Bàn về quy định miễn chấp hành hình phạt theo BLHS 2015

Bài viết bàn về những bất cập của các quy định về miễn chấp hành hình phạt trong Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 và đưa ra một số đề xuất, kiến nghị cụ thể để hoàn thiện chế định này.
 
1. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về miễn chấp hành hình phạt
Miễn chấp hành hình phạt (CHHP) quy định trong BLHSnăm 2015, được áp dụng đối với người bị kết án bằng loại hình phạt đã tuyên được đặt ra có thể đưa đến việc chấm dứt, hủy bỏ toàn bộ, phần còn lại hoặc không buộc phải chấp hành trong giai đoạn thi hành án hình sự. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cho thấy các quy định hiện hành về miễn CHHP đã bộc lộ bất cập về tính hợp lý trong thực tiễn áp dụng, căn cứ khoa học và kỹ thuật lập pháp, theo chúng tôi cần phải tiếp tục hoàn thiện chế định này ở những vấn đề sau:
Một là, phân tích quy định của BLHS hiện hành về các trường hợp miễn CHHP cho thấy tính hợp lý về mặt cấu trúc của quy phạm chưa chặt chẽ, còn phân tán và không có sự đồng nhất bản chất pháp lý giữa sự liên kết của các biện pháp này. Ngoài ra, quy phạm mang tính định nghĩa trong BLHS năm 2015 vẫn chưa được xây dựng, cách sắp xếp chế định này trong Chương IX (Thời hiệu thi hành bản án, miễn CHHP, giảm thời hạn CHHP) với các chế định khác có liên quan đến miễn CHHP nhưng chưa phản ánh hết nội hàm đã liệt kê như: (i) Án treo (Điều 65), (ii) Tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 66), (iii) Hoãn CHHP tù; (iv) Tạm đình chỉ CHHP tù (Điều 68). Do đó, cần xây dựng thành một chế định độc lập, trong đó có khái niệm với những căn cứ và điều kiện về miễn CHHP cụ thể trong BLHS năm 2015.
Hai là, miễn CHHP được nhìn nhận dưới các tiêu chí của pháp luật Việt Nam trong sự so sánh với pháp luật một số nước trong việc thiết lập và cần thiết tính toán đến căn cứ, điều kiện được miễn khỏi sự trừng phạt nhưng phải bảo đảm không ảnh hưởng hoặc tác động đến an ninh, trật tự xã hộihoặc lợi ích của các nạn nhân nhằm tăng cường tính hiệu quả trong việc tha miễn khỏi sự trừng phạt của từng nhóm tội phạm (kể cả trường hợp tiếp nhận người bị kết án về Việt Nam CHHP tù). Ở cách tiếp cận này, tha tù trước thời hạn có điều kiện quy định tại Điều 66, nhà làm luật hạn chế và không áp dụng đối với các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia; tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh hoặc các tội phạm cụ thể khác… Tuy nhiên, căn cứ để miễn CHHP theo Điều 62 về hình phạt tù có thời hạn đến 30 năm thì theo chiều hướng ngược lại, không giới hạn về một trong các tội thuộc nhóm tội này là chưa tương thích với những chế định khác nói trên.
Ba là, việc sửa đổi, bổ sung các thuật ngữ để thống nhất chung giữa khoản 2 và khoản 4 với khoản 3 trong Điều 62  đó là “chấp hành tốt pháp luật”. Lý giải điều này trên cơ sở căn cứ vào loại hình phạt áp dụng ở các điều luật có liên quan tương ứng với miễn CHHP. Người bị kết án với loại hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm (tội ít nghiêm trọng) là đối tượng được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt theo khoản 2 Điều 62 khi có một trong những điều kiện bắt buộc là “chấp hành tốt pháp luật”. Trong khi đó, việc miễn CHHP tù có thời hạn trên 03 năm đến giới hạn tối đa của tù có thời hạn (tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng) là 30 năm tù cho thấy tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tội phạm mà người bị kết án đã thực hiện rất cao. Tuy nhiên, nhà làm luật chỉ yêu cầu có một trong những điều kiện “đã lập công lớn” hoặc “mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa” mà bỏ qua yếu tố quan trọng nhất thể hiện ý thức chủ quan tích cực của người bị kết án “chưa chấp hành” về sự ăn năn, hối cải hay sự phản kháng, chống đối xã hội. Như vậy, quy định ở khoản 3 Điều 62  là chưa phù hợp, tỉ lệ nghịch với sự thiết lập miễn CHHP toàn bộ hình phạt khi dựa vào phân loại tội phạm theo chiều hướng từ thấp đến cao.
Bốn là, việc bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói chung và trong BLHS năm 2015 nói riêng trong đó có đối tượng thuộc nhóm người dễ bị tổn thương: Phụ nữ, người chưa thành niên, người cao tuổi, người khuyết tật trong chế định CHHP hay miễn CHHP vẫn chưa quan tâm đúng mức. Có thể nói Bộ luật Hình sự 2015 đã tập hợp hóa, pháp điển hóa các hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn xét xử khi lần đầu tiên xây dựng các quy phạm không chỉ phản ánh sự gia tăng TNHS là đối tượng tác động của tội phạm hoặc giảm nhẹ chúng khi thực hiện hành vi phạm tội đối với người từ 70 tuổi trở lên mà còn là điều kiện – đối tượng được tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 66 ). Tuy nhiên, đối chiếu với quy định tại Điều 62 thì người bị kết án từ 70 tuổi trở lên không thuộc đối tượng – là một trong những điều kiện để miễn CHHP cho loại hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn đến 03 năm (ít nghiêm trọng) hoặc người bị kết án tù trên 03 năm không phân biệt loại tội bị kết án, mức hình phạt đã tuyên khi chưa chấp hành là chưa phù hợp với một trong những dạng miễn CHHP đã nêu. Do đó, bên cạnh những quy định hiện hành cần mở rộng hơn nữa người bị kết án thuộc nhóm (đối tượng) nói trên nghĩa là, ghi nhận chính thức những điều kiện đã phân tích vào BLHS năm 2015 để xem xét trong trường hợp miễn chấp hành toàn bộ hình phạt tại khoản 2 và khoản 3 Điều 62.
Năm là, quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 62 chưa có sự đồng nhất nếu xét về tính chất, mức độ nguy hiểm theo phân loại tội phạm. Đối với loại hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm nếu có đủ điều kiện quy định thì được “miễn CHHP” mà không phải “miễn toàn bộ hình phạt” như khoản 3 Điều 62 . Do đó, cần thống nhất khoản 2 và khoản 3 Điều 62  với quy định chung là “miễn chấp hành toàn bộ hình phạt”.
Sáu là, quy định khoản 1 Điều 67 BLHS năm 2015 về hoãn CHHP tù và quy định tạm đình chỉ CHHP tù tại Điều 68 Bộ luật Hình sự năm 2015 là trùng khớp nhau về điều kiện áp dụng. Điều kiện hoãn và tạm đình chỉ CHHP tù được đặt chung một điều luật để dẫn chiếu tương tự là không chặt chẽ về mặt quy phạm. Khi căn cứ và điều kiện giống nhau được sử dụng cho hai trường hợp khác biệt “chưa chấp hành” (do hoãn CHHP tù) và “đang chấp hành” (được tạm đình chỉ CHHP tù) đã cho kết quả không tương thích về tình trạng pháp lý chỉ mức độ miễn chấp hành của người bị kết án. Hay nói cách khác, căn cứ và điều kiện chưa chấp hành” và “đang chấp hành” hình phạt do người bị kết án tạo ra như nhau đã không mang lại kết quả giống nhau khi xem xét tổng thể về miễn, hoãn, tạm đình chỉ CHHP tù.
Bảy là, phân tích quy định của BLHS năm 2015 về các trường hợp miễn CHHP cho thấy sự đa dạng và tính chất không đồng nhất của các biện pháp này, bao gồm: (i) Các biện pháp của pháp luật hình sự không liên quan đến TNHS, không phải là một phương tiện để thực hiện (các biện pháp y tế bắt buộc áp dụng đối với người mắc bệnh tâm thần); (ii) Các biện pháp của pháp luật hình sự (hiệu ứng) gắn liền với TNHS, đó là những phương tiện thực hiện của nó (về CHHP, trách nhiệm bồi thường thiệt hạido tội phạm gây ra, khấu trừ thu nhập, bắt buộc chữa bệnh). BLHS năm 2015 không quy định thực hiện khấu trừ một phần thu nhập (tư pháp dân sự); bắt buộc chữa bệnh; án phí, kể cả phạt tiền là hình phạt bổ sung (trong một số trường hợp) phải thực hiện khi được miễn CHHP.
Tám là, hệ thống hình phạt quy định trong BLHS 2015 bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Miễn CHHP tiền còn lại không chỉ được áp dụng cho hình phạt chính mà còn được áp dụng cho hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, tại khoản 5 Điều 62 chỉ quy định việc miễn CHHP tiền còn lại, không phân định loại hình phạt nào là chưa được chặt chẽ.
Chín là, miễn CHHP do thay đổi hoặc chuyển biến tình hình khi Nhà nước hoạch định chính sáchhình sự bằng việc phi tội phạm hóa, xóa bỏ một tội phạm hoặc điều luật có quy định giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý. Đây là một trường hợp của miễn CHHP nếu người bị kết án chưa CHHP, đang được hoãn CHHP thì Tòa án ra quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt; hoặc đang tạm đình chỉ CHHP thì được miễn CHHP còn lại và như vậy, đồng nghĩa với việc xóa toàn bộ cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung (cấm cư trú, quản chế,..). Tương tự, đối với người bị kết án cố tình trốn tránh việc CHHP, trong thời gian đó đã “lập công lớn” hoặc “mắc bệnh hiểm nghèo” nhưng BLHS năm 2015 không quy định, về vấn đề này, cần thiết đề xuất để sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới.
2. Một số đề xuất, kiến nghị 
– Đối với quy định tại Điều 62 Miễn chấp hành hình phạt (giữ nguyên tên gọi của Điều luật, sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1, 2, 3, 5 và 6 Điều 62 BLHS năm 2015 như sau:
1. Miễn chấp hành hình phạt là việc hủy bỏ loại hình phạt tương ứng khi có những căn cứ, điều kiện do pháp luật hình sự quy định và không buộc người bị kết án phải chấp hành toàn bộ hoặc phần hình phạt còn lại đã được quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật.
2. Người bị kết án có thể được miễn chấp hành hình phạt nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Khi có quyết định đặc xá hoặc đại xá;
b) Chưa chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, hoặc được hoãn chấp hành hình phạt tù;
c) Đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù;
d) Đang chấp hành hình phạt tiền là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung;
đ) Đang chấp hành hình phạt hình phạt bổ sung cấm cư trú hoặc quản chế;
e) Khi BLHS xóa bỏ không quy định một tội phạm đối với người bị kết án;
g) Do tình trạng bệnh tật.
3. Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 62.2, khoản 1 Điều 62.3, Điều 62.4, 62.5, 62.7 và 62.9 của Bộ luật này vẫn thực hiện trách nhiệm dân sự do hành vi phạm tội gây ra, hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, các biện pháp tư pháp khác và án phí được tuyên trong bản án.
– Bổ sung thêm một số điều luật sau:
+ Điều 62.1. Không áp dụng miễn chấp hành hình phạt (quy định mới)
Không áp dụng miễn CHHP quy định tại Điều 62.4 của Bộ luật này đối với các tội phạm sau đây:
1. Các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII của Bộ luật này;
2. Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương XXVI của Bộ luật này.
+ Điều 62.2. Miễn chấp hành hình phạt khi được đặc xá hoặc đại xá (quy định mới về tên gọi của Điều luật, trên cơ sở sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 62 của BLHS năm 2015).
1. Đặc xá là quyết định của Chủ tịch nước tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân quy định như khoản 3, Điều 3 Luật Đặc xá năm 2007.
2. Đại xá là quyết định của Quốc hội cho người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt.
+ Điều 62.3. Miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ (quy định mới về tên gọi của điều luật, trên cơ sở sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 62 của BLHS năm 2015, đồng thời quy định mới khoản 1 và khoản 2).
1. Người bị kết án cải tạo không giam giữ, chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Sau khi bị kết án đã lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo;
b) Chấp hành tốt pháp luật và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
2. Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt quy định tại khoản 1 Điều này vẫn thực hiện việc khấu trừ thu nhập.
+ Điều 62.4. Miễn chấp hành hình phạt tù có thời hạn (quy định mới về tên gọi của Điều luật, trên cơ sở sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 62 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời quy định mới khoản 3).
1. Người bị kết án tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Sau khi bị kết án đã lập công hoặc có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn;
b) Mắc bệnh hiểm nghèo hoặc người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;
c) Chấp hành tốt pháp luật và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
2. Quy định tại  khoản 1 Điều này được áp dụng đối với người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Sau khi bị kết án đã lập công lớn; hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
b) Quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều này.
3. Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được áp dụng để miễn chấp hành toàn bộ hình phạt đối với người bị kết án được hoãn chưa chấp hành hình phạt tù.
+ Điều 62.5. Miễn chấp hành hình phạt tù khi được tạm đình chỉ (giữ nguyên như khoản 4 Điều 62 BLHS năm 2015).
+ Điều 62.6. Miễn chấp hành hình phạt tiền còn lại (quy định mới về tên gọi của điều luật và nội dung tương ứng như quy định tại khoản 5 Điều 62 của BLHS năm 2015, đồng thời sửa đổi, bổ sung điểm a, b, khoản 1, quy định mới khoản 2).
1. Người bị kết án phạt tiền đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt, theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Lập công lớn hoặc do tai nạn hoặc ốm đau không tự mình gây ra;
b) Có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn;
2. Quy định tại khoản 1 Điều này được áp dụng đối với người bị kết án phạt tiền là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung.
+ Điều 62.7. Miễn chấp hành hình phạt hình phạt bổ sung (quy định mới về tên gọi của điều luật và nội dung tương ứng như quy định tại khoản 6 Điều 62 của BLHS năm 2015, đồng thời sửa đổi, bổ sung cụm từ chấp hành tốt pháp luật).
Người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung cấm cư trú hoặc quản chế, nếu chấp hành tốt pháp luật và được một phần hai mức hình phạt, theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện nơi người đó chấp hành hình phạt, Tòa án có thể được Tòa án quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
+ Điều 62.8. Miễn chấp hành hình phạt do bệnh tật (quy định mới)
Người bị kết án bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đã được điều trị bắt buộc tại cơ sở y tế chuyên khoa nhưng không khỏi bệnh, thì được miễn chấp hành hình phạt tù có thời hạn.
+ Điều 62.9. Miễn chấp hành hình phạt khi Bộ luật Hình sự không quy định là tội phạm (quy định mới)
1. Khi BLHS xóa bỏ không quy định một tội phạm, người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; nếu chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này được áp dụng đối với người bị kết án trong trường hợp cố tình trốn tránh chấp hành hình phạt.
– Đối với Điều 66. Tha tù trước thời hạn có điều kiện (giữ nguyên tên gọi của điều luật và nội dung tương ứng tại 05 khoản từ khoản 1đến khoản 5, Điều 66 như quy định của BLHS năm 2015, đồng thời sửa đổi, bổ sung điểm đ, khoản 1 như sau:
1. Người đang chấp hành án phạt tù có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:
…
d) Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, trách nhiệm dân sự và án phí;
– Đối với quy định tại Điều 67. Hoãn chấp hành hình phạt tù (giữ nguyên tên gọi của điều luật và nội dung tương ứng tại khoản 1 Điều 67 như quy định của BLHS năm 2015, đồng thời sửa đổi, bổ sung điểm c, d khoản 1 và khoản 2; quy định mới khoản 3 như sau:
1. Người bị kết phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây: …
c) Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến 01 năm.
d) Bị kết án phạt tù đến 03 năm, do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến 01 năm.
2. Trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, nếu có căn cứ quy định tại Điều 62.3 và 62.4 của Bộ luật này thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt; nếu thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
3. Không áp dụng hoãn chấp hành hình phạt tù quy định tại khoản 1 Điều này đối với người bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII, các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương XXVI của Bộ luật này.

NGUYỄN VĂN THỦY (TAND huyện Long Khánh, Đồng Nai)

Nguồn: tcdcpl.moj.gov.vn

Mua bán bào thai xử lý thế nào?

Thời gian gần đây, tình trạng các đối tượng tổ chức cho phụ nữ mang thai ra nước ngoài để bán bào thai hoặc con mới đẻ đang có xu hướng gia tăng, diễn biến phức tạp. Đến nay, các cơ quan chức năng vẫn lúng túng trong việc xử lý, phần nhiều là do còn “khoảng trống” trong quy định của pháp luật.
Nhiều trường hợp, các đối tượng không chỉ bán bào thai, bán con mới đẻ mà sau đó còn xâm hại chính người mẹ, để lại nhiều hậu quả thương tâm, gây tâm lý hoang mang, bức xúc trong quần chúng nhân dân, tạo dư luận xấu trong xã hội.
Đối với hành vi tổ chức cho phụ nữ mang thai ra nước ngoài để bán bào thai hoặc con mới đẻ, theo pháp luật hình sự hiện hành, có một số điều luật liên quan trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (BLHS) để xử lý như sau:

Điều 151. Tội mua bán người dưới 16 tuổi 
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:
a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;
b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.

Điều 154. Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người 
1. Người nào mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người khác, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

Tuy nhiên, với tội danh nào, hiện nay vẫn đang có vướng mắc, khó khăn trong đường lối xử lý.
Có quan điểm cho rằng, Điều 23 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 quy định: “Trẻ em sinh ra sống được từ 24 giờ trở lên rồi mới chết cũng phải đăng ký khai sinh và đăng ký khai tử. Nếu cha, mẹ không đi khai sinh và khai tử, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch tự xác định nội dung để ghi vào Sổ đăng ký khai sinh và Sổ đăng ký khai tử. Trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh và Sổ đăng ký khai tử phải ghi rõ “trẻ chết sơ sinh”. Theo quy định này, có thể hiểu các cá nhân sinh ra và sống được từ 24 giờ trở lên được xác định là “trẻ em”. Vậy, thai nhi và trẻ sinh ra dưới 24 giờ, chưa được coi là “trẻ em” – chưa phải là người dưới 16 tuổi, nên không thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 151 BLHS. Thai nhi cũng không phải là một bộ phận cơ thể của người mẹ nên cũng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 154 BLHS.
Theo quan điểm khác, để khắc phục hạn chế về cách hiểu thế nào là “trẻ em” của luật cũ, Điều 151 BLHS đã thay đổi khái niệm nội hàm từ Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (BLHS năm 1999) thành Tội mua bán người dưới 16 tuổi. Do đó, chỉ cần đứa trẻ được sinh ra, còn sống đã được coi là “người dưới 16 tuổi”. Bên cạnh đó, mặc dù hành vi dụ dỗ, thỏa thuận của đối tượng tổ chức được bắt đầu và diễn ra khi người mẹ còn mang thai nhưng thời điểm đối tượng này nhận con và giao hết số tiền (thường là sau khi sinh), thì tội phạm mới hoàn thành. Nếu vụ việc bị phát hiện, xử lý tại thời điểm này (sau khi đứa trẻ được sinh ra) thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có đủ cơ sở để xử lý về Tội mua bán người dưới 16 tuổi. Tuy nhiên, trên thực tiễn, làm được việc này là điều vô cùng khó khăn. Bởi lẽ, các đối tượng thường đưa người mẹ đang mang thai ra nước ngoài, giấu ở những nơi bí mật, thậm chí đã sắp xếp người cảnh giới, canh gác, ngay sau khi sinh xong, đứa trẻ được nhanh chóng, lén lút đưa đến địa điểm khác. Do đó, cho dù các lực lượng chức năng đã thực hiện hợp tác quốc tế tốt vẫn rất khó có thể theo dõi, phát hiện, bắt quả tang vào thời điểm người mẹ sinh xong đứa trẻ để có cơ sở xử lý. Nhưng nếu vụ việc bị bắt quả tang trước thời điểm đứa trẻ được sinh ra thì câu trả lời vẫn còn bỏ ngỏ do khoảng trống mà pháp luật chưa quy định. Như vậy, sẽ xảy ra tình trạng bất hợp lý vì cùng một hành vi nguy hiểm, chỉ do thời điểm phát hiện, bắt quả tang khác nhau (trước và sau khi sinh ra đứa trẻ) sẽ dẫn đến kết quả hoàn toàn trái ngược: là tội phạm hoặc không vi phạm quy định nào.
Ngoài ra, đối với Tội mua bán người dưới 16 tuổi, khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 02 ngày 11/01/2019 hướng dẫn: “Người biết người khác thực sự có nhu cầu nuôi con nuôi (do hiếm muộn hoặc có lòng yêu trẻ) đã môi giới cho người này xin con nuôi của người vì hoàn cảnh khó khăn, không có điều kiện nuôi con, muốn cho con đẻ của mình đi làm con nuôi và có nhận một khoản tiền từ việc cho con và việc môi giới. Đây là trường hợp vì mục đích nhân đạo nên người môi giới, người cho con mình đi làm con nuôi và người nhận con nuôi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội mua bán người dưới 16 tuổi”. Đây là chính sách hình sự hết sức nhân đạo, tuy nhiên, cũng rất dễ bị các đối tượng tổ chức bán bào thai, bán con mới đẻ lợi dụng, cố ý tạo ra “mục đích nhân đạo” nhằm trá hình cho hành vi vi phạm của mình, gây khó khăn cho các cơ quan chức năng. Với các đối tượng có thủ đoạn tinh vi, theo dàn dựng từ trước, trong trường hợp, khi bị phát hiện xử lý, bên mua khẳng định cho hành động của mình là “vì lòng yêu trẻ”, người mẹ cho rằng do hoàn cảnh khó khăn, điều kiện nuôi con không tốt bằng người muốn nhận nuôi nên cho con đi thì không đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự với các đối tượng liên quan (nếu không thể chứng minh được các điều kiện khác như “để lấy bộ phận cơ thể”, “mục đích vô nhân đạo khác”…). Theo đó, hiện tượng tổ chức mua bán bào thai, con mới đẻ càng trở nên khó kiểm soát.
Từ khó khăn, vướng mắc như nêu trên, thiết nghĩ, cần nhanh chóng bổ sung các quy định xử lý tội phạm mua bán bào thai để có cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi nguy hiểm này. Để nâng cao hiệu quả xử lý loại tội phạm này, hóa giải được các thủ đoạn tinh vi do đối tượng sử dụng, các cơ quan tiến hành tố tụng cần chú trọng việc thu thập, củng cố thêm nhiều chứng cứ khác ngoài lời khai, chuyển hóa thành chứng cứ hợp pháp đối với các thông tin, tài liệu trinh sát về quá trình vi phạm, mối liên hệ của các thành viên trong đường dây (nếu có).
Về công tác phòng ngừa, các cơ quan chức năng cũng cần có sự phối hợp, đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật, để cảnh báo hiện tượng này đến quần chúng nhân dân, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, nơi có trình độ dân trí thấp, điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, việc tăng cường hơn công tác theo dõi dân số, hỗ trợ kế hoạch hóa gia đình, bổ túc văn hóa, định hướng, hỗ trợ phát triển kinh tế phù hợp với mỗi vùng, miền để nâng cao nhận thức, cải thiện, ổn định lâu dài đời sống người dân, sẽ là biện pháp hiệu quả, bền vững để đẩy lùi tình trạng bị dụ dỗ bán con.

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát

Kinh nghiệm của Kiểm sát viên qua giải quyết vụ án hiếp dâm trẻ em

Trong thời gian gần đây, tội phạm xâm hại tình dụcđối với trẻ em diễn biến phức tạp, việc phát hiện, xử lý loại tội phạm này gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập chứng cứ. Từ công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiểm sát điều tra vụ án hiếp dâm trẻ em xảy ra tại huyện Lục Nam, Kiểm sát viên chia sẻ kinh nghiệm với các đồng nghiệp.
Nội dung vụ án: Khoảng 11 giờ 08/3/2018, Đỗ Văn M, sinh năm 1988 trú tại thôn T, xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang lợi dụng gia đình cháu Nguyễn Thị H, sinh năm 2004 ở thôn N, xã T, huyện Lục Nam đi vắng, chỉ có mình cháu H ở nhà, M đã dụ dỗ, đưa cháu H đến đồi cây bạch đàn ở gần đó rồi dùng dao đe dọa, khống chế cháu H mục đích để hiếp dâm. Do sợ hãi và không thể tự vệ được nên cháu H phải để cho M giao cấu. Sau khi bị xâm hại, cháu H đã kể với bố, mẹ nên gia đình cháu H làm đơn trình báo.
Sau khi tiếp nhận, thụ lý giải quyết tố giác của gia đình người bị hại, Cơ quan điều tra phối hợp cùng Viện kiểm sát kịp thời tiến hành lấy lời khai người bị hại, khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ việc nhưng chứng cứ thu thập được rất ít, không thu giữ được bất cứ dấu vết, vật chứng gì tại hiện trường để truy nguyên đối tượng. Mặt khác, khi thực hiện tội phạm thì đối tượng gây án đội mũ, đeo khẩu trang nên người bị hại không nhận dạng được.
Xác định phải nhanh chóng làm rõ, tạo niềm tin cho nhân dân, Kiểm sát viên đã chủ động bàn với Điều tra viên tiến hành thu giữ ngay mẫu chất dịch trong bộ phận sinh dục của người bị hại để giám định. Vì đây là chứng cứ vật chất quan trọng nhất trong các vụ án xâm hại tình dục; đề nghị Điều tra viên tập trung rà soát các đối tượng trên địa bàn có cùng đặc điểm như chiều cao, giọng nói, độ tuổi và đặc biệt là các đối tượng có biểu hiện phạm tội về tình dục.
Ngày 04/4/2018, Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc trên. Quá trình điều tra tưởng như rơi vào bế tắc khi 3 tháng trôi qua vẫn không có thêm manh mối nào có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án. Kiểm sát viên đã phối hợp với Điều tra viên lấy lời khai thật tỉ mỉ cháu H để gợi nhớ những chi tiết mà có thể do tâm lý e ngại và hoảng loạn nên chưa khai hết. Bằng lời khai của bị hại và thông tin thu thập được, Cơ quan điều tra xác định nhiều khả năng đối tượng là người quen và thường xuyên ra vào nhà bị hại (do đối tượng biết được mẹ của bị hại đi làm công ty và bị hại có 1 người anh trai). Cơ quan điều tra thấy nổi lên đối tượng Đỗ Văn M có nhiều biểu hiện nghi vấn như hay cờ bạc và khi thua bạc thì thích giải đen, sau khi xảy ra vụ án M thường xuyên vắng mặt tại địa phương, đặc biệt M có thửa ruộng ở gần nhà cháu H, thường xuyên vào nhà cháu H hút thuốc lào. Cơ quan điều tra đã triệu tập lấy lời khai, nhưng M không thừa nhận.
Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên thu mẫu tóc và niêm mạc của Đỗ Văn M để giám định AND và kết quả là trùng với mẫu AND thu được trong bộ phận sinh dục của cháu H. Lúc này, M vẫn ngoan cố không thừa nhận hành vi phạm tội. Kiểm sát viên cùng Điều tra viên nghiên cứu kỹ hồ sơ, rà soát, đánh giá chứng cứ và thống nhất quan điểm là có căn cứ để khởi tố bị can đối với M về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
Trên cơ sở báo cáo, đề xuất của Điều tra viên và Kiểm sát viên, lãnh đạo Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã thống nhất khởi tố bị can, ra lệnh bắt tạm giam đối với M để điều tra và được Viện kiểm sát phê chuẩn.
Sau khi bị khởi tố và trước các chứng cứ không thể chối cãi, cuối cùng Đỗ Văn M đã thừa nhận hành vi phạm tội. Ngày 04/01/2019, Đỗ Văn Mạnh bị Tòa án xử phạt 8 năm tù về tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi.
Từ thực tiễn giải quyết vụ án trên, Kiểm sát viên rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
– Kiểm sát viên phải bám sát quá trình xác minh, thu thập tài liệu, vật chứng, lấy lời khai của các đối tượng ngay từ đầu; đề ra yêu cầu xác minh, yêu cầu điều tra kịp thời và đảm bảo chất lượng.
– Kịp thời yêu cầu cơ quan điều tra thu giữ dấu vết vật chất đặc biệt là lông, tóc, sợi, dịch, máu, quần áo, công cụ trong các vụ án xâm hại tình dục vì đây là những chứng cứ quan trọng để truy nguyên đối tượng.
– Công tác khám nghiệm hiện trường phải kịp thời, tỉ mỉ, toàn diện để đánh giá lời khai của bị hại có căn cứ hay không, sau đó là căn cứ để đấu tranh với bị can; thu giữ mẫu vật liên quan vụ án để giám định.
– Lãnh đạo phải luôn quan tâm sát sao đối với vụ việc, kịp thời chỉ đạo Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và suốt quá trình điều tra vụ án.
– Quá trình hỏi cung, lời khai đối tượng khi chứng cứ chưa rõ phải rất tỷ mỷ, làm rõ những bất minh trong lời khai của đối tượng.
– Kiểm sát viên phải thực sự trách nhiệm, luôn bám sát các hoạt động điều tra, phối hợp chặt chẽ với Điều tra thực hiện các biện pháp điều tra, thu thập chứng cứ đảm bảo theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự./.

Nguyễn Tuấn Hải

VKSND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát

Các tình tiết cụ thể định khung cho tội mua bán người dưới 16 tuổi

Mua bán người dưới 16 tuổi hay mua bán trẻ em được thể hiện qua hành vi mua đứa trẻ của người khác nhằm để bán thu lợi hoặc bán đứa trẻ sau khi mua hoặc sau khi bắt trộm để thu lợi. Việc mua, bán trẻ em có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên dù dưới bất kỳ hình thức nào thì người có một trong các hành vi nêu trên vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi thực hiện đó.

Trẻ em là người bị hại trong trường hợp này, đồng thời cũng là người chưa đủ 16 tuổi. Tội phạm hoàn thành kể từ khi người phạm tội có hành vi nhằm vào việc mua, bán trẻ em. Nếu hậu quả việc mua bán trẻ em chưa xảy ra thì được cọi là phạm tội chưa đạt.
Mức hình phạt của các tội này được chia thành hai khung, cụ thể:

  • Khung một có mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm;
  • Khung hai có mức phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân;

Hình phạt bổ sung phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
Nghị quyết 02/2019/NQ-HĐTP có hiệu lực thi hành từ ngày 15/3/2019 sắp tới sẽ cụ thể hóa việc áp dụng khung hình phạt bằng các tình tiết như sau:

  • Có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ và phân công, sắp đặt vai trò của những người cùng thực hiện tội phạm;
  • Vì động cơ đê hèn là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội để trả thù; phạm tội để trốn tránh trách nhiệm của bản thân; phạm tội đối với người mà mình mang ơn hoặc những hành vi phạm tội khác thể hiện sự bội bạc, phản trắc;
  • Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trường hợp người phạm tội đã hoặc đang đưa nạn nhân ra khỏi biên giới quốc gia trên đất liền, trên biển, trên không và trong lòng đất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cũng được coi là đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nếu đã thực hiện thủ tục xuất cảnh đối với nạn nhân;
  • Phạm tội 02 lần trở lên là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội mua bán người hoặc mua bán người dưới 16 tuổi từ 02 lần trở lên nhưng đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
  • Có tính chất chuyên nghiệp là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi mua bán người hoặc mua bán người dưới 16 tuổi từ 05 lần trở lên (không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích) và người phạm tội lấy khoản lợi bất chính thu được từ việc mua bán người hoặc mua bán người dưới 16 tuổi làm nguồn sống chính;
  • Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân là trường hợp người phạm tội mua bán người hoặc mua bán người dưới 16 tuổi, sau đó đã lấy đi bộ phận cơ thể của nạn nhân.
Hệ thống toàn bộ văn bản pháp luật trong lĩnh vực dân sự năm 2019

Hệ thống toàn bộ văn bản pháp luật (luật, văn bản hợp nhất, nghị định, thông tư, thông tư liên tịch, quyết định) trong lĩnh vực dân sự năm 2019.
 
>>> Tải về máy: Hệ thống toàn bộ văn bản trong lĩnh vực dân sự
 

Loại văn bản Tên, ký hiệu văn bản Tình trạng hiệu lực
Luật
 
  1. Bộ luật Dân sự 2015
Còn hiệu lực
  1. Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
  1. Luật thi hành án dân sự 2008
  1. Luật Thi hành án dân sự sửa đổi 2014
  1. Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013
Văn bản hợp nhất
  1. Văn bản hợp nhất 13/VBHN-VPQH 2018 Luật Thi hành án dân sự 2008
Còn hiệu lực
  1. Văn bản hợp nhất 2782/VBHN-BTP 2014 hợp nhất đăng ký cung cấp thông tin giao dịch bảo đảm
  1. Văn bản hợp nhất 8020/VBHN-BTP 2013 hợp nhất Nghị định đăng ký giao dịch bảo đảm
  1. Văn bản hợp nhất 8019/VBHN-BTP hợp nhất Nghị định giao dịch bảo đảm
Nghị quyết
  1. Nghị quyết 03/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng quy định giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại TAND
Còn hiệu lực
  1. Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự
  1. Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP hướng dẫn quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án trả lại đơn khởi kiện
  1. Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP hướng dẫn Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính về gửi nhận đơn khởi kiện
  1. Nghị quyết 103/2015/QH13 về thi hành Bộ luật tố tụng dân sự 2015
  1. Nghị quyết 1037/2006/NQ-UBTVQH11 về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/7/1991 có người Việt Nam định cư nước ngoài tham gia
  1. Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
  1. Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình
  1. Nghị quyết 04/2003/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng quy định của pháp luật trong việc giải quyết các vụ án kinh tế
  1. Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình
  1. Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTV về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước 1/7/1991
  1. Nghị quyết 784/NQ-HĐNN7 về việc phê chuẩn Hiệp định tương trợ tư pháp dân sự gia đình hình sự Việt Nam Bun-ga-ri
  1. Nghị quyết 615NQ/HĐNN7 về việc phê chuẩn Hiệp định tương trợ tư pháp vấn đề dân sự gia đình lao động Việt nam Cu ba
  1. Nghị quyết 616-NQ/HĐNN7 về việc phê chuẩn Hiệp định tương trợ tư pháp dân sự gia đình lao động Việt nam Hung-ga-ri
Nghị định
  1. Nghị định 102/2017/NÐ-CP về đăng ký biện pháp bảo đảm
Còn hiệu lực
  1. Nghị định 62/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thi hành án dân sự
  1. Nghị định 11/2012/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 163/2006/NĐ-CP giao dịch bảo đảm
  1. Nghị định 05/2012/NĐ-CP sửa đổi Nghị định đăng ký giao dịch bảo đảm trợ giúp pháp lý, luật sư, tư vấn pháp luật
  1. Nghị định 88/2008/NĐ-CP quy định về xác định lại giới tính
  1. Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm
  1. Nghị định 144/2006/NĐ-CP về họ, hụi, biêu, phường
  1. Nghị định 138/2006/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
Thông tư
  1. Thông tư 08/2018/TT-BTP hướng dẫn về đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm, hợp đồng và trao đổi thông tin về đăng ký biện pháp bảo đảm
      Còn hiệu lực
  1. Thông tư 113/2017/TT-BTC sửa đổi 202/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng phí trong lĩnh vực đăng ký giao dịch bảo đảm
  1. Thông tư 12/2017/TT-NHNN sửa đổi 01/2014/TT-NHNN quy định về nhận tiền, bảo quản, vận chuyển tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá
  1. Thông tư 03/2017/TT-BTP quy định chức danh mã số ngạch tiêu chuẩn nghiệp vụ ngạch công chức Thi hành án dân sự
  1. Thông tư 202/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí trong lĩnh vực giao dịch bảo đảm
  1. Thông tư 04/2016/TT-NHNN quy định việc lưu ký và sử dụng giấy tờ có giá tại Ngân hàng Nhà nước Việt  Nam
  1. Thông tư 61/2015/TT-BCA quy định về mẫu Thẻ căn cước công dân
  1. Thông tư 69/2015/BTC về Khuôn khổ Việt Nam về hợp đồng dịch vụ đảm bảo
  1. Thông tư 14/2015/BGTVT quy định việc bồi thường ứng trước không hoàn lại trong vận chuyển hành khách bằng đường hàng không
  1. Thông tư 29/2010/TT-BYT hướng dẫn Nghị định 88/2008/NĐ-CP về xác định lại giới tính
  1. Thông tư 02/1999/TT-BXD hướng dẫn quản lý nhà ở vắng chủ giữa cá nhân với cá nhân quy định tại Nghị quyết về giao dịch dân sự nhà ở được xác lập trước ngày 01/7/1991
  1. Thông tư 71-TC/KBNN bổ sung việc thi hành Quyết định 17/TTg-1992 về việc trả lại vàng bạc tư trang tạm giữ cho một số đối tượng đã xử lý
Thông tư liên tịch
  1. Thông tư liên tịch 02/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC quy định việc phối hợp giữa VKSND và TAND trong thi hành Bộ luật tố tụng dân sự
Còn hiệu lực
  1. Thông tư liên tịch 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT hướng dẫn đăng ký thế chấp QSDĐ tài sản gắn liền với đất
  1. Thông tư liên tịch 05/2016/TTLT-BTP-BCA-BTC-TANDTC-VKSNDTC quy định hoạt động Ban chỉ đạo thi hành án dân sự
  1. Thông tư 16/2014/BTP-BTNMT-NHNN hướng dẫn về xử lý tài sản bảo đảm
  1. Thông tư 03/2014/BTP-NHNNVN hướng dẫn việc xác minh điều kiện thi hành án Thừa phát lại tổ chức tín dụng
  1. Thông tư 02/2014/BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN hướng dẫn việc cung cấp thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải thi hành án và thực hiện phong tỏa, khấu trừ tài khoản thi hành án dân sự
  1. Thông tư 15/2013/BTP-BGTVT-BTNMT-BCA hướng dẫn việc trao đổi cung cấp thông tin về tài sản bảo đảm giữa cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm với tổ chức hành nghề công chứng, cơ quant hi hành án dân sự và cơ quan đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền lưu hành tài sản
  1. Thông tư 02/2012/BTP-BGTVT hướng dẫn việc đăng ký cung cấp thông tin cầm cố tàu bay thế chấp tàu bay tàu biển
  1. Thông tư 08/2007/BLĐTBXH-BTP hướng dẫn nội dung Hợp đồng bảo lãnh và việc thanh lý Hợp đồng bảo lãnh cho người người lao động đi làm việc ở nước ngoài
  1. Thông tư 04/2003/BVHTT-BXD hướng dẫn quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc
  1. Thông tư 01/1999/TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn áp dụng Nghị quyết về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991
Quyết định
  1. Quyết định 2057/QĐ-BTP năm 2018 thực hiện Nghị quyết 31-NQ/BCSĐ thi hành án dân sự hành chính
Còn hiệu lực
  1. Quyết định 1051/QĐ-BTP năm 2018 tổ chức Lớp Bồi dưỡng chuyên sâu về pháp luật dân sự
  1. Quyết định 40/QĐ-TANDTC năm 2018 tăng cường đối thoại trong giải quyết các tranh chấp dân sự
  1. Quyết định 245/QĐ-BTP năm 2018 quy định công tác của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm
  1. Quyết định 49/QĐ-TTg năm 2018 về phê duyệt Kế hoạch gia nhập Công ước La Hay về hành vi bắt cóc trẻ em quốc tế
  1. Quyết định 364/QĐ-VKSTC năm 2017 Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự
  1. Quyết định 836/QĐ-BTP năm 2017 Danh mục văn bản lĩnh vực thi hành án hết hiệu lực toàn bộ
  1. Quyết định 536/QĐ-TCTHADS năm 2017 triển khai hỗ trợ trực tuyến thi hành án dân sự
  1. Quyết định 537/QĐ-TCTHADS năm 2017 triển khai quy chế một cửa tại các cơ quan thi hành án dân sự
  1. Quyết định 273/QĐ-TCTHADS năm 2017 Tổ chức thi hành án trong nội bộ thi hành án dân sự
  1. Quyết định 362/QĐ-BTP năm 2016 Kế hoạch triển khai thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự
  1. Quyết định 276/QĐ-BTP năm 2016 Kế hoạch triển khai thi hành Bộ luật dân sự
  1. Quyết định 243/QĐ-TTg năm 2016 Kế hoạch triển khai thi hành Bộ luật dân sự
  1. Quyết định 2206/QĐ-BTP 2015 công bố thủ tục hành chính mới được sửa đổi bổ sung thay thế trong đăng ký giao dịch bảo đảm
  1. Quyết định 734/QĐ-TCTHADS về Bảng thời hạn bảo quản hồ sơ, tài liệu thi hành án dân sự
  1. Quyết định 1676/QĐ-BTP Kế hoạch triển khai thi hành Nghị định 62/2015/NĐ-CP
  1. Quyết định 35/2015/QĐ-TTg sửa đổi Quyết định 02/2012/QĐ-TTg Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung
  1. Quyết định 613/QĐ-TCTHADS về quy trình nghiệp vụ lưu trữ trong hệ thống tổ chức thi hành án dân sự
  1. Quyết định 824/QĐ-TCTHADS về quy trình hướng dẫn nghiệp vụ thi hành án dân sự trong nội bộ ngành thi hành án dân sự
  1. Quyết định 2950/QĐ-BTP 2014 công bố thủ tục hành chính đăng ký giao dịch bảo đảm thuộc quản lý Bộ Tư pháp
  1. Quyết định 2471/QĐ-BTP năm 2013 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm
  1. Quyết định 566/QĐ-VKSTC 2012 về mẫu văn bản tố tụng công tác kiểm sát vụ việc dân sự
  1. Quyết định 104/2001/QĐ-TTg thành lập Cục đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp
Văn bản khác
  1. Hướng dẫn 14/HD-VKSTC 2018 về công tác kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự hôn nhân gia đình
Còn hiệu lực
  1. Quy chế 911/QCLN/TCTHADS-TCTHAHS 2015 về phối hợp trong công tác thi hành án dân sự
  1. Thông báo số 249/TB-VPCP về ý kiến kết luận của thủ tướng chính phủ tại cuộc họp đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về bản quyền tác giả, quyền liên quan
  1. Hướng dẫn 94/HDLN-STP-STNMT về trình tự, thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất và áp dụng thống nhất biểu mẫu khi làm thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong trường hợp người sử dụng đất đã chết mà nhà, đất để lại thừa kế không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 điều 50 luật đất đai
Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án trong trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội và một số vướng mắc

Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với pháp nhân thương mại phạm tội là quy định mới lần đầu tiên được quy định tại Điều 87 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS năm 2015).
Theo quy định Điều 87 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội được thực hiện trong 03 trường hợp sau:
Trường hợp thứ nhất: Khi một pháp nhân thương mại đang chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này (khoản 1 Điều 87 BLHS năm 2015). Trường hợp này, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 86 của BLHS năm 2015(1). Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước về đình chỉ hoạt động có thời hạn, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung. Thẩm quyền tổng hợp hình phạt là của Hội đồng xét xử đang xét xử vụ án.
Trường hợp thứ hai: Khi một pháp nhân thương mại đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới (Khoản 2 Điều 87 BLHS năm 2015). Trường hợp này, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 86 của BLHS năm 2015. Thẩm quyền tổng hợp hình phạt là của Hội đồng xét xử đang xét xử vụ án.
Trường hợp thứ ba: Khi một pháp nhân thương mại phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp (Khoản 3 Điều 87 BLHS năm 2015). Trường hợp này, Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 87 BLHS năm 2015 (tức là tổng hợp hình phạt theo trường hợp thứ nhất hoặc theo trường hợp thứ hai).
Tuy nhiên, qua nghiên cứu Điều 87 BLHS năm 2015, tác giả thấy có một số quy định cần được hướng dẫn cụ thể để việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn cho thống nhất như sau:
Một là, quy định pháp nhân thương mại đang chấp hành một bản án được hiểu như thế nào? 
Tòa án chỉ được tổng hợp hình phạt theo khoản 1, 2 Điều 87 BLHS năm 2015 khi thỏa mãn điều kiện chung là pháp nhân thương mại bị xét xử phải là pháp nhân thương mại đang chấp hành một bản án. Vậy khi nào được coi là một pháp nhân thương mại đang chấp hành một bản án thì hiện nay còn có quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng một pháp nhân thương mại đang chấp hành một bản án là khi có quyết định thi hành án hoặc khi pháp nhân thương mại đang thực tế chấp hành bản án có hiệu lực pháp luật. Nhưng cũng có quan điểm cho rằng một pháp nhân thương mại đang chấp hành một bản án là chỉ cần khi bản án xét xử pháp nhân thương mại phạm tội có hiệu lực pháp luật, vì khi bản án có hiệu lực pháp luật đương nhiên pháp nhân thương mại phạm tội phải chấp hành bản án đó của Tòa án.
Hai là, Chánh án Tòa án nào có quyền tổng hợp hình phạt theo khoản 3 Điều 87 BLHS năm 2015.
Đối với quy định Chánh án Tòa án tổng hợp hình phạt của nhiều bản án có hiệu lực pháp luật theo khoản 3 Điều 87 BLHS năm 2015 thì hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn. Tuy nhiên, việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án có hiệu lực pháp luật trước đây đã được hướng dẫn tại mục 5 của Thông tư liên tịch 02/TT-LN ngày 20/12/1991 của Toà án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Nội dung cụ thể như sau:
– Trong trường hợp các bản án đã có hiệu lực pháp luật đều của cùng một Toà án thì Chánh án Toà án đó ra quyết định tổng hợp hình phạt.
– Trong trường hợp các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của các Toà án khác nhau nhưng cùng cấp (cùng cấp huyện trong một tỉnh hoặc khác tỉnh, cùng cấp tỉnh, cùng cấp khu vực, cùng cấp quân khu), thì Chánh án toà án ra bản án sau cùng (về mặt thời gian) ra quyết định tổng hợp hình phạt, cụ thể là: nếu các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của các Toà án cấp huyện khác nhau (trong cùng một tỉnh hay khác tỉnh), thì Chánh án toà án cấp huyện đã ra bản án sau cùng ra quyết định tổng hợp hình phạt; nếu các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của các Toà án quân sự khu vực khác nhau (trong cùng một quân khu hay khác quân khu), thì Chánh án Toà án quân sự khu vực đã ra bản án sau cùng quyết định tổng hợp hình phạt; nếu các bản án đã có hiệu lực pháp luật đều là của các Toà án cấp tỉnh (hoặc đều là của Toá án quân sự cấp quân khu), thì Chánh án Toá án cấp tỉnh (hoặc Chánh án Toà án quân sự cấp quân khu) ra bản án sau cùng ra quyết định tổng hợp hình phạt.
– Trong trường hợp các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của các Toá án không cùng cấp thì Chánh án Toà án cấp cao hơn ra quyết định tổng hợp hình phạt, không phụ thuộc vào việc bản án của Toà án cấp cao hơn có trước hay có sau.
– Trong trường hợp trong số các bản án đã có hiệu lực pháp luật có bản án của Toà án nhân dân, có bản án của Toà án quân sự, thì việc tổng hợp hình phạt cũng được thực hiện tương tự như hướng dẫn tại các điểm b, c trên đây, cụ thể là: Nếu các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của Toà án cấp huyện và của Toà án quân sự khu vực hoặc là của Toà án cấp tỉnh và của Toà án quân sự cấp quân khu, thì Chánh án Toà án đã ra bản án sau cùng ra quyết định tổng hợp hình phạt ra quyết định; nếu các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của các toà án khác nhau và khác cấp, thì Chánh án Toà án cấp cao hơn ra quyết định tổng hợp hình phạt, không phụ thuộc vào việc bản án của toà án cấp cao hơn có trước hay có sau (ví dụ: có bản án là của Toà án nhân huyện, có bản án là của Toà án quân sự quân khu, thì Chánh án Toà án quân sự quân khu ra quyết định tổng hợp hình phạt, không phụ thuộc vào việc bản án của Toà án quân sự quân khu có trước hay có sau bản án của Toà án nhân dân huyện).
– Trong trường hợp trong số các bản án đã có hiệu lực pháp luật có bản án là của Toà án nước ngoài đã được Toà án Việt Nam công nhận, có bản án là của Toà án Việt nam, thì Chánh án Toà án nhân dân tối cao ra quyết định tổng hợp hình phạt.
 
Hiện tại do chưa có hướng dẫn cụ thể nên việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật theo khoản 3 Điều 87 BLHS năm 2015 có thể vận dụng theo tinh thần quy định tại mục 5 của Thông tư liên tịch 02/TT-LN ngày 20/12/1991 của Toà án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao mà tác giả đã trình bày. Tuy nhiên, để việc áp dụng pháp luật cho thống nhất thì theo tác giả quy định tại khoản 3 Điều 87 BLHS năm 2015 cần được hướng dẫn lại cho cụ thể.

Theo: moj.gov.vn

Tội đánh bạc theo quy định của Bộ luật hình sự

Tội đánh bạc quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Tương ứng với Điều 248 BLHS 1999.
 

Điều 321. Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;
c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

 
Bình luận:

1. Khái niệm

– Đánh bạc trái phép là hành vi đánh bạc thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp.
– Đánh bạc được hiểu là nhiều người (ít nhất từ hai người trở lên) cùng tham gia thực hiện hành vi dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật.

2. Các yếu tố cấu thành tội đánh bạc

2.1. Mặt khách quan.

Mặt khách quan của tội phạm này có một trong các dấu hiệu sau:
– Có sự thỏa thuận được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng trở lên.
– Nếu tiền hay hiện vật có giá trị dưới 5.000.000 đồng thì phải thuộc trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 (tội tổ chức đánh bạc) đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội quy định tại Điều 322 (tội tổ chức đánh bạc) chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.
Lưu ý: Về tiền hoặc hiện vật xác định đưa vào đánh bạc gồm:
– Tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc.
– Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã hoặc sẽ được dùng để đánh bạc
– Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng để đánh bạc
Một số vấn để khác cần chú ý (tham khảo Nghị quyết  số 01/2010/NQ- HĐTP ngày 22-10-2010 của Hội đồng Thẩm phán);

1. Khi xác định trách nhiệm hình sự đối với người đánh bạc không được tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc, mà phải căn cứ vào từng lần đánh bạc để xem xét; cụ thể như sau:

a) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (đã bị kết án về tội hoặc tội tổ chức đánh bạc chưa được xóa án tích mà còn vi phạm) thì người đánh bạc không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc;
b) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của lần đánh bạc nào bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc đối với lần đánh bạc đó
c) Trường hợp đánh bạc từ hai lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự thì người đánh bạc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần”
d) Trường hợp đánh bạc từ năm lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự và lấy tiền, hiện vật do đánh bạc mà có làm nguồn sống chính thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết định khung “có tính chất chuyên nghiệp”.

2. “Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc” bao gồm:

a) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp ở chiếu bạc;
b) Tiền hoặc hiện vật thu giữ được ở trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc;
c) Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc.

3. Khi xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc cần phân biệt:

a) Trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc đối với từng người đánh bạc là tổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc được hướng dẫn tại khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ – HĐTP;
b) Trường hợp đánh bạc dưới mọi hình thức chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa… thì một lần chơi số đề, một lần cá độ bóng đá, một lần cá độ đưa ngựa… trong đó người chơi có thể chơi làm nhiều đợt. Trách nhiệm hình sự được xác định đối với người chơi một lần đánh bạc trong các trường hợp này là tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để chơi trong các đợt đó.
Ví dụ 1: Tại kỳ đua ngựa thứ 39, tổ chức vào ngày 15-7-2010, trong khoảng thời gian  từ 9 giờ đến 11 giờ A đã cá độ ba đợt cụ thể là đợt một 500.000 đồng, đợt hai 1.000.000 đồng, đợt ba 2.000.000 đồng, trong trường hợp này chỉ coi A đánh bạc một lần trong kỳ đua ngựa đó với tổng số tiền là 3.500.000 đồng.
Ví dụ 2: Ngày 20-7-2010, trong khoảng thời gian từ 10 giờ đến 16 giờ, B mua ba số đề trong một lô đề cụ thể là: mua số 17 với số tiền là 500.000 đồng, mua số 20 với số tiền 2.100.000 đồng, mua số 25 với số tiền 3.000.000 đồng; trong trường hợp này, chỉ coi B đánh bạc một lần.
Trong các trường hợp nêu tại ví dụ 1 và ví dụ 2 trên đây, nếu số tiền cá độ đua ngựa, số tiền mua số đề của mỗi đợt từ 2.000.000 đồng trở lên thì cũng không được áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự.

4. Việc xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của người chơi đề, cá độ và của chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc dưới hình thức chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa… như sau:

4.1. Xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của người chơi đề, cá độ dùng đánh bạc

a) Trường hợp người chơi số đề, cá độ có trúng số đề, thắng cược cá độ thì số tiền mà họ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ cộng với số tiền thực tế mà họ được nhận từ chủ đề, chủ cá độ.
Ví dụ: B mua 5 số đề với tổng số tiền là 100.000 đồng, tỷ lệ được thua 1/70, trong đó có 4 số đề mua mỗi số 10.000 đồng, 1 số đề mua với số tiền 60.000 đồng, hành vi của B bị phát hiện sau khi có kết quả mở thưởng, kết quả bóng đá, kết quả đua ngựa… và B đã trúng số đề mua với số tiền  60.000 đồng thì số tiền B dùng đánh bạc trong trường hợp này là 100.000 đồng + (60.000 x 70 lần) = 4.300.000 đồng.
b) Trường hợp người chơi số đề, cá độ không trúng số đề, không thắng cược cá độ hoặc bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả mở thưởng thì số tiền mà họ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ.
Ví dụ 1: Trong ví dụ nêu tại tiết a điểm 5.1 khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP, nếu B không trúng số nào thì số tiền B dùng đánh bạc trong trường hợp này là 100.000 đồng.
Ví dụ 2: Trong ví dụ nêu tại tiết a điểm 5.1 khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP, nếu hành vi của B bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả mở thưởng thì số tiền khi B dùng đánh bạc trong trường hợp này là 100.000 đồng (không phụ thuộc vào việc khi có kết quả mở thưởng B có trúng số đề hay không trúng số đề)

4.2. Xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc

a) Trường hợp có người chơi số đề, cá độ trúng số đề, thắng cược cá độ thì số tiền chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc là toàn bộ số tiền thực tế mà chủ đề, chủ cá độ đã nhận của những người chơi số đề, cá độ và số tiền mà chủ đề, chủ cá độ phải bỏ ra để trả cho người trúng (có thể là một hoặc nhiều người)
b) Trường hợp không có người chơi số để, cá độ trúng số đề, thắng cược cá độ hoặc bị phát hiện, ngăn chặn trước khi kết quả mở thưởng, kết quả bóng đá, kết quả đua ngựa… thì số tiền chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà chủ đề, chủ cá độ đã nhận của những người chơi số đề, cá độ.
Ví dụ 1: Trong ví dụ nêu tại tiết a điểm 5.2 khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP, nếu cả 5 người chơi không trúng số đề thì số tiền mà chủ đề dùng đánh bạc là 50.000 đồng x 5 người = 250.000 đồng.
Ví dụ 2: Trong ví dụ nêu tại tiết a điểm 5.2 khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP, nếu hành vi của D bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả mở thưởng thì số tiền D dùng để đánh bạc trong trường hợp này là 50.000 x 5 người = 250.000 đồng (không phụ thuộc vào việc khi có kết quả mở thưởng có hay không có người trúng số đề).

2.2. Khách thể.

Hành vi phạm tội xâm phạm đến trật tự công cộng.

2.3. Mặt chủ quan.

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

2.4. Chủ thể.

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.
Cần lưu ý: Việc tham gia hoặc thực hiện đánh bạc bao giờ cũng phải là có nhiều người (có hai người trở lên) cùng thực hiện.

3. Về hình phạt.

Mức hình phạt của tội phạm này được chia thành 02 khung, cụ thể như sau:
a) Khung một (khoản 1)
Có mức phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
b) Khung hai (khoản 2)
Có mức phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

4. Hình phạt bổ sung.

Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình phạt chính nêu trên, tùy từng trường hợp cụ thể người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Việc tham gia của Điều tra viên khi được triệu tập đến phiên tòa xét xử các vụ án hình sự

Mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện và xử lý nghiêm minh, chính xác, kịp thời, chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội; quyền con người ngày càng được nâng cao và bảo vệ.
Thể chế hóa đầy đủ các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Hiến pháp năm 2013, Bộ luật tố tụng hình sự (TTHS) năm 2015 ra đời, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2018. Những chế định quy định trong Bộ luật TTHS năm 2015 là cơ sở pháp lý rất quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền tố tụng thực hiện có hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật; mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện và xử lý nghiêm minh, chính xác, kịp thời, chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội; quyền con người ngày càng được nâng cao và bảo vệ.
Bộ luật TTHS năm 2015 đã được sửa đổi căn bản và toàn diện gồm 510 điều, được bố cục thành 9 phần, 36 chương. Trong đó, bổ sung mới 176 điều, sửa đổi 317 điều, giữ nguyên 17 điều, bãi bỏ 26 điều. Các chế định quy định trong Bộ luật TTHS năm 2015 thể hiện tính khoa học, tiến bộ và có tính khả thi cao; đã tháo gỡ những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn; tăng cường trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân đã được Hiến định. Bộ luật TTHS năm 2015 đã bổ sung thẩm quyền của Toà án nhân dân đó là: Trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể triệu tập Điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ án và những người khác đến phiên tòa để trình bày các vấn đề liên quan đến vụ án (Điều 296 Bộ luật TTHS). Khi tiến hành xét xử vụ án, xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử tự mình hoặc theo đề nghị của người tham gia tố tụng yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trình bày ý kiến của mình để làm rõ những quyết định, hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố (Điều 317 Bộ luật TTHS).
Trong phạm vi bài viết, tác giả muốn đề cập từ góc độ thực tiễn hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự về sự tham gia của Điều tra viên thuộc lực lượng Công an nhân dân tại phiên toà xét xử hình sự và một số kiến nghị, giải pháp để thực hiện tốt trách nhiệm của Điều tra viên khi được triệu tập đến phiên toà hình sự.
Vậy, vấn đề đặt ra là sự cần thiết phải bổ sung chế định xét thấy cần thiết Hội đồng xét xử có thể triệu tập Điều tra viên đến phiên toà và sự cần thiết phải yêu cầu Điều tra viên trình bày ý kiến tại phiên toà. Trường hợp nào được coi là cần thiết để Hội đồng xét xử quyết định triệu tập Điều tra viên đến phiên toà và tại phiên Toà xét xử thì trong trường hợp nào Hội đồng xét xử yêu cầu Điều tra viên trình bày ý kiến và những nội dung mà Điều tra viên cần trình bày để làm rõ những quyết định, hành vi tố tụng của mình trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự. Từ góc độ thực tiễn thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra thuộc Công an nhân dân cho thấy cần thiết phải làm rõ những vấn đề sau đây:

1. Về sự cần thiết phải bổ sung chế định Toà án có thẩm quyền triệu tập Điều tra viên thụ lý vụ án đến phiên toà xét xử hình sự

Bộ luật TTHS quy định mô hình tố tụng hình sự Việt Nam là tố tụng thẩm vấn và đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, theo đó trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra; cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Cơ quan Viện kiểm sát và Cơ quan Toà án). Người bị buộc tội có quyền, nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Do đó, các tài liệu, chứng cứ được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên…) thu thập trong giai đoạn điều tra có trong hồ sơ vụ án là chứng cứ rất quan trọng, được coi là có giá trị chứng minh để Hội đồng xét xử đánh giá, xác định hành vi phạm tội của bị cáo. Chính vì vậy, để giúp Hội đồng xét xử ban hành Bản án hình sự được chính xác, khách quan, minh bạch, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người người vô tội, đảm bảo nguyên tắc tranh tụng, Điều 296, Bộ luật TTHS năm 2015 quy định khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể triệu tập Điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ án và những người khác đến phiên tòa để trình bày các vấn đề liên quan đến vụ án là hết sức cần thiết, quy định này đã giải quyết được những vướng mắc, khó khăn trong việc xem xét, đánh giá chứng cứ ở giai đoạn xét xử.
Qua thực tiễn xét xử nhiều vụ án hình sự do các Cơ quan điều tra thuộc Công an nhân dân tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ, trong giai đoạn xét xử nhiều Điều tra viên thụ lý vụ án đã được Toà án triệu tập đến phiên Toà để trình bày ý kiến để làm rõ những quyết định, hành vi tố tụng của mình đang điều tra vụ án. Như vụ án Hoàng Thị Vấn, bị truy tố, xét xử về tội giết người xảy ra ngày 5/2/2012 tại phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng, vụ án đã được đưa ra xét xử nhiều lần, đến các ngày 15 – 16/8/2018 khi đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, Hội đòng xét xử của Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng đã triệu tập Điều tra viên thụ lý vụ án đến để làm rõ một số nội dung; đến giai đoạn xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm tiếp tục triệu tập Điều tra viên, Kiểm sát viên thụ lý vụ án đến phiên toà. Vụ án Bùi Văn Thành trú tại xã Tam Đồng, huyện Mê Linh, Hà Nội cùng đồng phạm can tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác”. Ngày 10/8/2018 khi xét xử vụ án, Hội đồng xét xử vụ án của Toà án nhân dân huyện Mê Linh đã triệu tập Điều tra viên thụ lý vụ án đến làm rõ tính khách quan trong việc hỏi cung bị can. Kết quả xét xử các vụ án trên cho thấy, lời trình bày của các Điều tra viên tại phiên tòa có ý nghĩa rất quan trọng trong việc ban hành Bản án hình sự được minh bạch, khách quan, chính xác.

2. Những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện việc triệu tập Điều tra viên, những người có thẩm quyền tố tụng đến phiên Toà và việc tổ chức để tạo điều kiện cho họ trình bày ý kiến của mình tại phiên Toà

Điều 296 Bộ luật TTHS quy định: Trong quá trình xét xử, khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể triệu tập Điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ án và những người khác đến phiên tòa để trình bày các vấn đề liên quan đến vụ án. Điều luật chưa quy định rõ thế nào là: “khi xét thấy cần thiết” thế nào là “có thể”. Quy định như vậy mang tính tuỳ nghi, dẫn đến không thống nhất về nhận thức, sẽ xảy ra trường hợp áp dụng điều luật theo ý chủ quan của Thẩm phán chủ toạ phiên toà. Nếu chỉ quy định Hội đồng xét xử mới có thẩm quyền triệu tập thì trường hợp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thấy có một số nội dung cần thiết phải yêu cầu Điều tra viên nêu ý kiến để làm rõ, thì Thẩm phán phải chờ đến khi xét xử tại phiên toà, Hội đồng xét xử mới triệu tập Điều tra viên đến phiên toà.
Điều 317 Bộ luật TTHS quy định: Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử tự mình hoặc theo đề nghị của người tham gia tố tụng yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trình bày ý kiến để làm rõ những quyết định, hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố. Như vậy, tư cách tham gia tố tụng của những người này như thế nào, có phải là người chứng kiến hay không. Trong giai đoạn điều tra, truy tố thì Họ là những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, đặc biệt là Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm thông thường là người tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ án trong các giai đoạn điều tra, truy tố, dẫn đến sự không thống nhất trong việc nhận thức vai trò, vị trí của những người đã tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử khi được triệu tập đến phiên tòa.
Cần có hướng dẫn cụ thể để có sự thống nhất nhận thức, tạo điều kiện cho Hội đồng xét xử áp dụng hiệu quả hai điều luật này.

3. Trường hợp nào được coi là “cần thiết” để Toà án quyết định triệu tập Điều tra viên đã thụ lý vụ án đến phiên Toà

Mặc dù Bộ luật TTHS không quy định rõ trường hợp nào là cần thiết để triệu tập Điều tra viên đến phiên Toà. Tuy nhiên, qua thực tiễn hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự do Cơ quan điều tra thuộc lực lượng Công an nhân dân tiến hành điều tra cho thấy một số trường hợp sau đây được coi là cần thiết triệu tập Điều tra viên đã thụ lý điều tra vụ án đến phiên Toà để Hội đồng xét xử làm rõ những quyết định, hành vi tố tụng của họ:
Thứ nhất, kết quả nghiên cứu hồ sơ vụ án và xét hỏi tại phiên toà phản ánh quá trình điều tra, ban đầu bị cáo nhận tội, sau đó phản cung không khai nhận hành vi phạm tội và tại phiên toà bị cáo có khiếu nại hoặc tố cáo cho rằng Điều tra viên đã có những hành vi bức cung, mớm cung, dùng nhục hình buộc bị cáo phải khai theo theo ý chủ quan của Điều tra viên, các nội dung ghi nhận tội trong các biên bản hỏi cung bị can là do Điều tra viên ép phải khai, không khách quan, không phản ánh sự thật của vụ án. Trong phần xét hỏi, Hội đồng xét xử vẫn chưa làm rõ được.
Thứ hai, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, bị cáo có đơn khiếu nại, tố cáo, phản ánh trong quá trình điều tra vụ án, Điều tra viên đã có hành vi bắt bị can ký khống các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, sau đó tự điền nội dung lời khai theo ý của Điều tra viên, dẫn đến nội dung lời khai của bị cáo không đúng với ý trí của bị cáo. Nhưng đến phần xét hỏi, vẫn chưa làm rõ được tính khách quan của lời tố cáo của bị cáo.
Thứ ba, tại phiên toà xét xử vụ án, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khác của bị cáo, người làm chứng, người bị hại và người liên quan có ý kiến cho rằng nội dung bản kết luận điều tra vụ án của Cơ quan điều tra là không có căn cứ, không khách quan, không đúng với bản chất nội dung vụ án và tố cáo Điều tra viên có những hành vi tố tụng trái pháp luật (Giả mạo các tài liệu, chứng cứ; tạo ra các tài liệu chứng cứ không có thật…) dẫn đến làm sai lệch hồ sơ vụ án, ảnh hưởng đến quyền của bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác đã đề nghị Hội đồng xét xử triệu tập Điều tra viên đến để làm rõ.
Thứ tư, trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử thấy có dấu hiệu xác định Điều tra viên đã thực hiện các hành vi tố tụng trái pháp luật (xử lý vật chứng không đúng quy định, có dấu hiệu sửa chữa nội dung các biên bản điều tra; việc thu thập tài liệu, chứng cứ vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng theo quy định của khoản 1, Điều 6, Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 của Liên ngành Tư pháp Trung ương, xét thấy cần thiết phải triệu tập Điều tra viên đến phiên toà để làm rõ.
Thứ năm, những người tham gia tố tụng khác (Người làm chứng; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; Người chứng kiến…) có ý kiến cho rằng quá trình điều tra, Điều tra viên không đảm bảo quyền của họ khi tham gia tố tụng như từ chối yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự; không phổ biến quyền và nghĩa vụ của họ khi được Cơ quan điều tra triệu tập đến làm việc…thấy cần thiết phải triệu tập Điều tra viên để làm rõ.
Thứ sáu, trong giai đoạn xét xử đối với vụ án, Hội đồng xét xử có nghi ngờ về tính khách quan của các tài liệu, chứng cứ chứng minh do Điều tra viên đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án hình sự, cần thiết phải triệu tập Điều tra viên đến phiên toà để làm rõ.
Thứ bảy, trong quá trình xét xử đối với vụ án, theo yêu cầu của Kiểm sát viên giữ quyền công tố, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác nếu xét thấy cần thiết thì Hội đồng xét xử có thể triệu tập Điều tra viên thụ lý vụ án đến phiên tòa để trình bày các vấn đề liên quan đến vụ án.

 4. Những kiến nghị, giải pháp để triển khai thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả chế định (triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa) quy định tại Điều 296, Điều 317 Bộ luật tố tụng hình sự

Để việc triển khai thực hiện thẩm quyền triệu tập Điều tra viên và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác đến phiên toà trình bày ý kiến để làm rõ những hành vi, quyết định tố tụng của mình trong giai đoạn điều tra theo đúng trình tự quy định của tố tụng hình sự, bảo vệ quyền, lợi ích của các bên trong tố tụng hình sự, tạo điều kiện cho Hội đồng xét xử ban hành Bản án, Quyết định tố tụng khác được khách quan, chính xác, đúng pháp luật, theo chúng tôi cần thực hiện một số nội dung sau:
– Đề nghị liên ngành Tư pháp Trung ương ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng quy định tại Điều 296, Điều 317 Bộ luật TTHS. Cần quy định rõ những trường hợp nào được coi là cần thiết phải triệu tập Điều tra viên và những người có thẩm quyền đã tiến hành tố tụng đến phiên toà; Tại phiên toà thì trường hợp nào Hội đồng xét xử được coi là cần thiết yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác phải trình bày ý kiến về hành vi, quyết định tố tụng của mình trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án hình sự; cần xác định rõ tư cách tham gia tố tụng của Điều tra viên, người có thẩm quyền tố tụng khác khi được triệu tập đến phiên toà; xác định rõ tư cách tham gia tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người khác đã tiến hành tố tụng đối với vụ án khi được Hội đồng xét xử yêu cầu trình bày ý kiến tại phiên toà về hành vi, quyết định tố tụng trong giai đoạn điều tra vụ án.
– Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam là tố tụng thẩm vấn và đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong giai đoạn điều tra có trong hồ sơ vụ án là chứng cứ rất quan trọng, được coi là có giá trị chứng minh để Hội đồng xét xử đánh giá, xác định hành vi phạm tội của bị cáo. Chính vì vậy, để giúp Hội đồng xét xử ban hành Bản án hình sự được chính xác, khách quan, minh bạch, không làm oan người người vô tội, không bỏ lọt tội phạm, trong giai đoạn điều tra vụ án Điều tra viên nói chung, Điều tra viên của các Cơ quan điều tra thuộc Công an nhân dân cần nâng cao, nhận thức trách nhiệm khi trình bày ý kiến về hành vi, quyết định tố tụng của mình trong giai đoạn điều tra vụ án.
Để thực hiện tốt vấn đề này thì khi được phân công thụ lý xác minh tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; khởi tố, điều tra vụ án hình sự Điều tra viên cần phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự; khi thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng của mình để điều tra, thu thập chứng cứ chứng minh vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị can, Điều tra viên phải công tâm, khách quan, minh bạch, quan tâm cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội. Gắn trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp với công việc được phân công. Chú trọng việc nghiên cứu, trau đồi chuyên môn nghiệp vụ thông qua các văn bản pháp luật, các quy định hướng dẫn của ngành, liên ngành để thực hiện công tác điều tra đạt hiệu lực, hiệu quả cao. Tránh tình trạng điều tra vụ án mang tính chất cảm tính, chủ quan, tương tự.
Khi được triệu tập tham gia phiên tòa, Điều tra viên cần rà soát lại toàn bộ kết quả điều tra vụ án, kiểm tra lại những hành vi, quyết định tố tụng của mình trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ đối với vụ án có đúng quy định pháp luật hay không. Từ đó, có thể trả lời đầy đủ, chính xác những nội dung theo yêu của Hội đồng xét xử. Tránh trường hợp Điều tra viên tham gia phiên tòa một cách hình thức, trình bày ý kiến một cách qua loa hoặc lúng túng, thiếu tự tin, bản lĩnh tại phiên tòa dẫn đến không bảo vệ được kết luận điều tra của Cơ quan điều tra hoặc trả lời không đúng hoặc không đầy đủ những nội dung đã thực hiện trong quá trình điều tra gây nên hiểu lầm cho Hội đồng xét xử hoặc những người tham gia phiên tòa khác, dẫn đến hậu quả vụ án có thể bị hủy, bị đình chỉ hoặc bị trả hồ sơ vụ án yêu cầu điều tra bổ sung. Điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến vai trò, trách nhiệm của Cơ quan điều tra nói chung, Cơ quan điều tra thuộc lực lượng Công an nhân dân nói riêng trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.
– Để việc thực hiện thẩm quyền triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa và việc yêu cầu Điều tra viên và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác trình bày ý kiến về hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra vụ án. Khi tiến hành xét xử vụ án, Hội đồng xét xử cần phải thật thận trọng, khi xem xét quyết định triệu tập Điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác đến phiên Toà phải thấy thực sự cần thiết mới triệu tập. Tại phiên toà, mặc dù đã triệu tập Điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác đến phiên Toà nhưng phải thận trọng khi yêu cầu họ trình bày ý kiến. Các vấn đề yêu cầu Điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác trình bày ý kiến và việc điều hành những người khác tham gia phiên toà trình bày nội dung phải rõ ràng, minh bạch, tránh yêu cầu chung chung không cần thiết.

TS. Lê Minh Long

Viện trưởng VKSND tỉnh Cao Bằng

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát

Về nhận dạng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Mục đích tiến hành nhận dạng là nhằm xác nhận sự giống hay khác nhau giữa đối tượng nhận dạng với hình ảnh của đối tượng mà người nhận dạng đã tri giác trước đây. Qua việc nhận dạng có thể xác định được người phạm tội, vật chứng của vụ án, tung tích của tử thi…
Theo quy định tại Điều 190 BLTTHS năm 2015 thì chủ thể có thẩm quyền tiến hành việc nhận dạng là Điều tra viên thuộc Cơ quan điều tra. Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không trực tiếp tiến hành nhận dạng.
Những người phải tham gia việc nhận dạng được quy định tại khoản 2 Điều 190 BLTTHS năm 2015, gồm:
– Người nhận dạng: Có thể là người làm chứng, bị hại hoặc bị can. Nếu lựa chọn những người tham gia tố tụng khác như người bị bắt, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự… làm người nhận dạng thì kết quả nhận dạng sẽ không có giá trị pháp lý và không được dùng làm chứng cứ giải quyết vụ án. Tuy Điều 190 BLTTHS năm 2015 không quy định rõ nhưng theo tác giả, người nhận dạng phải đáp ứng các điều kiện, đó là: Họ phải là người đã tri giác và còn lưu giữ được những tình tiết, vết tích, đặc điểm của đối tượng cần nhận dạng; họ phải là người có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình; là người có khả năng tri giác; là người được Điều tra viên chọn làm người nhận dạng.
– Người chứng kiến: Người chứng kiến có trách nhiệm xác nhận nội dung, kết quả nhận dạng và có thể nêu ý kiến cá nhân. Ý kiến này được ghi vào biên bản. Những người sau đây không được làm người chứng kiến việc nhận dạng: Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức đúng sự việc; người dưới 18 tuổi…
Về đối tượng nhận dạng: Đối tượng nhận dạng là người, ảnh hoặc vật được đưa ra để nhận dạng. Số người, ảnh hoặc vật đưa ra để nhận dạng ít nhất phải là ba và bề ngoài phải tương tự nhau, trừ trường hợp nhận dạng tử thi. Đối tượng nhận dạng gồm:
– Đối tượng nhận dạng chính: Là đối tượng cần xác định có liên quan đến vụ án hình sự.
– Đối tượng nhận dạng tương tự: là đối tượng không liên quan đến vụ án, tự nguyện tham gia việc nhận dạng, có bề ngoài tương tự đối tượng nhận dạng chính, được đưa ra nhận dạng cùng đối tượng nhận dạng chính để bảo đảm sự khách quan của việc nhận dạng. Đối tượng tương tự là người thì phải cùng giới, gần giống đối tượng nhận dạng chính về chiều cao, màu da, độ tuổi. Đối tượng tương tự là vật thì vật đó phải cùng loại, gần giống đối tượng nhận dạng chính về kích thước, màu sắc…
Về điều kiện tiến hành nhận dạng: Khoản 1 Điều 190 BLTTHS 2015 quy định Điều tra viên tiến hành nhận dạng “khi cần thiết”. Về trường hợp nào là cần thiết để tiến hành nhận dạng thì hiện nay chưa có hướng dẫn. Vậy nên, Điều tra viên cần xem xét đến các yếu tố cấu thành tội phạm, các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự và các tình tiết khác (khả năng tri giác của người nhận dạng, đặc điểm riêng biệt của đối tượng…) để quyết định có tiến hành biện pháp điều tra này hay không?
Về trình tự, thủ tục tiến hành nhận dạng:
– Điều tra viên phải hỏi trước người nhận dạng về những tình tiết, vết tích và đặc điểm mà nhờ đó họ có thể nhận dạng được (khoản 4 Điều 190).
Việc hỏi trước giúp cho người nhận dạng có thời gian, điều kiện để nhớ lại các tình tiết, vết tích và đặc điểm của đối tượng mà họ đã tri giác trước đây; là cơ sở để kiểm tra, đánh giá lời khai của họ sau khi việc nhận dạng kết thúc và cũng để xác định lại việc có cần thiết tiến hành nhận dạng hay không. Tuy vậy, quy định trên dẫn đến hai cách hiểu khác nhau khi áp dụng. Cách hiểu thứ nhất: Trong buổi nhận dạng, Điều tra viên phải hỏi người nhận dạng, rồi sau đó mới cho họ bắt đầu nhận dạng. Cách hiểu thứ hai: Điều tra viên phải hỏi người nhận dạng trước khi tiến hành nhận dạng (chẳng hạn như Điều tra viên hỏi người nhận dạng trước khi tiến hành nhận dạng 10 ngày). Theo tác giả, Điều tra viên nên hỏi người nhận dạng trước khi tiến hành nhận dạng một thời gian hợp lý. Nếu thời gian từ khi hỏi đến khi tiến hành nhận dạng quá lâu thì họ có thể quên đi các tình tiết, vết tích, đặc điểm của đối tượng nhận dạng.
Khi hỏi người nhận dạng, Điều tra viên cần hỏi thật kỹ họ về các tình tiết, vết tích, đặc điểm của đối tượng nhận dạng; các yếu tố khách quan trong khi họ tri giác đối tượng như ánh sáng, khoảng cách; các yếu tố chủ quan trong khi họ tri giác đối tượng…
– Trước khi tiến hành nhận dạng, Điều tra viên phải thông báo việc tiến hành nhận dạng cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên tham gia kiểm sát việc nhận dạng (khoản 1 Điều 190).
So với BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung quy định Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát để cử Kiểm sát viên tham gia kiểm sát việc nhận dạng. Việc bổ sung quy định này nhằm nâng cao trách nhiệm của Kiểm sát viên, đồng thời bảo đảm hoạt động này thực hiện đúng quy định của pháp luật.
– Nếu người nhận dạng là người dưới 18 tuổi thì trước khi tiến hành nhận dạng, Điều tra viên còn phải thông báo cho người bào chữa, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ tham dự (Điều 420, 421).
– Nếu có người làm chứng hoặc bị hại là người nhận dạng thì trước khi tiến hành nhận dạng, Điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố tình khai báo gian dối. Việc này phải ghi vào biên bản nhận dạng (khoản 3 Điều 190). Có nhiều nguyên nhân làm cho người làm chứng hoặc bị hại từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố tình khai báo gian dối: sợ bị trả thù, có mối quan hệ gia đình, bạn bè…, làm ảnh hưởng đến kết quả nhận dạng. Vậy nên, việc quy định như trên là cần thiết, bảo đảm sự đúng đắn trong lời khai của người làm chứng, bị hại.
– Số người, ảnh hoặc vật đưa ra để nhận dạng ít nhất phải là ba, trừ trường hợp nhận dạng tử thi (khoản 1 Điều 190). Số người, ảnh hoặc vật đưa ra quá nhiều sẽ làm cho người được nhận dạng mất tập trung, khó khăn trong việc nhận dạng. Ngược lại, nếu  đưa người, ảnh hoặc vật ra quá ít thì việc nhận dạng sẽ không được khách quan.
– Trong quá trình tiến hành nhận dạng, Điều tra viên không được đặt câu hỏi gợi ý. Điều tra viên đặt câu hỏi gợi ý rất dễ làm cho người nhận dạng khai báo theo ý của Điều tra viên, làm ảnh hướng đến tính khách quan của kết quả nhận dạng. Sau khi người nhận dạng đã xác nhận một người, một vật hay một ảnh trong số được đưa ra để nhận dạng thì Điều tra viên yêu cầu họ giải thích là họ đã căn cứ vào các vết tích hoặc đặc điểm gì mà xác nhận được người, vật hay ảnh đó.
– Sau khi người nhận dạng đã xác nhận một người, một vật hay một ảnh trong số được đưa ra để nhận dạng thì Điều tra viên yêu cầu họ giải thích là họ đã căn cứ vào các vết tích hoặc đặc điểm gì mà xác nhận được người, vật hay ảnh đó.
– Kết thúc việc nhận dạng, Điều tra viên phải lập biên bản. Biên bản nhận dạng được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này. Biên bản ghi rõ nhân thân, tình trạng sức khỏe của người nhận dạng và của những người được đưa ra để nhận dạng; đặc điểm của vật, ảnh được đưa ra để nhận dạng; các lời khai báo, trình bày của người nhận dạng; điều kiện ánh sáng khi thực hiện nhận dạng (khoản 5 Điều 190).

Nguyễn Cao Cường – VKSND huyện A Lưới, Thừa Thiên – Huế

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát

Những trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự và chứng nhận lãnh sự

Giấy tờ, tài liệu nào được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên? Giấy tờ, tài liệu nào được miễn chứng nhận lãnh sự?
Chứng nhận lãnh sự (CNLS): là việc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chứng nhận con dấu, chữ ký, chức danh trên giấy tờ, tài liệu của Việt Nam để giấy tờ, tài liệu đó được công nhận và sử dụng ở nước ngoài (theo khoản 1 Điều 2 Nghị định số 111/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011).
Hợp pháp hóa lãnh sự (HPH): là việc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chứng nhận con dấu, chữ ký, chức danh trên giấy tờ, tài liệu của nước ngoài để giấy tờ, tài liệu đó được công nhận và sử dụng tại Việt Nam (theo khoản 1 Điều 2 Nghị định số 111/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011).

Điểm b khoản 1 Điều 478 BLTTDS năm 2015 quy định Tòa án Việt Nam công nhận giấy tờ, tài liệu do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp, xác nhận trong các trường hợp: “Giấy tờ, tài liệu đó được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.
Điểm b khoản 1 Điều 306 Luật TTHC năm 2015 cũng có quy định Tòa án Việt Nam công nhận giấy tờ, tài liệu do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận trong những trường hợp “Giấy tờ, tài liệu đó được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.”

Vậy giấy tờ, tài liệu nào được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên? Giấy tờ, tài liệu nào được miễn chứng nhận lãnh sự?

“Điều 9 Nghị định số 111/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 quy định: Các giấy tờ, tài liệu được miễn chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự
1. Giấy tờ, tài liệu được miễn chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước ngoài liên quan đều là thành viên, hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.
2. Giấy tờ, tài liệu được chuyển giao trực tiếp hoặc qua đường ngoại giao giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
3. Giấy tờ, tài liệu được miễn chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam.
4. Giấy tờ, tài liệu mà cơ quan tiếp nhận của Việt Nam hoặc của nước ngoài không yêu cầu phải hợp pháp hóa lãnh sự, chứng nhận lãnh sự phù hợp với quy định pháp luật tương ứng của Việt Nam hoặc của nước ngoài.”

Dưới đây là Bảng tổng hợp các nước và loại giấy tờ, tài liệu được miễn hợp pháp hóa lãnh sự, chứng nhận lãnh sự(**):

– Theo quy định tại Điều 9.4 Nghị định số 111/2011/NĐ-CP ngày 5/12/2011 của Chính phủ về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự, giấy tờ, tài liệu mà cơ quan tiếp nhận của Việt Nam hoặc của nước ngoài không yêu cầu phải HPH, CNLS phù hợp với quy định pháp luật tương ứng của Việt Nam hoặc của nước ngoài thì cũng được miễn HPH, CNLS.
– Việc thực hiện theo các Hiệp định nêu trên không ảnh hướng đến việc HPH, CNLS giấy tờ theo yêu cầu của công dân tại các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam nhằm tạo thuận lợi cho công dân theo quy định tại Điều 10.2 Thông tư 01/2012/TT-BNG ngày 20/3/2012 của Bộ Ngoại giao Hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 111/2011/NĐ-CP ngày 5/12/2011 của Chính phủ về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự.
– (*) Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: Đối với giấy tờ như bằng cấp, chứng chỉ, lý lịch tư pháp (xác nhận không tiền án, tiền sự) và các giấy tờ liên quan khác do cơ quan công chứng của Trung Quốc hoặc cơ quan có thẩm quyền khác (bao gồm Hồng Kông, Ma Cao) chứng nhận, sau đó được Vụ Lãnh sự Bộ Ngoại giao Trung Quốc (hoặc cơ quan ngoại vụ địa phương Trung Quốc được ủy quyền) chứng thực thì phải HPH tại CQĐD Việt Nam tại Trung Quốc (Căn cứ theo nội dung công hàm trao đổi giữa Cục Lãnh sự và ĐSQ Trung Quốc tại Việt Nam).
——————————————————————————————
Các chữ viết tắt: HĐTTTP: Hiệp định tương trợ tư pháp; HĐLS: Hiệp định lãnh sự; TTTP: Tương trợ tư pháp; CQĐD: Cơ quan đại diện; CQTƯ: Cơ quan Trung ương; VPKTVH: Văn phòng Kinh tế – Văn hóa; HPH: Hợp pháp hóa lãnh sự; CNLS: Chứng nhận lãnh sự.
(**)Nguồn tham khảo: https://lanhsuvietnam.gov.vn/Lists/BaiViet/B%C3%A0i%20vi%E1%BA%BFt/DispForm.aspx?List=dc7c7d75-6a32-4215-afeb-47d4bee70eee&ID=755