Tòa án để thực hiện việc thay đổi, hủy bỏ thỏa thuận tiền hôn nhân, Tòa án phải thông báo vấn đề sửa đổi hoặc hủy bỏ này đến cơ quan đăng ký kết hôn để cơ quan này đưa nội dung đó vào đăng ký kết hôn.
Ngoài các điều khoản trong thỏa thuận tiền hôn nhân sẽ không có hiệu lực trong trường hợp tác động đến các quyền của người thứ ba ngay tình cho dù chúng được thay đổi hoặc hủy bỏ theo lệnh của Tòa án. Và bất kỳ thỏa thuận được ký kết giữa vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể được hủy bỏ bởi mỗi bên tại bất kỳ thời điểm nào trong thời kỳ hôn nhân hoặc trong vòng một năm kể từ ngày chấm dứt quan hệ hôn nhân; với điều kiện là sự hủy bỏ này không ảnh hưởng đến quyền của người thứ ba ngay tình.
1.4 . Những vấn đề cơ bản trong pháp luật của Trung Quốc  về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận 
Trước khi ban hành Luật hôn nhân 2001, hôn ước không được công nhận ở Trung Quốc. Năm 2001, Luật hôn nhân Trung Quốc bổ sung qui định mới liên quan đến tiền hôn nhân hay hôn ước. Điều 17 của luật này giữ nguyên qui định của luật cũ rằng tất cả thu nhập kiếm được và tài sản của các bên được coi là tài sản chung ngoại trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác (điều 19).Cụ thể, điều 19 qui định: “vợ hoặc chồng có thể, bằng thỏa thuận, ước định tài sản của mỗi bên trước và sau hôn nhân”. Hơn nữa, thỏa thuận này có thể qui định chế độ sở hữu tài sản, hoặc là sở hữu chung toàn bộ, hoặc là sở hữu chung một phần hoặc là sở hữu riêng. Tất cả những thỏa thuận này đều phải được thể hiện bằng văn bản. Nếu thỏa thuận này không rõ ràng hoặc thiếu thì qui định về chế độ sở hữu vợ chồng theo pháp luật được áp dụng.
Từ khi được công nhận, hôn ước ngày nay trở nên rất phổ biến ở những thành phố lớn của Trung Quốc như Thượng Hải, Bắc Kinh, đặc biệt là ở thế hệ trẻ. Chúng được biết đến như một chứng nhận tài sản trước hôn nhân.
1.5. Những vấn đề cơ bản trong pháp luật của Nhật Bản về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận 
Nhật Bản là một quốc gia mang nặng nhiều biểu hiện phong kiến và bất bình đẳng giới. Hôn nhân một vợ một chồng của Nhật Bản mới được ghi nhận khoảng 100 năm trước vào đầu thời kì Minh Trị, ngay cả đến thời điểm hiện nay Nhật Bản cũng chỉ cho phép phụ nữ được tái giá sau 6 tháng kể từ ngày cuộc hôn nhân trước của họ chấm dứt và người vợ khi kết hôn thì phải mang họ chồng.
Về hình thức, không giống như pháp luật các quốc gia khác, Nhật Bản có riêng một văn bản pháp luật điều chỉnh về hình thức của hôn ước và vấn đề đăng kí hôn ước (Mặc dù tên tiếng anh của văn bản này được dịch theo các cách khác nhau: “Family Registration Act” hay “Matrimonial property agreement Registration Act” nhưng toàn bộ nội dung của nó chỉ nói về việc đăng kí hôn ước và hình thức của hôn ước).Về nội dung, nội dung của của hôn ước được qui định trong bộ luật dân sự (Civil Code) Điều 755 Bộ luật dân sự Nhật Bản ghi nhận quyền được lập hôn ước của các cặp vợ chồng: các quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng sẽ được tuân theo các qui định dưới đây nếu như vợ chồng không kí vào một hợp đồng qui định trước về tài sản của họ trước khi đăng kí kết hôn.

2. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật Việt Nam

Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thực chất là một hợp đồng thỏa thuận trên nguyên tắc tự do, tự nguyện. Nên vợ chồng có thể tự thỏa thuận và thỏa thuận cùng với nhau về việc xác lập và thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với tài sản của họ. Thỏa thuận này được thể hiện dưới dạng văn bản: hôn ước, hợp đồng tiền hôn nhân hay thỏa thuận trước hôn nhân.
2.1. Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng
Thứ nhất, điều kiện về hình thức
Theo quy định tại Điều 47 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì thỏa thuận xác lập chế độ tài sản vợ chồng phải tuân thủ những điều kiện về mặt hình thức. Cụ thể như sau: “Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn”. 
Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng là sự thể hiện ý chí, nguyện vọng, quyền lợi cũng như trách nhiệm của vợ, chồng về vấn đề tài sản, do đó thỏa thuận này phải được vợ, chồng lập thành văn bản và phải được công chứng hoặc chứng thực. Nếu thỏa thuận chỉ được lập bằng văn bản, có chữ ký của hai vợ chồng là chưa đủ và bị coi là không có giá trị do sai về hình thức. Do vậy, việc thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng được lập bằng văn bản và có công chứng hoặc chứng thực sẽ là cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ quyền lợi của vợ, chồng cũng như đảm bảo cho vợ chồng có trách nhiệm thực hiện đúng những nội dung đã thỏa thuận, hạn chế các tranh chấp xảy ra liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng trong thực tế.
Thứ hai, điều kiện về nội dung
Theo quy định tại Điều 48 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ, chồng gồm những nội dung cơ bản sau:
“Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản bao gồm:
a) Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng;
b) Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình;
c) Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản;
d) Nội dung khác có liên quan.
Khi thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng các Điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này và quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định”. 
Theo đó, những điều kiện về mặt nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm:
Một là, xác định tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, những tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng. Trong văn bản thỏa thuận, trước hết vợ chồng cần xác định rõ những tài sản nào là tài sản riêng của mỗi bên và những tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng. Vì khi xác định được phạm vi các loại tài sản, quyền sở hữu của mỗi bên thì vợ chồng sẽ thỏa thuận và thống nhất được với nhau các quyền cũng như nghĩa vụ đối với từng loại tài sản đó.
Hướng dẫn cụ thể hơn về vấn đề xác định tài sản của vợ chồng trong nội dung thỏa thuận, khoản 1 Điều 15 Nghị định số 126/2014/NĐ – CP đã quy định như sau:
“1. Trường hợp lựa chọn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì vợ chồng có thể thỏa thuận về xác định tài sản theo một trong các nội dung sau đây:
a) Tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng;
b) Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung;
c) Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó;
d) Xác định theo thỏa thuận khác của vợ chồng”. 
Như vậy, khi xác định về trong nội dung thỏa thuận, vợ, chồng có thể xác định theo các nội dung sau: nếu giữa vợ và chồng có tài sản thì tài sản của vợ, chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng; giữa vợ và chồng không có tài sản riêng (tất cả tài sản có được trước và trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung); giữa vợ và chồng không có tài sản chung (tất cả tài sản có được trước và trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản riêng); hoặc được xác định theo thỏa thuận khác của vợ, chồng (ví dụ xác định hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản chung).
Hai là, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình. Trên cơ sở xác định nội dung về tài sản trong thỏa thuận trước đó, vợ và chồng thỏa thuận về các quyền của mỗi bên đối với tài sản chung, tài sản riêng, cũng như những nghĩa vụ riêng, nghĩa vụ chung về tài sản.
Ba là, điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản. Xuất phát từ nhu cầu của mỗi bên, vợ chồng có thể thỏa thuận các điều kiện được đưa ra khi chấm dứt chế độ tài sản theo thỏa thuận và xác định trong những trường hợp nào một bên hoặc cả hai bên vợ chồng có quyền yêu cầu chấm dứt chế độ tài sản này. Khi chấm dứt chế độ tài sản theo thỏa thuận, tài sản sẽ được chia cho vợ chồng theo thỏa thuận hoặc theo yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Về nguyên tắc, tài sản có thể chia theo cách thức chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân hoặc theo nguyên tắc phân chia khác do hai vợ chồng tự thỏa thuận thống nhất với nhau. Khi có tranh chấp xảy ra, việc giải quyết tranh chấp được ưu tiên áp dụng theo thỏa thuận của vợ chồng.
Bốn là, ngoài những nội dung chủ yếu nêu trên, vợ chồng còn có thể thỏa thuận những nội dung khác (vấn đề cấp dưỡng cho cha, mẹ, con…) liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mỗi bên.
2.2. Cung cấp thông tin về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong giao dịch với người thứ ba 
Điều 16 Nghị định số 126/2014/NĐ – CP quy định: “Trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được áp dụng thì khi xác lập, thực hiện giao dịch, vợ, chồng có nghĩa vụ cung cấp cho người thứ ba biết về những thông tin liên quan; nếu vợ, chồng vi phạm nghĩa vụ này thì người thứ ba được coi là ngay tình và được bảo vệ quyền lợi theo quy định của BLDS”.
Đây là quy định minh bạch hóa thông tin, khả năng tài chính của vợ chồng cũng như bảo vệ quyền lợi cho người thứ ba trong giao dịch với vợ, chồng khi vợ chồng lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận. Những thông tin liên quan đến vợ chồng cần cung cấp cho người thứ ba biết có thể là quyền sở hữu, định  đoạt tài sản của vợ chồng; tài sản riêng, tài sản chung; quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với tài sản chung cũng như quyền xác lập giao dịch với người thứ ba của vợ chồng…Việc cung cấp thông tin liên quan cho người thứ ba trong giao dịch với vợ chồng được pháp luật quy định là nghĩa vụ của vợ chồng. Nếu vi phạm nghĩa vụ này thì người thứ ba được coi là ngay tình vẫn được bảo vệ quyền lợi theo quy định của BLDS.
Theo quy định tại Điều 33 BLDS năm 2015, thì quyền lợi của người thứ ba ngay tình được pháp luật bảo vệ trong những trường hợp sau:
Một là, trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 167 của Bộ luật này.
Hai là, trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.
Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.
Ba là, chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.
Như vậy, trong trường hợp vợ chồng thống nhất lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận khi giao dịch với người thứ ba, vợ chồng có nghĩa vụ cung cấp các thông tin liên quan cho người thứ ba biết. Trường hợp người thứ ba không biết, vẫn xác lập giao dịch, giao dịch bị vô hiệu vì bất kỳ lý do gì do vợ chồng vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật thì quyền lợi của người thứ ba ngay tình vẫn được pháp luật ưu tiên bảo vệ.
2.3. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu 
Khoản 1 Điều 50 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan;
b) Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này;
c) Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình. 
Để làm rõ các trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản bị vô hiệu Điều 6 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng có thể bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần.
a) Trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng.
b) Trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị tuyên bố vô hiệu một phần thì các nội dung không bị vô hiệu vẫn được áp dụng; đối với phần nội dung bị vô hiệu thì các quy định tương ứng về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng.
Tòa án quyết định tuyên bố thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu khi thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật hôn nhân và gia đình và lưu ý một số trường hợp sau đây:
a) Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu do vi phạm quyền được bảo đảm chỗ ở của vợ, chồng quy định tại Điều 31 và điểm b khoản 1 Điều 50 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp thỏa thuận đó cho phép một bên được quyền định đoạt nhà ở là nơi ở duy nhất của vợ chồng dẫn đến vợ, chồng không có chỗ ở hoặc không bảo đảm chỗ ở tối thiểu về diện tích, điều kiện sinh hoạt, an toàn, vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật về nhà ở.
b) Nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu do vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp thỏa thuận đó nhằm trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng quy định từ Điều 110 đến Điều 115 của Luật hôn nhân và gia đình hoặc để tước bỏ quyền thừa kế của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự hoặc vi phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình đã được Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật khác có liên quan quy định. 
Trong thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng, pháp luật đã quy định rõ hình thức, nội dung cũng như điều kiện có hiệu lực của văn bản thỏa thuận. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng, nếu được xác lập mới phải được lập trước khi kết hôn, được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật và có hiệu lực kể từ ngày đăng ký kết hôn; nếu thỏa thuận được sửa đổi, bổ sung một phần hoặc toàn bộ nội dung sau khi đã kết hôn thì vợ chồng được sửa đổi, bổ sung trong thời kỳ hôn nhân và thỏa thuận sửa đổi, bổ sung đó có hiệu lực kể từ ngày văn bản thỏa thuận sửa đổi, bổ sung được công chứng hoặc chứng thực.
Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng xét về bản chất là một giao dịch dân sự có sự tham gia của hai bên trong giao dịch. Theo quy định của Luật Dân sự, Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.
Bên cạnh đó, khi xây dựng Luật  Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nhà làm luật đã xây dựng các nguyên tắc áp dụng cho chế độ tài sản của vợ chồng. Đây là những nguyên tắc chủ đạo, mang tính nền tảng và định hướng được áp dụng không phụ thuộc vào chế độ tài sản mà vợ chồng lựa chọn (chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc chế độ tài sản luật định). Trong trường hợp một số vấn đề trong nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng chưa được thỏa thuận hoặc thỏa thuận chưa rõ ràng sẽ được áp dụng theo các quy định của nguyên tắc này (các điều 29, 30, 31, 32) Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và các quy định tương ứng của chế độ tài sản luật định. Nguyên tắc này được ưu tiên dẫn chiếu áp dụng trong trường hợp phát sinh tranh chấp liên quan đến vấn đề tài sản của vợ chồng nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ, chồng cũng như các thành viên trong gia đình; bảo vệ và củng cố mục tiêu xây dựng gia đình bình đẳng, tiến bộ, ấm no, hạnh phúc theo tinh thần của Luật Hôn nhân và Gia đình, chủ trương của Đảng và Nhà nước, nguyện vọng và nhân dân. Chỉ cần thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng vi phạm một trong các quy định về nguyên tắc chung của chế độ tài sản của vợ chồng thì thỏa thuận đó bị coi là vô hiệu.
Ngoài ra, để bảo vợ quyền, lợi ích chính đáng; quyền được cấp dưỡng, nuôi dưỡng; quyền được thừa kế của cha, mẹ, con và các thành viên khác trong gia đình, khi vợ chồng xác lập thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng thì nội dung của thỏa thuận phải đảm bảo thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng; đảm bảo quyền được hưởng di sản thừa kế của cha, mẹ, con và các thành viên khác trong gia đình.
Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác. Những người có quyền cấp dưỡng là những người mà theo quy định của pháp luật có quyền được người khác nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Pháp luật cũng quy định, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Theo quy định trên thì bất kỳ người nào cũng có quyền được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật.
Do vậy, thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng sẽ bị vô hiệu nếu nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình.
Với quy định trên, pháp luật tạo điều kiện cho phép vợ chồng tự do thỏa thuận định đoạt tài sản của mình nhưng vẫn phải đảm bảo các nghĩa vụ về tài sản mà vợ chồng phải gánh chịu với người thứ ba và các thành viên trong gia đình. Quy định này cũng góp phần ngăn chặn những thỏa thuận được vợ chồng xác lập nhằm mục đích không lành mạnh, trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ dân sự làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người có liên quan; góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng được pháp luật công nhận của cha, mẹ, con và của các thành viên khác trong gia đình.
Như vậy, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận đã đáp ứng kịp thời những mong muốn, nguyện vọng của người dân nói chung (vợ chồng nói riêng) trong đời sống xã hội; bảo đảm sự ổn định, trật tự trong các giao lưu dân sự giữa các cá nhân với nhau. Tuy nhiên, những quy định về chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Nghị định số 126/2014/NĐ-CP  ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều và biện pháp thi hành của Luật Hôn nhân và Gia đình vẫn còn chung chung, chưa cụ thể, chưa đi sát vào thực tiễn cuộc sống, vẫn còn có những hạn chế, bất cập cần phải được nghiên cứu sửa đổi trong thời gian tới.

Theo: moj.gov.vn
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
3. Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình.
4. Ths. Quách Văn Dương, Chế độ hôn nhân và chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật Hôn nhân và Gia đình.
5. Nguyễn Văn Cừ, Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, NXB Tư pháp, 2008.
6. Jean PATARIN và Imre ZAJTAY, Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật đương đại, 1974, page 20-21.
7. Bộ luật Dân sự Pháp. Nguồn: http://www.nclp.org.vn
8. Bộ luật Dân sự Bỉ. Nguồn: http://www.nclp.org.vn
9. Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan. Nguồn: http://www.nclp.org.vn
10.https://luatduonggia.vn/su-thua-nhan-cua-mot-so-nuoc-tren-the-gioi-ve-che-do-tai-san-cua-vo-chong-theo-thoa-thuan/
11.http://www.lsvn.vn/nghien-cuu-trao-doi/phan-tich-nghien-cuu/che-do-tai-san-cua-vo-chong-theo-thoa-thuan-24166.html

Cơ quan Quân sự cấp đất cho nhân viên, có đúng thẩm quyền?

Thực tiễn sử dụng đất của nước ta qua nhiều thời kỳ, mỗi thời kỳ pháp luật về đất đai có những quy định khác nhau. Chúng tôi xin nêu một trường hợp, nhân viên được Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh ra quyết định cấp đất từ năm 1986, đến nay làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đặt ra vấn đề trường hợp này có được coi là cấp đất hợp pháp, đúng thẩm quyền hay không?

Được cơ quan cấp đất từ năm 1986

Năm 1986, gia đình ông A được Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh C ra quyết định cấp đất ở và đất sản xuất. Nay ông A làm thủ tục kê khai để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có phải thực hiện nghĩa vụ tài chính như đất ở được hợp pháp hóa hay không?
Ông Nguyễn Văn A với bà Nguyễn Thị B nguyên là cán bộ công nhân viên công tác tại Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh C. Ngày 25/4/1986, ông A và bà B được Bộ Chỉ huy quân sự cấp cho 500m2 đất để ở. Sau đó, ông A và bà B có đơn gửi Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh xin được khai hoang thêm khoảng 500m2 đất để tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống và đã được Bộ Chỉ huy quân sự đồng ý. Tổng diện tích đất ông A, bà B được Bộ Chỉ huy quân sự cấp là 1012m2 và đã sử dụng ổn định từ đó đến nay.
Năm 2015, gia đình ông A và bà B làm thủ tục kê khai để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại UBND phường đối với diện tích đất nói trên. Quá trình làm thủ tục, UBND phường D và UBND thành phố E cho rằng diện tích đất mà gia đình ông A, bà B đang sử dụng đã có quy hoạch mở một con đường rộng 3m chạy ngang qua, nên phải tách thành hai thửa, là  thửa đất số 106 và thửa đất số 265. Nhưng sau đó, UBND phường D và UBND thành phố E cho rằng cả hai thửa đất này là đất lấn chiếm nên không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Sau nhiều lần khiếu nại lên các cấp, ngày 13/1/2016, gia đình ông A nhận được thông báo nộp tiền sử dụng đất của Chi cục thuế thành phố E đối với thửa đất số 106, có diện tích 670,9m2, số tiền phải nộp là 50. 400 000 đồng. Thông báo nộp tiền sử dụng đất xác định nguồn gốc “Đất hợp thức hóa” nên gia đình ông A phải nộp 40%. Đến ngày 25/5/2016, gia đình ông A lại nhận được thêm thông báo nộp tiền sử dụng đất đối với thửa 265, tờ bản đồ số 29, diện tích 373,5m2, số tiền phải nộp là 376. 488 000 đồng, xác định nguồn gốc “Đất hợp thức hóa” phải nộp 100% tiền sử dụng đất.
Ông A cho rằng việc UBND phường D và UBND thành phố E cho rằng đất của gia đình ông là “đất hợp thức hóa” là không có cơ sở, vì đất được Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh C ra quyết định cấp từ năm 1986, và sử dụng từ đó đến nay không có ai tranh chấp. Do vậy, ông A và bà B yêu cầu Tòa án hủy hai thông báo nộp tiền sử dụng đất của Chi cục thuế thành phố E.

Hướng giải quyết vụ án

 Có hai quan điểm về giải quyết vụ án:
– Quan điểm thứ nhất cho rằng ông A và bà B được cấp đất hợp pháp nên yêu cầu hủy hai thông báo nộp tiền sử dụng đất là có căn cứ. Căn cứ Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 (Điều 100 Luật Đất đai năm 2013); Điều 2, Điều 11, Điều 12, khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 31, Điều 115; điểm a khoản 2 Điều 116, Điều 130, Điều 146 và Điều 149 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; khoản 7 Điều 18, điểm a khoản 2 Điều 21 và khoản 2 Điều 23 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Điều 6 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất… nên chấp nhận yêu cầu của ông A và bà B.
– Quan điểm thứ hai cho rằng: Theo khoản 1, 2, 3 Mục I Nghị định 201-CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước thì việc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh C giao và cho phép hộ gia đình ông Nguyễn Văn A và bà Nguyễn Thị B sử dụng diện tích 1 012m2, trong đó có 500m2 đất được Bộ Chỉ huy quân sự cấp, phần còn lại là vợ chồng ông A, bà B xin khai hoang thêm để sản xuất cải thiện đời sống là không đúng về thẩm quyền giao đất.
Diện tích đất ông A, bà B sử dụng thuộc trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai năm 2013.
Như vậy, ông A và bà B được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nói trên, đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định thu tiền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân đối với đất giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004 là đúng pháp luật.
Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai. Rất mong nhận được ý kiến tham gia của các đồng nghiệp và bạn đọc.
TRƯƠNG THỊ TỐ UYÊN (Thẩm phán TAND Tp Hải Dương, Hải Dương)
Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Một số vấn đề cần lưu ý khi đề ra yêu cầu điều tra vụ án hình sự

Chúng ta đều biết rằng, việc đề ra yêu cầu điều tra là một yêu cầu bắt buộc đối với các Kiểm sátviên trong quá trình kiểm sát giải quyết vụ ánhình sự, đây là quyền hạn theo tố tụng và cũng là trách nhiệm pháp lý của các Kiểm sát viên được quy định tại Điều 42 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 26 Quy chế công tác THQCT, KSĐT; Yêu cầu điều tra có ý nghĩa định hướng, tác động đối với Cơ quan điều tra để đảm bảo cho hoạt động điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ được đầy đủ …
Có thể thấy rằng, yêu cầu điều tra chính là sản phẩm, là kết quả của hoạt động nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, đánh giá, so sánh, đối chiếu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và các văn bản pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án. Tính chất, đặc điểm của mỗi loại tội phạm, mỗi một vụ án sẽ có những nội dung yêu cầu điều tra khác nhau. Do đó vấn đề đặt ra ở đây là, chúng ta phải nhận thức được đầy đủ những cơ sở chung nhất, khái quát nhất để đề ra yêu cầu điều tra, đây chính là cơ sở phương pháp luận có ý nghĩa là những nguyên tắc cơ bản để đề ra yêu cầu điều tra cho tất cả các vụ án, dù là loại tội gì, đơn giản hay phức tạp. Cụ thể như sau:
Thứ nhất: Việc đề ra những nội dung yêu cầu điều tra phải song song đồng thời và trên cơ sở của hoạt động nghiên cứu hồ sơ vụ án, đây là một nguyên tắc bắt buộc để đảm bảo cho yêu cầu điều tra có tính sát thực, cụ thể và trực tiếp giải quyết được các vấn đề của vụ án, tránh được việc yêu cầu chung chung, hình thức. Có thể nói rằng, chất lượng của yêu cầu điều tra phụ thuộc phần lớn vào kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án; Việc đề ra yêu cầu điều tra phải trên cơ sở những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ tại thời điểm yêu cầu. Cần xem xét xem, đã có những tài liệu, chứng cứ gì, những chứng cứ đó chứng minh về những tình tiết gì cần giải quyết và đã có đủ chứng cứ để chứng minh những tình tiết đó chưa; còn có những vấn đề, tình tiết gì cần phải giải quyết mà chưa có tài liệu, chứng cứ chứng minh hoặc chưa đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh để yêu cầu điều tra thu thập, xác minh làm rõ.
Thứ hai: Yêu cầu điều tra phải trên cơ sở những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sựtheo quy định tại Điều 85 Bộ luật tố tụng hình sự. Cần xem xét xem các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã chứng minh làm rõ hay chưa về các vấn đề như có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; động cơ, mục đích phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân…Trên cơ sở đó để yêu cầu điều tra chứng minh những vấn đề chưa được chứng minh hoặc chứng minh nhưng chưa đầy đủ.
Thứ ba: Yêu cầu điều tra phải trên cơ sở các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm cụ thể đã khởi tố và đang điều tra – Đây là cơ sở rất quan trọng đối với tất cả các vụ án. Mỗi loại tội phạm thì có những dấu hiệu pháp lý đặc trung riêng, do đó cần phải có nhận thức đúng, chính xác từng dấu hiệu để yêu cầu điều tra chứng minh, trên nguyên tắc là tất cả các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm phải được chứng minh đầy đủ.
Thứ tư: Yêu cầu điều tra phải dựa trên cơ sở các văn bản pháp luật hướng dẫn chung và hướng dẫn đối với mỗi loại tội phạm cụ thể, đó là các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, Thông tư liên tịch…v.v. Do đó, đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ các văn bản này để yêu cầu điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ đảm bảo đủ căn cứ để giải quyết theo các văn bản hướng dẫn này.
* Một số vấn đề cần lưu ý khi đề ra yêu cầu điều tra:
– Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, chứng cứ, cần phải đánh giá về giá trị chứng minh của các chứng cứ, nếu thấy có tài liệu, chứng cứ nào không đảm bảo tính khách quan, liên quan và hợp pháp thì yêu cầu điều tra khắc phục, sửa chữa hoặc có biện pháp giải quyết. Trong đó, cần chú ý phát hiện sự mâu thuẫn, không thống nhất giữa các tài liệu, chứng cứ với nhau để yêu cầu Cơ quan điều tra có những biện pháp điều tra cần thiết xác định tính chính xác, tính đúng đắn của những tình tiết còn có sự mâu thuẫn hoặc không thống nhất đó (Ví dụ trong một vụ án Trộm cắp tài sảnbị hại khai là xe mô tô để ở trong nhà và bị can vào nhà trộm cắp; còn bị can khai là có ý định chiếm đoạt xe từ trước, sau đó đến nhà bị hại nói dối là mượn xe đi có việc, sau khi mượn được xe thì mang ngay đi cầm cố lấy tiền mua ma túy sử dụng. Ngoài hai lời khai này thì không có chứng cứ nào khác để chứng minh. Như vậy, rõ ràng lời khai của bị hại và bị can là không thống nhất với nhau, do đó cần phải yêu cầu điều tra làm rõ thì mới đủ căn cứ để xác định là bị can phạm tội Trộm cắp tài sản hay tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản).
– Trong một vụ án có rất nhiều vấn đề cần phải thu thập tài liệu, chứng cứ để chứng minh, tuy nhiên cũng cần thấy rằng, có những vấn đề nếu Kiểm sát viên không yêu cầu điều tra thì theo thông thường Điều tra viên vẫn tiến hành điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ, đối với những vấn đề này không cần thiết phải liệt kê ra hết để yêu cầu điều tra, mà cần tập trung nghiên cứu yêu cầu điều tra làm rõ những vấn đề cơ bản, quan trọng và mấu chốt nhất của vụ án, những vấn đề này nếu không yêu cầu điều tra thì có thể sẽ không được điều tra hoặc việc điều tra sẽ sơ sài, không đầy đủ, không khách quan, phiến diện. Do đó, vấn đề đặt ra ở đây là Kiểm sát viên cần phải nhận biết được những vấn đề cơ bản, quan trọng và mấu chốt nhất của mỗi vụ án cụ thể để đề ra yêu cầu điều tra; Đối với những vấn đề khác theo thông thường Điều tra viên vẫn tiến hành điều tra, thì tùy theo tiến độ điều tra nếu Điều tra viên chưa thực hiện thì mới yêu cầu điều tra.
– Một vấn đề nữa cũng cần chú ý là, đối với một số loại tội phạm có dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm khó chứng minh, khó thu thập chứng cứ, thì Kiểm sát viên cần quan tâm nghiên cứu về những biện pháp điều tra thu thập chứng cứ để yêu cầu Điều tra viên thực hiện. Ví dụ: Đối với tội Buôn lậu hay tội Vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, thì một trong những dấu hiệu bắt buộc phải chứng minh là dấu hiệu qua biên giới, trong nhiều trường hợp, sau khi đối tượng đã vận chuyển hàng hóa qua biên giới vào sâu trong nội địa thì mới bị phát hiện bắt giữ, ngoài lời khai của đối tượng về hành vi phạm tội thì không có nhân chứng biết việc, không có đồng phạm, đối tượng ở nước ngoài thì không xác định được, vậy dấu hiệu qua biên giới phải chứng minh như thế nào, nếu chỉ căn cứ lời khai của đối tượng thì sẽ không đủ chứng cứ để kết luận. Trong trường hợp này cần yêu cầu điều tra chi tiết hóa lời khai của đối tượng và thu thập chứng cứ khác phù hợp với lời khai của đối tượng.
– Ngoài ra, đối với một số loại tội phạm cần chú ý yêu cầu điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ để có đủ căn cứ phân biệt với các tội phạm khác, ví dụ: tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội Lạm dụngchiếm đoạt tài sản, tội Cướp với tội Cưỡng đoạt tài sản, tội Giết người với tội Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người…v.v. Một vấn đề nữa cũng cần chú ý là, cách thức viết yêu cầu điều tra nên theo hướng mở, đặt vấn đề để yêu cầu giải quyết.
Trên đây là một số vấn đề cơ bản cần lưu ý khi xây dựng bản Yêu cầu điều tra, qua đó đảm bảo cho bản Yêu cầu điều tra có chất lượng, giúp cho Cơ quan điều tra và Điều tra viên tiến hành các hoạt động và các biện pháp điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ được đúng đắn và đầy đủ, hạn chế việc trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, chống oan sai và bỏ lọt tội phạm./.

Bị đơn có quyền yêu cầu phản tố về ly hôn không?

Bị đơn có quyền yêu cầu phản tố về ly hôn không? Việc rút lại yêu cầu ly hôn của nguyên đơn thì Tòa án giải quyết như thế nào. Vấn đề này hiện có hai quan điểm khác nhau.
Một trong những nguyên tắc được quy định trong BLTTDS năm 2015 là quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự. Theo đó, trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình. Thực tiễn xét xử có vụ ánhôn nhân và gia đình, tại phiên tòa sơ thẩm nguyên xin rút lại yêu cầu ly hôn để đoàn tụ gia đình nhưng bị đơn không đồng ý và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. Vậy bị đơn có quyền yêu cầu phản tố về ly hôn không? Việc rút lại yêu cầu ly hôn của nguyên đơn thì Tòa án giải quyết như thế nào. Vấn đề này hiện có hai quan điểm khác nhau.
Quan điểm thứ nhất, cho rằng trong vụ án hôn nhân và gia đình, ngoài yêu cầu ly hôn, đương sự còn có các yêu cầu khác như chia tài sản chung, nuôi con, cấp dưỡng nuôi con.. Khoản 2 Điều 244 BLTTDS quy định: “Trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút.”. Như vậy, đối với yêu cầu ly hôn, nếu tại phiên tòa phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn rút lại phần yêu cầu ly hôn thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử yêu cầu ly hôn của nguyên đơn mà không phụ thuộc vào việc bị đơn có đồng ý hay không. Việc bị đơn yêu cầu giải quyết cho ly hôn thì không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với yêu cầu chia tài sản chung, đây là yêu cầu độc lập với yêu cầu ly hôn nên Hội đồng xét xử sẽ tiếp tục xem xét giải quyết yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Đối với yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con thì tại khoản 1, 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định như sau: “Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Cho nên vấn đề nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chỉ đặt ra khi Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn. Và vì nguyên đơn đã rút lại yêu cầu ly hôn nên Tòa án không xem xét giải quyết các yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp nguyên đơn rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện (bao gồm yêu cầu ly hôn, chia tài sản chung của vợ chồng, nuôi con, cấp dưỡng nuôi con) và các đương sự còn lại không có yêu cầu gì khác thì Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử toàn bộ yêu cầu đã rút.
Quan điểm thứ hai cho rằng, mặc dù tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn rút lại yêu cầu ly hôn nhưng bị đơn không đồng ý việc rút đơn này và có yêu cầu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử phải xem xét yêu cầu ly hôn của bị đơn tại phiên tòa và nếu có căn cứ cho ly hôn thì Tòa án phải giải quyết cho ly hôn. Đối với các yêu cầu khác thì Tòa án phải tiếp tục xem xét giải quyết theo thủ tục chung.
Tác giả hoàn toàn đồng tình với lập luận của quan điểm thứ nhất và không đồng ý quan điểm thứ hai, vì các lý do sau:
Thứ nhất, về nguyên tắc yêu cầu ly hôn là yêu cầu của nguyên đơn, không phải là yêu cầu của bị đơn. Nếu tại phiên tòa nguyên đơn chỉ rút lại yêu cầu ly hôn nhưng bị đơn không đồng ý và yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì Tòa án cũng không thể thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự trong vụ án được. Bởi vì vấn đề thay đổi địa vị tố tụng chỉ đặt ra khi nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình (theo khoản 1 Điều 245 BLTTDS). Trong vụ án này, nguyên đơn không rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện mà chỉ là rút lại yêu cầu ly hôn, các yêu cầu khác nguyên đơn vẫn yêu cầu Tòa án giải quyết.
Thứ hai, việc giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hoàn toàn không phụ thuộc vào việc Tòa án có giải quyết cho vợ chồng ly hôn hay không. Bởi vì trong trường hợp vợ chồng chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân mà không yêu cầu giải quyết ly hôn thì Tòa án vẫn phải xem xét giải quyết (theo khoản 2 Điều 28 BLTTDS năm 2015). Sau khi Tòa án giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng, nếu bị đơn muốn ly hôn với nguyên đơn thì hoàn toàn có thể nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn trong một vụ án khác.
Rất mong bạn đọc cùng thảo luận và trao đổi thêm.

DƯƠNG TẤN THANH (TAND thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh)

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Quyền nhân thân của cá nhân trong pháp luật dân sự

Con người luôn là trung tâm, là mục tiêu hướng đến đầu tiên của quá trình phát triển, do đó, song song với việc phát triển về mọi mặt của xã hội thì vấn đề con người cũng ngày càng được tôn trọng và bảo vệ. Tương tự các quốc gia khác trên thế giới, tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến yếu tố con người, theo đó, ghi nhận các quyền con người bao gồm: quyền về kinh tế, quyền về chính trị, quyền về dân sự,… trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Một trong những bộ phận quan trọng của quyền dân sự và được cụ thể hóa tại các Bộ luật dân sựđó là quyền nhân thân của cá nhân.

1. Khái niệm quyền nhân thân

Quyền nhân thân với tư cách là một thuật ngữ pháp lý, lần đầu tiên được nhắc đến trong Bộ luật dân sự (BLDS) năm 1995, nó ra đời và có ý nghĩa là cơ sở pháp lý để bảo vệ cho cá nhân tồn tại với tư cách là một thực thể, một chủ thể độc lập trong cộng đồng. Thông qua việc cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992 về quyền con người về dân sự, BLDS năm 1995 xác định quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đây được xem là một bước đổi mới quan trọng trong tư duy, nhận thứccủa các nhà làm luật Việt Nam, cũng là bước tiến đáng ghi nhận, có ý nghĩa đặt nền móng cho sự phát triển quy định về quyền nhân thân trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam.
Về khái niệm quyền nhân thân, hiện nay trong pháp luật thực định cũng như trong các công trình nghiên cứu khoa học chưa có một định nghĩa nào thống nhất, cụ thể về quyền nhân thân. Dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, các nhà lập pháp, nhà nghiên cứu luật học đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này.
Quan điểm thứ nhất: tiếp cận quyền nhân thân dưới hai góc độ là góc độ chủ thể và góc độ khách thể. Theo đó:
– Dưới góc độ chủ thể, quyền nhân thân về dân sự được hiểu là quyền con người về dân sự gắn liền với mỗi cá nhân được thụ hưởng với tư cách là thành viên của cộng đồng kể từ thời điểm người đó được sinh ra và bằng các quyền đó, mỗi cá nhân được khẳng định địa vị pháp lý của mình trong giao lưu dân sự, do đó mỗi cá nhân đều có quyền nhân thân riêng và quyền này không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy, theo cách hiểu này, quyền nhân thân chính là quyền con người mà cá nhân đó được toàn quyền hưởng và toàn quyền tự định đoạt, có mối quan hệ hữu cơ với mỗi cá nhân kể từ thời điểm cá nhân đó được sinh ra và gắn liền với cá nhân trong suốt cuộc đời.
– Dưới góc độ khách thể, quyền nhân thân về dân sự của cá nhân được hiểu là chế định pháp luật bao gồm các quy định của pháp luật về các quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân để bảo đảm địa vị pháp lý cho mọi cá nhân, là cơ sở pháp lý để cá nhân thực hiện các quyền con người về dân sự trong sự bảo hộ của nhà nước và pháp luật. Theo cách hiểu này, quyền nhân thân chính là các điều luật quy định về quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để cá nhân thực hiện các quyền đó và được bảo vệ quyền khi có hành vi xâm phạm xảy ra.
Với việc tiếp cận khái niệm theo cách này có ý nghĩa cơ bản làm rõ nội hàm quyền nhân thân ở hai góc độ khác nhau nhưng lại có một hạn chế lớn do sự tách biệt hai yếu tố chủ thể và khách thể của quyền nhân thân, dẫn đến định nghĩa quyền nhân thân không có tính hệ thống, bao quát và toàn diện.
Quan điểm thứ hai: cho rằng chỉ những giá trị nhân thân được pháp luật ghi nhận mới được xem là quyền nhân thân, còn những giá trị nhân thân không được ghi nhận thì sẽ không được xem là quyền nhân thân. Quan điểm này có một hạn chế lớn đó là chưa xác định được quyền nhân thân chính là quyền dân sự. Mặt khác, với cách nhìn nhận chỉ những giá trị nhân thân được pháp luật ghi nhận mới được coi là quyền nhân thân, định nghĩa này đã vô hình chung thu hẹp phạm vi quyền nhân thân của con người.
Quan điểm thứ ba: cho rằng quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắn liền với cá nhân do nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và các cá nhân không thể chuyển giao quyền này cho người khác. So với hai quan điểm trên, quan điểm này được xem là đầy đủ và toàn diện hơn khi nêu được các thuộc tính của quyền nhân thân như: là quyền dân sự, gắn liền với cá nhân, được nhà nước quy định và không thể chuyển giao, đồng thời, khắc phục được hạn chế mà quan điểm thứ hai mắc phải.
Quan điểm thứ tư: nhìn nhận quyền nhân thân theo hai vấn đề, đó là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác. Quan điểm này đã được chuyển hóa vào nội dung quy định trong BLDS năm 2015.
Kế thừa những điểm tiến bộ trong quy định của BLDS năm 2005 về quyền nhân thân, tại khoản 1 Điều 25 BLDS năm 2015 quy định: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”. Quy định này phần nào làm rõ khái niệm quyền nhân thân với hai đặc điểm cơ bản: là quyền dân sự gắn liền với cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác.
Như vậy, qua việc tìm hiểu những quan điểm khoa học pháp lý đến luật thực định về khái niệm quyền nhân thân cho thấy, hiện nay, còn có nhiều cách nhìn nhận, tiếp cận về quyền nhân thân khác nhau ở nhiều góc độ nhất định.
Tuy nhiên, về cơ bản, các quan điểm nói trên đều thống nhất ở một số điểm chung như sau:
Thứ nhất, quyền nhân thân là một bộ phận của quyền dân sự và quyền này thuộc về cá nhân.
Thứ hai, quyền nhân thân luôn hướng tới những giá trị tinh thần không định giá được như quyền đối với họ tên; quyền được khai sinh; quyền được khai tử; quyền tự do đi lại, tự do cư trú; quyền đối với hình ảnh cá nhân; quyền bí mật đời tư; quyền tác giả… Tất cả những quyền này liên quan mật thiết đến những nhu cầu cần có của một cá nhân sống trong xã hội và bất cứ ai cũng không được phép xâm phạm.
Thứ ba, quyền nhân thân không thể chuyển giao cho người khác, nghĩa là quyền nhân thân của mỗi cá nhân chỉ do chính cá nhân đó có quyền thực hiện hoặc do người đại diện của họ thực hiện trong một số trường hợp do pháp luật quy định.
Xuất phát từ những điểm thống nhất trong một số quan điểm nêu trên và quy định về quyền nhân thân tại Điều 25 BLDS năm 2015, có thể đưa ra định nghĩa về quyền nhân thân như sau: “Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với giá trị tinh thần của mỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao cho chủ thể khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. 

2. Đặc điểm quyền nhân thân

Với bản chất là một bộ phận quyền dân sự, quyền nhân thân có đầy đủ các đặc điểm của quyền dân sự nói chung. Ngoài ra, nó còn mang một số đặc điểm riêng biệt nhằm phân biệt với quyền tài sản. Cụ thể như:
Thứ nhất, quyền nhân thân mang tính chất phi tài sản
Khác với quyền tài sản, đối tượng của quyền nhân thân là một giá trị tinh thần, do đó, quyền nhân thân không biểu hiện bằng vật chất, không quy đổi được thành tiền và mang giá trị tinh thần. Giá trị tinh thần và tiền tệ không phải là những đại lượng tương đương và không thể trao đổi ngang giá. Do vậy, quyền nhân thân không thể bị định đoạt hay mang ra chuyển nhượng cho người khác. Một người không thể kê biên quyền nhân thân của con nợ. Pháp luật quy định cho mọi chủ thể đều bình đẳng về quyền nhân thân. Mỗi một chủ thể có những giá trị nhân thân khác nhau nhưng được pháp luật bảo vệ như nhau khi các giá trị đó bị xâm phạm.
Thứ hai, quyền nhân thân gắn liền với một chủ thể nhất định và không thể chuyển dịch
Mỗi một chủ thể mang một giá trị nhân thân đặc trưng, do đó, quyền nhân thân luôn gắn liền với một chủ thể nhất định. Mặc dù vậy, quyền nhân thân không bị phụ thuộc, chi phối bởi bất kỳ yếu tố khách quan nào như độ tuổi, trình độ, giới tính, tôn giáo, địa vị xã hội,….
Quyền nhân thân không thể chuyển dịch cho người khác, tức là, quyền nhân thân của mỗi cá nhân chỉ do chính cá nhân đó hoặc trong một số trường hợp do chủ thể khác được pháp luật quy định thực hiện. Quyền nhân thân không thể là đối tượng trong các giao dịch mua bán, trao đổi, tặng, cho,… Trên thực tế xuất hiện nhiều hợp đồng liên quan đến quyền nhân thân, ví dụ: một người mẫu ký hợp đồng với công ty quảng cáo về việc cho phép công ty đó sử dụng bức ảnh của mình để quảng cáo. Vậy, quyền nhân thân đối với hình ảnh của người mẫu trong trường hợp này có được xem là đối tượng chuyển dịch? Thực chất, đối tượng chuyển dịch trong trường hợp này chính là những bức ảnh của người mẫu đã được chụp mà không phải là quyền nhân thân đối với hình ảnh của người mẫu. Bởi, như đã phân tích ở trên, quyền nhân thân mang giá trị tinh thần, do đó, không thể định đoạt và chuyển giao cho người khác. Trong nghiên cứu mới đây về quyền nhân thân, có quan điểm phân loại quyền nhân thân thành quyền nhân thân cơ sở (hay còn gọi là quyền nhân thân gốc) và quyền nhân thân phái sinh. Quyền nhân thân cơ sở là quyền nhân thân theo đúng bản chất của nó, không thể chuyển nhượng. Quyền nhân thân phái sinh là quyền khai thác danh tiếng của một cá nhân với mục đích thương mại. Liên quan đến hình ảnh của cá nhân, quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân cơ sở, còn quyền đối với từng bức ảnh cụ thể của cá nhân trong trường hợp ký hợp đồng với công ty quảng cáo nói trên là quyền nhân thân phái sinh.

3. Các quyền nhân thân của cá nhân trong pháp luật dân sự

Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định của BLDS năm 2005, hiện nay, tại BLDS năm 2015 ghi nhận quyền nhân thân của cá nhân bao gồm các quyền cụ thể sau: Quyền có họ, tên (Điều 26); Quyền thay đổi họ (Điều 27); Quyền thay đổi tên (Điều 28); Quyền xác định, xác định lại dân tộc (Điều 29); Quyền được khai sinh, khai tử (Điều 30); Quyền đối với quốc tịch (Điều 31); Quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Điều 32); Quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể (Điều 33); Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 34); Quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (Điều 35); Quyền xác định lại giới tính (Điều 36); Chuyển đổi giới tính (Điều 37); Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình (Điều 38) và Quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình (Điều 39). Các quyền nêu trên chính là các quyền nhân thân của cá nhân nhằm xác định tư cách của chủ thể của cá nhân trong quan hệ dân sự (ví dụ: quyền về họ, tên, dân tộc, nơi cư trú..) và có tính đặc thù trong quan hệ dân sự, chưa được quy định cụ thể trong Hiến pháp (ví dụ: quyền được khai sinh, khai tử,..) hoặc dễ bị phân biệt đối xử do các định kiến xã hội (ví dụ: quyền xác định lại giới tính). Xét từ vị trí, vai trò của Bộ luật dân sựmối quan hệ của Bộ luật này với Hiến pháp, các luật khác có liên quan và sự thay đổi không ngừng của các lợi ích tinh thần của cá nhân trong đời sống xã hội thì việc BLDS năm 2015 tập trung quy định các quyền này cũng là phù hợp.
– Quyền có họ, tên: Cá nhân có quyền có họ, tên (bao gồm cả chữ đệm, nếu có). Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó. Họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán. Trường hợp chưa xác định được cha đẻ thì họ của con được xác định theo họ của mẹ đẻ. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của người đó. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người có yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em, nếu trẻ em đang được người đó tạm thời nuôi dưỡng. Cha đẻ, mẹ đẻ được quy định trong Bộ luật này là cha, mẹ được xác định dựa trên sự kiện sinh đẻ; người nhờ mang thai hộ với người được sinh ra từ việc mang thai hộ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
– Quyền thay đổi họ: Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ trong trường hợp sau đây: Thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngược lại; thay đổi họ cho con nuôi từ họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi; khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ cho người đó theo họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ; thay đổi họ cho con theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc của con khi xác định cha, mẹ cho con; thay đổi họ của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình; thay đổi họ theo họ của vợ, họ của chồngtrong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại họ trước khi thay đổi (đây là một trong những điểm mới được bổ sung nhằm giải quyết kịp thời những bất cập phát sinh từ đời sống xã hội); thay đổi họ của con khi cha, mẹ thay đổi họ; trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.
– Quyền thay đổi tên: Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi tên trong trường hợp sau đây: Theo yêu cầu của người có tên mà việc sử dụng tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó; theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổi tên cho con nuôi hoặc khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại tên mà cha đẻ, mẹ đẻ đã đặt; theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con; thay đổi tên của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình; thay đổi tên của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại tên trước khi thay đổi; thay đổi tên của người đã xác định lại giới tính, người đã chuyển đổi giới tính; trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.
– Quyền xác định, xác định lại dân tộc: Cá nhân có quyền xác định, xác định lại dân tộc của mình. Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ. Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha đẻ, mẹ đẻ; trường hợp không có thỏa thuận thì dân tộc của con được xác định theo tập quán; trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn (đây là một trong những điểm mới quan trọng của BLDS năm 2015 liên quan đến các quy định quyền nhân thân của cá nhân). Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì dân tộc của trẻ em được xác định theo dân tộc của người đó. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em vào thời điểm đăng ký khai sinh cho trẻ em.
– Quyền được khai sinh, khai tử: Cá nhân từ khi sinh ra có quyền được khai sinh. Cá nhân chết phải được khai tử. Trẻ em sinh ra mà sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên mới chết thì phải được khai sinh và khai tử; nếu sinh ra mà sống dưới hai mươi bốn giờ thì không phải khai sinh và khai tử, trừ trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ có yêu cầu.
– Quyền đối với quốc tịch: Cá nhân có quyền có quốc tịch. Việc xác định, thay đổi, nhập, thôi, trở lại quốc tịch Việt Nam do Luật quốc tịch Việt Nam quy định. Quyền của người không quốc tịch cư trú, sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam được bảo đảm theo luật.
– Quyền của cá nhân đối với hình ảnh: Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý. So với BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 đã bổ sung một quy định mới là: Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh. Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
– Quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể: Cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật. Khi phát hiện người bị tai nạn, bệnh tật mà tính mạng bị đe dọa thì người phát hiện có trách nhiệm hoặc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có điều kiện cần thiết đưa ngay đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi gần nhất; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.
– Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín: Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng. Đây là một trong những điểm mới tiến bộ của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 nhằm bảo đảm cho các cá nhân tự mình bảo vệ quyền của bản thân khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
– Quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác: Cá nhân có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi còn sống hoặc hiến mô, bộ phận cơ thể, hiến xác của mình sau khi chết vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác. Cá nhân có quyền nhận mô, bộ phận cơ thể của người khác để chữa bệnh cho mình. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, pháp nhân có thẩm quyền về nghiên cứu khoa học có quyền nhận bộ phận cơ thể người, lấy xác để chữa bệnh, thử nghiệm y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác.
– Quyền xác định lại giới tính: Cá nhân có quyền xác định lại giới tính. Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ giới tính. Việc xác định lại giới tính được thực hiện theo quy định của pháp luật.
– Chuyển đổi giới tính: Một trong những điểm nổi bật về quyền nhân thân của cá nhân trong BLDS năm 2015 chính là việc chuyển đổi giới tính. Điều 37 BLDS năm 2015 quy định: “Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan”. Quy định này nhằm tạo cơ chế pháp lý chống phân biệt đối xử đối với người chuyển đổi giới tính, qua đó, góp phần bảo đảm cho họ có địa vị pháp lý bình đẳng như những cá nhân khác, đồng thời, bảo đảm sự minh bạch trong việc thực hiện các quyền nhân thân, tài sản của chủ thể này trong các quan hệ dân sự. Đây là một trong những quy định tiến bộ, góp phần đưa Việt Nam trở thành một trong các quốc gia có quy định pháp lý cụ thể để bảo vệ quyền của người chuyển đổi giới tính nói riêng và quyền của nhóm người đồng tính, song giới, chuyển giới nói chung, phù hợp với Nghị quyết của Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc được thông qua vào tháng 9/2014 về nhân quyền, xu hướng tình dục và giới tính.
– Quyền về đời sống riêng tưbí mật cá nhânbí mật gia đình: Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.
– Quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình: Cá nhân có quyền kết hônly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên gia đình. Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha, mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha, mẹ của mình.
Như vậy, các quyền thân thân của cá nhân trong pháp luật dân sự có phạm vi rộng và đa dạng, liên quan đến mối quan hệ giữa cá nhân với các cá nhân, tổ chức và giữa cá nhân với Nhà nước. Thông qua các nội dung được quy định cụ thể tại BLDS năm 2015, các quyền nhân thân của cá nhân được quy định chặt chẽ hơn, qua đó, bảo đảm tốt hơn quyền của cá nhân, khắc phục được những bất cập trong thực tiễn thi hành pháp luật về quyền nhân thân và dần đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế.

Quyền hạn của Tòa án khi phát hiện văn bản trái pháp luật

Trong quá trình xét xử vụ án, khi phát hiện thấy những văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hộipháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì Toà án có quyền hạn “xử lý”. Tuy nhiên quyền hạn này của Tòa án quy định không thống nhất, gây khó khăn cho Tòa án.

1. Quy định khác nhau

Tòa án có một quyền hạn đặc biệt, được quy định tại Luật Tổ chức Tòa án nhân dân – LTCTAND (Điều 2, khoản 7), Bộ luật Tố tụng dân sự – BLTTDS (Điều 47, khoản 1, điểm h ;  Điều 221), Luật Tố tụng hành chính – LTTHC (Điều 37, khoản 1, điểm i; các điều   112, 113, 114) và Bộ luật Tố tụng hình sự – BLTTHS (Điều 265).
Theo khoản 7 Điều 2, LTCTAND  thì trong quá trình xét xử vụ án, Toà án phát hiện và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Điều 265 BLTTHS cũng  quy định như LTCTAND.
Điều 221 BLTTDS thì quy định Toà án còn kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.
Tuy nhiên, LTTHC  lại chỉ quy định Toà án:  Kiến nghị với cơ quan,cá nhân có thẩm quyền xem xét sửa đổi,bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật nếu phát hiện có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.
Như vậy, cùng một vấn đề, 4 luật đã quy định khác nhau. LTCTAND  là luật gốc, các luật khác quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Toà án đều phải tuân theo. Thế nhưng, chỉ có BLTTHS “nghiêm chỉnh chấp hành “.
Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng việc BLTTDS quy định mở rộng phạm vi văn bản quy phạm pháp luật Toà án có quyền hạn kiến nghị so với quy định của LTCTAND  là cần thiết, vì loại văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, có thể xảy ra phổ biến hơn là trái với Hiến pháp, luật… Cũng có thể chấp nhận được việc LTTHC không quy định Toà án kiến nghị xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật trái với Nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, vì có thể coi những văn bản này là văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên. 
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật – LBHVBQPPL, đã quy định rõ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta. Trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật này, theo quy định của BLTTDS và LTTHC thì chỉ trừ  Hiến pháp còn từ luật trở xuống đến Nghị quyết của HĐND và Quyết định của UBND cấp xã, Toà án đều có quyền hạn phát hiện và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, huỷ bỏ hoặc bổ sung. Nhưng theo BLTTHS thì Toà án chỉ có quyền hạn như quy định tại khoản 7 Điều 2 LTC TAND mà thôi.

2. Chánh án Toà án thực hiện quyền hạn

Điều 221 BLTTDS quy định: Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nếu phát hiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án dân sự có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, thì Chánh án Toà án đang giải quyết vụ án có văn bản đề nghị Chánh án Toà án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật.
Điều 112 LTTHC  quy định (i) Chánh án Toà án cấp huyện có quyền kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở xuống; đề nghị Chánh án Toà án cấp tỉnh kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp tỉnh; báo cáo Chánh án Toà án cấp tỉnh đề nghị Chánh án Toà án nhân dân tối cao kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương. (ii) Chánh án Toà án cấp tỉnh, Chánh án Toà án nhân dân cấp cao có quyền kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước từ cấp tỉnh trở xuống; đề nghị Chánh án Toà án nhân dân tối cao kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương.(iii) Chánh án Toà án nhân dân tối cao tự mình hoặc theo đề nghị của Chánh án Toà án cấp tỉnh, Chánh án Toà án nhân dân cấp cao kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương.
Điều 265 BLTTHS chỉ quy định  “Toà án phát hiện và kiến nghị” mà không quy định cụ thể ai thực hiện quyền hạn này. Vậy thực hiện việc kiến nghị này như thế nào? Có thể hiểu đều do Chánh án TANDTC thực hiện được không?

3. Việc xem xét, trả lời kiến nghị của Toà án

Điều 221 BLTTDS và Điều 114 LTTHC quy định: (i) Đối với văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Hiến pháp,  luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên bị kiến nghị xem xét thì trong thời một tháng (30 ngày) kể từ ngày nhận được kiến nghị của Chánh án Toà án, cơ quan đã ban hành văn bản đó phải xem xét và trả lời bằng văn bản cho Toà án. Nếu quá thời hạn này mà không nhận được văn bản trả lời thì Toà án áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn để giải quyết vụ án. (ii) Trường hợp kiến nghị xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì thực hiện theo quy định của pháp luật (Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật).
Điều 265 BLTTHS thì chỉ quy định: Việc xem xét, trả lời Toà án về kết quả xử lý văn bản pháp luật bị kiến nghị được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Đối với trường hợp (i) : Nếu trong thời hạn 30 ngày, cơ quan nhận được kiến nghị của Toà án trả lời rằng không đồng ý với kiến nghị đó thì Toà án sẽ giải quyết thế nào? Có coi là trường hợp “không nhận được văn bản trả lời “ mà áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn để giải quyết vụ án không? Dường như cả ở trường hợp (i) và trường hợp (ii), luật đã quy định theo hướng kiến nghị của Toà án được chấp nhận. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thì “ Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó…”.
Do đó, nếu đồng ý với kiến nghị của Toà án thì cơ quan nhận được kiến nghị phải ban hành văn bản mới sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật bị kiến nghị. Việc xây dựng và ban hành văn bản này bắt buộc phải tuân theo quy định của LBHVBQPPL và Nghị định số 34/2016/ NĐ-CP ngày 14-5-2016 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành LBHVBQPPL. Theo đó, trong vòng 30 ngày rất khó thực hiện được việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới sửa đổi, bổ sung văn bản bị kiến nghị. Trường hợp sửa đổi, bổ sung luật, nghị quyết của Quốc hội…thì thời gian có thể kéo dài hàng năm.
Cũng cần đề cập đến một khả năng là, trong quá trình soạn thảo, sau khi tiếp nhận các ý kiến góp ý và thẩm định lại đi đến kết luận là không cần sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật như Toà án đã kiến nghị. Tất cả những điều đó sẽ làm cho việc giải quyết vụ án bị kéo dài và gặp nhiều khó khăn.
Đối với quy định của BLTTHS như nêu trên thì có thể thực hiện như quy định của BLTTDS và Luật TTHC được không? Vấn đề này quả là chưa có lời giải đáp.

4. Áp dụng văn bản có giá trị pháp lý cao hơn để giải quyết vụ án

Như đã dẫn ở mục 3 ở trên, Điều 221 BLTTDS và Điều 114 LTTHC đã quy định ở trường hợp (i) cơ quan nhà nước nhận được kiến nghị của Toà án mà không có văn bản trả lời thì Toà án áp dụng văn bản pháp lý cao hơn để giải quyết vụ án. Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã quy định một trong những nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật như sau : Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Trong trường hợp (ii), khi Toà án kiến nghị việc sửa đổi luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì việc xem xét sửa đổi, bổ sung sẽ được thực hiện theo quy định của Luật ban hành văn bản quy pháp luật. Do đó, quy định ở hai điều luật này rõ ràng là không cần thiết.

5. Nên bãi bỏ

Từ những trình bày ở trên, chúng tôi cho rằng các quy định tại khoản 7 Điều 2  TCTAND, Điều 221 BLTTDS, Điều 265 BLTTHS, Điều 114 LTTHC là không khả thi. Do đó, để tránh cho các luật thêm “nặng nề “ và có thể gây “ hoang mang” cho các Toà án khi gặp những trường hợp này trong quá trình giải quyết vụ án, nên bãi bỏ quy định tại các điều luật trên và những quy định liên quan đến các điều luật này như: Điều 47(k1, điểm h), Điều 214(k1, điểm e), Điều 215 (k3), Điều 259 và Điều 308(k6) BLTTDS ; Điều 37(k1,điểm i), các điều 111,112,113 và Điều 187 (k1, điểm d) Luật TTHC ; Điều 281 (k1) BLTTHS./.
NGÔ CƯỜNG (Nguyên Vụ trưởng Vụ HTQT – TANDTC) 
Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)

Kinh nghiệm quốc tế về hòa giải, đối thoại

Hội thảo quốc tế về Dự án Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án đã nghe tham luận và thảo luận về kinh nghiệm của Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan những vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Chúng tôi xin lược ghi các tham luận được trình bày tại Hội thảo và lần lượt giới thiệu cùng quý độc giả.
Thúc đẩy sự phát triển của cơ chế giải quyết tranh chấp đa nguyên
Ông ông Den Yu (Đặng Vũ) – Phó trưởng phòng, Văn phòng cải cách tư pháp TANDTC Trung Quốc, chia sẻ tại Hội thảo chủ đề Cơ chế giải quyết tranh chấp đa nguyên hóa ở Trung Quốc và những đóng góp của Tòa án Trung Quốc đối với cơ chế này.
“Kế hoạch cải cách 5 năm lần thứ hai Tòa án nhân dân” do TANDTC Trung Quốc ban hành năm 2004 lần đầu tiên đưa ra việc “Xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp đa nguyên hóa” và  ban hành “ Quy định về một số vấn đề liên quan đến công tác hòa giải dân sự Tòa án nhân dân”. Luật hòa giải nhân dân năm 2010 và Luật tố tụng dân sự” năm 2012 trên cơ sở tổng kết, tiếp thu thành quả cải cách đã quy định về chế độ hòa giải và chứng nhận tư pháp, tạo tiền đề pháp lý cho cơ chế giải quyết tranh chấp đa nguyên hóa.
Hiện nay, Trung Quốc có 790 ngàn Ban hòa giải nhân dân, 3.669.000 hòa giải viên, năm 2018, các tổ chức hòa giải nhân dân trên toàn quốc đã hòa giải hơn 9 triệu tranh chấp. Từ năm 2011 đến nay, số lượng tranh chấp cơ quan trọng tài hòa giải tranh chấp lao động phải giải quyết có xu hướng tăng nhanh, đến cuối năm 2018, tỷ lệ thành lập tổ chức hòa giải tranh chấp tại các doanh nghiệp lớn và vừa lên đến 50%, tỷ lệ thành lập tổ chức hòa giải tranh chấp lao động ở cấp xã, thị trấn (tổ dân phố) lên đến 92%, đóng vai trò chính trong việc giải quyết tranh chấp lao động. Toàn quốc có 16 tỉnh (Khu tự trị, thành phố trực thuộc Trung ương) và 266 thành phố cấp địa khu đã triển khai công tác hỗ trợ pháp lý hòa giải trọng tài đối với tranh chấp về lao động. Năm 2018, số tranh chấp về nhân sự lao động trên toàn quốc là 1.826.000 vụ, tăng 9,7% so với năm trước. Sau hơn 20 năm thực hiện Luật trọng tài, 255 tổ chức trọng tài trên toàn quốc xử lý hơn 2.600.000 vụ, số tiền tranh chấp lên đến hơn 4000 tỷ Nhân dân tệ; năm 2018 thụ lý 540.000 vụ, số tiền liên quan lên đến 700 tỷ Nhân dân tệ.
Theo ông Đặng Vũ, các biện pháp cụ thể  Tòa án Trung Quốc thực hiện trong tiến trình cải cách tư pháp bao gồm:
-Thiết lập diễn đàn “kết nối hòa giải và tố tụng”. Với sự thúc đẩy tích cực của Tòa án nhân dân tối cao, đến cuối năm 2018, Tòa án nhân dân các cấp trên toàn quốc đã thiết lập 3320 trung tâm kết nối tố tụng và hòa giải, cán bộ chuyên trách 15.432 người, chế độ làm việc ngày càng hoàn thiện, phát huy tốt chức năng của các cơ chế như phân loại án, hòa giải tiền xét xử, cử người hòa giải, ủy quyền hòa giải, chứng nhận tư pháp, nhanh chóng hóa giải tranh chấp, phát huy vai trò là nơi tập trung, điều phối và phân loại tranh chấp. Hơn 3000 Tòa án cấp cơ sở chỉ đạo nghiệp vụ đối với các tổ chức hòa giải nhân dân, hòa giải viên nhân dân.
-Xây dựng chế độ Tòa án mời hòa giải. Tòa án Trung Quốc xây dựng chế độ mời hòa giải trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm nước ngoài kết hợp với đặc điểm của Tòa án trong nước. Năm 2018, các cấp tòa án trên toàn quốc đã lựa chọn 22.194 tổ chức hòa giải làm Tổ chức hòa giải được mời với 78.153 hòa giải viên, tiếp nhận đề nghị của Tòa án hòa giải trước thụ lý đối với 1.565.644 vụ, hòa giải thành công 704.006 vụ; sau khi thụ lý ủy quyền hòa giải 297.156 vụ, hòa giải thành công 171.911 vụ, tỷ lệ hòa giải thành công lần lượt là 45% và 58%. Số lượng án phân loại xử lý hòa giải bằng Tổ chức hòa giải được mời chiếm 16% tổng số lượng án dân sự thương mại sơ thẩm, giúp giải quyết một số lượng lớn án của Tòa án.
-Xây dựng chế độ Tòa án hòa giải chuyên trách. Tòa án nhân dân các cấp chọn cử thẩm phán hoặc cán bộ hỗ trợ tư pháp có sở trường hòa giải đảm nhiệm hòa giải viên chuyên trách, chịu trách nhiệm xử lý phần lớn các vụ án có thể hòa giải ở giai đoạn thụ lý.
-Tăng cường hòa giải thương mại, hòa giải ngành. Tòa án nhân dân các cấp tích cực ủng hộ việc phát triển các tổ chức hòa giải mang tính chuyên nghiệp đặc thù, tổ chức hòa giải thương mại ở các lĩnh vực dễ xảy ra tranh chấp, xây dựng cơ chế liên kết giữa hòa giải nhân dân, hòa giải hành chính, hòa giải ngành, hòa giải thương mại với hòa giải tố tụng.
-Xây dựng chế độ hòa giải luật sư. Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp đã ban hành “Ý kiến về công tác thí điểm hòa giải luật sư”, phát huy tối đa ưu thế của chuyên gia pháp luật tham gia vào giải quyết tranh chấp. Đẩy mạnh thí điểm hòa giải luật sư.
-Đẩy mạnh hòa giải hành chính. Trung Quốc có 14 bộ luật, 24 bộ quy định hành chính, 119 bộ quy chế ngành, hơn 1900 bộ quy định mang tính địa phương, hơn 1300 bộ quy chế của Chính quyền địa phương các cấp có quy định về hòa giải hành chính. Cơ quan hành chính tiến hành hòa giải các tranh chấp dân sự đối với rất nhiều lĩnh vực như an ninh công cộng, y tế, lao động, tài nguyên, môi trường, giao thông, công thương, sở hữu trí tuệ, hôn nhân gia đình, điện tử viễn thông, tài chính, năng lượng, giáo dục, khoa học kỹ thuật… giải quyết hiệu quả một khối lượng lớn tranh chấp dân sự.
-Xây dựng chế độ chứng nhận tư pháp đối với biên bản hòa giải. Chế độ chứng nhận tư pháp đã khơi thông điểm nối quan trọng giữa hòa giải trong và ngoài tố tụng. Từ năm 2015 đến nay, số lượng thụ lý đề nghị chứng nhận tư pháp của Tòa án không ngừng gia tang, năm 2018, hệ thống Tòa án trên toàn quốc thụ lý 266.962 yêu cầu chứng nhận tư pháp, tang 35,1% so với cùng kỳ, chứng nhận tư pháp có hiệu lực 239.571 vụ, tăng 27,8%. Có sự đảm bảo về tư pháp đã tạo lực đẩy rất lớn cho sự phát triển của hòa giải ngoài tố tụng.
-Xây dựng diễn đàn hòa giải trực tuyến. Đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại trong việc tạo dựng một hệ thống giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp trực tuyến đa nguyên hóa, xuyên suốt về chiều dọc, bao trùm về chiều ngang, mở, an toàn và đáng tin cậy. Trung Quốc đang cố gắng xây dựng một diễn đàn trực tuyến kết hợp hòa giải trực tuyến, thụ lý trực tuyến, chứng nhận tư pháp trực tuyến, xét xử trực tuyến, giám sát điện tử, tống đạt điện tử thành một thể thống nhất, xây dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến có thể sử dụng chung tài nguyên, chia sẻ tiện ích, rộng mở sáng tạo, thúc đẩy dung hòa các cơ chế giải quyết tranh chấp hòa giải, trọng tài và tố tụng, đẩy mạnh tạo dựng cơ chế giải quyết mâu thuẫn đa nguyên, đa chiều, tinh tế, thông minh và pháp quyền.
-Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thảo luận thông qua “Quy định của Tòa án nhân dân tối cao về một số vấn đề liên quan đến thành lập Tòa án thương mại quốc tế”, quy định về chức năng, nhiệm vụ của Tòa án thương mại quốc tế. Ngày 29/6/2018, Tòa án thương mại quốc tế thứ nhất đặt tại thành phố Thâm Quyến, tỉnh Quảng Đông; Tòa thứ hai đặt tại thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây. Ngày 26/8, Tòa án nhân dân tối cao thành lập Ủy ban chuyên gia thương mại quốc tế. Tăng cường giao lưu quốc tế trong giải quyết tranh chấp, xây dựng cơ chế chia sẻ và giao lưu liên quốc gia, liên khu vực để các bên đương sự tự nguyện lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phi tố tụng như hòa giải, trọng tài.
-Về “Luật hòa giải đối thoại tại tòa án Việt Nam”, ông Đặng Vĩ  dánh giá dự thảo có căn cứ lập pháp rất đầy đủ, nội dung rất quy phạm, cơ chế thủ tục rất khoa học. Từ góc độ vĩ mô, ông Đặng Vĩ đưa ra một số điểm kiến nghị như sau:
-Sự kết nối giữa hòa giải tại tòa án và các hình thức hòa giải khác. Phạm vi ứng dụng và chức năng của Phương thức giải quyết tranh chấp thay thế (ADR) đang không ngừng được mở rộng. Không chỉ trọng tài, hòa giải truyền thống được ứng dụng rộng rãi hơn mà các cơ chế giải quyết tranh chấp mang tính ngành nghề, chuyên môn cũng như những ADR mới cũng liên tục xuất hiện, một số lĩnh vực trước đây cấm hoặc hạn chế sử dụng ADR cũng dần dần được dỡ bỏ, hành chính, hình sự cho đến lĩnh vực công và các hoạt động quyết sách đều bắt đầu sử dụng ADR; Chính quyền địa phương, tổ chức xã hội đều đang tìm tòi sáng tạo ra các thủ tục ADR mới. Trong quá trình xử lý những tranh chấp kiểu mới thuộc lĩnh vực ô nhiễm môi trường, trách nhiệm sản phẩm, tai nạn giao thông, tranh chấp y tế, xâm phạm lợi ích công… ADR càng cho thấy tác dụng đặc biệt của mình, trở thành một thế lực mới trong cơ chế giải quyết tranh chấp. Như Tòa thượng thẩm Liên bang Mỹ và Tòa thượng thẩm các bang đều có quy định về hòa giải bắt buộc đối với một số vụ án dân sự cụ thể. Vì vậy, thực tiễn, truyền thống và tính đa dạng địa phương của giải quyết tranh chấp đều yêu cầu phải giữ được tính đa nguyên, đa dạng, khả năng thích ứng, linh hoạt và độ mở nhất định.
-Sự kết nối giữa hòa giải tại tòa án và thủ tục xét xử. Các quốc gia có thái độ ngày càng tích cực trong việc mở rộng ứng dụng ADR, từ lập pháp, tư pháp cho đến các tầng lớp xã hội. Nội bộ Tòa án cùng với việc ứng dụng ngày càng rộng rãi trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng đang dần đưa hòa giải vào trong quá trình xét xử, thậm chí là phúc thẩm và giám đốc thẩm. Cần sự kết nối hợp lý giữa các trình tự thủ tục để nâng cao tính quy phạm và hiệu suất.
-Phát huy vai trò dẫn dắt, bảo đảm của Tòa án trong đẩy mạnh công tác hòa giải. Phát huy vai trò dẫn dắt, chỉ đạo trong việc thiết kế cơ chế hòa giải tại tòa án, hoàn thiện các quy định, tuyên truyền phổ biến pháp luật. Phát huy vài trò của hòa giải đối thoại tại tòa án trong việc phòng ngừa mâu thuẫn phát sinh, hình thành quy tắc, bảo vệ đạo đức, nâng cao tính gắn kết cộng đồng và ưu thế trong quản lý xã hội.
Tòa án Trung Quốc đang không ngừng nỗ lực xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp đa nguyên hóa, quốc tế hóa, hướng ngoại và hợp tác. Ông hy vọng giữa Tòa án Trung Quốc và Tòa án Việt Nam không ngừng mở rộng giao lưu hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm, đối diện một cách tích cực trước mọi thử thách, thúc đẩy sự phát triển của cơ chế giải quyết tranh chấp đa nguyên, để ngày càng nhiều mẫu thuẫn được giải quyết một cách hòa bình và lý trí, hiệp thương đối thoại, hợp tác cùng có lợi.
Tăng cường chức năng giải quyết tranh chấp
Thẩm phán Nagahashi Masanori – chuyên gia dài hạn JICA  chia sẻ với Hội thảo về Chế độ hòa giải dân sự tại Nhật Bản. Theo đó, Tòa án tối cao bổ nhiệm Hòa giải viên. Về nguyên tắc, hòa giải viên là người trên 40 tuổi và dưới 70 tuổi (có ngoại lệ). Nhiệm kỳ là 2 năm (có khả năng được tái bổ nhiệm).
Số lượng hòa giải viên dân sự hiện nay tại Nhật Bản là 9,326 người (trong số đó có 3,425 người là kiêm hòa giải viên gia đình). Hòa giải viên là người có chuyên môn cao (luật sư, bác sĩ, kế toán có chứng chỉ hành nghề) 4,843 người (51.9%).
Tòa án tối cao bổ nhiệm hòa giải viên đồng thời quyết định Tòa án nơi hòa giải viên sẽ công tác (Tòa án địa phương hay Tòa án gia đình, v.v). Tòa án nơi hòa giải viên công tác sẽ tùy vào vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình mà chỉ định hòa giải viên thực hiện hòa giải.
Về chế độ đãi ngộ, Hòa giải viên mang chức danh là công chức nhà nước (cán bộ không thường trực của Tòa án ). Hòa giải viên khi thực hiện hòa giải tại phiên hòa giải sẽ được phụ cấp theo tiêu chuẩn do Tòa án tối cao quy định. Trong trường hợp hòa giải viên đến cơ quan thì ngoài tiền phụ cấp, hòa giải viên còn được hỗ trợ chi phí đi lại. Ngoài ra, nếu hòa giải viên thực hiện hòa giải tại một nơi khác không phải Tòa án, thì sẽ được hỗ trợ chi phí đi lại, ăn ở và tiền lương theo ngày.
Hòa giải viên thường xuyên được tập huấn để nâng cao năng lực, cập nhật thông tin về pháp luật và các nội dung liên quan đến hòa giải. Tập huấn tại Tòa án là các khóa tập huấn đối với hòa giải viên mới được bổ nhiệm (tập huấn hướngdẫn đối với hòa giải viên được bổ nhiệm), chia sẻ kinh nghiệm thực tế về một số vụ việc; Khóa nghiên cứu các vụ án dành cho hòa giải viên mới được bổ nhiệm ( Bước tiếp theo dành cho hòa giải viên mới được bổ nhiệm);  Khóa nghiên cứu dành cho hòa giải viên dân sự ( tập huấn nâng cao dành cho hòa giải viên giàu kinh nghiệm); Khóa nghiên cứu vụ án dành cho hòa giải viên dân sự (Trọng điểm của chương trình tập huấn).
Những nỗ lực cải cách hoạt động hòa giải hiện nay tại Nhật Bản là tăng cường chức năng giải quyết tranh chấp.
Thẩm phán Pornpat Tantikulananta – Giám đốc điều hành, Viện Trọng tài Thái Lan (TAI) chia sẻ về Hệ thống hòa giải dưới sự giám sát của Tòa án tại Thái Lan cho biết, Hòa giải dưới sự giám sát của Tòa án là thủ tục hòa giải được thực hiện bởi Tòa án sau khi nguyên đơn nộp đơn khởi kiện bị đơn. Loại vụ án được hòa giải tại Tòa án là bất kỳ vụ việc dân sự hay kinh doanh thương mại nào; là các vụ án hình sự liên quan đến các tội phạm có thể điều đình được; các vụ án hình sự khi bị cáo bị buộc tội bởi nạn nhân chứ không phải công tố viên.
Trung tâm hòa giải của Tòa án được thành lập tại các tòa án để quản lý việc hòa giải của Tòa án một cách đúng đắn và hiệu quả. Trung tâm hòa giải tại Tòa án có thẩm quyền quản lý việc hòa giải các vụ án theo sự phân công; Thúc đẩy các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế; Quản lý việc hướng dẫn và các văn bản trong hồ sơ vụ việc hòa giải; Quản lý danh sách hòa giải viên và điều phối hòa giải viên; Theo dõi công việc của các hòa giải viên.
Chánh án Tòa án sẽ chỉ định một cán bộ của Tòa án đó thực hiện vai trò Giám đốc Trung tâm hòa giải và có thể chỉ định bất kỳ cán bộ tòa án nào khác sang làm cán bộ của Trung tâm hòa giải để hỗ trợ và làm việc tại Trung tâm hòa giải của Tòa án đó. Tổng thư ký sẽ ban hành danh sách các hòa giải viên trên cơ sở cân nhắc nhu cầu của từng tòa án.
Điều kiện, tiêu chuẩn Hòa giải viên là người từ 30 tuổi trở lên;  Có bằng cử nhân và có kinh nghiệm làm việc trên 5 năm, hoặc có kinh nghiệm ở bất kỳ lĩnh vực nào có thể hỗ trợ hiệu quả cho việc hòa giải từ 10 năm trở lên;  đã trải qua khóa đào tạo về hòa giải; đã làm việc với tư cách hòa giải viên tại tòa án trong 10 vụ án trở lên; không phải người bị phá sản hoặc người không có năng lực; không đang chấp hành hình phạt tù được tuyên bởi một bản án có hiệu lực, trừ trường hợp phạm tội do sơ suất hoặc chỉ là tội phạm nhỏ;  không phải là cán bộ tòa án, thẩm phán hay hội thẩm.
Thủ tục hòa giải ở Thái Lan được thực hiện sau khi nguyên đơn khởi kiện bị đơn, nếu Chánh án của Tòa án đó hoặc các thẩm phán đại diện xét thấy phù hợp, hoặc bất kỳ bên đương sự nào có yêu cầu và bên kia đồng ý thực hiện hòa giải.  Việc hòa giải sẽ được tiến hành và Cán bộ của Trung tâm hòa giải sẽ thực hiện công tác chuẩn bị cho phiên hòa giải.
Chánh án hoặc các thẩm phán đại diện chỉ định hòa giải viên trên cơ sở cân nhắc tính phù hợp của hòa giải viên cũng như yêu cầu của các bên. 4. Nếu quy trình hòa giải gây gián đoạn việc xét xử , Tòa án có thể yêu cầu tiến hành xét xử và hòa giải đồng thời. Phiên hòa giải phải được tiến hành một cách bí mật, không có biên bản ghi chép chi tiết nào về quá trình hòa giải.
Hòa giải viên nhận phí hòa giải theo quy định do Tổng thư ký ban hành. Hòa giải viên chuẩn bị thỏa thuận giải quyết tranh chấp cho các bên, hoặc yêu cầu luật sư của các bên hoặc Cán bộ Trung tâm Hòa giải chuẩn bị thỏa thuận giải quyết tranh chấp.
Sau khi các tiến hành thỏa thuận giải quyết tranh chấp mà không rút đơn, các thẩm phán sẽ ra bản án trên cơ sở đó. Không được kháng cáo trừ trường hợp (1) bất kỳ bên nào bị cáo buộc gian lận (2) bản án vi phạm quy định pháp luật về trật tự công hoặc (3) bản án không theo đúng nội dung của thỏa thuận giải quyết tranh chấp.

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn