Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan tại Bộ luật hình sự 2015

Tội xậm phạm quyền tác giả, quyền liên quan được quy định tại Điều 225 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tương ứng với Điều 170. Tội ậm phạm quyền tác giả, quyền liên quan BLHS 1999.
 

Điều 225. Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan
1. Người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà cố ý thực hiện một trong các hành vi sau đây, xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:
a) Sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình;
b) Phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên;
d) Gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan 500.000.000 đồng trở lên;
đ) Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm;
c) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

 
Bình luận Tội xậm phạm quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định của BLHS 2015

1. Khái niệm

  • Xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan được hiểu là hành vi sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình, phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bảo sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình một các cố ý mà không được phép của công chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan.
  • Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm của mình sáng tạo ra hoặc sở hữu (khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ).
  • Quyền liên quan đến quyền tác giả là quyền tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản sao bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa (khoản 3 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ).

2. Các yếu tố cấu thành tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan

2.1. Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội phạm này có các dấu hiệu sau:
a) Về hành vi. Có một trong các hành vi sau:

  • Có hành vi sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình (như dùng tác phẩm đã là cuốn sách đã được xuất bản phôtô ra thành nhiều bản khác…) một cách cố ý để thu lợi.
    Sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc lưu trữ thường xuyên hoặc tạm thời tác phẩm dưới hình thức điện tử.
  • Có hành vi phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao ghi âm hoặc bản sao ghi hình (như phân phối đĩa chương trình ca nhạc đã được in sao từ đĩa chương trình ca nhạc được công bố ra công chúng) một cách cố ý để thu lợi.

Lưu ý: Quyền tác giả, quyền liên quan phải đang được bảo hộ tại Việt Nam.
b) Các dấu hiệu khác. Có một trong các dấu hiệu sau đây:

  • Các hành vi nêu trên phải đạt mức độ với quy mô thương mại.
  • Thu lợi bất chính tối thiểu là 50.000.000 đồng.
  • Gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan tối thiểu là là 100.000.000 đồng.
  • Hàng hóa vi phạm có trị giá tối thiểu là 100.000.000 đồng (tham khảo thêm Thông tư liên tịch sô 01/2008/TTLT-TANDTC-BCA-BTP ngày 29/02/2008).

2.2. Khách thể.

Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền tác giả, quyền liên quan được pháp luật bảo vệ.

2.3. Mặt khách quan

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

2.4. Chủ thể

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

3. Về hình phạt

3.1. Đối với cá nhân

Mức hình phạt của tội phạm này được chia thành 02 khung, cụ thể như sau:
a) Khung một (khoản 1)
Có mức phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
b) Khung hai (khoản 2)
Có mức hình phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm/
c) Hình phạt bổ sung
Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình phạt chính nêu trên, tùy từng trường hợp cụ thể người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhận chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

3.2. Đối với pháp nhân thương mại

Mức hình phạt của tội phạm này được chia thành 02 khung, cụ thể như sau:
a) Khung một (điểm a)
Có mức phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng.
b) Khung hai (điểm b)
Có mức hình phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm.
c) Hình phạt bổ sung.
Ngoài bị áp dụng một trong các hình phạt chính nêu trên, tùy từng trường hợp cụ thể pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh , cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Các mẫu văn bản quy phạm pháp luật

Các mẫu văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) ban hành kèm theo Nghị quyết số 351/2017/UBTVQH14 ngày 14/3/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) quy định thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, UBTVQH, Chủ tịch nước.
 
Các nội dung liên quan:

  • 05 điều cần biết về hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam
  • Thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật của các cơ quan Nhà nước
  • Nghị quyết và quyết định khác nhau như thế nào?
  • Phương pháp và kỹ năng soạn thảo các loại văn bản thường được sử dụng
  • Bài giảng: Kỹ năng soạn thảo một số loại văn bản thông dụng

 

Tải về máy: Các mẫu văn bản quy phạm pháp luật

 

  • Mẫu 1 – Bộ luật
  • Mẫu 2 – Luật
  • Mẫu 3 – Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của một luật
  • Mẫu 4 – Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của nhiều luật
  • Mẫu 5 – Nghị quyết của Quốc hội
  • Mẫu 6a – Nghị quyết của Quốc hội
  • Mẫu 6b – Văn bản ban hành kèm theo nghị quyết của Quốc hội
  • Mẫu 7 – Nghị quyết sửa đổi, bổ sung văn bản của Quốc hội
  • Mẫu 8 – Pháp lệnh
  • Mẫu 9 – Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh
  • Mẫu 10 – Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
  • Mẫu 11a – Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
  • Mẫu 11b – Văn bản ban hành kèm theo nghị quyết của UBTVQH
  • Mẫu 12 – Nghị quyết sửa đổi, bổ sung văn bản của UBTVQH
  • Mẫu 13 – Nghị quyết liên tịch
  • Mẫu 14 – Phụ lục ban hành kèm theo văn bản QPPL
  • Mẫu 15a – Lệnh của Chủ tịch nước (bố cục không có điều)
  • Mẫu 15b – Lệnh của Chủ tịch nước (bố cục theo điều)
  • Mẫu 16 – Quyết định của Chủ tịch nước

 

Mẫu 1 - Bộ luật
Mẫu 1 – Bộ luật

Mẫu 2 - Luật
Mẫu 2 – Luật

Mẫu 3 - Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của một luật
Mẫu 3 – Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của một luật

Mẫu 4 - Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của nhiều luật
Mẫu 4 – Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của nhiều luật

Mẫu 5 - Nghị quyết của Quốc hội
Mẫu 5 – Nghị quyết của Quốc hội

Mẫu 6a - Nghị quyết của Quốc hội
Mẫu 6a – Nghị quyết của Quốc hội

Mẫu 6b - Văn bản ban hành kèm theo nghị quyết của Quốc hội
Mẫu 6b – Văn bản ban hành kèm theo nghị quyết của Quốc hội

Mẫu 7 - Nghị quyết sửa đổi, bổ sung văn bản của Quốc hội
Mẫu 7 – Nghị quyết sửa đổi, bổ sung văn bản của Quốc hội

 Mẫu 8 - Pháp lệnh
Mẫu 8 – Pháp lệnh

Mẫu 9 - Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh
Mẫu 9 – Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh

Mẫu 10 - Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Mẫu 10 – Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Mẫu 11a - Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Mẫu 11a – Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Mẫu 11b - Văn bản ban hành kèm theo nghị quyết của UBTVQH
Mẫu 11b – Văn bản ban hành kèm theo nghị quyết của UBTVQH

Mẫu 12 - Nghị quyết sửa đổi, bổ sung văn bản của UBTVQH
Mẫu 12 – Nghị quyết sửa đổi, bổ sung văn bản của UBTVQH

Mẫu 13 - Nghị quyết liên tịch
Mẫu 13 – Nghị quyết liên tịch

Mẫu 14 - Phụ lục ban hành kèm theo văn bản QPPL
Mẫu 14 – Phụ lục ban hành kèm theo văn bản QPPL

 Mẫu 15a - Lệnh của Chủ tịch nước (bố cục không có điều
Mẫu 15a – Lệnh của Chủ tịch nước (bố cục không có điều

Mẫu 15b - Lệnh của Chủ tịch nước (bố cục theo điều)
Mẫu 15b – Lệnh của Chủ tịch nước (bố cục theo điều)

Mẫu 16 - Quyết định của Chủ tịch nước
Mẫu 16 – Quyết định của Chủ tịch nước

 

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Một số ý kiến góp ý Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn về tội rửa tiền

Để áp dụng đúng và thống nhất quy định tại Điều 324 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã xây dựng dự thảo Nghị quyết hướng dẫn Điều 324 BLHS 2015 (sau đây viết là Dự thảo Nghị quyết). Ngày 22/9/2018, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử đã có bài đăng giới thiệu về Dự thảo Nghị quyết này. Sau khi nghiên cứu Dự thảo Nghị quyết, chúng tôi có một số ý kiến như sau:
Về Điều 1 Dự thảo nghị quyết – giải thích từ ngữ
1.1. Về khoản 1
Khoản 1 Điều 1 Dự thảo Nghị quyết quy định: “1. Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự; các chứng từ hoặc công cụ pháp lý chứng minh quyền sở hữu hoặc lợi ích đối với tài sản đó.”
Trong tiếng Việt, dấu chấm phẩy (;) dùng để chỉ ranh giới giữa các vế trong câu ghép song song, dấu chấm phẩy cũng có thể dùng để chỉ ranh giới giữa các yếu tố trong một liên hợp song song bao gồm những ngữ[1].
Với cách hành văn sử dụng dấu chấm phẩy đặt ở giữa câu như trên sẽ dẫn đến cách hiểu: Đây là điều luật giải thích từ ngữ và khoản này giải thích về tài sản. Do đó tài sản tại khoản 1 này bao gồm: (1) vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự; (2) các chứng từ hoặc công cụ pháp lý chứng minh quyền sở hữu hoặc lợi ích đối với tài sản đó.
Trong khi đó, khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.”.
Chúng tôi cho rằng vế câu sau dấu chấm phẩy là không cần thiết và vì không có ý nghĩa giải thích và cũng không có quan hệ gì với vế đầu của câu. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 1 Dự thảo Nghị quyết có giải thích công cụ pháp lý chứng minh quyền sở hữu hoặc lợi ích đối với tài sản. Do đó khoản 1 Điều 1 Dự thảo Nghị quyết nên chỉnh lý lại như sau: “1. Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự; các chứng từ hoặc công cụ pháp lý chứng minh quyền sở hữu hoặc lợi ích đối với tài sản đó.”[2].
1.2. Về khoản 2 – Công cụ pháp lý chứng minh quyền sở hữu hoặc lợi ích đối với tài sản
Khoản 2 Điều 1 Dự thảo Nghị quyết giải thích: “2. Công cụ pháp lý chứng minh quyền sở hữu hoặc lợi ích đối với tài sản đó có thể bao gồm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, đăng ký xe mô tô, xe máy, tàu bay, tàu biển.”.
Từ “đó” trong tiếng Việt là đại từ thay thế – đại từ dùng để chỉ người, sự vật, địa điểm, thời điểmhoặc sự việc đã được xác định, được nói đến nhưng không ở vào vị trí người nói hoặc không ở vào lúc đang nói[3]. Do đó, trong khoản 2 của điều luật sử dụng từ “đó” sau từ “tài sản” là không đúng. Bên cạnh đó, việc giải thích từ ngữ tại khoản 2 là mang tính chất liệt kê. Để tránh việc liệt kê không đầy đủ, khoản này cần bổ sung một ý “quét” đó là “giấy chứng nhận, đăng ký tài sản khác theo quy định của pháp luật”.
Theo chúng tôi, khoản 2 Điều 1 Dự thảo Nghị quyết nên chỉnh lý lại, cụ thể như sau: “2. Công cụ pháp lý chứng minh quyền sở hữu hoặc lợi ích đối với tài sản đó có thể bao gồm: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở; đăng ký xe mô tô, xe máy, tàu bay, tàu biển; giấy chứng nhận, đăng ký tài sản khác theo quy định của pháp luật.”[4]
1.3. Về khoản 3 – Tài sản do phạm tội mà có
Khoản 3 Điều 1 Dự thảo Nghị quyết giải thích: “Tài sản do phạm tội mà có là tài sản, tiền do người phạm tội có được trực tiếp từ việc thực hiện hành vi phạm tội hoặc do người phạm tội có được từ việc mua bán, đổi chác bằng tài sản có được trực tiếp từ việc họ thực hiện hành vi phạm tội.”
Có thể thấy, việc giải thích “Tài sản do phạm tội mà có là tài sản, tiền…” là vừa thừa, vừa thiếu: thừa vì không cần thiết phải liệt kê cái gì là tài sản (tài sản đã được giải thích tại khoản 1); nếu liệt kê mà chỉ nêu “tiền” thì lại thiếu, không đầy đủ theo quy định của Bộ luật Dân sự và hướng dẫn tại khoản 1 nêu trên.
Do đó, theo tác giả bài viết, nên chỉnh lý khoản 3 Điều 1 Dự thảo Nghị quyết như sau: “Tài sản do phạm tội mà có là tài sản, tiền do người phạm tội có được trực tiếp từ việc thực hiện hành vi phạm tội hoặc do người phạm tội có được từ việc mua bán, đổi chác bằng tài sản có được trực tiếp từ việc họ thực hiện hành vi phạm tội.”
1.4. Cần bổ sung giải thích về chứng từ
Để bảo đảm việc thống nhất áp dụng pháp luật, theo tác giả rất cần thiết phải bổ sung giải thích một từ  ngữ liên quan đến chứng minh quyền sở hữu hoặc lợi ích đối với tài sản, đó là “chứng từ” vào Điều 1 Dự thảo Nghị quyết. Khái niệm “chứng từ”, theo chúng tôi, cần tham khảo khái niệm về “chứng từ kế toán” trong Luật Kế toán năm 2015.
Về Điều 2 Dự thảo Nghị quyết – Tội phạm nguồn
“Điều 2. Tội phạm nguồn
Tội phạm nguồn là tội phạm được quy định tại Bộ luật Hình sự mà tài sản có được từ tội phạm đó trở thành đối tượng của tội rửa tiền. Hành vi phạm tội nguồn có thể được thực hiện trong hoặc ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Việc xác định tội phạm nguồn được căn cứ vào bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc các tài liệu, chứng cứ do các cơ quan có thẩm quyền cung cấp.”
Với nội dung nêu trên, Điều này là giải thích về “tội phạm nguồn”, do đó, không cần thiết phải quy định thành một điều riêng. Theo tác giả bài viết này, nên chỉnh lý, thiết kế Điều 2 nêu trên thành một khoản đưa vào Điều 1 – Điều về giải thích từ ngữ.
Nguồn:  Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).


[1] http://ngonngu.net/index.php?p=92
[2] Phần chữ có gạch ngang là phần nên bỏ đi trong Dự thảo Nghị quyết.
[3] Xem trang 328 Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng, năm 2004.
[4] Phần chữ in nghiêng, đậm là phần bổ sung thêm so với Dự thảo Nghị quyết.

Trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp sơ thẩm

Thủ tục rút gọn là thủ tục tố tụng được áp dụng để giải quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thông thường nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn bảo đảm đúng pháp luật. Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày một số vấn đề về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp sơ thẩm.

Một số quy định chung

Về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn
Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn được quy định tại Điều 317 của BLTTDS năm 2015. Theo đó, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn khi có đủ các điều kiện sau đây:
– Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ;
– Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng;
– Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản.
Đối với vụ án lao động đã được thụ lý, giải quyết theo thủ tục rút gọn mà người sử dụng lao động có quốc tịch nước ngoài hoặc người đại diện theo pháp luật của họ đã rời khỏi địa chỉ nơi cư trú, nơi có trụ sở mà không thông báo cho đương sự khác, Tòa án thì bị coi là trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Tòa án vẫn giải quyết vụ án đó theo thủ tục rút gọn.
Chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường
Theo khoản 2 Điều 317 và khoản 4 Điều 320 của BLTTDS năm 2015, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn hoặc tại phiên tòa sơ thẩm, nếu xuất hiện tình tiết mới sau đây làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn thì Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường:
– Phát sinh tình tiết mới mà các đương sự không thống nhất do đó cần phải xác minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ hoặc cần phải tiến hành giám định;
– Cần phải định giá, thẩm định giá tài sản tranh chấp mà các đương sự không thống nhất về giá;
– Cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
– Phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
– Phát sinh yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập.
Khác với giải quyết vụ án theo thủ tục thông thường, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn chỉ đơn thuần là giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mà không giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn cũng không có phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Cho nên đương sự được quyền đưa ra yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập trước hoặc tại phiên tòa sơ thẩm và nếu như vụ án có yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập thì Tòa án sẽ không được giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn mà phải chuyển vụ án sang thủ tục thông thường.
– Phát sinh đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ ở nước ngoài mà cần phải thực hiện ủy thác tư pháp, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 317 BLTTDS năm 2017 (Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản).
Hoặc là trường hợp sau khi Thẩm phán ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn mà đương sự khiếu nại hoặc Kiểm sát kiến nghị. Nếu khiếu nại hoặc kiến nghị được Chánh án Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn chấp nhận thì quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn sẽ bị hủy bỏ và chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.
Thời hạn chuẩn bị xét xử
Theo khoản 1 Điều 318 của BLTTDS năm 2015 thì thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn là không quá 01 tháng. Theo đó, trong thời hạn không quá 01 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn.
Tuy nhiên, nếu Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường thì thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính lại kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.
Án phí:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 7 Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án (Nghị quyết số 326) thì mức tạm ứng án phí sơ thẩm, phúc thẩm đối với vụ án dân sự giải quyết theo thủ tục rút gọn bằng 50% mức tạm ứng án phí đối với vụ án giải quyết theo thủ tục thông thường.
Theo khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 326 thì mức án phí sơ thẩm đối với vụ án dân sự giải quyết theo thủ tục rút gọn bằng 50% mức án phí đối với vụ án giải quyết theo thủ tục thông thường quy định tại mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326.
Theo khoản 8 Điều 26 Nghị quyết số 326 thì trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 3 Điều 320 của Bộ luật tố tụng dân sự thì các đương sự phải chịu 50% án phí giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn, tức là bằng 25% án phí giải quyết vụ án theo thủ tục thông thường.

Một số quy định riêng về giải quyết vụ án dân dự theo thủ tục rút gọn

Giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm hoặc tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu
1.1. Giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm hoặc tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu
Theo Điều 2 Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại Tòa án nhân dân (Nghị quyết số: 03/2018/NQ-HĐTP) thì:
Tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu là tranh chấp về việc bên bảo đảm, bên giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu không giao tài sản bảo đảm hoặc giao không đúng theo yêu cầu của bên nhận bảo đảm, bên có quyền xử lý tài sản bảo đảm để xử lý tài sản đó nhằm giải quyết nợ xấu (khoản 1).
Ví dụ: Ngân hàng thương mại cổ phần A cho Công ty trách nhiệm hữu hạn B vay 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng). Để bảo đảm cho khoản vay theo hợp đồng vay, Công ty trách nhiệm hữu hạn B (bên bảo đảm) đã thế chấp ngôi nhà X thuộc sở hữu của mình cho Ngân hàng thương mại cổ phần A (bên nhận bảo đảm). Khoản vay này được xác định là khoản nợ xấu, Ngân hàng thương mại cổ phần A yêu cầu Công ty trách nhiệm hữu hạn B giao ngôi nhà X (tài sản bảo đảm) để xử lý nhằm giải quyết nợ xấu nhưng Công ty trách nhiệm hữu hạn B không giao. Tranh chấp này là “Tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu”.
Tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu là tranh chấp về việc xác định người có quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu (khoản 2)
Ví dụ: Ngân hàng thương mại cổ phần A cho Công ty trách nhiệm hữu hạn B vay 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng). Để bảo đảm cho khoản vay theo hợp đồng vay, Công ty trách nhiệm hữu hạn B (bên bảo đảm) đã thế chấp ngôi nhà X thuộc sở hữu của mình cho Ngân hàng thương mại cổ phần A (bên nhận bảo đảm). Khoản vay này được xác định là khoản nợ xấu, Ngân hàng thương mại cổ phần A yêu cầu Công ty trách nhiệm hữu hạn B giao ngôi nhà X (tài sản bảo đảm) để xử lý nhằm giải quyết nợ xấu nhưng Công ty trách nhiệm hữu hạn B không đồng ý vì cho rằng mình có quyền tự chuyển nhượng ngôi nhà X để giải quyết nợ xấu. Tranh chấp này là “Tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu”.
1.2. Điều kiện giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm hoặc tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo thủ tục rút gọn
– Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng thì Tòa án áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm hoặc tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
+ Trong hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu cho bên nhận bảo đảm hoặc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu có quyền xử lý tài sản bảo đảm;
Thỏa thuận về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 42/2017/QH14 có thể được ghi nhận trong hợp đồng bảo đảm, phụ lục hợp đồng bảo đảm hoặc văn bản khác có hiệu lực như hợp đồng.(khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số: 03/2018/NQ-HĐTP)
+ Giao dịch bảo đảm hoặc biện pháp bảo đảm đã được đăng ký theo quy định của pháp luật;
+ Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự giải trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản.
– Tranh chấp “không có đương sự cư trú ở nước ngoài” là tranh chấp không thuộc các trường hợp sau:
+ Đương sự là người Việt Nam nhưng không cư trú ở Việt Nam tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn khởi kiện. Tòa án xác định việc cư trú của đương sự theo quy định của Luật Cư trú;
+ Đương sự là người nước ngoài không thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn khởi kiện. Tòa án xác định việc thường trú hoặc tạm trú của người nước ngoài theo quy định của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam;
+ Đương sự là tổ chức nước ngoài theo quy định tại khoản 26 Điều 4 của Luật Doanh nghiệp mà không ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân ở Việt Nam khởi kiện, tham gia tố tụng.
– Tranh chấp “không có tài sản tranh chấp ở nước ngoài” là tranh chấp mà không có tài sản được xác định theo quy định của Bộ luật Dân sự ở ngoài lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn khởi kiện.
1.3. Đơn khởi kiện:
* Về hình thức, nội dung đơn khởi kiện: thực hiện theo quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Mẫu số 23-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự (khoản 1 Điều 4 Nghị quyết 03/2018).
* Về tài liệu kèm theo đơn khởi kiện (khoản 2 Điều 4 Nghị quyết 03/2018)
– Hợp đồng tín dụng;
– Tài liệu, chứng cứ chứng minh khoản nợ đang có tranh chấp là nợ xấu theo quy định tại Điều 4 của Nghị quyết số 42/2017/QH14;
– Văn bản, hợp đồng bảo đảm và tài liệu, chứng cứ chứng minh về việc đã đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc biện pháp bảo đảm;
– Tài liệu, chứng cứ về nơi cư trú, làm việc của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức;
– Trường hợp có đương sự cư trú ở nước ngoài thì phải có một trong các tài liệu, chứng cứ sau đây:
+ Văn bản thỏa thuận giữa đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn có công chứng, chứng thực hợp pháp. Trường hợp văn bản này được lập ở nước ngoài thì phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 9 của Nghị định số 111/2011/NĐ-CP ngày 01 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự;
+ Tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền sở hữu tài sản hợp pháp và thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản của các đương sự có công chứng, chứng thực hợp pháp. Trường hợp văn bản này được lập ở nước ngoài thì phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 9 của Nghị định số 111/2011/NĐ-CP ngày 01 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự.
* Về làm đơn khởi kiện:
– Đối với cá nhân khởi kiện: Việc làm đơn khởi kiện của cá nhân thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự. (khoản 1 Điều 6)
– Đối với pháp nhân khởi kiện: Pháp nhân có quyền ủy quyền cho pháp nhân hoặc cá nhân khác khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu. Việc ghi thông tin và ký đơn khởi kiện của pháp nhân được thực hiện như sau:
+ Trường hợp người được ủy quyền khởi kiện là cá nhân thì phân người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của pháp nhân khởi kiện và họ tên, địa chỉ của người đại diện theo ủy quyền; phần cuối đơn khởi kiện ghi đại diện của người khởi kiện, người đại diện theo ủy quyền ký tên, ghi rõ họ tên của người được ủy quyền. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền không bắt buộc phải ký tên, đóng dấu vào phần cuối đơn khởi kiện;
+ Trường hợp người được ủy quyền khởi kiện là pháp nhân thì phần người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của pháp nhân khởi kiện và tên, địa chỉ của pháp nhân đại diện theo ủy quyền, họ tên và chức vụ của người đại diện hợp pháp của pháp nhân được ủy quyền; phần cuối đơn ghi đại diện của người khởi kiện, pháp nhân đại diện theo ủy quyền, người đại diện hợp pháp của pháp nhân được ủy quyền ký tên, ghi rõ họ tên, chức vụ và đóng dấu của pháp nhân được ủy quyền. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền không bắt buộc phải ký tên, đóng dấu vào phần cuối đơn khởi kiện.
Giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm, tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu
Theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 03/2018 thì trong quá trình giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình, trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, nếu có đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm, tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 42/2017/QH14 mà tài sản bảo đảm đó là tài sản của vợ chồng thì Tòa án có thể tách yêu cầu của đương sự đó để giải quyết bằng một vụ án khác theo thủ tục rút gọn.
Ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố HP đã thụ lý vụ án ly hôn giữa ông A và bà B. Ngân hàng thương mại cổ phần X được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Ngân hàng thương mại cổ phần X có đơn đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu ngôi nhà trên đất nằm trong khối tài sản chung của vợ chồng ông A, bà B. Đồng thời, Ngân hàng thương mại cổ phần X đề nghị Tòa án tách phần yêu cầu này giải quyết bằng vụ án khác theo thủ tục rút gọn. Trường hợp này, nếu Ngân hàng thương mại cổ phần X cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm giữa Ngân hàng thương mại cổ phần X và ông A, bà B đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 42/2017/QH14 và hướng dẫn của Nghị quyết này thì Tòa án tách yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần X để giải quyết bằng một vụ án khác theo thủ tục rút gọn.
Giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản đấu giá, khiếu nại, khởi kiện về hiệu lực pháp lý của cuộc đấu giá thành, việc hủy kết quả đấu giá tài sản
Theo khoản 2 Điều 6 Luật Bán đấu giá tài sản năm 2016 thì Việc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản đấu giá, khiếu nại, khởi kiện về hiệu lực pháp lý của cuộc đấu giá thành, việc hủy kết quả đấu giá tài sản quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 72 của Luật này được thực hiện theo thủ tục rút gọn của pháp luật tố tụng dân sự.
Theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 72 của Luật Bán đấu giá tài sản năm 2016 thì:
“Kết quả đấu giá tài sản bị hủy trong các trường hợp sau đây:
…
Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định của pháp luật về dân sự trong trường hợp người trúng đấu giá có hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 5 Điều 9 của Luật này;
Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản bị hủy bỏ theo quy định tại khoản 6 Điều 33 của Luật này;
Người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, tổ chức đấu giá tài sản, đấu giá viên có hành vi thông đồng, móc nối, dìm giá trong quá trình tham gia đấu giá dẫn đến làm sai lệch thông tin tài sản đấu giá hoặc hồ sơ tham gia đấu giá hoặc kết quả đấu giá tài sản;”
III. Trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn
Thụ lý vụ án:
Thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục rút gọn được thực hiện như thủ tục thông thường theo quy định tại Điều 195 của BLTTDS năm 2015. Cụ thể như sau:
– Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.
Theo khoản 4 Điều 6 Nghị quyết 326 thì mức tạm ứng án phí đối với vụ án dân sự giải quyết theo thủ tục rút gọn bằng 50% mức tạm ứng án phí đối với vụ án giải quyết theo thủ tục thông thường.
Từ quy định này cho thấy việc Tòa án quyết định giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn từ khi ra thông báo cho đương sự nộp tiền tạm ứng án phí nếu đương sự thuộc trường hợp phải nộp tiền tạm ứng án phí.
– Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
– Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
– Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.
Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí được quy định tại Điều 11, 12 của Nghị quyết 326. Người đề nghị được miễn tạm ứng án phí Tòa án phải có đơn đề nghị nộp cho Tòa án có thẩm quyền kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh thuộc trường hợp được miễn. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn đề nghị miễn tạm ứng án phí và tài liệu, chứng cứ chứng minh thuộc trường hợp được miễn, Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công ra thông báo bằng văn bản về việc miễn hoặc không miễn tạm ứng án phí. Trường hợp không miễn thì phải nêu rõ lý do.
Thông báo thụ lý vụ án
Biểu mẫu Thông báo về việc thụ lý vụ án số 30 ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự sử dụng chung cho vụ án giải quyết theo thủ tục thông thường và thủ tục rút gọn. Khác nhau ở chỗ tại mục số (12) mẫu số 30, nếu giải quyết theo thủ tục rút gọn thì ghi Vụ án theo thủ tục rút gọn.
Như vậy, Tòa án vẫn phải gửi Thông báo về việc thụ lý cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án. Đối với vụ án do người tiêu dùng khởi kiện thì Tòa án phải niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án thông tin về việc thụ lý vụ án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án.
Nội dung thông báo về việc thụ lý như quy định tại khoản 2 Điều 195 BLTTDS năm 2015 và mẫu số 30 kèm theo Nghị quyết số 01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sau khi nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án thì phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo; đơn yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có). Nếu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc tại phiên tòa mà bị đơn nộp đơn yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp đơn yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.
Ra quyết định giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn
 Giải quyết vụ án theo thủ tục rút như đã trình bày là Tòa án không mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Theo Điều 318 BLTTDS năm 2015 thì trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn và mở phiên tòa xét xử trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định. Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn phải được gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp.
Trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật này thì Tòa án phải gửi hồ sơ vụ án cùng quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp; trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ cho Tòa án. Tuy nhiên cũng cần phải lưu ý rằng Viện kiểm sát tham gia phiên tòa không phải trong mọi trường hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 21 BLTTDS năm 2015. Cụ thể Viện kiểm sát tham gia phiên tòa trong trường hợp: vụ án có đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 BLTTDS năm 2015.
Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn
Theo Điều 319 BLTTDS năm 2015 thì đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã ra quyết định giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị về quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn, Chánh án Tòa án phải ra một trong các quyết định sau đây:  Giữ nguyên quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc hủy quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn và chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án là quyết định cuối cùng và phải được gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp.
Phiên tòa xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn.
Điểm khác biệt giữa phiên tòa xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn so với phiên tòa xét xử vụ án theo thủ tục thông thường là nếu bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên tòa mà không phải hoãn phiên tòa để mở lại phiên tòa lần thứ hai.
Trình tự, thủ tục tiến hành phiên tòa như sau:
– Thẩm phán tiến hành thủ tục khai mạc phiên tòa theo quy định tại Điều 239 BLTTDS năm 2015. Cụ thể là: Chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử; Thư ký phiên tòa báo cáo Hội đồng xét xử về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và lý do vắng mặt;  Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và kiểm tra căn cước của đương sự, người tham gia tố tụng khác; Chủ tọa phiên tòa phổ biến quyền, nghĩa vụ của đương sự và của người tham gia tố tụng khác; Chủ toạ phiên tòa giới thiệu họ, tên những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; Chủ tọa phiên tòa hỏi những người có quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch xem họ có yêu cầu thay đổi ai không; Yêu cầu người làm chứng cam kết khai báo đúng sự thật, nếu khai không đúng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trừ trường hợp người làm chứng là người chưa thành niên; Yêu cầu người giám định, người phiên dịch cam kết cung cấp kết quả giám định chính xác, phiên dịch đúng nội dung cần phiên dịch.
– Sau khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán tiến hành hòa giải, trừ trường hợp không được hòa giải theo quy định tại Điều 206 hoặc không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật này. Thẩm phán không phải kiểm tra việc giao nộp công khai chứng cứ và công bố tài liệu, chứng cứ như giải quyết vụ án theo thủ tục thông thường. Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Trường hợp các đương sự không thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán tiến hành xét xử.
– Việc trình bày, tranh luận, đối đáp, đề xuất quan điểm về việc giải quyết vụ án được thực hiện như giải quyết vụ án theo thủ tục thông thường theo quy định tại Mục 3 Chương XIV của BLTTDS năm 2015.
Nếu tại phiên tòa mà phát sinh tình tiết mới quy định tại khoản 3 Điều 317 của BLTTDS năm 2015 làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn thì Thẩm phán xem xét, ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.
Kháng cáo, kháng nghị đối với bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn
Thời hạn kháng cáo đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn là 07 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án, quyết định được giao cho họ hoặc bản án, quyết định được niêm yết.
Thời hạn kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định.
Một số vướng mắc trong giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn
Nghiên cứu các quy định của BLTTDS năm về giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn, tác giả thấy có những vướng mắc cần được cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn như sau:
Về thời hạn niêm yết công khai văn bản tố tụng của Tòa án
Theo khoản 3 Điều 179 của BLTTDS năm 2015 thì thời hạn niêm yết công khai văn bản tố tụng là 15 ngày, kể từ ngày niêm yết. Tuy nhiên thực tế có vướng mắc, đó là: theo khoản 1 Điều 318 BLTTDS năm 2015 thì việc mở phiên tòa xét xử là trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn. Như vậy, nếu sau khi tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn đến khi tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn cho bị đơn thì bị đơn vắng mặt tại nơi cư trú và không có người nhận thay. Trong trường hợp này, Tòa án phải tiến hành niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn. Tuy nhiên thời gian niêm yết là 15 ngày, còn thời gian mở phiên tòa chỉ có 10 ngày.
Chưa có quy định cụ thể về tạm ngừng phiên tòa
BLTTDS năm 2015 không có quy định rõ nếu tại phiên tòa có một trong các căn cứ sau đây: (1) Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tiến hành tố tụng không thể tiếp tục tiến hành phiên tòa, trừ trường hợp thay thế được người tiến hành tố tụng; (2) Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa; (3) Các đương sự thống nhất đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để họ tự hòa giải thì Tòa án có tạm ngừng phiên tòa hay không. Nếu tạm ngừng phiên tòa thì thời hạn là bao lâu.
Chưa quy định trường hợp nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa
Điều 320 của BLTTDS năm 2015 chỉ quy định: Trường hợp bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên tòa. Tuy nhiên trường hợp nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì Tòa án hoãn phiên tòa hay đình chỉ giải quyết vụ án. Nếu hoãn phiên tòa thì thời hạn mở lại phiên tòa là trong bao lâu.
Chưa có quy định về giải quyết kháng cáo quá hạn theo thủ tục rút gọn.
Trường hợp tại phiên tòa, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ. Nhưng vì lý do trở ngại khách quan hoặc tình thế bất khả kháng, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không nộp đơn kháng cáo được trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được bản án thì trong trường hợp này Tòa án có chấp nhận đơn kháng cáo quá hạn không, trình tự thủ tục và thời gian xem xét kháng cáo quá hạn thực hiện như thế nào, có phải theo thủ tục thông thường hay không.
DƯƠNG TẤN THANH TAND thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh
Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Một số vấn đề trong việc sử dụng chứng cứ ở Việt Nam

Trong quá trình chứng minh, muốn giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, muốn xác định sự thật khách quan, có cơ sở để kết luận đúng về hành vi phạm tội đã xảy ra thì cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải có tài liệu, chứng cứ để chứng minh bản chất của người phạm tội.
Chứng cứ là phương tiện của việc chứng minh, của việc xác định các sự kiện có ý nghĩa với việc giải quyết vụ án hình sự. Thông qua các tài liệu, chứng cứ các sự kiện thực tế được xác định, khẳng định và đồng thời cũng phủ định, loại trừ các sự kiện không xảy ra trong thực tế. Rõ ràng vai trò, giá trị của chứng cứ là rất quan trọng, là cơ sở duy nhất, là phương tiện duy nhất để chứng minh trong vụ án hình sự. Khi giải quyết vụ án hình sự, trong quá trình thực hiện các hoạt động tố tụng, cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án cần xác minh những sự việc có liên quan đến tội phạm đang được tiến hành xem xét,  cần phải khẳng định được rằng tội phạm đã xảy ra, xác định được người cụ thể đã thực hiện tội phạm và họ phải chịu trách nhiệm về hành vi đã thực hiện.
Tất cả các sự kiện và tình tiết của vụ án phải phù hợp với hiện thực khách quan. Để làm được điều đó, cơ quan tiến hành tố tụng phải dựa vào chứng cứ. Thông qua chứng cứ, kiểm sát viên thực hành quyền công tố trước toà án đưa ra lời buộc tội đối với bị cáo, còn người bào chữa và thân chủ của họ có thể bác bỏ lời buộc tội hoặc đưa ra những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Việc nghiên cứu, xác định các sự kiện, tình tiết của vụ án được tiến hành trên cơ sở của các chứng cứ và chỉ bằng cách dựa vào các chứng cứ mới làm sáng tỏ được những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự.
Thông qua việc phát hiện chứng cứ, xem xét và ghi nhận chứng cứ về mặt tố tụng, kiểm tra tính xác thực của chứng cứ, đánh giá chứng cứ, cơ quan tiến hành tố tụng có thể nghiên cứu đầy đủ và toàn diện các tình tiết của vụ án, xác định sự phù hợp của chúng với hiện thực từ đó tìm ra chân lý khách quan. Như vậy, quá trình chứng minh thực chất và nói chung là quá trình giải quyết chứng cứ, mọi giai đoạn của tố tụng hình sự đều được mở ra và kết thúc từ vấn đề chứng cứ, xuất phát từ chứng cứ. Vì vậy, chứng cứ là một trong những vấn đề có vị trí đặc biệt quan trọng trong lý luận cũng như trong thực tiễn của hoạt động tố tụng hình sự. Việc nhận thức đúng vấn đề chứng cứ sẽ là cơ sở lý luận, định hướng đúng đắn cho quá trình thu thập, nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá chứng cứ.
Thông thường, một vụ án hình sự xảy ra bao giờ cũng để lại dấu vết và những dấu vết đó được thể hiện dưới những hình thức khác nhau, mà những dấu xết này có ý nghĩa quan trọng nhằm xác định có hay không có hành vi phạm tội. Các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ căn cứ vào những dấu vết đã thu thập được để khởi tố, truy tố hay xét xử một người đã có hành vi phạm tội, những dấu vết đó được gọi là chứng cứ. Theo quy định tại Điều 64 BLTTHS thì:

1.Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.
2. Chứng cứ được xác định bằng:
a) Vật chứng;
b) Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;
c) Kết luận giám định;
d) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.

Như vậy, xét về bản chất, chứng cứ là những thông tin, tài liệu hay những gì có thật được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập, kiểm tra và đánh giá theo quy định của pháp luật nhằm phục vụ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì một thông tin, tài liệu chỉ có thể được coi là chứng cứ của vụ án khi nó có đủ ba thuộc tính sau:
-Tính khách quan: Là những gì có thật và phản ánh trung thực những tình tiết của vụ án hình sự đã xảy ra.
– Tính liên quan: Có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với vụ án. Nhưng cho dù là trực tiếp hay gián tiếp thì đó cũng phải là mối quan hệ nội tại, có tính nhân quả, tức là chứng cứ phải là kết quả của một loại hành vi hoặc hành động hoặc một quan hệ nhất định, ngược lại, hành vi, hành động hoặc quan hệ đó là nguyên nhân dẫn đến việc hình thành các chứng cứ này.
– Tính hợp pháp: Tất cả những gì có thật phải được cung cấp, thu thập, nghiên cứu, bảo quản theo một trình tự do luật định. Đây là trình tự nhằm bảo đảm giá trị chứng minh của chứng cứ.
Trong thực tế, tính hợp pháp của chứng cứ được xác định thông qua hoạt động chứng minh được toà án và tất cả người tham gia tố tụng thực hiện và tuân thủ.
Trong quá trình chứng minh, trong các giai đoạn tố tụng, hoạt động sử dụng chứng cứ gắn liên với hoạt động đánh giá chứng cứ, đánh giá chứng cứ và sử dụng chứng cứ có mối quan hệ chặt chẽ không tách rời. Đánh giá chứng cứ là tiền đề, là điều kiện cho sử dụng chứng cứ. Sử dụng chứng cứ là sự kiểm nghiệm, xác định lại kết quả của hoạt động đánh giá chứng cứ. Đánh giá chứng cứ không đúng, tất yếu dẫn đến kết quả sai lầm, không đúng đắn của việc sử dụng. Ngược lại, việc sử dụng chứng cứ sai mục đích, không phù hợp giữa nội dung, giá trị chứng minh của chứng cứ với đối tượng cần phải chứng minh là làm hạn chế kết quả của hoạt động đánh giá chứng cứ.
Để đảm bảo việc sử dụng chứng cứ trong quá trình chứng minh vụ án hình sự một cách hiệu quả, cần nắm rõ được mục đích của việc sử dụng chứng cứ đó là:
* Trong các giai đoạn tố tụng hình sự, chứng cứ đã thu thập được trọng vụ án được sử dụng để phát hiện, thu thập chứng cứ mới. Việc hoàn thiện nhận thức chân lý khách quan được hình thành dần trong các giai đoạn tố tụng, qua việc nhận thức chứng cứ của vụ án. Tuy nhiên, trong các giai đoạn tố tụng không phải tất cả các vụ án đều đã có đầy đủ các chứng cứ, nhất là trong giai đoạn điều tra vụ án. Vì vậy, việc phát hiện và thu thập thêm chứng cứ mới là hoạt động được tiến hành liên tục cho đến khi các cơ quan tiến hành tố tụng có đủ chứng cứ chứng minh sự thật vụ án. Một trong những cách thức được sử dụng để thu thập thêm những chứng cứ mới là sử dụng  chứng cứ đã có, đã thu thập được từ trước. Từ lời khai của người bị hại, với những nội dung xác thực đã buộc bị can phải thay đổi thái độ khai báo, thừa nhận những lời cung trước đó là gian dối, không đúng sự thật, bị can đã phải nhận tội, khai ra những kẻ đồng phạm khác, cũng như những tài sản mà chúng đã chiếm đoạt, khai báo ra nới cất giấu, tiêu thụ tài sản đó.
* Chứng cứ đã thu thập được trong vụ án dùng để nghiên cứu, kiểm tra và đánh giá tài liệu, chứng cứ mới và ngược lại. Trong cùng một vụ án, các chứng cứ có thể được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, song chúng đều có quan hệ với nhau bởi những mối liên hệ logic, biện chứng. Để các định giá trị từng chứng cứ không thể không xem xét đến toàn bộ hệ thống chứng cứ, không thể không so sánh giá trị giữa các chứng cứ với nhau và tất yếu không thể không kiểm tra giá trị của chúng. Việc kiểm tra được tiến hành theo chiều thuận, từ chứng cứ đã có kiểm tra chứng cứ mới, hoặc ngược lại từ chứng cứ mới thu thập dùng để kiểm tra chứng cứ đã thu thập từ trước. Chẳng hạn sử dụng dầu vân tay  của kẻ phạm tội để lại ở hiện trường, cùng lời khai của người làm chứng để phủ định, bác bỏ lời khai về việc không có mặt ở hiện trường của kẻ phạm tội…
*Trong quá trình chứng minh ở các giai đoạn tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải sử dụng chứng cứ để ra quyết định tố tụng. Căn cứ vào các nguồn theo Điều 100 và 105 Bộ luật TTHS, các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án. “ Khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can …” (Điều 126 BLTTHS). “1. Khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra phải làm bản kết luận điều tra. 2. Việc điều tra kết thúc khi Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra…” ( Điều 162 BLTTHS). Trong hoạt động kiểm sát điều tra, quyết định việc truy tố, Viện kiểm sát, kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố, bảo đảm việc điều tra được khách quan toàn diện và đầy đủ. Khi ra các quyết định tố tụng, đồi hỏi Viện kiểm sát phải tiến hành nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá toàn bộ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, các quyết định cuối cùng phải dựa trên cơ sở việc sử dụng đầy đủ, đúng đắn các chứng cứ. Tại khoản 1 Điều 167 Bộ luật TTHS đã quy định : “Nội dung bản cáo trạng phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm xảy ra tội phạm; thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, hậu quả của tội phạm và những tình tiết quan trọng khác; những chứng cứ xác định tội trạng của bị can, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị can và mọi tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án. Phần kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng”. Hoặc khi quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung, nếu như qua nghiên cứu hồ sơ vụ án phát hiện thấy: “ 1.Còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được;………..” (Khoản 1 Điều 168 Bộ luật TTHS). Trong giai đoạn xét xử, mọi kết luận, quyết định cuối cùng Tòa án nhân dân cũng hoàn toàn dựa trên cở sở việc sử dụng chứng cứ. Chẳng hạn khi ra bản án, bản án của Tòa án phải dựa trên cơ sở chứng cứ đã thu thập, được kiểm tra chứng minh công khai tại phiên tòa.“ Trong bản án phải trình bày việc phạm tội của bị cáo, phân tích những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định không có tội, xác định bị cáo có phạm tội hay không và nếu bị cáo phạm tội thì phạm tội gì, theo điều, khoản nào của Bộ luật hình sự, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cần phải xử lý như thế nào. Nếu bị cáo không phạm tội thì bản án phải ghi rõ những căn cứ xác định bị cáo không có tội và phải giải quyết việc khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Phần cuối cùng của bản án ghi những quyết định của Toà án và quyền kháng cáo đối với bản án.” (Khoản 3 Điều 224 Bộ luật TTHS). Trong trường hợp hồ sơ vụ án không có chứng cứ, chứng cứ chưa đầy đủ thì Tòa án không thể tiến hành xét xử, Thẩm phán có quyền ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung: “a) Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên tòa được;…” ( điểm a khoản 1 Điều 179 Bộ luật TTHS).
Để việc sử dụng chứng cứ đạt được mục đích, dựa trên cơ sở, yêu cầu của pháp luật và thực tiễn tiến hành hoạt động chứng minh, chủ thể tiến hành tố tụng cần phải quán triệt và thực hiện một số vấn đề mang tính nguyên tắc trong sử dụng chứng cứ đó là:
Chấp hành nguyên tắc khách quan toàn diện và đầy đủ trong tố tụng hình sự.
Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng chỉ được sử dụng những chứng cứ đã được phát hiện, thu thập theo đúng qui định của pháp luật tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ thu thập được qua biện pháp điều tra, trinh sát, phải được chuyển hóa thành chứng cứ hợp pháp mới được sử dụng. Những tài liệu, chứng cứ phải được kiểm tra, xác minh đầy đủ, phải đảm bảo đầy đủ ba thuộc tính của chứng cứ, phải phù hợp với thực tế khách quan, đảm bảo sự tin cậy vững chắc và có đủ căn cứ mới sử dụng được. Tiyệt đối không sử dụng chứng cứ chưa qua nghiên cứu, kiểm tra, xác minh làm căn cứ, cơ sở để đưa ra những quyết định pháp lý, hoặc sử dụng vào việc kiểm tra, đánh giá các chứng cứ khác. Khi sử dụng chứng cứ không được định kiến, chủ quan, thiên lệch, coi trọng chứng cứ này mà bỏ qua chứng cứ kia, chỉ coi trọng sử dụng chứng cứ gốc, chứng cứ trực tiếp mà bỏ qua, coi nhẹ chứng cứ sao chép, chứng cứ thuật lại, chứng cứ gián tiếp, không chỉ sử dụng chứng cứ buộc tội mà sử dụng cả chứng cứ gỡ tội và ngược lại. Khi ra một quyết định tố tụng kết luận về bất cứ vấn đề nào đó hay toàn bộ mọi vấn đề trong vụ án, người tiến hành tố tụng phải sử dụng tổng hợp mọi chứng cứ trong vụ án.
Khi sử dụng chứng cứ phải tuân theo đúng những qui định của pháp luật.
Pháp luật tố tụng hình sự đã qui định thế nào là chứng cứ, chứng cứ được xác định ở những nguồn cụ thể. Việc sử dụng những chứng cứ ở nguồn luật định phải chấp hành nghiêm chỉnh theo những qui định của pháp luật tố tụng. Đặc biệt với những chứng cứ là lời khai của những người tham gia tố tụng, do đặc điểm của những chứng cứ này thường bị xen lẫn yếu tố chủ quan, dễ bị sai lệch, vì vậy khi sử dụng các lời khai của người tham gia tố tụng ở các tư cách khác nhau phải tuân theo đúng những qui phạm trong Bộ luật tố tụng hình sự. Chẳng hạn, khi sử dụng lời khai của bị can, bị cáo làm chứng cứ thì phải hết sức thận trọng vì “ …Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ, nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án.  không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội” (khoản 2 Điều 72 BLTTHS). Đối với bị can, bị cáo là vị thành niên, hoặc người làm chứng dưới 16 tuổi thì chỉ được sử dụng lời cung của bị can, bị cáo, lời khai của người làm chứng ( là vị thành niên) để làm chứng cứ của vụ án khi việc hỏi cung được tiến hành theo đúng qui định của pháp luật; “…Trong trường hợp người bị tạm giữ, bị can là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc là người chưa thành niên có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc trong những trường hợp cần thiết khác, thì việc lấy lời khai, hỏi cung những người này phải có mặt đại diện của gia đình, trừ trường hợp đại diện gia đình cố ý vắng mặt mà không có lý do chính đáng……..Tại phiên toà xét xử bị cáo là người chưa thành niên phải có mặt đại diện của gia đình bị cáo, trừ trường hợp đại diện gia đình cố ý vắng mặt mà không có lý do chính đáng, đại diện của nhà trường, tổ chức….” (khoản 2,3 Điều 306 BLTTHS); “…Khi lấy lời khai của người làm chứng dưới 16 tuổi phải mời cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp khác hoặc thầy giáo, cô giáo của người đó tham dự…” (khoản 5 Điều 135 BLTTHS). Đối với lời khai của người bị hại, của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, thì không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do những người trên trình bày, nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó ( các Điều 68, 69,70 BLTTHS). Khi sử dụng lời khai của người làm chứng cần lưu ý “1.Người làm chứng trình bày những gì mà họ biết về vụ án, nhân thân của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, quan hệ giữa họ với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng khác và trả lời những câu hỏi đặt ra. 2. Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng trình bày, nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.” (Điều 67 BLTTHS).
Sử dụng chứng cứ phải đảm bảo tính kịp thời
Sau khi phát hiện, thu thập chứng cứ, cơ quan tiến hành tố tụng cần tiến hành nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá ngay để sử dụng nhằm đảm bảo tính nhanh chóng, kịp thời của các hoạt động tiếp theo, vừa đảm bảo thời gian đã được quy định đối với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vừa đảm bảo yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngăn chặn tội phạm có thể xảy ra, hạn chế những thiệt hại cho xã hội, bắt giữ ngay kẻ phạm tội không để chúng có thời gian lẩn trốn, tiêu hủy tài sản, chứng cứ tang vật, xóa hết dấu vết hoặc tiếp tục gây án. Mặt khác, các chứng cứ sau khi kiểm tra đánh giá, đã xác định được giá trị chứng minh của chứng cứ thì chỉ được sử dụng đúng với giá trị của nó, giá trị chứng minh của từng chứng cứ đều có những giới hạn, phạm vi nhất định, việc sử dụng cần căn cứ vào giới hạn, giá trị chứng minh của từng chứng cứ, không được phép phán đoán chủ quan, sử dụng gượng ép, ngoài khả năng chứng minh của từng chứng cứ. Sử dụng đúng giá trị chứng minh của chứng cứ cho phép người tiến hành tố tụng xác định đúng sự thật khách quan, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt kẻ phạm tội. Ví dụ: Tại nhà riêng của Trần Văn T, cơ quan tiến hành tố tụng xác định phát hiện thấy có 1 chiếc xe máy, là tài sản đã bị chiếm đoạt trong một vụ trộm cắp xảy ra trước đó. Cơ quan tiến hành tố tụng không thể chỉ căn cứ vào chiếc xe máy có tại nhà riêng của Trần Văn T để ra quyết định khởi tố T hoặc quyết định bắt giữ T, bởi vì chưa có chứng cứ xác định mối quan hệ nhân quả giữa những hành vi mà T thực hiện để có chiếc xe máy đó, chưa có chứng cứ xác định mối quan hệ sở hữu giữa T và chiếc xe máy là hợp pháp hay bất hợp pháp….Chiếc xe máy có tại nhà riêng của T có thể do kẻ phạm tội có mối quan hệ thân quen với T sau khi trộm cắp được xe máy đã gửi ở đó, T không biết là tài sản trộm cắp nên đã cho gửi, hoặc cũng có thể do T không biết đó là tài sản phạm pháp nên đã mua nhầm…Trong trường hợp này, cơ quan tiến hành tố tụng phải đặt các giả thiết khác nhau, tiến hành các biện pháp điều tra, xác minh làm rõ mối quan hệ của T với chiếc xe máy, vì sao chiếc xe đó lại có ở tại nhà riêng của T? có đúng đó là chiếc xe bị trộm cắp không? Quan hệ của T với chủ xe như thế nào?…Chỉ khi nào có đủ chứng cứ chứng minh T đã phạm tội trộm cắp tài sản là chiếc xe máy thì mới quyết định bắt giữ T.
Một ví dụ nữa: Nguyễn Tuấn N là cán bộ hải quan đang làm nhiệm vụ ở cửa khẩu, N phát hiện Hoàng Văn H chở thuốc lá lậu quan biên giới, H đã đưa một khoản tiền cho N để N bỏ quan và cho H chuyển thuốc lá lậu qua biên giới. Sự việc bị phát giác, cơ quan tiến hành tố tụng  phải căn cứ vào chứng cứ đã có để khởi tố vụ án, khởi tố Nguyễn Tuấn N hai tội: Tội nhận hối lộ và tội buôn lậu qua biên giới với vai trò là đồng phạm. Nếu không khởi tố N về tội buôn lậu quan biên giới, chỉ căn cứ vào hành vi nhận tiền của N và khởi tố một tội nhận hối lộ là bỏ lọt tội phạm, là không sử dụng hết giá trị chứng minh của chứng cứ.
Vật chứng là chứng cứ phải đảm bảo sử dụng nhiều lần.
Không được xử lý vật chứng trước khi có quyết định của người có thẩm quyền, xử lý vật phải theo đúng qui định của pháp luật tố tụng hình sự, không được làm mất mát, hư hỏng, thất lạc chứng cứ vì trong một vụ án, vật chứng là chứng cứ không thể thay thế được, vật chứng được phát hiện, thu thập ngay từ giai đoạn điều tra, có nhiều vật chứng việc bảo quản rất phức tạp, khó khăn, tuy nhiên để đảm bảo sử dụng chứng cứ bằng vật chứng vào việc chứng minh vụ án đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải tuân thủ nghiêm chỉnh những qui định của Bộ luật TTHS. Trong mọi trường hợp, khi vụ án chưa giải quyết xong, chưa có quyết định xử vật chứng theo qui định của pháp luật thì vật chứng phải được bảo quản, gìn giữ nguyên vẹn giá trị chứng minh và cả giá trị kinh tế của vật chứng, phải đảm bảo cho vật chứng có giá trị chứng minh được sử dụng nhiều lần cho đến khi kết thúc vụ án. Đặc biệt phải thận trọng khi sử dụng vật chứng là công cụ, hung khí, là vũ khí, chất nổ, những vật mang vết, dễ vỡ, dễ bị xóa dấu vết, những tài liệu chỉ có một bản là chứng cứ gốc chứng minh hành vi phạm tội của bị can, bị cáo….Khi sử dụng để đấu tranh với bị can, bị cáo tuyệt đối không được đưa cho bị can, bị cáo trực tiếp cầm, nắm vật chứng, đề phòng bị can, bị cáo sử dụng ngay hung khí, vũ khí đó để khống chế, hành hung người tiến hành tố tụng hoặc chúng có thể tiêu hủy, xóa dấu vết làm mất giá trị chứng minh của chứng cứ.
Tóm lại:  Sử dụng chứng cứ phải tuân thủ nguyên tắc khách quan, toàn diện và đầy đủ trong tố tụng hình sự. Chỉ sử dụng các chứng cứ được phát hiện, thu thập theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự, và các chứng cứ đó phải được kiểm tra đầy đủ, bảo đảm ba thuộc tính của chứng cứ và phải phù hợp với thực tế khách quan. Trong quá trình tiến hành tố tụng, không chỉ cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được sử dụng chứng cứ vào quá trình chứng minh mà tất cả những người tham gia tố tụng, các tổ chức xã hội và mọi công dân đều có quyền đưa ra chứng cứ, sử dụng chứng cứ  nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan. Tuy nhiên muốn sử dụng chứng cứ một cách hiệu quả, đạt mục đích thì phải nhận thức đầy đủ về chứng cứ. Đối với người tiến hành tố tụng có nhận thức đúng về chứng cứ thì quá trình chứng minh, việc phát hiện, thu giữ chứng cứ mới đúng, nếu nhận thức sai về chứng cứ, sẽ phát hiện, thu giữ những sự kiện, hiện tượng không phải là chứng cứ trong vụ án, từ đó dẫn tới việc sử dụng sai và giải quyết vụ án không đúng. Đối với người tham gia tố tụng có nhận thức đúng vấn đề về chứng cứ mới thực hiện quyền của mình như cung cấp và đưa ra chứng cứ có giá trị chứng minh tới các cơ quan tiến hành tố tụng, tạo điều kiện giải quyết vụ án được đúng đắn, kịp thời. Chứng cứ cũng cần phải được mọi người, mọi công dân nhận thức đầy đủ để từ đó bảo quản, giữ nguyên giá trị chứng minh của chứng cứ từ khi phát hiện đến khi cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền. Nhận thức đúng về chứng cứ những người tham gia tố tụng cũng như mọi công dân có thể sử dụng chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình./.

Phương Dung

Theo: Cổng thông tin điện tử TANDTC (http: toaan.gov.vn)

Điểm mới về trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm theo BLTTHS 2015

Theo BLTTHS năm 2003 thì tùy từng vụ án, chủ tọa phiên tòa hỏi trên cơ sở nội dung từng vụ án cụ thể mà không quy định phải hỏi ai trước, ai sau. Bộ luật TTHS năm 2015  đã gộp chung phần xét hỏi và tranh luận thành tranh tụng.
Theo quy định của Bộ luật TTHS 2003 thì tại phiên toà hình sự sơ thẩm, sau khi kết thúc phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, nếu không ai có ý kiến và yêu cầu gì thêm thì chủ toạ phiên toà tuyên bố kết thúc phần thủ tục phiên toà chuyển sang phần xét hỏi.
Thực chất thủ tục này là việc người tiến hành tố tụng bao gồm Hội đồng xét xử, kiểm sát viên, Luật sư tiến hành hỏi bị cáo, người làm chứng và những người liên quan khác để xác minh các chứng cứ trong hồ sơ vụ án và làm rõ những tình tiết có liên quan để xác định sự thật khách quan của vụ án.
Về trình tự xét hỏi, theo quy định tại khoản 2 Điều 207 BLTTHS 2003 thì khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các hội thẩm, sau đó đến kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự. Những người tham gia phiên tòa cũng có quyền đề nghị với chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Người giám định được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định.
Như vậy, BLTTHS năm 2003 không quy định phải hỏi ai trước, ai sau. Tùy từng vụ án, chủ tọa có kế hoạch xét hỏi hợp lý trên cơ sở nội dung từng vụ án cụ thể cũng như thái độ khai báo của người tham gia tố tụng. Nội dung xét hỏi tập trung làm rõ tình tiết định tội, định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo…
Quy định trên vô hình chung làm cho Hội đồng xét xử mất đi vai trò là một vị “trọng tài” khách quan xem xét, đánh giá chứng cứ, lập luận của các bên (bên buộc tội và bên gỡ tội) để từ đó đưa ra những nhận định khách quan về vụ án. Thực tiễn xét xử cho thấy mặc dù BLTTHS có quy định Kiểm sát viên tham gia xét hỏi nhưng trên thực tế Kiểm sát viên hoàn toàn chưa chủ động xét hỏi, nếu có thì cũng chỉ mang tính chất bổ sung cho những câu hỏi của Hội đồng xét xử và thông thường kiểm sát viên sẽ hỏi để nhằm mục đích bảo vệ bản cáo trạng của mình là đúng và việc buộc bị cáo có tội là có căn cứ. Việc hỏi để chứng minh tội phạm và làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án chủ yếu vẫn do Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà thực hiện. Sau phần xét hỏi là phần tranh luận, đối đáp giữa các bên.
Bộ luật TTHS 2015  gộp chung phần xét hỏi và tranh luận thành phần tranh tụng để phù hợp với yêu cầu của công tác tranh tụng tại phiên tòa. Tại Điều 307 Bộ luật TTHS 2015 quy định:

1. Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ những tình tiết về từng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người. Chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý.
2. Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi.
Người tham gia tố tụng tại phiên tòa có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ.
Người giám định, người định giá tài sản được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định, định giá tài sản.
3. Khi xét hỏi, Hội đồng xét xử xem xét vật chứng có liên quan trong vụ án.

Như vậy, theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý. Khi xét hỏi, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán (trường hợp Hội đồng 3), Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi.
Người tham gia tố tụng tại phiên tòa có quyền đề nghị Chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Người giám định, người định giá tài sản được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định, định giá tài sản. Đồng thời  BLTTHS năm 2015 bổ sung cho bị cáo quyền được trực tiếp đặt câu hỏi với các bị cáo khác, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ, người làm chứng nếu được Chủ tọa đồng ý thay vì đề nghị Chủ tọa hỏi (Điểm i khoản 2 Điều 61 các Điều 309, 310 và 311 Bộ luật TTHS 2015). Ý nghĩa của việc làm này để xác định toàn diện, đầy đủ, khách quan nội dung vụ án, tránh oan sai, đảm bảo xét xử đúng quy định của pháp luật.

Hồ Nguyễn Quân

TAQS khu vực 1 Quân khu 4

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)

“Người thân thích” theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015

Người thân thích của người tham gia tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng lần đầu tiên được đề cập đến Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015
Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 4 BLTTHS năm 2015 thì người thân thích của người tham gia tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là người có quan hệ với người tham gia tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, gồm:
– Vợ, chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, bố nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi;
– Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột;
– Cụ nội, cụ ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, cháu ruột.
Như vậy, có tổng số 27 diện người được coi là “người thân thích” của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và trong những trường hợp cụ thể, nếu có quan hệ “thân thích” với một trong số người trên thì người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng phải từ chối hoặc bị đề nghị thay đổi khi tiến hành hoặc tham gia các hoạt động tố tụng hình sự.
Vấn đề đặt ra là, việc chứng minh mối quan hệ “thân thích” của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong tố tụng hình sự thuộc trách nhiệm của cơ quan nào? thời điểm chứng minh từ bao giờ? cơ quan nào có thẩm quyền xác nhận mối quan hệ thân thích? nếu hoạt động tố tụng có vi phạm thì giải quyết ra sao?… trong khi Điều 85 BLTTHS 2015 chỉ quy định, một trong những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự là “chứng minh đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt”, không bắt buộc phải chứng minh đặc điểm về nhân thân của các diện người tham gia tố tụng khác cũng như của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên cần thiết phải có hướng dẫn cụ thể.
Các trường hợp người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng phải từ chối hoặc bị thay đổi có liên quan đến khái niệm “người thân thích”:
– Đối với người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu “… là người thân thích của bị hại, đương sự hoặc bị can, bị cáo”;
– Đối với người chứng kiến: Những người là người thân thích của người bị buộc tội, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì không được làm người chứng kiến;
– Đối với người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật phải từ chối tham gia tố tụng nếu “… là người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo”;
– Đối với người bào chữa, BLTTHS 2015 cũng quy định người thân thích của người đã và đang tiến hành tố tụng đối với vụ án đó cũng không được bào chữa.
Nghiên cứu các quy định của BLTTHS 2015 thấy: Một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS là bảo đảm sự vô tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, theo đó, tại Điều 21 quy định người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản, người chứng kiến không được tham gia tố tụng nếu có lý do cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ. Điều 17 quy định cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về hành vi, quyết định của mình trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án; khoản 2 Điều 87 BLTTHS 2015 quy định “những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự”.
Với các quy định như trên, rõ ràng, nếu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thuộc các trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi nhưng vẫn tiến hành hoặc tham gia tố tụng đối với vụ việc, vụ án là không đúng quy định của BLTTHS 2015; các hoạt động tố tụng mà họ đã tiến hành hoặc tham gia có thể được đánh giá là không vô tư, khách quan dẫn đến việc giải quyết vụ án có thể sẽ thiếu chính xác.
Để triển khai thực hiện có hiệu quả quy định trên, các ngành tư pháp Trung ương cần sớm có hướng dẫn để các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thống nhất về nhận thức và tổ chức thực hiện việc bắt buộc phải thu thập các tài liệu, chứng cứ liên quan đến đặc điểm nhân thân của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng mỗi khi được phân công tiến hành tố tụng hoặc tham gia vào các quan hệ tố tụng hình sự trong một vụ việc, vụ án hình sự cụ thể. Đồng thời, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thực hiện nghiêm túc việc giải thích quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, nhất là những người có quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn, bị đơn dân sự và đại diện của họ để họ thực hiện đầy đủ quyền của mình, nhằm giải quyết vụ án được khách quan, đúng pháp luật.

Nguyễn Trường Thọ

VKSND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

Nguồn: Tạp chí kiểm sát

Phân biệt tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản

Cướp tài sản và cưỡng đoạt tài sản là hai tội trong nhóm tội xâm phạm về sở hữu, đây là hai tội danh rất dễ nhầm lẫn trong quá trình áp dụng. Dưới đây tôi sẽ đưa ra một số điểm khác nhau cơ bản để phân biệt hai tội danh này.

Về căn cứ pháp lý
Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017 quy định về tội cướp tài sản: “1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: (a) Có tổ chức; (b) Có tính chất chuyên nghiệp; (c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%; (d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác; (đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; (e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ; (g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; (h) Tái phạm nguy hiểm. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm: (a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; (b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; (c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh. 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: (a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; (b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên; (c) Làm chết người; (d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp. 5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. 6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.
Điều 170 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017 quy định về tội cưỡng đoạt tài sản: “1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: (a) Có tổ chức; (b) Có tính chất chuyên nghiệp; (c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ; (d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; (đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; (e) Tái phạm nguy hiểm. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: (a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; (b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh. 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm: (a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; (b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Sự giống nhau giữa tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản
Tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản có những điểm giống nhau cơ bản về mặt khách thể, mặt chủ quan, chủ thể, cấu thành tội phạm.
(i) Về mặt khách thể của tội phạm: Cả hai tội đều xâm phạm đến quyền sở hữu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Đồng thời, xâm phạm đến quyền nhân thân (vì có thực hiện hành vi tác động đến người đang quản lý tài sản).
(ii) Về mặt chủ quan của tội phạm: Đều được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp và đều có mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác.
(iv) Về chủ thể của tội phạm: Bất kỳ người nào thực hiện hành vi phạm tội, khi họ có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo quy định (Từ đủ 14 tuổi trở lên) thì phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên đối với cưỡng đoạt tài sản phải là phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng (có hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 2, 3, 4 của Điều 170) thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi mới phải chịu trách nhiệm hình sự; nếu tội phạm nghiêm trọng bị truy cứu theo khoản 1 thì chỉ người từ đủ 16 tuổi mới chịu trách nhiệm HS.
(v) Về cấu thành tội phạm: Cả hai tội đều có cấu thành tội phạm hình thức (tức chỉ cần có hành vi khách quan được quy định trong luật mà không cần hậu quả xảy ra và mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi; khi đó tội phạm đã được xem là hoàn thành).
Sự khác nhau giữa tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản
Mặt khách quan của tội phạm
Tội cướp tài sản: Biểu hiện đặc trưng của tội cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Ví dụ: A kề dao vào cổ B yêu cầu B đưa toàn bộ tiền và các tài sản có giá trị khác trên người B cho A và đe dọa nếu không đưa A sẽ giết B.
Biểu hiện của tội cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người bị hại, buộc họ phải giao tài sản, nếu không giao thì họ sẽ bị áp dụng những biện pháp như đã đe dọa. Ví dụ: A đe dọa B là sẽ giết B nếu trong vòng 1 tuần B không đưa cho A đủ 1 tỷ.
Ở cả hai tội đều có hành vi đe dọa dùng vũ lực nhưng tính chất đe dọa khác nhau cơ bản như sau:
Đối với tội cướp tài sản, hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác là ngay tức khắc, làm cho người bị đe dọa thấy rằng nguy hiểm sẽ xảy ra ngay và họ không thể tránh khỏi nếu không giao tài sản. Người bị đe dọa không có điều kiện để suy nghĩ, cân nhắc hay tìm biện pháp ngăn chặn đối với hành vi mà người phạm tội đang đe dọa, sức mãnh liệt của sự đe dọa làm cho y chí chống cự của người bị đe dọa tê liệt.
Đối với tội cưỡng đoạt tài sản, hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác là tại một thời điểm trong tương lai, không có nguy cơ xảy ra ngay. Trong trường hợp này, người bị đe dọa vẫn có một khoảng thời gian để cân nhắc, suy nghĩ, tìm biện pháp ngăn chặn. Vì vậy, tội cưỡng đoạt tài sản không có tính chất nguy hiểm bằng tội cướp tài sản.
Một người đang có hành vi của tội cưỡng đoạt tài sản có thể chuyển hóa sang tội cướp tài sản khi mục đích cưỡng đoạt của họ không đạt được và họ có những hành vi đe dọa ngay tức khắc đối với người bị hại. Ví dụ: B là người đồng tính, B che giấu giới tính thật của mình và luôn thể hiện mình là giới tính nam. A biết điều đó nên đe dọa B sẽ công khai giới tính thật của B cho mọi người biết nếu trong vòng 1 tuần B không chuyển cho A số tiền 100.000.000 đồng. Sau 1 tuần B không đưa tiền cho A, A đến gặp B, kề dao vào cổ B yêu cầu B chuyển tiền vào tài khoản của mình. Trường hợp này, A sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản mặc dù hành vi ban đầu của A là biểu hiện của tội cưỡng đoạt tài sản.
Khung hình phạt
(i) Đối với tội cướp tài sản: Có 04 mức khung hình phạt khác nhau tương ứng với 04 khoản (từ khoản 1 đến khoản 4) Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Khung 1: Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm;
Khung 2: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm;
Khung 3: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm;
Khung 4: Phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
(ii) Đối với tội cưỡng đoạt tài sản: Cũng có 04 mức khung hình phạt, tuy nhiên mức phạt ở các khung giữa tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản có sự khác nhau.
Khung 1: Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;
Khung 2: Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm;
Khung 3: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm;
Khung 4: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
Có thể thấy, các khung hình phạt của tội cưỡng đoạt tài sản thấp hơn khung hình phạt của tội cướp tài sản. Có sự khác nhau này là do hành vi của tội cướp tài sản (dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc) nguy hiểm hơn hành vi của tội cưỡng đoạt tài sản. Đối với tội cướp tài sản, người phạm tội luôn thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.
Website, SĐT, địa chỉ của Viện Kiểm sát nhân dân các tỉnh/thành phố trên cả nước

Danh sách các trang thông tin điện tử (website), Email/ Số điện thoại liên hệ, địa chỉ (trụ sở) của Viện Kiểm sát Nhân dân các tỉnh/thành phố trên cả nước.
 

STT Trang thông tin điện tử Website Email/ Số điện thoại Trụ sở
1 Viện kiểm sát Nhân dân tối cao vksndtc.gov.vn
vks.gov.vn
trangtinvkstc@vks.gov.vn
024.38255058-302
44 – Lý Thường Kiệt – Hà Nội; Điện thoại: 024.38255058-302; Fax: 024.38255400
2 Tạp chí kiểm sát kiemsat.vn banbientap@kiemsat.vn
094 474 846
09 Phạm Văn Bạch, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội
Danh sách các trang thông tin điện tử của Viện kiểm sát Nhân dân các tỉnh/thành phố trên cả nước
STT VKSND tỉnh/thành phố Website Email/ Số điện thoại Trụ sở
1 An Giang vks.angiang.gov.vn 0296 3852 221 105 Trần Hưng Đạo, P. Mỹ Bình, Thành phố Long Xuyên, An Giang
2 Bà Rịa – Vũng Tàu vienkiemsatbrvt.gov.vn info@vkndbrvt.gov.vn
064.373.4343
326 Phạm Văn Đồng, P. Phước Trung, TP. Bà Rịa, Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
3 Bạc Liêu vksbaclieu.gov.vn vp_baclieu@vks.gov.vn
0291. 3823.757
79 Lê Duẩn, phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
4 Bắc Kạn Đang xây dựng 0281.3810211 25 Hùng Vương, Phường Đức Xuân, Thành phố Bắc Kạn, Tỉnh Bắc Kạn
5 Bắc Giang vksbacgiang.gov.vn vanphong_vksnd
@bacgiang.gov.vn
65 Nguyễn Văn Cừ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
6 Bắc Ninh vksbacninh.gov.vn vp_bacninh@vks.gov.vn
0222.3825635
44 Nguyễn Gia Thiều, P. Suối Hoa, TP. Bắc Ninh, T. Bắc Ninh
7 Bến Tre vksbentre.gov.vn  0753.822.446 612B2 – Đại lộ Đồng Khởi, P.Phú Khương, TP. Bến Tre
8 Bình Dương vksbinhduong.gov.vn vksbd
@vksbinhduong.gov.vn
0650.3833749
56 Bạch Đằng, phường Phú Cường, Tp.Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
9 Bình Định vksbinhdinh.gov.vn bbt@vksbinhdinh.gov.vn
(056) 3622 608
04 Trần Cao Vân – P. Lê Lợi – TP. Quy Nhơn – Bình Định
10 Bình Phước vksbinhphuoc.gov.vn phongtkbp@yahoo.com
0271.3879 901
ĐT741 – Phường Tân Đồng – Thị xã Đồng Xoài – Tỉnh Bình Phước
11 Bình Thuận vksndbinhthuan.gov.vn vanphong
@vksndbinhthuan.gov.vn
062 3825 786
22, Đại lộ Nguyễn Tất Thành, Thành phố Phan Thiết, Bình Thuận
12 Cà Mau vksndcamau.gov.vn vpth
@vksndcamau.gov.vn
(0290) 3.832 468
114, Phan Ngọc Hiển, P5, Cà Mau
13 Cao Bằng kiemsatcaobang.vn trangtinvkscaobang
@gmail.com
0263. 852. 436
15 Bế Văn Đàn – Thành phố Cao Bằng – Tỉnh Cao Bằng
14 Cần Thơ vkscantho.vn hotro@vkscantho.vn
02923 823 442
27 Nam Kỳ Khởi Nghĩa , phường Tân An , quận Ninh Kiều , thành phố Cần Thơ
15 Đà Nẵng vksdanang.gov.vn tk_danang
@vks.gov.vn
0236.3821929
05 Trần Phú, Quận Hải Châu, TP Đà Nẵng
16 Đắk Lắk vksdaklak.gov.vn banbientap
@vksdaklak.gov.vn
0500.3537979
11 Nguyễn Tất Thành – TP. Buôn Ma Thuột – Đắk Lắk
17 Đắk Nông vksdaknong.gov.vn vksdaknong@gmail.com
02613 543523
Đường Lê Duẩn (Đăm Bri cũ), P. Nghĩa Tân, TX. Gia Nghĩa, Đăk Nông
18 Đồng Nai vksdongnai.gov.vn 0613.819703 1/6K đường Nguyễn Ái Quốc – Phường Bửu Long – TP. Biên Hoà – tỉnh Đồng Nai
19 Đồng Tháp vksnd.dongthap.gov.vn vksnddongthap
@gmail.com
02773.874 333
03 Lê Quý Đôn, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
20 Điện Biên vksnddienbien.gov.vn 0215 3825 590 174 Hoàng Công Chất, Phường Mường Thanh, Thành phố Điện Biên Phủ, Điện Biên
21 Gia Lai vksnd.gialai.gov.vn bbt.vksnd
@gialai.gov.vn
02693.824 426
03 Lý Thái Tổ – TP. Pleiku – Tỉnh Gia Lai
22 Hà Giang vks.hagiang.gov.vn 02193866238 124 Nguyễn Thái Học, Thành phố Hà giang, Tỉnh Hà Giang
23 Hà Nam vienkiemsathanam.gov.vn 03513.852.576 Đường Trường Chinh – Thành Phố Phủ Lý – Tỉnh Hà Nam
24 Hà Nội vkshanoi.gov.vn banbientap_vksndtp
@hanoi.gov.vn
(84-4) 39 349 091
43B, Hai Bà Trưng, Phường Trần Hưng Đạo, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
25 Hà Tĩnh vienkiemsat.hatinh.gov.vn vienkiemsat
@hatinh.gov.vn
0393 855 365
10 – Đại lộ Xô Viết Nghệ Tĩnh – TP Hà Tĩnh – tỉnh Hà Tĩnh
26 Hải Dương vienkiemsat.haiduong.gov.vn vpth@vienkiemsat
.haiduong.gov.vn
03203.844.547
Lô 300 đường Nguyễn Văn Linh, p.Thanh Bình, tp Hải Dương, tỉnh Hải Dương
27 Hải Phòng vienkiemsathaiphong.gov.vn Vienkiemsathaiphong
@vkshp.gov.vn
02253.838308
Lô 18A, Lê Hồng Phong, Hải An, TP Hải Phòng
28 Hòa Bình vksndhoabinh.gov.vn 0218.3882702 168 Thịnh Lang, tổ 24, phường Tân Thịnh, thành phố Hòa bình, tỉnh Hòa Bình
29 Hậu Giang vks.haugiang.gov.vn 02933.870096 15 – Võ Văn Kiệt, TP. Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang
30 Hưng Yên vienkiemsathungyen.gov.vn tktp.vkshy@gmail.com
02213.865034
456 Nguyễn Văn Linh – TP. Hưng Yên – tỉnh Hưng Yên
31 Hồ Chí Minh vksnd.hochiminhcity.gov.vn (08) 3.8291741 120 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Bến Nghé, Quận 1, TPHCM
32 Khánh Hòa vkskh.gov.vn admin@vkskh.gov.vn
058.3522939
03 Biệt Thự – Nha Trang – Khánh Hòa
33 Kiên Giang vks.kiengiang.gov.vn bbt.vkskiengiang
@gmail.com
0297. 3811869
573 Nguyễn Trung Trực – TP. Rạch Giá – tỉnh Kiên Giang
34 Kon Tum vkskontum.gov.vn banbientap
@vkskontum.gov.vn
060.3864802
190 Trần Phú – TP. Kon Tum – Tỉnh Kon Tum
35 Lai Châu vksndlaichau.gov.vn vksndlaichau
@gmail.com
02313.876765
Phường Tân Phong-Thành phố lai Châu-Tỉnh Lai Châu
36 Lào Cai vksnd.laocai.gov.vn (02143) 824.727 Đại lộ Trần Hưng Đạo – Nam Cường – TP Lào Cai
37 Lạng Sơn vienkiemsatlangson.gov.vn 02053.812155 05 Trần Hưng Đạo phường Chi Lăng TP Lạng Sơn tỉnh Lạng Sơn
38 Lâm Đồng vks.lamdong.gov.vn vksnd@lamdong.gov.vn
063.3822107
02-04 Nguyễn Viết Xuân, phường 4, Tp Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
39 Long An vks.longan.gov.vn ksnd@longan.gov.vn
(072)3826 404
53 Nguyễn Huệ, phường 1, thành phố Tân An, tỉnh Long An
40 Nam Định vksnamdinh.gov.vn 0228 3849 429 04 Hà Huy Tập, phường Ngô Quyền, Phường Ngô Quyền, Thành phố Nam Định, Nam Định
41 Nghệ An vienkiemsat.nghean.gov.vn vks_nghean
@kiemsat.nghean.gov.vn
0383.844.794
Đại lộ Lê Nin, TP Vinh, Nghệ An
42 Ninh Bình Đang xây dựng (0229) 3.871.970 79 Trương Hán Siêu, Phú Thành, Ninh Bình
43 Ninh Thuận Đang xây dựng 0683831222 40 đường 21 tháng 8, p.Phước Mỹ, Thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, Tỉnh Ninh Thuận
44 Phú Thọ vienkiemsattinhphutho.gov.vn 0210. 384 6527 Đường Nguyễn Tất Thành, Phường Tân Dân, Thành Phố Việt Trì, Tỉnh Phú Thọ
45 Phú Yên vkspy.gov.vn/ banbientap
@vkspy.gov.vn
0257.3535199
02C Điện Biên Phủ – Phường 7 – Thành phố Tuy Hòa – tỉnh Phú Yên
46 Quảng Bình vienkiemsatquangbinh.gov.vn cntt.vksqb@gmail.com
0232.822248
Đường Nguyễn Văn Linh, TP.Đồng Hới, Quảng Bình
47 Quảng Nam vksquangnam.gov.vn banbientap
@vksquangnam.gov.vn
0235.3.859.256
08 Nguyễn Chí Thanh, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
48 Quảng Ngãi vksquangngai.gov.vn 055.3822404 04 Tôn Đức Thắng-TP.Quảng Ngãi
49 Quảng Ninh vksquangninh.gov.vn phongtk.vksnd
@quangninh.gov.vn
0203.3837.835
Phường Cao Xanh – Tp. Hạ Long – tỉnh Quảng Ninh
50 Quảng Trị vksquangtri.gov.vn tktpvacnttvksqt
@gmail.com
0533 855328
Đường Hùng Vương – tp Đông Hà – tỉnh Quảng Trị
51 Sóc Trăng vkssoctrang.gov.vn 0793.82253 112 Quốc lộ 1A, K1, P7, Tp Sóc Trăng, Tỉnh Sóc Trăng
52 Sơn La vkssonla.gov.vn vksnd@sonla.gov.vn
023356566
63 Tô Hiệu – phường Tô Hiệu – Thành Phố Sơn La – Tỉnh Sơn La
53 Tây Ninh Đang xây dựng 0663822215 213, đường 30/4, P2, Thành phố Tây Ninh, Tỉnh Tây Ninh
54 Thái Bình vksndthaibinh.gov.vn webvksthaibinh
@gmail.com
02273. 831.337
77 Trần Phú – Phường Trần Hưng Đạo – Thành phố Thái Bình – Tỉnh Thái Bình
55 Thái Nguyên vksndthainguyen.gov.vn thukybanbientap
@gmail.com
09 – Đường CMT8 – Thành phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên
56 Thanh Hóa Đang xây dựng 0373857013 10 Hạc Thành, P. Điện Biên, Thành phố Thanh Hóa, Thanh Hoá
57 Thừa Thiên – Huế vkshue.gov.vn banbientap.vkshue
@gmail.com
0234.3822556
12 Lê Quý Đôn – Thành phố Huế – Tỉnh Thừa Thiên Huế
58 Tiền Giang vkstiengiang.gov.vn 073.387.4420 32 Lê Lợi, Phường 1, TP Mỹ Tho, Tiền Giang
59 Trà Vinh banbientap
@vienkiemsattv.gov.vn
0743.867466
05 – Lê Thánh Tôn – Phường 1 – TP. Trà Vinh – Tỉnh Trà Vinh
60 Tuyên Quang vkstuyenquang.gov.vn info
@vkstuyenquang.gov.vn
027.3 822 830
499 đường 17 tháng 8, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
61 Vĩnh Long vks.vinhlong.gov.vn bbtweb.vksnd
@vinhlong.gov.vn
0703 852585
42C Phạm Thái Bường, phường 4, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
62 Vĩnh Phúc vksnd.vinhphuc.gov.vn banbtctt.vks
@vinhphuc.gov.vn
0211.3728722
06 Lý Thái Tổ, phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc
63 Yên Bái vienkiemsatyenbai.gov.vn 0293.852.282 Phường Đồng Tâm, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái

 

Nguồn: Nguyễn Văn Thoáng / Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

 


Các tìm kiếm liên quan đến Viện kiểm sát nhân dân, viện kiểm sát nhân dân cấp cao, cơ cấu tổ chức viện kiểm sát nhân dân tối cao, địa chỉ viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại hà nội, viện kiểm sát nhân dân tối cao tuyển dụng, viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao, số điện thoại viện kiểm sát nhân dân tối cao, vị trí pháp lý của viện kiểm sát nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân tối cao là gì
Nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Để cụ thể hóa các lời dạy của Bác Hồ về đạo đức Cách mạng đối với Thẩm phán Tòa án, ngày 04/7/2018 Hội đồng Tuyển chọn, Giám sát Thẩm phán quốc gia đã ban hành Quyết định số 87/QĐ-HĐTC và ban hành Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán kèm theo Quyết định số 87/QĐ-HĐTC Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán có 3 Chương với 17 Điều.
 
Các nội dung liên quan:

 
Đạo đức Cách mạng đối với công chức nói chung, đối với Thẩm phán Tòa án nói riêng luôn luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm giáo dục, nhắc nhở. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến đạo đức cách mạng đối với cán bộ tư pháp. Trong thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc (tháng 2-1948), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “… Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương Phụng công thủ pháp, chí công vô tư cho nhân dân noi theo…” (Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch – Tập I NXB Sự thật,1958 – tr. 235 ).
Tại lớp học của cán bộ Ngành Tư pháp năm 1950, Bác Hồ nói: “Luật pháp là vũ khí của một giai cấp thống trị, dùng để trừng trị giai cấp chống lại mình… Trong công tác xử án phải công bằng, liêm khiết, trong sạch. Như thế cũng chưa đủ. Không thể chỉ hạn chế hoạt động của mình trong khung Tòa án. Phải gần dân, hiểu dân, giúp dân học dân. Giúp dân, học dân để giúp mình thêm liên khiết, thêm công bằng. Thêm nữa là phải luôn cố gắng học tập lý luận, học tập đường lối, chính sách của Chính phủ… Tóm lại: Các chú phải công bằng, liêm khiết, trong sạch, gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân. ( Nhà nước và pháp luật. Tập III Nhà xuất bản Lao động, 1971, tr. 138, 142 ).
Các bài viết, bài nói của Bác Hồ về đạo đức cách mạng đối với công chức nói chung, đối với Thẩm phán Tòa án nói riêng Bác Hồ luôn luôn nói đến người thi hành pháp luật phải: Công bằng, liêm khiết, trong sạch; Phụng công thủ pháp chí công vô tư, gần dân, giúp dân học dân để giúp mình thêm liêm khiết, thêm công bằng.
Để cụ thể hóa các lời dạy của Bác Hồ về đạo đức Cách mạng đối với Thẩm phán Tòa án, ngày 04/7/2018 Hội đồng Tuyển chọn, Giám sát Thẩm phán quốc gia đã ban hành Quyết định số 87/QĐ-HĐTC và ban hành Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán kèm theo Quyết định số 87/QĐ-HĐTC Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán có 3 Chương với 17 điều. Cụ thể là:
Chương I: “Những quy định chung” với hai điều :
Điều 1: Quy định: Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng với nội dung: “Bộ quy tắc áp dụng đối với Thẩm phán công tác tại Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự các cấp, khuyến khích áp dụng đối với các Thẩm phán đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác khác”.
Điều 2: Quy định: Yêu cầu chung với nội dung: “Thẩm phán phải là người trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần dũng cảm, kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực. Thẩm phán phải là tấm gương về độc lập, khách quan, công bằng, tận tụy và chỉ tuân theo pháp luật khi thi hành công vụ. 
Chương II quy định “Những Chuẩn mực đạo đức của Thẩm phán”. Theo quy định tại Chương này, có 7 (bảy) chuẩn mực đạo đức của Thẩm phán được quy định từ Điều 3 đến Điều 9. Các chuẩn mực đạo đức của Thẩm phán là:
– Chuẩn mực về “Tính độc lập” trong quá trình giải quyết vụ án độc lập với các thành viên của Hội đồng xét xử, với người tiến hành tố tụng khác…
– Chuẩn mực về “Sự liêm chính” trong sạch, thẳng thắn trung thực, không lợi dụng địa vị để mưu cầu lợi ích cho mình hoặc cho người khác. Không đòi hỏi nhận tiền, tài sản, những lợi ích khác từ bất kỳ ai vì lý do liên quan đến công việc mà Thẩm phán giải quyết.
Thẩm phán phải công khai thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật.
– Chuẩn mực về “Sự vô tư, khách quan”. Thực hiện nhiệm vụ một cách đúng đắn, không vì lợi ích cá nhân, không thiên vị bất cứ bên nào trong vụ việc mà phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét công khai tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và căn cứ vào quy định của pháp luật, những nguyên tắc cơ bản của pháp luật, án lệ, tập quán để giải quyết các vấn đề của vụ việc.
Thẩm phán không được có bất cứ phát biểu hay bình luận nào tại phiên tòa, phiên họp trước công chúng hoặc truyền thông làm ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ việc một cách vô tư, khách quan.
– Chuẩn mực về “Sự công bằng, bình đẳng”. Có trách nhiệm bảo đảm sự công bằng, bình đẳng để người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của họ trong quá trình giải quyết vụ việc tại Tòa án.
– Chuẩn mực về “Sự đúng mực”. Trong mọi hoạt động của mình, Thẩm phán phải hành xử đúng mực, lịch thiệp, thận trọng duy trì trật tự và sự tôn nghiêm trong quá trình tố tụng.
Tại phiên tòa, phiên họp hoặc trong các văn bản tố tụng, thẩm phán không được đưa ra những nhận định gây xúc phạm người khác.
– Chuẩn mực về :“Sự tận tụy và không chậm trễ”. Tận tụy với công việc cống hiến hết mình trong việc thực hiện nhiệm vụ tư pháp, giải quyết nhanh nhất các vụ việc được giao. Tuyệt đối tuân thủ các quy định của pháp luật không để các vụ việc quá hạn luật định vì những nguyên nhân chủ quan.
– Chuẩn mực về “Năng lực và sự chuyên cần”. Phải thường xuyên học tập, rèn luyện, tích lũy kinh nghiệm chuyên môn để nâng cao kiến thức pháp luật trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng xét xử, bản lĩnh nghề nghiệp và khả năng chuyên nghiệp của người Thẩm phán.
Thẩm phán luôn tự cập nhật thông tin để nắm bắt đầy đủ, kịp thời, sâu sắc về sự phát triển của pháp luật, các vấn đề quan trọng của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội trong nước và quốc tế, hỗ trợ cho việc áp dụng pháp luật được đúng đắn phù hợp với lẽ phải.
Thẩm phán phải chuyên tâm thực hiện các nhiệm vụ được giao, tích cực làm việc với tinh thần: “Làm hết việc, không làm hết giờ. 
Chương III quy định: “Những quy tắc ứng xử của Thẩm phán:. Theo quy định tại Chương này thì Thẩm phán có 08 (tám) quy tắc ứng xử, được quy định từ Điều 10 đến Điều 17.
Ứng xử theo Từ điển Tiếng Việt là: Có thái độ, hành động, lời nói thích hợp trong việc xử sự (Từ điển Tiếng Việt – Viện Ngôn ngữ học. Nhà xuất bản Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, 2002, tr 1091).
Các quy tắc ứng xử của Thẩm phán là: 
– Ứng xử khi thực hiện nhiệm vụ có: quy định những việc Thẩm phán phải làm và những việc Thẩm phán không được làm. Cụ thể như sau: 
Những việc Thẩm phán phải làm có 06 (sáu) loại việc bao gồm:
Thực hiện việc giải quyết các vụ việc được phân công theo đúng quy định của pháp luật.
Bảo đảm dân chủ, nghiêm minh, khách quan trong giải quyết các vụ việc, lắng nghe, tôn trọng ý kiến của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng.
Giải thích, hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho người, tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của pháp luật.
Tiếp xúc với cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến vụ việc mà mình có thẩm quyền giải quyết đúng nơi quy định.
Từ chối tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật.
Phát hiện và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ, Quốc hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Những việc Thẩm phán không được làm có 09 (chín) loại việc bao gồm:
Những việc pháp luật quy định công dân không được làm.
Tư vấn cho bị can, bị cáo, đương sự, người tham gia tố tụng khác làm cho việc giải quyết vụ việc không đúng quy định của pháp luật.
Can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết vụ việc hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm giải quyết vụ việc.
Mang hồ sơ vụ việc hoặc tài liệu trong hồ sơ vụ việc ra khỏi cơ quan nếu không vì nhiệm vụ được giao hoặc được sự đồng ý của người có thẩm quyền.
Tiếp xúc bị can, bị cáo, đương sự, người tham gia tố tụng khác trong vụ việc mà mình có thẩm quyền giải quyết không đúng nơi quy định.
Sách nhiễu, trì hoãn, gây khó khăn phiền hà cho người dân, bị can, bị cáo, đương sự, người tham gia tố tụng khác và người tiến hành tố tụng.
Truy, ép gợi ý cho bị can, bị cáo, đương sự, người tham gia tố tụng khác và người tiến hành tố tụng cung cấp tài liệu, khai báo, trình bày sự việc không khách quan, trung thực.
Tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật công tác của mình, của cán bộ, công chức thuộc Tòa án và các cơ quan liên quan khác.
Tiết lộ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của bị can, bị cáo, đương sự, người tham gia tố tụng khác trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
– Ứng xử tại cơ quan, có quy định những việc Thẩm phán phải làm và những việc Thẩm phán không được làm. Cụ thể là:  
Những việc Thẩm phán phải làm có 06 (sáu) loại việc, bao gồm: Thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được phân công và chịu trách nhiệm về các quyết định của mình.  Giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, đơn vị, tôn trọng và thực hiện quy chế dân chủ của cơ quan, phát huy dân chủ, kinh nghiệm, sáng tạo của cán bộ, công chức khi thực hiện nhiệm vụ. Tích cực thực hiện các quy định về phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, các quy định khác về cán bộ, công chức và thi hành công vụ. Chấp hành quyết định hành chính của người lãnh đạo, quản lý. khi thực hiện quyết định hành chính của người lãnh đạo, quản lý nếu có căn cứ cho rằng những quyết định đó là vi phạm pháp luật hoặc không phù hợp với thực tế thì phải báo cáo ngay với người ra quyết định, trường hợp vẫn phải chấp hành quyết định thì báo cáo với cấp trên trực tiếp của người ra quyết định và không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thực hiện quyết định đó gây ra.
Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật quy định quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị.
Ứng xử có văn hóa, tôn trọng bảo vệ danh dự, uy tín của lãnh đạo và đồng nghiệp, hợp tác với đồng nghiệp để hoàn thành nhiệm vụ được giao.  
– Những việc thẩm phán không được làm có 03 (ba) loại việc, bao gồm: Thực hiện không đúng thẩm quyền, lạm quyền, vượt quyền; Đùn đẩy trách nhiệm cho người khác; Trù dập, lợi dụng việc góp ý phê bình làm tổn hại đến danh dự, uy tín của cán bộ công chức.
– Ứng xử với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quan hệ công tác và thông tấn, báo chí, có quy định 04 loại ứng xử bao gồm: 
Một là: Thẩm phán chỉ phát ngôn, cung cấp thông tin tài liệu về xét xử, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và cơ quan thông tấn, báo chí khi được cấp lãnh đạo có thẩm quyền phân công theo nội dung quy định của pháp luật.
Hai là: Khi chưa ban hành bản án, quyết định. Thẩm phán không được phát biểu công khai quan điểm của mình về việc giải quyết vụ việc.
Ba là: Thẩm phán không được cung cấp bản án, quyết định cho thông tấn, báo chí và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, trừ các hình thức đã được pháp luật quy định.
Bốn là: Thẩm phán có thể tham gia phỏng vấn, khảo sát dựa trên kinh nghiệm công tác chuyên môn để phục vụ nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế khi hoạt động này không gây ảnh hưởng đến giải quyết vụ việc.  
– Ứng xử với cơ quan; tổ chức, cá nhân nước ngoài có 02 (hai) quy định, bao gồm:
+ Thẩm phán phải thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và quy chế của Tòa án, cơ quan đơn vị khi quan hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài.
+ Thẩm phán không được lợi dụng các hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế để mưu cầu lợi ích cá nhân dưới bất kỳ hình thức nào.
 – Ứng xử tại nơi cư trú có 03 (ba) quy định, bao gồm:
+ Thẩm phán phải thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, tham gia sinh hoạt và chấp hành đầy đủ nghĩa vụ ở nơi cư trú, chịu sự giám sát của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân.
+ Thẩm phán phải tham gia tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng đến nhân dân.
+ Thẩm phán không được can thiệp trái pháp luật vào hoạt động của các cơ quan tổ chức, cá nhân nơi cư trú. Không tham gia, xúi giục, kích động, bao che các hành vi trái pháp luật.
– Ứng xử tại gia đình có 04 (bốn) quy định, bao gồm:
+ Thẩm phán phải xây dựng gia đình có văn hóa, thực hiện nghiêm chỉnh quyền và nghĩa vụ công dân, có nếp sống văn hóa theo phong tục, tập quán và truyền thống Việt Nam.
+ Thẩm phán phải tuyên truyền, giáo dục, vận động thành viên trong gia đình chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước.
+ Thẩm phán không được để thành viên trong gia đình lợi dụng danh nghĩa của Thẩm phán để vụ lợi.
+ Thẩm phán không được tổ chức cưới hỏi, ma chay, mừng thọ, sinh nhật, tân gia và các việc khác xa hoa, lãng phí hoặc để vụ lợi.
– Ứng xử tại nơi công cộng có 04 (bốn) quy định bao gồm:
+ Thẩm phán phải chấp hành các quy định của pháp luật và quy tắc sinh hoạt nơi công cộng, ứng xử phù hợp với các giá trị đạo đức của Thẩm phán.
+ Thẩm phán phải kịp thời thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết các thông tin về hành vi vi phạm pháp luật.
+ Thẩm phán không được lợi dụng chức danh của mình để vụ lợi khi tham gia các hoạt động xã hội.
+ Thẩm phán không được tiếp tay hoặc bao che cho hành vi vi phạm pháp luật.
 – Ứng xử đối với các hoạt động ngoài nhiệm vụ xét xử có 02 (hai) quy định bao gồm:
+ Thẩm phán phải ưu tiên sử dụng quỹ thời gian làm việc để thực hiện nhiệm vụ xét xử.
+ Thẩm phán được viết báo, viết sách, nghiên cứu khoa học, giảng dạy hoặc các hoạt động có thu nhập khác theo quy định của pháp luật, trừ những việc có thể ảnh hưởng đến các giá trị đạo đức của Thẩm phán.
Theo chúng tôi, Bảy chuẩn mực đạo đức và tám quy tắc ứng xử của Thẩm phán quy định tại “Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán” ban hành kèm theo Quyết định số 87/QĐ-HĐTC ngày 04 tháng 7 năm 2018 của Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia mà chúng tôi trình bày ở trên là nhằm mục đích:
– Để Thẩm phán tự học tập nâng cao trình độ chuyên môn, tự rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, hoàn thành tốt công việc được giao và trọng trách cao quý của mình được Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam giao là khi xét xử được Nhân danh Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi tuyên án giải quyết vụ án.
– Để Cơ quan quản lý Thẩm phán có căn cứ đánh giá, nhận xét Thẩm phán một cách khách quan theo các tiêu chí quy định về chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực ứng xử với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công việc, trong đời sống thường ngày.
– Để nhân dân nơi Thẩm phán cư trú, để công chức, người lao động nơi Thẩm phán làm việc và để người tham gia tố tụng vụ án giám sát, đánh giá Thẩm phán một cách khách quan theo một chuẩn mực, tiêu chí thống nhất.

ĐỖ VĂN CHỈNH

Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)