Sổ đỏ, sổ hồng có phải là tài sản? Có kiện đòi được không?

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trong ngôn ngữ dân gian thường được gọi là “Sổ đỏ”, “Sổ hồng” (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) có phải là tài sản không? Trường hợp đương sự khởi kiện đòi lại Giấy chứng nhận bị người khác chiếm giữ thì Tòa án có thụ lý giải quyết không? Đây là vấn đề đang còn rất nhiều tranh cãi và có nhiều quan điểm khác nhau.

1. Giấy chứng nhận có phải là tài sản?

Điều 105 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 quy định về tài sản như sau:

1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản;
2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.

Khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010 quy định: “8. Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”.
Điều 115 BLDS 2015 quy định về quyền tài sản như sau: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”.
Khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”.
Như vậy, theo các quy định nêu trên, Giấy chứng nhận không phải là tài sản.

2. Tòa án có thụ lý giải quyết yêu cầu kiện đòi Giấy chứng nhận không?

Tranh chấp yêu cầu đòi lại Giấy chứng nhận chưa được quy định cụ thể là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Tuy nhiên, có thể thấy việc chiếm giữ các giấy tờ nêu trên là hành vi cản trở chủ sử dụng đất, chủ sở hữu thực hiện quyền dân sự của mình.
Vấn đề đặt ra là trường hợp đương sự khởi kiện đòi lại Giấy chứng nhận bị người khác chiếm giữ thì Tòa án có thụ lý giải quyết không?
Về vấn đề này, hiện nay có các ý kiến khác nhau như sau:
Quan điểm thứ nhất: Tòa án phải thụ lý giải quyết
Những người theo quan điểm này lập luận rằng:
– Khoản 2 Điều 14 BLDS 2015 quy định: “2. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng; trong trường hợp này, quy định tại Điều 5 và Điều 6 của Bộ luật này được áp dụng”.
Khoản 2 Điều 4 BLTTDS 2015 quy định:

2. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.
Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng.
Việc giải quyết vụ việc dân sự quy định tại khoản này được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật Dân sự và Bộ luật này quy định.

Như vậy, cả BLDS 2015 và BLTTDS 2015 đều quy định Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.
Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 14 BLDS 2015 cũng quy định: “Trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo pháp luật tố tụng tại Tòa án hoặc Trọng tài”.
Do vậy, nếu chủ sử dụng đất, chủ sở hữu khởi kiện đòi lại Giấy chứng nhận thì Tòa án phải thụ lý, giải quyết.
Quan điểm thứ hai: Tòa án không thụ lý giải quyết
Những người theo quan điểm này lập luận rằng:
– Theo quy định tại khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013, theo quy định tại khoản 1 Điều 105 và Điều 115 BLDS 2015 về tài sản và quyền tài sản và như đã phân tích ở trên thì Giấy chứng nhận không phải là tài sản hay quyền tài sản, nó chỉ là chứng thư pháp lý thể hiện quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, tài sản gắn liền với đất. Do đó, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Vì vậy, đương sự không có quyền khởi kiện tại Tòa án. Đồng thời, vấn đề này cũng đã được hướng dẫn tại Mục 3 Công văn số 141/TANDTC-KHXX ngày 21/9/2011 về việc thẩm quyền giải quyết các yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản[1].
Những người theo quan điểm này cũng cho rằng: Người bị chiếm giữ Giấy chứng nhận có thể yêu cầu cơ quan chức năng (cơ quan công an) giải quyết theo thẩm quyền buộc người chiếm giữ bất hợp pháp giấy tờ nêu trên phải trả lại cho mình. Trong trường hợp giấy tờ bị mất thì họ có quyền đề nghị cơ quan chức năng có thẩm quyền cấp lại giấy tờ bị mất theo quy định của pháp luật.
Do còn có các quan điểm khác nhau như trên nên trong thực tiễn có Tòa án thụ lý giải quyết[2], có Tòa án không thụ lý giải quyết; có Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết[3] chấp nhận yêu cầu đòi Giấy chứng nhận nhưng khi bản án bị kháng cáo, Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án[4].

3. Đề xuất, kiến nghị

Chúng tôi nhất trí với quan điểm thứ nhất, nếu chủ sử dụng đất, chủ sở hữu nhà, tài sản khởi kiện đòi lại Giấy chứng nhận bị chiếm giữ thì Tòa án phải thụ lý giải quyết. Bởi lẽ, cả BLDS 2015 và BLTTDS 2015 đều có quy định Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. Sở dĩ trước đây Tòa án không thụ lý yêu cầu đòi Giấy chứng nhận là vì BLDS và BLTTDS trước đây không có quy định này.
Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, dù Tòa án có thụ lý giải quyết hay không thụ lý giải quyết sẽ đều có những vướng mắc nhất định. Trường hợp Tòa án thụ lý, buộc bên chiếm giữ trả lại Giấy chứng nhận mà họ không hợp tác (chối bỏ việc đang chiếm giữ giấy tờ hoặc có thể nói là đã mất) thì có khả năng thi hành án được hay không hay việc giải quyết vẫn chỉ là trên “giấy”?
Trong thực tiễn đời sống dân sự, hầu như việc tranh chấp đòi lại Giấy chứng nhận thường đi liền với các tranh chấp dân sự khác như tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng thế chấp,… Đây là những hợp đồng song vụ, trong đó, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Và như vậy, khi chủ sử dụng đất, chủ sở hữu nhà, tài sản khác gắn liền với đất thực hiện nghĩa vụ của mình thì thông thường bên giữ Giấy chứng nhận sẽ trả lại giấy tờ cho họ. Tuy nhiên, nếu không thuộc trường hợp trên thì chủ sử dụng đất, chủ sở hữu nhà, tài sản khác gắn liền với đất sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc chứng minh một người đang giữ Giấy chứng nhận của mình. Trong trường hợp này, họ cũng có thể đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục xin cấp lại Giấy chứng nhận. Việc làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận sẽ nhanh hơn nhiều so với thủ tục tố tụng kiện đòi Giấy chứng nhận tại Tòa án.
Bên cạnh đó, cũng phải thấy rằng, dù bản án của Tòa án xử buộc bên chiếm giữ Giấy chứng nhận trả lại giấy tờ mà họ không thi hành thì cũng khó thực hiện việc cưỡng chế buộc họ thi hành bản án có hiệu lực pháp luật. Và như đã phân tích ở trên, Giấy chứng nhận không phải là tài sản. Do đó, Giấy chứng nhận không trị giá được thành tiền, dù bên chiếm giữ không thi hành bản án thì cũng không cấu thành tội không thi hành án quy định tại Điều 379 Bộ luật Hình sự 2015[5].
Để bảo đảm việc áp dụng thống nhất pháp luật, tránh tình trạng bản án có hiệu lực mà không thể thi hành, các cơ quan ở Trung ương (Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường) cần ban hành văn bản liên tịch hướng dẫn về vấn đề này.
Theo chúng tôi, cần hướng dẫn theo hướng tách ra làm 2 trường hợp như sau:
(1) Đối với Giấy chứng nhận không có liên quan đến nghĩa vụ dân sự của chủ sử dụng đất, chủ sở hữu nhà, tài sản khác gắn liền với đất thì được “như” trường hợp mất Giấy chứng nhận và họ có thể đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận theo quy định tại Điều 77 Nghị định 43/2014/NĐ-CP về cấp lại Giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng do bị mất[6].
(2) Đối với Giấy chứng nhận có liên quan đến nghĩa vụ dân sự của chủ sử dụng đất, chủ sở hữu nhà, tài sản khác gắn liền với đất thì Tòa án giải quyết buộc các bên thực hiện nghĩa vụ của mình trong đó có nghĩa vụ trả lại Giấy chứng nhận. Trong bản án của Tòa án cần tuyên rõ, khi bản án có hiệu lực pháp luật, chủ sử dụng đất, chủ sở hữu nhà, tài sản đã thực hiện nghĩa vụ của mình mà bên giữ Giấy chứng nhận vẫn không trả lại Giấy chứng nhận thì chủ sử dụng đất, chủ sở hữu nhà, tài sản khác gắn liền với đất có quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu cấp Giấy chứng nhận mới và hủy bỏ Giấy chứng nhận đang bị chiếm giữ.
Như vậy, nếu văn bản liên tịch hướng dẫn như trên, một mặt sẽ tạo thuận lợi cho người dân, mặt khác, giảm tải công việc, chi phí cho Tòa án, cơ quan thi hành án.

SƠN HẢI – BÍCH PHƯỢNG

Nguồn:  Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).


[1] Mục 3 Công văn số 141/TANDTC-VKHXX ngày 21/9/2011 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn:
“3. Trường hợp người khởi kiện chỉ đòi lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản do người khác đang chiếm giữ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy đăng ký xe mô tô, xe máy; Giấy đăng ký xe ô tô…) thì Tòa án giải quyết như sau:
a) Trường hợp chưa thụ lý vụ án thì Tòa án áp dụng điểm e khoản 1 Điều 168 Bộ luật Tố tụng dân sự trả lại đơn kiện cho người khởi kiện. Trong văn bản trả lại đơn khởi kiện, Tòa án phải ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện là yêu cầu khởi kiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
b) Trường hợp đã thụ lý vụ án thì Tòa án căn cứ vào khoản 2 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý; trả lại đơn khởi kiện và tài liệu,chứng cứ kèm theo cho đương sự; căn cứ khoản 3 Điều 193 Bộ luật Tố tụng dân sự ra quyết định trả lại tiền tạm ứng án phí cho đương sự.
c) Khi trả lại đơn khởi kiện hoặc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nêu trên, Tòa án phải hướng dẫn cho người khởi kiện có thể yêu cầu cơ quan chức năng giải quyết theo thẩm quyền buộc người chiếm giữ bất hợp pháp giấy tờ nêu trên phải trả lại cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp đối với loại giấy tờ đó. Trong trường hợp giấy tờ bị mất thì chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp đối với loại giấy tờ nêu trên có quyền đề nghị cơ quan chức năng có thẩm quyền cấp lại giấy tờ bị mất theo quy định của pháp luật (ví dụ: yêu cầu cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở bị mất theo quy định tại Điều 24 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ “về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”). Bên có lỗi trong việc làm mất giấy tờ phải chịu toàn bộ chi phí, lệ phí trong việc cấp lại giấy tờ mới.”
[2] Bản án số 62/2018/DS-PT ngày 06/4/2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và kiện đòi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[3] Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2017/DS-ST ngày 12/09/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
[4] Bản án số 47/2018/DS-PT ngày 12/3/2018 về tranh chấp kiện đòi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[5] Điều 379 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội không thi hành án như sau:
“Điều 379. Tội không thi hành án
1. Người nào có thẩm quyền mà cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án, quyết định của Tòa án thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;
b) Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án bỏ trốn;
c) Dẫn đến hết thời hiệu thi hành án;
d) Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thi hành được nghĩa vụ thi hành án với số tiền từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án tiếp tục thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;
c) Dẫn đến người bị kết án, người phải thi hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thi hành được nghĩa vụ thi hành án với số tiền từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án tiếp tục thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
b) Dẫn đến người bị kết án, người phải thi hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thi hành được nghĩa vụ thi hành án với số tiền 1.000.000.000 đồng trở lên.
4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
[6] Điều 77 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai quy định về cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng do bị mất như sau:
“1. Hộ gia đình và cá nhân, cộng đồng dân cư phải khai báo với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất về việc bị mất Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm niêm yết thông báo mất Giấy chứng nhận tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp mất giấy do thiên tai, hỏa hoạn.
Tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải đăng tin mất Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương.
2. Sau 30 ngày, kể từ ngày niêm yết thông báo mất Giấy chứng nhận tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã đối với trường hợp của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư hoặc kể từ ngày đăng tin lần đầu trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương đối với trường hợp của tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người bị mất Giấy chứng nhận nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận.
3. Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ; trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất đối với trường hợp chưa có bản đồ địa chính và chưa trích đo địa chính thửa đất; lập hồ sơ trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 37 của Nghị định này ký quyết định hủy Giấy chứng nhận bị mất, đồng thời ký cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người được cấp hoặc gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để trao đối với trường hợp nộp hồ sơ tại cấp xã”.

Giải quyết vụ án trong trường hợp không thực hiện được việc ủy thác

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin luận bàn về việc giải quyết vụ án trong trường hợp không thực hiện được việc ủy thác hoặc đã thực hiện việc ủy thác nhưng không nhận được kết quả trả lời; đồng thời, đưa ra kiến nghị, đề xuất nhằm bảo đảm áp dụng thống nhất quy định của BLTTDS 2015 về các vấn đề này.
Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015 có hiệu thi hành từ ngày 01/7/2016. Trong thực tiễn xét xử, việc triển khai thi hành Bộ luật này đã nảy sinh một sốvướng mắc, bất cập, trong đó phải kể đến việc giải quyết vụ án phải ủy thác thu thập chứng cứ, ủy thác tư pháp. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin luận bàn về việc giải quyết vụ án trong trường hợp không thực hiện được việc ủy thác hoặc đã thực hiện việc ủy thác nhưng không nhận được kết quả trả lời; đồng thời, đưa ra kiến nghị, đề xuất nhằm bảo đảm áp dụng thống nhất quy định của BLTTDS 2015 về các vấn đề này.

1. Quy định của BLTTDS 2015

Điều 105 BLTTDS 2015 quy định vể ủy thác thu thập chứng cứ như sau:

1. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có thể ra quyết định ủy thác để Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều này lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, thẩm định tại chỗ, tiến hành định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự.
2. Trong quyết định ủy thác phải ghi rõ tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, quan hệ tranh chấp và những công việc cụ thể ủy thác để thu thập chứng cứ.
3. Tòa án nhận được quyết định ủy thác có trách nhiệm thực hiện công việc cụ thể được ủy thác trong thời hạn01 tháng, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác và thông báo kết quả bằng văn bản cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác; trường hợp không thực hiện được việc ủy thác thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác.
4. Trường hợp việc thu thập chứng cứ phải tiến hành ở nước ngoài thì Tòa án làm thủ tục ủy thác thông qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này.
5. Trường hợp không thực hiện được việc ủy thác theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này hoặc đã thực hiện việc ủy thác nhưng không nhận được kết quả trả lời thì Tòa án giải quyết vụ án trên cơ sở chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ việc dân sự.

So sánh quy định về thu thập chứng cứ giữa BLTTDS 2004 và BLTTDS 2015, có thể thấy, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 105 BLTTDS 2015 hầu như giữ nguyên các quy định về thu thập chứng cứ tại Điều 93 BLTTDS 2004, chỉ sửa một số từ ngữ mang tính kỹ thuật. Với quy định của Điều 93 BLTTDS 2004 thì khi chưa có kết quả ủy thác thu thập chứng cứ thì Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án cho tới khi có kết quả ủy thác thu thập chứng cứ mới có thể kết thúc được vụ án. Đây là một trong những hạn chế, bất cập của BLTTDS 2004.
Nhằm khắc phục hạn chế, bất cập của BLTTDS 2004, BLTTDS 2015 quy định bổ sung khoản 5 Điều 105 – trường hợp không thực hiện được việc ủy thác theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 105 của BLTTDS hoặc đã thực hiện việc ủy thác nhưng không nhận được kết quả trả lời thì Tòa án giải quyết vụ án trên cơ sở chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án dân sự.
Tuy nhiên, tại điểm đ khoản 1 Điều 214 BLTTDS 2015 quy định một trong các căn cứ để Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là: “Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án”.
Đồng thời, Điều 216 BLTTDS 2015 quy định về quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự, cụ thể như sau:
“Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 214 của Bộ luật này không còn thì Tòa án phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự và gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp.
Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hết hiệu lực kể từ ngày ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự. Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án kể từ khi ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự”.
Với quy định tại Điều 216 BLTTDS 2015 thì Tòa án ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự khi lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án không còn, mà không quy định trực tiếp về việc ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án trong trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 105 BLTTDS 2015.

2. Vướng mắc và kiến nghị

Vấn đề đặt ra ở đây là đối với trường hợp vụ án Tòa án đã ra quyết định ủy thác thu thập chứng cứ, ủy thác tư pháp thì khi nào Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án? Khi nào thì Tòa án ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án trên cơ sở chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án? Điều này đã khiến không ít Tòa án lúng túng trong giải quyết các vụ án dân sự có ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ. Vì vậy, để bảo đảm thống nhất áp dụng pháp luật trong xét xử, thiết nghĩ rất cần có hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về các vấn đề này.
Chúng tôi nhất trí với quan điểm cho rằng để tránh tình trạng việc giải quyết vụ án kéo dài, đồng thời, bảo đảm sự linh hoạt cho Thẩm phán khi giải quyết vụ án, sau khi thụ lý vụ án, trong thời hạn chuẩn bị xét xử, nếu phát sinh một trong các căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự quy định tại Điều 214 BLTTDS 2015 thì trước khi ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, Thẩm phán phải thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 203 BLTTDS 2015; trường hợp vì lý do tạm đình chỉ mà không thực hiện được nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 2 Điều 203 BLTTDS 2015 thì Thẩm phán ra ngay quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án[1].
Như vậy, đối với trường hợp vụ án Tòa án đã ra quyết định ủy thác thu thập chứng cứ, ủy thác tư pháp thì áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 214 để tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Trường hợp không thực hiện được việc ủy thác theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 105 BLTTDS 2015 hoặc đã thực hiện việc ủy thác nhưng không nhận được kết quả trả lời thì việc nhận được thông báo của Tòa án nhận ủy thác quy định tại khoản 3 Điều 105 BLTTDS 2015 (đối với ủy thác thu thập chứng cứ cho Tòa án trong nước), nhận được thông báo của Bộ Tư pháp, cơ quan đại diện của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài quy định tại khoản 4 Điều 477 BLTTDS 2015 (đối với ủy thác tư pháp ra nước ngoài)[2] được “coi như” lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 214 BLTTDS 2015 không còn và lúc này Tòa án ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án.
Vì vậy, theo chúng tôi, trước mắt, có thể hướng dẫn như sau:
“Sau khi ra quyết định ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ, Thẩm phán phải thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 203 của BLTTDS, trường hợp vì lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án (ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hay lý do khác) mà không thực hiện được nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 2 Điều 203 của BLTTDS thì Thẩm phán áp dụng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 214 BLTTDS ra ngay quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản thông báo của Tòa án nhận ủy thác (đối với trường hợp ủy thác thu thập chứng cứ cho Tòa án trong nước quy định tại khoản 3 Điều 105 của BLTTDS), kể từ ngày nhận được văn bản thông báo của Bộ Tư pháp, của cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài quy định tại khoản 4 Điều 477 của BLTTDS (đối với trường hợp ủy thác tư pháp ra nước ngoài quy định tại khoản 4 Điều 105 của BLTTDS) mà không thực hiện được việc ủy thác hoặc đã thực hiện việc ủy thác nhưng không nhận được kết quả trả lời thì Thẩm phán phải ra ngay quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại Điều 216 BLTTDS và vụ án được giải quyết theo quy định tại khoản 5 Điều 105 của BLTTDS”.
Và về lâu dài, khi có điều kiện, vấn đề này cũng cần được luật hóa vào Điều 216 BLTTDS 2015.
[1] Ngọc Trâm, Về thời điểm ban hành quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đang trên Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử xem tại link: https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/ve-thoi-diem-ban-hanh-quyet-dinh-tam-dinh-chi-giai-quyet-vu-an-dan-su; truy cập ngày 25/6/2019.
[2] Khoản 4 Điều 477 BLTTDS 2015 quy định:
“Điều 477. Xử lý kết quả tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài và kết quả yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thu thập chứng cứ
Khi nhận được kết quả tống đạt và kết quả thu thập chứng cứ ở nước ngoài, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau:
…
4. Tòa án không nhận được văn bản thông báo về kết quả tống đạt cũng như lời khai, tài liệu, chứng cứ của đương sự ở nước ngoài và đến ngày mở phiên tòa đương sự ở nước ngoài không có mặt, không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ thì Tòa án hoãn phiên tòa. Ngay sau khi hoãn phiên tòa thì Tòa án có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp hoặc cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài thông báo về việc thực hiện tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài trong trường hợp Tòa án thực hiện việc tống đạt thông qua các cơ quan này theo một trong các phương thức quy định tại các điểm a, b và d khoản 1 Điều 474 của Bộ luật này.
Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được văn bản của Tòa án, cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài phải thông báo cho Tòa án về kết quả thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Bộ Tư pháp nhận được văn bản của Tòa án, Bộ Tư pháp phải có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài trả lời về kết quả thực hiện ủy thác tư pháp.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài gửi về thì Bộ Tư pháp phải trả lời cho Tòa án.
Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chuyển văn bản của Tòa án cho cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài mà không nhận được văn bản trả lời thì Bộ Tư pháp phải thông báo cho Tòa án biết để làm căn cứ giải quyết vụ án”.

KIM THÚY – BÍCH PHƯỢNG

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Quy định về giám định trong tố tụng hình sự

Giám định tư pháp là gì?

Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của pháp luật[1]. Việc giám định không chỉ nhằm xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội, khung hình phạt được áp dụng mà còn còn liên quan đến nghĩa vụ dân sự, bồi thườngthiệt hại trong vụ án hình sự cụ thể. Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (BLTTHS) đã quy định rõ ràng, đầy đủ về trình tự, thủ tục, thời hạn, các trường hợp phải tiến hành giám định…Tuy nhiên, qua thực tiễncũng như nghiên cứu các quy định cho thấy vẫn cần phải tiếp tục hoàn thiện hoặc phải có hướng dẫn thể cụ liên quan đến công tác giám định đối với các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc áp dụng pháp luật được thống nhất.

Quy định về giám định trong tố tụng hình sự

Theo từ điển tiếng việt thì “giám định” là “Việc xem xét và kết luận về một sự vật, hiện tượng mà cơ quan nhà nước cần tìm hiểu và xác định”[2]. Kết luận giám định được coi là nguồn của chứng cứ (điểm d khoản 1 Điều 87 BLTTHS) để chứng minh tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội mà trong một số vụ án cụ thể thì việc giám định là bắt buộc để xác định cấu thành tội phạm, khung hình phạt được áp dụng. Theo quy định của BLTTHS thì các chủ thể sau có quyền trưng cầu, đề nghị, yêu cầu giám định:
Cơ quan, người có thẩm quyền trưng cầu giám định gồm: Cấp trưởng, cấp phó của các cơ quan Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm Lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm Ngư; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát; Thẩm phán được phân công, giải quyết vụ án.
Người tham gia tố tụng có quyền đề nghị, yêu cầu giám định gồm: Bị can; bị cáo; bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Việc giám định được thực hiện từ khi các cơ quan có thẩm quyền  tiến hành tố tụng giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sựkhi xét thấy cần thiết hoặc đối với các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định theo quy định tại Điều 206 BLTTHS. Một trong những điểm mới của BLTTHS 2015 đã quy định cụ thể thời hạn giám định đối với từng trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định, thời hạn gửi kết luận giám định cho cơ quan đã trưng cầu nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác, kịp thời đáp ứng được nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng hình sự, cũng như gắn với trách nhiệm của người, cơ quan được trưng cầu giám định trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, để phù hợp với Luật giám định tư pháp, BLTTHS 2015 quy định đương sự, người đại diện của họ có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành trưng cầu giám định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc giám định liên quan đến xác định trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội và nếu yêu cầu, đề nghị của họ không được chấp nhận thì có quyền tự mình yêu cầu giám định. Ngoài ra, quy định mới còn đảm bảo quyền của bị can, bị cáo, bị hại người tham gia tố tụng khác đối với kết luận giám định đó là trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được kết luận giám định thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báokết luận giám định các chủ thể này (khoản 2 Điều 214 BLTTHS) đây là điểm khác biệt so với quy định trước đây khi họ phải có yêu cầu thì cơ quan đã trưng cầu giám định mới phải thông báo (khoản 1 Điều 158 BLTTHS 2003).

Một số vướng mắc liên quan đến giám định và kiến nghị hoàn thiện

Trường hợp bắt buộc phải giám định

Một trong những trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định tại khoản 5 Điều 206 BLTTHS khi cần xác định chất ma túy, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ và quy định về bảo quản vật chứng tại điểm b khoản 1 Điều 90 BLTTHS thì vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, vũ khí quân dụng phải được giám định ngay sau khi thu thập và chuyển ngay để bảo quản tại Kho bạc Nhà nước hoặc cơ quan chuyên trách. Việc giám định các trường hợp này vô cùng quan trọng trong việc định tội danh, xác định khung hình phạt đối với một số tội phạm như: Các tội phạm về ma túy; Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả; Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khi quân dụng, phương tiến kỹ thuật quân sự… Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy đang có những quan điểm, cách hiểu khác nhau về việc giám định đối với vật chứng thu được thuộc một các trường hợp nêu trên. Chúng tôi xin lấy ví dụ tiền thu được là vật chứng thu được trong vụ án hình sự:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Mọi trường hợp khi vật chứng thu được là tiền thì phải tiến hành giám định ngay theo quy định tại Điều 90 BLTTHS do quy định vật chứng là “tiền” mà không bắt buộc phải là “tiền giả”. Nếu các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không thực hiện việc trưng cầu giám định là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Chỉ trưng cầu giám định khi có căn cứ cho rằng đó là “tiền giả” thì mới thực hiện việc trưng cầu giám định. Bởi lẽ, điều 206 BLTHHS quy định bắt buộc trưng cầu giám định khi “cần” xác định đó là tiền giả.
Tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai, vì không phải bất cứ trường hợp nào khi vật chứng thu giữ được là tiền các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng  đều phải thực hiện việc trưng cầu giám định. Như vậy sẽ rất mất rất nhiều thời gian, chi phí giám định trong khi phần nhiều các tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự thì đối tượng tác động của tội phạm là vật chất (chủ yếu là tiền) và tiền mà tội phạm có được (trực tiếp hoặc gián tiếp) sẽ là vật chứng trong vụ án hình sự nếu các cơ quan tiến hành tố tụng thu được khi giải quyết vụ án, cho nên việc quy định phải giám định vật chứng là tiền sẽ gây khó khăn trong quá trình điều tra, xử lý vụ án. Ví dụ trong  vụ án Phan Sào Nam và đồng phạm bị xét vử về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc bằng hình thức game bài trên mạng internet bị đưa ra xét xử thời gian gần đây, cơ quan điều tra thu được hàng ngàn tỉ đồng đây là vật chứng trong vụ án, nếu thực hiện theo quy định tại Điều 90 BLTTHS thì sẽ rất mất thời gian vì số tiền là rất lớn và thực tế vụ án này, số tiền thu được cũng không phải tiến hành giám định vì không có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án tuy rằng đây là vật chứng. Như vậy, theo quan điểm của chúng tôi thì chỉ bắt buộc giám định ngay đối với tiền khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có căn cứ để nghi ngờ đó là “tiền giả” trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố hoặc trong quá trình tiến hành điều tra, truy tố, xét xử vụ án hoặc có khiếu nại, tố cáo của cá nhân, cơ quan, tổ chức…
Tương tự như vậy, có thể lấy thêm trường hợp vật chứng vụ án thu được là vũ khí quân dụng, bị can khai nhận khẩu súng có được là do đã trộm cắp của Sư đoàn X thuộc Bộ quốc phòng. Qua điều tra, xác minh thì đúng là đơn vị này đã mất khẩu súng trùng khớp số hiệu, thông số kỹ thuật trong giấy chứng nhận sử dụng súng, vị trí, thời gian, địa điểm mất trộm. Trong trường hợp này khẩu súng thuộc loại vũ khí quân dụng nhưng lại là vật chứng thì có phải tiến hành giám định theo điểm b khoản 1 điều 90 BLTTHS không? Rõ ràng là không cần thiết vì đã đủ căn cứ để xác định đó là vũ khí quân dụng được Cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy định.
Đối với trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định đối với đồ cổ, qua nghiên cứu, tìm hiểu các văn bản pháp luật hiện hành không thấy có khái niệm, quy định thế nào là đồ cổ, trong khi đó Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) có 07 tội danh quy định có hành vi liên quan đến di vật, cổ vật là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt tại các điều: 173, 176, 177, 178, 188, 189 và Điều 418. Như vậy, đồ cổ có đồng nghĩa với di vật, cổ vật hay không? Tại Luật di sản văn hóa năm 2001 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) chỉ đưa ra khái niệm thể nào là di vật, cổ vật[3]. Như vậy, có bắt buộc phải giám định đối với di vật, cổ vật không? Trong khi đó việc xác định một vật là di vật, cổ vật phải do người, cơ quan có chuyên môn giám định, kết luận thì mới có cơ sở chứ không thể dựa trên nhận định chủ quan của các cơ quan tiến hành tố tụng được. Do đó, chúng tôi thấy rằng cần phải quy định rõ ràng bằng cách thay thế từ “đổ cổ” bằng “di vật, cổ vật” vào khoản 5 Điều 206 BLTTHS mới đầy đủ ý nghĩa và cách hiểu nhất quán.
Từ những phân tích nêu trên, chúng thôi thấy rằng cần phải sửa đổi một phần điểm b khoản 1 Điều 90 BLTTHS cho phù hợp với Điều 206 BLTTHS để có được cách hiểu thống nhất khi áp dụng pháp luật như sau: “ Khi cần xác định vật chứng là tiền giả, vàng, bạc kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật, chất nổ, chất độc, chất phóng xạ, vũ khi quân dụng, chất ma túy thì phải được giám định ngay sau khi thu thập…”

Trường hợp từ chối hoặc thay đổi người giám định 

Như đã phân tích ở trên thì việc giám định được thực hiện từ khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Tại khoản 5 Điều 68 BLTTHS quy định 04 trường hợp người giám định phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi, trong đó có trường hợp họ đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của của bị hại, đương sự hoặc của bị can bị cáo. Vấn đề ở chỗ, khi vụ án chưa được khởi tố mà cần phải đợi kết quả giám định làm căn cứ cho việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can mà người giám định là người thân thích của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, hoặc người bị tạm giữ thì có thuộc trường hợp phải từ chối hoặc bị thay đổi không. Vẫn biết, nếu người giám định cố tình kết luận gian dối, sai sự thật thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tương ứng tại các Điều 382, 383 của Bộ luật hình sự. Nhưng nếu các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không phát hiện ra thì có thể dẫn đến bỏ lọt tội phạm, hoặc trường hợp phát hiện ra muộn thì đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên không thể tiến hành thủ tục tái thẩm đối với trường hợp đã có Bản án, quyết định của Tòa án. Do đó, theo chúng tôi nên nên bổ sung vào điểm a khoản 5 Điều 68 BLTTHS trường hợp người giám định phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi “ Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại điện, người thân thích của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố hoặc của người bị buộc tội”.
Phạm Văn Tuân
Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn)


[1] Khoản 1 Điều 2 Luật giám định tư pháp

[2] Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng việt, tr.389 và tr.1071, NXB Đà Nẵng & Trung tâm từ điển tin học

[3] Xem điểm 5, 6 Điều 4 Luật di sản văn hóa 2001 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính
Hoàn thiện quy định về sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính.

Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính . Về cơ bản, quá trình này trải qua các bước (công đoạn) như: Phát hiện hành vi vi phạm hành chính; buộc chấm dứt hành vi vi phạm hành chính (đối với hành vi vi phạm hành chính đang được thực hiện, đang diễn ra); lập biên bản vi phạm hành chính; xác minh các tình tiết có liên quan của vụ việc vi phạm hành chính; giải trình; ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính; tổ chức thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (trong trường hợp đối tượng bị xử phạt không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính); trong quá trình xử phạt vi phạm hành chính, tùy từng vụ việc, cơ quan, người có thẩm quyền có thể phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính.

Mặc dù việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ như đã nêu trên nhưng trong thực tế, vì nhiều lý do khác nhau, việc ban hành các quyết định về xử phạt vi phạm hành chính vẫn không thể tránh khỏi có sai sót. Do vậy, tại khoản 3 Điều 18 Luật xử lý vi phạm hành chính (Luật XLVPHC) đã quy định về việc sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp có sai sót. Đây là một trong những quy định mới của Luật XLVPHC so với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính trước đây nhằm bảo đảm tính hợp pháp, hợp lý của quyết định về xử phạt vi phạm hành chính sau khi được ban hành, nâng cao hơn nữa trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền trong công tác xử phạt vi phạm hành chính, kịp thời khắc phục, sửa chữa những sai sót, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính và cá nhân, tổ chức khác có liên quan.
Cần lưu ý, khoản 3 Điều 18 Luật XLVPHC quy định về việc sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính trong trường hợp có sai sót, bao gồm cả các quyết định về xử phạt vi phạm hành chính và các quyết định về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Do vậy, việc nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện pháp luật về sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính cũng vẫn phải được đặt trong tổng thể vấn đề sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính trong trường hợp có sai sót. Điều này có nghĩa là, các giải pháp hoàn thiện pháp luật về sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong bài viết này cũng gắn liền với giải pháp hoàn thiện pháp luật về sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính trong trường hợp có sai sót.
Cụ thể hóa quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật XLVPHC, Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017) đã quy định chi tiết một số nội dung liên quan như: Căn cứ thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành mới các quyết định về xử phạt vi phạm hành chính; thời hạn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính; hiệu lực, thời hạn, thời hiệu thi hành của quyết định sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính; trách nhiệm và việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với người có thẩm quyền ban hành quyết định về xử phạt vi phạm hành chính có sai sót tại các điều 6a, 6b, 6c, 6d và 6đ.
Tuy nhiên, trên thực tế, việc áp dụng các quy định của Luật XLVPHC và Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) về sửa đổi, bổ sung, đính chính hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp có sai sót vẫn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cần được nghiên cứu tháo gỡ.

1. Về căn cứ thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành mới các quyết định về xử phạt vi phạm hành chính

Theo quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 6a Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được bổ sung theo khoản 8 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP), nếu quyết định về xử phạt vi phạm hành chính có sai sót về kỹ thuật soạn thảo thì tùy từng trường hợp, có thể được xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc đính chính: Nếu sai sót về kỹ thuật soạn thảo làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định thì phải sửa đổi, bổ sung; nếu sai sót về kỹ thuật soạn thảo không làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định thì chỉ cần thực hiện việc đính chính.
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 6a và điểm a khoản 2 Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được bổ sung theo khoản 8 và khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP), nếu quyết định về xử phạt vi phạm hành chính có sai sót về nội dung thì tùy từng trường hợp, có thể được xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ: Nếu sai sót về nội dung nhưng không làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định thì chỉ sửa đổi, bổ sung; nếu sai sót về nội dung làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định thì phải hủy bỏ.
Mặc dù Điều 6a và Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được bổ sung theo khoản 8 và khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) đã quy định các trường hợp sai sót khác nhau làm căn cứ để người có thẩm quyền, tùy từng trường hợp cụ thể có thể thực hiện việc đính chính hoặc sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ đối với quyết định về xử phạt vi phạm hành chính có sai sót. Tuy nhiên, khi triển khai thực hiện trong thực tế, đã nảy sinh một số vấn đề khó khăn, vướng mắc xuất phát từ quy định tại Điều 6a và Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được bổ sung theo khoản 8 và khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP), cụ thể là:

1.1. Về căn cứ sửa đổi, bổ sung quyết định về xử phạt vi phạm hành chính

Khoản 12 Điều 38 Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong giải quyết vụ án hành chính đó là: “Xem xét về tính hợp pháp của văn bảnhành chính, hành vi hành chính có liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện và đề nghị Chánh án Tòa án kiến nghị với cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét văn bản hành chính, hành vi hành chính đó theo quy định của pháp luật”.
Điểm h khoản 1 Điều 37 Luật tố tụng hành chính cũng quy định một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Tòa án trong giải quyết vụ án hành chính đó là: “Kiến nghị với cơ quan, cá nhân có văn bản hành chính, hành vi hành chính có liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản, chấm dứt hành vi đó nếu phát hiện có dấu hiệu trái với quy định của pháp luật”.
Điểm h khoản 2 Điều 31 Luật khiếu nại năm 2011 quy định quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính phải có nội dung sau đây: “Giữ nguyên, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại; giải quyết các vấn đề cụ thể trong nội dung khiếu nại”.
Điểm h khoản 2 Điều 40 Luật khiếu nại cũng quy định quyết định giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính phải có nội dung sau đây: “Kết luận nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ. Trường hợp khiếu nại là đúng hoặc đúng một phần thì yêu cầu người có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại sửa đổi, hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại. Trường hợp kết luận nội dung khiếu nại là sai toàn bộ thì yêu cầu người khiếu nại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan thực hiện nghiêm chỉnh quyết định hành chính, hành vi hành chính”.
Căn cứ các quy định pháp luật nêu trên, có thể thấy, quyết định giải quyết khiếu nại của người hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại được ban hành, trong đó có nội dung liên quan đến việc phải sửa đổi, bổ sung quyết định về xử phạt vi phạm hành chính hành chính và bản án, quyết định của Tòa án, trong đó có nội dung về việc phải sửa đổi, bổ sung quyết định về xử phạt vi phạm hành chính bị khởi kiện cũng là các căn cứ để người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thực hiện việc sửa đổi, bổ sung quyết định về xử phạt vi phạm hành chính có sai sót. Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 6a Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 8 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) lại không quy định các căn cứ này. Do vậy, để bảo đảm sự phù hợp với các quy định của Luật tố tụng hành chính, Luật khiếu nại, đồng thời thống nhất với cách quy định tại khoản 2 Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP)[1], chúng tôi cho rằng, cần bổ sung các căn cứ nêu trên vào khoản 1 Điều 6a Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được bổ sung theo khoản 8 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP). Theo đó, khoản 1 Điều 6a Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 8 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) có thể được sửa đổi như sau:
“1. Quyết định về xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có sai sót về kỹ thuật soạn thảo làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định;
b) Có sai sót về nội dung nhưng không làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định;
c) Có quyết định giải quyết khiếu nại của người hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại về việc sửa đổi, bổ sung quyết định về xử lý vi phạm hành chính;
d) Có kiến nghị của Tòa án về việc sửa đổi, bổ sung quyết định về xử lý vi phạm hành chính bị khởi kiện.”

1.2. Về căn cứ hủy bỏ quyết định về xử phạt vi phạm hành chính có sai sót

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) thì người đã ban hành quyết định về xử phạt vi phạm hành chính phải hủy bỏ toàn bộ nội dung quyết định khi “có vi phạm quy định pháp luật về thẩm quyền, thủ tục” xử phạt vi phạm hành chính.
Đây là trường hợp cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt áp dụng đúng các quy định của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính, cho nên, về mặt nội dung áp dụng pháp luật, quyết định về xử phạt vi phạm hành chính hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình ban hành quyết định về xử phạt vi phạm hành chính, cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt đã không thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Do vậy, người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định hủy bỏ quyết định về xử phạt vi phạm hành chính đã được ban hành, đồng thời, ban hành quyết định về xử phạt vi phạm hành chính mới theo thẩm quyền nhằm bảo đảm đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định, hạn chế đến mức thấp nhất nguy cơ khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định về xử phạt vi phạm hành chính.
Về mặt quy định pháp luật hiện hành là vậy, nhưng về mặt thực tiễn, chúng tôi cho rằng, quy định này chưa hoàn toàn phù hợp, gây lãng phí thời gian, phát sinh thủ tục. Bởi vì, quyết định về xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp này mặc dù có vi phạm về trình tự, thủ tục ban hành quyết định nhưng không làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định, không cần thiết phải hủy bỏ toàn bộ để rồi lại phải ban hành một quyết định mới.
Nên chăng, trong trường hợp này, nhà làm luật cần nghiên cứu phân tách 02 trường hợp, tương tự như việc xử lý đối với 02 trường hợp có sai sót về mặt kỹ thuật làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định và sai sót về mặt kỹ thuật không làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định theo quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 6a Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 8 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP), cụ thể là:
(i) Trường hợp thứ nhất, quyết định về xử phạt vi phạm hành chính có vi phạm về trình tự, thủ tục ban hành quyết định, nhưng không làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định (ví dụ, đáng lẽ vụ việc vi phạm đơn giản, rõ ràng, người có thẩm quyền phải tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính ngay khi phát hiện hành vi vi phạm nhưng lại để kéo dài đến vài ngày sau mới lập biên bản, vi phạm quy định về tính “kịp thời” của việc lập biên bản quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật XLVPHC) hoặc nếu có hủy bỏ toàn bộ để ban hành quyết định mới, thì cũng không thể khắc phục được sai sót về trình tự, thủ tục (ví dụ, khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ không thực hiện việc buộc đối tượng chấm dứt ngay hành vi vi phạm theo quy định tại Điều 55 Luật XLVPHC) thì không yêu cầu phải hủy bỏ toàn bộ quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
(ii) Trường hợp thứ hai, quyết định xử phạt vi phạm hành chính có vi phạm về trình tự, thủ tục ban hành quyết định, làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định thì mới yêu cầu phải hủy bỏ toàn bộ. Ví dụ, trường hợp vụ việc phải tiến hành định giá tang vật để làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt theo quy định tại Điều 60 Luật XLVPHC, nhưng người có thẩm quyền đã không tiến hành định giá hoặc có tiến hành việc định giá, nhưng không đúng theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định thì phải hủy bỏ toàn bộ quyết định xử phạt và tiến hành khắc phục sai sót về trình tự, thủ tục định giá tang vật vi phạm hành chính. Bởi vì, rất có thể, kết quả của việc tiến hành định giá (hoặc định giá lại) sẽ dẫn đến thay đổi về khung tiền phạt và thẩm quyền xử phạt.

1.3. Về căn cứ ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính

Điểm a khoản 3 Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) quy định việc người đã ban hành quyết định phải ban hành quyết định mới hoặc chuyển người có thẩm quyền ban hành quyết định mới (nếu có căn cứ để ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính) trong “các trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản 1, khoản 2 Điều này”. Khoản 2 Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) quy định về các trường hợp hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định. Quy định này dẫn đến cách hiểu rằng, sau khi quyết định về xử phạt vi phạm hành chính bị hủy bỏ một phần, người có thẩm quyền phải ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính.
Tương tự, điểm b khoản 3 Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) cũng quy định việc người đã ban hành quyết định phải ban hành quyết định mới hoặc chuyển người có thẩm quyền ban hành quyết định mới (nếu có căn cứ để ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính) trong trường hợp có bản án, quyết định của Tòa án về việc hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định xử phạt vi phạm hành chính bị khởi kiện[2]. Quy định này cũng dẫn đến cách hiểu rằng, khi có bản án, quyết định của Tòa án về việc hủy bỏ một phần quyết định về xử phạt vi phạm hành chính, thì sau khi quyết định xử phạt vi phạm hành chính bị hủy bỏ một phần, người có thẩm quyền phải ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính.
Chúng tôi thấy rằng, việc ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong các trường hợp này là không cần thiết và bất hợp lý, vì khi quyết định về xử phạt vi phạm hành chính bị hủy bỏ một phần thì chỉ phần nội dung quyết định bị hủy bỏ đó không còn hiệu lực thi hành, các nội dung khác của quyết định không bị hủy bỏ vẫn còn nguyên hiệu lực thi hành.
Để khắc phục bất cập trên đây, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) theo hướng sau: Chuyển điểm b khoản 3 lên thành điểm c khoản 2; tại khoản 3, khi viện dẫn đến các trường hợp hủy bỏ tại khoản 2, chỉ viện dẫn các trường hợp hủy bỏ toàn bộ (không viện dẫn toàn bộ khoản 2, vì nếu viện dẫn toàn bộ khoản 2 sẽ bao gồm cả trường hợp hủy bỏ một phần và hủy bỏ toàn bộ). Theo đó, khoản 2 và khoản 3 Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) sẽ được chỉnh sửa như sau:

2. Tùy thuộc vào tính chất, mức độ sai sót, người đã ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính phải hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có sai sót về nội dung làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định;
b) Có quyết định giải quyết khiếu nại của người hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại về việc phải hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định về xử lý vi phạm hành chính;
c) Có bản án, quyết định của Tòa án về việc hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định về xử lý vi phạm hành chính bị khởi kiện.
3. Trong các trường hợp sau đây, nếu có căn cứ để ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính thì người đã ban hành quyết định phải ban hành quyết định mới hoặc chuyển người có thẩm quyền ban hành quyết định mới:
a) Các trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này;
b) Các trường hợp quyết định về xử lý vi phạm hành chính phải hủy bỏ toàn bộ quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Về phạm vi xem xét để xử lý quyết định xử phạt vi phạm hành chính có sai sót
Phạm vi xem xét để xử lý quyết định xử phạt vi phạm hành chính có sai sót: Chỉ xem xét quyết định xử phạt vi phạm hành chính hay phải xem xét toàn bộ hồ sơ, quá trình ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính? Đây là vấn đề vướng mắc khiến cho người thực thi pháp luật khá lúng túng. Hiện nay có 02 quan điểm khác nhau về vấn đề này:
Thứ nhất, có quan điểm cho rằng, theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật XLVPHC thì: “Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót và phải kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới theo thẩm quyền”. Luật chỉ đề cập đến việc phát hiện “quyết định về xử lý vi phạm hành chính” có sai sót, không đề cập đến việc xem xét toàn bộ quá trình xử lý vi phạm hành chính xem có sai sót hay không. Do vậy, thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền chỉ cần xem xét quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã được ban hành xem có sai sót hay không để có biện pháp xử lý phù hợp[3].
Thứ hai, có quan điểm khác lại cho rằng, quyết định xử phạt vi phạm hành chính là kết quả của quá trình thực hiện xử phạt vi phạm hành chính, là hình thức biểu hiện của việc xử phạt vi phạm hành chính. Do vậy, thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền không chỉ xem xét quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã được ban hành mà cần phải xem xét toàn bộ hồ sơ vụ việc, cả quá trình xử phạt từ khi bắt đầu phát hiện hành vi vi phạm đến khi ban hành quyết định xử phạt xem có sai sót hay không để có biện pháp xử lý phù hợp.
Về vấn đề này, chúng tôi đồng tình với cách hiểu theo quan điểm thứ hai, vì quyết định xử phạt vi phạm hành chính là kết quả của cả quá trình giải quyết vụ việc vi phạm hành chính. Do vậy, để phát hiện ra những sai sót trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thủ trưởng cơ quan, đơn vị quản lý người có thẩm quyền xử phạt và người có thẩm quyền xử phạt cần kiểm tra, xem xét về việc tuân thủ pháp luật, việc bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính trên các phương diện: (i) trình tự, thủ tục ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và (ii) nội dung áp dụng quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. Đối với vấn đề trình tự, thủ tục, cần xem xét toàn bộ trình tự, thủ tục ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật XLVPHC và các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật, đặc biệt là các nghị định quy định chi tiết những vấn đề mà Luật giao Chính phủ quy định chi tiết như: Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP); Nghị định số 112/2013/NĐ-CP ngày 02/10/2013 quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chínhvà quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 17/2016/NĐ-CP ngày 17/3/2016); Nghị định số 165/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định việc quản lý, sử dụng và danh mục các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông và bảo vệ môi trường; Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính,… Đối với nội dung áp dụng quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính thì cần thiết phải rà soát, nghiên cứu, xem việc áp dụng các quy định về thẩm quyền xử phạt, về áp dụng chế tài xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính xảy ra trong thực tiễn, việc áp dụng hình thức, mức phạt, biện pháp khắc phục hậu quả có đúng quy định pháp luật không… Từ đó, mới có thể đánh giá một cách toàn diện, khách quan về diễn biến vụ việc vi phạm, đồng thời, kết luận chính xác về những sai sót (nếu có) trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

2. Về thẩm quyền thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính

Khoản 3 Điều 18 Luật XLVPHC quy định: “Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót và phải kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới theo thẩm quyền”.
Khoản 3 Điều 6a Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 8 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) quy định: “Khi phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót thuộc các trường hợp quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này, người đã ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính tự mình hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan, đơn vị của người đó có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung hoặc đính chính những nội dung sai sót trong quyết định”.
Khoản 1 và khoản 2 Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) quy định:
“1. Người đã ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính phải hủy bỏ toàn bộ nội dung quyết định… 
2. Tùy thuộc vào tính chất, mức độ sai sót, người đã ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính phải hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định…”.
Các quy định pháp luật nêu trên chưa thực sự rõ ràng, chưa có sự thống nhất, dẫn đến những cách hiểu khác nhau về các vấn đề như: Cụm từ “theo thẩm quyền” tại khoản 3 Điều 18 Luật XLVPHC được hiểu như thế nào (cụm từ này chỉ được gắn với cụm từ “ban hành quyết định mới” hay được gắn với cả cụm từ “sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới”); cách hiểu khác nhau đối với cụm từ “theo thẩm quyền” dẫn đến cách hiểu khác nhau về thẩm quyền thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính thuộc về ai (người có thẩm quyền đã ra quyết định về xử phạt vi phạm hành chính hay cấp trên của người này), cụ thể có 02 cách hiểu sau đây:
Cách hiểu thứ nhất, cần hiểu cụm từ “theo thẩm quyền” chỉ được gắn với cụm từ “ban hành quyết định mới”. Nếu hiểu cụm từ này chỉ được gắn với cụm từ “ban hành quyết định mới” thì thẩm quyền thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định về xử phạt vi phạm hành chính thuộc về cấp trên của người có thẩm quyền đã ra quyết định về xử phạt vi phạm hành chính, kể cả trong trường hợp họ không có thẩm quyền xử phạt; riêng việc ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính thì phải “theo thẩm quyền”, tức là, tùy từng trường hợp, họ được thực hiện nếu họ có thẩm quyền hoặc không được thực hiện nếu theo quy định pháp luật, họ không có thẩm quyền.
Cách hiểu thứ hai, cần hiểu cụm từ “theo thẩm quyền” không chỉ được gắn với cụm từ “ban hành quyết định mới” mà còn được gắn với các cụm từ “sửa đổi, bổ sung”, “hủy bỏ”. Bởi vì, khoản 3 Điều 18 Luật XLVPHC khi đề cập đến chủ thể ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót thì có đề cập 02 loại quyết định về xử lý vi phạm hành chính (do chính bản thân cấp trên đó ban hành hoặc do cấp dưới của họ ban hành); cụm từ “theo thẩm quyền” được hiểu là: Ai ban hành quyết định có sai sót thì người đó thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ (cấp trên ban hành quyết định có sai sót thì cấp trên thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ; cấp dưới ban hành quyết định có sai sót thì cấp dưới thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ); riêng đối với việc ban hành quyết định mới, nếu vẫn thuộc thẩm quyền của người hủy bỏ (người đã ban hành quyết định ban đầu có sai sót) thì thẩm quyền thuộc về họ, ngược lại, nếu không thuộc thẩm quyền của người hủy bỏ thì họ phải chuyển người có thẩm quyền (có thể là cấp trên hoặc cũng có thể là người có thẩm quyền thuộc lực lượng khác).
Theo chúng tôi, nếu hiểu và áp dụng theo cách hiểu thứ nhất thì chỉ xử lý được trường hợp cấp trên của người có thẩm quyền đã ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính (nói chung và quyết định về xử phạt vi phạm hành chính nói riêng) có sai sót cũng có thẩm quyền về xử lý vi phạm hành chính theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, sẽ không xử lý được trường hợp cấp trên của người có thẩm quyền đã ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót không có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính. Chẳng hạn một số chức danh như Bộ trưởng, Giám đốc Sở, đây là các chức danh không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nên không thể thực hiện được việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định về xử phạt vi phạm hành chính của cấp dưới (người không được trao thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thì không thể, không nên được trao thẩm quyền trực tiếp xử lý các quyết định đó, kể cả trong trường hợp chỉ sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, không ban hành mới).
Từ phân tích nêu trên, chúng tôi cho rằng, về tính thống nhất, phù hợp giữa các quy định về “sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới” của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) và Luật XLVPHC, nếu hiểu theo cách hiểu thứ hai nêu trên thì hoàn toàn thống nhất và phù hợp. Tuy nhiên, về tính minh bạch, cụ thể, rõ ràng, quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật XLVPHC nêu trên chưa đạt được, cần phải được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung theo hướng: Quy định rõ việc sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới quyết định về xử lý vi phạm hành chính (nói chung và quyết định về xử phạt vi phạm hành chính nói riêng) phải do chính người đã ban hành quyết định có sai sót trực tiếp thực hiện (trừ trường hợp thẩm quyền ban hành quyết định mới thuộc về người có thẩm quyền khác thì phải chuyển người có thẩm quyền), cấp trên của người đã ban hành quyết định có sai sót chỉ có quyền yêu cầu, đề nghị cấp dưới thực hiện.

3. Về trình tự, thủ tục thực hiện việc hủy bỏ, ban hành mới quyết định về xử phạt vi phạm hành chính

Hiện nay, theo quy định pháp luật hiện hành, để chấm dứt hiệu lực của quyết định về xử phạt vi phạm hành chính đã ban hành có sai sót và ban hành quyết định mới thay thế quyết định đã bị chấm dứt hiệu lực, phải trải qua 02 thủ tục, tương ứng với 02 thủ tục đó, người có thẩm quyền phải ban hành 02 loại quyết định, trước tiên là quyết định hủy bỏ quyết định về xử phạt vi phạm hành chính có sai sót, sau đó là quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính.
Chúng tôi cho rằng, việc ban hành 02 loại quyết định như vậy là không cần thiết, có thể nghiên cứu quy định trình tự, thủ tục đơn giản hơn. Theo đó, chỉ cần ban hành 01 loại quyết định: Quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính, trong đó có nội dung về việc thay thế cho quyết định đã ban hành mà có sai sót (có thể ghi nội dung này ngay tại Điều 2 của Mẫu quyết định số 02 – Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ban hành kèm theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP).

4. Về thời hạn, thời hiệu thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành mới các quyết định về xử phạt vi phạm hành chính

Điều 6c Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 10 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) quy định: “Thời hạn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính là 01 năm, kể từ ngày ra quyết định…”. Trong thực tiễn thi hành cũng nảy sinh một số vấn đề khó khăn, vướng mắc liên quan đến quy định này, cụ thể là:
Thứ nhất, thời hạn thực hiện việc ban hành mới quyết định xử phạt vi phạm hành chính có cần tuân theo quy định về thời hạn ban hành quyết định tại Điều 66 Luật XLVPHC[4] không? Tương tự, thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề có cần tuân theo quy định tại Điều 125 Luật XLVPHC[5] không?
Thứ hai, việc Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) chỉ quy định thời hạn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính (nói chung và quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính nói riêng) là 01 năm, kể từ khi ra quyết định mà không có quy định cụ thể trong bao lâu, kể từ ngày phát hiện ra quyết định về xử lý vi phạm hành chính sai sót, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính. Điều này đã khiến nhiều vụ việc bị kéo dài thời gian xử lý.
Đối với vấn đề thứ nhất, chúng tôi cho rằng, nếu thời hạn ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mới vẫn phải tuân theo quy định tại Điều 66 Luật XLVPHC thì rất nhiều trường hợp không thể thực hiện được, vì tính đến thời điểm phát hiện ra sai sót, hầu hết nhiều trường hợp đã quá 07 ngày (hoặc 30 ngày, hoặc 60 ngày, tùy từng vụ việc), kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Thời hạn ban hành mới quyết định xử phạt vi phạm hành chính được tính kể từ thời điểm ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính ban đầu đã có sai sót – tạm gọi là quyết định thứ nhất, trừ trường hợp sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mới đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính mới (sau khi đã hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính ban đầu) – tạm gọi là quyết định thứ hai, thì thời hạn 01 năm được tính kể từ ngày ra quyết định thứ hai. Thời hạn ban hành quyết định xử phạt vi phạm vi phạm hành chính quy định tại Điều 66 Luật XLVPHC chỉ áp dụng đối với quyết định thứ nhất. Việc ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (quyết định thứ hai trở đi) không áp dụng quy định về thời hạn quy định tại Điều 66 Luật XLVPHC. Tương tự, thời hạn ban hành quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề mới cũng không cần phải tuân theo quy định tại Điều 125 Luật XLVPHC. Tuy nhiên, vấn đề này cần phải được nghiên cứu, quy định cụ thể, rõ ràng trong Nghị định số 81/2013/NĐ-CP để có căn cứ áp dụng.
Đối với vấn đề thứ hai, chúng tôi cho rằng, việc định lượng để quy định một khoảng thời gian cụ thể trong bao lâu, kể từ khi phát hiện ra quyết định về xử lý vi phạm hành chính sai sót, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính là khó khả thi, vì các vụ việc vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước rất đa dạng, không thể quy định cứng nhắc một khoảng thời gian cụ thể. Chính phủ có thể nghiên cứu, bổ sung quy định về việc người có thẩm quyền phải “kịp thời” thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính khi phát hiện ra sai sót, tương tự như quy định về việc người có thẩm quyền phải kịp thời lập biên bản vi phạm hành chính khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính tại khoản 1 Điều 58 Luật XLVPHC. Bên cạnh việc quy định thời hạn thực hiện sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính như đã nêu trên (phải “kịp thời”), chúng tôi thiết nghĩ quy định về “thời hạn” tại Điều 6c Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 10 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) hiện hành cần được nghiên cứu, chỉnh sửa thành quy định về “thời hiệu thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính” (vẫn giữ nguyên thời hạn 01 năm) thì sẽ phù hợp hơn.

5. Việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã hết thời hiệu thi hành

Điều 74 Luật XLVPHC quy định về thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính:

1. Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, kể từ ngày ra quyết định, quá thời hạn này thì không thi hành quyết định đó nữa, trừ trường hợp quyết định xử phạt có hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thì vẫn phải tịch thu tang vật, phương tiện thuộc loại cấm lưu hành, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp cần thiết để bảo vệ môi trường, bảo đảm giao thông, xây dựng và an ninh trật tự, an toàn xã hội.
2. Trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt cố tình trốn tránh, trì hoãn thì thời hiệu nói trên được tính kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, trì hoãn.

Điều 6c Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 10 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) chỉ quy định một trường hợp không được thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính, đó là “trường hợp hết thời hiệu quy định tại điểm a khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 6
Luật xử lý vi phạm hành chính”, không có quy định cụ thể về việc quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã hết thời hiệu thi hành (01 năm, kể từ ngày ra quyết định có sai sót) thì có được thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính không. Do vậy, trên thực tế, cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng rất lúng túng.
Căn cứ quy định tại Điều 74 Luật XLVPHC nêu trên, chúng tôi thấy rằng, thời hiệu để cơ quan, tổ chức, cá nhân thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, kể từ ngày ra quyết định xử phạt. Nếu quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã hết thời hiệu thi hành thì không thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đó nữa, trừ trường hợp quyết định xử phạt có hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thì vẫn phải tịch thu tang vật, phương tiện thuộc loại cấm lưu hành, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp cần thiết để bảo vệ môi trường, bảo đảm giao thông, xây dựng và an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, về mặt nguyên tắc, nếu trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành đã hết thời hiệu thi hành thì cơ quan, người có thẩm quyền không thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới, vì việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới lúc này không còn có ý nghĩa. Tuy nhiên, trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính có hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện thuộc loại cấm lưu hành, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp cần thiết để bảo vệ môi trường, bảo đảm giao thông, xây dựng và an ninh trật tự, an toàn xã hội, thì cơ quan, người có thẩm quyền có thể xem xét thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới thay cho quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã ban hành trước đó có sai sót, nhưng chỉ liên quan đến nội dung về tịch thu tang vật, phương tiện thuộc loại cấm lưu hành, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thuộc trường hợp quy định tại Điều 74 Luật XLVPHC. Trường hợp người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xử lý vi phạm hành chính gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật XLVPHC.
Pháp luật cần có quy định cụ thể về 02 trường hợp nêu trên (trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính không có hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính có hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả) để cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có căn cứ áp dụng.
Quyết định về xử phạt vi phạm hành chính là một trong những loại quyết định hành chính thường gặp trong quản lý hành chính nhà nước. Trong quá trình ban hành, thực thi quyết định, không thể tránh khỏi những sai sót và việc xử lý những sai sót là không đơn giản, vấn đề là pháp luật phải xây dựng được cơ chế xử lý phù hợp, kịp thời khắc phục những sai sót đó, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời, bảo đảm và bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan. Hiện nay, pháp luật về ban hành quyết định hành chính chưa có những quy định cụ thể về vấn đề sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới. Do vậy, chúng tôi cho rằng, vấn đề sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới quyết định về xử phạt vi phạm hành chính cần được đặt trong tổng thể nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ban hành quyết định hành chính nói chung để có thể đi sâu nghiên cứu trong mối quan hệ biện chứng với các vấn đề khác có liên quan, từ đó mới có cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc để đề xuất đầy đủ những yêu cầu và nội dung điều chỉnh pháp lý đối với vấn đề này[6].
Từ những nội dung phân tích trên đây, trước mắt, để bảo đảm tính minh bạch, thống nhất, đồng bộ trong các quy định pháp luật về sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới quyết định về xử lý vi phạm hành chính (nói chung và quyết định về xử phạt vi phạm hành chính nói riêng), chúng tôi xin đề xuất, kiến nghị Quốc hội nghiên cứu quy định cụ thể, rõ ràng hơn quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật XLVPHC, tránh những cách hiểu và áp dụng khác nhau như đã nêu trong bài viết trên đây; đồng thời, Luật hóa (và nghiên cứu quy định cụ thể hơn) một số quy định của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) về vấn đề này. Bởi vì, đây là vấn đề rất lớn, thuộc thẩm quyền của Quốc hội, phải được quy định trong Luật XLVPHC. Hiện tại, Luật XLVPHC không có điều khoản nào giao Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều 18 của Luật. Việc Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung của khoản 3 Điều 18 Luật XLVPHC tại Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) chỉ là giải pháp tạm thời, nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong khi chưa có điều kiện để sửa đổi ngay Luật XLVPHC./.
ThS. Nguyễn Hoàng Việt – Cục QLXLVPHC&TDTHPL
TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, Cần quy định rõ cơ chế xử lý khi phát hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính có sai sót, truy cập ngày 26/7/2018, tại địa chỉ: http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=185. Lê Kim Chinh thực hiện 02/10/2015.
  2. Nguyễn Phước Thọ (2014), “Một số vấn đề về quy trình gia hạn, thu hồi, hủy bỏ quyết định hành chính”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Bộ Tư pháp), số chuyên đề 32 trang “Dự án Luật ban hành quyết định hành chính” tháng 12/2014.
 


[1] Khoản 2 Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được bổ sung theo khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) được đề xuất chỉnh sửa, cụ thể xem tại điểm 1.3 mục 1 của bài viết.

[2] Điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính quy định một trong những thẩm quyền của Hội đồng xét xử là: “Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính trái pháp luật và quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan (nếu có); buộc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật; đồng thời kiến nghị cách thức xử lý đối với quyết định hành chính trái pháp luật đã bị hủy”.

[3] Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, Cần quy định rõ cơ chế xử lý khi phát hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính có sai sót, tại địa chỉ: http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=185, truy cập ngày 26/7/2018. Lê Kim Chinh thực hiện 02/10/2015.

[4] Điều 66 Luật XLVPHC quy định: “…phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình… thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản.
Trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình… thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày”.

[5] Điều 125 Luật XLVPHC quy định: “Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện… là 07 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày…
Đối với vụ việc thuộc trường hợp quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 66 của Luật này…thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn việc tạm giữ; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày”.

[6] Nguyễn Phước Thọ (2014), “Một số vấn đề về quy trình gia hạn, thu hồi, hủy bỏ quyết định hành chính”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Bộ Tư pháp), số chuyên đề 32 trang “Dự án Luật ban hành quyết định hành chính” tháng 12/2014.
Khái niệm, đặc điểm và các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính

Khái niệm vi phạm hành chính

Trong pháp luật về xử lý vi phạm hành chính ở nước ta, khái niệm “vi phạm hành chính” lần đầu tiên được định nghĩa một cách chính thức tại Điều 1 Pháp lệnhxử phạt vi phạm hành chính năm 1989 (Pháp lệnh năm 1989): “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bịxử phạt hành chính”.
Đến Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 (Pháp lệnh năm 1995), khái niệm “vi phạm hành chính” không được định nghĩa cụ thể mà được định nghĩa một cách gián tiếp, thông qua khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính” tại khoản 2 Điều 1: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (Pháp lệnh năm 2002) cũng định nghĩa “vi phạm hành chính” một cách cách gián tiếp, thông qua khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính” tại khoản 2 Điều 1: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.
Hiện nay, khái niệm “vi phạm hành chính” được thể hiện rõ tại khoản 1 Điều 2 Luật XLVPHC, theo đó: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”.

Đặc điểm của vi phạm hành chính

– Vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước.
– Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm hành chính thực hiện.
– Vi phạm hành chính phải bị xử lý hành chính theo quy định của pháp luật.

Các dấu hiệu pháp lý (yếu tố cấu thành) vi phạm hành chính

Có thể thấy, định nghĩa về vi phạm hành chính tại các Pháp lệnh năm 1989, 1995, 2002 và Luật XLVPHC năm 2012 tuy có sự khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều thống nhất về những dấu hiệu bản chất của loại vi phạm pháp luật này. Nghiên cứu khái niệm về vi phạm hành chính tại các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên, chúng ta có thể nhận ra các dấu hiệu pháp lý và yếu tố cấu thànhvi phạm hành chính, gồm: Mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể.

Mặt khách quan của vi phạm hành chính

Mặt khách quan của vi phạm hành chính là những biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của vi phạm hành chính, bao gồm các yếu tố:
Thứ nhất, là hành vi trái pháp luật hành chính. Hành vi trái pháp luật hành chính được thể hiện dưới dạng hành động (chủ thể thực hiện những hành vi bị pháp luật hành chính ngăn cấm) hoặc không hành động (chủ thể không thực hiện những hành vi mà pháp luật hành chính bắt buộc phải thực hiện). Nếu không có hành vi trái pháp luật hành chính của chủ thể thì không thể có cấu thành vi phạm hành chính. Cần tránh tình trạng áp dụng “nguyên tắc suy đoán” hoặc áp dụng “tương tự pháp luật” trong việc xác định vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức[2].
Thứ hai, là hậu quả do hành vi trái pháp luật hành chính gây ra cho xã hội (sự thiệt hại của xã hội). Hành vi trái pháp luật hành chính ở những mức độ khác nhau đều có tính nguy hiểm cho xã hội, nó có thể gây ra hoặc chứa đựng nguy cơ gây ra những thiệt hại về vật chất, tinh thần và những thiệt hại khác cho xã hội. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm hành chính được đánh giá, xác định thông qua mức độ thiệt hại trên thực tế hoặc nguy cơ gây ra thiệt hại cho xã hội mà hành vi đó gây ra.
Thứ ba, là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật hành chính với hậu quả (sự thiệt hại của xã hội) mà nó gây ra. Điều này thể hiện ở chỗ, sự thiệt hại cho xã hội trên thực tế là hệ quả tất yếu của hành vi trái pháp luật hành chính, do chính hành vi trái pháp luật hành chính gây ra. Như đã nêu tại mục thứ hai trên đây, hậu quả của vi phạm hành chính có thể là những thiệt hại thực tế hoặc nguy cơ gây ra thiệt hại cho xã hội. Học Luật Trong một số trường hợp, đối với một số vi phạm hành chính cụ thể, nhà làm luật quy định hành vi của chủ thể chỉ bị coi là vi phạm hành chính khi hành vi đó đã gây ra những thiệt hại trên thực tế. Trong những trường hợp này, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật hành chính với hậu quả (sự thiệt hại của xã hội) mà nó gây ra là điều hết sức cần thiết để khẳng định có vi phạm hành chính hay không. Ví dụ: Điểm b khoản 2 Điều 18 Nghị định số 104/2017/NĐ-CP ngày 14/9/2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống thiên tai; khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; đê điều quy định xử phạt hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông qua công trình thủy lợi, trong đó, hành vi “điều khiển phương tiện thủy nội địa qua công trình thủy lợi” chỉ bị coi là vi phạm hành chính khi nó gây hư hại cho công trình thủy lợi.
Thứ tư, là các yếu tố khác như: Thời gian thực hiện vi phạm hành chính; địa điểm thực hiện vi phạm hành chính; phương thức, thủ đoạn thực hiện vi phạm hành chính; công cụ, phương tiện dùng để thực hiện vi phạm hành chính… Ví dụ: Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đìnhquy định xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định về bảo đảm sự yên tĩnh chung, trong đó có hành vi dùng loa phóng thanh, chiêng, trống, còi, kèn hoặc các phương tiện khác để cổ động ở nơi công cộng mà không được phép của các cơ quan có thẩm quyền.
Trong các yếu tố nêu trên, thì hành vi trái pháp luật hành chính là dấu hiệu bắt buộc phải có trong mặt khách quan của vi phạm hành chính; các yếu tố còn lại có thể có hoặc có thể không, tùy thuộc vào từng loại vi phạm hành chính.

Mặt chủ quan của vi phạm hành chính

Mặt chủ quan của vi phạm hành chính là những biểu hiện tâm lý bên trong của chủ thể thực hiện hành vi, bao gồm các yếu tố:
Thứ nhất, là yếu tố lỗi của chủ thể vi phạm. Lỗi là trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi vi phạm của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra. Vi phạm hành chính phải là hành vi có lỗi, thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý.
Lỗi cố ý thể hiện ở chỗ chủ thể nhận thức được tính chất nguy hại của hành vi, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra nhưng vẫn cố tình thực hiện và mong muốn điều đó xảy ra hoặc tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Lỗi vô ý thể hiện ở chỗ chủ thể không nhận thức được tính chất nguy hại của hành vi mặc dù có thể hoặc cần phải nhận thức được hoặc nhận thức được nhưng cho rằng hậu quả không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được hậu quả xảy ra.
Thứ hai, là yếu tố mục đích. Mục đích là cái “mốc”, là kết quả cuối cùng trong suy nghĩ mà chủ thể vi phạm mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi vi phạm. Mục đích vi phạm cũng thể hiện tính chất nguy hiểm của hành vi.
Trong các yếu tố nêu trên, thì lỗi là dấu hiệu bắt buộc phải có trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính; yếu tố mục đích có thể có hoặc có thể không, tùy thuộc vào từng loại vi phạm hành chính. Trong một số trường hợp, đối với một số vi phạm hành chính cụ thể, pháp luật quy định dấu hiệu mục đích là dấu hiệu bắt buộc phải có, ví dụ: Đối với hành vi “hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài” chỉ bị coi là hành vi “vi phạm quy định về tổ chức và hoạt động của trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài” khi nhằm mục đích “để trục lợi” theo quy định tại khoản 6 Điều 29 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

Chủ thể vi phạm hành chính

Chủ thể vi phạm hành chính là cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm hành chính, nghĩa là theo quy định của pháp luật hành chính, họ phải chịu trách nhiệm đối với hành vi trái pháp luật của mình. Đối với cá nhân, họ phải là người đạt độ tuổi nhất định, có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Nếu không đủ căn cứ cho rằng chủ thể thực hiện hành vi trong tình trạng có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình thì có thể kết luận rằng: Không có vi phạm hành chính xảy ra. Khoản 5 Điều 11 Luật XLVPHC cũng quy định việc không truy cứu trách nhiệm hành chính trong trường hợp người thực hiện hành vi “không có năng lực trách nhiệm hành chính” hoặc “chưa đủ tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính”.
Chủ thể (đối tượng) bị xử phạt vi phạm hành chính là cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 10 Điều 2 và khoản 1
Điều 5 Luật XLVPHC:
Thứ nhất, là cá nhân, gồm:
(i) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính.
(ii) Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vi phạm hành chính thì bị xử lý như đối với công dân khác; trường hợp cần áp dụng hình thức phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn liên quan đến quốc phòng, an ninh thì người xử phạt đề nghị cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân có thẩm quyền xử lý.
(iii) Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
Thứ hai, là tổ chức, gồm: Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật. Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính được quy định cụ thể tại các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước[3].
Theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hiện hành, thì việc xác định chủ thể bị xử phạt vi phạm hành chính có một số điểm cần lưu ý:
Một là, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính khi có đủ các điều kiện sau đây[4]: Là pháp nhân theo quy định của pháp luật dân sự hoặc các tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật; hành vi vi phạm hành chính do người đại diện, người được giao nhiệm vụ nhân danh tổ chức hoặc người thực hiện hành vi theo sự chỉ đạo, điều hành, phân công, chấp thuận của tổ chức và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.
Hai là, trường hợp cán bộ, công chức, viên chức thực hiện hành vi vi phạm khi đang thi hành công vụ, nhiệm vụ và hành vi vi phạm đó thuộc công vụ, nhiệm vụ được giao theo văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản hành chính do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành, thì không bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức[5].
Ba là, cơ quan nhà nước thực hiện hành vi vi phạm thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao, thì không bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà bị xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan[6].

Khách thể vi phạm hành chính

Khách thể của vi phạm hành chính là những quan hệ xã hội được pháp luật hành chính bảo vệ nhưng bị vi phạm hành chính xâm hại, gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại. Khách thể chính là dấu hiệu để nhận biết: Vi phạm hành chính là hành vi xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước được pháp luật hành chính quy định và bảo vệ.

Nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự

Nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015.
BLHS 2015 là văn bản đầu tiên và duy nhất trong lịch sử lập pháp hình sự của Nhà nước ta quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Đây là điểm mới nổi bật, mang tính đột phá trong chính sách hình sự của nước ta. Sự điều chỉnh về chính sách hình sự này làm thay đổi căn bản nhận thứctruyền thống về vấn đề tội phạm và hình phạt. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tập trung giới thiệu các quy định của BLHS năm 2015 về nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bộ luật Hình sự năm 2015 – văn bản đầu tiên và duy nhất quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại2015

Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018[1](sau đây viết tắt là BLHS năm 2015) là văn bản đầu tiên và duy nhất trong lịch sử lập pháp hình sự của Nhà nước ta quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại[2]. Đây là điểm mới nổi bật, mang tính đột phá trong chính sách hình sự của nước ta. Sự điều chỉnh về chính sách hình sự này làm thay đổi căn bản nhận thức truyền thống về vấn đề tội phạm và hình phạt. Cùng với việc quy định pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự, BLHS năm 2015 quy định hệ thống chế tài áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội tại Điều 33 và Điều 46 của BLHS năm 2015 (bao gồm 03 hình phạt chính (phạt tiền; đình chỉ hoạt động có thời hạn; đình chỉ hoạt động vĩnh viễn), 03 hình phạt bổ sung (cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; cấm huy động vốn; phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính) và 04 biện pháp tư pháp (tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thườngthiệt hại; buộc công khai xin lỗi; buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra)). Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tập trung giới thiệu các quy định của BLHS năm 2015 về nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự.
– Quy định TNHS đối với pháp nhân thương mại: BLHS năm 2015 đã buộc pháp nhân thương mại phải chịu TNHS tại 22 điều luật (quy định 30 tội danh) trong chương[3]. Cùng với đó, BLHS năm 2015 còn sửa đổi quy định về cơ sở của TNHS (Điều 2), nguyên tắc xử lý (Điều 3), khái niệm tội phạm (Điều 8), các quy định về hình phạt và các biện pháp tư pháp, đồng thời dành hẳn 01 chương (Chương XI “Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội”) để có thể truy cứu TNHS của pháp nhân thương mại theo đúng chính sách hình sự mà Nhà nước đã đề ra. Việc quy định TNHS đối với pháp nhân thương mại trong thời điểm này là vô cùng cần thiết và phù hợp, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và xử lý tội phạm trong tình hình mới.

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (nhóm tội phạm trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại)

Tội buôn lậu (Điều 188)

Theo quy định tại khoản 6 Điều 188 thì pháp nhân thương mại bị xử hình sự khi buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng; hàng hóa trị giá dưới 200 triệu đồng nhưng là di vật, cổ vật; hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chínhcủa pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 300 triệu đồng, cao nhất có thể lên đến 15 tỷ đồng hoặc hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm hoặc hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 300 trăm đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới (Điều 189)

Theo quy định tại khoản 5 Điều 189 thì pháp nhân thương mại bị xử hình sự khi vận chuyển qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng; hàng hóa trị giá dưới 200 triệu đồng nhưng là di vật, cổ vật; hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 200 triệu đồng, cao nhất có thể lên đến 05 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 trăm đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190)

Theo quy định tại khoản 5 Điều 190 thì pháp nhân thương mại bị xử hình sự khi thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của BLHS: (1) sản xuất, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng từ 50 kilôgam đến dưới 100 kilôgam hoặc từ 50 lít đến dưới 100 lít; (2) buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao; (3) sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam; (4) sản xuất, buôn bán hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng; (5) sản xuất, buôn bán hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng; (6) sản xuất, buôn bán hàng hóa dưới mức quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm b khoản 5 Điều 190 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) phạm tội có tổ chức; (2) có tính chất chuyên nghiệp; (3) thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng từ 100 kilôgam đến dưới 300 kilôgam hoặc từ 100 lít đến dưới 300 lít; (4) thuốc lá điếu nhập lậu từ 3.000 bao đến dưới 4.500 bao; (5) pháo nổ từ 40 kilôgam đến dưới 120 kilôgam; (6) hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá từ 300 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (7) hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng hoặc thu lợi bất chính từ 300 triệu đồng đến dưới 700 triệu đồng. Ngoài ra, nếu pháp nhân mà thực hiện hành vi buôn bán qua biên giới, trừ hàng hóa là thuốc lá điếu nhập lậu; tái phạm nguy hiểm cũng bị áp dụng tình tiết tại khoản 2 Điều này.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm c khoản 5 Điều 190 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng 300 kilôgam trở lên hoặc 300 lít trở lên; (2) thuốc lá điếu nhập lậu 4.500 bao trở lên; (3) pháo nổ 120 kilôgam trở lên; (4) hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá 500 triệu trở lên hoặc thu lợi bất chính 500 triệu đồng trở lên; (5) hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá 01 tỷ đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 700 triệu đồng trở lên.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 1 tỷ đồng, cao nhất có thể lên đến 09 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 79 của BLHS thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Điều 191)

Theo quy định tại khoản 5 Điều 191 thì pháp nhân thương mại bị xử lý hình sự khi thực hiện một trong các hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của BLHS: (1) thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng từ 50 kilôgam đến dưới 100 kilôgam hoặc từ 50 lít đến dưới 100 lít; (2) thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao; (3) pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam; (4) hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá từ 100 trăm triệu đồng đến dưới 300 trăm triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến dưới 200 trăm triệu đồng; (5) hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá từ 200 trăm triệu đồng đến dưới 500 trăm triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100 trăm triệu đồng đến dưới 300 trăm triệu đồng; (6) hàng hóa dưới mức quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 190, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm b khoản 5 Điều 191 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) phạm tội có tổ chức; (2) có tính chất chuyên nghiệp; (3) thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng từ 100 kilôgam đến dưới 300 kilôgam hoặc từ 100 lít đến dưới 300 lít; (4) thuốc lá điếu nhập lậu từ 3.000 bao đến dưới 4.500 bao; (5) pháo nổ từ 40 kilôgam đến dưới 120 kilôgam; (6) hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá từ 300 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 200 trăm triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (7) hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá từ 500 trăm triệu đồng đến dưới 01 tỷ đồng hoặc thu lợi bất chính từ 300 triệu đồng đến dưới 700 triệu đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm c khoản 5 Điều 191 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng 300 kilôgam trở lên hoặc 300 lít trở lên; (2) thuốc lá điếu nhập lậu 4.500 bao trở lên; (3) pháo nổ 120 kilôgam trở lên; (4) hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá 500 trăm triệu đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 500 trăm triệu đồng trở lên; (5) hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá 01 tỷ đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 700 triệu đồng trở lên.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 300 triệu đồng, cao nhất có thể lên đến 05 tỷ đồng; đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 79 của BLHS thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192)

 Theo quy định tại khoản 5 Điều 192 thì pháp nhân thương mại bị xử lý hình sự khi thực hiện một trong các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 193, 194 và 195 của Bộ luật này (1) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 30 triệu đồng đến dưới 150 triệu đồng hoặc dưới 30 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; (2) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; (3) Thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng; (4) Gây thiệt hại về tài sản từ 01 tỷ đồng đến dưới 500 triệu đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm b khoản 5 Điều 192 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) phạm tội có tổ chức; (2) có tính chất chuyên nghiệp; (3) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (4) thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (5) làm chết người; (6) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; (7) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; (8) gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng. Ngoài ra, nếu pháp nhân mà thực hiện hành vi vận chuyển qua biên giới; tái phạm nguy hiểm cũng bị áp dụng tình tiết tại khoản 2 Điều này.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm c khoản 5 Điều 192 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500 triệu đồng trở lên; (2) thu lợi bất chính 500 triệu đồng trở lên; (3) làm chết 02 người trở lên; (4) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên; (5) gây thiệt hại về tài sản 1,5 tỷ đồng trở lên.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 01 tỷ đồng, cao nhất có thể lên đến 09 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm.  Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 79 của BLHS thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193)

Theo quy định tại khoản 6 Điều 193 thì pháp nhân thương mại bị xử lý hình sự khi thực hiện một trong các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm mà không cần căn cứ vào trị giá, số lượng hay thiệt hại cụ thể của hàng giả.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm b khoản 6 Điều 193 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) phạm tội có tổ chức; (2) có tính chất chuyên nghiệp; (3) tái phạm nguy hiểm; (4) buôn bán qua biên giới; (5) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (6) thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (7) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; (8) gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm c khoản 6 Điều 193 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500 triệu đồng trở lên; (2) thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng; (3) gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng; (4) làm chết người; (5) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; (6) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm d khoản 6 Điều 193 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) thu lợi bất chính 1,5 tỷ đồng trở lên; (2) gây thiệt hại về tài sản 1,5 tỷ đồng trở lên; (3) làm chết 02 người trở lên; (4) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 1 tỷ đồng, cao nhất có thể lên đến 18 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 79 của BLHS thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 300 triệu đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194)

 Theo quy định tại khoản 6 Điều 194 thì pháp nhân thương mại bị xử lý hình sự khi thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh mà không cần căn cứ vào trị giá, số lượng hay thiệt hại cụ thể của hàng giả.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm b khoản 6 Điều 194 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) phạm tội có tổ chức; (2) có tính chất chuyên nghiệp; (3) tái phạm nguy hiểm; (4) Buôn bán qua biên giới; (5) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (6) thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (7) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; (8) gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm c khoản 6 Điều 194 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500 triệu đồng trở lên; (2) thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng đến dưới 02 tỷ đồng; (3) làm chết người; (4) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; (5) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; (6) gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm d khoản 6        Điều 194 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) thu lợi bất chính 02 tỷ đồng trở lên; (2) làm chết 02 người trở lên; (3) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên; (4) gây thiệt hại về tài sản 1,5 tỷ đồng trở lên.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 1 tỷ đồng, cao nhất có thể lên đến 20 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 79 của BLHS thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 300 triệu đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi (Điều 195)

Theo quy định tại khoản 6 Điều 195 thì pháp nhân thương mại bị xử lý hình sự khi thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi thuộc một trong các trường hợp (1) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 30 triệu đồng đến dưới 150 triệu đồng hoặc dưới 30 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; (2) gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (3) thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm b khoản 6  Điều 195 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) phạm tội có tổ chức; (2) có tính chất chuyên nghiệp; (3) tái phạm nguy hiểm; (4) buôn bán qua biên giới; (5) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (6) gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng; (7) thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm c khoản 6 Điều 195 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500 triệu đồng trở lên; (2) gây thiệt hại về tài sản từ 1,5 tỷ đồng đến dưới 03 tỷ đồng; (3) thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng đến dưới 02 tỷ đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm d khoản 4 Điều 195 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) gây thiệt hại về tài sản 03 tỷ đồng trở lên; (2) thu lợi bất chính 02 tỷ đồng trở lên.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 1 tỷ đồng, cao nhất có thể lên đến 15 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 79 của BLHS thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 300 triệu đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội đầu cơ (Điều 196)

Theo quy định tại khoản 5 Điều 196 thì pháp nhân thương mại bị xử lý hình sự khi thực hiện hành vi lợi dụng tình hình khan hiếm hoặc tạo ra sự khan hiếm giả tạo trong tình hình thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh hoặc tình hình khó khăn về kinh tế mua vét hàng hóa thuộc danh mục mặt hàng bình ổn giá hoặc thuộc danh mục hàng hóa được Nhà nước định giá nhằm bán lại để thu lợi bất chính thuộc một trong các trường hợp (1) hàng hoá trị giá từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng; (2) thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm b khoản 5       Điều 196 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) phạm tội có tổ chức; (2) hàng hóa trị giá từ 1,5 tỷ đồng đến dưới 03 tỷ đồng; (3) thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng đến dưới 01 tỷ đồng; (4) gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm c khoản 5 Điều 196 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) hàng hóa trị giá 03 tỷ đồng trở lên; (2) thu lợi bất chính 01 tỷ đồng trở lên; (3) tái phạm nguy hiểm.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 300 triệu đồng, cao nhất có thể lên đến 09 tỷ đồng. Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 300 triệu đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
(Còn nữa)
TS. NGUYỄN CHÍ CÔNG – CN. HOÀNG THỊ SONG MAI (Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học TANDTC)
Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).


[1] Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự).
[2] Nội dung quy định thể hiện tập trung tại Chương XI, gồm 16 điều (từ Điều 74 đến Điều 89) và một số điều khoản của thể khác của Bộ luật (các điều 2, 3, 8, 9, 33, 46 và 33 điều về các tội phạm cụ thể, gồm: Điều 188 (tội buôn lậu); Điều 189 (tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới); Điều 190 (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm); Điều 191 (tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm); Điều 192 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả); Điều 193 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm); Điều 194 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 195 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi); Điều 196 (tội đầu cơ); Điều 200 (tội trốn thuế); Điều 203 (tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ); Điều 209 (tội cố ý công bốthông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán); Điều 210 (tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán); Điều 211 (tội thao túng thị trường chứng khoán); Điều 213 (tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm); Điều 216 (tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động); Điều 217 (tội vi phạm quy định về cạnh tranh); Điều 225 (tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan); Điều 226 (tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp); Điều 227 (tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên); Điều 232 (tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng); Điều 234 (Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã); Điều 235 (tội gây ô nhiễm môi trường); Điều 237 (tội vi phạm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường); Điều 238 (tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông); Điều 239 (tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam); Điều 242 (tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản); Điều 243 (tội huỷ hoại rừng); Điều 244 (tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm); Điều 245 (tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên); Điều 246 (tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại), Điều 300 (tội tài trợ khủng bố) và Điều 324 (tội rửa tiền)).
[3] Xem chú thích số 2, trang 1.

Một số quy định mới về cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài tại Việt Nam
Thời gian qua, thực hiện chủ trương, chính sách mở cửa, tăng cường quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước, nhiều văn bản quản lý Nhà nước về người nước ngoài đã được ban hành. Trong đó, có các văn bản quy định về thủ tục lao động của người nước ngoài đơn giản, dễ dàng hơn, tạo điều kiện cho người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam để đầu tư, khảo sát thị trường, lao động… Bên cạnh những người lao động nước ngoài đến Việt Nam lao động hợp pháp thì cũng còn nhiều người nước ngoài đến Việt Nam lao động bất hợp pháp, vi phạm pháp luật Việt Nam làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình an ninh trật tự (ANTT). Theo kết quả thống kê mà Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có khoảng gần 30% người nước ngoài thực tế đang lao động tại Việt Nam chưa được cấp giấy phép lao động. Đó có thể là người nước ngoài nhập cư trái phép hoặc người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam với “vỏ bọc” du lịch, học tập, thăm thân nhưng thực tế đến Việt Nam lao động.
Để tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụcho người lao động nước ngoài đến Việt Nam, trong những năm gần đây Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp lý như Bộ luật Lao động, Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam và hàng loạt các văn bản dưới luật khác. Trong đó liên quan đến giấy phép lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, ngày 03/02/2016 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 11/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao độngvề lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Nghị định này chính thức có hiệu lực từ ngày 01/4/2016 và có nhiều nội dung mới nổi bật liên quan đến giấy phép lao động cho người nước ngoài, thể hiện trên một số điểm sau:
Thứ nhất, về việc cấp phiếu lý lịch tư pháp:
Trước đây, theo Nghị định 102/2013/NĐ-CP, người lao động nước ngoài đã cư trú tại Việt Nam thì pháp luật vẫn yêu cầu họ phải cung cấp cả phiếu lý lịch tư pháp tại Việt Nam và phiếu lý lịch tư pháp cấp tại nước ngoài với điều kiện về hình thức là phải được hợp pháp hóa lãnh sự và dịch công chứng. Việc yêu cầu cung cấp phiếu lý lịch tư pháp cấp tại nước ngoài cho người lao động nước ngoài đã cư trú tại Việt Nam là không cần thiết, gây nhiều khó khăn, thủ tục rườm rà khi xin cấp giấy phép lao động. Do vậy, theo quy định mới hiện nay, đối với trường hợp người lao động nước ngoài đã cư trú tại Việt Nam thì chỉ cần phiếu lý lịch tư pháp do Việt Nam cấp, quy định này đã đơn giản hơn rất nhiều so với quy định trước đây.
Thứ hai, về thời hạn cấp giấy phép lao động
Trước đây, thời hạn để cấp giấy phép lao động theo quy định Nghị định 102/2013/NĐ-CP là 10 ngày làm việc. Tuy nhiên, quy định mới ban hành đã rút ngắn thời hạn giải quyết hồ sơ xin cấp giấy phép lao động giảm xuống chỉ còn 7 ngày làm việc. Quy định này là một sự tiến bộ trong cải cách hành chính, khi đã phần nào đẩy nhanh các thủ tục hành chính và bắt kịp với nhịp sống, yêu cầu của xã hội.
Thứ ba, quy định rõ khái niệm về chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành, lao động kỹ thuật…
Bên cạnh những khái niệm về vị trí công việc theo Luật doanh nghiệp quy định, Nghị định số 11/2016/NĐ-CP đã bổ sung thêm khái niệm đối với các vị trí khác mà người lao động nước ngoài đảm nhiệm như lao động kỹ thuật, chuyên gia, tình nguyện viên là người lao động…
Theo đó, trường hợp người lao động nước ngoài được xem là nhà quản lý, người quản lý doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 18, Điều 4, Luật doanh nghiệp hoặc là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu của cơ quan, tổ chức; Giám đốc điều hành là người đứng đầu và trực tiếp điều hành đơn vị trực thuộc cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hay người lao động nước ngoài được xem là chuyên gia khi đáp ứng một trong hai điều kiện: Có văn bản xác nhận là chuyên gia của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tại nước ngoài; có bằng đại học trở lên hoặc tương đương và có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm việc trong chuyên ngành được đào tạo phù hợp với vị trí công việc mà người lao động nước ngoài dự kiến làm việc tại Việt Nam; trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Trước đây, theo Nghị định 102/2013/NĐ-CP, chuyên gia nước ngoài yêu cầu số năm kinh nghiệm tối thiểu là 05 năm.
Thứ tư, quy định các trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động
Trước đây, Nghị định 102/2013/NĐ-CP chưa điều chỉnh một số đối tượng có thể xem xét để không cần phải xin giấy phép lao động khi vào Việt Nam, cụ thể: Tình nguyện viên, thực tập sinh không trong diện thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập; người nước ngoài vào Việt Nam để công tác ngắn ngày, tham dự họp, kiểm toán nội bộ, người làm việc độc lập hoặc khảo sát; thương nhân vào thu mua hàng hóa ngắn ngày.
Hiện nay, Nghị định số 11/2016/NĐ-CP đã bổ sung trường hợp người lao động nước ngoài làm việc tại vị trí chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành hoặc lao động kỹ thuật có thời gian làm việc dưới 30 ngày và thời gian cộng dồn không quá 90 ngày trong 01 năm thì không cần đề nghị cấp giấy phép lao động. Ngoài ra, người lao động nước ngoài là giáo viên, nghiên cứu sinh được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác nhận vào giảng dạy, nghiên cứu tại các cơ sở giáo dục, đào tạo tại Việt Nam; học sinh, sinh viên đang học tập tại các trường, cơ sở đào tạo ở nước ngoài có thỏa thuận thực tập trong các cơ quan, doanh nghiệp tại Việt Nam; cá nhân có hộ chiếu công vụ vào Việt Nam làm việc cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội cũng được miễn giấy phép lao động.
Đối với các trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo quy định tại Khoản 2, Điều 7, Nghị định 11/2016/NĐ-CP thì người nước ngoài vẫn cần phải có giấy xác nhận thuộc diện không phải xin giấy phép lao động của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội trước ít nhất 7 ngày làm việc (trừ các trường hợp quy định tại Khoản 4, Khoản 5 Điều 172 của Bộ luật Lao động và Điểm e, Khoản 2, Điều 7 Nghị định 11/2016/NĐ-CP). Thời hạn xác nhận không thuộc trường hợp cấp giấy phép lao động là tối đa không quá 02 năm và theo thời hạn của một số trường hợp cụ thể.
Thực tiễn hiện nay cho thấy, đã xuất hiện một số người nước ngoài dựa vào quy định: Nếu người nước ngoài tham gia góp vốn vào doanh nghiệp thì hiển nhiên được làm việc tại doanh nghiệp đó mà không thuộc diện phải xin cấp phép lao động vì theo Luật doanh nghiệp tại Khoản 18, Điều 4 quy định người quản lý gồm người quản lý công ty và người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty. Bên cạnh đó, quy định lại không đưa ra hạn mức góp vốn, nghĩa là chỉ cần góp 1 đồng là đã được làm việc. Do vậy, thiết nghĩ, cơ quan quản lý nên nghiên cứu đưa các đối tượng này vào phạm vi điều chỉnh trong các văn bản pháp lý.
Thứ năm, quy định chi tiết hơn về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động
Điều 10, Nghị định số 11/2016/NĐ-CP, hồ sơ đề nghị cấp giấp phép lao động phải có phiếu lý lịch tư pháp hoặc văn bản xác nhận người lao động nước ngoài không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự của nước ngoài cấp. Trường hợp người lao động nước ngoài đã cư trú tại Việt Nam thì chỉ cần phiếu lý lịch tư pháp do Việt Nam cấp. Các văn bản này được cấp không quá 6 tháng kể từ ngày cấp đến ngày nộp hồ sơ.
Đồng thời tại Nghị định số 11/2016/NĐ-CP quy định chi tiết về giấy chứng nhận sức khỏe phải có giá trị trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày ký kết luận sức khỏe, và vẫn có hiệu lực tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp phép lao động.
Thứ sáu, điều kiện để xin cấp lại giấy phép lao động
Nghị định số 11/2016/NĐ-CP đã bổ sung thêm trường hợp được quyền xin cấp lại giấy phép lao động và bỏ đi trường hợp giấy phép lao động hết hạn như trước đây, cụ thể các trường hợp sau:
– Giấy phép lao động còn thời hạn bị mất, bị hỏng hoặc thay đổi nội dung ghi trong giấy phép lao động (trừ một số trường hợp sẽ làm theo thủ tục cấp mới);
– Giấy phép lao động còn thời hạn ít nhất 05 ngày nhưng không quá 45 ngày.
Theo Nghị định 102/2013/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành, pháp luật không đề cập trường hợp này. Nghị định số 11/2016/NĐ-CP đã quy định chặt chẽ hơn về trường hợp giấy phép lao động hết hạn. Theo đó, nếu giấy phép lao động gần hết hạn, người lao động nước ngoài còn nhu cầu làm việc tại Việt Nam và thời hạn còn ít nhất 05 ngày trước ngày hết hạn nhưng không quá 45 ngày, người sử dụng lao động phải thực hiện thủ tục xin cấp lại giấy phép lao động theo quy định.

Cao Thị Nga

Học viện Chính trị CAND

Về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015.
Hành vi cho vay nặng lãi hiện nay đang có xu hướng lan rộng ở cả thành thị và nông thôn; tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây nguy hiểm cho xã hội, làm gia tăng tội phạm khác như: cố ý gây thương thương tích, cướp tài sản hoặc cưỡng đoạt tài sản… Việc xử lý hình sự đối với tội phạm “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” là hết sức cần thiết và có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Tóm tắt nội dung vụ án:
Trong thời gian từ tháng 6/2018 đến tháng 12/2018 Nguyễn Văn B đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết về pháp luật và hoàn cảnh khó khăn của người dân, nên Nguyễn Văn B  đã làm các tờ rơi quản cáo có nội dung cho vay nhanh, gọn; không cần thế chấp; giải ngân trong ngày, Nguyễn Văn B đã cho 53 người với 119 lượt vay tại các huyện  trong tỉnh QN, tổng số tiền 524.000.000 đồng, đến lúc bị bắt Nguyễn Văn B đã thu được 463.470.000 đồng. Trong đó: tiền gốc là 355.385.240 đồng, tiền lãi là 108.084.760 đồng, lãi suất thấp nhất là 319%/năm, cao nhất là 473%/năm cao hơn so với quy định trong Bộ luật dân sự từ 16,45 đến 23,65 lần (trong đó lãi xuất 20% theo Bộ luật dân sự là 6.572.603 đồng, lãi suất vượt trên 20% là 101.512.157 đồng) và 25.050.000 đồng tiền công thu thêm.
Trong quá trình truy tố và xét xử, các Cơ quan tiến hành tố tụng đã thống nhất về tội danh Nguyễn Văn B phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự 2015; Tuy nhiên trong việc áp dụng các biện pháp tư pháp vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến xác định tư cách của người vay (bên nhận nợ) là người Bị hại được quy định tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hay Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quy định tại Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Quan điểm thứ nhất: Người vay (bên nhận nợ) là người Bị hại được quy định tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 do đó trong quá trình xét xử phải tuyên trả lại người vay đối với tiền lãi vay 108.084.760 đồng và tiền thu thêm (phụ thu) 25.050.000 đồng vì đây là thiệt hại của người vay theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đối với tiền cho vay 524.000.000 đồng : Đây là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên phải tuyên sung công quỹ nhà nước.
Quan điểm thứ hai: Người vay (bên nhận nợ) là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quy định tại Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 do đó số tiền thu lợi bất chính là 101.512.157 đồng mà Nguyễn Văn B đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” (108.084.760 đồng – 6.572.603 đồng) phải bị tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo điểm b khoản 1 và khoản 3 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đối với khoản lãi được pháp luật cho phép (20%/năm) là 6.572.603 đồng và số tiền cho vay 524.000.000 đồng là giao dịch dân sự mà nhà nước không cấm nên các bên tự thỏa thuận.
Quan điểm thứ ba: Người vay (bên nhận nợ) là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quy định tại Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và xác định hợp đồng vay mượn này là giao dịch dân sự vô hiệu vì vi phạm điều cấm của pháp luật nên áp dụng Điều 123, 131 Bộ luật Dân sự năm 2015, các bên “hoàn trả cho nhau những gì đã nhận” tức là bên cho vay hoàn trả toàn bộ khoản lãi vay 108.084.760 đồng và khoản thu thêm 25.050.000 đồng cho bên vay và bên vay trả lại toàn bộ gốc cho bên cho vay là 524.000.000 đồng.
Tác giả bài viết cho rằng, quan điểm thứ hai là đúng, vì:
Tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” là loại tội phạm nằm trong chương xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; giao dịch dân sự vay và cho vay tài sản  nhà nước không cấm và được quy định từ Điều 463 đến Điều 471 Chương “ Hợp đồng vay tài sản” của Bộ luật Dân sự năm 2015, lãi suất quy định tại Điều 468 cao nhất không được vượt quá 20%/ năm; như vậy nhà nước chỉ điều chỉnh khoản lãi xuất vượt trên 20% và chỉ bị điều chỉnh bởi pháp luật hình sự khoản lãi vay gấp 5 lần mức cao nhất do Bộ luật Dân sự quy định;
Do đó Số tiền thu lãi vượt quy định  101.512.157 đồng ( số lãi suất trên 20%)  và số tiền thu thêm là 25.050.000 đồng (tiền thu ngoài lãi xuất) là tiền thu lợi bất chính nên phải bị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; bởi vì Bên vay chấp nhận lãi suất mà Nguyễn Văn B đã đưa ra tuy không bị ép buộc nhưng so với quy định của pháp luật là trái pháp luật hình sự,  bên đi vay cũng có lỗi. Căn cứ điểm b khoản 1 và khoản 3 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 phải bị tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền gốc  524.000.000 đồng ( tiền cho vay)  và lãi vay trong khoảng 20% theo quy định của Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 là giao dịch dân sự các bên tự thỏa thuận vì không vi phạm điều cấm của pháp luật./.
Phòng ngừa người dưới 18 tuổi phạm tội thông qua hoạt động xét xử của Tòa án – Hạn chế và kiến nghị

Trong những năm gần đây, ở Việt Nam tình trạng tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện có chiều hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng và mức độ phạm tội. Việc nghiên cứu để có những giải pháp hữu hiệu phòng ngừa tội phạm người dưới 18 tuổi phạm tội thông qua hoạt động xét xử của Tòa án là hết sức cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm do người dưới 18 thực hiện trong giai đoạn hiện nay.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tình trạng người dưới 18 tuổi phạm tội ngày càng tăng ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam là một những vấn đề nóng bỏng và là một trong những vấn đề đang được xã hội quan tâm. Trong những năm gần đây, ở Việt Nam tình trạng tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện có chiều hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng và mức độ phạm tội. Thủ đoạn phạm tội của các đối tượng này không còn đơn giản do bồng bột, thiếu suy nghĩ, mà đã có sự tính toán, chuẩn bị kỹ càng và khá tinh vi, thậm chí đã hình thành các băng nhóm tội phạm có tính nguy hiểm cao. Số lượng các vụ án tăng nhanh, nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra, cùng với tính chất phức tạp của từng vụ án là những thủ đoạn tinh vi, do đó tính nguy hiểm ngày càng cao để lại những hậu quả nghiêm trọng, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm xôn xao dư luận xã hội. Việc gia tăng các vụ án có bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội không chỉ tăng về số lượng các bị cáo, mà tuổi đời cũng được trẻ hoá, có nhiều vụ án các bị cáo là người dưới 18 tuổi thực hiện thuộc trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng có khung hình phạt cao nhất là 20 năm tù chung thân hoặc tử hình như tội: “Cố ý gây thương tích”, “Giết người”, “Cướp tài sản”, “Trộm cắp tài sản”.
Đặc biệt, vụ thảm án tại tiệm vàng Ngọc Bích ở Bắc Giang mà kẻ tội đồ Lê Văn Luyện thì chưa đến 18 tuổi, hay vụ nữ sinh Nguyễn Thị Giang giết bạn học ở Hưng Yên mới 15 tuổi đã một lần nữa gióng hồi chuông cảnh báo về sự gia tăng tỷ lệ phạm tội ở lứa tuổi này.
Theo báo cáo về công tác phòng chống tội phạm của Chính phủ trình Quốc hội khóa XIII tại kỳ họp thứ 2 cho thấy, tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện ngày càng gia tăng, chiếm 15-18%. Hàng năm các cơ quan thi hành pháp luật bắt giữ, truy tố hơn 115 nghìn người, trong đó có 16-18 nghìn đối tượng là người dưới 18 tuổi… Với diễn biến như vậy, như phát biểu của ông Nguyễn Đức Chung khi còn làm Giám đốc Công an thành phố Hà Nội thì “theo phép tính nhân thì chỉ sau 5-10 năm nữa đất nước chúng ta sẽ có gần 1 triệu người có tiền án tiền sự, trong đó có 200 nghìn người dưới 30 tuổi”. Đây chính là con số đáng báo động, buộc các cấp, các ngành phải có những giải pháp hữu hiệu nhất nhằm phòng ngừa sự gia tăng của tình trạng phạm tội ở lứa tuổi chưa trưởng thành.
Qua thực tiễn xét xử thời gian qua thì thấy, tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện vẫn có chiều hướng gia tăng, cơ cấu, tổ chức, tính chất tội phạm ngày càng phức tạp và nghiêm trọng. Có không ít trường hợp đã bị Tòa án xét xử, áp dụng mức phạt nghiêm khắc nhưng tác dụng phòng ngừa, cảnh báo chưa cao, tỷ lệ người dưới 18 tuổi tái phạm còn nhiều. Chính vì vậy, việc nghiên cứu để có những giải pháp hữu hiệu phòng ngừa tội phạm người dưới 18 tuổi phạm tội thông qua hoạt động xét xử của Tòa án là hết sức cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm do người dưới 18 thực hiện trong giai đoạn hiện nay.
II. Thực trạng người dưới 18 tuổi phạm tội trên phạm vi toàn quốc thời gian qua
2.1. Quy định của pháp luật Việt Nam về người dưới 18 tuổi phạm tội
Luật hình sự Việt Nam quy định hai mức tuổi khác nhau để truy cứu trách nhiệm hình sự. Tại Điều 12 BLHS năm 2015 quy định: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 179, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này”.
Như vậy chỉ những người từ đủ 14 tuổi trở lên thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội quy định tại Điều 8 Bộ luật Hình sự thì mới có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
2.2. Thực trạng tình hình người dưới 18 tuổi phạm tội
Theo thống kê gần nhất của Bộ Công an, tỷ lệ gây án theo lứa tuổi ở tuổi vị thành niên trên địa bàn cả nước là 5,2% đối với người dưới 14 tuổi, 24,5% đối với người từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và 70,3% đối với người từ 16 đến dưới 18 tuổi. Từ đánh giá tổng thể có thể thấy, tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật do trẻ vị thành niên gây ra tiếp tục diễn biến phức tạp với tính chất, mức độ phạm tội nguy hiểm hơn, gây hậu quả nghiêm trọng. Đặc biệt, tại các thành phố lớn, tỉ lệ trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật và phạm tội chiếm tỷ lệ cao hơn và có chiều hướng tăng nhanh hơn. Chính vì vậy, việc siết chặt cũng như nới lỏng chính sách xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội một cách phù hợp, đủ sức răn đe, giáo dục là hết sức cần thiết, vừa đáp ứng yêu cầu kéo giảm tội phạm, vừa phù hợp với quan điểm chung của cộng đồng quốc tế .
Nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng, do các bị cáo đang ở độ tuổi chưa thành niên một mình hay cùng đồng bọn cũng là những người chưa thành niên gây ra như:
Vụ án Lê Ngọc Chung (sinh ngày 31/5/1991, trú tại Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội) cũng có hành vi tàn ác không kém Lê Văn Luyện trong vụ thảm sát hiệu vàng Ngọc Bích ở Bắc Giang. Là học sinh lớp 10A5 trường PTTH Thanh Oai, ngày 9/4/2007, do chán cảnh mẹ và bố dượng suốt ngày cãi nhau và chửi mắng mình nên Chung đã quyết định bỏ học, bỏ nhà ra đi. Khi bỏ nhà đi, Chung lấy trộm của gia đình 1 triệu đồng và chiếc xe máy của người bố dượng rồi lang thang lên Hà Nội và được giới thiệu đến làm việc rửa xe thuê cho gia đình anh Đỗ Quốc Hùng ( 42 tuổi, ở số nhà 888 phố Minh Khai, phường Thanh Lương, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội). Trong một lần bị gia chủ nhắc nhở tội “tắt mắt”, Chung đem lòng thù tức và đến ngày 2/5/2007, hắn mò đến nhà anh Hùng, xuống tay sát hại cả nhà anh. Kẻ giết người đã bị bắt ngay khi sát hại 5 người trong gia đình. Hai nạn nhân đã tử vong ngay sau khi bị đâm là bà Đặng Thị Nữ, 68 tuổi và cháu nội là Đỗ Trung Nghĩa, 16 tuổi. Anh Đỗ Quốc Hùng, 42 tuổi sau đó cũng tử vong. Vợ anh Hùng là chị Trần Thị Nguyệt Nga, 39 tuổi cùng con gái 7 tuổi là Đỗ Thùy Anh cũng bị chém dã man nhưng sau đó may mắn được cứu sống…
Qua vụ án này thì thấy, tuy ở độ tuổi còn rất trẻ, song hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm và quyết liệt, có sự chuẩn bị về công cụ, phương tiện với thủ đoạn tinh vi, xuống tay sát hại người khác một cách hết sức dã man. Do vậy, hậu quả để lại là rất nặng nề, gây bức xúc trong nhân dân và gây dư luận xấu trong xã hội.
a. Về số lượng các vụ án có bị cáo là người chưa thành niên phạm tội.
Theo thống kê của Cục Cảnh sát hình sự Bộ Công an thì, trong ba năm từ 2016 đến 2018 toàn quốc đã phát hiện 13.794 vụ với 20.367 đối tượng là người dưới 18 tuổi phạm tội. Trong các tội danh mà người dưới 18 tuổi phạm tội, có thể thống kê một số tội danh như sau: Giết người là 183 vụ với 293 đối tượng; Cướp tài sản là 475 vụ với 830 đối tượng; Cưỡng đoạt tài sản là 88 vụ với 111 đối tượng; Cố ý gây thương tích là 2017 vụ với 3797 đối tượng; Trộm cắp tài sản là 5565 vụ với 7611 đối tượng; Cướp giật tài sản là 505 vụ với 627 đối tượng.
Ngoài các tội danh nêu trên, người dưới 18 tuổi còn phạm các tội khác với 4961 vụ, 10.895 đối tượng. Trong số vụ phạm tội do người dưới 18 tuổi thực hiện thì số vụ do người dưới 14 tuổi gây ra chiếm 6%, số vụ do người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi gây ra chiếm 23%, còn lại số vụ do người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi thực hiện là 71% .
Trong những năm qua, ngành Tòa án đã hết sức chú ý đảm bảo về chất lượng xét xử đối với các vụ án hình sự nói chung và các vụ án hình sự do người chưa thành niên thực hiện nói riêng, ngoài xét xử tại trụ sở Tòa án, các Tòa án địa phương cũng tăng cường công tác xét xử lưu động các vụ án điểm do người chưa thành niên thực hiện, nhằm tăng cường công tác giáo dục, phổ biến pháp luật, góp phần phòng ngừa tình trạng thanh, thiếu niên phạm tội. Cụ thể từ năm 2016 đến tháng 6/2019, toàn Hệ thống Tòa án thụ lý 8.129 vụ với 10.923 bị cáo là người dưới 18 tuổi (năm 2016 là 2653 vụ với 3494 bị cáo; 2017 là 2119 vụ với 2688 bị cáo; 2018 là 2265 vụ với 3176 bị cáo và 06 tháng đầu năm 2019 là 1092 vụ với 1565 bị cáo). Đã xét xử được 7014 vụ với 9188 bị cáo (năm 2016, 2424 vụ với 3169 bị cáo; năm 2017, 1878 vụ với 2374 bị cáo; 2018, 1800 vụ với 2483 bị cáo và 06 tháng đầu năm 2019 là 912 vụ với 1262 bị cáo). Trong số các bị cáo bị đưa ra xét xử, có độ tuổi từ 14 đến dưới 16 tuổi là 284 chiếm 3% còn lại là ở độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi chiếm 97%, về giới tính có 186 bị cáo là nữ giới còn lại là nam giới.
Như vậy, số lượng các vụ án do người dưới 18 tuổi thực hiện trong ban năm được đưa ra xét xử chỉ chiếm 51% (7037 vụ/13.794 vụ) số bị cáo chỉ chiếm 46% tổng số người dưới 18 tuổi phạm tội (9358 bị cáo/20.367 đối tượng phạm tội).
Nếu chỉ thông qua số liệu xét xử hàng năm như trên thì chúng ta thấy có tín hiệu đáng mừng vì số vụ án và số bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội có chiều hướng giảm, (năm 2016 là 3169 bị cáo, năm 2017 là 2374 bị cáo, năm 2018 là 2383 giảm so với 2016 là 786 bị cáo bằng 24,8%) . Phải chăng đây chính là hiệu quả của công tác xét xử đã có tác dụng trong công tác phòng ngừa người dưới 18 tuổi phạm tội.
Tuy nhiên, chúng ta lại thấy tỷ lệ người dưới 18 tuổi phạm tội được đưa ra xét xử ít hơn rất nhiều so với người dưới 18 tuổi vi phạm pháp luật bị phát hiện như đã phân tích ở trên. Chính vì vậy, cũng chưa thể khẳng định chính xác hiệu quả của công tác phòng ngừa người dưới 18 tuổi phạm tội thông qua công tác xét xử của Tòa án là bao nhiêu phần trăm! Cũng thông qua số liệu người dưới 18 tuổi phạm tội được phát hiện và số liệu người dưới 18 tuổi được đưa ra xét xử thì thấy nguy cơ số trẻ em phạm tội đang “gia tăng và trẻ hóa”đang trong tình trạng báo động bởi lẽ: Số người dưới 18 tuổi phạm tội không đưa ra xét xử được chiếm 59%.
b. Về độ tuổi và loại tội mà các bị cáo là người chưa thành niên thực hiện.
Theo thống kê của TANDTC thì thấy số người chưa thành niên phạm tội chủ yếu ở độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi chiếm 97% (9074 bị cáo), từ 14 đến dưới 16 tuổi chiếm 3 % (284 bị cáo). Những loại tội mà các bị cáo là người chưa thành niên thực hiện tập trung nhiều ở các tội như: “Cố ý gây thương tích”, “Trộm cắp tài sản”, “Cướp tài sản”, “Giết người”,” Cướp giật tài sản” chiếm 87% tổng các loại tội như đã phân tích ở phần trên.
c. Về mức hình phạt được áp dụng đối với các bị cáo.
ăm 2019, việc quyết định hình phạt khi xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội của hệ thống Tòa án đã vận dụng thì mức hình phạt từ 15 – 18 năm chỉ có 27 bị cáo chiếm 0,29%, từ 7 – 15 năm có 248 bị cáo chiếm 2,7%, từ 3 đến 7 năm có 993 bị cáo chiếm 10,6%, dưới 03 năm có 4782 bị cáo chiếm 51% và số bị cáo được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ là 2803 bị cáo chiếm 30,5%. Số bị cáo được áp dụng các loại hình phạt khác không phải là hình phạt tù là 505 bị cáo chiếm 3,6%. Nhìn chung hình phạt phổ biến được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trong thời gian qua tập trung ở mức dưới ba năm và án treo. Có thể thấy mức hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu là mang tính giáo dục thể hiện sự nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa, đã được quy định cụ thể trong Chương XII những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội của Bộ luật hình sự.
III. Một số bất cập và hạn chế
3.1.Bất cập, hạn chế từ những quy định của Bộ luật hình sự
Như trên đã phân tích, số lượng các vụ án và người dưới 18 tuổi phạm tội trong ba năm được phát hiện là rất lớn song số vụ án và người dưới 18 tuổi phạm tội được đưa ra xét xử là rất thấp chỉ chiếm 46% (9358 bị cáo/20.367 đối tượng phạm tội). Sở dĩ có tình trạng này thì nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 BLHS. Theo quy định tại Điều 12 BLHS thì tuổi chịu trách nhiệm hình sự của Việt Nam là từ đủ 14 tuổi và người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng quy định tại 28 điều luật. Thực tiễn hiện nay, có rất nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng do người dưới 14 tuổi gây ra nhưng không thể xử lý bằng hình sự được ví dụ: Như vụ án Dương Phương Thuấn ở Trung Chính – Lương Tài – Bắc Ninh sinh tháng 8/1998, đã giết cháu Nguyễn Đình Đào học sinh lớp 6 cùng trường, giấu xác xuống ao để cướp xe đạp. Do khi phạm tội Thuấn chưa đủ 14 tuổi nên Cơ quan Công an đã phải đình chỉ vụ án để đưa Thuấn vào trường giáo dưỡng Bộ Công an.
Hay còn rất nhiều vụ án do người dưới 18 tuổi phạm tội không thể đưa ra xét xử được vì các đối tượng này mới chỉ ở độ tuổi đủ 14 đến dưới 16 tuổi nhưng chỉ phạm các tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, kể cả họ phạm tội rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng, nhưng những tội đó không phải là quy định trong 28 điều luật mà Điều 12 BLHS đã liệt kê thì họ có phạm tội cũng chỉ xử lý hành chính, chứ không thể xử lý bằng hình sự được.
Việc quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng quy định trong 28 điều luật của BLHS là không thống nhất, công bằng về chính sách hình sự, không bảo đảm tính khoa học và lôgíc của quy định (cùng thực hiện một loại tội phạm nhưng đối với tội này thì phải chịu trách nhiệm hình sự, còn tội khác lại không phải chịu trách nhiệm hình sự, trong khi đó, tội phạm khác ấy có thể nghiêm trọng, nguy hiểm hơn) và không phù hợp với thực tế tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật do người chưa thành niên thực hiện trong thời gian qua các tội phạm do người chưa thành niên thực hiện ngoài 28 tội danh được liệt kê như quy định của BLHS còn có thể phạm vào các tội khác nữa. Việc quy định như vậy, sẽ tạo ra kẽ hở cho các đối tượng phạm tội sử dụng người chưa thành niên vào việc thực hiện tội phạm .
Bất cập tiếp theo, cũng xuất phát từ chính quy định của BLHS dẫn đến tình trạng người chưa thành niên phạm tội nhiều nhưng được đưa ra xét xử ít đó là sự không thống nhất giữa các quy định của BLHS trong phần chung và phần các tội phạm cụ thể như:
Tại Điều 145 BLHS có quy định về tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổilà: “Người nào đã đủ 18 tuổi mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm…”
Điều 146 tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi cũng quy định: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm…”
Như vậy, theo cấu thành cơ bản của hai tội này thì chỉ những người từ đủ 18 tuổi trở lên khi có hành vi giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc dâm ô đối với người dưới 16 tuổi mới bị xử lý về hình sự, còn những người dưới 18 tuổi cho dù mức độ phạm tội có là bao nhiêu lần cũng không bị xử lý hình sự. Quy định như vậy theo chúng tôi là bất hợp lý so với thực tiễn hiện nay, mâu thuẫn với quy định tại các Điều 142 và 144 BLHS. Quy định như vậy là không bảo đảm nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam, đôi khi còn bất công trong trường hợp cùng là hành vi giao cấu đối với trẻ em nhưng có trường hợp người bị hại vừa đủ 13 tuổi thì họ không phải chịu tội, nhưng chỉ cần thiếu một ngày mới đủ 13 tuổi (dưới 13 tuổi) thì họ lại phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 142 BLHS (Tội hiếp dâm trẻ em) với khung hình phạt từ 07 đến 15 năm.
Chính những bất cập này đã là nguyên nhân dẫn đến tình trạng người dưới 18 tuổi phạm tội nhiều nhưng số lượng được đưa ra xét xử lại rất ít như đã phân tích ở trên và đó cũng chính là nguyên nhân chưa nâng cao được hiệu quả phòng ngừa người dưới 18 tuổi phạm tội thông qua công tác xét xử của Tòa án.
Một vấn đề nữa mà theo chúng tôi cũng là những bất cập hiện nay làm hạn chế hiệu quả phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội thông qua công tác xét xử các vụ án hình sự của Tòa án, đó chính là những quy định tại Điều 101, 103 và 104 BLHS khi quyết định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cụ thể Điều 101. Tù có thời hạn quy định:
Mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định như sau:
“1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;
2. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định”.
Tại Điều 103. Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội quy định:
“Nếu hình phạt chung là cải tạo không giam giữ thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 03 năm. Nếu hình phạt chung là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không được vượt quá 18 năm đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội và 12 năm đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội…”.
Trong thời gian vừa qua, dư luận rất bất bình với những hành vi giết người không ghê tay của những đối tượng Lê Văn Luyện, Lê Ngọc Chung cả hai đối tượng này đều gây ra hai vụ thảm sát giết nhiều người và phạm một lúc cả hai tội là giết người và cướp tài sản, trong đó hành vi giết người của chúng đều đáng bị xử với mức án cao nhất là đến tử hình song chúng chỉ phải chịu mức án cao nhất là mười tám năm tù vì lý do chúng đều chưa đủ 18 tuổi. Hay vụ Nguyễn Văn Ngọc ở Nam Sơn thành phố Bắc Ninh đã có hành vi giết người cướp xe máy song cũng chỉ xử bị cáo 12 năm tù vì khi phạm tội bị cáo chưa đủ 16 tuổi.
Theo chúng tôi, quy định về việc áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội theo Điều 101 BLHS và tổng hợp hình phạt theo Điều 103 BLHS như Bộ luật hiện hành là không phù hợp gây dư luận bất bình trong nhân dân. Mặc dù, mục đích của hình phạt nói chung không chỉ nhằm trừng trị mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội còn đối với người chưa thành niên phạm tội thì mục đích của chúng ta là chủ yếu nhằm giáo dục giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm chứ không phải là mang tính trừng trị song hiện nay rõ ràng việc người chưa thành niên phạm những tội đặc biệt nghiêm trọng, gây nên những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng không còn là cá biệt mà đang có chiều hướng gia tăng thì mức hình phạt như quy định hiện nay là không phù hợp, nếu như không nói chúng ta đang nhân đạo với một người mà lại không nhân đạo với nhiều người khác đặc biệt là đối với những vụ thảm sát do người chưa thành niên phạm tội gây ra trong thời gian qua. Ví dụ như vụ tên Nguyễn Văn Ngọc khi phạm tội cướp tài sản và giết người bị cáo mới gần 15 tuổi, giả sử bị cáo không được giảm án thì cũng chỉ 27 tuổi bị cáo được trở về gia đình, song nỗi đau của gia đình người bị hại thì chưa biết bao giờ mới nguôi ngoai và cũng không ai có thể biết trước liệu con người này có thực sự hướng thiện hay không?
3.2. Những bất cấp từ mô hình của Tòa án và đội ngũ xét xử các vụ án người chưa thành niên phạm tội hiện nay.
Như chúng ta đã biết, người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm sinh lý, trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống của họ sẽ bị hạn chế hơn so với người thành niên. Họ dễ bị kích động, bị rủ rê, lôi kéo vào những hoạt động của người lớn, nghiên cứu về thái độ tâm lý của người chưa thành niên phạm tội thông qua các phiên tòa xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội, chúng tôi thấy thường thường người chưa thành niên sau khi phạm tội có những biểu hiện trái ngược nhau. Có những đối tượng sau khi phạm tội thì tỏ vẻ rất sợ hãi, rất hối hận đối với hành vi vi phạm pháp luật của mình, song ngược lại thì cũng có những đối tượng sau khi phạm tội thì cố tỏ vẻ “chất anh hùng” của mình, tạo ra vẻ bất cần, không có chút sợ hãi, cố tình cười cợt… Thực chất, đây cũng chỉ là những phản ứng rất bình thường của lứa tuổi đang trong quá trình hình thành nhân cách, đòi hỏi các quy định của pháp luật phải làm sao vừa mang tính răn đe vừa mang tính giáo dục hiệu quả nhất và một trong những biện pháp quan trọng nhất đó là việc thay đổi từ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. BLTTHS hiện hành, mặc dù đã có một chương riêng quy định về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Chương XXVIII), tuy nhiên đó cũng chỉ là những quy định mang tính chung nhất chưa cụ thể và phù hợp với hoạt động tố tụng của các Cơ quan và người tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Như đã phân tích về đặc điểm tâm sinh lý của người chưa thành niên ở trên, thì các quy định của Bộ luật tố tụng cần quy định cụ thể và riêng biệt hơn nữa đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử.
Mặc dù hiện nay, hệ thống Tòa án đã thành lập các Tòa gia đình và người chưa thành niên để xét xử với các phòng xét xử thân thiện. Song chúng ta cũng chưa có đội ngũ những người tiến hành tố tụng cả Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán riêng biệt được trang bị những kiến thức cần thiết để nắm bắt và hiểu biết về tâm lý học cũng như về khoa học giáo dục khi xét xử đối với các bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội. Hiện các Thẩm phán khi xét xử đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, cũng là những Thẩm phán xét xử đối với người thành niên, thậm chí trong cùng một phiên tòa có khi vừa xử vụ án đặc biệt nghiêm trọng đối với người thành niên song lại tiếp tục xét xử đối với người dưới 18 tuổi dẫn đến tình trạng Thẩm phán đó vẫn dùng nguyên thái độ khi xét xử với người thành niên, thậm chí còn quát tháo, khi xét hỏi còn có những lời lẽ không phù hợp với tâm lý của bị cáo là người dưới 18 tuổi, câu hỏi đôi khi không mang tính giáo dục mà còn mang tính truy chụp, buộc tội, không mang tính thân thiện, hòa nhã, đẩy bị cáo là người dưới 18 tuổi vào trạng thái sợ hãi, căng thẳng và có cảm giác bị kỳ thị dẫn đến tình trạng tiêu cực từ phía bị cáo là người dưới 18 tuổi, dẫn đến tình trạng sau phiên tòa, hoặc sau khi được về với gia đình họ có thể sẽ liều lĩnh và nguy hiểm hơn. Đấy cũng chính là nguyên nhân mà hiệu quả phòng ngừa người dưới 18 tuổi phạm tội, thông qua công tác xét xử của Tòa án không đạt được kết quả như mong muốn.
IV. Giải pháp về các quy định của pháp luật
Thứ nhất: Cần hoàn thiện các quy định của BLHS
Như trên đã phân tích, trong các quy định của BLTTHS hiện hành, đang có sự mâu thuẫn giữa các chủ thể của tội phạm, để khắc phục sự mâu thuẫn này chúng tôi thấy cần sửa đổi quy định tại cấu thành cơ bản của các Điều 145 tội “giao cấu với trẻ em” và Điều 1146 tội “Dâm ô đối với trẻ em” theo hướng không quy định trong cấu thành cơ bản của hai điều luật này là “người nào đã đủ 18 tuổi…” mà nên quy định như cấu thành cơ bản của các Điều 141, 142, 143, 144 Bộ luật hình sự. Có như vậy, mới tránh lọt người phạm tội.
Thứ hai: Về vấn đề áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.
Việc quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì theo Công ước quốc tế cũng không bắt buộc về vấn đề này mà việc quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hay độ tuổi chưa thành niên là do quy định của mỗi quốc gia thành viên. Hiện một số nước trên thế giới và khu vực, cũng có những quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự khác nhau như: Vương Quốc Anh là 10 tuổi, Liên bang Nga 13 tuổi, Irac là 7 tuổi…
Theo quan điểm của chúng tôi, không cần thiết phải hạ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hay hạ độ tuổi người chưa thành niên, mà nên sửa đổi BLHS theo hướng tăng mức hình phạt khi xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội, mặc dù hiện cũng có nhiều quan điểm không đồng ý, song với thực trạng người chưa thành niên phạm tội hiện nay, chúng ta cũng cần có sự thay đổi về chính sách hình sự theo hướng nghiêm khắc hơn cho phù hợp với tình trạng gia tăng người chưa thành niên phạm tội hiện nay. Điều đó cũng không trái với nội dung của các Công ước quốc tế.
Để khắc phục tình trạng trên, theo chúng tôi cần nâng mức hình phạt nếu tới tử hình thì độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 phải là 20 năm và độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 phải là 18 năm và khi tổng hợp hình phạt cũng nên tổng hợp theo trường hợp bình thường là đến 30 năm. Việc sửa đổi này, theo chúng tôi cũng không trái với các Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.
Theo pháp luật của Việt Nam, thì trong quá trình cải tạo thì người bị kết án vẫn có cơ hội được giảm án và phóng thích trước thời hạn. Do vậy, việc tăng mức hình phạt là cần thiết và phù hợp với tình hình gia tăng tình trạng người chưa thành niên phạm tội hiện nay và mới đủ sức để răn đe và mới nâng cao được hiệu quả phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên gây ra thông qua công tác xét xử của Tòa án và không trái với các Công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Thứ ba: Cùng với việc thành lập Tòa án gia đình và người chưa thành niên, thì chúng ta cũng cần phải chú trọng đào tạo đội ngũ những người tiến hành tố tụng cả Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán riêng biệt được trang bị những kiến thức cần thiết để nắm bắt và hiểu biết về tâm lý học cũng như về khoa học giáo dục khi xét xử đối với các bị cáo là người chưa thành niên phạm tội. Hiện có quy định phòng xét xử thân thiện tại các Tòa án thì cũng nên cần có những phòng điều tra thân thiện đối với người dưới 18 tuổi, có như vậy mới bảo đảm được quyền của trẻ em.
– Thực hiện nghiêm túc các quy định trong việc xử lý người chưa thành niên phạm tội, ở các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử tại chương XXVIII Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 03/2004/NQHĐTP ngày 02/10/2004 của Tòa án nhân dân tối cao và một số văn bản khác liên quan đến việc bảo đảm quyền cũng như đường lối xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội.

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Phân biệt “hành vi quan hệ tình dục khác” với “hành vi dâm ô”

Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 có quy định khái niệm: “hành vi quan hệ tình dục khác” . Đây là khái niệm không mới nhưng khi Bộ luật Hình sự đã quy định thành hành vi khách quan của tội phạm thì việc hiểu và áp dụng thống nhất là một việc vô cùng quan trọng.
Bộ luật Hình sự 2015 có quy định khái niệm: “hành vi quan hệ tình dục khác” cũng là hành vi hiếp dâm, cưỡng dâm hoặc thực hiện “hành vi quan hệ tình dục khác” đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.
Còn hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi thì điều văn của điều luật chỉ quy định “người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác”, mà không mô tả thế nào là hành vi dâm ô. Cũng chính vì vậy mà trong thời gian qua có một số vụ “sàm sỡ” với các em dưới 16 tuổi, dư luận bức xúc nhưng Cơ quan điều tra thì lại rất lúng túng, vì điều luật quy định không rõ, lại chưa có hướng dẫn của các cơ quan tiến hành tố tụng ở Trung ương.
Đây là khái niệm không mới nhưng khi Bộ luật Hình sự đã quy định thành hành vi khách quan của tội phạm thì việc hiểu và áp dụng thống nhất là một việc vô cùng quan trọng.
Nếu trước đây, đối với các tội xâm phạm nhân phẩm của con người thì hành vi “giao cấu” đã được định nghĩa là:“Giao tiếp bộ phận sinh dục ngoài của giống đực với bộ phân sinh dục của giống cái, ở động vật” và được hướng dẫn Bản tổng kết số 329-HS2 ngày 11/5/1967 của Tòa án nhân dân tối cao về đường lối xét xử tội hiếp dâm và một số tội phạm khác về tình dục và Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT- TANDTC-VKSNDTC- BVN ngày 2/1/1998 của Toà án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an ) hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự.
Tuy nhiên, sau khi Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 chưa có Cơ quan nào hướng dẫn “thế nào là hành vi quan hệ tình dục khác”. Vì vậy, việc nhận thức trong các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng mỗi nơi một khác. Điển hình là vụ Nguyễn Trọng Trình xâm phạm cháu V.N.Q ở Chương Mỹ, Hà Nội, Cơ quan điều tra chỉ khởi tố về tội “dâm ô người dưới 16 tuổi” và cho Nguyễn Trọng Trình được tại ngoại đã gây xôn xao dư luận. Chỉ sau khi dư luận, báo chí lên tiếng, thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội mới rút hồ sơ lên để xem xét và ra lệnh bắt tạm giam đối tượng Nguyễn Trọng Trình.
Việc bổ sung “hành vi quan hệ tình dục khác” vào các tội hiếp dâm, cưỡng dâm, được giải thích là do yêu cầu đấu tranh phòng, chống đối với loại tội phạm này trong tình hình hiện nay. Do đó, việc cần làm rõ khái niệm thế nào là “quan hệ tình dục khác” không chỉ có ý nghĩa về lý luận mà còn ý nghĩa về thực tiễn.
Trước hết cần khẳng định rằng, hành vi “quan hệ tình dục khác” không phải là hành vi giao cấu, vì chỉ coi là giao cấu “là việc giao tiếp bộ phận sinh dục ngoài của giống đực với bộ phận sinh dục của giống cái, ở động vật” , còn tại Bản tổng kết năm 1967 của Tòa án nhân dân tối cao về tình trạng tội phạm hiếp dâm thì “giao cấu là hành động chỉ cần có sự cọ sát trực tiếp dương vật vào bộ phận sinh dục của người phụ nữ (bộ phận từ môi lớn trở vào) với ý thức ấn vào trong không kể sự xâm nhập của dương vật là sâu hay cạn, không kể có xuất tinh hay không là tội Hiếp dâm được coi là hoàn thành, vì khi đó nhân phẩm danh dự của người phụ nữ đã bị chà đạp”.
Tuy nhiên, khi nhà làm luật đưa hành vi “quan hệ tình dục khác” mà trước đây chỉ coi là dâm ôthành hành vi phạm tội hiếp dâm, cưỡng dâm… thì không thể không phân biệt với hành vi dâm ô được quy định tại Điều 146 Bộ luật Hình sự 2015.
Như vậy, nếu không có sự “giao tiếp” (cọ sát) giữa dương vật với bộ phận sinh dục của người phụ nữ như: quan hệ bằng miệng, bằng hậu môn hoặc các bộ phận khác trên cơ thể của nạn nhân thì không phải là giao cấu, mà là hành vi “quan hệ tình dục khác”. Có lẽ cũng chỉ nên giới hạn hành vi “quan hệ tình dục khác” là hành vi quan hệ bằng miệng, bằng hậu môn, còn dùng dương vật “cọ sát” lên các bộ phận khác không nên coi đó là hành vi “quan hệ tình dục khác”, mà chỉ nên coi đó là hành vi dâm ô.
Còn hành vi dâm ô là hành vi dùng mọi thủ đoạn nhằm thỏa mãn dục vọng của mình nhưng không có ý định giao cấu với nạn nhân như: sờ đùi, sờ mông, sờ ngực, sờ bộ phận sinh dục mà không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện hành vi quan hệ tình dục qua đường hậu môn, qua đường miệng.
Việc xác định khái niệm “hành vi quan hệ tình dục khác” như nêu trên để phân biệt với hành vi dâm ô là có thể chấp nhận được, không nên mở rộng hơn nhưng nữa. Do đó, phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể và nhất thiết phải xác định được mục đích là thỏa mãn dục vọng. Chỉ khi nào xác định được ý thức chủ quan của người có hành vi dâm ô thì mới xác định chính xác đó là hành vi quan hệ tình dục khác hay chỉ là hành vi dâm ô.
Còn hành vi dâm ô có thể được xác định đó là những hành vi không phải là hành vi quan hệ tình dục khác nhằm thoả mãn khoái lạc tình dục. Chúng ta có thể liệt kê được một số trường hợp như: dùng tay sờ mó hoặc kích thích bộ phận sinh dục, dùng dương vật cọ sát vào những chỗ khác trong thân thể người phụ nữ ngoài bộ phận sinh dục hoặc chỉ quệt bên ngoài bộ phận sinh dục không có ý định ấn vào trong , có khi chỉ ấn dương vật vào mông, vào ngực thậm chí là vào đùi để cho xuất tinh; bắt nạn nhân sờ mó bộ phận sinh dục của mình cho đến khi xuất tinh. v.v…
Vừa qua, Hội đồng Thẩm phán đã đưa ra một bản dự thảo hướng dẫn các tội “xâm phạm tình dục, trong đó có tội dâm ô, đồng thời tổ chức hội thảo để lấy ý kiến của các ngành, các chuyên gia về dự thảo Nghị quyết này. Có nhiều ý kiến khác nhau về hành vi quan hệ tình dục khác và hành vi dâm ô. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, dự thảo Nghị quyết hướng dẫn hành vi sờ vào đầu cũng coi là vùng nhạy cảm là không phù hợp với cuộc sống. Có lẽ ta cũng nên tham khảo quy định của các nước về hành vi dâm ô, trong đó có Mỹ để khi Hội đồng Thẩm phán ban hành một Nghị quyết vừa đáp ứng yêu cầu của tình hình xâm phạm tình dục đối với người dưới 16 tuổi hiện nay, không vì áp lực của dư luận mà hướng dẫn không sát với cuộc sống.
Một vấn đề đặt ra, đó là chủ thể của hành vi dâm ô có bao gồm phụ nữ không? Từ trước đến nay khi nói đến dâm ô là mọi người chỉ nghĩ đến hành vi của nam đối với nữ, chứ không ai nghĩ nữ đối với nam. Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay nhất là văn hoá phương Tây du nhập vào nước ta, đồng thời trên mạng xã hội có không ít trường hợp phụ nữ mới chính là thủ phạm của hành vi dâm ô đối với các em dưới 16 tuổi. Có nhiều phụ nữ để thoả mãn dục vọng đã dụ dỗ, mua chuộc các em nam dưới 16 tuổi để làm tình với mình nhằm thoả mãn dục vọng nhưng, có trường hợp giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác, nhưng cũng không ít trường hợp không có ý định giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác với các em trai này. Trong khi đó điều văn của điều luật chỉ quy định “người nào đủ 18 tuổi trở lên…” chứ không quy định “người nào có giới tính nam đủ 18 tuổi trở lên…” hay “người đàn ông nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dam ô với người phụ nữ dưới 16 tuổi”. Đây là vấn đề cần đặt ra khi xác định chủ thể của tội dâm ô với người dưới 16 tuổi trong tình hình hiện nay.
Như vậy, khái niệm về hành vi dâm ô được hướng dẫn trong Bản tổng kết số 329-HS2 ngày 11/5/1967 của Tòa án nhân dân tối cao và Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT- TANDTC-VKSNDTC- BVN ngày 2/1/1998 của Toà án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Nội vụ không còn phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự 2015 nữa, nên cần phải hướng dẫn lại. Mặc dù, theo quy định khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội thì Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm hướng dẫn. Tuy nhiên, để việc nhận thức và áp dụng thống nhất trong các cơ quan tiến hành tố tụng thì Toà án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Công an – Bộ Tư pháp nên ban hành một Thông tư liên tịch hướng dẫn “thế nào là hành vi quan hệ tình dục khác” và hành vi dâm ô quy định tại các điều 141, 142, 143, 144, 145, 146 và 147 Bộ luật Hình sự 2015.

ĐINH VĂN QUẾ (Nguyên Chánh tòa Hình sự TANDTC)

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).