Thủ tục đăng ký sở hữu công nghiệp theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ

Tầm quan trọng của việc đăng ký sở hữu công nghiệp

Theo quan điểm truyền thống, tài sản hữu hình chiếm phần lớn giá trị của doanh nghiệp, bao gồm nhà xưởng, máy móc, nguồn vốn và cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, gần đây, quan niệm này đã có nhiều thay đổi. Các doanh nghiệp dần nhận ra rằng, ‘tài sản vô hình’ của họ còn có giá trị lớn hơn nhiều so với những ‘tài sản hữu hình’. Trong đó, những tài sản sở hữu công nghiệp như: nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, giải pháp hữu ích được coi là tài sản vô hình có giá trị của doanh nghiệp.
Do đó, Việc đăng ký sở hữu công nghiệp là một phương thức quan trọng để bảo vệ ‘tài sản vô hình’ và duy trì quyền sở hữu trí tuệ.

Thủ tục đăng ký sở hữu công nghiệp theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ

Các bước tiến hành đăng ký sở hữu công nghiệp được quy định theo pháp luật tại Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 (gọi tắt là Luật Sở hữu trí tuệ).Theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc đăng ký nhãn hiệu thực hiện theo các bước cơ bản sau:

Bước 1: Nộp đơn, ngày nộp đơn và việc tiếp nhận đơn đăng ký sở hữu công nghiệp (quy định tại Điều 108)

Trong đơn đăng ký nhãn hiệu cần có ít nhất những thông tin và tài liệu sau đây:
– Tờ khai đăng ký nhãn hiệu trong đó có đủ thông tin để xác định người nộp đơn và mẫu nhãn hiệu, danh mục sản phẩm, dịch vụ mang nhãn hiệu;
– Chứng từ nộp lệ phí nộp đơn;
– Đối với các nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận thì phải có những tài liệu khác như quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể, bản đồ khu vực địa lý, văn bản cho phép của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Ngày nộp đơn là ngày đơn được cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp tiếp nhận.

Bước 2: Thẩm định hình thức đơn đăng ký sở hữu công nghiệp (quy định tại Điều 109)

Mục đích của công đoạn này là để xem xét về hình thức của đơn, nhãn hiệu đăng ký có nằm trong phạm vi bảo hộ không, người nộp đơn có quyền đăng ký không, đã nộp phí và lệ phí chưa,…Thời gian cho công đoạn này là khoảng 01 tháng kể từ ngày nộp đơn, nếu đơn không hợp lệ, cục sở hữu trí tuệ sẽ từ chối chấp nhận đơn và nêu lý do, thiếu sót. Nếu đơn hợp lệ, Cục sở hữu trí tuệ sẽ ra quyết địnhchấp nhận đơn.

Bước 3: Công bố đơn đăng ký sở hữu công nghiệp (quy định tại Điều 110)

Sau khi có quyết định chấp nhận đơn hợp lệ, đơn sẽ được công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp. Thời gian công bố đơn đăng ký nhãn hiệu là 2 tháng kể từ ngày có thông báo chấp nhận đơn hợp lệ.

Bước 4: Thẩm định nội dung đơn đăng ký sở hữu công nghiệp (quy định tại Điều 114)

Cục sở hữu trí tuệ xem xét các điều kiện đăng ký nhãn hiệu từ đó đánh giá khả năng cấp văn bằng cho nhãn hiệu. Nếu đơn đăng ký đáp ứng đủ điều kiện thì cục sẽ ra thông báo dự định cấp văn bằng. Nếu đơn đăng ký không đáp ứng đủ điều kiện, Cục sẽ ra thông báo từ chối cấp văn bằng. Doanh nghiệp có thể khiếu nại hoặc gửi công văn trả lời, đồng thời đưa ra các căn cức để cấp văn bằng.
Thời gian thẩm định nội dung là 09 tháng kể từ ngày công bố đơn.

Bước 5: Cấp văn bằng bảo hộ

Cục sở hữu trí tuệ sẽ ra thông báo dự định cấp văn bằng và nộp lệ phí cấp bằng trong vòng 02 đến 03 tháng. Sau khi có quyết định cấp văn bằng, người làm đơn tiến hành nộp lệ phí và lấy văn bằng bảo hộ nhãn hiệu.Nhãn hiệu được bảo hộ trong vòng 10 năm, nếu muốn tiếp tục sử dụng, khách hàng có thể gia hạn thêm 10 năm nữa sau khi sắp hết hạn.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn) 

Chính sách hình sự Việt Nam trước thách thức cách mạng công nghiệp 4.0

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0) là cuộc cách mạng thể hiện sự kết hợp của công nghệ trong các lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học… Thực tế đó đòi hỏi phải có nhận thức mới về chính sách hình sự, từ đó định hình những nội dung cần triển khai nghiên cứuvà đáp ứng nhiệm vụ xây dựng, áp dụng pháp luật hình sự.
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (gọi tắt và viết tắt: CMCN 4.0) là cuộc cách mạng thể hiện sự kết hợp của công nghệ trong các lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học, tạo ra thời đại công nghệ thông tin kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực thể, vạn vật đều kết nối Internet và các hệ thống kết nối Internet diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Bên cạnh những thuận lợi, giá trị to lớn mà cuộc cách mạng này đem lại thì cũng kéo theo những thách thức, mối đe dọa mới đòi hỏi toàn bộ hệ thống phải thay đổi từ kinh tế, văn hóa, xã hội… và không thể thiếu sự đổi mới chính sách hình sự, cũng như của hệ thống pháp luậthình sự để phòng, chống tội phạm, bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia và quyền con người, quyền công dân trong tình hình mới. Trên cơ sở này, đòi hỏi phải có nhận thức mới về chính sách, pháp luật hình sự Việt Nam trước thách thức CMCN 4.0, từ đó định hình những nội dung cần triển khai nghiên cứu trong chính sách hình sự và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng, áp dụng pháp luật hình sự.

1. Khái niệm, đặc điểm của chính sách hình sự Việt Nam trước thách thức CMCN 4.0

1.1. Khái niệm
Xuất phát từ các yêu cầu của thực tiễn phát triển mạnh mẽ, nhanh và rộng khắp của khoa học và công nghệ, thực tiễn đấu tranh xử lý tội phạm và thực tiễn điều chỉnh của pháp luật hình sự, cũng như yêu cầu bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong bối cảnh toàn cầu hóa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XII năm 2016 đã nhấn mạnh đến nhiệm vụ xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật. Cụ thể, Nghị quyết đã nêu: “Hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế… Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách, pháp luật…” . Cùng với đó, ngày 01/12/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 623/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016-2025 và định hướng đến 2030”, trong đó đã nhấn mạnh: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tập trung nghiên cứu dự báo, luật hóa kịp thời các hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện. Xây dựng, ban hành kịp thời văn bản hướng dẫn thi hành sau khi các luật, bộ luật có hiệu lực…” với Đề án 12: “Tăng cường hiệu quả công tác phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet” do Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì thực hiện. Đặc biệt, ngày 04/5/2017, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg “Về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, trong đó đặt ra những yêu cầu cao hơn về bảo đảm an toàn, an ninh thông tin mạng trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 này; v.v… Vì vậy, yêu cầu nhận thức thống nhất, cập nhật mới chính sách hình sự, từ đó hoạch định, xây dựng hệ thống chiến lược của Nhà nước nhằm đề ra cách thức (phương thức) phòng, chống tội phạm đạt hiệu quả cao, xây dựng nguyên tắc hành động và hoàn thiện thể chế, pháp luật tương ứng trong lĩnh vực này cho quốc gia có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là trước thách thức của CMCN 4.0, cũng như hàng loạt những mối đe dọa mới như: vấn đề “biên giớimềm, không gian ảo”, “quyền lực mềm”, “an ninh không gian mạng”, “an ninh phi truyền thống”, tội phạm công nghệ cao, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia đến vấn đề “trí tuệ siêu thông minh”, “rô-bốt phạm tội”…, từ đó đòi hỏi cần có sự ứng phó chủ động và kiểm soát tốt để bảo đảm chủ quyền, an ninh cho người dân và đất nước.
Cuộc CMCN 4.0 là cuộc cách mạng thể hiện sự kết hợp của công nghệ trong các lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học, tạo ra thời đại công nghệ thông tin kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực thể, vạn vật đều kết nối Internet và các hệ thống kết nối Internet diễn ra trên phạm vi toàn cầu, thúc đẩy xã hội loài người tiến vào kỷ nguyên mới, với những thành tựu đỉnh cao, đem lại hiệu quả cao phục vụ con người. Tuy nhiên, cuộc CMCN 4.0 cũng đang đặt ra những thách thức to lớn. Theo Diễn đàn kinh tế thế giới, những lĩnh vực chịu tác động trực tiếp và mạnh mẽ từ cuộc cách mạng này bao gồm: (1) Cơ sở dữ liệu tập trung (Big Data); (2) Thành phố thông minh (Smart Cities); (3) Tiền ảo (Blockchain/Bitcoin); (4) Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence); (5) Năng lượng tái tạo/Công nghệ sạch (Renewable Energy/Clean-tech); (6) Công nghệ tài chính (FinTech); (7) Thương mại điện tử (E-Commerce); (8) Người máy (Robotics); (9) Công nghệ in 3D (3D Printing); (10) Kết nối thực ảo (Virtual/Augmented Reality); (11) Các nền kinh tế chia sẻ (Shared Economies); (12) Internet kết nối vạn vật (IoT); (13) Công nghệ Nano/Vật liệu 2D (Nanotechnology/2D Materials); (14) Công nghệ sinh học/Biến đổi gene và cách mạng nông nghiệp (Biotechnology/Genetics & Agricultural Innovation) và; (15) Khử muối lọc nước ngọt. Vì vậy, đứng trước nhiều thách thức và bối cảnh cách mạng này, đòi hỏi trong chính sách, pháp luật hình sự của Nhà nước phải có những thay đổi, ứng phó xử lý trước tình hình, xu thế diễn biến của tội phạm và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, cũng như thực tiễn điều chỉnh của pháp luật hình sự về vấn đề này, bảo đảm sự ổn định và phát triển đất nước đi kèm với bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Trước hết, trên phương diện lý luận, chính sách hình sự đã có nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu. Cụ thể, gắn với cách tiếp cận truyền thống, các học giả, nhà nghiên cứu và cán bộ thực tiễn cơ bản đều thống nhất về nội dung, các bộ phận cấu thành và chủ thể ban hành chính sách hình sự mặc dù có nhiều cách tiếp cận với mức độ rộng, hẹp khác nhau . Tuy nhiên, đều coi chủ thể ban hành chính sách hình sự với tư cách là một trong chính sách xã hội do Nhà nước ban hành (một số quan niệm có cả của chủ thể là cơ quan Đảng ban hành), tập trung coi hiện tượng “tội phạm” là đối tượng đấu tranh phòng và chống của chính sách hình sự, đồng thời với việc kiểm soát tội phạm tốt thì Nhà nước cần tập trung vào hoàn thiện các chính sách xã hội khác. Nội dung trong chính sách hình sự tập trung nhất vào vấn đề chính sách về tội phạm (cụ thể là về quá trình lập pháp chính – tội phạm hóa và phi tội phạm hóa, hình sự hóa và phi hình sự hóa, cùng với một số vấn đề khác), cũng như việc tổ chức đấu tranh phòng, chống tội phạm. Vì vậy, tiếp cận theo cách truyền thống này, để hoạch định được một chính sách hình sự khả thi, đúng đắn, đòi hỏi chính sách hình sự phải dựa trên các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước, cũng như các chính sách xã hội khác (kinh tế, văn hóa, xã hội…), các điều kiện lịch sử – truyền thống, thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm để thông qua đó, Nhà nước có thể hoạch định được các đường lối, chủ trương lớn và sử dụng đúng và đủ pháp luật hình sự (đủ liều lượng và đúng pháp luật) vào việc bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia, các lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của tổ chức, qua đó nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Thông qua chính sách hình sự bảo đảm xây dựng nền tảng chính trị – pháp lý vững chắc và ổn định, cùng với đó là việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự nói chung, hệ thống tư pháp hình sự trong tương lai tương thích để điều chỉnh được những thay đổi của các quan hệ xã hội, cũng như sự tăng, giảm của tình hình tội phạm và mức độ trấp áp, răn đe hay giáo dục, phòng ngừa, hướng thiện trong Bộ luật hình sự. Đặc biệt, ở mức độ rộng hơn, chính sách hình sự còn góp phần tìm hiểu nguyên nhân của tội phạm, nghiên cứu các biện pháp đối phó với tội phạm, dự báo tội phạm và những thay đổi của tội phạm, cũng như tìm ra điểm hạn chế trong hệ thống tư pháp hình sự hiện hành để tiếp tục hoàn thiện hơn.
Tuy nhiên, CMCN 4.0 là cuộc cách mạng chưa từng có trong lịch sử nhân loại, đồng thời trong tương lai có thể có những cuộc cách mạng tiếp theo. Hiện nay, mặc dù nhân loại mới bước vào giai đoạn bắt đầu của cách mạng này nhưng kỷ nguyên công nghiệp 4.0 đã đưa đến những khả năng hoàn toàn đột phá và có tác động sâu sắc đối với các hệ thống chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa của thế giới. Hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật hình sự nói riêng và định hướng dẫn đường của chính sách hình sự cũng không thể nằm ngoài những tác động to lớn của cuộc CMCN 4.0 này. Những tác động đa chiều đó đem lại nhiều thuận lợi, tiện ích to lớn (ví dụ: công nghệ cấy ghép, siêu máy tính bỏ túi, dịch vụ lưu trữ, Internet kết nối vận vật, thành phố thông minh, ôtô không người lái, trí tuệ nhân tạo…) , nhưng cũng có các mối đe dọa, tiềm ẩn nguy cơ nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự an toàn xã hội và quyền con người, quyền công dân… đòi hỏi phải được định danh, nhận diện sớm và rõ để Nhà nước có chính sách hình sự phù hợp và tổ chức lại hệ thống pháp luật hình sự bảo đảm ứng phó, thích nghi một cách phù hợp, hiệu quả, bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay.
Do đó, trước thách thức CMCN 4.0, ngoài những yếu tố trên, chính sách hình sự đòi hỏi cần dựa trên nền tảng (thành tựu/ứng dụng) của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Vì vậy, dưới góc độ khoa học, khái niệm đang nghiên cứu được định nghĩa như sau: Chính sách hình sự Việt Nam trước thách thức CMCN 4.0 là các chủ trương, đường lối, sách lược lớn của Nhà nước trong việc sử dụng pháp luật hình sự vào hoạt động đấu tranh phòng và chống tội phạm, định hình những vấn đề pháp lý hình sự và cụ thể hóa các quan điểm, thái độ xử lý đối với những vấn đề đó trên nền tảng các chính sách xã hội kết hợp với thành tựu cách mạng khoa học và công nghệ, góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự quốc gia, đáp ứng yêu cầu xã hội trong xu thế toàn cầu hóa và phòng, chống tội phạm.
1.2. Đặc điểm
Như vậy, gắn với thách thức của CMCN 4.0, chính sách hình sự trong giai đoạn này phản ánh các đặc điểm cơ bản sau:
a. Chính sách hình sự là các chủ trương, đường lối, sách lược lớn do Nhà nước ban hành. Các chủ trương lớn này liên quan đến vấn đề hình sự mà thực tiễn đặt ra hoặc cần dự báo để ứng phó với những vấn đề hình sự của thực tiễn.
b. Nội dung của chính sách hình sự là việc Nhà nước sử dụng pháp luật hình sự vào hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm, định hình những vấn đề pháp lý hình sự và cụ thể hóa các quan điểm, thái độ xử lý đối với những vấn đề đó.
c. Chính sách hình sự được xây dựng dựa trên nền tảng là các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước, các chính sách xã hội khác (kinh tế, văn hóa, xã hội…), các điều kiện lịch sử – truyền thống, thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như kết hợp bổ sung là nền tảng của cách mạng khoa học và công nghệ.
d. Chính sách hình sự góp phần xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự quốc gia đáp ứng yêu cầu phát triển tương ứng của xã hội trong giai đoạn toàn cầu hóa, cũng như bảo đảm an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền con người, quyền công dân. Toàn cầu hóa mang tính tổng thể và đa diện hơn, nhấn mạnh sự rút ngắn về thời gian và không gian, khiến cho không một quốc gia nào có thể biệt lập với phần còn lại của thế giới, mà các quốc gia tương thuộc và tác động qua lại lẫn nhau . Toàn cầu hóa với sự gia tăng sự trao đổi ở mọi cấp độ cũng như sự bùng nổ các dòng dịch chuyển không ngừng của hoạt động tài chính, thương mại và công nghiệp, đã tạo nên hiệu ứng “dồn nén thời gian và không gian” , dẫn tới “sự thủ tiêu không gian và thời gian”, khiến cho biên giới quốc gia – một trong những biểu tượng của quyền lực nhà nước và chủ quyền quốc gia dần trở “trống rỗng” , thoát khỏi sự kiểm soát của Nhà nước. Sự suy yếu của biên giới quốc gia còn đến từ sự tác động của các tiến bộ khoa học – công nghệ mang đến cho cá nhân và các chủ thể khác các phương tiện hữu hiệu hơn để “thoát khỏi” khỏi sự kiểm soát của biên giới quốc gia – sự kiểm soát truyền thống của Nhà nước , từ đó, dẫn đến phát sinh tội phạm xuyên quốc gia, xuyên biên giới.
đ. Cùng với đó, chính sách hình sự đặt ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực công nghệ thông tin với tư cách là nền tảng của khoa học và công nghệ vì cuộc CMCN 4.0 mang lại sự đột phá của công nghệ thông tin, công nghệ thông tin chiếm hữu mọi thứ, Internet kết nối mọi vấn đề trong xã hội thì cần một chính sách pháp lý đồng bộ, có hệ thống và phù hợp để quản lý quyền riêng tư của công dân, cũng như sự an toàn của an ninh mạng, an ninh đất nước. Vì vậy, toàn bộ hệ thống pháp luật liên quan đến công nghệ thông tin như: Luật Công nghệ cao năm 2008, sửa đổi năm 2013, 2014; Luật Công nghệ thông tin năm 2006; Luật An ninh thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018… và hệ thống văn bản tạo hàng lang pháp lý điều chỉnh các lĩnh vực cụ thể như: trí tuệ thông minh, tiền ảo, công nghệ in 3D… đòi hỏi cũng phải được hoàn thiện, vì đây là những lĩnh vực mà nguy cơ bị tấn công và đe dọa ngày càng nhiều, các đối tượng cũng lợi dụng để tiến hành thực hiện các hành vi phạm tội.

2. Những tác động tích cực, các thách thức CMCN 4.0 đặt ra đối với chính sách hình sự và việc xây dựng, áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam

2.1. Những tác động tích cực
Như vậy, đánh giá đúng tầm vóc, vai trò và nhận thức đúng về thành tựu, ứng dụng tích cực, hiệu quả cao mà CMCN 4.0 giúp cho xã hội, gắn riêng với chính sách, pháp luật hình sự Việt Nam cho thấy những tác động tích cực mà cuộc cách mạng này đem lại như sau:
a. Phục vụ cho việc phát triển trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đào tạo pháp luật của đất nước. Với sự phát triển của khoa học và công nghệ, CMCN 4.0 đặt ra hàng loạt vấn đề pháp lý cho việc nghiên cứu, đào tạo về pháp luật trong các cơ sở đào tạo của đất nước.
b. Phục vụ đắc lực cho công tác nghiên cứu chính sách hình sự, xây dựng và áp dụng (thi hành) pháp luật hình sự. Trước hết, các ứng dụng công nghệ thông tin đã cung cấp phương tiện làm việc hiệu quả cao, phục vụ đắc lực cho công tác nghiên cứu, hoạch định chính sách hình sự, xây dựng cũng như áp dụng (thi hành) pháp luật hình sự. Theo đó, nhờ có sự hỗ trợ hiệu quả của các phương tiện công nghệ, những hoạt động khảo sát, đánh giá đối tượng nghiên cứu, thể hiện, trình bày, lưu trữ kết quả nghiên cứu giúp cho việc nghiên cứu trong khoa học luật hình sự được tiến hành thuận lợi, hiệu quả, từ đó đưa ra chiến lược, kế hoạch toàn diện và chính xác trong chính sách hình sự.
Ví dụ: Công nghệ dự báo tội phạm – chương trình này được gọi là PredPol, nó tính toán các dự báo dựa trên thời gian và địa điểm các vụ phạm tội đã từng xảy ra trước đó, kết hợp cùng với những thông tin xã hội học về hành vi và hình mẫu của các vụ phạm pháp. Công nghệ này được thử nghiệm ở khu vực Santa Cruz, thuộc cảnh sát bang California (Mỹ) suốt 1 năm qua và trong 6 tháng gần đây bởi cảnh sát Los Angeles đã cho thấy một kết quả đầy hứa hẹn. Công nghệ dự báo này cũng được các tập đoàn như Wal-Mart và Amazon dùng để xác định xu hướng mua sắm của người tiêu dùng. Chìa khóa thành công của công nghệ dự báo tội phạm là thu thập càng nhiều dữ liệu càng tốt để xác định đặc điểm tội phạm.
Ngoài ra, phương tiện công nghệ cao cũng là một điều kiện thiết yếu phục vụ công tác phòng ngừa tội phạm, đấu tranh xử lý nhanh và triệt để, cũng như việc thi hành pháp luật hình sự (các phương tiện theo dõi, giám sát, định vị, lưu trữ, nhận dạng tra cứu, quản lý…), đặc biệt là sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong lưu trữ, nhận dạng người phạm tội . Thậm chí, theo South China Morning Post, tù nhân ở Trung Quốc sẽ không còn cơ hội trốn thoát. Mỗi camera được trang bị một hệ thống theo dõi thông minh có thể nhận ra những hoạt động đáng ngờ. Hiện tại, hệ thống này đang được thử nghiệm trong nhà tù VIP, nơi giam giữ những tù nhân đặc biệt. Nhà tù Diêm Thành (Yancheng) ở tỉnh Hà Bắc của Trung Quốc được trang bị camera giám sát dựa trên trí tuệ nhân tạo. Các thiết bị được đặt trong mỗi phòng giam sẽ giám sát tù nhân và xác định các kiểu hành vi bất thường. Mạng nơ-ron được dạy để nhận ra hành động của tội phạm và dự đoán nguy cơ trốn thoát. Trong trường hợp có hoạt động đáng ngờ, thuật toán sẽ bật còi báo động, sẽ thông báo cho lính canh. Ngoài ra, người ta cho rằng công nghệ thông minh sẽ loại bỏ khả năng hối lộ. Ngay cả khi tù nhân mua chuộc người giám sát, anh ta vẫn sẽ không thể có tác động gì đến hoạt động của thuật toán . Hay ở Braxin, trí tuệ nhân tạo được sử dụng để phòng ngừa, xử lý tham nhũng. Theo đó, dự án để kiểm soát các chi phí của các chính trị gia đất nước này bằng cách tạo ra rô-bốt phân tích trực tuyến các đại biểu đất nước chi tiêu theo hạn ngạch từng việc để rô-bốt phát hiện ra các bất thường về chi phí đi lại, ăn uống, vé máy bay, chỗ ở…
c. Nhanh chóng kết nối bao trùm thông tin, dữ liệu để phục vụ công tác điều tra, xử lý và kết nối thông tin, dữ liệu phòng, chống tội phạm. Khả năng kết nối bao trùm của Internet toàn cầu giúp các nhà lập pháp tiếp cận nhanh chóng, thuận tiện, khai thác có hiệu quả một khối lượng khổng lồ dữ liệu số liên quan đến những xu hướng, kinh nghiệm lập pháp hình sự tiến bộ, hữu ích từ khắp nơi trên thế giới, cũng như nhanh chóng nhận được phản hồi đa chiều từ nhiều tầng lớp dân cư trong xã hội đối với chính sách, pháp luật hình sự đã hoặc dự kiến sẽ được Nhà nước ban hành.
Ví dụ: Hệ thống nhận biết tên miền – Domain Awareness System (DAS) do Microsoft phát triển có thể cung cấp ngay lập tức một số lượng lớn thông tin cho nhân viên an ninh về những đối tượng mà họ đang theo dõi, vượt trội hẳn so với các mạng lưới camera giám sát đơn giản. Không chỉ cung cấp dữ liệu video trực tiếp mà hệ thống cũng sẽ ngay lập tức hiển thị hồ sơ tiền án của các đối tượng liên quan trong khu vực và các dữ liệu khác hình thành nên một bức chân dung của cá nhân đang bị giám sát. Thậm chí ô tô liên quan đến một nghi phạm cũng sẽ được hiển thị thông tin đã ở đâu vài tháng trước đó. Với cách thức như vậy, hệ thống sẽ giúp các nhân viên điều tra có thể “tua” lại đoạn phim truy tìm những người còn lại trong bất kì vụ việc đáng nghi nào. Có thể nói, hệ thống trên là một công cụ sáng tạo, hứa hẹn một cuộc cách mạng hóa trong việc thực thi pháp luật, hoạt động tình báo và an toàn công cộng…
d. Việc ban hành các kế hoạch, sách lược, chương trình để đề ra cách thức phòng ngừa, chống tội phạm kịp thời và ban hành quyết định, thực hiện các hoạt động phòng ngừa, điều tra tội phạm đến các hoạt động phòng ngừa các hậu quả (thiệt hại) cho xã hội như: cứu hộ, cứu nạn, phòng cháy, chữa cháy… được nhanh chóng, hiệu quả hơn khi có thành tựu, ứng dụng của khoa học và công nghệ. Tại Hàn Quốc, nước này đã thiết lập hệ thống phát hiện và xử lý các đe dọa tấn công mạng dựa trên trí thông minh nhân tạo, ví dụ: Trung tâm dữ liệu lớn về an ninh mạng đang vận hành và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư bảo vệ an ninh mạng. Thiết lập các quy tắc đạo đức cho người phát triển và sử dụng công nghệ thông minh để tránh tình trạng lạm dụng năm 2018 . Ngoài ra, khả năng kết nối này còn là cầu nối quan trọng của công tác hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm giữa các vùng miền, địa phương, quốc gia, khu vực trên thế giới… từ đó, xây dựng chương trình quốc tế về hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
đ. Tăng cường hiệu quả cao trong công tác tuyên truyền, phổ biến, tiếp cận văn bản pháp luật hình sự. Việc số hóa tri thức, thông tin, tài liệu, văn bản pháp luật và truyền tải rộng rãi qua kết nối Internet giúp cho chính sách, pháp luật của nhà nước nói chung, quy định pháp luật hình sự nói riêng được tuyên truyền, phổ biến và việc tiếp cận văn bản pháp luật hình sự rộng rãi tới mọi tầng lớp dân cư, nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật, tư vấn pháp luật giúp nhân dân… , cũng như định hướng dư luận xã hội tốt trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
e. Tiết kiệm chi phí trong hoạt động xử lý tội phạm. Theo đó, nhờ ứng dụng khoa học và công nghệ trong phòng, chống tội phạm, việc xử lý sẽ tiết kiệm chi phí cho Nhà nước, xã hội, qua đó, thực hiện các nhiệm vụ khác của đất nước.
2.2. Các thách thức đặt ra
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích đã nêu, cuộc CMCN 4.0 cũng đặt ra nhiều thách thức đối với công tác xây dựng, áp dụng pháp luật hình sự, trong đó có việc hoạch định chính sách hình sự như sau:
a. Làm lạc hậu về nhận thức và trong nghiên cứu khoa học, trong đào tạo về nhiều vấn đề của pháp luật hình sự. Những biến đổi do cách mạng khoa học và công nghệ đem lại làm lạc hậu những nhận thức truyền thống về tội phạm khi có sự thay đổi về khách thể của tội phạm, hậu quả của tội phạm, địa điểm (nơi) xảy ra tội phạm, chủ thể của tội phạm… trong toàn bộ hệ thống lý luận, sách báo pháp lý, giáo trình trong lĩnh vực tư pháp hình sự… đòi hỏi phải có sự đầu tư, phân tích, nghiên cứu và triển khai mới.
Ví dụ: đối tượng tác động của tội phạm trong môi trường được tạo ra bởi công nghệ có thể là một giá trị, tài sản ảo. Hậu quả của tội phạm theo nhận thức truyền thống là thiệt hại cho xã hội nhưng trong thời đại công nghệ, hậu quả của tội phạm có thể xảy ra trong môi trường ảo, không phải môi trường thực tế mà con người sinh sống. Nơi thực hiện tội phạm có thể rất xa với nơi xảy ra hậu quả, hậu quả của tội phạm thậm chí xảy ra ở nhiều nơi trên toàn thế giới, khả năng tìm kiếm, phát hiện, xử lý đối tượng gặp nhiều khó khăn. Cùng với đó, kéo theo đối với số lượng rất lớn cá nhân, tổ chức phạm tội có thể dẫn đến xung đột về hiệu lực theo không gian của pháp luật hình sự, mâu thuẫn (tranh chấp) trong xác định thẩm quyền tài phán đối với các hành vi và chủ thể phạm tội…
b. Hoạt động sử dụng các thành tựu, tiến bộ của khoa học và công nghệ làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội truyền thống và thực hiện hành nguy hiểm cho xã hội mới. Các thành tựu của cách mạng công nghệ đương nhiên sẽ bị lợi dụng làm phương tiện phạm tội khiến không chỉ hành vi phạm tội đang được Bộ luật hình sự điều chỉnh (quy định) làm công tác phát hiện, xử lý gặp nhiều khó khăn, trở ngại, mà còn phát sinh thêm nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội mới, thủ đoạn tinh vi, phức tạp, có khả năng gây hậu quả trên phạm vi lớn, khó phát hiện, đấu tranh hơn, nhất là trong một số lĩnh vực như: công nghệ thông tin, viễn thông, tài chính, ngân hàng… hoặc các hành vi phạm tội xuyên quốc gia như: buôn lậu ma túy, rửa tiền, khủng bố…
c. Nguy hiểm hơn, nhờ khả năng kết nối vạn vật (IoT) và hệ thống siêu dữ liệu (Big Data) có thể các chủ thể tiến hành phát tán các thông tin, tài liệu giá trị văn hóa phản nhân văn, độc hại, cực đoan, xúc phạm lãnh đạo, tuyên truyền chống Nhà nước, hoạt động khủng bố chống phá Nhà nước, phản đối chế độ xã hội chủ nghĩa… trên lĩnh vực an ninh chính trị, an ninh tư tưởng. Nếu trước đây, các tội phạm truyền thống (hành vi phạm tội thực hiện thông thường, xảy ra trên lãnh thổ quốc gia, xâm phạm đến các quan hệ được pháp luật hình sự bảo vệ, việc phát hiện, xử lý theo cách truyền thống là được…) thì nay, trước thách thức CMCN 4.0 vẫn xảy ra nhưng có biến đổi phức tạp do sự hỗ trợ của các phương tiện công nghệ làm cho việc phát hiện, xử lý gặp khó khăn hơn rất nhiều.
Ví dụ: Cảnh sát Mỹ vừa bắt giữ một công dân 25 tuổi có tên Jorge Edwin Rivera, cách biên giới khoảng 1,83 km sau khi phát hiện ra thiết bị bay không người lái chở đồ vật khả nghi của người này. Theo đó, người đàn ông cho biết anh ta sử dụng thiết bị bay không người lái (drone) để vận chuyển lượng ma túy nặng 5,9 kg trên đường biên từ Mexico sang San Diego (Mỹ)…
Hoặc ở Việt Nam, thời gian vừa qua, tội phạm sử dụng công nghệ cao tại Việt Nam có xu hướng gia tăng, diễn biến phức tạp và ngày càng tinh vi, thủ đoạn liên tục thay đổi để lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các hình thức như: lừa đảo qua Facebook, giả danh cơ quan bảo vệ pháp luật và cơ quan nhà nước, lừa đảo qua các giao dịch thương mại điện tử… Tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; mua bán, trộm cắp, sử dụng thông tin thẻ tín dụng của người khác để chiếm đoạt tài sản; tội phạm đánh bạc bằng các hình thức lô đề, cá độ bóng đá qua Internet…
Ngoài ra, thông qua kết nối không giới hạn bởi không gian địa lý, tội phạm có khả năng xâm hại số lượng nạn nhân khổng lồ ở nhiều nơi, hậu quả cho xã hội ở nhiều nơi, xâm phạm đến quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là quyền bí mật thông tin… Cùng với đó, các dấu vết của tội phạm không để lại trên môi trường vật chất… làm cho khó phát hiện, điều tra và xử lý.
c. Có thể làm phát sinh chủ thể của tội phạm mới trong tương lai. Bộ luật hình sự nhiều quốc gia, trong đó có Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 đã bổ sung thêm chủ thể của tội phạm là pháp nhânthương mại cùng với cá nhân phạm tội. Pháp nhân được coi là một thực thể trừu tượng được tạo ra bởi pháp luật. Tuy nhiên, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, siêu thông minh – rô-bốt… trong một tương lai không xa có thể có những biến đổi đột biến to lớn về lĩnh vực này do sự phát triển của trí tuệ nhân tạo. Cùng với đó, những cỗ máy mang trí tuệ nhân tạo đã và ngày càng có khả năng tư duy, trí tuệ, cảm xúc và hành động độc lập, toàn diện hơn con người, thậm chí đòi khả năng bình đẳng như con người . Khái quát hơn, AI có thể được mô tả ngắn gọn là khoa học làm cho máy móc trở nên thông minh, để có thể thực hiện các nhiệm vụ thường đòi hỏi trí thông minh của con người. Lái xe, giao dịch cổ phiếu tại sàn giao dịch chứng khoán và xác định mục tiêu quân sự trong chiến tranh là những ví dụ về các nhiệm vụ cần thiết trí tuệ con người . Ngày nay, có những AI có thể thực hiện các nhiệm vụ chính xác giống nhau mà không cần có con người tham gia . Song, đồng thời chúng cũng có thể có hành động lệch chuẩn , xâm phạm an ninh, trật tự xã hội và quyền con người mà pháp luật hình sự thiết lập, bảo vệ. Một thực thể trừu tượng được tạo ra bởi pháp luật như pháp nhân thì sự ghi nhận tương tự có lẽ cũng sớm được đặt ra đối với những cỗ máy mang trí tuệ nhân tạo – những thực thể được con người tạo ra nhưng càng ngày càng giống con người, thậm chí siêu việt hơn con người ở nhiều phương diện… còn gọi là “điện tử nhân” (hay rô-bốt) với nhiều khả năng như chiến tranh, giúp việc gia đình, y tế, pháp lý… nhưng cũng có khả năng thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đến tính mạng, sức khỏe con người… (sau khi là chủ thể của quan hệ pháp luật sẽ là chủ thể của tội phạm). Đặc biệt, các nhà nghiên cứu AI thế giới cho rằng, đến một lúc nào đó chúng sẽ phát triển vượt ra khỏi tầm kiểm soát của con người, đồng thời đưa ra các cảnh báo về cuộc thảm họa có thể xảy ra trong tương lai và có thể dẫn đến nguy hiểm cho cho người: (1) AI có khả năng giả dạng con người dẫn đến tiếp tay cho việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản; (2) AI có thể đọc được suy nghĩ của con người dẫn đến đe dọa đến sự an toàn cho con người; (3) AI có thể thành thạo trong mọi việc nhanh chóng hơn con người dẫn đến khả năng mất kiểm soát; (4) AI “mẹ” có thể tạo ra các AI “con” và các khả năng tương ứng như trên, có khả năng đe dọa đến sự an toàn của con người; (5) AI có khả năng gây ra chiến tranh thế giới lần thứ III.

3. Những định hướng lớn cần hoạch định triển khai nghiên cứu trong chính sách, pháp luật hình sự Việt Nam trước thách thức CMCN 4.0

Như vậy, những lợi ích to lớn mà CMCN 4.0 đem lại đối với nhân loại nói chung đang đặt ra khó khăn đối với nghiên cứu về chính sách hình sự cũng như việc xây dựng, áp dụng pháp luật hình sự nói riêng là vô cùng cấp bách. Cuộc CMCN 4.0 này cũng là xu thế tiến bộ vượt bậc và tất yếu mà Việt Nam không thể đứng ngoài quy luật thích ứng theo. Bởi vậy, trong quá trình tiến hành, khai thác thành tựu của cuộc cách mạng này, chỉ có thể nỗ lực ứng phó với những thách thức, mối đe dọa mà nó đặt ra, trong đó có trên phương diện chính sách hình sự. Cho nên, để đáp ứng yêu cầu đó, việc nghiên cứu, hoạch định chính sách hình sự và xây dựng, áp dụng pháp luật hình sự cần có tính cập nhật, phù hợp với biến đổi nhanh chóng của thực tiễn tội phạm trong thời đại CMCN 4.0 và xu hướng toàn cầu hóa hiện nay.
3.1. Nhận thức thay đổi về tội phạm, trách nhiệm hình sự và chủ thể của tội phạm truyền thống
Trước thách thức CMCN 4.0 nổi lên đó là vấn đề định danh (gọi tên) và xác định trách nhiệm hình sự, chủ thể của tội phạm đối với một loại tội phạm có tên gọi mới – tội phạm phi truyền thống, xuất hiện trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Hiểu một cách chung nhất, tội phạm phi truyền thống là hành vi nguy hiểm cho xã hội có nguồn gốc phi quân sự gây ra cho sự an toàn, ổn định của mỗi con người, cũng như các quốc gia, dân tộc và cộng đồng quốc tế được thực hiện do cố ý từ bất kỳ chủ thể phi nhà nước nào với đặc trưng mới về địa điểm, phương thức, thủ đoạn phạm tội và khách thể của tội phạm. Do đó, sự biến đổi thể hiện khác biệt thể hiện ở đặc điểm xuyên quốc gia thể hiện qua ba phương diện sau:
a. Tính chất xuyên quốc gia thể hiện ở không gian diễn ra tội phạm đối với toàn bộ quá trình thực hiện tội phạm với các trường hợp sau đây: Tội phạm được thực hiện ở ít nhất từ hai quốc gia trở lên (ví dụ hành vi mua người hoặc dụ dỗ người ở Việt Nam đem bán ở Trung Quốc, Thái Lan); tội phạm được thực hiện ở một quốc gia nhưng việc chuẩn bị, lên kế hoạch, chỉ đạo hoặc điều khiển nó lại diễn ra ở một quốc gia khác (Giả sử “ông trùm” của một tổ chức tội phạm ma túy ở Hoa Kỳ chỉ đạo, điều hành các thành viên dưới quyền mua bán ma túy ở Campuchia…);
b. Tính chất xuyên quốc gia thể hiện ở phạm vi ảnh hưởng của tội phạm. Đây chính là sự khác nhau về lãnh thổ quốc gia giữa nơi tội phạm được thực hiện với nơi tội phạm gây ảnh hưởng. Đối với tội phạm không có tính chất xuyên quốc gia thì quốc gia nơi thực hiện tội phạm cũng chính là quốc gia nơi tội phạm gây ảnh hưởng. Tội phạm xuyên quốc gia có thể được thực hiện ở một quốc gia nhưng có ảnh hưởng lớn ở một hoặc nhiều quốc gia khác, ví dụ tội phạm công nghệ cao, từ đây, vấn đề khách thể của tội phạm đòi hỏi phải hoàn thiện…
c. Tính chất đa quốc gia thể hiện ở chủ thể thực hiện tội phạm. Tương tự, đây là trường hợp việc thực hiện tội phạm liên quan đến một nhóm tội phạm có tổ chức tham gia các hoạt động phạm tội ở nhiều quốc gia. Trường hợp chủ thể của tội phạm đơn thuần có quốc tịch khác với quốc gia nơi thực hiện tội phạm không thuộc loại tội phạm này mà là chỉ là tội phạm có yếu tố nước ngoài… Bên cạnh chủ thể thường có thêm một đặc điểm nữa là các đối tượng là những chuyên gia có trình độ cao, sử dụng các công cụ công nghệ với phương thức phạm tội tinh vi, phức tạp, am hiểu các lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, tài chính, ngân hàng…
3.2. Điều chỉnh chính sách hình sự xử lý đối với việc sử dụng những thành tựu phát triển của trí tuệ nhân đạo (AI), vạn vật kết nối – Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn (Big Data)… để phạm tội và vấn đề chủ thể tội phạm mới.
Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) , vạn vật kết nối – Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn (Big Data)… sẽ rất hữu ích cho đời sống xã hội và con người trong giai đoạn hiện nay. Xét riêng trong AI, trong tương lai, nếu được coi là chủ thể có tư cách pháp lý, thì không có lẽ gì sau đó với sự xuất hiện của rô-bốt thông minh nhân tạo siêu việt – siêu rô-bốt (cũng còn có thể gọi là “điện tử nhân”) cũng có thể sẽ được coi là chủ thể của tội phạm. Do đó, ở đây, một số thách thức đặt ra đòi hỏi chính sách, pháp luật hình sự Việt Nam phải giải quyết như:
a. Định nghĩa lại khái niệm tội phạm trong khoa học và sự thể hiện trong Bộ luật hình sự như thế nào. Bởi lẽ, với sự phát triển cao của công nghệ vật lý, công nghệ thông tin… có hành vi của con người và hành vi của rô-bốt thông minh siêu việt có thể thực hiện hành vi nguy hiểm vượt ra khỏi không gian ảo, ngoài trái đất, ở trên vũ trụ hay hành tinh khác… Xét riêng trí tuệ nhân tạo (AI) một mặt được thực hiện thông qua máy móc (một chủ thể nhân tạo là rô-bốt) có thể gây ra những thiệt hại không thể tính toán về mặt vật chất được và xâm phạm đến những khách thể (quan hệ xã hội) mới mà trước đây chưa được quy định là khách thể được pháp luật hình sự xác lập và bảo vệ. Cũng như thách thức tội phạm phi truyền thống đã nêu trên, thì ở đây, các khái niệm xung quanh “tội phạm” phải cần được nhân thức lại khi hành vi do rô-bốt thực hiện như: hành vi nguy hiểm cho xã hội đáng kể, điều kiện phải chịu trách nhiệm hình sự, không gian, thời gian, địa điểm (nơi) thực hiện hành vi phạm tội… có thể trên không gian ảo, ngoài trái đất, ở trên vũ trụ hay hành tinh khác…
b. Quan niệm về cấu thành tội phạm trong khoa học và sự thể hiện các dấu hiệu trong Bộ luật hình sự như thế nào. Từ khái niệm tội phạm, xuất phát từ bản chất của AI – được phản ánh qua hình thức nhân tạo – máy móc vì vậy trong tương lai khi máy móc thay đổi, có thể tự hoàn thiện bản thân mình, tự kiểm soát sự thể hiện của mình thông qua các thuật toán… tới mức siêu việt, tổ hợp trí tuệ của hàng tỷ dữ liệu, thì quan niệm về cấu thành tội phạm với các yếu tố truyền thống trước đây (khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm) sẽ như thế nào. Đặc biệt, đó là vấn đề khách thể của tội phạm (như: không gian ảo, ngoài trái đất, ở trên vũ trụ hay hành tinh khác…); vấn đề lỗi trong việc xác định trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm hình sự như trường hợp ô-tô không người lái của Google, pháp luật chưa có phương án giải quyết nên vẫn yêu cầu có người ngồi trên xe như một giải pháp dự liệu cho mục đích xác định trách nhiệm… . Ở mức độ khoa học viễn tưởng hơn nữa, trường hợp “khả năng tự nhận thức” của AI nếu dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng (ví dụ hệ thống điều khiển xe dẫn đến tai nạn đặc biệt nghiêm trọng, thì xác định lỗi, trách nhiệm pháp lý (hình sự) của người dùng, người giám sát, các nhà phát triển AI như thế nào…) trong quá trình xử lý…
c. Quan niệm về chế tài hình sự áp dụng đối với rô-bốt phạm tội thế nào. Rõ ràng, sự thay đổi trong quan niệm về chế tài hình sự là một điều tất yếu khi khái niệm tội phạm thay đổi để áp dụng đối với rô-bốt phạm tội. Trí tuệ nhân tạo là một thứ vô hình tồn tại trong một dạng thức hữu hình vậy đối tượng mà chế tài hình sự nhắm đến là trí tuệ nhân tạo hay là dạng thức vật chất đang chứa trong mình trí tuệ nhân tạo đó? Khi đó, hệ thống chế tài hình sự hiện hành đều trở nên lỗi thời và không thể áp dụng được với chủ thể mới này. Hệ quả tiếp theo là thủ tục tố tụng hình sự và thủ tục thi hành án sẽ phải thay đổi như thế nào, hệ thống cơ sở vật chất ra sao…
d. Khi AI dự báo sai lầm nghiêm trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Xét riêng trong pháp luật hình sự, việc có thể dự báo hành vi phạm tội và nhận dạng người phạm tội trong tương lai, nhưng mặt trái cũng song hành với nó, như việc thay đổi dự liệu, nhận diện sai – nhận dạng từ người cảnh sát, công dân bình thường thành người phạm tội, dẫn đến việc bắt, giữ xử lý nhầm, thậm chí có hoạt động ngăn chặn, xử lý chậm dẫn đến chết người…
đ. Khi AI phát triển siêu siêu việt dẫn đến việc phát triển các vũ khí giết người tự động, hiện đại, đe dọa an ninh và hòa bình khu vực, thế giới. Về khía cạnh tích cực, AI có thể được sử dụng với mục đích giúp chiến trường trở thành nơi an toàn hơn, giảm tối đa các thương vong cho binh sĩ. Tuy nhiên, cũng chính những mặt lợi này lại khiến nhiều chuyên gia, chính khách lo ngại hơn vì nó cũng sẽ giúp các nhà lãnh đạo quốc gia đi đến quyết định phát động chiến tranh nhanh hơn, quyết liệt hơn qua đó dễ gây ra hậu quả rất lớn đối với xã hội, đến tính mạng, sức khỏe của nhiều người… do xuất hiện vũ khí giết người tự động, hiện đại và hàng loạt. Do đó, phát sinh trách nhiệm, nghĩa vụ của các quốc gia trong việc ngăn chặn, phòng ngừa vấn đề này ra sao và cụ thể hóa trong chính sách, pháp luật hình sự quốc gia thế nào…
Như vậy, sự xuất hiện của rô-bốt thông minh nhân tạo – siêu rô-bốt (có thể gọi là điện tử nhân) với nhiều khả năng siêu việc và tương lại trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật và chủ thể của tội phạm, nếu thực hiện hành vi nguy hiểm xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người, xâm phạm đến an ninh, trật tự xã hội, đòi hỏi trong chính sách hình sự dự kiến về thách thức, mối đe dọa để phòng ngừa rô-bốt gây nguy hiểm cho con người, nhưng cũng có cơ chế kiểm soát, khống chế rô-bốt và bảo đảm sự an toàn cho xã hội loài người.
3.3. Xu hướng tội phạm hóa, hình sự hóa trong chính sách hình sự để ứng phó trước thách thức CMCN 4.0
Hiện nay, nội dung chủ yếu của các công ước quốc tế về các loại tội phạm phi truyền thống là quy định về nghĩa vụ tội phạm hóa (Criminalization) của các nước thành viên. Các công ước chỉ ra những hành vi mà mỗi quốc gia thành viên cần xác lập trong pháp luật hình sự của mình là tội phạm. Việc xác lập những hành vi là tội phạm trên tiêu chí chung thống nhất như vậy giúp cho các quốc gia thành viên đạt được sự tương thích về pháp luật và có cơ sở cho việc hợp tác thực hiện các hoạt động phát hiện, trấn áp và phòng ngừa các tội phạm phi truyền thống mà cộng đồng thế giới cùng lên án. Trong bối cảnh này, vấn đề đã nêu thể hiện ở việc tiếp tục tội phạm hóa những hành vi nguy hiểm phát sinh trong hoạt động công nghệ hoặc khai thác, sử dụng công nghệ hiện đại, sử dụng rô-bốt phạm tội…
Cùng với đó, là việc tiếp tục hình sự hóa qua việc ghi nhận các phương thức, thủ đoạn phạm tội mới trong mặt khách quan của tội phạm truyền thống do sử dụng công nghệ hiện đại, hay tăng cường mức độ trấn áp về hình sự các trường hợp sử dụng công nghệ để phạm tội… Cụ thể, trước đây, hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện theo phương thức, thủ đoạn phạm tội có đầy đủ yếu tố cấu thành tội phạm đã được quy định trong Bộ luật hình sự quốc gia, thường được thực hiện trên lãnh thổ phạm vi của quốc gia thì nay, thách thức về phương pháp, cách thức, thủ đoạn thực hiện các tội phạm thường thể hiện dưới dạng tội phạm có tổ chức, phạm tội nhiều lần và có tính chuyên nghiệp cao… với mạng lưới tội phạm từ khu vực đến toàn cầu, diễn ra trên nhiều nước và địa điểm khác nhau.
Ngoài ra, tiếp tục là việc hình sự hóa qua hoạt động lập pháp hình sự – bổ sung một số các biện pháp thực hiện trách nhiệm hình sự mới, thích đáng với đặc thù loại tội phạm mới và phòng ngừa tái phạm, các biện pháp trừng phạt liên quan đến phương diện hoạt động công nghệ (ví dụ: tịch thu tài khoản, dữ liệu; cấm truy cập…) hoặc hình phạt đối với rô-bốt (trí tuệ nhân tạo siêu việt) sẽ thế nào… (như đã đề cập).
3.4. Phát sinh vấn đề xác định an ninh không gian mạng là khách thể của tội phạm trong pháp luật hình sự
Hiện nay, trong thời đại toàn cầu hóa và trước thách thức CMCN 4.0, một quốc gia đơn lẻ chắc chắn không thể giải quyết được các vấn đề an ninh mạng, tội phạm mạng mà cần có sự hợp tác trên bình diện quốc tế, cũng như hệ thống pháp luật hình sự quốc gia cần có những quy định bảo đảm an toàn và bảo vệ kịp thời cho khách thể này, vì ngoài liên quan đến an ninh quốc gia, quốc phòng, nó còn liên quan đến các giá trị cơ bản của Internet, bao gồm cả tính riêng tư, tự do ngôn luận và tự do trao đổi thông tin… Luật An ninh mạng năm 2018 đã xác định: “Nhà nước áp dụng các biện pháp để bảo vệ không gian mạng quốc gia; phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng” (Điều 6) với hệ thống phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng bao gồm: Phòng ngừa, xử lý thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (Điều 16); phòng, chống gián điệp mạng; bảo vệ thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và đời sống riêng tư trên không gian mạng (Điều 17); phòng, chống hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội (Điều 18); phòng, chống tấn công mạng (Điều 19); phòng, chống khủng bố mạng (Điều 20); phòng ngừa, xử lý tình huống nguy hiểm về an ninh mạng (Điều 21)… Do đó, khách thể của tội phạm là “an ninh không gian mạng” cần được cụ thể hóa trong pháp luật hình sự quốc gia, tương ứng với điều đó, giá trị tài sản ảo cũng cần phải được nghiên cứu, công nhận là quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ…
3.5. Phát sinh việc xác định hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với tội phạm xảy ra trên không gian ảo và nơi thực hiện tội phạm
Trong quan niệm truyền thống, nơi thực hiện, nơi xảy ra hậu quả của tội phạm phải là một địa điểm cụ thể nào đó nhưng ở các tội phạm phi truyền thống trước thách thức CMCN 4.0 thì những điều đó có thể diễn ra ở một không gian ảo (không gian mạng thông tin). Không gian mạng hay không gian ảo (Ccyberspace) là nơi các máy tính trao đổi dữ liệu, thông tin. Không gian mạng được xem như một trải nghiệm xã hội, các cá nhân có thể tương tác, trao đổi ý kiến, chia sẻ thông tin, cung cấp hỗ trợ xã hội, đạo đức kinh doanh, hành động trực tiếp, tạo ra phương tiện truyền thông nghệ thuật, chơi trò chơi, tham gia vào các cuộc thảo luận chính trị, và như vậy, sử dụng mạng lưới toàn cầu này. Ngoài những thiệt hại là các giá trị vật chất, tinh thần như tội phạm truyền thống, các tội phi truyền thống còn có thể gây ra những thiệt hại bằng các giá trị ảo (các loại tài sản ảo mà việc thừa nhận hay không và quy chế pháp lý còn khác biệt ở các quốc gia). Chẳng hạn, đó là các hành vi lợi dụng sử dụng tiền ảo Bitcoin để phạm tội. Bitcoin là một loại tiền tệ kỹ thuật số được phát hành dưới dạng phần mềm mã nguồn mở. Bitcoin được phát hành năm 2009 bởi một nhân vật bí ẩn có biệt danh Satoshi Nakamoto. Đồng tiền ảo này có thể được trao đổi trực tiếp bằng thiết bị kết nối Internet mà không cần thông qua một tổ chức tài chính trung gian nào. Với những đặc tính quan trọng như ẩn danh, giao dịch không cần lệ phí nên nó ngày càng được nhiều người tin tưởng và chấp nhận. Bitcoin có độ bảo mật cao, xuất hiện và được phân chia hoàn toàn tự động dựa trên các thuật toán và ai cũng có thể sở hữu thông qua việc giải mã các phương trình toán học và đưa ra đáp án, hay còn gọi là “đào”. Hiện nay, bitcoin chưa được xem là hợp pháp nhưng cũng chưa có chế tài ngăn cấm. Ngân hàng Nhà nước mới chỉ đưa ra khuyến cáo các tổ chức, cá nhân không nên đầu tư, nắm giữ và thực hiện các giao dịch liên quan đến Bitcoin cũng như các loại tiền ảo tương tự để tránh rủi ro vì không có cơ chế bảo vệ quyền lợi. Liên quan tới định hướng quản lý đối với tiền ảo tại Việt Nam, ngày 21/8/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1255/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án hoàn thiện khung pháp lý để quản lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo”. Sau đó, ngày 11/4/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ký Chỉ thị 10/CT-TTg yêu cầu tăng cường quản lý các hoạt động liên quan tới Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác. Trong đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ngân hàng nhà nước chỉ đạo các tổ chức tín dụng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán không được thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền ảo trái pháp luật; tăng cường rà soát, báo cáo kịp thời các giao dịch đáng ngờ liên quan tới tiền ảo theo quy định pháp luật. Do đó, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, ngày 13/4/2018, Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã ban hành Chỉ thị số 02/CT-NHNN về “Các biện pháp tăng cường kiểm soát các giao dịch, hoạt động liên quan tới tiền ảo”, trong đó yêu cầu các tổ chức tín dụng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán không được cung ứng các dịch vụ thanh toán, thực hiện giao dịch thẻ, cấp tín dụng qua thẻ, hỗ trợ xử lý, thanh toán, chuyển tiền, bù trừ và quyết toán, chuyển đổi tiền tệ, thực hiện giao dịch thanh toán, chuyển tiền qua biên giới liên quan tới giao dịch tiền ảo cho khách hàng hàng do có thể phát sinh những rủi ro về rửa tiền, tài trợ khủng bố, gian lận, trốn thuế. Ngoài ra, cũng trong Chỉ thị 10/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ cũng có đề cập tới hoạt động đầu tư, mua bán tiền ảo, huy động vốn qua phát hành tiền ảo (ICO), đặc biệt là hoạt động sử dụng tiền ảo để huy động vốn theo phương thức đa cấp ngày càng diễn biến phức tạp, có nguy cơ ảnh hưởng đến sự ổn định thị trường tài chính, trật tự an toàn xã hội và có thể gây rủi ro lớn đối với tổ chức, cá nhân tham gia. Ngân hàng nhà nước cũng đã có cảnh báo nhiều lần về hình thức huy động vốn đa cấp tiền ảo. Cơ quan quản lý cũng nhấn mạnh việc những đồng tiền ảo như Bitcoin hay iFan không phải là đồng tiền thanh toán hợp pháp tại Việt Nam. Đồng nghĩa với việc phát hành, cung ứng, sử dụng Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác làm phương tiện thanh toán là hành vi bị cấm. Do đó, từ 01/01/2018, hành vi phát hành, cung ứng, sử dụng các phương tiện thanh toán không hợp pháp, bao gồm cả Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 206 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi năm 2017 về tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng.
Ngoài ra, về nơi thực hiện tội phạm (truyền thống), mặc dù Bộ luật hình sự năm 2015 đã bổ sung thêm đoạn 2 khoản 1 Điều 5 gián tiếp đề cập đến vấn đề này: “Quy định này cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam”. Tuy nhiên, để ứng phó trước thách thức CMCN 4.0, người viết cho rằng, so với chính sách, pháp luật hình sự các nước trên thế giới (ví dụ: Cộng hòa Liên bang Đức , Phần Lan ), rõ ràng quy định này vẫn chưa bao quát một số trường hợp xảy ra như trường hợp có đồng phạm, chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt… để giải quyết bài toán hành vi phạm tội gây hậu quả cho xã hội ở một hoặc nhiều nơi khác nhưng những hoạt động đã nêu lại không xử lý được khi bị phát hiện vì xảy ra ở nơi khác. Vì vậy, cần có định hướng, quy định xác định bổ sung các trường hợp trên cũng coi là “nơi thực hiện tội phạm” để thuận lợi cho thực tiễn áp dụng, phù hợp với chuẩn mực pháp luật quốc tế và pháp luật hình sự các nước, cũng như yêu cầu phòng và chống tội phạm, cũng như vì mục đích bảo vệ sự ổn định của hòa bình và an ninh nhân loại là trách nhiệm chung của các quốc gia trên thế giới.
3.6. Phát sinh vấn đề đổi mới chính sách, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự, hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan, yêu cầu tăng cường hợp tác quốc tế, cũng như công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Chính sách hình sự theo nghĩa rộng bao gồm chính sách pháp luật hình sự (luật nội dung), pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự và pháp luật về tổ chức và hoạt động của một số cơ quan tư pháp hình sự (luật hình thức), còn theo nghĩa hẹp được nghiên cứu trong bài viết này là chính sách pháp luật hình sự (TG). Do đó, khi đổi mới chính sách, pháp luật hình sự cũng có nghĩa đồng thời phải đổi mới chính sách, pháp luật pháp luật của các luật hình thức… trên cơ sở những định hướng cơ bản trong chính sách, pháp luật hình sự.
Cùng với đó, chính sách hình sự đặt ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực công nghệ thông tin như:
– Luật Công nghệ cao năm 2008, sửa đổi năm 2013, 2014;
– Luật Công nghệ thông tin năm 2006;
– Luật An ninh thông tin mạng năm 2015;
– Luật An ninh mạng năm 2018…
– Hệ thống các văn bản tạo hàng lang pháp lý điều chỉnh các lĩnh vực cụ thể như: trí tuệ thông tin, tiền ảo, công nghệ in 3D… tạo hệ thống toàn diện trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trước thách thức CMCN 4.0.
Ngoài ra, thường xuyên tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm với khu vực và toàn cầu như: hợp tác song phương, đa phương, tham gia các tổ chức phòng, chống tội phạm quốc tế nhằm từng bước tiếp cận, chuyển giao các công nghệ, kỹ năng phòng, chống tội phạm, nắm bắt kiến thức, công nghệ về sử dụng các phương tiện công nghệ, kinh nghiệm phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh chống tội phạm… Đặc biệt, cùng với đó, việc có chính sách liên quan đến xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác lập pháp, hành pháp và tư pháp ứng phó và xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật cũng là xu hướng cần triển khai sớm. Bởi lẽ, cùng với việc đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, phát triển và sử dụng thành thạo các ứng dụng khoa học và công nghệ trong công tác phòng, chống tội phạm, kết hợp với đầu tư kinh phí mua sắm, trang bị các phương tiện hiện đại để phát hiện, thu thập các loại tài liệu, chứng cứ điện tử… phục vụ công tác phát hiện, xử lý thì yêu cầu nâng cao trình độ, chuyên môn cho cán bộ là nhiệm vụ quan trọng để chủ động ứng phó, xử lý…
***
Tóm lại, Việt Nam có những điều kiện và cơ hội để tranh thủ, hưởng lợi từ CMCN 4.0 đem lại cho xã hôi, phục vụ con người và vì con người. Tuy nhiên, những thách thức trên và nhiều hơn nữa đang đặt ra đòi hỏi chính sách hình sự phải kịp thời có sự điều chỉnh, ứng phó và cụ thể hóa kịp thời trong Bộ luật hình sự quốc gia. Nghiên cứu đầu tiên này là khởi đầu để cho những nghiên cứu tiếp theo trong thời gian tới ở nước ta, qua đó, tiếp tục hoàn thiện chính sách hình sự và phục vụ hiệu quả việc áp dụng pháp luật hình sự, bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh toàn cầu hóa và CMCN 4.0 hiện nay./.
PGS.TS. TRỊNH TIẾN VIỆT (Phó Chủ nhiệm Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội)
Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
* Tiếng Việt
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2016.
[2] Nguyễn Thị Quế Anh, Ngô Huy Cương (đồng chủ biên), Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với cải cách pháp luật Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2018.
[3] Chính phủ, CÔNG BÁO/Số 299 + 300, ngày 25/4/2016.
[4] Lê Văn Cảm, Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự(Phần chung), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.
[5] Klaus Schwab, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018.
[6] Hồ Trọng Ngũ, Một số vấn đề cơ bản về chính sách hình sự dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.
[7] Quốc hội, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017.
[8] Quốc hội, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
[9] Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội, 2011.
[10] Đào Trí Úc, Luật hình sự Việt Nam (Quyển 1 – Những vấn đề chung), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000.
[11] Trịnh Tiến Việt, Tội phạm và trách nhiệm hình sự, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2013.
[12] Trịnh Tiến Việt (chủ biên), Pháp luật hình sự Việt Nam trước thách thức an ninh phi truyền thống, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019.
[13] Kevin Kelly, 12 xu hướng công nghệ trong thời đại 4.0, Khánh Linh dịch, Nxb. Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 2018.
[14] Ajay Agrawal, Joshua Gans, Avi Goldfarb, AI trong cuộc cách mạng Công nghệ 4.0, Đào Lợi dịch, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2018.
* Tiếng Trung
[15] 許福生著, 刑事政策學 (Chính sách hình sự), 元照出版公司, 2017.
* Tiếng Anh
[16] Paul Schiff Berman, The Globalization of Jurisdiction, University of Pennsy Ivania Law Review, Vol.151, 2002.
[17] Klaus Schwab, The fourth industrial revolution: What it means, how to respond, World Economic Forum, Geneva, 2016.
[18] Matilda Claussén-Karlsson, Artificial Intelligence and the External Element of the Crime: An Analysis of the Liability Problem, JU101A, Final Thesis for the Law Program, Second Cycle, 30 Credits, Spring 2017.
[19] David Harvey, The Condition of Postmodernity, an enquiry into the origins of cultural change, Oxford; Cambridge: Blackwell, 1989 trích dẫn bởi Robert John Holton, Globalization and the Nation-State. London: Macmillan Press, 1989.
* Website
[20] http://vnu.edu.vn/ttsk/, Nguyễn Đình Đức, Nhật Bản bắt đầu xây dựng xã hội 5.0, truy cập ngày 01/5/2019.
[21] https://www.finlex.fi/en/laki/kaannokset/1889/en18890039.pdf, truy cập ngày 01/5/2019.
[22] http://daibieunhandan.vn/, Thái Anh, Luật cho trí tuệ nhân tạo, truy cập ngày 01/5/2019.
[23] https://hatgiongtamhon.vn/, Vũ T. Hương, Trung Quốc dùng trí tuệ nhân tạo để quản lý nhà tù, truy cập ngày 01/5/2019.
[24] https://www.pavietnam.vn/, TTCN, Phòng, chống tội phạm hữu hiệu nhờ công nghệ, , truy cập ngày 01/5/2019.
[25] https://www.24h.com.vn/, Trà My, Tác hại khôn lường của rô-bốt tình dục, truy cập ngày 01/5/2019.
[26] https://news.zing.vn/, Đức Nam, Dùng drone để vận chuyển ma túy qua biên giới, truy cập ngày 01/5/2019.
[27] http://kenh14.vn/, Tiến Phúc, Năm cảnh báo đáng sợ về thảm họa trí tuệ nhân tạo AI trong tương lai, , truy cập ngày 01/5/2019.
[28] http://vi.sblaw.vn/, VnReview, Trí tuệ nhân tạo đánh bại 20 luật sư hàng đầu nước Mỹ, truy cập ngày 01/5/2019.
[29] https://phapluatvacmcn4.vn/, Kế hoạch ứng phó cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ tư của Hàn Quốc, truy cập ngày 01/5/2019.
[30] Anh Tuấn, Áp dụng trí tuệ nhân tạo trong phòng, chống tham nhũng toàn cầu, https://tapchimattran.vn, truy cập ngày 28/5/2019.

Đánh giá tính công bằng của Luật Thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam hiện hành

Benjamin Franklin đã nói “Không có gì trên thế giới là không thay đổi chỉ trừ cái chết và thuế”, nói như vậy để khẳng định tính tất yếu của thuế trong xã hội. Bởi thuế đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc tạo ra nguồn thu cho ngân sách; thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế và quan trọng hơn là đảm bảo sự công bằngtrong xã hội.

Tính công bằng của thuế cũng chính là một trong những yếu tố để tạo nên một hệ thống thuế tốt. Đối với hệ thống thuế của Việt Nam, tính công bằng đã được thể hiện trong một số đạo luật thuế mà điển hình nhất đó là thuế Thu nhập cá nhân.

1. Những vấn đề chung về tính công bằng của thuế 

1.1.  Khái niệm tính công bằng của thuế

Công bằng là đòi hỏi khách quan từ phía người nộp thuế vì đây chính là giá mà họ phải trả có tính chất bắt buộc cho những hàng hoá và dịch vụ công cộng. Một hệ thống thuế quá bất công có thể là một phần nguyên nhân gây ra các biến động chính trị như cách mạng Pháp, Hoa Kỳ[1]. Nói về vấn đề công bằng trong đánh thuế trong lịch sử nghiên cứu kinh tế cũng như nghiên cứu đánh thuế đã được đề cập nhiều. Tuy nhiên, chưa có bất kỳ một khái niệm cụ thể rõ ràng thế nào là “công bằng “ trong đánh thuế. Những nghiên cứu chỉ dừng lại ở quan điểm, học thuyết, có thể tìm thấy tính chất công bằng của thuế trong quan điểm của Aristotel hay Adamsmith hay trong khoa học kinh tế.
Đối với Aristotel ông nghiên cứu về sự công bằng của thuế đi từ những câu hỏi: “Ai có quyền thu thuế, tính công bằng của thuế như thế nào – cho đến sau những sự tranh luận sôi nổi về tính công bằng của thuế trực thu và thuế gián thu trong xã hội cận đại, đó là những tranh luận về thuế trong thế kỷ 17 và 18” [2].
Còn về phía Adamsmith lại có nghiên cứu về tính công bằng của thuế một cách tổng hợp hơn. Các nguyên tắc về thuế của ông không chỉ xem xét sự công bằng giữa người trả thuế theo luật mà còn xem xét nguồn gốc của sự không công bằng và tính không rõ ràng của luật thuế[3].
Đối với khoa học kinh tế thì chỉ đưa ra vấn đề: điều gì công bằng và điều gì không công bằng, nên xem xét sự tái phân phối qua thuế một cách công bằng như thế nào…nên có các giải pháp như thế nào? Các nhà kinh tế có thể đưa ra các ý tưởng bổ ích khác nhau – ví dụ: thuế có thể góp phần vào cấu trúc công bằng cần thiết của thu nhập, của tài sản và của lợi ích,…như thế nào?[4]
Quan niệm về tính công bằng của thuế như trên dù có khác nhau về cách tiếp cận nhưng tựu trung lại đều hàm ý hai nguyên lý đó là: lợi ích và khả năng nộp thuế.

1.2. Tiêu chuẩn phân phối công bằng

Phân phối công bằng được xem xét dựa trên các tiêu chuẩn sau:[5]
Thứ nhất, tài năng và năng lực
Tiêu chuẩn này xuất phát từ quan điểm cho rằng cá nhân có quyền đối với kết quả lao động của mình. Một xã hội như thế là xã hội đề cao chủ nghĩa tự do và Nhà nước điều hành nền kinh tế theo chính sách để cho tư nhân tự do kinh doanh.
Thứ hai, lợi ích tối đa cho số người được hưởng đông nhất
Tiêu chuẩn này được hiểu đó là sự phân phối rất rộng những lợi ích, mọi người đều được hưởng ngang bằng nhau về mọi mặt.
Thứ ba, sự công bằng chính đáng
Tiêu chuẩn này xuất phát từ quan điểm cho rằng mọi cá nhân đều có cùng giá trị thì đều được hưởng lợi ích xã hội như nhau. Giống như sự phân phối theo khả năng riêng có, không có sự phân phối đảm bảo công bằng tuyệt đối.

2. Tính công bằng trong Luật Thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam

Thuế thu nhập cá nhân hiện nay được điều chỉnh bởi các văn bản bao gồm Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi bổ sung năm 2012 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của các Luật về thuế năm 2014.  Luật Thuế thu nhập cá nhân được xây dựng dựa trên tính công bằng của thuế đặc biệt nguyên tắc khả năng nộp thuế. Điều này được thể hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, quy định về người nộp thuế
Điều 2 Luật Thuế thu nhập cá nhân quy định về đối tượng nộp thuế bao gồm cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam. Như vậy, ngay trong quy định về đối tượng nộp thuế cũng đã thể hiện được tính công bằng khi phân chia đối tượng cá nhân cư trú  và cá nhân không cư trú. Xuất phát từ nguyên tắc đánh thuế theo lãnh thổ và đánh thuế theo thu nhập phát sinh, việc Luật Thuế thu nhập cá nhân phân chia hai đối tượng này hoàn toàn hợp lý và phù hợp với quy định của các nước trên thế giới như Malaysia, Indonesia…cũng như phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm tránh đánh thuế nhiều lần đối với cùng một thu nhập.
Thứ hai, quy định về thu nhập chịu thuế
Đối tượng đánh thuế của thuế thu nhập cá nhân là thu nhập nhận được trong kỳ tính thuế. Mục tiêu đánh thuế công bằng là một cá nhân nhận được thu nhập từ các nguồn khác nhau sẽ bị đánh thuế giống nhau. Các nhà kinh tế đều nhất trí rằng thu nhập toàn diện bao gồm không chỉ là thu nhập bằng tiền mà còn bao gồm cả thu nhập vốn và thu nhập khác. Vì vậy, cần có một số điều chỉnh để chuyển đổi mọi khoản thu nhập không bằng tiền sang thu nhập bằng tiền khi xác định thu nhập toàn diện trong xác định thu nhập chịu thuế. Quan niệm về thu nhập phản ánh chính xác khả năng trả thuế[6] . Đối với Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện hành thể hiện rất rõ điều này, thu nhập chịu thuế của cá nhân được xác định là tổng thu nhập của cá nhân nhận được trong kỳ tính thuế bao gồm mười loại thu nhập quy định tại Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 sửa đổi bổ sung 2012: (i) Thu nhập từ kinh doanh; (ii)thu nhập từ tiền lương, tiền công; (iii) thu nhập từ đầu tư vốn; (iv)thu nhập từ chuyển nhượng vốn; (v)thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; (vi)thu nhập từ trúng thưởng; (vii) thu nhập từ bản quyền; (viii) thu nhập từ nhượng quyền thương mại; (ix) thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng; (x) thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng.
Thứ ba, quy định về thu nhập miễn thuế
Mặc dù Luật thuế thu nhập cá nhân quy định cá nhân có thu nhập cao và đáp ứng điều kiện theo quy định phải nộp thuế. Tuy nhiên, không phải mọi đối tượng và mọi loại thu nhập đều phải chịu thuế. Sự công bằng ở đây được thể hiện ở quy định về thu nhập miễn thuế nhằm thể hiện được chính sách ưu đãi của Nhà nước, tránh tình trạng “tận thu” đánh thuế vào sức người. Theo đó, tại Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 sửa đổi bổ sung 2012 quy định 16 loại thu nhập được miễn thuế chủ yếu đối với các thu nhập liên quan đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp; thu nhập nhận được từ quan hệ chuyển nhượng bất động sản, nhà ở giữa những người có mối quan hệtrong gia đình; hoạt động tài chính, bảo hiểm nhân thọ và tiền lương hưu.
Thứ tư, quy định về giảm trừ gia cảnh
Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ  tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú. Sở dĩ đặt ra khoản giảm trừ này chủ yếu xuất phát từ mục đích xã hội, tạo điều kiện cho những người mang gánh nặng gia đình thực hiện được trách nhiệm của mình cũng như tránh tình trạng “đánh vào sức người”, đồng thời khoản giảm trừ còn có ý nghĩa trong khuyến khích cá nhân tham gia một số hoạt động nhất định như đóng góp từ thiện, nhân đạo… Quy định này thể hiện tính công bằng giữa những người có thu nhập cao với nhau nhưng có những điều kiện, hoàn cảnh gia đình khác nhau . Cụ thể hoá điều này tại Khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân đã quy định mức giảm trừ như sau:
Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 9 triệu đồng/tháng (108 triệu đồng/năm);
Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 3,6 triệu đồng/tháng.
Ngoài mức giảm trừ gia cảnh, Luật thuế thu nhập cá nhân còn quy định mức giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo.
Thứ năm, quy định về thuế suất luỹ tiến
Thuế suất là việc xác định mức thu của nhà nước trên đối tượng tính thuế. Đối với thuế thu nhập cá nhân đảm bảo mục tiêu công bằng trong trả thuế tương ứng với nguyên tắc khả năng trả thuế, thuế suất được thiết kế theo Biểu thuế luỹ tiến có nghĩa là mức thu nhập càng cao phải chịu thuế suất cao lên tương ứng với giá trị thu nhập. Rõ ràng ở đây đã thấy được sự công bằng theo chiều dọc của thuế đảm bảo người có thu nhập cao hơn phải đóng thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp hơn, trách nhiệm của người nộp thuế thể hiện sự công bằng không có tính chất luỹ thoái như thuế gián thu. Điều này đươc quy định rõ tại Điều 22 3 Luật thuế thu nhập cá nhân 2007 sửa đổi bổ sung năm 2012, để đảm bảo tính công bằng Luật đã quy định biểu thuế như sau:
Biểu thuế luỹ tiến từng phần áp dụng cho thu nhập từ tiền lương, tiền công. Biểu thuế chia ra càng nhiều khoảng thu nhập thì sẽ đảm bảo được công bằng hơn, Luật đã chia ra 7 khoảng thu nhập với 7 mức thuế khác nhau:

Bậc thuế Phần thu nhập tính thuế/năm (triệu đồng) Phần thu nhập tính thuế/tháng (triệu đồng) Thuế suất (%)
1 Đến 60 Đến 5 5
2 Trên 60 đến 120 Trên 5 đến 10 10
3 Trên 120 đến 216 Trên 10 đến 18 15
4 Trên 216 đến 384 Trên 18 đến 32 20
5 Trên 384 đến 624 Trên 32 đến 52 25
6 Trên 624 đến 960 Trên 52 đến 80 30
7 Trên 960 Trên 80 35

Mặc dù các quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân đã thể hiện được tính công bằng của thuế, tuy nhiên vẫn còn những hạn chế từ các quy định cũng như thực tiễn áp dụng ảnh hưởng tới tính công bằng của Luật thuế thu nhập cá nhân. Điều này được thể hiện qua những điểm như sau:
Thứ nhất, hệ thống thuế khá không công bằng ở Việt Nam và nguyên tắc công bằng theo chiều dọc bị vi phạm bằng nhiều cách vì nhiều lý do khác nhau[7]. Những quy định làm cho thuế thu nhập cá nhân thiếu tính công bằng đó là:
Quy định về thu nhập miễn thuế
Một là, Luật thuế thu nhập cá nhân hiện nay quy định thu nhập từ tiền lương tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công được xác định là thu nhập chịu thuế, trừ một số khoản phụ cấp, trợ cấp như: phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công; phụ cấp quốc phòng, an ninh; phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật; trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng và các khoản trợ cấp khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của Bộ luật lao động; trợ cấp mang tính chất bảo trợ xã hội và các khoản phụ cấp, trợ cấp khác không mang tính chất tiền lương, tiền công theo quy định của Chính phủ. Những quy định này cho thấy số lượng các khoản phụ cấp, trợ cấp được miễn thuế là khá nhiều làm giảm đi tính công bằng giữa các thu nhập chịu thuế hay giảm tính công bằng ngay trong cùng một loại thu nhập chịu thuế.
Hai là, quy định về thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa những người có quan hệ gia đình với nhau như giữa vợ và chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau được xác định là thu nhập miễn thuế. Theo đó, giả định một người nhận được nhiều thu nhập từ quan hệ chuyển nhượng trên cũng không phải đóng bất kỳ một đồng thuế nào. Trong khi đó quan hệ chuyển nhượng bên ngoài lại phải chịu thuế khi có từ hai quyền sử dụng đất ở trở lên. Rõ ràng, chính quy định này cho thấy không có sự công bằng giữa những đối tượng chịu thuế với nhau.
Ba là, quy định thu nhập từ lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng cũng là thu nhập được miễn thuế, tuy nhiên bản thân nó đã chứa đựng sự không công bằng. Bởi lẽ, tiền gửi ngân hàng cũng là một kênh đầu tư mà đã là đầu tư thì phải nộp thuế, thêm vào đó khi chúng ta làm một phép so sánh nhỏ một người bỏ công sức ra để làm việc cả tháng nhận được mức thu nhập 9 triệu đồng, trong khi đó những người khác gửi một số lượng tiền nhiều vào ngân hàng với mức lãi suất cao thì cũng đã vượt quá ngưỡng nộp thuế. Với quy định này mức độ điều tiết thu nhập của thuế đã không đạt được như kỳ vọng.
Quy định về thuế suất luỹ tiến
Luật thuế thu nhập cá nhân quy định thuế suất theo biểu thuế luỹ tiến đặc biệt thu nhập từ kinh doanh, tiền lương và tiền công áp dụng biểu thuế luỹ tiến từng phần, trong đó chia ra 7 khoảng thu nhập tương ứng với 7 mức thuế suất, thu nhập càng cao chịu mức thuế suất cao theo tỷ lệ thuận. Tuy nhiên biểu thuế suất này cũng cho thấy không có sự công bằng giữa các đối tượng có thu nhập cao chiu thuế bởi vì khoảng thu nhập là quá ngắn. Khoảng cách từ bậc 1 đến bậc 2 chỉ có 5 triệu đồng, từ bậc 2 đến bậc 3 là 8 triệu đồng, và cho đến bậc thuế cuối cùng chỉ gấp bậc thấp nhất 16 lần. Trong khi đó ở các nước khoảng cách này là khá xa như Trung Quốc 200 lần, Malaysia 100 lần, Thái Lan 50 lần…[8].
Thứ hai, cách tính thuế mới của Luật sửa đổi bổ sung các điều của các Luật về thuế cũng còn bất cậpkhi đang tạo ra sự bất bình đẳng, được thể hiện như sau:
Một là, theo cách tính mới đối với những cá nhân kinh doanh có doanh thu 100 triệu đồng/năm trở lên thì phải đóng thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ 2% trên tổng doanh thu. Theo lý thuyết, sẽ có ít nhất 3 triệu hộ kinh doanh cá thể sẽ thuộc diện nộp thuế, có nghĩa là thu nhập bình quân của những hộ kinh doanh này đạt tầm 8,4 triệu/tháng đã phải chịu thuế. Trong khi đó, những người khác có thu nhập phải từ 9 triệu đồng/tháng mới phải chịu thuế. Điều này đã thấy rõ được thiếu sự công bằng giữa những đối tượng nộp thuế này.
Hai là, quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân dường như đang đánh đồng các đối tượng nộp thuế, giữa người cho thuê nhà ở và người cho thuê văn phòng, chung cư cao cấp[9]. Những thu nhập nhận được từ những nguồn này có sự chêch lệch đáng kể, nhưng khi xác định để chịu thuế thì lại không có sự phân biệt về giá trị tài sản.

3. Kiến nghị hoàn thiện Luật thuế thu nhập cá nhân để đảm bảo tính công bằng của thuế

Để Luật thuế thu nhập cá nhân thực sự đảm bảo được tính công bằng của thuế đòi hỏi những hoàn thiện từ các quy định của pháp luật. Cụ thể:
– Quy định về thu nhập miễn thuế có thể xem xét giảm các loại thu nhập miễn thuế trong đó giảm các loại trợ cấp, phụ cấp.
– Bổ sung quy định thu nhập từ lãi tiền gửi tiết kiệm ngân hàng là loại thu nhập chịu thuế.
– Vẫn tiếp tục quy định thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản của những người có quan hệ gia đình với nhau, tuy nhiên nên khống chế số lượng nhất định đối với những bất động sản này.
– Quy định thuế luỹ tiến từng phần áp dụng cho thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công nên giãn khoảng cách mức thu nhập chịu thuế làm sao cho mức cao nhất cách mức thấp nhất lớn hơn 16 lần và ở mức phù hợp nhất với thu nhập chịu thuế của người Việt Nam.
– Nên quy định lại mức chịu thuế của những hộ kinh doanh cá thể, có thể nâng mức trung bình lớn hơn ngưỡng chịu thuế của các đối tượng khác. Luật thuế thu nhập cá nhân cần phải có sự phân biệt rõ giữa đối tượng nộp thuế là hộ kinh doanh nhỏ lẻ và người đi làm.
– Nên có sự phân biệt về giá trị tài sản đem lại thu nhập chịu thuế, không nên đánh đồng tất cả các loại tài sản đem lại thu nhập cho người nộp thuế có như vậy mới tạo nên sự công bằng giữa các đối tượng nộp thuế.
Bên cạnh việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân, để đảm bảo được tính công bằng của thuế cần có những giải pháp khác về con người, về các cơ quan thực thi cũng như về cơ sở vật chất. Từ đó, thuế thu nhập cá nhân mới phát huy được vai trò tái phân phối thu nhập và thực hiện công bằng xã hội./.

Tác giả bài viết: Phương Huyền / Trường Trung cấp Luật Đồng Hới

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn) 


[1] Giáo trình Lý thuyết tài chính công, Trường Đại học kinh tế TP.HCM,  Nxb Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh (2006), tr.145

[2] Lý thuyết và chính sách thuế, Học viện Tài chính, Nxb Tài chính (2009), tr. 138

[3] Lý thuyết và chính sách thuế, Học viện Tài chính, Nxb Tài chính (2009), tr. 138

[4] Lý thuyết và chính sách thuế, Học viện Tài chính, Nxb Tài chính (2009), tr. 139

[5] Lý thuyết và chính sách thuế, Học viện Tài chính, Nxb Tài chính (2009), tr. 140

[6] Lý thuyết và chính sách thuế, Học viện Tài chính, Nxb Tài chính (2009), tr. 235-236

[7] Gangadha Prasad Shukla, Phạm Minh Đức, Michael Engelschalk(Đồng chủ biên), Cải cách thuế ở Việt Nam hướng tới một hệ thống hiệu quả và công bằng hơn, Ngân hàng thế giới, Ban quản lý Kinh tế và xoá đói giảm nghèo khu vực Châu Á và Thái Bình Dương, ngày 30/09/2011, Mã số 66317, tr 49.

[8] http://www.tinmoi.vn/nen-dieu-chinh-lai-cac-bac-thue-thu-nhap-ca-nhan-01643391.html

[9]http://www.tienphong.vn/Kinh-Te/tinh-thue-thu-nhap-ca-nhan-moi-thieu-cong-bang-de-tieu-cuc-808673.tpo

Người chưa thành niên có đứng tên sổ đỏ được không?

Chào luật sư, tôi định tặng cho cháu nội một căn nhà gắn liền với đất, nhưng hiện cháu mới 14 tuổi. Vậy, lúc này cháu tôi có được nhận nhà đất và được đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất không?
Vấn đề bạn hỏi, Văn phòng Luật sư Hoàng Hưng trả lời như sau:
Ông hoàn toàn có quyền tặng cho cháu nội tài sản là nhà và quyền sử dụng đất, đó là một giao dịch dân sự thông thường. Tuy nhiên, do cháu ông mới 14 tuổi nên các giao dịch dân sự của người chưa thành niên có một số điều kiện nhất định.
Theo quy định của Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi. Tại khoản 4 Điều 21 BLDS thì giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản của người chưa thành niên phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật. Như vậy, cháu nội ông muốn được nhận tài sản tặng cho là bất động sản (nhà và đất) thì phải được sự đồng ý của cha mẹ cháu – người đại diện theo pháp luật đương nhiên của cháu (quy định tại Điều 136 Bộ Luật Dân sự).
Sau khi cha, mẹ cháu đồng ý thì ông sẽ ký Hợp đồng tặng cho tài sản cho cháu tại Phòng Công chứng Nhà nước hoặc Văn phòng Công chứng. Đối với bên nhận tài sản tặng cho là cháu ông thì phải có cả người đại diện theo pháp luật là bố mẹ cháu cùng ký tên. Khi Hợp đồng tặng cho đã được ký có sự chứng kiến của Công chứng viên, ông tiếp tục làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đó cho cháu.
Hiện nay, Luật Đất đai không có quy định nào hạn chế người chưa thành niên không được đứng tên trên giấy tờ về quyền sử dụng đất. Trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, ngoài tên cháu nội ông, là người chủ sở hữu, chủ sử dụng mới, thì có cả tên của người đại diện theo pháp luật của cháu để đảm bảo các giao dịch của người chưa thành niên được thực hiện đúng quy định.

Thuế nhà thầu là gì? Thuế nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam

Thuế nhà thầu là một loại thế sẽ được áp dụng cho các công ty đã cung cấp dịch vụ vào nước ta, nó chính là tiền bắt buộc phải trả cho nhà đầu tư, trong đó chưa trừ đi những khoản thuế mà nhà thầu phải nộp. Để hiểu rõ hơn thuế nhà thầulà gì, thuế nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam hoạt động như thế nào, chúng ta sẽ tìm hiểu trong nội dung sau đây.

Thuế nhà thầu là gì?

Thuế nhà thầu là loại thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam (những tổ chức này không hoạt động theo luật Việt Nam) có phát sinh thu nhập từ cung ứng dịch vụ hoặc dịch vụ gắn với hàng hóa tại Việt Nam.
Thuế nhà thầu là viết tắt của Foreign Contractor Tax (FCT), luật FCT đã được phát triển và sửa đổi theo thời gian kể từ khi nó được ban hành vào năm 1995. Những quy định trong FCT hiện tại có từ năm 2014. Nó làm rõ sự mơ hồ trước đây và đưa ra các quy tắc thuế mới. Đối với một thực thể, FCT bao gồm hai phần: Thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế TNDN) và Thuế giá trị gia tăng (VAT). Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (LCIT) và Luật thuế giá trị gia tăng (LVAT) và cả hai tạo thành một phần phức tạp của chế độ FCT. Chính phủ cũng đã ban hành một số thông tư để thực hiện và giải thích các luật này.

Thuế nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam

Đối với các nhà thầu nước ngoài, Thông tư 103/2014/TT-BTC về thuế nhà thầu nước ngoài (Thông tư 103) là luật FCT quan trọng nhất và được sửa đổi. Thông tư 103 có hiệu lực vào ngày 1 tháng 10 năm 2014.
Nhà thầu nước ngoài là gì? Theo Thông tư 103, nhà thầu nước ngoài là một thực thể nước ngoài hoặc một cá nhân kinh doanh hoặc tạo thu nhập tại Việt Nam trên cơ sở thỏa thuận giữa nhà thầu nước ngoài và một bên Việt Nam hoặc giữa nhà thầu nước ngoài và nhà thầu phụ nước ngoài. Các bên đối tác của Việt Nam có thể bao gồm bất kỳ thực thể nào cho dù là nhà nước, trong nước hay nước ngoài, được đăng ký kinh doanh tại Việt Nam. Nhà thầu phụ nước ngoài là một thực thể hoặc cá nhân nước ngoài, sau đó, cung cấp dịch vụ cho nhà thầu nước ngoài hoặc thực hiện một phần công việc của nhà thầu nước ngoài.
Thuế nhà thầu thanh toán cho nhà thầu nước ngoài áp dụng khi một bên ký kết Việt Nam (bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam) ký hợp đồng với một bên nước ngoài không có sự hiện diện được cấp phép tại Việt Nam, bất kể các dịch vụ được cung cấp ở Việt Nam hay nước ngoài.
Thuế nhà thầu thường áp dụng cho các khoản thanh toán có nguồn gốc từ Việt Nam, ngoại trừ việc cung cấp hàng hóa thuần túy (nghĩa là trách nhiệm, chi phí và rủi ro liên quan đến hàng hóa đi qua hoặc trước cửa khẩu Việt Nam và không có dịch vụ liên quan nào được thực hiện tại Việt Nam), các dịch vụ được thực hiện và tiêu thụ bên ngoài Việt Nam và các dịch vụ khác được thực hiện hoàn toàn bên ngoài Việt Nam.
Ngoài ra, một số thỏa thuận phân phối nhất định trong đó các thực thể nước ngoài trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia phân phối hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ tại Việt Nam phải chịu thuế nhà thầu (ví dụ: nơi thực thể nước ngoài giữ quyền sở hữu hàng hóa; chịu chi phí phân phối, quảng cáo hoặc tiếp thị; chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa hoặc dịch vụ, ra quyết định về giá hoặc ủy quyền/ thuê các thực thể Việt Nam khác thực hiện một phần phân phối hàng hóa/ cung cấp dịch vụ tại Việt Nam).
Nhà thầu nước ngoài có thể đăng ký làm người nộp thuế theo phương pháp khấu trừ nếu họ áp dụng hệ thống kế toán Việt Nam. Nếu hồ sơ kế toán đầy đủ, nhà thầu nước ngoài sẽ trả thuế TNDN trên lợi nhuận thực tế, nhưng nếu không thì trên cơ sở lợi nhuận được coi là.
Đối với các nhà thầu nước ngoài trực tiếp (không khấu trừ), VAT và thuế TNDN sẽ được bên ký kết khấu trừ theo tỷ lệ được coi là. Tỷ lệ khác nhau được chỉ định theo tính chất của hợp đồng được thực hiện. Đối với thuế TNDN, tỷ lệ FCT thay đổi từ 0,1% đến 10%. Đối với VAT, tỷ lệ FCT cũng có thể dao động từ 2% đến 5%. Thuế VAT mà bên ký kết khấu trừ là khoản tín dụng đầu vào được phép trong tờ khai thuế VAT.
FCT áp dụng cho thanh toán lãi cho người cho vay ở nước ngoài là 5%. Lãi suất cho các khoản vay trước năm 1999 có thể được miễn từ FCT. Các khoản vay nước ngoài được cung cấp bởi một số tổ chức chính phủ hoặc bán chính phủ nhất định có thể được miễn FCT lãi suất khi áp dụng thỏa thuận thuế kép (DTA) hoặc thỏa thuận liên chính phủ (IGA).
Một bên thuê tại Việt Nam được yêu cầu khấu trừ thuế từ các khoản thanh toán cho bên cho thuê ngoài khơi. Thuế VAT 5% và thuế TNDN 5% được áp dụng cho phí thuê nếu đó là hợp đồng thuê hoạt động. Nếu là hợp đồng thuê tài chính, phần lãi sẽ được miễn thuế VAT và chịu thuế TNDN 5%.

Vướng mắc về áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường hiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, việc xem xét, đánh giá và áp dụng đúng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có ý nghĩa rất quan trọng; tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng còn ó những điểm chưa được hiểu và áp dụng thống nhất, trong đó có tình tiết quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

So với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 thì quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 có điểm mới, đó là thay đấy phẩy (,) bằng chữ “hoặc” sau cụm từ bồi thường thiệt hại. Điều này có ý nghĩa là BLHS năm 2015 đã có sự phân biệt rõ ràng hơn so với quy định của BLHS năm 1999 trước đây. Tùy thuộc vào hành vi phạm tội mà người phạm tội “tự nguyện sửa chữa, bồi thường hiệt hại” hoặc người phạm tội “khắc phục hậu quả” là đã áp dụng được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS năm 2015. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc hiểu và áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường hiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” còn khác nhau, chưa thống nhất do còn nhận thức khác nhau như sau:
1. Người phạm tội phải bồi thường thiệt hại bao nhiêu mới được xem là “tự nguyện bồi thường thiệt hại”?
Trong rất nhiều vụ án hình sự, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội đã tự nguyện bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, việc bồi thường thiệt hại của người phạm tội trong từng vụ án là khác nhau. Có trường hợp người phạm tội bồi thường thiệt hại không đáng kể, có trường hợp người phạm tội bồi thường gần một nửa hoặc nhiều hơn…Số tiền bồi thường thiệt hại cũng khác nhau, chẳng hạn có trường hợp người phạm tội bồi thường 100% thiệt hại với số tiền 2.100.000 đồng nhưng có trường hợp người phạm tội bồi thường 10% thiệt hại nhưng với số tiền 100.000.000 đồng. Vậy người phạm tội phải bồi thường thiệt hại bao nhiêu mới được áp dụng tình tiết “người tự nguyện bồi thường thiệt hại”.
Có quan điểm cho rằng, chỉ cần người phạm tội có thiện chí và tự nguyện bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra là được áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường hiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” mà không cần phân biệt người phạm tội bồi thường bao nhiêu. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng nếu người phạm tội chỉ bồi thường thiệt hại với số tiền không đáng kể so với thiệt hại gây ra như 10 – 20% thiệt hại thì không thể coi là đã tự nguyện bồi thường thiệt hại. Do đó, cần có một quy định cụ thể về tỷ lệ phần trăm mức bồi thường thiệt hại mà người phạm tội đã thực tế bồi thường. Tỷ lệ bồi thường này có thể ít nhất là từ 50% thiệt hại trở lên.
Quan điểm này xuất phát từ việc nghiên cứu áp dụng tương tự giải đáp của Tòa án nhân dân tối cao về tình tiết “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 63 của Bộ luật Hình sự tại mục 1 phần I  Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019. Theo đó, tình tiết “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 63 của Bộ luật Hình sự được giải đáp như sau: “Theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự thì không thi hành án tử hình đối với người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ nếu sau khi bị kết án đã nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn. Tuy nhiên, đối với trường hợp bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn hoặc tù chung thân là loại hình phạt nhẹ hơn so với hình phạt tử hình, nên “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 63 của Bộ luật Hình sự được hiểu là đã bồi thường được ít nhất một phần hai nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án. Trường hợp, người bị kết án bồi thường được ít hơn một phần hai nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án nhưng có văn bản miễn giảm một phần nghĩa vụ dân sự hoặc có thỏa thuận khác của phía bị hại (có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền) thể hiện người bị kết án đã bồi thường được một phần hai nghĩa vụ dân sự thì cũng được coi là “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự”.
2. Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả do hành vi của mình gây ra nhưng hành vi này không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì có được áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường hiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” không?
Ngày 05/7/2018, Nguyễn Văn A thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà B trị giá 2.500.000 đồng. Quá trình điều tra, A khai nhận trước đó khoảng 01 tháng, A cũng thực hiện hành vi trộm tiền của bà B là 1.200.000 đồng. Sau đó,cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại tài sản bị trộm ngày 05/7/2018 cho bị hại. A cũng tự nguyện trả lại số tiền trộm cho bà B là 1.200.000 đồng. Theo quy định, hành vi trộm tiền của Nguyễn Văn A không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Có ý kiến cho rằng hành vi trộm số tiền 1.200.000 đồng của A mặc dù không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng cũng được xem xét giải quyết trong cùng vụ án hình sự cho nên việc A đã tự nguyện trả lại cho bà B số tiền 1.200.000 đồng là khắc phục hậu quả do hành vi của A gây ra nên phải áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường hiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” đối với A. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng hành vi trộm tiền của A không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nên không thể áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường hiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” đối với A; vì hậu quả cần khắc phục phải do hành vi phạm tội gây ra.
3. Cha mẹ của người phạm tội từ 15 đến dưới 18 tuổi tự nguyện bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thì có được áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường hiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” không?
A là người chưa thành niên (17 tuổi) thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là chiếc điện thoại di động của anh B trị giá 12.000.000 đồng. Sau đó, A đem đến tiệm cầm đồ bán cho anh C chiếc điện thoại vừa trộm được 7.000.000 đồng. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra thu giữ chiếc điện thoại và trả lại cho anh B. Cha mẹ của A cũng tự nguyện trả lại cho anh C số tiền A mua điện thoại là 7.000.000 đồng. Vậy việc cha mẹ của A tự nguyện trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh C số tiền 7.000.000 đồng thì có được áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường hiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” không?
Có ý kiến cho rằng việc cha mẹ của A trả lại cho anh C số tiền 7.00.000 đồng là khắc phục hậu quả từ hành vi phạm tội của A gây ra. Cho nên cần áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường hiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” đối với A. Vì trước đây tại điểm b tiểu mục 1.1 Mục 1 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC có hướng dẫn: “người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: b. Bị cáo là người từ đủ 15 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi khi phạm tội và cha, mẹ của họ đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nếu bị cáo không có tài sản”.
Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng hành vi phạm tội của A là trộm cắp chiếc điện thoại di động. Còn việc A đem chiếc điện thoại vừa trộm được đi bán cho anh C là giao dịch dân sự giữa A và anh C. Do đây là giao dịch không hợp pháp nên về nguyên tắc A phải chịu trách nhiệm hoàn trả lại tiền cho anh C nhưng vì A chưa thành niên và không có tài sản riêng nên đương nhiên cha mẹ của A sẽ có trách nhiệm hoàn trả lại tiền cho anh C. Mặc khác, thiệt hại hoặc hậu quả trong vụ án hình sự là phải do hành vi phạm tội trực tiếp gây ra. Và người bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây phải là bị hại (người bị thiệt hại là cá nhân), nguyên đơn dân sự (người bị thiệt hại là cơ quan, quan tố chức) hoặc người đại diện hợp pháp của họ mà không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Cho nên việc cha mẹ của A trả lại tiền 7.000.000 đồng cho anh C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thì không được áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”.
4. Trường hợp bị cáo là người từ 14 tuổi đến dưới 15 tuổi phạm tội trong thời gian trường học, bện viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý nhưng không còn cha mẹ, nếu người khác tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì có được áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” không?
Thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự, không phải trường hợp nào bị cáo chưa thành niên cũng còn đầy đủ cha mẹ hoặc không phải trường hợp nào cha mẹ của bị cáo chưa thành niên cũng là người tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Hiện nay điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 chưa có hướng dẫn cụ thể nhưng trước đây tại điểm a tiểu mục 1.1 Mục 1 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC có hướng dẫn như sau:“người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a. Bị cáo là người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 15 tuổi khi phạm tội và cha, mẹ của họ đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra”. Theo hướng dẫn này thì chỉ trường hợp cha mẹ của bị cáo là người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 15 tuổi khi phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì mới được áp dụng tình tiết“người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” tại điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999.
Tuy nhiên, hiện nay theo quy định tại điều 599 BLDS năm 2015 về bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý như sau: “1. Người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra; 2. Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý thì bệnh viện, pháp nhân khác phải bồi thường thiệt hại xảy ra; 3. Trường học, bệnh viện, pháp nhân khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không phải bồi thường nếu chứng minh được mình không có lỗitrong quản lý; trong trường hợp này, cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường”.
Theo quan điểm tác giả trường hợp bị cáo là người từ 14 tuổi đến dưới 15 tuổi phạm tội trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý nhưng không còn cha mẹ, nếu người khác như nhà trường, bệnh viện, pháp nhân, người giám hộ của bị cáo tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì phải được áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” đối với bị cáo.
Từ những vướng mắc nêu trên, có thể thấy rằng, để tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 được hiểu và áp dụng thống nhất trong thực tiễn cần có giải đáp hoặc hướng dẫn cụ thể hơn.
Chồng vay tiền chơi cá độ, vợ có phải cùng trả nợ không?

Chào luật sư!
Gần đây, chồng tôi có vay một khoản tiền khá lớn để chơi cá độ bóng đá và bị thua. Hiện chúng tôi chưa ly hôn, vậy tôi có trách nhiệm phải cùng chồng trả khoản nợ đó không?
Vấn đề bạn hỏi, Văn phòng Luật sư Hoàng Hưng trả lời như sau:
Kết quả hình ảnh cho Luật Hôn nhân và gia đình 2014Trong trường hợp vợ chồng bạn chưa ly hôn thì các quan hệ về quyền và nghĩa vụ phát sinh vẫn được áp dụng theo pháp luật hôn nhân và gia đình.
Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định các nghĩa vụ được xác định là nghĩa vụ tài sản chung của vợ chồng, gồm:
– Nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch do vợ chồng cùng nhau thỏa thuận xác lập lên hoặc nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
– Nghĩa vụ do một trong 2 bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình.
– Các nghĩa vụ phát sinh từ việc vợ, chồng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
– Nghĩa vụ phát sinh từ việc vợ hoặc chồng sử dụng tài sản riêng song nhằm mục đích duy trì, phát triển khối tài sản chung, tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
– Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của pháp luật dân sự, cha mẹ phải chịu trách nhiệm bồi thường;
–  Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.
Theo đó, trong thời gian 2 vợ chồng bạn chung sống với nhau, nếu nghĩa vụ từ khoản vay của chồng bạn thuộc một trong những trường hợp nêu trên thì được xác định là nghĩa vụ chung của cả vợ/ chồng, và bạn cũng phải có trách nhiệm trả nợ.
Mặt khác, theo quy định tại Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng thì:
“Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:
1. Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;
2. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật này;
3. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;
4. Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.”
Như vậy, theo quy định trên thì khoản nợ của chồng bạn là khoản nợ riêng, không vì nhu cầu của gia đình mà chỉ phục vụ cho mục đích vui chơi riêng nên được xác định là nghĩa vụ riêng của chồng bạn. Vì thế, trong trường hợp này, bạn không có nghĩa vụ phải cùng trả nợ với chồng bạn.

Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Dưới góc độ khoa học luật hình sự, khái niệmđang đề cập được định nghĩa như sau: pháp nhân thương mại phạm tội là pháp nhân thương mại thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến khách thể được Bộ luật Hình sự ghi nhận, bảo vệ mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

1. Khái quát quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân phạm tội trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018. BLHS năm 2015 đã thể hiện bước phát triển quan trọng trong chính sách hình sự của Nhà nước, đánh dấu nhiều điểm tiến bộ thể hiện trong tư duy lập pháp hình sự . Đáng chú ý, một trong những điểm mới đột phá của BLHS năm 2015 là đã bổ sung quy định về trách nhiệm hình sự (TNHS) của pháp nhân thương mại (pháp nhân thương mại) (các Điều 2, 3, 6, 8, 9, 33, 74-89 và 33 tội danh của Phần các tội phạm BLHS).
Như vậy, pháp nhân thương mại chỉ chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm này trong trường hợp được thực hiện nhân danh và vì lợi ích, dưới sự điều hành, chấp thuận của chính pháp nhân thương mại đó. Điều này thể hiện quan điểm hoàn toàn đổi mới của các nhà lập pháp Việt Nam về chủ thểcủa tội phạm và đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong việc tập trung xử lý những vi phạm trong các lĩnh vực kinh tế và môi trường, tài trợ khủng bố và rửa tiền, đồng thời,tạo điều kiện bảo vệ tốt hơn quyềnlợi của người bị thiệt hại do các vi phạm của pháp nhân gây ra , cũng như trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế khi Việt Nam tham gia nhiều Công ước quốc tế về phòng, chống tội phạm như: Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000, Công ước chống tham nhũngnăm 2003 của Liên Hợp quốc…

1.1. Khái niệm, cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Điều 75 Bộ luật Dân sự 2015 quan niệm pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan. Cùng với đó, Điều 8 BLHS năm 2015 quy định tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
Do đó, dưới góc độ khoa học luật hình sự, khái niệm đang đề cập được định nghĩa như sau: pháp nhân thương mại phạm tội là pháp nhân thương mại thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến khách thể được BLHS ghi nhận, bảo vệ mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
Trên cơ sở này, khoản 2 Điều 2 BLHS năm 2015 đã quy định: “Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử hình thành và phát triển của luật hình sự Việt Nam, quy định về cơ sở trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với pháp nhân thương mại đã được ghi nhận, đồng thời đây chính là “tuyên bố” mang tính nền tảng, tiền đề để các nhà làm luật quy định những vấn đề khác trong nội dung trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân của BLHS năm 2015. Nhấn mạnh hơn, về vấn đề này, rõ ràng “hành vi, lỗi của người lãnh đạo, chỉ huy, người đại diện cũng được coi là hành vi, lỗi của pháp nhân. Như vậy, lý thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm được các nhà lập pháp Việt Nam quy định là cơ sở quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại” .

1.2. Nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Khoản 2 Điều 3 BLHS năm 2015 quy định năm nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội bên cạnh xử lý đối với người phạm tội như sau:
– Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;
– Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế;
– Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;
– Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra.
Ngoài ra, cần lưu ý, kể cả pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS năm 2015 trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên (Điều 6 BLHS 2015).

1.3. Hình phạt và những quy định áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Lần đầu tiên trong BLHS năm 2015 đã quy định về hệ thống hình phạt và một chương độc lập – Chương XI “Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội” để áp dụng đối với đối tượng là pháp nhân thương mại phạm tội.
Về hình phạt, BLHS năm 2015 quy định hai loại là hình phạt chính và hình phạt bổ sung áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội như sau:
– Hình phạt chính bao gồm: (1) Phạt tiền; (2) Đình chỉ hoạt động có thời hạn; (3) Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn (khoản 1 Điều 33).
– Hình phạt bổ sung bao gồm: (1) Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; (2) Cấm huy động vốn; (3) Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính (khoản 2 Điều 33).
Ngoài ra, Chương XI “Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội” đã quy định đầy đủ về điều kiện, phạm vi chịu TNHS; nội dung cụ thể về các hình phạt và biện pháp tư pháp cụ thể áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS; việc quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt, miễn hình phạt và xóa án tích đối với pháp nhân thương mại bị kết án (các điều 74-89). Đây là những căn cứ quan trọng để cùng với đó, tại Phần các tội phạm BLHS có quy định 33 tội danh cụ thể mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự , qua đó, bảo đảm tính hệ thống trong toàn bộ Phần những quy định chung và Phần các tội phạm của BLHS năm 2015.
Như vậy, có thể khẳng định, những quy định này không chỉ bảo đảm sự thống nhất chung của hệ thống pháp luật nước ta, mà còn nhằm thực thi các cam kết, nghĩa vụ của nước ta trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, qua đó, bảo đảm công bằng, minh bạch, bình đẳng giữa pháp nhân thương mại Việt Nam ở nước ngoài và pháp nhân thương mại nước ngoài tại nước ta.

2. Khái quát quy định về thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Cùng với việc ban hành BLHS năm 2015 với tư cách là luật nội dung, Bộ luật Tố tụng hình sự(BLTTHS) năm 2015 với tư cách là luật hình thức cũng đã quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự; nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân; hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự (TTHS), trong đó có quy định về thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân (nhưng không ghi rõ là pháp nhân thương mại – TG).
Do đó, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân (ở đây được hiểu là pháp nhân thương mại) là một vấn đề hoàn toàn mới được đặt ra, đặc biệt là vấn đề thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với đối tượng này nhằm đáp ứng kịp thời với những thay đổi của BLHS năm 2015 . Ở đây, quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong BLHS làm tiền đề để quy định thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân trong BLTTHS. Vì vậy, quá trình giải quyết vụ án hình sự cần làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh khi tiến hành tố tụng đối với pháp nhân bị buộc tội, đồng thời làm sáng tỏ các tình tiết, hành vi phạm tội của cá nhân hoặc pháp nhân (nếu có), trường hợp pháp nhân ra quyết định hoặc chỉ đạo cá nhân thực hiện hành vi phạm tội thì cần xử lý hình sự cả cá nhân và pháp nhân về tội mà họ đã thực hiện để giải quyết, xử lý tội phạm toàn diện, minh bạch, công minh, đúng pháp luật…

2.1. Khái niệm thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân

Lần đầu tiên, BLTTHS năm 2015 đã quy định bị can, bị cáo là người hoặc pháp nhân. Theo đó, bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này (khoản 1 Điều 60). Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này (khoản 1 Điều 61).
Ngoài ra, điểm mới quan trọng và lớn nhất được quy định trong BLTTHS năm 2015 so với BLTTHS năm 2003 là các nhà lập pháp đã xây dựng một chương riêng là Chương XXIX “Thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân” (các Điều 431-446) với nhiều quy định về thủ tục, việc tham gia tố tụng, biện pháp cưỡng chế, những vấn đề cần phải chứng minh, cũng như trình tự điều tra, truy tố, xét xử… đối với đối tượng này. Trong đó, phạm vi áp dụng được xác định tại Điều 431 Bộ luật này, có nghĩa thủ tục tố tụng được tiến hành theo quy định tại Chương XXIX và những quy định khác trong BLTTHS không trái với quy định của Chương này.
Do đó, dưới góc độ khoa học luật TTHS, thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân là trình tự thực hiện các quy định của BLTTHS khi tiến hành giải quyết vụ án liên quan đến bị can, bị cáo là pháp nhân thương mại và áp dụng những quy định khác có liên quan, nhằm bảo đảm xử lý đúng đắn vụ án, cũng như góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

2.2. Việc tham gia tố tụng của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân

Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại có mối quan hệ rất chặt chẽ đối với pháp nhân, họ là người nhân danh pháp nhân tham gia các hoạt động. Do đó, khi BLTTHS năm 2015 quy định pháp nhân với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật TTHS thì mọi hoạt động tố tụng của pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự được thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Pháp nhân phải cử và bảo đảm cho người đại diện theo pháp luật của mình tham gia đầy đủ các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền. Trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hoặc không thể tham gia tố tụng được thì pháp nhân phải cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của mình tham gia tố tụng. Trường hợp pháp nhân thay đổi người đại diện thì pháp nhân phải thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng… Khi tham gia vào hoạt động tố tụng người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được Nhà nước quy định cho họ những quyền và nghĩa vụ nhất định được quy định tại Điều 435 BLTTHS năm 2015.

2.3. Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân bị buộc tội

Để ngăn chặn việc pháp nhân tiếp tục phạm tội, cũng như hạn chế các hậu qủa do hành vi phạm tội của pháp nhân gây ra, qua đó, bảo đảm thi hành án liên quan đến việc bồi thường thiệt hại hoặc phạt tiền, BLTTHS năm 2015 quy định Cơ quan Điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế sau đây đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử tại Điều 436 Bộ luật này bao gồm:
– Kê biên tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
– Phong tỏa tài khoản của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
– Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
– Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án.
Lưu ý, quy định về thời hạn áp dụng các biện pháp cưỡng chế quy định tại khoản 1 Điều này không được quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử.

2.4. Những vấn đề cần phải chứng minh khi tiến hành tố tụng đối với pháp nhân bị buộc tội

Trong vụ án hình sự liên quan đến pháp nhân thương mại bị buộc tội, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh, xác định rõ các tình tiết đặc trưng gắn liền với pháp nhân tại Điều 441 BLTTHS năm 2015 bao gồm:
– Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội thuộc trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo quy định của BLHS.
– Lỗi của pháp nhân, lỗi của cá nhân là thành viên của pháp nhân.
– Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội của pháp nhân gây ra.
– Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết khác liên quan đến miễn hình phạt.
– Nguyên nhân và điều kiện phạm tội.
Trong đó, việc chứng minh vấn đề lỗi của pháp nhân là một vấn đề rất quan trọng trong vụ án mà pháp nhân thực hiện tội phạm.

2.5. Thẩm quyền và thủ tục xét xử đối với pháp nhân

Điều 444 BLTTHS năm 2015 quy định, Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự về các tội phạm do pháp nhân thực hiện là Tòa án nơi pháp nhân thực hiện tội phạm. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi pháp nhân đó có trụ sở chính hoặc nơi có chi nhánh của pháp nhân đó thực hiện tội phạm. Việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với pháp nhân phạm tội được thực hiện theo thủ tục chung quy định tại Phần thứ tư và Phần thứ sáu của Bộ luật này. Phiên tòa xét xử đối với pháp nhân phải có mặt người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp; có mặt bị hại hoặc người đại diện của bị hại…
Như vậy, thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân chính là các trình tự thực hiện các quy định của BLTTHS khi tiến hành giải quyết vụ án liên quan đến bị can, bị cáo là pháp nhân thương mại, cũng như việc áp dụng những quy định khác có liên quan, qua đó, bảo đảm xử lý đúng đắn vụ án, trách nhiệm hình sự của pháp nhân và trách nhiệm hình sự của cá nhân, cũng như góp phần đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm và đề ra các biện pháp khắc phục nguyên nhân và điều kiện phạm tội.

3. Một số vấn đề đặt ra khi thi hành các quy định của BLHS năm 2015 và BLTTHS năm 2015 liên quan đến trách nhiệm hình sự và thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân

Như vậy, từ việc nghiên cứu quy định của BLHS năm 2015 và BLTTHS năm 2015 liên quan đến trách nhiệm hình sự và thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân (thương mại) với tư cách là hai đạo luật lớn quy định về luật nội dung và luật hình thức (luật thủ tục), chúng tôi đưa ra một số vấn đề sau để các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn hoặc sửa đổi, bổ sung khi thi hành hai đạo luật này (đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) mà mục 3.1 và mục 3.2 sẽ đề cập dưới đây.

3.1. Một số vấn đề đặt ra khi thi hành quy định của BLHS năm 2015 liên quan đến trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội

Khi thi hành quy định của BLHS năm 2015 liên quan đến trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội có một số vấn đề đặt ra và hướng giải quyết như sau:
– Khoản 2 Điều 2 BLHS năm 2015 quy định: “Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự” cần sửa lại thành “phạm một hay nhiều tội đã được quy định tại Điều 76 và đáp ứng các điều kiện theo Điều 75 Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự” cho thống nhất với Điều 75 về “Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại” và chính xác với thực tiễn vì có trường hợp pháp nhân thương mại phạm một tội, có trường hợp phạm nhiều tội, một hay nhiều tội đều phải bị xử lý trách nhiệm hình sự và để truy cứu thì cần đáp ứng các điều kiện chịu trách nhiệm hình sự (ví dụ: pháp nhân thương mại phạm một tội tại Điều 76 nhưng tội phạm đó lại hết thời hiệu truy cứu TNHS, rõ ràng pháp nhân đó lại không phải chịu TNHS).
– Khoản 2 Điều 9 BLHS năm 2015 quy định về phân loại tội phạm đối với pháp nhân: “Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều này và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này”. Điều này có nghĩa, tội phạm được phân loại thành các tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng (theo khoản 1 – căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt), tuy nhiên, chưa có quy định nào “quy đổi” tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà pháp nhân thương mại thực hiện tương ứng với mức cao nhất của khung hình phạt mà pháp nhân thương mại phải chịu trong BLHS. Hơn nữa, hình phạt chính đối với pháp nhân thương mại phạm tội chỉ có hình phạt tiền là có thể quy đổi, nhưng chỉ tương ứng với tội phạm ít nghiêm trọng. Do đó, cần có hướng dẫn cụ thể hơn về nội dung này, để xác định rõ trường hợp nào là tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện là các tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, trong đó, nên căn cứ với loại tội mà người phạm tội đã thực hiện.
– Điều 10 về “Cố ý phạm tội”, Điều 11 về “Vô ý phạm tội”, Điều 17 về “Đồng phạm”… của BLHS năm 2015 đều quy định cho người phạm tội mà không quy định cho pháp nhân thương mại phạm tội. Trong khi đó, Điều 8 về “Khái niệm tội phạm” lại nêu: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý…”; Điều 85 về “Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại” lại có đề cập đến trường hợp pháp nhân thương mại “câu kết với pháp nhân thương mại khác để phạm tội” (điểm a khoản 1 Điều 85)… Do đó, đề nghị các nhà làm luật nghiên cứu, bổ sung điều luật về lỗi cố ý và vô ý đối với pháp nhân thương mại phạm tội và vấn đề đồng phạm của pháp nhân thương mại phạm tội trong BLHS năm 2015. Hơn nữa, trong vụ án hình sự liên quan đến pháp nhân thương mại bị buộc tội, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh, xác định rõ các tình tiết đặc trưng gắn liền với pháp nhân tại Điều 441 BLTTHS năm 2015, trong đó có việc chứng minh một vấn đề quan trọng – “Lỗi của pháp nhân, lỗi của cá nhân là thành viên của pháp nhân” (khoản 2).
– Khoản 1 Điều 75 BLHS năm 2015 đã đưa ra các điều kiện để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại: (1) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; (2) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; (3) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại và; (4) Chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS. Tuy nhiên, do đây là bốn điều kiện độc lập và phải có đủ các điều kiện này mới truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Song, điều kiện thứ nhất (hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại) và điều kiện thứ ba (hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại) dường như chưa độc lập với nhau vì thực tế, nếu hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại thì không thể lại có trường hợp không có sự chỉ đạo, điều hành, chấp thuận của pháp nhân thương mại và ngược lại, nếu đã có sự chỉ đạo, điều hành hay chấp thuận của pháp nhân thương mại thì chính là đã nhân danh pháp nhân rồi. Hơn nữa, pháp nhân không có tri giác để hành động được mà mọi hoạt động phải thông qua người đại diện của nó. Do đó, có thể ghép hai điều kiện này vào thành một điều kiện chung làm cơ sở cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân được công bằng và dễ chứng minh hơn về phương diện TTHS.
– Điều 78 BLHS năm 2015 quy định về hình phạt “Đình chỉ hoạt động có thời hạn” đối với pháp nhân thương mại phạm tội như sau: “Đình chỉ hoạt động có thời hạn là tạm dừng hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế” (khoản 1). Quy định này chưa thật sự chính xác vì nếu gây thiệt hại đến “tính mạng” (đoạn trước) mà hậu quả gây ra lại “có khả năng khắc phục trên thực tế” (đoạn sau) là chưa đúng vì gây thiệt hại đến tính mạng rõ ràng không thể khắc phục được. Vì vậy, cần sửa lại cho chính xác theo hướng “một số hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế…”.
– Danh tiếng, uy tín, vị thế đối với pháp nhân thương mại là vô cùng quan trọng, nó là tài sản tinh thần vô giá được xây dựng qua nhiều năm tháng, sự đánh giá của cộng đồng, xã hội… Chính vì vậy, kinh nghiệm trong pháp luật hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới như: Cộng hòa Pháp, Hà Lan, Bỉ… đều quy định hình phạt “Niêm yết bản án, quyết định đã được Tòa án tuyên hoặc thông báo bản án, quyết định đó trên các phương tiện nghe nhìn” để răn đe, cảnh tỉnh đối với các pháp nhân khác và bản thân pháp nhân đã phạm tội. Trong khi đó, BLHS năm 2015 chưa (không) quy định hình phạt này như kinh nghiệm của một số nước. Do đó, chúng tôi cho rằng, trong lần sửa đổi, bổ sung sắp tới các nhà làm luật nước ta cân nhắc quy định bổ sung hình phạt này để nâng cao hiệu quả công tácphòng ngừa tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện, để các pháp nhân khác thấy rằng, “danh tiếng thì có rất lâu nhưng tai tiếng thì rất nhanh”, từ đó không có ý định phạm tội.

3.2. Một số vấn đề đặt ra khi thi hành quy định của BLTTHS năm 2015 liên quan đến thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân

Khi thi hành quy định của BLTTHS năm 2015 liên quan đến thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân có một số vấn đề đặt ra và hướng giải quyết như sau:
– Điều 8 BLHS năm 2015 về “Khái niệm tội phạm” đã xác định pháp nhân thương mại là loại pháp nhân duy nhất có tư cách chủ thể của tội phạm. Cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân được quy định tại Điều 2 Bộ luật này cũng khẳng định: “Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Tuy nhiên, Chương XXIX BLTTHS năm 2015 lại có tên là “Thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân” và toàn bộ quy định trong Chương này đều sử dụng thuật ngữ “pháp nhân” mà không phân biệt hay giới hạn loại pháp nhân nào trong khi thủ tục tố tụng này chỉ có thể áp dụng đối với pháp nhân thương mại bị truy cứu TNHS. Theo đó, có thể nói rằng, quy định về thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân của BLTTHS hiện nay chưa thống nhất với quy định về pháp nhân phạm tội trong BLHS. Tuy nhiên, nhiệm vụ chứng minh tính chất “thương mại” trong “nhân thân” của pháp nhân bị truy cứu không được đề cập đến trong bất kỳ quy định nào của BLTTHS năm 2015. Do đó, BLTTHS năm 2015 cần phải đổi tên Chương XXIX và sử dụng các thuật ngữ trong đó thống nhất là “pháp nhân thương mại” (hoặc cũng có thể sửa đổi trong Điều 4 BLTTHS năm 2015 khi giải thích thuật ngữ – pháp nhân trong Bộ luật này được hiểu là pháp nhân thương mại) .
– Hiện nay, trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố hoặc xét xử sẽ xảy ra một số khả năng cần được dự báo, đó là các trường hợp xóa sổ hoặc thay đổi pháp nhân (điều này khác với cá nhân là đối với pháp nhân có thể có giải thể, phá sản hoặc hợp nhất, chia, tách, sáp nhận pháp nhân) , do đó, các cơ quan có thẩm quyền cần có hướng dẫn thi hành quy định về việc tham gia tố tụng của người đại diện pháp nhân và việc đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án cũng như xác định bị can, bị cáo là pháp nhân trong vụ án để áp dụng thủ tục giải quyết, đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án thì pháp nhân không được chia, tách, sáp nhập để xử lý được chính xác. Ngoài ra, việc xác định rõ vai trò và quy chế pháp lý của người đại diện trong thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân thương mại cũng cần được xác định rõ. Rõ ràng, trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một pháp nhân, cá nhân – người đại diện của chủ thể này tham gia tố tụng với tư cách là người thay mặt pháp nhân chứ không phải vì người này đã tham gia vào hành vi phạm tội . Chúng tôi tán thành với quan điểm cho rằng quy chế pháp lý (vai trò, quyền và nghĩa vụ) của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại quy định tại khoản 2 Điều 435 BLTTHS năm 2015 về cơ bản giống với vai trò của người làm chứng trong vụ án hình sự .
– Khoản 1 Điều 436 BLTTHS năm 2015 về “Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân” quy định: “Cơ quan Điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế sau đây đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử:
a) Kê biên tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
b) Phong tỏa tài khoản của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
c) Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
d) Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án”.
Sau đó, riêng hai biện pháp tại điểm “a” và “b” (đã nêu) quy định tại khoản 4 Điều 437 về “Kê biên tài sản” và khoản 5 Điều 438 về “Phong tỏa tài khoản” của BLTTHS năm 2015 có dẫn chiếu thẩm quyền, thủ tục sang Điều 128 về biện pháp “Kê biên tài sản” và Điều 129 về biện pháp “Phong tỏa tài khoản” (còn hai biện pháp sau (điểm “c” và “d” lại được quy định rõ tại khoản 2 Điều 439). Dẫn chiếu tiếp hai Điều luật này lại tiếp tục dẫn chiếu thẩm quyền áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 113 Bộ luật này và Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, nhưng không có quy định thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế là “Kê biên tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân” và “Phong tỏa tài khoản của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân” cho cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mà khoản 1 Điều 436 BLTTHS năm 2015 đã quy định. Do đó, các nhà làm luật cần quy định thống nhất vấn đề này theo hướng – hoặc bỏ đi thẩm quyền của cơ quan này (cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) hoặc đã quy định thì bổ sung cho đầy đủ, thống nhất trong các điều luật trên và điều luật dẫn chiếu .
– Khoản 1 Điều 439 BLTTHS năm 2015 quy định: “Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân chỉ áp dụng khi có căn cứ xác định hành vi phạm tội của pháp nhân gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của con người, môi trường hoặc trật tự, an toàn xã hội…
Thời hạn tạm đình chỉ hoạt động của pháp nhân không được quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn tạm đình chỉ đối với pháp nhân bị kết án không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm pháp nhân chấp hành án”. Do đó, theo như quy định trên thì “thời hạn tạm đình chỉ hoạt động của pháp nhân không được quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật này”. Rõ ràng, “quy định này không khác gì hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn, thậm chí, nếu tất cả các cơ quan tiến hành tố tụng đều áp dụng thì còn nặng hơn cả hình phạt chính và thực sự làm khó cho các pháp nhân, bởi hoạt động của các pháp nhân thương mại luôn đặt lợi ích kinh tế làm đầu” . Khắc phục vấn đề này các cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn theo hướng là tùy theo hành vi phạm tội của pháp nhân gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của con người, môi trường hoặc trật tự, an toàn xã hội để cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định tạm đình chỉ hoạt động của pháp nhân thương mại cho phù hợp . Bởi lẽ, việc phải ngừng hoạt động trong lĩnh vực nhất định ảnh hưởng không nhỏ không chỉ đến chính pháp nhân, mà còn ảnh hưởng liên đới đối với người lao động làm việc trong pháp nhân ấy.
– Điều 444 BLTTHS năm 2015 quy định, Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự về các tội phạm do pháp nhân thực hiện là Tòa án nơi pháp nhân thực hiện tội phạm. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi pháp nhân đó có trụ sở chính hoặc nơi có chi nhánh của pháp nhân đó thực hiện tội phạm. Việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với pháp nhân phạm tội được thực hiện theo thủ tục chung quy định tại Phần thứ tư và Phần thứ sáu của Bộ luật này. Phiên tòa xét xử đối với pháp nhân phải có mặt người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp; có mặt bị hại hoặc người đại diện của bị hại. Nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi tán thành với quan điểm trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp, BLTTHS Việt Nam cần mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo lãnh thổ đối với pháp nhân. Nghĩa là trường hợp không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm hoặc tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau thì thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với cá nhân và pháp nhân trong cùng vụ án thuộc về Tòa án nơi cá nhân cư trú hoặc bị bắt. Mặt khác, BLTTHS năm 2015 cũng cần bổ sung quy định nhập vụ án để điều tra, truy tố đối với cá nhân và pháp nhân trong cùng vụ án .
– Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự do pháp nhân thương mại thực hiện tội phạm đòi hỏi các cơ quan, người tiến hành tố tụng cần làm sáng tỏ các quan hệ pháp luật hình sự và quan hệ pháp luật TTHS, để các cơ quan tiến hành tố tụng xác định chính xác đối tượng chứng minh trong vụ án có tội phạm do pháp nhân thực hiện, từ đó giải quyết vụ án được khách quan, chính xác và đúng pháp luật vấn đề tội phạm và trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại . Trên cơ sở này, từ đó xác định rõ có dấu hiệu tội phạm hay không; chủ thể của tội phạm là pháp nhân có đúng là pháp nhân thực hiện tội phạm hay không; cũng như vấn đề trách nhiệm hình sự của cá nhân của các thành viên pháp nhân và pháp nhân trong vụ án đó thế nào.. .
Tóm lại, BLHS và BLTTHS năm 2015 đã có nhiều thay đổi lớn trong chính sách hình sự của Nhà nước khi quy định vấn đề trách nhiệm hình sự và thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân thương mại. Tuy nhiên, để bảo đảm thi hành đúng và có căn cứ đối với quy định của hai đạo luật này đòi hỏi các nhà làm luật cần tiếp tục nghiên cứu, rà soát, chỉnh sửa, bổ sung những tồn tại, vướng mắc (nếu có) trên phương diện lập pháp hình sự và TTHS, kết hợp với thực tiễn áp dụng trong thời gian tới để hoàn thiện, qua đó, mới bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người và pháp nhân thương mại phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, áp dụng thủ tục tố tụng truy cứu chính xác, đúng pháp luật./.

Dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số tội về hiếp dâm, cưỡng dâm

HĐTP TANDTC đã công bố và thảo luận về dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 141 về tội hiếp dâm, Điều 142 về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, Điều 143 về tội cưỡng dâm, Điều 144 về tội cưỡng dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi, Điều 145 về tội giao cấuhoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, Điều 146 về tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi và Điều 147 về tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm của Bộ luật Hình sự 2015.

Theo đó, dự thảo Nghị quyết hướng dẫn về một số tình tiết định tội, tình tiết định khung hình phạt và việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội.

A. Về một số tình tiết định tội

1. “Giao cấu” quy định tại khoản 1 Điều 141, khoản 1 Điều 142, khoản 1 Điều 143, khoản 1 Điều 144 và khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự là hành vi của người phạm tội đưa dương vật vào trong âm đạo, không phân biệt mức độ nông hay sâu, đã xuất tinh hay chưa xuất tinh.
2. “Hành vi quan hệ tình dục khác” quy định tại khoản 1 Điều 141, khoản 1 | Điều 142, khoản 1 Điều 143, khoản 1 Điều 144 và khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự là những hành vi quan hệ tình dục không phải hành vi giao cấu nhưng vẫn nhằm làm thỏa mãn nhu cầu tình dục của người phạm tội (ví dụ: người phạm tội sử dụng tay, chân, lưỡi, miệng, các dụng cụ tình dục hoặc bất cứ công cụ nào khác để kích thích âm đạo, dương vật hoặc hậu môn của người bị hại hoặc người phạm tội đưa bộ phận sinh dục của mình vào miệng hoặc hậu môn của người bị hại nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục).
3. “Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân” quy định tại khoản 1 Điều 141 và khoản 1 Điều 142 của Bộ luật Hình sự là việc người phạm tội lợi dụng tình trạng người bị hại đang bị ốm đau, bệnh tật, tai nạn, bị ngất hay bị mê man, bất tỉnh do sử dụng các chất kích thích (như: rượu, bia, ma túy, thuốc an thần hoặc các chất kích thích khác) hoặc bị tâm thần dẫn đến không thể chống cự được để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.
4. “Thủ đoạn khác” quy định tại khoản 1 Điều 141 và khoản 1 Điều 142 của Bộ luật Hình sự là những thủ đoạn không phải dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân, như lừa gạt, dụ dỗ, hứa hẹn, dọa nạt, cho nạn nhân sử dụng rượu bia, ma túy, thuốc an thần, thuốc kích thích hoặc các chất kích thích khác để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.
5. “Trái với ý muốn của nạn nhân” quy định tại khoản 1 Điều 141 và khoản 1 Điều 142 của Bộ luật Hình sự là người bị hại không đồng ý với hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác nhưng người phạm tội vẫn cố ý thực hiện.
6. “Người lệ thuộc” quy định tại khoản 1 Điều 143 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người bị hại bị lệ thuộc về vật chất (như: được nuôi dưỡng, được chu cấp các chi phí sinh hoạt hàng ngày…) hoặc lệ thuộc về công việc, tín ngưỡng, tôn giáo đối với người phạm tội.
7. “Người đang ở trong tình trạng quẫn bách” quy định tại khoản 1 Điều 143, khoản 1 Điều 144 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người đang trong tình trạng, hoàn cảnh mà tự mình khó có thể khắc phục được tình trạng đó, đòi hỏi phải có sự hỗ trợ, giúp đỡ từ người phạm tội (như hỗ trợ tiền cho sinh hoạt hàng ngày hoặc tiền thuốc chữa bệnh hiểm nghèo cho bố, mẹ, anh chị em ruột hoặc người thân thích khác).
8. “Đang ở trong tình trạng lệ thuộc mình” quy định tại khoản 1 Điều 144 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người bị hại đang trong tình trạng lệ thuộc người phạm tội về vật chất (nuôi dưỡng, chu cấp các chi phí sinh hoạt hàng ngày) hoặc về công việc, tín ngưỡng, tôn giáo.
9. “Dâm ô” quy định tại khoản 1 Điều 146 của Bộ luật Hình sự là một trong các hành vi sau đây nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục của người phạm tội, nhưng không nhằm mục đích giao cấu hoặc thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 16 tuổi:
a) Sờ, bóp, hôn vào những bộ phận, vùng nhạy cảm (ví dụ: bộ phận sinh dục, ngực, vùng mặt, đầu, đùi, mông…) trên cơ thể người dưới 16 tuổi;
b) Dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi sờ, bóp, hôn… vào những bộ phận, vùng nhạy cảm (ví dụ: bộ phận sinh dục, ngực, vùng mặt, đầu, đùi, mông…) trên cơ thể người phạm tội hoặc người khác;
c) Cố ý đụng chạm bộ phận của cơ thể mình hoặc sử dụng các đồ vật tác động vào các bộ phận, vùng nhạy cảm trên cơ thể người dưới 16 tuổi (ví dụ: bộ | phận sinh dục, ngực, vùng mặt, đầu, đùi, mông…). .
Hành vi sờ, bóp, hôn, đụng chạm vào các bộ phận, vùng nhạy cảm có thể thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp (ví dụ: qua lớp quần áo).
10. “Trình diễn khiêu dâm” quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Hình sự là hành vi dùng cử chỉ, hành động, hình ảnh, âm thanh gây kích thích ham muốn tình dục.
11. “Trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm” quy định tại khoản 1 điều 147 của BLHS là trường hợp người phạm tội buộc người bị hại phải trực tiếp chứng kiến cử chỉ, hành động, hình ảnh, âm thanh gây kích thích ham muốn tình dục.

B. Về một số tình tiết định khung hình phạt

1. “Có tổ chức” quy định tại điểm a khoản 2 các điều 141, 146, 147 và điểm b khoản 3 Điều 142 của Bộ luật Hình sự là hình thức đồng phạm có sự cầu kết chặt chẽ và phân công, sắp đặt vai trò của những người cùng thực hiện tội phạm.
2. “Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 141, điểm d khoản 2 Điều 142, điểm e khoản 2 Điều 145, điểm d khoản 2 Điều 146 và điểm d khoản 2 Điều 147 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi hiếp dâm, cưỡng dâm… đối với người mà họ có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh. Người phạm tội và người bị hại trong trường hợp này phải có mối quan hệ gia đình, xã hội, theo đó người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh đối với người bị hại. Trách nhiệm này này xuất phát từ quan hệ huyết thống như bố mẹ đối với con cái; quan hệ giáo dục như thầy giáo đối với học sinh; quan hệ chữa bệnh như thầy thuốc đối với bệnh nhân v,v…
Đối với trường hợp nếu hành vi hiếp dâm không liên quan đến việc chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh thì không áp dụng tình tiết này.
Ví dụ: Nguyễn Văn B là giáo viên trường K, một lần B cùng với một số bạn đi ăn nhậu, trên đường về gặp em Vũ Thị C là học sinh lớp 11 của trường, các bạn của B trêu gẹo C và cùng B kéo C vào chỗ vắng hãm hiếp. Sau khi gây án, B mới biết em C là học sinh của trường.
3. “Có tính chất loạn luân” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 141, điểm a khoản 2 Điều 142, điểm d khoản 2 Điều 143 và điểm a khoản 2 Điều 144 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội đã hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu với người cùng dòng máu về trực hệ, với anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha.
4. “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 141, điểm đ khoản 2 Điều 142, điểm b khoản 2 Điều 143, điểm d khoản 2 Điều 144, điểm a khoản 2 Điều 145, điểm b khoản 2 Điều 146 và điểm b khoản 2 Điều 147 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội từ 02 lần trở lên (02 lần hiếp dâm trở lên, 02 lần cưỡng dâm trở lên…) và mỗi lần phạm tội có đầy đủ yếu tố cấu thành quy định tại khoản 1 Điều luật tương ứng, đồng thời trong các lần phạm tội đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
5. “Nhiều người hiếp một người” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 141 và điểm b khoản 3 Điều 142 của Bộ luật Hình sự là trường hợp 02 người trở lên có hành vi hiếp dâm một người. Cũng được coi là “nhiều người hiếp một người”, nếu có từ 02 người trở lên cùng bàn bạc với nhau là tất cả sẽ thay nhau hiếp 01 người, nhưng quá trình thực hiện tội phạm thì chỉ mới có một người đã thực hiện hành vi hiếp dâm.
Không coi là “nhiều người hiếp một người”, nếu có từ 02 người trở lên cấu kết với nhau tổ chức, giúp sức cho 01 người trong số họ hiếp dâm 01 người và khi thực hiện tội phạm, cũng chỉ có 01 người hiếp dâm.
6. “Nhiều người cưỡng dâm một người” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 143 và điểm a khoản 3 Điều 144 của Bộ luật Hình sự là trường hợp 02 người trở lên có hành vi cưỡng dâm với một người. Cũng được coi là “nhiều người cưỡng dâm một người” nếu có từ 02 người trở lên cùng bàn bạc với nhau là tất cả sẽ thay nhau cưỡng dâm một người, nhưng quá trình thực hiện tội phạm thì chỉ mới có một người đã thực hiện hành vi cưỡng dâm.
Không coi là “nhiều người cưỡng dâm một người”, nếu có từ 02 người trở lên cấu kết với nhau tổ chức, giúp sức cho 01 người trong số họ cưỡng dâm 01 người và khi thực hiện tội phạm, cũng chỉ có 01 người cưỡng dâm.

Nguồn:  Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo luật Hình sự Việt Nam – Lý luận và thực tiễn

Việc quy định tội phạm nói chung và các tội xâm phạm tình dục nói riêng trong Bộ luật hình sự Việt Nam đóng vai trò rất quan trọng vì các quy định đó đã góp phần bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cũng như góp phần vào công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên trong những năm gần đây số lượng các vụ án xâm phạm tình dục lại có xu hướng tăng về số lượng cũng như tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Để khắc phục những tồn tại, vướng mắc trong quy định và áp dụng pháp luật về các tội xâm phạm tình dục trong thời gian vừa qua, góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự trong thời gian tới, nhằm đáp ứng được nhu cầu, đấu tranh phòng chống nhóm tội phạm này thì việc nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề lý luận, quy định về các tội xâm phạm tình dục, làm rõ những ưu điểm cũng như hạn chế, bất cập trong những quy định và thực tiễn áp dụngnhóm tội phạm này, từ đó có cơ sở để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện các quy định về các tội xâm phạm tình dục trong pháp luật hình sự Việt Nam là điều cần thiết.

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.1.1. Hiếp dâm

Là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân trái với ý muốn của họ.

1.1.2. Giao cấu

Là giao tiếp bộ phận sinh dục ngoài của giống đực vào bộ phận sinh dục của giống cái ở động vật[3].
Có rất nhiều cách hiểu về giao cấu nhưng theo chúng tôi để dễ hiểu và phù hợp với tính chất pháp lý thì giao cấu là hành vi đưa bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ.

1.1.3. Những hành vi quan hệ tình dục khác

Đây là một cụm từ gây ra rất nhiều tranh cãi trong Bộ luật Hình sự năm 2015. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng rất khó xác định như thế nào là hành vi quan hệ tình dục khác cũng như xác định khi có hành vi xảy ra thực tế trong vụ án. Từ đó, dễ dẫn đến oan, sai.
Qua nghiên cứu một số tài liệu, chúng tôi nhận thấy rằng những hành vi quan hệ tình dục khác với giao cấu là những hành vi quan hệ tình dục qua đường hậu môn, đường miệng và thủ dâm.

1.2. Dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

1.2.1. Định nghĩa
Hiếp dâm người dưới 16 tuổi được hiểu là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến người dưới 16 tuổi trái ý muốn của họ hoặc giao cấu, thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới mười ba tuổi.
1.2.2. Dấu hiệu pháp lý
Đối với nạn nhân từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì phải xác định việc giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân, còn đối với nạn nhân dưới 13 tuổi thì dù nạn nhân có đồng ý hay không đồng ý giao cấu thì người phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm trẻ em.
Việc nhà làm luật quy định nạn nhân dưới 13 tuổi dù có đồng ý để người phạm tội giao cấu thì hành vi giao cấu này vẫn bị coi là phạm tội xuất phát từ luận điểm: ở độ tuổi dưới 13 trẻ em còn hết sức non nớt, yếu ớt, chưa có khả năng biểu lộ ý chí đúng đắn, dễ bị người khác lôi kéo, rủ rê, mua chuộc, khó có thể tự vệ được, nên cần được bảo vệ một cách đặc biệt nhằm bảo đảm sự phát triển bình thường, lành mạnh của các em mà cần phải trừng trị thật nghiêm khắc đối với hành vi xâm phạm tình dục đối với các em.
Tuổi của nạn nhân (người bị hiếp) là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Việc xác định tuổi của người bị hại trên cơ sở giấy khai sinh của họ nếu trường hợp mất giấy khai sinh hoặc không có giấy khai sinh thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng tất cả các biện pháp có thể được, để xác định tuổi thật của người bị hại. Cuối cùng nếu không còn cách nào để xác định tuổi thật của người bị hại, thì theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội, tuổi của người bị hại sẽ được xác định như sau: Nếu chỉ biết tháng và năm sinh thì lấy ngày đầu tiên của tháng đó làm ngày sinh của người bị hại. Ví dụ: Chỉ biết người bị hại sinh vào tháng 05-1986, thì lấy ngày 01-05-1986 là ngày sinh của người bị hại; nếu chỉ biết năm sinh mà không biết ngày tháng thì lấy ngày đầu của tháng đầu tiên trong năm đó làm ngày sinh của người bị hại để tính tuổi. Ví dụ: Chỉ biết người bị hại sinh năm 1985 thì lấy ngày 01-01-1985 là ngày sinh của người bị hại.
Ngoài dấu hiệu về tuổi thì để cấu thành tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi thì đòi hỏi phải có đủ 4 yếu tố cấu thành tội phạm: mặt khách quan, mặt khách thể, mặt chủ quan, mặt chủ thể.
1.2.2.1. Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội này bao gồm các dấu hiệu như sau:
Thứ nhất, có hành vi dùng vũ lực. Việc dùng vũ lực có thể được thực hiện bằng các hình thức sau: thực hiện trực tiếp bằng tay, chân như đấm, đá, bóp cổ, xé quần áo,…; thực hiện gián tiếp thông qua các công cụ vật chất như dùng dao dâm, chém, dùng gập để đập, dùng dây trói,… nhằm khống chế lại sự chống cự của nạn nhân để thực hiện hành vi giao cấu hoặc các hành vi quan hệ tình dục khác.
Thứ hai, có hành vi đe dọa dùng vũ lực. Được hiểu là những hành vi uy hiếp tinh thần của nạn nhân làm cho nạn nhân khiếp sợ, tê liệt ý chí kháng cự. Việc đe dọa dùng vũ lực có thể là các hành vi dọa đánh, đập, dọa trả thù, dọa giết nạn nhân, người thân của nạn nhân,….
Thứ ba, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân. Tức là lợi dụng tình trạng nạn nhân đang có những nhược Điểm, khuyết Điểm về thể chất, tinh thần như bị ngất xỉu, bị bại liệt, bị mù lòa, bệnh tật, tâm thần,…để thực hiện hành vi giao cấu hoặc các hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân. Lúc này nạn nhân không có khả năng kháng cự lại hoặc không biết được hành vi phạm tội của người phạm tội.
Thứ tư, là có những thủ đoạn khác để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân. Là các thủ đoạn, các hành vi mà người phạm tội thực hiện nhằm đưa nạn nhân vào tình trạng mất khả năng nhận thức, kiểm soát được hành vi hay đưa nạn nhân vào tình trạng mê man, mất khả năng kháng cự để thực hiện hành vi giao cấu hoặc các hành vi quan hệ tình dục khác mà không được sự đồng ý của họ như cho uống thuốc kích dục, thuốc ngủ, thuốc mê, ép hít ma túy, chuốc say,… Các hành vi khách quan nêu trên chỉ được xem xét đối với các vụ mà nạn nhân từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Còn trong trường hợp nạn nhân là người dưới 13 tuổi thì không nhất thiết phải có một trong các hành vi nêu trên mới cấu thành tội hiếp dâm người 16 tuổi mà chỉ cần có hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác đối với người dưới 13 tuổi thì đã thỏa mãn mặt khách quan của tội này.
Cuối cùng, là trái với ý muốn của người bị hại. Đây là một dấu hiệu hết sức quan trọng mà thực tiễn xét xử không ít trường hợp khó xác định, vì về phía người bị hại, trong một số trường hợp do nhiều nguyên nhân khác nhau đã khai với các cơ quan tiến hành tố tụng không đúng với trạng thái tâm lýcủa mình, có người do có sự thoả thuận nhưng lại khai với nhà chức trách là mình bị hiếp, ngược lại có người bị hiếp thật, nhưng bị người phạm tội mua chuộc lại khai là có sự thoả thuận. Thông thường khi xác định tội phạm người ta xét đến ý thức chủ quan của người phạm tội, nhưng đối với tội hiếp dâm, thì ý thức chủ quan của người bị hại lại là vấn đề rất quan trọng để xác định có tội hay không có tội.
Để xác định việc giao cấu có trái với ý muốn của người bị hại hay không, ngoài lời khai của người bị hại, chúng ta còn phải căn cứ vào nhiều yếu tố khác như: mối quan hệ giữa hai người, thủ đoạn thực hiện tội phạm, hoàn cảnh cụ thể khi xảy ra việc giao cấu, nhân thân của cả hai người, ý kiến nhận xét của những cơ quan, tổ chức xã hội nơi hai người công tác, của bạn bè, của cha mẹ và các tình tiết khác của vụ án, tránh chủ quan phiến diện. Chỉ khi nào chứng minh việc giao cấu đó là trái với ý muốn của người bị hại (người phụ nữ) thì người có hành vi giao cấu (người đàn ông) mới bị coi là phạm tội hiếp dâm.
Dấu hiệu trái với ý muốn của người bị hại là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội hiếp dâm, nhưng dấu hiệu này chỉ có ý nghĩa đối với trường hợp người bị hại từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, còn đối với trường hợp người bị hại chưa đủ 13 tuổi thì dù có trái ý muốn hay không, người có hành vi giao cấu với họ đều là phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi.
Trong trường hợp người phạm tội không thể tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do sự chống trả, kháng cự quyết liệt của người bị hại, sự phát hiện hoặc có nguy cơ bị phát hiện bởi người khác,…thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này trong trường hợp phạm tội chưa đạt.
1.2.2.2. Mặt khách thể
Hành vi phạm tội đã xâm phạm đến quyền được bảo vệ thân thể, nhân phẩm, danh dự của người dưới 16 tuổi.
Hành vi nêu trên xâm phạm đến sức khỏe (bao gồm sứ khỏe về thể chất và sức khỏe về tinh thần), tính mạng của nạn nhân là người dưới 16 tuổi, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến thuần phong mỹ tục đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển bình thường về tâm, sinh lí của người dưới 16 tuổi.
1.2.2.3. Mặt chủ quan
   Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Tức người phạm tội nhận thức rõ về hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả đó xảy ra (đối với lỗi cố ý trực tiếp) hoặc không mong muốn hậu quả đó xảy ra nhưng cố tình để mặc cho hậu quả xảy ra (đối với lỗi cố ý gián tiếp).
Yếu tố động cơ và mục đích không bắt buộc phải có trong tội phạm này. Tuy nhiên, trong một vụ án thực tế về hiếp dâm người dưới 16 tuổi nếu tồn tại yếu tố động cơ và mục đích thì cần được xác định để làm rõ tính chất của vụ việc, ý đồ, mong muốn của người phạm tội. Từ đó, có hướng xử lí đúng đắn, triệt để, xác định hình phạt cụ thể.
1.2.2.4. Mặt chủ thể
Chủ thể của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là bất kì người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Mặc dù trong quy định của pháp luật không chỉ rõ chủ thể thực hiện hành vi này là nam hay nữ nhưng dựa trên thực tế hoàn cảnh và quá trình xét xử của Tòa án thì chủ thể ở đây chỉ có thể là nam thực hiện với nạn nhân là nữ. Còn chủ thể nữ sẽ bị truy cứu tội này với tư cách là người đồng phạm. Tuy nhiên trong khoa học pháp lý hình sự vẫn tồn tại hai lối suy nghĩ khác nhau về vấn đề này.
Quan Điểm thứ nhất cho rằng: chủ thể của Tội hiếp dâm là chủ thể đặc biệt chỉ có thể là nam giới. Còn nữ giới có thể đóng vài trò là đồng phạm trong tội này[4]. Quan Điểm thứ hai cho rằng: Chủ thể của tội hiếp dâm trẻ là là bất cứ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự[5].
Giải thích tại sao quan Điểm thứ nhất được đa số các nhà học luật đồng ý. xuất phát từ đặc điểm cấu trúc tâm sinh lý của bộ phận sinh dục cũng như cơ chế sinh lý khi giao hợp của nam giới và nữ giới có sự khác nhau đó là “nam cương nữ nhu” cho nên để có thể thực hiện được hành vi giao cấu trên thực tế thì cần phải có sự chủ động của nam giới. Khi thực hiện hành vi giao cấu mà người phụ nữ không đồng ý thì nam giới vẫn thực hiện được hành vi nếu như họ muốn. Muốn thực hiện hành vi giao cấu trên thực tế thì cần có sự cương dương của nam giới, “đây là một quá trình có sự tham gia của nhiều yếu tố như thần kinh, nội tiết, tâm lý… trong đó ham muốn đóng vai trò quan trọng”[6]. Còn nếu nam giới không đồng ý thì nữ giới không thể thực hiện được hành vi giao cấu. Bên cạnh đó trong thực tế những trường hợp nữ giới thực hiện hành vi giao cấu trái với ý muốn của nam giới hầu như là không có, chính vì vậy quan Điểm cho rằng chủ thể của Tội hiếp dâm chỉ là nam giới còn nữ giới chỉ có thể là người đồng phạm nhưng không thể tham gia với vai trò là người thực hành là quan Điểm phù hợp hơn cả trong những năm vừa qua.
Tuy nhiên cần phải nhìn nhận một cách tích cực về quan Điểm này. Bởi vì luồn quan Điểm được đa số mọi người đồng ý khá thuyết phục đối với việc quy định về tội phạm hiếp dâm trẻ em được các Bộ luật Hình sự năm 1999 trở về trước quy định còn đối với việc ghi nhận về tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi được Bộ luật Hình sự năm 2015 rõ ràng đã mở rộng hơn và chắc chắn phải mở rộng về chủ thể của tội phạm này. Theo đó, Bộ luật Hình sự 2015 đã ghi nhận thêm cụm từ “thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác”, như đã giải thích ở trên thì những hành vi quan hệ tình dục khác rất đa dạng chẳng hạn như quan hệ tình dục qua đường miệng, đường hậu môn, thủ dâm,… những hành vi này thì bất kì chủ thể là nam hay nữ đều có thể thực hiện được. Mặc khác, thời gian gần đây vô số các trường hợp trẻ em là nam bị nam, nữ xâm hại tình dục hoặc trẻ em là nữ bị nữ xâm hại tình dục đã xảy rất phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn nhiều nước trên thế giới. Xuất phát từ sự phát triển của cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới hiện nay, nhóm người này có đời sống tình dục vô cùng đa dạng, phong phú và họ thường thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác ngoài giao cấu. Chính vì lẽ đó lối giải thích theo hướng chủ thể của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi chỉ là nam đã quá cũ và không còn phù hợp với việc quy định của Bộ luật Hình sự 2015 và thực tế hiện nay.
Thêm nữa, đối với trường hợp giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác có sự đồng ý của nạn nhân (thuận tình) dưới 13 tuổi thì cả nam và nữ đều có thể thực hiện được các hành vi này. Vì trong trường hợp này có sự chủ động của hai bên thì nữ giới vẫn có thể thực hiện được hành vi phạm tội. Tại Điểm a, Khoản 1, Điều 142, Bộ luật Hình sự 2015 quy định rằng: “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi”, rõ ràng ở điều luật này không cầu điều kiện phải trái ý muốn của người dưới 13 tuổi thì mới phạm tội hiếp dâm. Tức là nếu có hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi thì dù thuận tình hay không thuận tình thì vẫn phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Vì thế nếu loại chủ thể là nữ ra khỏi tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là một điều bất hợp lí.
Vì thế, tác giả hoàn toàn ủng hộ hướng nhìn nhận chủ thể của tội hiếp dâm nói chung và hiếp dâm người dưới 16 tuổi nói riêng là bất cứ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
1.2.3 Hình phạt
1.2.3.1. Khung một (Khoản 1)
   Có mức phạt tù từ 7 năm đến 15 năm. Được áp dụng đối với người có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm này đã thực hiện hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ hoặc với người dưới 13 tuổi.
1.2.3.2. Khung hai (Khoản 2)
Có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm. Được áp dụng đối với một trong các trường hợp cụ thể sau đây:
– Có tính chất loạn luân (Điểm a). Được hiểu là người phạm tội đã hiếp dâm người dưới 16 tuổi là người có cùng dòng máu về trực hệ (như giữa cha mẹ với con cái; giữa ông bà nội, ngoại với cháu nội, ngoại) hoặc là người có quan hệ ruột thịt như anh, chị, em cùng cha mẹ; anh, chị, em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha.
– Làm nạn nhân có thai (Điểm b). Hiếp dâm mà làm nạn nhân có thai là do hành vi hiếp dâm của người phạm tội mà nạn nhân có thai, tức là cái thai của nạn nhân là kết quả của việc giao cấu giữa người phạm tội với nạn nhân. Nếu nạn nhân tuy có bị hiếp dâm nhưng việc nạn nhân có thai lại là kết quả của việc giao cấu giữa nạn nhân với người khác thì người phạm tội hiếp dâm không phải chịu tình tiết “làm nạn nhân có thai”. Nói chung thực tiễn xét xử trường hợp phạm tội này thường xảy ra đối với người phạm tội thực hiện hành vi giao cấu với người bị hại nhiều lần, người phạm tội không từ chối cái thai trong bụng nạn nhân là của mình, nên rất ít khi phải trưng cầu giám định. Tuy nhiên, kết quả giám định cũng không phải chứng cứ duy nhất để xác định cái thai trong bụng nạn nhân có phải là của người phạm tội không. Vì vậy, để xác định nạn nhân có thai có đúng là do hành vi hiếp dâm gây ra không, cần phải đánh giá một cách khách quan toàn diện; chỉ khi nào có đủ căn cứ xác định nạn nhân có thai là do hành vi hiếp dâm gây ra thì người phạm tội hiếp dâm mới phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điểm b Khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự.
– Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% (Điểm c). Trong quá trình thực hiện hành vi nếu người phạm tội đã sử dụng vũ lực tác động lên người nạn nhân hay do bị hiếp dâm mà nạn nhân ốm đau nặng, mắc các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục,…được cơ quan giám định nạn nhân có tỷ lệ tổn thương từ 31% đến 60% thì áp dụng Điểm này. Sau khi bị xâm hại nạn nhân có thể bị ám ảnh bởi các hành vi đồi bại của người phạm tội từ đó dẫn đến trầm cảm, tự kỉ, rối loạn tâm thần ở mức độ nhẹ mà kết quả của cơ quan giám định cho thấy tỷ lệ tổn thương từ 31% đến 60% thì áp dụng điểm này. Vấn đề hậu quả của hành vi hiếp dâm gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân là một dấu hiệu mới, được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
– Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bện (Điểm d). Người phạm tội và người bị hại trong trường hợp này phải có mối quan hệ, trong đó người phạm tội có nghĩa vụ đối với người bị hại. Nghĩa vụ này xuất phát từ quan hệ chăm sóc như người nuôi dưỡng đối với người được nuôi dưỡng, quan hệ giáo dục như thầy giáo đối với học sinh, quan hệ chữa bệnh như thầy thuốc đối với bệnh nhân,…Khi xét đến các quan hệ này, cần chú ý là chỉ khi nào hành vi phạm tội của người có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh đã lợi dụng sự chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh để hiếp dâm người được chăm sóc, được giáo dục hoặc được chữa bệnh thì mới thuộc trường hợp phạm tội này, nếu hành vi hiếp dâm không liên quan đến việc chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh thì không thuộc trường hợp phạm tội này.
– Phạm tội hai lần trở lên (Điểm đ). Được hiểu là có tất cả hai lần phạm tội trở lên mà mỗi lần phạm tội có đầy đủ yếu tố cấu thành tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Đồng thời trong các lần phạm tội đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và đang còn trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Cũng được xem là phạm tội hai lần trở lên trong trường hơp người phạm tội hiếp dâm từ hai lần trở lên đối với cùng một nạn nhân là người dưới 16 tuổi.
– Đối với hai người trở lên (Điểm e). Là trường hợp một người đã hiếp dâm từ hai người trở lên hoặc nhiều người cùng hiếp dâm từ hai người trở lên. Đây là trường hợp có nhiều người bị hiếp, trong đó ít nhất mỗi người bị hiếp một lần, còn người phạm tội có thể là một người hoặc nhiều người. Vì vậy khi xác định hành vi phạm tội, các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải phân biệt:
Nếu có một người hiếp dâm từ hai người trở lên và tất cả nạn nhân chỉ bị hiếp một lần, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điểm e Khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự.
Nếu có một người hiếp dâm từ hai người trở lên, trong đó có nạn nhân bị hiếp một lần, có nạn nhân bị hiếp nhiều lần, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo cả hai Điểm đ và Điểm e Khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự.
Nếu có nhiều người phạm tội (phạm tội có tổ chức hoặc là đồng phạm thông thường), trong đó có nhiều người bị hiếp nhưng tất cả nạn nhân chỉ bị hiếp một lần thì tất cả người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điểm e Khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự. Nếu là phạm tội có tổ chức thì còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điểm a Khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự. Nếu có một người bị hai người trở lên hiếp thì còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điểm b Khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự.
– Tái phạm nguy hiểm (Điểm g). Người phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi bị coi là tái phạm nguy hiểm nếu đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi thuộc một các trường hợp quy định tại Khoản 1, Khoản 2 hoặc Khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự. Hoặc đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi.
1.2.3.3. Khung ba (Khoản 3)
Có mức phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Được áp dụng đối với một trong các trường hợp phạm tội sau đây:
– Có tổ chức (Điểm a). Hiếp dâm người dưới 16 tuổi có tổ chức cũng như trường hợp phạm tội có tổ chức khác. Các dấu hiệu của phạm tội có tổ chức được quy định tại Khoản 2 Điều 17 Bộ luật Hình sự. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Khái niệm đồng phạm được Bộ luật Hình sự nước ta ghi nhận tại Điều 17 với định nghĩa là “có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm”, nhưng phạm tội có tổ chức lại là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ hơn; Phạm tội có tổ chức bao gồm nhiều người cùng tham gia, trong đó có người tổ chức, người thực hành, người xúi dục, người giúp sức. Đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi có tổ chức, hiện hành vi hiếp dâm một người dưới 16 tuổi. Cũng được xem là nhiều người cùng hiếp dâm một người trong trường hợp có hai người trở lên bàn bạc với nhau là tất cả sẽ thay phiên nhau hiếp dâm một người, nhưng trong quá trình thực hiện tội phạm thì chỉ một hoặc một số người thực hiện hành vi hiếp dâm.
Trong trường hợp có từ hai người trở lên cấu kết chặt chẽ với nhau để tổ chức, giúp sức cho một người trong số họ hiếp dâm thì không được xem là nhiều người hiếp dâm một người mà là trường hợp phạm tội có tổ chức. Nhưng nếu trong trường hợp này có hai người trở lên cùng thực hiện hành vi hiếp dâm thì những người này đồng thời phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự với hai trường hợp: phạm tội có tổ chức và nhiều người hiếp dâm một người theo Điểm a, b Khoản 3 của điều luật này.
– Phạm tội đối với người dưới 10 tuổi (Điểm c). Đây là một điểm hoàn toàn mới được Bộ luật Hình sự ghi nhận. Thấy rõ mức độ nguy hiểm và đối tượng phạm tội cần phải được pháp luật trừng trị một cách nghiêm khắc nhất nên các nhà làm luật đã ghi nhận điều này. Việc ghi nhận rõ đối với người dưới 10 tuổi của các nhà làm luật cũng cho ta thấy rõ được đây là trường hợp cần phải được đặc biệt quan tâm và bảo vệ. Hành vi hiếp dâm người dưới 10 tuổi là hành vi phạm tội mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng, phải chịu hình phạt thích đáng nhất. Nguyên tắc áp dụng Điểm này là khi xử phạt người phạm tội nếu độ tuổi của nạn nhân càng nhỏ thì mức án mà người phạm tội phải gánh chịu càng cao.
– Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên (Điểm d). Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp hiếp dâm người dưới 16 tuổi gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự, chỉ khác nhau ở chỗ, tỷ lệ thương tật của nạn nhân trong trường hợp này là từ 61% trở lên và người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điểm d Khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt hai mươi năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Gây rối loan tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên cũng là một điểm mới được Bộ luật Hình sự ghi nhận. Hậu quả của hành vi hiếp dâm của người phạm tội rất có thể để lại dư chấn nặng nề trong tinh thần và hành vi của nạn nhân như tâm thần, rối loạn nhận thức,…Việc xác định mức độ còn phụ thuộc vào kết quả giám định của cơ quan y tế có chuyên môn. Quy định điều này cho thấy rằng nếu mức độ hậu quả mà người phạm tội mang lại cho bị hại càng cao thì hình phạt mà người phạm tội phải gánh chịu càng nặng.
– Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội (Điểm đ). Người phạm tội biết mình nhiễm HIV mà vẫn hiếp dâm, tức là cố ý lây truyền HIV cho người khác bằng hành vi hiếp dâm, làm cho tính chất và mức độ của hành vi hiếp dâm nguy hiểm hơn nhiều so với trường hợp hiếp dâm bình thường.
Khi áp dụng tình tiết này đối với người phạm tội cần chú ý một số điểm như sau:
Nếu có căn cứ cho rằng người phạm tội biết mình nhiễm HIV mà vẫn hiếp dâm thì mới áp dụng tình tiết này, nếu người phạm tội bị niễm HIV thật nhưng họ hoàn toàn không biết, sau khi phạm tội cơ quan Y tế mới xét nghiệm thấy người phạm tội bị nhiễm HIV thì không áp dụng tình tiết này đối với người phạm tội. Đây là tình tiết thuộc ý thức chủ quan của người phạm tội, nên các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải xác định người phạm tội biết rõ mình bị nhiễm HIV thì mới thuộc trường hợp này.
– Làm nạn nhân chết hoặc tự sát (Điểm e). Xét trường hợp này ở hai khía cạnh.
Thứ nhất, làm nạn nhân chết. Đây là trường hợp nạn nhân do bị hiếp dâm mà chết. Đây là trường hợp do bị bị hiếp cùng với tuổi nhỏ, sức chịu đựng của nạn nhân yếu mà dẫn đến chết, thông thường trường hợp này xảy ra đối với nhiều người cùng hiếp một người. Nếu nạn nhân bị chết không phải là do bị hiếp mà do nguyên nhân khác thì không thuộc trường hợp phạm tội này mà tuỳ trường hợp cụ thể mà người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi và tội phạm tương ứng với hành vi làm cho nạn nhân bị chết. Nếu hành vi của người phạm tội có đủ dấu hiệu của tội giết người thì truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người và tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Trong trường hợp nếu lúc đầu người phạm tội đã dùng vũ lực đối với nạn nhân, sau đó thực hiện hành vi hiếp dâm rồi bỏ mặc dẫn đến nạn nhân chết thì không xem là hiếp dâm người dưới 16 tuổi làm nạn nhân chết mà người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội giết người và hiếp dâm người dưới 16 tuổi.
Thứ hai, làm nạn nhân tự sát. Cần xác định rõ ở đây có phải nguyên nhân của việc nạn nhân tự sát là do bị hiếp dâm hay không. Tuy nhiên để xác định điều này thì không phải là một chuyện dễ dàng. Nạn nhân của tội hiếp dâm chủ yếu là phụ nữ, đặc biệt nạn nhân cụ thể ở đây là người dưới 16 tuổi, một độ tuổi quá nhỏ để nhận thức đúng đắn một vấn đề, luôn có những suy nghĩ lệch lạc, nông cạn và bồng bột trong tư duy. Mặc khác sự ám ảnh bởi những hành vi đáng sợ mà người phạm tội gây ra, sự mặc cảm, e ngại với gia đình, bạn bè cùng với chế độ phong tục tập quán còn mang nặng sự trinh tiết. Tất cả những điều này rất dễ làm nạn nhân nghĩ quẩn mà tự sát. Đây cũng là đặc điểm của tội hiếp dâm nói chung và hiếp dâm người dưới 16 tuổi nói riêng ở nước ta mà các cơ quan tiến hành tố tụng phải thận trọng khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, nếu xét thấy cần thiết thì phải xét xử kín để giữ cho nạn nhân tránh khỏi những dị nghị gây bất lợi cho họ.
Cần hiểu rằng nếu nguyên nhân dẫn đến việc nạn nhân tự sát là do bị hiếp dâm thì áp dụng Điểm này, còn việc nạn nhân tự sát có dẫn đến hậu quả làm nạn nhân chết hay không, không phải là dấu hiệu bắt buộc để xác định tình tiết phạm tội này. Tuy nhiên nếu nạn nhân tự sát và dẫn đến chết thì mức hình phạt sẽ cao hơn trường hợp nạn nhân tự sát mà không chết.
1.2.3.4. Khung bốn (Khoản 4)
Người phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm. Đây là hình phạt bổ sung đi kèm với hình phạt chính. Người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính tuy nhiên có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.
1.2.4. Trách nhiệm dân sự
Ngoài các hình phạt mà người phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi phải gánh chịu theo quy định của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nạn nhân hoặc thân nhân của nạn nhân bao gồm các thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm hay thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm và thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm nếu có thiệt hại xảy ra trên thực tế theo quy định của Điều 590, 591,592 Bộ luật Dân sự 2015.
Thông qua Chương 1 đã làm rõ những khái niệm cơ bản đến phân tích rõ về các dấu hiệu pháp lý, hình phạt cho đến tìm hiểu những quy định về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trong Bộ luật Hình sự Việt Nam qua các thời kì và một số nước trên thế giới. Chương này đã cho chúng ta nhận thây những ưu, nhược Điểm về việc ghi nhận tội phạm này trong Bộ luật Hình sự Việt Nam. Thấu hiểu những khía cạnh khác nhau của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tất cả những điều đó là nền tảng để nghiên cứu sâu hơn về thực tiễn áp dụng và đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tội danh này.

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

2.1. Thực tiễn áp dụng các quy định trong Bộ luật Hình sự hiện hành về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm xâm phạm tình dục đang có chiều hướng gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp. Có thể thấy rằng sự hợp lý của một điều luật hay bộ luật không chỉ được phản ánh thông qua nội dung được quy định trong luật mà còn được đánh giá thông qua thực tiễn áp dụng điều luật đó. Chính vì vậy khi xem xét, đánh giá các tội xâm phạm tình dục trong Bộ luật Hình sự thì cần thiết phải xem xét các tội phạm này được áp dụng trên thực tế như thế nào. Đây là bảng số liệu thống kê tình hình tội phạm xâm phạm tình dục trong những năm gần đây:

Năm    2008    2009    2010    2011    2012   2013
Tộidanh SốVụ
án
 Số
Bị
Cáo
 
SốVụ
án
 Số
Bị
Cáo
 
SốVụ
án
 Số
Bị
Cáo
 
SốVụ
án
 Số
Bị
Cáo
 
SốVụ
án
 Số
Bị
Cáo
 
SốVụ
án
 Số
Bị
Cáo
 
Tộihiếp
dâm
(Điều
111)
322 468 322 511 272 416 282 405 285 416 332 430
Tộihiếp
dâm
trẻ em
(Điều
112)
595 677 488 559 483 562 498 561 558 651 656 751
Tộicưỡng
dâm
(Điều
113)
5 5 4 4 7 19 4 9 4 17 7 7
Tộicưỡng
dâm
trẻ em
(Điều
114)
4 6 3 4 2 3 9 10 5 5 2 2
TộiGiao
cấu
với
trẻ em
(Điều
115)
287 305 364 378 390 411 424 444 596 613 694 733
Tộidâm ô
đối
với
trẻ em
(Điều
116)
128 131 131 132 148 157 126 127 144 145 206 208
Tộimua
dâm
người
chưa
thành
niên
(Điều
256)
6 15 15 21 1 2 9 12 12 17 6 9
Tổng 1347 1607 1312 1588 1302 1568 1352 1568 1604 1864 1903 2140

Tình hình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạm tình dục từ năm 2008 đến 2013
(Nguồn: Tòa án Nhân dân Tối cao)
Từ bảng số liệu trên chúng ta có thể thấy rằng:
Thứ nhất, số lượng các vụ án, bị cáo xâm phạm tình dục xảy ra khá nhiều và luôn có sự ổn định qua các năm đồng thời không có sự thuyên giảm qua các năm.
Có thể thấy rằng, năm 2013 là năm số vụ án xâm phạm tình dục xảy ra nhiều nhất cũng như số lượng bị cáo chiếm tỷ lệ cao nhất so với các năm trước. Tổng số các vụ án hình sự sơ thẩm về các tội xâm phạm tình dục đã được xét xử trong sáu năm qua là 8820 vụ với tổng số bị cáo là 10335 người, trong đó dễ dàng nhận thấy Tội hiếp dâm trẻ emlà được áp dụng nhiều nhất trong các tội xâm phạm tình dục, chiếm 20,58% trong tổng số các tội phạm tình dục được xét xử, còn Tội cưỡng dâm trẻ em là tội được xét xử ít nhất, chỉ chiếm 0,28% trong tổng số các vụ án xâm phạm tình dục đã được xét xử (tuy nhiên con số này chưa phản ánh hoàn toàn chính xác về hành vi cưỡng dâm vì dấu hiệu “lợi dụng nạn nhân trong tình trạng quẫn bách” trong Tội cưỡng dâm cũng như Tội cưỡng dâm trẻ em rất khó để xác định).
Bên cạnh đó, theo báo cáo kết quả tổng kết thực tiễn thi hành Bộ luật Hình sự của Bộ Tư Pháp sau 13 năm thì các tội phạm thuộc chương tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm là một trong những nhóm tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp về số lượng, phương thức và thủ đoạn phạm tội, số lượng các vụ án xâm phạm tình dục có sự ổn định qua các năm, đặc biệt là ở hai thành phố lớn nhất nước ta là thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.
Ở trên địa bàn tỉnh Bình Dương thời gian qua cũng xảy ra nhiều vụ hiếp dâm trẻ em.
+ Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự số 90/2011/HSST đối với bị cáo Nguyễn Thanh Trí sinh năm 1993 (Lái Thiêu, Thuận An, Bình Dương) cùng với bạn là Nguyễn Xuân Khánh Duy dụ dỗ đưa vào khách sạn Hương Tràm thay nhau thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với Bùi Thị Ngọc Tuyền sinh năm 1997 (Thuận An, Bình Dương). Y bị tuyên án 13 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em”[7].
+ Vụ án do Nguyễn Văn Hùng (sinh năm 1966 thường trú Vĩnh Long làm công nhân tại Bình Dương) có quan hệ tình cảm với bà Huỳnh Thị Ngọc Đính (sinh năm 1981 ngụ tại Dĩ An, Bình Dương). Hùng 3 lần dụ dỗ quan hệ với con gái bà Đính là Thái Thị Như Ý (sinh năm 2002). Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Dương tuyên án Hùng 20 năm về tội “Hiếp dâm trẻ em”[8].
+ Bị cáo Dương Khánh Nhơn (sinh năm 1975 quê Khánh Hòa làm thợ hàn tại Dĩ An, Bình Dương) dụ dỗ bé Dương Thanh Trúc (sinh năm 2003 ở với cha mẹ cùng dãy nhà trọ với Nhơn) vào phòng của Nhơn chơi. Nhơn đã nảy sinh ý định và thực hiện hành vi giáo cấu với Trúc. Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Dương tuyên án Nhơn 14 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em”.[9]
Thứ hai, vẫn còn một số hạn chế nhất định trong việc xét xử các vụ án xâm phạm tình dục. Cụ thể:
– Việc xem xét các dấu hiệu định tội của cơ quan áp dụng pháp luật chưa được thống nhất dẫn đến việc áp dụng tội danh trong một số vụ án chưa được chính xác, có thể kể đến một số vụ án cụ thể như:
+ Vụ án do Huỳnh Văn Dũng (sinh năm 1983 tại thành phố Hồ Chí Minh) thực hiện, theo bản án hình sự sơ thẩm số 754/2008/HSST ngày 19/09/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tuyên bị cáo Huỳnh Văn Dũng phạm “Tội dâm ô đối với trẻ em” (Khoản 1 Điều 116 Bộ luật Hình sự 1999). Tuy nhiên tại bản án số 1463/2008/HSPT ngày 23 tháng 12 năm 2008 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh sửa bản án hình sự sơ thẩm và xử phạt bị cáo Dũng phạm Tội hiếp dâm trẻ em theo Khoản 4 Điều 112 Bộ luật Hình sự 1999.
+ Vụ án do Đào Hoàng Phúc (sinh năm 1951) thực hiện, theo bản án hình sự sơ thẩm số 58/2209/HSST ngày 30 tháng 09 năm 2009, tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu tuyên bị cáo Phúc phạm Tội cưỡng dâm trẻ em (Khoản 2 Điều 114 Bộ luật Hình sự 1999). Tuy nhiên tại bản án số 961/2009/HSPT ngày 23 tháng 12 năm 2009 của Tòa Phúc thẩm Tòa án Nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo Phúc phạm Tội hiếp dâm trẻ em (Khoản 3 Điều 112 Bộ luật Hình sự 1999).
+ Vụ án do Trần Nhật Bằng (sinh 1979 tại Đồng Nai) thực hiện, theo bản án hình sự sơ thẩm số 35/2012/HSST ngày 23/04/2012 tuyên bị cáo Trần Nhật Bằng phạm Tội dâm ô đối với trẻ em (Khoản 2 Điều 116 Bộ luật Hình sự 1999). Tuy nhiên tại bản án hình sự số 664/2012/HSPT ngày 20 tháng 07 năm 2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo Bằng phạm Tội Hiếp dâm trẻ em (Khoản 4 Điều 112 Bộ luật Hình sự 1999).
Việc đánh giá các tình tiết định khung cũng như các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ giữa các cơ quan áp dụng pháp luật chưa có sự thống nhất nên dẫn đến việc áp dụng hình phạt cũng có sự khác nhau. Trong số các vụ án được xét xử có kháng cáo hay kháng nghị về mức hình phạt được áp dụng ở tòa sơ thẩm, tòa phúc thẩm bên cạnh việc y án sơ thẩm thì cũng có nhiều trường hợp tăng hoặc giảm mức hình phạt, ví dụ như:
+ Bị cáo Mã Phi Hùng phạm Tội hiếp dâm trẻ em (Khoản 4 Điều 112 Bộ luật Hình sự 1999) bị tăng mức hình phạt từ 20 năm tù lên tù chung thân[10].
+ Vụ án Trần Trí Hùng và Lê Duy Hoài phạm Tội hiếp dâm trẻ em (Khoản 3 Điều 112 Bộ luật Hình sự 1999) trong đó bị cáo Trần Trí Hùng bị xử phạt tăng mức hình phạt từ 14 năm tù lên 20 năm tù[11].
+ Bị cáo Đinh Văn Hoàng phạm Tội hiếp dâm trẻ em đươc chuyển từ Khoản 4 Điều 112 sang Khoản 1 Điều 112 Bộ luật Hình sự 1999, giảm mức hình phạt từ 9 năm thành 7 năm[12].
–  Một số vụ án phạm tội xâm phạm tình dục xảy ra với nhiều tình tiết mới, phức tạp bắt đầu xuất hiện như là hành vi dùng vũ lực hay các thủ đoạn khác để thực hiện hành vi quan hệ tình dục với người đồng giới, hành vi quan hệ tình dục giữa người cùng giới tính giữa người đã thành niên với trẻ em hay hành vi mua dâm người chưa thành niên giữa những người cùng giới tính…nhưng pháp luật lại chưa có quy định để điều chỉnh các hành vi này dẫn đến việc định tội trên thực tế gặp nhiều khó khăn, định tội danh không phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi. Có thể kể đến một số trường hợp như:
+ Trường hợp thứ nhất: vào tháng 10/2013, một nam học sinh đang học lớp 9 đi học bơi ở một hồ bơi trên địa bàn quận Tân Bình (thành phố Hồ Chí Minh). Ngay buổi học đầu tiên khi em vào phòng tắm để tắm lại nước sạch và thay đồ thì em bị một nam thanh niên lạ mặt (Khoảng 30 tuổi) xông vào phòng khống chế, bịt chặt miệng nhằm cho em không la lên và sau đó lạm dụng tình dục em qua đường hậu môn. Hai buổi học bơi tiếp theo em vẫn bị nam thành niên này tiếp tục lạm dụng tình dục. Khoảng 6 tháng sau, do nam học sinh này có biểu hiện sốt, ho, mệt mỏi nên gia đình đã đưa em đi khám tại bệnh viện Nhi Đồng 1, thành phố Hồ Chí Minh, xét nghiệm máu kết quả dương tính với HIV[13].
+ Trường hợp thứ hai: ngày 12/11/2007 Dinh Jonathan Peter (còn gọi là Đinh Tấn Bi, sinh năm 1963, quốc tịch Hoa Kỳ) nhập cảnh vào Việt Nam. Ngày 17/12/2007, Đinh Tấn Bi chạy xe trên đường Đinh Tiên Hoàng, quận 1 TP.Hồ Chí Minh thì gặp em Dương Công Minh (sinh ngày 22/01/1993) đi xe đạp cùng chiều nên hỏi chuyện làm quen và cho số điện thoại liên lạc. Đến 11 giờ ngày 17/01/2008, Tấn Bi chạy đến trường học của Minh hẹn chiều đi chơi. 16 giờ chiều Bi đến gặp Minh và rủ Minh về phòng trọ ở Bình Thạnh chơi, Bi dẫn cháu Minh lên giường, mở phim xem và dụ dỗ Minh cho quan hệ đồng tính rồi Bi sẽ mua điện thoại cho. Bi cởi quần áo của Minh, dùng tay và miệng kích thích dương vật của cháu Minh. Sau đó Bi quan hệ với Minh qua đường hậu môn nhưng Minh kêu đau nên Bi dừng lại. Hành vi của Bi bị phát hiện. Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 639/2008/HSST ngày 18/08/2008 của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh đã xét xử tuyên bố bị cáo Dinh Jonathan Peter phạm Tội dâm ô đối với trẻ em theo Khoản 1 Điều 116 Bộ luật Hình sự[14].
Ngoài ra theo số liệu thống kê của của Tòa án Nhân dân Tối cao, trong khoảng thời gian từ năm 2003 đến năm 2013 có 173 quyết định giám đốc thẩm các vụ án hình sự, trong đó số vụ án các tội xâm phạm tình dục có quyết định giám đốc thẩm là 5 vụ án[15].
Cụ thể là: Quyết định giám đốc thẩm số 09/2009/HS-GĐT ngày 29/07/2009 về vụ án hình sự Hàn Đức Long phạm Tội “giết người” và “hiếp dâm trẻ em”; Quyết định giám đốc thẩm số 19/2008/HS-GĐT ngày 22/12/2008 về vụ án Phan Văn Quỳnh phạm các Tội “giết người” và “hiếp dâm”; Quyết định giám đốc thẩm số 03/2008/HS-GĐT ngày 01/04/2008 về vụ án Đinh Xuân Đắc bị xét xử về tội “hiếp dâm trẻ em”; Quyết định giám đốc thẩm số 14/2007/HS-GĐT  ngày 04/06/2007về vụ án Lê Văn Mạnh phạm Tội “giết người”, “hiếp dâm” và “cướp tài sản” và Quyết định giám đốc thẩm số 02/2007/HS-GĐT ngày 05/2/2007 về vụ án Lê Bá Mai phạm các Tội “hiếp dâm trẻ em” và “giết người”. Các vụ án xâm phạm tình dục có quyết định giám đốc thẩm này phần nào phản ánh hoạt động chứng minh tội phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng còn những hạn chế nhất định cũng như một số quy định của luật chưa rõ ràng để chứng minh trên thực tế.
Tóm lại, từ các số liệu trên cho thấy tình hình tội phạm đang diễn biến ngày càng tăng về số lượng cũng như tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi. Thực tiễn áp dụng còn chưa thống nhất cũng như công tác điều tra, truy tố, xét xử vẫn còn một số sai sót .Những hạn chế đó có thể xuất phát từ nhiều lý do khác nhau như từ chính công tác phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm của các cơ quan tư pháp nhưng cũng có thể xuất phát từ chính các quy định trong Bộ luật Hình sự còn những bất cập, vướng mắc. Chính vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện các quy định trong Bộ luật Hình sự nói chung cũng như quy định về các tội xâm phạm tình dục nói riêng là một nhu cầu tất yếu.

2.2. Một số bất cập trong quy định, áp dụng tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trong Bộ luật Hình sự hiện hành

2.2.1. Bất cập về chủ thể
Như tác giả đã trình bày trong nội dung thuộc Chương 1 của bài nghiên cứu, hiện nay trong khoa học pháp lý hình sự vẫn tồn tại một số quan điểm khác nhau về chủ thể của Tội hiếp dâm. Theo những nội dung mà tác giả đã phân tích thì nữ giới hoàn toàn vẫn có thể trở thành chủ thể của Tội hiếp dâm, bên cạnh đó cùng với sự phát triển nhiều mặt của xã hội thì nữ giới cũng có thể thực hiện hành vi này trên thực tế. Chính vì vậy việc quy định chủ thể tại điều 142 Bộ luật Hình sự 2015 là “người nào…” là hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên để có thể thay đổi được quan điểm xét xử hiện nay của nước ta thì nhất thiết cần phải ban hành văn bản hướng dẫn để thống nhất lại vấn đề chủ thể của Tội hiếp dâm.
Cũng giống như Tội hiếp dâm, hiện nay trong khoa học pháp lý hình sự vẫn tồn tại những quan điểm khác nhau về chủ thể của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Có quan điểm cho rằng chủ thể của tội này chỉ là nam giới nhưng cũng có quan điểm cho rằng chủ thể của tội này có thể là nam hoặc nữ vì một trong những trường hợp là giao cấu có yếu tố thuận tình. Tuy nhiên như đã trình bày tại nội dung Chương 1 bài nghiên cứu, dù là người phạm tội giao cấu thuận tình hay không thuận tình với trẻ em thì chủ thể của tội này vẫn có thể là nam hoặc nữ giới đồng thời trẻ em nam hay trẻ em nữ thì vẫn phải được pháp luật bảo vệ như nhau. Đây cũng là một bất cập trong việc xác định chủ thể của tội này vì có thể dẫn đến bỏ lọt tội phạm. Như vậy, cần có văn bản hướng dẫn thống nhất lại vấn đề chủ thể của Tội hiếp dâm trẻ em.
Những năm gần đây ở nước ta, một dạng hành vi mua dâm mới xuất hiện đó là hành vi mua dâm giữa những người cùng giới tính. Vụ việc xảy ra như sau: một người dân ở thành phố Hồ Chí Minh vừa gửi đơn tố cáo đến Sở Lao động – thương binh và xã hội nói rằng cháu trai mình bị một ông giám đốc nhiều lần quan hệ tình dục dẫn đến bị nhiễm HIV. Đơn tố cáo sau đó đã được chuyển sang cơ quan công an để điều tra. Nội dung đơn tố cáo như sau: năm 14 tuổi qua môi giới của một người khác, cháu Thắng (sinh năm 1997 ở Gò Vấp) có gặp và quan hệ đồng tính với ông Minh (đã có vợ). Sau lần đó ông Minh có xin số điện thoại của Thắng để liên lạc. Từ năm 2011 đến năm 2013, ông Minh cùng Thắng vào khách sạn quan hệ nhiều lần. Có mấy lần ông Minh cùng rủ bạn bè quan hệ tập thể với cháu. Mỗi lần quan hệ xong ông ta trả cho Thắng từ 200.000 đến 500.000 đồng, tùy trường hợp chỉ quan hệ với ông hay nhiều người. Kết quả sau những lần đó, cháu Thắng đã bị nhiễm HIV và nhiều bệnh khác[16].
Hành vi mua dâm người đồng giới trong đó đối tượng bán dâm là người dưới 16 tuổi cũng là hành vi diễn ra khá phổ biến hiện nay và cũng là hành vi nguy hiểm cho xã hội cần được qui định vào trong Luật hình sự là tội phạm.
2.2.2. Bấp cập về hành vi khách quan
Hành vi khách quan của Tội hiếp dâm trẻ em (Khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự) là hành vi giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân được thực hiện thông qua các thủ đoạn khác nhau. Đây cũng chính là dấu hiệu rất quan trọng để phân biệt hai tội này với các tội xâm phạm tình dục khác. Tuy nhiên hiện nay việc xác định như thế nào là giao cấu lại còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng nên hiểu hành vi giao cấu ở phạm vi hẹp tức là chỉ có sự tiếp xúc giữa bộ phận sinh dục nam và nữ, tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng nên hiểu hành vi giao cấu theo phạm vi rộng hơn bao gồm cả các hành vi tình dục qua đường miệng hay đường hậu môn. Việc tồn tại nhiều quan điểm khác nhau như vậy gây rất nhiều khó khăn trong công tác xét xử cũng như xử lý tội phạm.
Cho đến nay chỉ mới có một văn bản duy nhất mô tả cụ thể về hành vi giao cấu. Đó là Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử về Tội hiếp dâm và một số tội phạm khác về mặt tình dục số 329-HS2 ngày 11/5/1967 của Tòa án Nhân dân Tối cao.
Trong Bản tổng kết này đã đề cập đến khái niệm hành vi giao cấu như sau : “Giao cấu là chỉ cần có sự cọ xát trực tiếp dương vật vào bộ phận sinh dục của người phụ nữ (bộ phận từ môi lớn trở vào) với ý thức nhấn vào trong không kể sự xâm nhập của dương vật là sâu hay cạn, không kể có xuất tinh hay không là Tội hiếp dâm được coi là hoàn thành, vì khi đó nhân phẩm danh dự của người phụ nữ đã bị chà đạp”. Có thể thấy rằng văn bản này đã hướng dẫn khá rõ về hành vi giao cấu cũng như đề cập được nạn nhân chỉ là nữ tức là thừa nhận chủ thể là nam giới, cũng như xác định được giai đoạn hoàn thành của Tội hiếp dâm, bên cạnh đó theo tinh thần của văn bản hướng dẫn này thì khi nói đến hành vi giao cấu là có hành vi tiếp xúc giữa bộ phận sinh dục nam và nữ.
Cách định nghĩa này đã được ban hành rất lâu rồi nhưng vẫn có một phần nội dung thể hiện được quan điểm tiến bộ, góp phần bảo vệ quyền tự do tình dục cũng như danh dự, nhân phẩm của người phụ nữ và các cơ quan xét xử của nước ta hiện nay vẫn xét xử theo tinh thần nội dung của bản tổng kết này. Tuy nhiên văn bản này đã ra đời rất lâu và không còn hiệu lực để áp dụng, đồng thời quan điểm về chủ thể cũng như hành vi khách quan của Tội hiếp dâm cũng như hiếp dâm trẻ em cũng đã có nhiều sự thay đổi, chính vì vậy ta cần xem xét lại thế nào là hành vi giao cấu.
Để có thể hiểu thế nào là hành vi giao cấu thì trước tiên cần phải xác định được phạm vi của hành vi giao cấu. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam “tình dục là hành vi tìm kiếm khoái cảm hoặc để sinh sản, có nội hàm rộng, không chỉ có nghĩa là giao hợp giữa người nam và người nữ mà còn bao gồm cả nhiều hành vi khác nhằm đem lại khoái cảm, bằng tay hay bằng miệng, ở vùng cơ quan sinh dục hay ở những bộ phận khác của cơ thể. Cũng vẫn là tình dục khi thực hiện hành vi tìm kiếm khoái cảm với bạn tình khác giới hay cùng giới với một hay nhiều hơn một người, tự mình gây khoái cảm (thủ dâm) hay gây khoái cảm cho nhau, mơ tưởng đến chuyện tình dục hay sử dụng dụng cụ chuyên dụng”[17].
Như vậy nếu theo cách hiểu về tình dục như vậy thì hành vi giao cấu nên hiểu theo nghĩa rộng tức là không chỉ là hành vi tiếp xúc giữa bộ phận sinh dục nam và nữ mà có thể là bằng tay hoặc bằng miệng…
Việc hiểu như thế nào là hành vi giao cấu rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến việc xác định đúng tội danh, giai đoạn thực hiện tội phạm cũng như quyết định hình phạt.
Vụ việc xảy ra vào trưa ngày 19/10/2012, Nguyễn Phước Thiện tổ chức uống rượu tại nhà cùng ông Phan Văn Dô và ông Phan Văn Thảnh. Uống được vài ly thì anh Thảnh về, một lúc sau Phùng văn Liêm đến. Khoảng 14h, ông Dô say nên nằm ngủ. Thiện và Liêm ngồi lại hút thuốc. Lúc này có cháu Dương Thị Cẩm Nhung sinh ngày 22/12/2004 ở cùng xóm qua nhà Thiện chơi. Thiện nảy sinh ý định quan hệ tình dục với Nhung nên kêu cháu Nhung đi vào buồng ngủ. Tại đây Thiện muốn quan hệ tình dục với cháu Nhung nhưng do âm hộ của cháu Nhung quá nhỏ nên Thiện chỉ dùng dương vật đưa ngoài âm hộ cháu Nhung. Khoảng 10 phút sau thì Liêm đi vào buồng, thấy vậy Thiện bỏ ra ngoài. Thấy cháu Nhung vẫn nằm trên giường không mặc quần nên Liêm nảy sinh ý định quan hệ tình dục với cháu Nhung, Liêm cởi quần ra và dùng ngón tay đưa vào bên trong âm hộ cháu Nhung, bị đau nên cháu Nhung đẩy Liêm ra thì Liêm đánh một cái vào mặt. Do bị đánh đau nên cháu Nhung khóc, còn Liêm vẫn chuẩn bị để thực hiện hành vi giao cấu thì bị bà Phan Thị Mưng (mẹ Thiện) phát hiện. Bị cáo Liêm thừa nhận nếu không bị bà Mưng phát hiện thì sẽ thực hiện hành vi giao cấu với cháu Nhung. Theo kết luận giám định số 221/GĐPY thì màng trinh của cháu Nhung bị rách ở điểm 2 giờ và 5 giờ. Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử và tuyên Thiện phạm tội “dâm ô đối với trẻ em (Khoản 2 Điều 116 Bộ luật Hình sự) và Liêm phạm tội hiếp dâm trẻ em theo Khoản 4 Điều 112 Bộ luật Hình sự ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử Liêm và Thiện cùng phạm tội hiếp dâm trẻ em (Khoản 4 Điều 112 Bộ luật Hình sự) ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. (Bản án số 661/2013/HSPT ngày 25/6/2013 “về xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 607/2013/HSPT ngày 8/5/2013 đối với bị cáo Nguyễn Phước Thiện và Phùng Văn Liêm” của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh)
Một vấn đề đặt ra nữa là khi quy định dấu hiệu trái ý muốn của nạn nhân trong luật có bao gồm cả trường hợp nạn nhân rơi vào tình trạng không thể biểu lộ được thái độ trái ý muốn của mình hay không (ví dụ như trường hợp cho nạn nhân dùng thuốc mê hay chuốc cho nạn nhân uống rượu say để thực hiện hành vi giao cấu thì nạn nhân không thể hiện được thái độ trái ý muốn của mình). Mặc dù thực tế các cơ quan áp dụng pháp luật đã áp dụng luật theo hướng dấu hiệu trái ý muốn của nạn nhân bao gồm cả trường hợp nạn nhân không biểu lộ được thái độ của mình. Tuy nhiên quy định của luật cần phải rõ ràng và chặt chẽ, tránh những lổ hỏng trong pháp luật dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất, vi phạm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Tại Điểm a Khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự 2015 có qui định: “Dùng vũ lực, đe dọa dung vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thự hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ”. Thì hành vi “thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác” ở đây là quan hệ tình dục bằng miệng, qua đường hậu môn,… hay một hành vi cụ thể nào khác cần có văn bản hướng dẫn rõ ràng, chi tiết.
2.2.3. Bấp cập về loại cấu thành tội phạm
Có quan điểm cho rằng Tội hiếp dâm trẻ em là tội phạm có cấu thành vật chất, tuy nhiên quan điểm được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận hiện nay là Tội hiếp dâm trẻ em là tội phạm có cấu thành hình thức vì vậy tội phạm hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hết các hành vi khách quan được quy định trong luật, tuy nhiên việc xác định hành vi giao cấu là hành vi, mục đích hay hậu quả thì vẫn chưa có sự thống nhất. Việc chưa thống nhất trong cách xác định cấu thành tội phạm của hai tội danh này đã dẫn đến việc xác định giai đoạn thực hiện tội phạm trên thực tế cũng chưa có sự thống nhất.
+ Trường hợp thứ nhất: khoảng 22 giờ 30 phút ngày 01/01/2012 Đinh Văn Hoàng (sinh năm 1991) đi đám cưới tại nhà ông Quang ở ấp Tân Quảng Đông, xã Nguyễn Việt Khái, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Cùng dự đám cưới có cháu Hồng Thị Như Quỳnh (sinh ngày 05/12/1999). Hoàng đến bàn Quỳnh xin làm quen và rủ Quỳnh nhảy nhạc nhưng Quỳnh không đồng ý. Quỳnh mượn điện thoại của chị bà con Nguyễn Huỳnh Như để nhắn tin cho người quen, Hoàng thấy vậy vừa hỏi mượn, vừa dùng tay lấy điện thoại của Quỳnh đang cầm đi ra khỏi đám. Quỳnh đi theo đòi lại nhưng Hoàng không trả và tiếp tục đi cách đám cưới khoảng 35 mét. Quỳnh chạy theo, Hoàng ôm Quỳnh và hôn vào miệng Quỳnh, dùng tay sờ ngực Quỳnh, Quỳnh đẩy Hoàng ra. Hoàng tiếp tục đẩy Quỳnh vào đám bạch đàn cách lộ khoảng 2 mét thì Quỳnh vấp ngã bất tỉnh. Hoàng dùng tay cởi nút quần jean và dây kéo quần của Quỳnh xuống, rồi đứng lên cởi dây thắt lưng và nút quần của Hoàng để thực hiện hành vi giao cấu với Quỳnh, lúc này ông Hồng Văn Tính đi tìm phát hiện Quỳnh đang nằm ngửa, còn Hoàng đang đứng mở thắt lưng với nút quần nên ông Tính đánh Hoàng và truy hô lên, Hoàng chạy về nhà và đến công an xã Nguyễn Việt Khái đầu thú. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 72/2012/HSST ngày 10/12/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau tuyên phạt Đinh Văn Hoàng phạm Tội hiếp dâm trẻ em, áp dụng Khoản 4 Điều 112, Điểm b, o, p Khoản 1 và 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt Hoàng 9 năm tù. Sau đó Hoàng kháng cáo và Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh áp dụng Khoản 1 Điều 112, Điểm b, o, p Khoản 1 và 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng 7 năm tù về Tội hiếp dâm trẻ em. (Bản án số 576/2013/HSPT ngày 28/5/2013 “về xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 558/2013/TLPT – HS ngày 24/04/2013 đối với bị cáo Đinh Văn Hoàng” của tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh.)
+ Trường hợp thứ hai: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 10/04/2011, cháu Lê Thị Thùy Trinh (sinh ngày 17 tháng 11 năm 1999) sau giờ giải lao thì đi bộ ra đường Phạm Văn Chí mua bánh mì thì gặp Huỳnh Chí Hải (sinh năm 1973). Hải nói dối cháu Trinh là đi theo lấy đồ cho ba và sau đó thuê xe ôm chở hai người đến chung cư Hòa Bình, phường 14, quận 10. Tại chung cư Hải hù dọa bé Trinh là có mấy thằng “nghiện” ở đây và bảo Trinh xuống cầu thang thoát hiểm. Tại đây Hải kéo áo thun và áo ngực của Trinh ra nhưng Trinh không đồng ý và chống cự. Hải hù dọa Trinh “em muốn mình anh hiếp hay cả đám “nghiện” hiếp” và “muốn về nhà phải cho quan hệ giao cấu” nên Trinh sợ hãi không dám chống cự nữa. Sau đó Hải thực hiện hành vi giao cấu với bé Trinh. Sau khi nhận được tin báo, gia đình cháu Trinh và công an quận 10 phối hợp với bảo vệ chung cư Hòa Bình xem băng ghi hình thì phát hiện và bắt giữ Hải đang thực hiện hành vi phạm tội tương tự như trên đối với cháu Hà Bửu Liên. Cụ thể như sau: khoảng 9 giờ 50 phút ngày 16/4/2011, Hải thuê Honda ôm là anh Vũ chở Hải và cháu Liên (sinh ngày 25/2/1997) đến chung cư Hòa Bình để thực hiện hành vi hiếp dâm. Khi Hải đưa cháu Liên lên lầu 5 bảo cháu đứng chờ đợi để xuống gặp Vũ lừa gạt mượn tiền thì bị bảo vệ chung cư bắt giữ giao cho công an. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 325/2012/HSST ngày 12/9/2012 Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh đã áp dụng điểm d khoản 3 Điều 112, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 18, Điều 52, Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt Huỳnh Chí Hải 18 năm tù về “Tội hiếp dâm trẻ em”. Tại Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh lại không đồng quan điểm với bản án sơ thẩm về việc áp dụng Điều 18 và Điều 52, Điều 47 Bộ luật Hình sự về giai đoạn phạm tội chưa đạt “Với tính chất đặc biệt nghiêm trọng như trên án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh chỉ xử phạt bị cáo Hải 18 năm tù, dưới khung hình phạt Khoản 3 Điều 112 Bộ luật Hình sự là không có căn cứ. Xét án sơ thẩm cho rằng hành vi hiếp dâm Hà Bửu Liên là phạm tội chưa đạt là không đúng. Hiếp dâm là tội có cấu thành hình thức. Còn việc bị cáo không thực hiện hành vi giao cấu là ngoài ý muốn của bị cáo vì bị cáo bị bắt, không phải là phạm tội chưa hoàn thành như án sơ thẩm nhận định không có căn cứ pháp lý”. Vì vậy Tòa phúc thẩm đã tăng mức hình phạt từ 18 năm lên tù chung thân. (Bản án số 128/2012/HSPT ngày 23/11/2012 “về xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 85/2012/ HSPT ngày 18/10/2012 đối với bị cáo Huỳnh Chí Hải” của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh).
Như vậy trong hai trường hợp trên việc áp dụng giai đoạn phạm tội chưa đạt có sự khác nhau trong thực tiễn. Ở trường hợp thứ nhất, rõ ràng người phạm tội chưa hề thực hiện hành vi giao cấu thì đã bị phát hiện thì theo lý luận cũng như quan điểm của tác giả thì đây là trường hợp phạm tội ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Thế nhưng trong bản án sơ thẩm cũng như phúc thẩm lại không đề cập đến vấn đề này cũng như khi áp dụng điều luật để định tội danh cũng như quyết định hình phạt lại không áp dụng Điều 18 và Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ở trường hợp thứ hai thì cấp phúc thẩm và sơ thẩm có quan điểm trái chiều trong việc xác định giai đoạn thực hiện tội phạm đối với trường hợp nạn nhân là bé Liên. Trong hai quan điểm xét xử nêu trên, tác giả đồng ý với quan điểm xét xử của Tòa Sơ thẩm rằng đối với trường hợp bị cáo Hải hiếp dâm bé Liên thì Hải phạm tội ở giai đoạn chưa đạt chứ không phải giai đoạn tội phạm hoàn thành vì Hải chưa thực hiện được hành vi khách quan là hành vi giao cấu trái với ý muốn của bé Liên.
Từ những phân tích trên, cần có sự thống nhất về loại cấu thành tội phạm để việc xác định giai đoạn thực hiện tội phạm trong Tội hiếp dâm cũng như Tội hiếp dâm trẻ em trên thực tế được thống nhất.
2.2.4. Bất cập trong các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm
Lỗi của người phạm tội khi thực hiện các hành vi xâm phạm tình dục đều là lỗi cố ý. Lỗi cố ý tức là người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, nhận thức được hậu quả của hành vi đó và người phạm tội mong muốn thực hiện hành vi. Tuy nhiên trong các tội xâm phạm tình dục mà có đối tượng tác động là trẻ em thì trong lý luận đòi hỏi rằng để xác định được lỗi cố ý của người phạm tội, người phạm tội phải nhận thức được đối tượng mà mình đang hướng đến là trẻ em thì mới cấu thành các tội phạm này. Tuy nhiên thực tiễn xét xử hiện nay lại xét xử theo hướng dựa vào giới tính nạn nhân trên thực tế tức là nếu xác định nạn nhân là trẻ em thì người phạm tội sẽ phạm vào các tội xâm phạm tình dục mà đối tượng tác động là trẻ em, không phụ thuộc vào ý chí của người phạm tội là có biết hay không.
Một người khi thực hiện các hành vi xâm phạm tình dục người khác có thể biết nạn nhân là bao nhiêu tuổi vì một số lý do khác nhau như giữa người phạm tội và nạn nhân có quen biết nhau hay có quan hệ gia đình với nhau… Tuy nhiên có những trường hợp giữa nạn nhân và người phạm tội lại không quen biết nhau nên việc người phạm tội biết được độ tuổi của nạn nhân trong những trường hợp này là không khả thi. Tuy nhiên người phạm tội vẫn thực hiện hành vi của mình mà không quan tâm nạn nhân bao nhiêu tuổi, tức là người phạm tội biết hành vi xâm phạm tình dục là nguy hiểm, biết được rằng hành vi này sẽ gây ra những tổn hại nhất định cho nạn nhân nhưng người phạm tội vẫn mong muốn thực hiện hành vi, tức là họ bất chấp nạn nhân là bao nhiêu tuổi, họ chấp nhận hậu quả pháp lý do hành vi của mình gây ra. Vì vậy việc xét xử các hành vi này về các tội xâm phạm tình dục trẻ em khi trên thực tế nạn nhân là trẻ em là hoàn toàn có cơ sở, tránh tình trạng bỏ lọt tội phạm cũng như bảo vệ được quyền lợi của nạn nhân. Vì vậy trong những trường hợp này đồng tình với quan điểm thực tiễn xét xử hiện nay.
Tuy nhiên, nếu trên thực tế có những trường hợp đặc biệt trong đó nạn nhân thuận tình cho người phạm tội thực hiện hành vi giao cấu nhưng lại bị nạn nhân lừa dối về độ tuổi thì lúc này cần phải xem xét khả năng nhận thức của người thực hiện hành vi về đối tượng tác động trong trường hợp này. Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu nếu thực tế người thực hiện hành vi chứng minh được là mình bị nạn nhân lừa dối về độ tuổi nên mới thực hiện các hành vi nguy hiểm và có những căn cứ cụ thể để chứng minh được thì lúc này sẽ giải quyết những trường hợp sai lầm.
Hiện nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn thi hành cụ Tội hiêp dâm trẻ em (Điều 142 Bộ luật Hình sự 2015). Vì vậy, những bất cập trên cần được nhanh chóng giải quyết, góp phần đi đến thắng lợi trên con đường dấu tranh phòng, chống tội phạm.

2.3. Kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trong Bộ luật Hình sự Việt Nam

Nhằm đảm bảo công tác hoàn thiện pháp luật và công tác đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận về tội phạm hiếp dâm trẻ em trong Bộ luật Hình sự 2015 và các Bộ luật Hình sự từ năm 1999 trở về trước, thực trạng về tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi trong những năm gần đây và thấy được những bất cập trong việc quy định và áp dụng, nhóm tác giả đề xuất một số kiến nghị sau đây:
2.3.1 Thay đổi tư duy xét xử
Thứ nhất, Chủ thể của tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi không chỉ là nam. Trong lịch sử xét xử của Tòa án Việt Nam trước khi Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực cho thấy rất ít các vụ án xét xử chủ thể của tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi là nữ mà chủ yếu chủ thể của tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi là nam. Đa số các thẩm phán và các nhà làm luật đều cho rằng: chủ thể của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là nam. Hơn nữa, pháp luật chưa từng có văn bản nào thừa nhận hay hướng dẫn chủ thể của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là chỉ là nam và bị hại chỉ là nữ giới. Rõ một điều rằng, các nhà “cầm cân nảy mực” của nước ta đang mang nặng một tư tưởng đi theo số đông và không dám tách mình ra khỏi số đông đó. Như những gì tác giả đã phân tích thì lối tư duy này vô cùng chai sạn và đã bị vo cứng. Đến khi Bộ luật Hình sự 2015 có hiệu lực, với những quy định mới có hướng mở rộng hơn thì không thể duy trì cách nhìn nhận và lối tư duy xét xử như thế này được. Tuy nhiên, trên thực tế đã từng có vụ án xét xử chủ thể của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là nữ. Bằng chứng: “cuối tháng 9/2014, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP. Hồ Chí Minh đưa 2 bị cáo Nguyễn Minh Tâm (17 tuổi) và Trương Thị Mỹ Châu (23 tuổi) phạm tội Hiếp dâm trẻ em ra xét xử phúc thẩm. Trước đó, tại phiên tòa sơ thẩm, Trương Thị Mỹ Châu bị xử phạt 9 năm tù, còn Nguyễn Minh Tâm lãnh 8 năm tù[18]”. Không chỉ ở Việt Nam mà tại một số quốc gia trên thế giới cũng đã đưa ra xét xử các chủ thể nữ phạm tội hiếp dâm: “Tòa án tiểu bang Michigan, Mỹ đang xét xử một vụ án hiếp dâm hy hữu mà nạn nhân là một chàng trai 19 tuổi. Còn thủ phạm là cô gái 17 tuổi có tên Lestina Marie Smith. Theo Dailymail, Lestina Marie Smith xuất hiện trong phiên tòa hồi tuần trước với cáo buộc 2 lần tấn công tình dục cấp độ 1.Theo hồ sơ của cảnh sát, vào ngày 11/1 vừa qua, Lestina đã sử dụng dao để uy hiếp một thanh niên 19 tuổi và buộc thanh niên này phải quan hệ tình dục với mình. Hiện tại, Lestina đang bị giam giữ tại Nhà tù Saginaw và không được quyền bảo lãnh. Nếu bị kết án, cô có thể sẽ phải ngồi tù chung thân[19]”. Điều này cho thấy rằng đã có những nhà làm luật, những thẩm phán, cơ quan điều tra và viện kiểm sát vẫn đồng tình với quan điểm: chủ thể của tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi là bất kì người nào có đủ năng lực hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Phát huy tinh thần đó, các thẩm phán, cơ quan điều tra, viện kiểm sát cùng các nhà làm luật cần phải nhìn nhận chính xác và thoát khỏi những ý nghĩ duy ý chí, đi theo đa số. Với thực trạng hiện này thì nạn nhân của tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi không chỉ là nữ mà còn là nam. Hơn thế, trên thực tế có vô số các vụ hiếp dâm người dưới 16 tuổi do nữ, người đồng tính nữ, người nữ chuyển giới sang nam thực hiện. Đối với người đồng tính nữ và người nữ chuyển giới sang nam thì giới tính sinh học được ghi nhận trong các giấy tờ vẫn là nữ, tuy nhiên xu hướng tính dục của họ là nam và có xu hướng thích quan hệ tình dục với nữ. Vì thế, nếu cứ duy trì một cách nghĩ và lối xét xử chủ thể của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi chỉ là nam là một việc hết sức nguy hiểm, đe dọa đến sự gia tăng của tội phạm này, tạo điều kiện cho người nữ tiếp tục phạm tội và tạo ra sự bất bình đẳng trong pháp luật. Cần nhìn nhận rõ ràng và mạnh mẽ rằng: chủ thể của tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi là bất cứ người nào có đủ năng lực hành vi dân sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Có như vậy mới tạo ra sự công bằng trong pháp luật, không bỏ sót người phạm tội, kéo giảm tội phạm này. Điều nay như một hồi chuông cảnh báo những người phạm tội là nữ đã, đang và có ý định phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi phải kiểm Điểm lại hành vi sai trái của mình.
Thứ hai, Cần phải cân nhắc kĩ lưỡng và có chế tài nhẹ hơn đối với những chủ thể có những sai lầm khi ý thức về độ tuổi của nạn nhân.
Với sự phát triển của xã hội và nhu cầu vật chất ngày càng đầy đủ hiện nay thì nhiều bé gái dưới 16 tuổi nhưng đã phát triển như một thiếu nữ đã thành niên. Hiện nay nhiều trẻ em được tiếp xúc với nhiều hình ảnh dành cho người lớn từ các sách báo, phim ảnh. Chính những hình ảnh này đã tác động lên tuyến yên, buồng trứng và tử cung làm bé gái dậy thì sớm. Nhìn bề ngoài của một người từ 14 tuổi đến 15 tuổi hiện nay rất khó để nhận biết các em nằm trong độ tuổi này vì trông vào dáng vẻ bề ngoài thì không khác gì một nữ sinh 17, 18 tuổi. Chính vì những điều này đã làm cho những chủ thể của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi lầm tưởng rằng mình đang thực hiện hành vi sai phạm này với một người đã thành niên. Trong cơn khao khát tình dục và sự không làm chủ được hành vi của mình cùng với những gì mà người phạm tội trông thấy thì việc lầm tưởng về độ tuổi của nạn nhân là điều rất dễ xảy ra hiện nay. Ví như vụ án bị cáo Lê Tuấn Anh tại Hà Nội xảy ra vào ngày 28/05/2011 đã phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi vì sự sai lầm là được sự đồng ý của bạn gái và lầm tưởng rằng cô bạn gái đã thành niên. Tuy nhiên lúc thực hiện hành vi giao cấu thì cô bạn gái chỉ mới 12 tuổi 8 tháng 7 ngày nên Lâm vẫn phải lãnh án về tội hiếp dâm trẻ em. Và khi đưa ra xét xử thì mọi người đều sửng sốt với vẻ ngoài và giọng nói của một cô gái chưa đầy 13 tuổi mà không khác gì một thiếu nữ thành niên.[20]
Mặc khác, trong một số vụ việc giao cấu thuận tình với người 13 tuổi thì có nhiều trường hợp nạn nhân không khai thật tuổi của mình với người phạm tội, đó cũng là một lí do khiến người phạm tội sai lầm và phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Đã có ý kiến cho rằng: trường hợp người phạm tội không biết nạn nhân là người dưới 16 tuổi do sự lầm tưởng có căn cứ (dựa vào quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân, hình dáng bên ngoài của nạn nhân, thông tin do nạn nhân và người khác cung cấp, điều kiện và hoàn cảnh phạm tội) nếu thực tế khách quan nạn nhân là người dưới 16 tuổi và ý thức chủ quan của người phạm tội lầm tưởng rằng không phải là người dưới 16 tuổi thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm về tội hiếp dâm chứ không phải là hiếp dâm trẻ em. Tuy nhiên, nhóm tác giả không đồng tình với quan Điểm này. Trong trường hợp thực tế nếu có những vụ việc có sự lầm tưởng có căn cứ thì chủ thể thực hiện hành vi đủ điều kiện để cấu thành tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi thì vẫn xem là phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Nhưng trong trường hợp này cơ quan điều tra cần phải xem xét kĩ càng vấn đề và cơ quan xét xử cần xem xét một chế tài nhẹ nhàng, giảm mức hình phạt nhưng đủ sức răn đe người phạm tội.
2.3.2 Hoàn thiện các quy định của pháp luật
2.3.2.1 Nhanh chóng ban hành các văn bản hướng dẫn
Bộ luật Hình sự 2015 mới có hiệu lực và hoàn toàn chưa có một văn bản hướng dẫn cụ thể nào. Đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được quy định tại điều 142 thì có hai Điểm mới được ghi nhận. Thứ nhất, việc quy định hành vi khách quan vi phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được ghi nhận bằng cụm từ “hành vi quan hệ tình dục khác”, đây là một Điểm mới, hoàn toàn chưa được ghi nhận trong các Bộ luật Hình sự trước đây. Việc ghi nhận điều này gây ra nhiều sự tranh cãi, mông lung rằng những hành vi quan hệ tình dục khác là những hành vi nào? Và hành vi nào là vi phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi? Thứ hai, về định khung tăng nặng tại Khoản 2, Điều 142 Bộ luật Hình sự 2015 có ghi nhận rằng “gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%” và tại Khoản 3 của điều luật này quy định “gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân trên 46%”. Đây là hai điểm định khung tăng nặng hoàn toàn mới được ghi nhận trong Bộ luật Hình sự 2015. Điều này cũng làm cho nhiều nhà làm luật, cơ quan tư pháp cũng như người dân chưa thể hiểu rõ để áp dụng cho đúng. Chính vì những lẽ đó, nhà nước cần nhanh chóng ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể áp dụng Bộ luật Hình sự 2015 nói chung và điều 142 Bộ luật Hình sự nói riêng. Điều này sẽ có lợi trong việc hiểu luật và áp dụng luật một cách chính xác, trách xảy ra sự mâu thuẫn bởi cách sử dụng luật ở nhiều nơi khác nhau. Làm cho Bộ luật Hình sự 2015 tiến bộ hơn.
2.3.2.2 Điều chỉnh lại quy định pháp luật
Thứ nhất, cần điều chỉnh lại hình phạt đối với hành vi giao cấu và thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi. Tại Khoản 4, Bộ luật Hình sự 1999 có quy định: “Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình”. Tuy nhiên ở Khoản 1 Bộ luật Hình sự 2015 lại quy định “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục với người dưới 13 tuổi” thì chỉ phải chịu hình phạt tù từ 7 đến 15 năm. Việc ghi nhận cùng một hành vi khách quan vi phạm tội hiếp dâm trẻ em nhưng giữa Bộ luật Hình sự 1999 và Bộ luật Hình sự 2015 có sự chênh lệch quá lớn về hình phạt, giảm từ tội đặc biệt nghiêm trọng xuống tội rất nghiêm trọng. Việc quy định như vậy chưa thực sự thuyết phục và tạo được sức răn đe lớn đối với người đã, đang và sẽ có ý định phạm tội. Bởi vì người dưới 13 tuổi là người có tư duy và lối nghĩ vô cùng non nớt, với thể trạng sức khỏe yếu ớt và tâm lý vô cùng nhạy cảm. Việc xâm hại tình dục đối với người thuộc độ tuổi này cần được trừng trị một cách thích đáng. Chính vì những lẽ đó, hành vi giao cấu và thực hiện hành vi quan hệ tình dục với người dưới 13 tuổi không thể ghép chung một hình phạt cùng với các hành vi khách khác của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Cần phải quy định hành vi giao cấu và thực hiện hành vi quan hệ tình dục với người dưới 13 tuổi thành một điểm định khung tăng nặng ở một Khoản khác, cụ thể là Khoản 2 với ghi nhận rằng “đối với người từ đủ 10 tuổi đến dưới 13 tuổi” cùng mức hình phạt từ 12 đến 20 năm tù. Bởi vì tại Khoản 3 đã có quy định nếu phạm tội đối với người dưới 10 tuổi thì gánh chịu hình phạt từ 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Việc ghi nhận này rất cụ thể, dễ hiểu và mức hình phạt được phân loại theo từng độ tuổi tạo nên sự thuyết phục cao, giàu sức răn đe người phạm tội.
Thứ hai, phân hóa hình phạt đối với hình vi hiếp dâm người chưa đủ 13 tuổi. Tại Điểm a Khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự 2015 quy định rằng: “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi” với khung hình phạt từ 7 năm đến 12 năm tù. Nghĩa là dù giao cấu thuận tình hay không thuận tình (trái ý muốn) với người dưới 13 tuổi thì đều chịu một hình phạt như nhau. Nhóm tác giả thấy rằng việc quy định như vậy là chưa công bằng với người phạm tội. Vì nguyên tắc của luật Hình sự theo hướng có lợi cho người phạm tội. Như những gì nhóm tác giả đã phân tích ở mục 2.3.1 thì bởi vì có sự đồng thuận giao cấu của nạn nhân nên người phạm tội mới có cơ hội dễ dàng thực hiện hành vi phạm tội, cùng với sự nhận thức sai lầm về độ tuổi của nạn nhân. Sự đồng thuận giao cấu của nạn nhân cũng là sự tiếp sức cho suy nghĩ lệch lạc, vi phạm pháp luậtcủa người phạm tội. Chính vì thế, Bộ luật Hình sự cần có sự phân hóa cụ thể về hinh phạt trong trường hợp “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi” có yếu tố thuận tình hay trái ý muốn.
Để tránh được những thiếu sót trong việc ban hành luật cũng như làm pháp luật hiệu quả nhất thì tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã nhấn mạnh rằng:
“Nâng cao trình độ và năng lực làm luật của Quốc hội. Tăng hợp lý tỉ lệ đại biểu chuyên trách, có trình độ, hiểu biết về pháp luật; xác lập cơ chế bảo đảm thực hiện quyền sáng kiến pháp luật của đại biểu Quốc hội; phát huy vai trò, trách nhiệm của Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội trong việc chuẩn bị, thẩm tra dự án luật, pháp lệnh. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn cách thức thảo luận, thông qua luật, pháp lệnh.
Tăng cường hoạt động giải thích luật, pháp lệnh của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Tăng cường trách nhiệm của Chính phủ và các bộ trưởng trong việc chỉ đạo hoạt động xây dựng pháp luật. Chính phủ tập trung xem xét, quyết định những vấn đề mang tính quan Điểm, chính sách và những vấn đề liên ngành còn có ý kiến khác nhau; tăng cường kiểm tra đối với văn bản quy phạm pháp luật do các bộ, ngành và địa phương ban hành để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Kiện toàn và nâng cao năng lực bộ máy giúp việc cho Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành trong công tác xây dựng pháp luật. Củng cố bộ phận pháp chế bộ, ngành, địa phương; thành lập Viện Nghiên cứu lập pháp của Quốc hội”.
Điều này cho thấy rằng Đảng và Nhà nước thật sự quan tâm đến việc kiện toàn pháp luật, song vẫn chưa làm được. Bằng chứng là các văn bản pháp luật mới được ban hành gần đây luôn có những sự thiếu sót đáng tiếc. Bộ máy ban hành pháp luật của nước ta cần đươc chú trọng hơn nữa và việc ban hành pháp luật cũng cần đầu tư cả về nội dung lẫn hình thức, cần xem xét và cần nhắc kĩ lưỡng trước khi ban hành để tránh có sự sai sót, làm mất lòng tin của nhân dân vào pháp luật và hiệu quả của pháp luật không cao.
2.3.3 Cơ quan tiến hành tố tụng cần xử lí hiệu quả tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi không nằm trong danh sách các tội chỉ được khởi tố vụ án khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của của bị hại dưới 18 tuổi, người có nhược Điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết[21]. Vì thế khi có vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi xảy ra trên thực tế thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải nhanh chóng tiến hành các hoạt động tố tụng và đưa người phạm tội ra ánh sáng pháp luật, trả lại sự công bằng cho bị hại. Trên thực tế đã xảy rất nhiều vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi nhưng người phạm tội vẫn ngẩn ngơ trước pháp luật. Chẳng hạn như vụ án “ngày 11-02, Công an huyện Thới Bình (Cà Mau) cho biết đang làm rõ nguyên nhân dẫn đến cái chết của bé gái tên K. (13 tuổi), ngụ ấp 7, xã Tân Lộc, huyện Thới Bình. Thông tin ban đầu, chiều 10-2, người nhà phát hiện em K. uống thuốc tự vẫn nên nhanh chóng đưa em đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cà Mau cấp cứu. Tuy nhiên, K. đã tử vong vào lúc 6 giờ sáng 11-02. Cũng theo gia đình nạn nhân, trước đó vào tháng 11-2016, gia đình K. đã tố giác em bị một người hàng xóm xâm hại tình dục và K. đã khai với cơ quan công an rằng, em đã nhiều lần bị xâm hại. Tuy nhiên, cơ quan công an đã không khởi tố vụ án hình sự vì cho rằng không có cơ sở. Theo người nhà nạn nhân, trước khi chết, K. có nói không muốn sống vì nhục nhã với hàng xóm[22]” là một ví dụ điển hình cho việc xử lí chưa thật sự có hiệu quả tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Cơ quan điều tra và Tòa án phải xử lí nghiêm minh, triệt để, nhanh chống đúng người, đúng tội để răn đe, giáo dục người phạm tội và toàn thể nhân nhân. Đặc biệt đối tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi thì nhất quán không được phép lơ là, buông lơi tội phạm do tính chất và mức độ nguy hiểm của nó.
Cần phải ý thức và hoàn thành nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao phó. Trong nghị quyết số 48 NQ/TW ngày 24/05/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã đề cập rằng:
“Trọng tâm là hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của toà án nhân dân, bảo đảm toà án xét xử độc lập, đúng pháp luật, kịp thời và nghiêm minh; phân định thẩm quyền xét xử của toà án sơ thẩm và toà án phúc thẩm phù hợp với nguyên tắc hai cấp xét xử. Hoàn thiện cơ chế quản lý toà án nhân dân địa phương theo hướng bảo đảm tính độc lập giữa các cấp toà án trong hoạt động xét xử.
Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của viện kiểm sát nhân dân theo hướng bảo đảm thực hiện tốt chức năng công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Nghiên cứu hướng tới chuyển thành viện công tố.
Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra theo hướng thu gọn đầu mối, kết hợp chặt chẽ giữa trinh sát, điều tra ban đầu với hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra.” Làm được những điều đó thì pháp luật nước ta mới được xem là tiên tiến và người dân mới an tâm làm việc, tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế, làm giàu cho đất nước.
Thông qua Chương 2, xuất phát từ những tình trạng trong thực tiễn về vấn đề hiếp dâm người dưới 16 tuổi, từ đó tác giả đã chỉ ra những bất cập và một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hơn các quy định trong Bộ luật Hình sự về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Với những kiến nghị của tác giả, nó phù hợp với ý chí và nguyện vọng của người dân, làm cho Bộ luật Hình sự tiến bộ, đồng thời giúp cho việc tiến hành về tố tụng, xét xử dễ dàng hơn. Góp phần giúp cho công tác đấu tranh phòng chống tội đạt hiệu quả, giàu sức, răn đe, giáo dục người phạm tội cũng như mọi công dân khác để ngăn chặn và hạn chế tình trạng tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi diễn ra như hiện nay.
KẾT LUẬN
Một đất nước được xem là phát triển khi nước đó phát triển toàn diện các mặt như kinh tế, văn hóa, xã hội. Đối với mặt xã hội, thì không thể không nói đến tình trạng tội phạm ngày nay, trong đó có tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Độ tuổi này được xem là chưa phát triển toàn diện về mặt thể chất lẫn tinh thần đồng thời trẻ em được xem là những mầm non tương lai của đất nước, là lực lượng nòng cốt cho việc xây dựng đất nước sau này nên được pháp luật Việt Nam nói riêng và pháp luật của các nước trên thế giới nói chung bảo vệ và khi có tội phạm xảy ra thì xem xét và xử lí nghiêm khắc. Tuy nhiên ngày nay số lượng các vụ án xảy ra vẫn còn rất nhiều.
Qua đó, bài viết của tác giả về “Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi dưới góc độ pháp lý hình sự – Lý luận và thực tiễn” đã góp phần làm rõ được các yếu tố cấu thành tội phạm của tội phạm này và nhìn nhận chung các quy định về tội danh này qua các thời kì trong nước và quy định của một số nước trên thế giới. Từ đó, rút ra được những sự khác nhau để từ đó có thể học hỏi. Đồng thời đưa ra các vấn đề thực tiễn hiện nay, các bất cập và đưa ra một số kiến nghị từ đó góp phần vào việc bảo vệ quyền lợi của trẻ em cũng như người phạm tội và nhằm hạn chế số lượng tội phạm này. Đối với tình hình tội phạm ngày này diễn ra ngày càng phức tạp đòi hỏi chúng ta cần phải tích cực, chủ động trong việc điều tra nghiên cứu để bổ sung và sửa chữa nhiều hơn góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn) 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ luật Hình sự nước Việt Nam 1985.
  2. Bộ luật Hình sự nước Việt Nam 1999.
  3. Bộ luật Hình sự nước Việt Nam 2015.
  4. Bộ luật Hình sự nước Việt Nam 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
  5. Bộ luật Tố tụng hình sự nước Việt Nam 2003.
  6. Bộ luật Tố tụng hình sự nước Việt Nam 2015.
  7. Luật Thi hành án hình sự 2010:
  8. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
  9. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
  10. Nhà xuất bản Tư pháp, “Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 – Phần các tội phạm – Quyển 1”:
  11. Từ điển tiếng việt, NXB Hồng Đức, 2010.
  12. Đinh Văn Quế, “Bình luận khoa học hình sự”, Trường ĐH luật Hà Nội, 22/08/2014 TS. Trần Văn Biên và TS. Đinh Thế Hưng (đồng chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), NXB Thế giới, 2017.
  13. TSKH Lê Cảm, “Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần chung)”, NXB ĐHQG Hà Nội, 2007.
  14. TSKH Lê Cảm, “Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm)”, NXB ĐHQG Hà Nội, 2007.
  15. TS Nguyễn Ngọc Hòa, “Tội phạm và cấu thành tội phạm”, NXB Tư pháp, 2013.
  16. TS Nguyễn Xuân Yêm, “Tội phạm học Việt Nam”, tập 2, NXB Công an nhân dân.
  17. TS. Nguyễn Xuân Yêm, “Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm”, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2001.
  18. Trần Quang Tiệp, “Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam”, NXB Tư pháp, 2003.
  19. Ngô Thị Oanh (chủ biên), “Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm)”, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010.
  20. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia https://www.wikipedia.org/
  21. Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp http://m7uoj.gov.vn/Pages/home.aspx
  22. Bộ luật Hình sự Thụy Điển.
  23. Bộ luật Hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
  24. Bộ luật Hình sự Hà Lan.
  25. http://legislationline.org/download/action/download/id/4247/file/RF_CC_1996_am03.2012_en.pdf
  26. https://www.unicef.org/vietnam/vi/c%C3%B4ng-%C6%B0%E1%BB%9Bc-li%C3%AAn-h%E1%BB%A3p-qu%E1%BB%91c-v%E1%BB%81-;quy%E1%BB%81n-tr%E1%BA%BB-em ;
  27. https://www.crin.org/en/home/rights/convention ;
  28. https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0277953605001176 ;
  29. https://www.ohchr.org/EN/UDHR/Documents/UDHR_Translations/eng.pdf ;
  30. https://www.ncjrs.gov/App/Publications/abstract.aspx?ID=42792;
  31. https://digitalcommons.ilr.cornell.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1007&context=child .

[1]  Lê Đức Trịnh (2010), Các tội xâm phạm tình dục trẻ em dưới góc độ pháp lý hình sự – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, TP.HCM.
[2] Cao Thị Mỹ Hằng (2010), Các tội xâm phạm tình dục trẻ em theo pháp luật hình sự Việt Nam -Lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, TP.HCM.
[3] Từ điển tiếng việt, trung tâm từ điển ngôn ngữ 1992
2 Trường Đại học Luật TP.HCM (2013), Giáo trình Luật Hình Sự Việt Nam – Phần các tội phạm (Quyển 1), Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 112. Đại học quốc gia Hà Nội – Khoa luật (2007), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần các tội phạm, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội,tr. 142. Trường Đại học Luật Hà Nội (2011).
3 Nguyễn Đức Mai (Chủ biên) (2010), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 – Phần các tội phạm, Nxb Chính trị quốc gia, tr. 113.
[6] Trần Quán Anh, Nguyễn Bửu Triều (2002), Bệnh học giới tính nam, Nxb Y học, tr.395.
[7] Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, bản án số 5/2012/HSST ngày 13 tháng 1 năm 2012.
[8] Tòa án nhân dân tỉnh Binh Dương, bản án số 53/2012/HSST ngày 29 tháng 6 năm 2012.
[9] Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, bản án số 03/2012/HSST ngày 12 tháng 1 năm 2012.
[10] Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, bản án số 661/2012/HSPT ngày 20/7/2012.
[11] Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, bản án số 105/2012/HSPT ngày 21/11/2012.
[12] Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, bản án số 576/2013/HSPT ngày 28/5/2013.
[13] http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/phong-su-ky-su/20140414/rinh-mo-o-ho-boi/602653.html
[14] Tòa Phú thẩm Tòa án Nhân Dân tối cao tại tp Hồ Chí Minh, bản án số 1177/2008/HSPT ngày 20 tháng 10 năm 2008 xét xử phúc thẩm “vụ án hình sự thụ lý số 1034/2008/HSPT ngày 1 tháng 10 năm 2008 đối với bị cáo Dinh jonathan peter”.
[15] http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/545500/3377352
[16]http://www.baomoi.com/Be-trai-bi-xam-hai-Ban-chat-la-hiep-dam-nhung-chi-xu-dam-o/104/13229651.epi
[17] Hội đồng biên soạn từ điển bách khoa (2002), Từ điển Bách khoa Việt Nam – Tập 2, Nxb Từ điển Bách khoa, tr. 117-118.
[18]http://www.doisongphapluat.com/dia-phuong/tin-phap-luat/nhung-phu-nu-tung-pham-toi-hiep-dam-a54061.html
[19] http://eva.vn/tin-tuc/thieu-nu-17-tuoi-doi-mat-voi-an-chung-than-vi-toi-hiep-dam-c73a297479.html
[20] https://www.tin247.com/duoc_ban_gai_cho_yeu_van_pham_toi_hiep_dam-6-21861064.html
[21] Khoản 1 điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
[22] http://eva.vn/tin-tuc/tin-nong-nghi-an-be-gai-13-tuoi-tu-van-vi-bi-xam-hai-c73a299102.html