Luật Đất đai có kẽ hở, nhóm lợi ích thâu tóm đất đai

Luật Đất đai 2013 đang có những “khoảng trống” cho nhóm lợi ích vận dụng trục lợi trong công tác giải phóng mặt bằng với giá đền bù thấp.

Khái niệm “mơ hồ” và không được phân loại

Quy định về đền bù giải phóng mặt bằng được tập trung trong Điều 62 và Điều 73 của Luật Đất đai 2013. Ở Điều 73, dự án phát triển kinh tế mà chủ đầu tư khi giải phóng mặt bằng tự thỏa thuận với người dân có giá đất đền bù dựa trên cơ sở giá thị trường. Còn Điều 62 là các dự án Quốc gia, công cộng, dự án bằng vốn ODA và dự án phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích Quốc gia. Đền bù giải phóng mặt bằng giá đất được tính theo khung giá của Nhà nước quy định.
Nguy cơ “nhóm lợi ích” có thể hình thành trong công tác giải phóng mặt bằng bắt đầu từ khái niệm “dự án phát triển kinh tế -xã hội phục vụ lợi ích quốc gia” trong Điều 62 Luật Đất đai 2013.
Khái niệm “phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng” khiến phạm vi các dự án được Nhà nước thu hồi đất là quá rộng. Trong đó, các dự án được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận cũng bao hàm quá rộng, có cả các dự án khu đô thị mới, dự án khu dân cư nông thôn, dự án chế biến nông, lâm, thủy, hải sản…
Thực tế, các dự án phát triển kinh tế – xã hội nào mà chẳng vì lợi ích quốc gia. Việc phân định giữa dự án phát triển kinh tế và dự án phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia trở nên mơ hồ!
“Khoảng trống” trong luật khiến hầu hết các doanh nghiệp khi thực hiện triển khai dự án ở địa phương đều đi theo hướng gắn dự án với tính chất là “phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia”. Như vậy, việc đền bù giải phóng mặt bằng sẽ do Nhà nước thu hồi, giá đất đền bù theo khung giá Nhà nước quy định, không phải thỏa thuận với người dân và thấp hơn nhiều giá thị trường.
Ông Nguyễn Thế Điệp, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Đầu tư Reenco Sông Hồng cho rằng, trong Luật Đất đai 2013 chưa phân biệt rõ ràng về các dự án kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia. Dự án kinh tế nào cũng đóng góp thuế cho địa phương, tạo được công ăn việc làm như thế thì đều có lợi ích quốc gia.
“Sửa đổi Luật Đất đai 2013 phải làm rõ khái niệm ra thế nào là kinh tế nhưng phục vụ lợi ích quốc gia, thế nào là kinh tế thuần. Qua đó, tạo ra sự minh bạch và giúp người dân, doanh nghiệp phân loại dự án rõ ràng, việc áp dụng quy định của Luật Đất đai 2013 trong công tác thu hồi giải phóng mặt bằng sẽ giảm bớt được khiếu kiện” – ông Nguyễn Thế Điệp nói.

Kẽ hở cho “nhóm lợi ích” thâu tóm đất đai     

Chính sự không rõ ràng ở khái niệm “phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng” đã, đang là kẽ hở để các nhóm lợi ích lợi dụng. Những dự án phát triển kinh tế – xã hội thuộc diện thu hồi đất thỏa thuận với người dân theo quy định ở Điều 73 Luật Đất đai 2013 có thể bị “phù phép” trở thành những dự án do Nhà nước thu hồi đất dựa trên khái niệm “lợi ích quốc gia”.
Theo GS Đặng Hùng Võ, quy định về những trường hợp nào Nhà nước áp dụng cơ chế thu hồi đất thì đã được quy định trong Hiến pháp. Đó là, những trường hợp đất đai sử dụng cho quốc phòng, an ninh, phát triển vì lợi ích quốc gia, vì lợi ích công cộng. Trong Luật Đất đai 2013 định nghĩa khá rõ thế nào là đất quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng nhưng vế thứ 2, cụm từ “phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia” thì hoàn toàn không có định nghĩa.
GS Võ phân tích, một khái niệm được đưa ra trong Luật Đất đai 2013 mà không định nghĩa thế nào là “lợi ích quốc gia” – đây là vấn đề. Nếu đối chiếu với Luật Đất đai 2003 thì thấy ở đây định nghĩa rất rõ khái niệm thế nào là đất sử dụng cho lợi ích quốc gia: Đất xây dựng các trụ sở của cơ quan Nhà nước, đất sử dụng phục vụ các dịch vụ công của Nhà nước, các nội hàm rất rõ ràng. Nhưng trong Luật Đất đai 2013 thì khái niệm này không được định nghĩa.
Nếu áp dụng ngay định nghĩa về “lợi ích quốc gia” của Luật Đất đai 2003 thì rất nhiều loại dự án ở trong quy định của Điều 62 Luật Đất đai 2013 là không thuộc diện Nhà nước thu hồi đất.
“Chính vì sự không rõ ràng trong Điều 62, các dự án phát triển kinh tế – xã hội có thể gắn được mác “lợi ích quốc gia”. Việc thu hồi giải phóng mặt bằng từ cơ chế tự thỏa thuận với người dân sang cơ chế Nhà nước thu hồi, tiền đền bù giải phóng mặt bằng thấp hơn rất nhiều” – GS Võ nói.
Giải phóng mặt bằng thực hiện các dự án phát triển kinh tế – xã hội là cần thiết, nhưng vấn đề lợi ích giữa người bị thu hồi đất và những doanh nghiệp nhận được đất cần được cân đối hài hòa. Thu hồi đất nông nghiệp giao cho doanh nghiệp chuyển mục đích sử dụng đất sang sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ… lợi nhuận được tạo ra từ chuyển đổi sử dụng đất này người dân không được hưởng, dẫn đến những bất đồng, mâu thuẫn về lợi ích kinh tế.
Tiền sinh lời từ đất đai sẽ vào túi một nhóm lợi ích, Nhà nước và người dân đều không được lợi. Khái niệm không rõ ràng trong Luật Đất đai 2013 đang “vô tình” tạo điều kiện cho những “nhóm lợi ích” thâu tóm đất đai với giá chưa hợp lý với lợi ích của người bị thu hồi.
Dự thảo sửa đổi Luật Đất đai 2013 đang được Bộ Tài nguyên và Môi trường soạn thảo đưa ra lấy ý kiến rộng rãi và trình Quốc hội trong kỳ họp tới đây. Theo ý kiến của các chuyên gia, một trong những nội dung nổi cộm cần quan tâm khi sửa đổi Luật Đất đai 2013 là những quy định về đền bù giải phóng mặt bằng.

Theo VOV.VN

Những điểm mới về thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án

Quy định về thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án được quy định từ Điều 482 đến Điều 488 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015. So với quy định của BLTTDS năm 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011 thì BLTTDS năm 2015 có nhiều điểm mới đáng chú ý.
Cụ thể:
– Bổ sung quy định những bản án, quyết định sau đây của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị gồm: trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất sức lao động, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công tại điểm a khoản 2 Điều 482.
– Bổ sung quy định về ghi nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án vào trong bản án, quyết định của Tòa án có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 BLTTDS năm 2015 tại khoản 1 Điều 483.
– Sửa thời gian Tòa án phải chuyển giao bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng thay vì trước đây là 30 ngày tại khoản 1 Điều 485.
– Sửa thời gian Tòa án phải chuyển giao bản án, quyết định thuộc trường hợp phải thi hành ngay cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn 15 ngày thay vì trước đây là 10 ngày tại khoản 2 Điều 485.
– Bổ sung quy định Tòa án đã ra quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công phải chuyển giao quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi ra quyết định tại khoản 3 Điều 485.
– Bổ sung quy định về quyền yêu cầu sửa chữa những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định của Tòa án của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án và cơ quan thi hành án tại khoản 1 Điều 486.
– Bỏ quy định thời gian Tòa án phải có văn bản giải thích và gửi cho người có yêu cầu, Viện kiểm sát cùng cấp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án thay vì trước đây là 15 ngày theo khoản 1 Điều 382 BLTTDS năm 2004.
– Bổ sung căn cứ để Tòa án giải thích quyết định của Tòa án là biên bản phiên họp tại khoản 3 Điều 486.
– Bổ sung quy định mới về “Giải quyết yêu cầu, kiến nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án” tại Điều 487. Theo đó, trường hợp cơ quan thi hành án dân sự kiến nghị về việc xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì Tòa án có thẩm quyền phải trả lời trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày nhận được kiến nghị; trường hợp vụ việc phức tạp thì thời hạn trả lời không quá 04 tháng, kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị.
– Bổ sung quy định mới về “Thẩm quyền, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước của Tòa án” tại Điều 488. Theo đó, thẩm quyền xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước của Tòa án được xác định như sau: Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức việc thi hành án có trụ sở, có thẩm quyền xét đề nghị việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước; Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xem xét theo thủ tục phúc thẩm đối với quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước của Tòa án bị Viện kiểm sát kháng nghị; Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền xem xét theo thủ tục tái thẩm quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị.
Trình tự, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)

Kê biên, xử lý tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án – Một số vấn đề từ thực tiễn

Trong phạm vi bài viết, chúng tôi đi sâu phân tích một số vấn đề cần lưu ý khi kê biên, xử lý tài sản chung của người phải thi hành án và phân tích một số bất cập của quy định pháp luật hiện hành về vấn đề này.
Vấn đề cưỡng chế kê biên tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án được quy định tại Điều 71, Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự); khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP); khoản 7 Điều 2 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự (Thông tư liên tịch số 11).

1. Một số vấn đề cần lưu ý khi tiến hành kê biên tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án

Thực tiễn công tác thi hành án dân sự cho thấy, việc kê biên xử lý tài sản chung của người phải thi hành án với người khác để thi hành án thường rất khó khăn, phức tạp. Đây cũng là vấn đề mà các chấp hành viên thường có nhiều sai sót, vi phạm về trình tự, thủ tục dẫn đến phát sinh khiếu nại, tố cáo. Khi tiến hành kê biên tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án, cần lưu ý một số vấn đề sau:
Thứ nhất, việc xác định tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác
Trước hết, cần xác định được tài sản chung theo quy định tại Điều 74 Luật Thi hành án dân sự là gì. Đây là vấn đề tưởng như đã rõ ràng nhưng vẫn có những cách hiểu khác nhau dẫn đến áp dụng các quy định của pháp luật không chính xác, ảnh hưởng đến cả quá trình tổ chức thi hành án. Theo Điều 207 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản. Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất. Tài sản thuộc hình thức sở hữu chung là tài sản chung”.
Trên thực tế có rất nhiều tài sản là sở hữu chung của nhiều chủ sở hữu. Ví dụ như tài sản chung của vợ chồng, tài sản công ty, tài sản chung của thôn, làng… Tuy nhiên, tài sản chung của người phải thi hành án với người khác theo quy định tại Điều 74 Luật Thi hành án dân sự cần phải được hiểu thống nhất, đó là tài sản thuộc sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (trong trường hợp họ là người thế chấp, bảo lãnh cho người phải thi hành án) với người khác không liên quan đến bản án, quyết định đang được tổ chức thi hành. Do vậy, tài sản chung trong các vụ án hôn nhân gia đình, chia thừa kế đã được Tòa án giải quyết thì không thuộc trường hợp áp dụng theo Điều 74 nêu trên, vì người được thi hành án, người phải thi hành án đều là những người trong cùng bản án, quyết định. Hơn nữa, tài sản chung của họ đã được Tòa án giải quyết, phân chia. Chính vì thế, không thể yêu cầu đương sự khởi kiện để yêu cầu Tòa án phân chia thêm một lần nữa, cũng như không dành quyền ưu tiên mua tài sản cho họ. Mặc dù vậy, họ vẫn có quyền thỏa thuận nhận tài sản để khấu trừ nợ, nhận tài sản sau hai lần giảm giá (theo Điều 104 Luật Thi hành án dân sự) hoặc mua tài sản thông qua việc bán đấu giá như những người khác.
Thứ hai, nguyên tắc khi kê biên xử lý tài sản chung của người phải thi hành án với người khác
Cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên, xử lý đối với tài sản chung là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi các tài sản khác không đủ để thi hành án hoặc khi có đề nghị của người phải thi hành án về việc tự nguyện đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số nhiều tài sản mà không gây trở ngại cho việc thi hành án và tài sản đó đủ để thi hành án, các chi phí liên quan. Trong trường hợp này, chấp hành viên lập biên bản giải thích cho họ về việc phải chịu mọi chi phí liên quan đến việc xử lý tài sản đó và tiến hành kê biên tài sản để thi hành án. Người phải thi hành án bị hạn chế quyền thực hiện giao dịch đối với các tài sản khác cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án[1].
Cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên tài sản khác của doanh nghiệp phải thi hành án, nếu sau khi đã khấu trừ tài khoản, xử lý vàng, bạc, đá quý, kim khí quý khác, giấy tờ có giá của doanh nghiệp đang do doanh nghiệp quản lý hoặc đang do người thứ ba giữ mà vẫn không đủ để thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định có quyết định khác hoặc đương sự có thỏa thuận khác[2].
Thứ ba, xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung  
– Trường hợp tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định được phần sở hữu của các chủ sở hữu chung, được xử lý như sau:
+ Đối với tài sản chung có thể chia được thì chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án[3]. Thực tiễn cho thấy, việc xác định phần sở hữu của các chủ sở hữu chung hầu hết chỉ được xác định dựa trên tỷ lệ giá trị tài sản mỗi người được sở hữu, mà rất khó để xác định trên thực tế. Ví dụ: A và B cùng mua chung một thửa đất 200m2, số tiền mà A và B bỏ ra là bằng nhau. Trong đó, A là người phải thi hành án. Như vậy, ta dễ dàng xác định được phần sở hữu chung của A là 1/2 giá trị thửa đất. Tuy nhiên, để kê biên 1/2 thửa đất trên là tương đối khó khăn đối với chấp hành viên kể cả trường hợp phân chia không làm giảm giá trị của thửa đất. Vì để kê biên phần đất của A thì chấp hành viên phải xác định được phần đất của A ở chỗ nào, tứ cận ra sao. Mặc dù khi chia thì A và B mỗi người được 100m2, nhưng rõ ràng trên thực tế, vị trí hai thửa đất sẽ có giá trị khác nhau. Do vậy, việc khiếu nại của A hoặc B trong trường hợp này là không thể tránh khỏi, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận. Chính vì vậy, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án thường chỉ được chấp hành viên áp dụng khi tài sản rõ ràng, dễ phân chia, đã được phân chia theo bản án, quyết định hoặc do các đương sự thỏa thuận.
+ Đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ[4]. Đây là giải pháp được nhiều chấp hành viên áp dụng nhất khi kê biên, xử lý tài sản chung của người phải thi hành án với người khác. Vì rất khó có thể khẳng định một tài sản khi phân chia mà không làm giảm giá trị của tài sản.
– Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung, theo khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự và khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, việc phân chia được tiến hành như sau:
+ Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng chung của vợ chồng thì chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết. Thông thường, khi xác định phần sở hữu của vợ, chồng, chấp hành viên sẽ theo nguyên tắc chia đôi giá trị tài sản và sau đó thông báo cho vợ hoặc chồng của người phải thi hành án biết.
+ Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng theo số lượng thành viên của hộ gia đình tại thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản, thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất. Chấp hành viên thông báo kết quả xác định phần sở hữu, sử dụng cho các thành viên trong hộ gia đình biết. Trường hợp vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình không đồng ý với việc xác định của chấp hành viên thì có quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Hết thời hạn này mà không có người khởi kiện thì chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản và trả lại cho vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của họ.
+ Đối với tài sản chung khác: Chấp hành viên thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm quy định tại Điều 6 Luật Thi hành án dân sự hoặc thỏa thuận không được và không yêu cầu Tòa án giải quyết thì chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự. Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu Tòa án giải quyết thì chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự. Chấp hành viên xử lý tài sản theo quyết định của Tòa án (khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự).
Như vậy, theo quy định hiện nay thì đối với tài sản chung chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản mà không phải là tài sản của vợ chồng, hộ gia đình, trong trường hợp đương sự, người có quyền sở hữu, sử dụng chung không thỏa thuận được việc phân chia tài sản, thì chấp hành viên chỉ kê biên, xử lý tài sản sau khi đã có bản án của Tòa án về việc xác định tài sản chung.
Thứ tư, về việc ưu tiên mua tài sản của chủ sở hữu chung 
Người được quyền mua tài sản là người có chung quyền sở hữu, sử dụng tài sản với người phải thi hành án.
Theo quy định tại khoản 7 Điều 2 Thông tư liên tịch số 11, thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả thẩm định giá, chấp hành viên thông báo cho chủ sở hữu chung quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án. Đồng thời, khoản 3 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự quy định: Trước khi bán tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung, chấp hành viên thông báo và định thời hạn cho chủ sở hữu chung mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã định trong thời hạn 03 tháng đối với bất động sản, 01 tháng đối với động sản; đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn ưu tiên mà chủ sở hữu chung không mua tài sản thì tài sản được bán theo quy định tại Điều 101 Luật Thi hành án dân sự. Khi chủ sở hữu chung mua tài sản kê biên thì chấp hành viên thực hiện theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 11, cụ thể, đối với tài sản là bất động sản và động sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng, chấp hành viên ra quyết định bán tài sản cho chủ sở hữu chung; đối với tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì chấp hành viên lập biên bản giao tài sản cho chủ sở hữu chung.

2. Những khó khăn, vướng mắc và giải pháp khắc phục

Có thể thấy, các quy định pháp luật hiện hành đã quy định tương đối đầy đủ và rõ ràng về hướng xử lý và trách nhiệm của các bên liên quan trong vấn đề xác định tài sản thuộc sở hữu chung, đồng thời, quy định về quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản thuộc sở hữu chung. Tuy nhiên, thực tiễn xử lý tài sản chung của người phải thi hành án với người khác để đảm bảo thi hành án còn phát sinh một số vấn đề khó khăn, vướng mắc như sau:
Một là, việc xác định tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung còn gặp nhiều khó khăn
Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng và hộ gia đình đòi hỏi phải tuân thủ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật có liên quan. Đặc biệt, các quy định về chế độ tài sản chung, riêng của vợ, chồng đối với tài sản là bất động sản rất phức tạp nên việc xác minh làm rõ về nguồn gốc tài sản là rất khó khăn. Việc xác định, phân chia tài sản chung của vợ chồng do đó cũng rất dễ tiềm ẩn những thiếu sót. Đối với quy định trường hợp vợ, chồng hoặc cá nhân trong hộ gia đình khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo hợp lệ, thì trên thực tế không hiệu quả do đa phần đương sự không thực hiện việc khởi kiện ra Tòa án. Bởi vì, người phải thi hành án thì không muốn thi hành hoặc tìm mọi cách để kéo dài thời gian thi hành án, còn những người còn lại thì cho rằng đó không phải là việc của họ vì họ không có tranh chấp gì với người phải thi hành án và đặc biệt là họ không khởi kiện thì cũng đã có chấp hành viên khởi kiện thay.
Bên cạnh đó, theo chúng tôi, quy định thời hạn được nêu tại khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự là quá dài, bởi lẽ, việc khởi kiện để phân chia tài sản không chỉ là quyền lợi mà còn là trách nhiệm của các đồng sở hữu, vì vậy, nên xem xét rút ngắn thời gian khởi kiện này. Mặt khác, sau khi Tòa án thụ lý lại phải mất một thời gian dài để
Tòa án giải quyết việc phân chia tài sản dẫn đến kéo dài thời gian tổ chức thi hành án.
Đối với quy định chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu, sử dụng tài sản theo thủ tục tố tụng dân sự khi chủ sở hữu, sử dụng tài sản chung và người được thi hành án không khởi kiện, chúng tôi ủng hộ quan điểm đa số cho rằng cần sửa đổi quy định này vì một số lý do sau:
– Trong việc xử lý tài sản chung thì người có nghĩa vụ và quyền lợi trực tiếp về tài sản trong việc thi hành án là đương sự và người có chung quyền sở hữu với người phải thi hành án. Do vậy, trách nhiệm khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu, sử dụng chỉ nên quy định cho đương sự và những người có chung quyền sở hữu với người phải thi hành án. Đặc biệt là người được thi hành án, vì việc khởi kiện này nhằm mục đích để giải quyết nhanh việc thi hành án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
– Việc quy định chấp hành viên có trách nhiệm yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu, sử dụng tài sản theo thủ tục tố tụng dân sự khi các bên liên quan không khởi kiện trong một số trường hợp có thể sẽ tạo ra tâm lý ỉ lại của đương sự, người có tài sản chung để kéo dài việc thi hành án.
– Chấp hành viên là công chức, có chức năng, nhiệm vụ tổ chức thi hành bản án, quyết định và các công việc phụ trợ khác nhằm mục đích tổ chức thi hành án (như tổ chức bán đấu giá tài sản, tư vấn cho đương sự để họ thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ thi hành án…). Việc thực hiện yêu cầu phân chia quyền sử dụng, sở hữu tài sản chỉ thuộc về những người có quyền sở hữu, sử dụng và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong khi chấp hành viên là người không thuộc một trong các đối tượng này mà lại trao cho họ thực hiện các quyền này thì có vẻ chưa hợp lý và thực tế nhiều hệ lụy tiếp theo liên quan có thể phát sinh, ví dụ như: Tư cách tham gia tố tụng; trách nhiệm có liên quan trong trường hợp bản án, quyết định giải quyết tiếp theo ở các giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; thời gian tham gia tố tụng… Như vậy, những bế tắc hoặc là không được thực hiện triệt để ở các giai đoạn trước đó (giai đoạn điều tra, xét xử, giai đoạn thực hiện quyền của người phải thi hành án, giai đoạn thực hiện quyền của người được thi hành án), cuối cùng pháp luật lại trao công việc nộp đơn yêu cầu khởi kiện vụ án cho chấp hành viên về công việc không liên quan đến quyền và lợi ích của họ. Ngoài ra, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP về trao quyền cho chấp hành viên xác định quyền sở hữu, sử dụng tài sản là quy định còn thiếu thống nhất, thậm chí là mâu thuẫn với các văn bản pháp luật khác. Ví dụ: Điểm c khoản 1 Điều 170 Luật Thi hành án dân sự quy định, một trong các nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân trong thi hành án dân sự đó là thụ lý và kịp thời giải quyết yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về việc xác định quyền sở hữu, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, sử dụng tài sản, hủy giấy tờ, giao dịch phát sinh trong quá trình thi hành án thuộc thẩm quyền của Tòa án; hoặc khoản 9 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, một trong những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đó là yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án và yêu cầu khác theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.
Do vậy, trong thời gian tới khi sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự và các quy định khác có liên quan, những quy định trên cần cân nhắc để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, theo hướng không trao quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia tài sản này cho chấp hành viên, không nên xem đây là quyền phái sinh của chấp hành viên, đồng thời cũng không nên quy định chấp hành viên có thẩm quyền xác định quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản trong khối tài sản chung, vì đây là một trong những thẩm quyền đặc trưng của cơ quan Tòa án.
Hai là, quy định về thời hạn ưu tiên mua tài sản chung còn bất cập 
Chúng tôi ủng hộ quan điểm cho rằng, Luật Thi hành án dân sự đã áp dụng tương tự theo quy định tại khoản 3 Điều 223 Bộ luật Dân sự năm 2005 và được kế thừa tại khoản 3 Điều 218 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về định đoạt tài sản chung. Đây là trường hợp Bộ luật Dân sự quy định cho chủ sở hữu chung khi tự định đoạt phần sở hữu của mình. Có thể nói, việc áp dụng quy định này vào khoản 3 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự là không sai. Tuy nhiên, việc giữ nguyên thời hạn ưu tiên mua tài sản chung là 03 tháng đối với bất động sản, 01 tháng đối với động sản kể từ ngày được thông báo hợp lệ, hơn nữa, còn quy định thêm đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ, trong khi đó, theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật Đấu giá tài sản năm 2016 thì tối thiểu phải có 30 – 45 ngày cho một phiên bán đấu giá. Do đó, quy định về thời hạn ưu tiên mua theo quy định tại khoản 3 Điều 74 nói trên theo chúng tôi là quá dài, làm mất nhiều thời gian và thủ tục cho quá trình tổ chức thi hành án.
Từ những khó khăn, bất cập như vậy, tác giả đề xuất cần nghiên cứu và sửa đổi các quy định nêu trên cho phù hợp hơn với thực tiễn, theo hướng xác định Tòa án là chủ thể duy nhất có thẩm quyền phân chia tài sản chung ở giai đoạn thi hành án dân sự; cân nhắc loại bỏ trách nhiệm của chấp hành viên trong việc yêu cầu Tòa án xác định phần tài sản chung và xem xét rút ngắn thời hạn ưu tiên mua tài sản chung. Đồng thời, quyền ưu tiên mua tài sản chung cũng chỉ nên quy định ở lần đầu tiên bán tài sản để rút ngắn thời gian tổ chức thi hành án và nâng cao hiệu quả kê biên, xử lý tài sản chung của người phải thi hành án trong thực tế.

Hồ Quân Chính – Cục Thi hành án dân sự TP. Hồ Chí Minh
Hoàng Thị Thanh Hoa – Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên. TP. Hà Nội

 
Tài liệu tham khảo:

[1]. Khoản 2, khoản 4  Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP.
[2]. Khoản 5 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP.
[3]. Điểm a khoản 2 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự.
[4]. Điểm b khoản 2 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự.
 


Các tìm kiếm liên quan đến Kê biên, xử lý tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án, kê biên tài sản chung để thi hành án, kê biên tài sản trong thi hành án dân sự, nguyên tắc kê biên tài sản, biện pháp kê biên xử lý tài sản của người phải thi hành án là nhà ở, quy định về kê biên tài sản, thời hạn kê biên tài sản, cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung, khái niệm kê biên tài sản

Những hạn chế, bất cập về thành lập, góp vốn vào doanh nghiệp trong LDN 2014

Luật Doanh nghiệp năm 2014 (LDN 2014) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2015 với nhiều quy định mới đã và đang góp phần to lớn trong việc tạo hành lang pháp lý an toàn, thông thoáng đối với việc thành lập doanh nghiệp và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, trong thực tiễn thi hành Luật Doanh nghiệp 2014, đã nảy sinh một số hạn chế, bất cập, trong đó có những bất cập về thành lập, góp vốn vào doanh nghiệp. Thực tế đòi hỏi chúng ta cần phải kịp thời hoàn thiện Luật Doanh nghiệp 2014, nhằm góp phần đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp cũng như vai trò quản lý của cơ quan nhà nước trong vấn đề thành lập, tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp hiện nay.

1. Một số hạn chế, bất cập nảy sinh từ thực tiễn thi hành Luật Doanh nghiệp năm 2014

1.1 Về chủ thể bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam

Theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 thì “Người đang  bị truy cứu trách nhiệm hình sự,….” không được thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam. Đây là quy định mới về chủ thể bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp so với Luật Doanh nghiệp 2005. Tuy nhiên, theo tác giả, quy định này không phù hợp với thực tế cũng như mâu thuẫn với quy định của Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS ) năm 2015, chưa bảo đảm được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp chính đáng của công dân. Bởi lẽ, về nguyên tắc, một công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự chỉ bị tước đoạt một số quyền công dân khi có hành vi vi phạm pháp luật và bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật kết luận người đó đã vi phạm pháp luật. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 31 Hiến pháp năm 2013: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Điều 13 BLTTHS năm 2015 cũng quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.”. Và thực tế đã chứng minh, không phải tất cả những người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự đều bị Tòa án kết luận là có tội, do họ chứng minh được mình vô tội và các cơ quan tiến hành tố tụng không có đủ cơ sở để chứng minh họ có tội và từ đó không có cơ sở để tước đoạt quyền công dân của họ trong đó có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp, đặc biệt là, thực tế cho thấy, có nhiều trường hợp bản án sơ thẩm của Tòa án tuyên bị cáo là người có tội nhưng đến bản án phúc thẩm lại tuyên người đó không phạm tội.
Mặt khác, Luật Doanh nghiệp 2014 cấm người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự không được thành lập và quản lý doanh nghiệp nhằm mục đích ngăn chặn những tác động xấu mà người này có thể gây ra cho chính doanh nghiệp và cả các đối tác khi họ thành lập và thực hiện vai trò quản lý doanh nghiệp của mình. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 56 Luật Doanh nghiệp 2014 lại quy định: Trường hợp cá nhân là thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn bị tạm giam, bị kết án tù hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề theo quy định của Bộ luật Hình sự, thành viên đó ủy quyền cho người khác tham gia Hội đồng thành viên công ty”. Và theo quy định tại khoản 18 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 thì thành viên công ty trách nhiệm hữu hai thành viên trở lên là người quản lý công ty. Theo hai quy định nêu trên, thì kế cả trong trường hợp một thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên bị tạm giam (đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự), bị kết án tù (phải chịu trách nhiệm hình sự) thì họ vẫn không bị tước quyền làm thành viên của công ty mà thành viên đó vẫn giữ được quyền quản lý công ty thông qua cơ chế ủy quyền cho người khác tham gia Hội đồng thành viên. Do đó, nếu đối chiếu quy định tại khoản 3 Điều 56 Luật Doanh nghiệp 2014 với điểm e khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 chúng ta có thể thấy quy định của luật thiếu tính nhất quán. Và nếu áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 56 Luật Doanh nghiệp 2014 thì mục đích của việc quy định cấm người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự không được thành lập và quản lý doanh nghiệp tại điểm e khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 không đạt được.

1.2 Chưa quy định rõ ràng, cụ thể về vấn đề tiếp nhận thành viên mới để tăng vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 68 Luật Doanh nghiệp 2014, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền được tiếp nhận thêm thành viên mới để tăng vốn điều lệ. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định những thành viên mới được tiếp nhận này phải góp vốn ngay tại thời điểm được Hội đồng thành viên tiếp nhận (thông qua biên bản họp và quyết định tiếp nhận thành viên mới của Hội đồng thành viên) hay được quyền cam kết góp vốn (tức là thời điểm góp vốn sẽ được tiến hành sau thời điểm được Hội đồng thành viên tiếp nhận và công ty đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mới khi đã hoàn tất thủ tục đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp). Mặt khác, Điều 48 Luật Doanh nghiệp 2014 chỉ quy định thời hạn cam kết góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, quyền và nghĩa vụ của thành viên cam kết góp vốn thành lập công ty, mà không có quy định nào về việc xác định thời hạn cam kết góp vốn của thành viên mới được tiếp nhận vào công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, cũng như quyền và nghĩa vụ mà họ được hưởng trong thời gian này. Chính điều này đã gây khó khăn cho công ty và thành viên mới được tiếp nhận, bởi công ty không biết được mình có quyền cho thành viên mới được tiếp nhận được cam kết góp vốn hay phải góp vốn ngay, nếu cam kết góp vốn thì trong khoảng thời gian là bao lâu và bắt đầu tính từ thời điểm nào, quyền và nghĩa vụ mà thành viên mới được tiếp nhận sẽ được thực hiện như thế nào trong khoảng thời gian này.

1.3 Chưa có quy định rõ ràng, cụ thể về vấn đề định giá tài sản góp vốn

Quy định tại khoản 5 Điều 7 Luật Doanh nghiệp 2014 cấm việc cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị. Theo tác giả, quy định này có nhiều điểm chưa rõ ràng, dễ bị các bên tham gia định giá tài sản góp vốn lợi dụng để trục lợi. Thứ nhất, nếu căn cứ vào quy định này thì rất nhiều người có thể hiểu là việc định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị của tài sản góp vốn chỉ bị cấm khi có cơ sở chứng minh việc định giá đó là cố ý, còn nếu vô ý thì không bị cấm. Tuy nhiên, cơ sở nào để xác định là cố ý hay vô ý thì Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định rõ. Thứ hai, không phải loại tài sản góp vốn nào cũng định giá được một cách dễ dàng và giống nhau. Bởi lẽ, đối với tài sản góp vốn là ô tô, xe gắn máy, … thì việc định giá tài sản khá dễ dàng, nhưng đối với việc định giá tài sản góp vốn là giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết kỹ thuật thì sẽ gặp nhiều khó khăn bởi đây là loại tài sản vô hình, việc định giá loại tài sản này không chỉ đòi hỏi phải xác định được giá trị của nó tại thời điểm định giá mà các bên còn phải xác định được giá trị tiềm năng (về lợi ích kinh tế là chủ yếu) mà tài sản này mang lại trong tương lai cho doanh nghiệp. Do đó, việc xác định các bên có cố ý định giá giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết kỹ thuật cao hơn hay thấp hơn so với giá trị thật của tài sản đó hay không là điều hầu như không thể. Ngay cả trong thực tế, từ lâu chúng ta cũng phải chấp nhận đối với việc hai bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì có hai loại giá khác nhau: giá Nhà nước và giá thị trường (thông thường là do hai bên thỏa thuận nhưng không ghi vào hợp đồng công chứng mà là thỏa thuận ngầm), trong đó giá Nhà nước luôn thấp hơn giá do các bên thỏa thuận, nhưng khi tính thuế chuyển nhượng, cơ quan thuế chỉ có thể căn cứ vào hợp đồng ghi theo giá Nhà nước (được công chứng) để tính thuế chứ không thể nào xác định được giá mà bên mua phải trả cho bên bán để tính thuế.

1.4. Chưa có quy định, cụ thể về trách nhiệm liên đới khi định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế của tài sản.

Trong thực tế, không ít trường hợp tài sản góp vốn vào doanh nghiệp được các bên có quyền định giá định giá cao hơn so với giá trị thực tế của tài sản. Để giải quyết tình trạng này, khoản 2 và khoản 3 Điều 37 Luật Doanh nghiệp 2014 đã có quy định: 2. Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Trường hợp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được đa số các thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận. Trường hợp tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế.
Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do chủ sở hữu, Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần và người góp vốn thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Trường hợp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận. Trường hợp nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn, chủ sở hữu, thành viên Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời, liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do việc cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế.”
Theo quy định nêu trên, thì tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp nếu được định giá cao hơn so với giá trị thực tế thì các thành viên, cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế. Còn nếu tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động (do các thành viên, cổ đông hiện hữu góp thêm vốn hoặc do công ty tiếp nhận vốn góp từ thành viên mới) được định giá cao hơn so với giá trị thực tế thì người góp vốn, chủ sở hữu, thành viên Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời, liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do việc cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2014 chỉ dừng lại ở việc quy định các chủ thể trên phải liên đới chịu trách nhiệm vật chất bằng cách góp thêm tài sản để bù vào số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm được định giá, đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do việc cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế nhưng căn cứ để xác định mức trách nhiệm vật chất cụ thể mà mỗi một thành viên Hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, mỗi một cổ đông sáng lập, thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần, người góp vốn phải chịu là bao nhiêu thì Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định. Điều này rất dễ gây ra những mâu thuẫn, xung đột và dẫn đến tranh chấp giữa chủ sở hữu, các thành viên Hội đồng thành viên, các cổ đông sáng lập, các thành viên Hội đồng quản trị, người góp vốn với nhau khi thực hiện trách nhiệm vật chất của mình. Điều này đòi hỏi luật cần phải có quy định dự liệu các căn cứ để xác định trách nhiệm vật chất của các chủ thể trong trường hợp trên nếu như Điều lệ công ty không có quy định.

2. Một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện quy định về vấn đề thành lập và góp vốn vào doanh nghiệp

Từ những phân tích ở trên, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị về mặt pháp luật nhằm góp phần hoàn thiện Luật Doanh nghiệp năm 2014 về vấn đề thành lập, góp vốn vào doanh nghiệp như sau:
Thứ nhất: Cần bỏ quy định cấm người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự không được thành lập và quản lý doanh nghiệp tại điểm e khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 để phù hợp với thực tế cũng như phù hợp với quy định của Hiến pháp, BLTTHS năm 2015, bảo đảm được tính thống nhất trong quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 về chủ thể có quyền quản lý doanh nghiệp quyền thành lập để từ đó bảo đảm tốt hơn quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp chính đáng của công dân.
Thứ hai: Về vấn đề tiếp nhận thành viên mới để tăng vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, Luật Doanh nghiệp 2014 cần bổ sung quy định theo hướng: trong trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác, thành viên mới được công ty tiếp nhận có quyền góp hoặc cam kết góp vốn vào vốn Điều lệ của công ty, thời gian cam kết góp do các bên thỏa thuận nhưng không quá 90 ngày kể từ ngày được công ty tiếp nhận và công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mới (khi công ty hoàn tất thủ tục đăng ký bổ sung thành viên mới ở cơ quan đăng ký kinh doanh); trong thời hạn chưa góp đủ số vốn theo cam kết, thành viên có số phiếu biểu quyết và được chia lợi tức tương ứng với tỷ lệ số vốn thực góp.
Thứ ba: Về vấn đề định giá tài sản góp vốn: Luật Doanh nghiệp 2014 cần bổ sung quy định để làm rõ vấn đề cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị được quy định tại khoản 5 Điều 7 Luật Doanh nghiệp 2014 theo hướng đưa ra các dấu hiệu để xác định như thế nào là cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị của tài sản góp vốn tại thời điểm góp vốn.
Thứ tư: Về trách nhiệm liên đới khi định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm góp vốn, Luật Doanh nghiệp 2014 cần phải quy định các căn cứ xác định mức độ chịu trách nhiệm cụ thể mà chủ sở hữu, các thành viên Hội đồng thành viên, các cổ đông sáng lập, các thành viên Hội đồng quản trị, người góp vốn phải gánh chịu khi định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm góp vốn theo hướng:
i) Trường hợp tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty cổ phần được định giá cao hơn so với giá trị thực tế thì: các thành viên, cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời, liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do việc cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế. Trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác, tỷ lệ góp thêm, tỷ lệ trách nhiệm vật chất đối với thiệt hại gây ra cho công ty mà các thành viên, các cổ đông sáng lập phải chịu được xác định tương ứng với tỉ lệ phần trăm vốn góp của các thành viên, các cổ đông sáng lập được ghi trong Điều lệ của công ty; 
ii) Trường hợp tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động (do các thành viên, cổ đông hiện hữu góp thêm vốn hoặc do công ty tiếp nhận vốn góp từ thành viên mới) được định giá cao hơn so với giá trị thực tế: Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh thì người góp vốn, chủ sở hữu, thành viên Hội đồng thành viên cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc  định giá; đồng thời, liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do việc cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế. Trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác, tỷ lệ góp thêm và tỷ lệ trách nhiệm vật chất đối với thiệt hại gây ra cho công ty mà người góp vốn, chủ sở hữu, thành viên Hội đồng thành viên phải chịu được xác định tương ứng với tỉ lệ phần trăm vốn góp của người góp vốn, chủ sở hữu, thành viên Hội đồng thành viên được ghi trong Điều lệ của công ty; Đối với công ty cổ phần, thành viên Hội đồng quản trị và người góp vốn cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời, liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do việc cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế. Trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác, tỷ lệ góp thêm và tỷ lệ trách nhiệm vật chất đối với thiệt hại gây ra cho công ty mà các thành viên Hội đồng quản trị, người góp vốn phải chịu là bằng nhau (do không phải thành viên Hội đồng quản trị nào cũng bắt buộc phải là cổ đông của công ty, sở hữu cổ phần trong công ty nên không thể xác định trên tỉ lệ phần trăm vốn góp).

ThS. NCS NGUYỄN THANH TÙNG (Khoa luật Kinh tế – Trường ĐH Luật Huế)

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Một số lưu ý khi khám nghiệm hiện trường tai nạn giao thông đường bộ xảy ra ban đêm

Việc tiến hành công tác khám nghiệm vào ban đêm luôn tiềm ẩn nhiều yếu tố nguy hiểm, khó khăn, ảnh hưởng tới hiệu quả công tác. Trong bài viết, tác giả nêu một số điểm cần lưu ý khi khám nghiệm hiện trường các vụ tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọng xảy ra vào ban đêm.
 

Thời gian gần đây, những vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra vào ban đêm có chiều hướng gia tăng, thường có tính chất nghiêm trọng, gây ra những hậu quả thảm khốc. Trong quá trình điều tra, làm rõ những vụ việc này đặt ra yêu cầu phải tiến hành công tác khám nghiệm hiện trường ngay trong đêm.

 
Thực trạng tai nạn giao thông trên cả nước những năm gần đây tuy có giảm trên cả ba tiêu chí (số vụ, số người chết, số người bị thương), song số vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng vẫn có xu hướng gia tăng, chủ yếu xảy ra trên tuyến đường bộ. Điều này xuất phát từ một số nguyên nhân cơ bản như: Trời tối, khả năng quan sát của lái xe bị hạn chế; hệ thống đường giao thông được nâng cấp tốt hơn đặc biệt là đường cao tốc, quốc lộ nên lái xe thường tranh thủ đi với tốc độ cao; hoạt động tuần tra, kiểm soát của các lực lượng chức năng vào thời điểm này thường hạn chế. Đây còn là khoảng thời gian mà các loại xe khách đường dài hoạt động mạnh, phương tiện có trọng tải lớn được phép lưu thông trong nội thị, đi với tốc độ cao, dễ gây nguy hiểm cho người, phương tiện tham gia giao thông khác.
Bên cạnh đó, ý thức chấp hành luật lệ an toàn giao thông của người tham gia giao thông chưa cao là nguyên nhân chính dẫn tới mắc phải những lỗi vi phạm phổ biến như: Vi phạm tốc độ (9%), vượt sai quy định (6%), đi không đúng phần làn đường (25%), chuyển hướng không đúng quy định (9%), lái xe sử dụng rượu bia, chất kích thích (3,4%)…, đặc biệt, các lái xe thường có tâm lý chủ quan cho rằng đường ban đêm thường ít phương tiện lưu thông nên điều khiển quá tốc độ cho phép, khi gặp chướng ngại vật hoặc các tình huống bất ngờ đã không kịp xử lý, gây tai nạn. Thực trạng tai nạn giao thông trên cả nước những năm gần đây tuy có giảm trên cả ba tiêu chí (số vụ, số người chết, số người bị thương), song số vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng vẫn có xu hướng gia tăng, chủ yếu xảy ra trên tuyến đường bộ, chủ yếu do một số nguyên nhân cơ bản như: Trời tối, khả năng quan sát của lái xe bị hạn chế; hệ thống đường giao thông được nâng cấp tốt hơn đặc biệt là đường cao tốc, quốc lộ nên lái xe thường tranh thủ đi với tốc độ cao; hoạt động tuần tra, kiểm soát của các lực lượng chức năng vào thời điểm này thường hạn chế. Đây còn là khoảng thời gian mà các loại xe khách đường dài hoạt động mạnh, phương tiện có trọng tải lớn được phép lưu thông trong nội thị, đi với tốc độ cao, dễ gây nguy hiểm cho người, phương tiện tham gia giao thông khác.

Một số đặc điểm của hiện trường tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọng xảy ra vào ban đêm

Các vụ tai nạn giao thông xảy ra về đêm, đặc biệt trên các tuyến cao tốc, quốc lộ, khu vực dân cư thưa thớt, do tâm lý ngại phiền hà khi làm việc với cơ quan chức năng, hoảng sợ khi thấy tai nạn, lái xe thường lựa chọn tiếp tục lưu thông, rất khó để có thể tìm được nhân chứng, người biết những thông tin về tình tiết, diễn biến của vụ việc.
Những vụ tai nạn này thường có tính chất nghiêm trọng, phạm vi hiện trường rộng, phức tạp, số người thương vong thường lớn, nhiều trường hợp gây ách tắc trong thời gian dài, khó khăn trong việc thu thập dấu vết, vật chứng cũng như có thể để mất những thông tin, tài liệu quan trọng phục vụ làm rõ diễn biến của vụ việc. Hệ thống dấu vết, vật chứng xuất hiện tại hiện trường rất đa dạng (dấu vết cơ học, sinh vật, hoá học…), dễ bị xáo trộn do nhiều nguyên nhân khác nhau, khó khăn cho công tác bảo vệ và khám nghiệm hiện trường.
Hậu quả của các vụ tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọng xảy ra vào ban đêm thường làm nhiều người thương vong; quang cảnh hiện trường, tử thi cùng với việc phải làm việc vào đêm, dễ gây ảnh hưởng tâm lý rất lớn tới lực lượng tham gia khám nghiệm.
Bên cạnh đó, hiện trường nằm trên đường giao thông, quá trình khám nghiệm trong đêm tiềm ẩn nhiều nguy hiểm nếu không tiến hành cảnh báo, phân luồng cho các phương tiện đang lưu thông, đặc biệt trên các tuyến đường cao tốc, quốc lộ, tỉnh lộ.
Với điều kiện đêm tối, ánh sáng rất hạn chế, sẽ làm giảm khả năng quan sát, thu thập và đánh giá dấu vết, vật chứng của cán bộ khám nghiệm; hạn chế hiệu quả khai thác, sử dụng trang thiết bị, phương tiện hỗ trợ phục vụ công tác khám nghiệm. Các thiết bị chiếu sáng thường không đủ công suất, việc ghi nhận hình ảnh bằng các phương tiện kỹ thuật, tìm kiếm dấu vết, vật chứng tại hiện trường gặp nhiều khó khăn, không đảm bảo chất lượng. Vì vậy, việc đảm bảo ánh sáng phục vụ công tác khám nghiệm giữ vai trò đặc biệt quan trọng, hiệu quả hoạt động khám nghiệm phụ thuộc nhiều vào các phương tiện, thiết bị chiếu sáng tại hiện trường.
Một đặc điểm nữa là lợi dụng đêm tối ít người qua lại, không ít trường hợp người cùng phương tiện gây tai nạn tìm cách bỏ trốn khỏi hiện trường, nhằm trốn tránh trách nhiệm, cho nên, việc nhanh chóng xác định các dấu vết nóng tại hiện trường, phục vụ truy bắt đối tượng ngay trong đêm có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Như vậy, khi một vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra vào ban đêm, yêu cầu cấp thiết đặt ra là cần nhanh chóng xác định giới hạn hiện trường, tiến hành khám nghiệm một phần hoặc toàn bộ hiện trường ngay trong đêm để đảm bảo sự lưu thông của phương tiện, cũng như truy bắt người và phương tiện bỏ trốn. Tuy nhiên, thực tiễn tiến hành công tác khám nghiệm hiện trường các vụ tai nạn nghiêm trọng xảy ra vào ban đêm cũng gặp phải rất nhiều khó khăn, hạn chế như: Sự chậm chễ trong việc triển khai các lực lượng, phương tiện đến hiện trường; công tác bảo vệ hiện trường triển khai chậm, chủ yếu mới chỉ làm công tác đảm bảo an ninh trật tự; hoạt động thu thập và đánh giá dấu vết, vật chứng tại hiện trường còn bị động, tiến hành hình thức, qua loa, đại khái, chủ yếu tập trung vào một số dấu vết dễ quan sát, thu thập; hồ sơ khám nghiệm còn sơ sài, chưa đảm bảo…

Một số vấn đề cần lưu ý

Để có thể khai thác tối đa các thông tin, tài liệu từ hệ thống dấu vết, vật chứng thu được trong quá trình khám nghiệm hiện trường, cần chú ý một số nội dung sau:
Thứ nhất, cán bộ tham gia khám nghiệm phải nắm rõ được đặc điểm của từng loại hiện trường, quy luật hình thành và tồn tại của dấu vết cũng như mối quan hệ giữa các dấu vết, vật chứng tại hiện trường, các loại dấu vết phổ biến, vị trí xuất hiện của chúng… Từ đó xác định chính xác cách thức phát hiện, ghi nhận, thu lượm và bảo quản phù hợp với từng loại dấu vết, đánh giá, giải thích đúng cơ chế, quy luật hình thành dấu vết tại hiện trường phục vụ có hiệu quả hoạt động điều tra.
Thứ hai, đảm bảo các phương tiện chuyên dụng phục vụ công tác khám nghiệm hiện trường ban đêm. Khi tiến hành khám nghiệm hiện trường vào ban đêm cần phải huy động tối đa hệ thống đèn pin, đèn chuyên dụng, hệ thống đèn pha công suất lớn, ngoài ra có thể sử dụng hệ thống đèn pha ôtô, đèn dân sinh để hỗ trợ công tác khám nghiệm. Lực lượng kỹ thuật hình sự cần chủ động về hệ thống máy ảnh, máy quay có hệ thống đèn hỗ trợ khi chụp, ngoài ra đảm bảo hệ thống phương tiện chiếu sáng chuyên dụng phục vụ hoạt động thu thập, đánh giá dấu vết, vật chứng tại hiện trường.
Thứ ba, làm tốt công tác bảo vệ hiện trường, phân luồng giao thông bảo đảm an toàn tuyệt đối cho lực lượng khám nghiệm. Đối với các hiện trường tai nạn giao thông đường bộ, việc có mặt ngay khi có thông tin báo cáo về vụ việc sẽ giúp hạn chế những tác động làm thay đổi, xáo trộn hiện trường, đồng thời giúp đảm bảo an toàn giao thông và an ninh trật tự tại nơi xảy ra tai nạn.
Lực lượng bảo vệ hiện trường phối hợp với lực lượng Cảnh sát giao thông trong việc phân luồng, hướng dẫn các phương tiện lưu thông qua khu vực xảy ra tai nạn, tránh những va chạm thứ cấp gây nguy hiểm cho người và phương tiện có mặt tại hiện trường. Thiết lập hệ thống cảnh báo, chướng ngại vật chắn, đèn cảnh báo trên đường, cách khu vực hiện trường vụ việc ít nhất 100-150m theo các hướng phương tiện lưu thông. Có thể yêu cầu các phương tiện chuyển làn hoặc giảm tốc độ tránh gây nguy hiểm cho lực lượng khám nghiệm, cũng như làm ảnh hưởng tới hệ thống dấu vết, vật chứng tại hiện trường.
Thứ tư, lựa chọn phương pháp, chiến thuật khám nghiệm hiện trường phù hợp với đặc thù của hiện trường và lực lượng, phương tiện được huy động, đảm bảo đầy đủ yêu cầu pháp luật, nghiệp vụ. Phương pháp, chiến thuật để tiến hành khám nghiệm hiện trường tai nạn giao thông rất đa dạng, do đó, cần triệt để sử dụng các phương pháp và lựa chọn chiến thuật phù hợp đối với mỗi hiện trường tai nạn giao thông cụ thể. Mỗi chiến thuật có những điểm tích cực và hạn chế nhất định, phải căn cứ vào thông tin, tài liệu ban đầu, căn cứ vào tình hình lực lượng, phương tiện hiện có và đặc điểm hiện trường thực tế để lựa chọn chiến thuật phù hợp. Tuy nhiên, hiện trường các vụ tai nạn giao thông xảy ra vào ban đêm hầu hết là các vụ việc nghiêm trọng, trước yêu cầu nhanh chóng giải phóng một phần hiện trường, tránh ùn tắc kéo dài thì chiến thuật khám nghiệm theo từng khu vực của hiện trường thường đem lại hiệu quả cao. Do đó, cần nhanh chóng lựa chọn, khoanh vùng, xác định những khu vực có thể tiến hành khám nghiệm trước thì tập trung lực lượng, phương tiện tác nghiệp nhằm giải toả một phần hiện trường phục vụ yêu cầu lưu thông của các phương tiện.
Nếu tại hiện trường, người và phương tiện gây tai nạn đã bỏ trốn cần áp dụng ngay các biện pháp nghiệp vụ truy tìm người, phương tiện theo dấu vết nóng như: Dấu vết sinh vật, nguồn hơi… Đồng thời, tìm kiếm những dấu vết mà qua đó truy nguyên được người (đường vân, lông tóc, vải sợi…); truy nguyên phương tiện (dấu vết hoa vân lốp xe, dấu vết bùn đất…); xác định hướng di chuyển phương tiện (xăng, dầu, bùn đất văng bắn…) thoát khỏi hiện trường.
Thứ năm, làm tốt công tác phối hợp, trao đổi thông tin và hỗ trợ nhau giữa các lực lượng tham gia trong quá trình khám nghiệm. Căn cứ vào tính chất của vụ tai nạn, thực hiện theo Thông tư số 76/2011/TT-BCA ngày 22/11/2011 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định phân công trách nhiệm và quan hệ phối hợp trong công tác điều tra, giải quyết tai nạn giao thông của lực lượng Cảnh sát nhân dân. Đối với các vụ tai nạn giao thông có người chết hoặc có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra có trách nhiệm thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết và cử Kiểm sát viên tham gia giám sát hoạt động khám nghiệm. Trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ của từng đơn vị, các lực lượng cần thiết lập hệ thống trao đổi thông tin, qua đó kịp thời điều chỉnh, bổ sung thông tin trong quá trình khám nghiệm, cũng như hỗ trợ cho các hoạt động điều tra ban đầu. Đặc biệt, trong những trường hợp người và phương tiện gây tai nạn bỏ trốn khỏi hiện trường, trên cơ sở khai thác tốt những thông tin từ lời khai và từ hoạt động thu thập, đánh giá dấu vết, vật chứng tại hiện trường, kịp thời cung cấp những thông tin giúp Cơ quan điều tra có thể nhanh chóng truy tìm người, phương tiện gây tai nạn.
Trong điều tra các vụ tai nạn giao thông đường bộ, cần chú ý khai thác thông tin từ việc trích xuất thiết bị giám sát hành trình của phương tiện, từ hệ thống camera an ninh của nhà dân xung quanh hoặc tại một số tuyến đường có lắp hệ thống giám sát an ninh (nếu có) nhằm hỗ trợ cho hoạt động thu thập, đánh giá dấu vết, vật chứng tại hiện trường.
Thứ sáu, tiến hành công tác khám nghiệm theo trình tự, thủ tục thống nhất, đảm bảo phù hợp điều kiện, hoàn cảnh và yêu cầu thực tiễn. Quá trình khám nghiệm hiện trường vào ban đêm, cán bộ khám nghiệm cần phát huy tinh thần trách nhiệm cao nhất, khắc phục khó khăn, điều kiện ngoại cảnh, tiến hành theo đúng trình tự, quy trình khám nghiệm nhằm thu thập, đánh giá một cách triệt để dấu vết, vật chứng tại hiện trường.
Khi tiếp cận hiện trường cần tiến hành ghi nhận sơ bộ tình trạng hiện trường, các yếu tố điều kiện ngoại cảnh có thể liên quan tới vụ tai nạn ngay khi tiếp cận hiện trường, phục vụ việc nghiên cứu, đánh giá dấu vết, xác định nguyên nhân tai nạn. Xác định các điều kiện ngoại cảnh xung quanh hiện trường (hệ thống đèn đường, ánh sáng khu dân cư, nguồn sáng khác nếu có); vị trí nơi xảy ra tai nạn (gần chỗ giao cắt, khúc cua khuất tầm nhìn, ngõ tắt lối mở…); các thông số, tiêu chuẩn kỹ thuật mặt đường tại nơi xảy ra tai nạn (loại đường, độ nhám mặt đường, độ rộng…); các phương tiện, thiết bị điều khiển, chỉ dẫn giao thông (đèn báo, biển báo, vạch chia làn, biển chỉ dẫn…) và những điều kiện tự nhiên khác có ảnh hưởng tới việc lưu thông của phương tiện. Thận trọng trong việc lựa chọn các mốc cố định phù hợp tại hiện trường, làm cơ sở tiến hành các hoạt động đo đạc, ghi nhận cụ thể, chính xác, bổ sung thông tin khi việc chụp ảnh, ghi hình hiện trường gặp nhiều hạn chế trong điều kiện thiếu sáng.
Kết thúc khám nghiệm cần tiến hành họp, đánh giá kết quả khám nghiệm cũng như các thông tin, tài liệu thu thập được qua hoạt động điều tra ban đầu. Thống nhất và đưa ra được những kết luận, nhận định sơ bộ về tình huống xảy ra tai nạn, về những vấn đề có liên quan. Trên cơ sở đó, người chủ trì khám nghiệm có thể ra quyết định huy bỏ việc bảo vệ toàn bộ hoặc một phần hiện trường. Yêu cầu bắt buộc khi tiến hành khám nghiệm hiện trường vào ban đêm là cần rà soát, đánh giá lại kết quả khám nghiệm, dự kiến những nội dung công việc cần triển khai và tiếp tục kiểm tra, khám nghiệm bổ sung khi trời sáng, hoàn thiện hồ sơ khám nghiệm.
Thứ bảy, tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát của cơ quan chức năng trong quá trình tiến hành các hoạt động khám nghiệm. Hầu hết các vụ tai nạn giao thông xảy ra vào ban đêm là những vụ tai nạn nghiêm trọng, hậu quả thường làm nhiều người thương vong, do đó, phải có sự tham gia ngay từ ban đầu của Viện kiểm sát. Trong những trường hợp này, với chức năng, nhiệm vụ của mình, Kiểm sát viên tham gia khám nghiệm có trách nhiệm kiểm sát công tác bảo vệ hiện trường, thành phần tham gia khám nghiệm và giám sát chặt chẽ hoạt động khám nghiệm theo đúng quy định của pháp luật. Kiểm sát viên cần nắm chắc thông tin, tính chất vụ việc và tình hình thực tế tại hiện trường, từ đó có sự trao đổi, thống nhất với Điều tra viên về phương pháp, kế hoạch khám nghiệm phù hợp. Giám sát chặt chẽ các hoạt động của Điều tra viên, Giám định viên, kỹ thuật viên và yêu cầu lực lượng khám nghiệm thực hiện tiến hành đầy đủ quy trình, trình tự khám nghiệm, đảm bảo đúng pháp luật.
Song song với hoạt động giám sát, Kiểm sát viên cũng cần ghi chép tỉ mỉ về các loại dấu vết, thông tin tài liệu liên quan; trực tiếp xem xét, kiểm tra dấu vết, vật chứng tại hiện trường để có sự đối chiếu, đánh giá kết quả công tác của các lực lượng khám nghiệm, bổ sung, củng cố tài liệu trong hồ sơ kiểm sát. Quá trình khám nghiệm, Kiểm sát viên kịp thời trao đổi, phối hợp với Điều tra viên trong việc tiến hành các biện pháp khẩn cấp tại hiện trường như: Bắt, khám xét, lấy lời khai, thu giữ vật chứng…
(Trích bài viết: Một số điểm cần lưu ý khi tiến hành khám nghiệm hiện trường các vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra vào ban đêm” của tác giả Nguyễn Minh Tuấn, giảng viên Khoa Tham mưu, chỉ huy Cảnh sát, Học viện Cảnh sát nhân dân, Tạp chí Kiểm sát số 16/2017).

 
Tài liệu tham khảo
1. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.
2. Chỉ thị số 02/2001/CT-BCA ngày 06/02/2001 của Bộ trưởng Bộ Công an về công tác khám nghiệm hiện trường của lực lượng Công an nhân dân.
3. Thông tư số 76/2011/TT-BCA ngày 22/11/2011 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định phân công trách nhiệm và quan hệ phối hợp trong công tác điều tra, giải quyết tai nạn giao thông của lực lượng Cảnh sát nhân dân.
4. Thông tư số 77/2012/TT-BCA ngày 28/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông đường bộ.
5. Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự (ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008 của Viện trưởng VKSND tối cao).

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)

Xác định tội cố ý gây thương tích hay tội chống người thi hành công vụ trong BLHS

Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, tuy nhiên trong thực tiễn việc phân biệt hai tội danh “Cố ý gây thương tích” với tình tiết “Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.” Và tội “Chống người thi hành công vụ” vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau và rất cần thiết có văn bản hướng dẫn thi hành.

1. Quy định của BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 về Điều 134 tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết “Chống người thi hành công vụ” và Điều 330 tội “Chống người thi hành công vụ”.

Theo quy định tại Điều 134 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…….
o. Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn thương khác thể hiện qua dấu vết để lại trên cơ thể hoặc không thể hiện bằng dấu vết để lại trên cơ thể.
Mục đích của người phạm tội là gây thương tích cho người khác và mong muốn hậu quả xảy ra và người phạm tội thực hiện với lỗi cố ý.
Theo quy định Điều 330 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 Tội chống người thi hành công vụ:

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Chống người thi hành công vụ, được hiểu là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật.
Lưu ý:
Các hành vi nêu trên nhằm vào các mục đích nhằm cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ. Nghĩa là làm cho người có trách nhiệm thi hành công vụ không thể thực hiện được hoặc rất khó khăn trong thực hiện công vụ được giao.
Cả hai tội phạm này có khách thể hoàn toàn khác nhau, đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác khách thể là quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe của con người bị kẻ phạm tội xâm phạm. còn khách thể của tội chống người thi hành công vụ là xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công. Tuy nhiên cả hai tội phạm này có đặc điểm chung đó là xâm phạm đến đối tượng là con người.

2. Bất cập và kiến nghị hoàn thiện.

Tuy nhiên trong thực tiễn giải quyết hai tội danh này còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau không thống nhất về việc áp dụng điều luật đối với hành vi dùng vũ lực chống người thi hành công vụ gây hậu quả thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người thi hành công vụ với tỷ lệ dưới 11% thì phạm tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết “Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.” Hay phạm tội “Chống người thi hành công vụ”?. Việc xác định hai tội phạm này chưa có văn bản hướng dẫn thi hành nên gặp nhiều khó khăn.
Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn giải quyết hai tội phạm này, kiến nghị một số nội dung sau:
Để nhằm xác định hành vi nào là tội Cố ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe cho người thi hành công vụ hay tội chống người thi hành công vụ cần phân biệt như sau:
Thứ nhất: Xác định mục đích thực hiện tội phạm.
Trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi với mục đích là cố ý gây thương tích cho người khác nhưng đang thực hiện thì có sự xuất hiện của người thi hành công vụ và người thi hành công vụ thực hiện công vụ của mình nhằm ngăn cản hành vi phạm tội nhưng người phạm tội không chấp hành mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho người khác nhưng đã gây ra thiệt hại về sức khỏe cho người thì hành công vụ dưới 11% thì trong trường hợp này truy cứu TNHS về tội “Cố ý gây thương tích”với tình tiết “Đối với người thi hành công vụ hoặc vì  lý do công vụ của nạn nhân.”. Có thể hiểu hậu quả dưới 11% đối với người thi hành công vụ là nằm ngoài ý chí chủ quan của người phạm tội, vì mục đích của người phạm tội là thực hiện tội phạm khác. Ví dụ: Nguyễn Văn A đang hành hung Đoàn Văn E thì Cảnh sát trật tự đang làm nhiệm vụ xuất hiện nhằm ngăn cản hành vi của A, sau đó A xô ngã một đồng chí cảnh sát để tiếp tục tấn công Đoàn Văn E, thì trong trường hợp này nếu đồng chí cảnh sát bị thương tích dưới 11% thì sẽ xử lý về hành vi Cố ý gây thương tích với tình tiết là “Đối với người thi hành công vụ”. Trong tình huống trên mục đích ban đầu của A là gây thương tích cho E nhưng sau đó bị cảnh sát ngăn cản nên A mới gây ra thương tích cho cảnh sát đang thi hành công vụ. Rõ ràng hai hành vi cố ý gây thương tích và hành vi chống người thi hành công vụ thực hiện song song nhưng hậu quả chỉ gây ra một thiệt hại về sức khỏe dưới 11% cho người thi hành công vụ, thì sẽ phạm tội cố ý gây thương tích với tình tiết “Đối với người thi hành công vụ”.
Thứ hai: Xác định thời điểm hoàn thành tội phạm. Nếu trường hợp người thực hiện hành vi cố ý gây thương tích đã hoàn thành, sau đó người thi hành công vụ xuất hiện nếu người phạm tội tiếp tục thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ thì xử lý hai tội đó là cố ý gây thương tích và tội chống người thi hành công vụ.
Nhằm nâng cao chất lượng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm thiết nghĩ cần có văn bản hướng dẫn thi hành cụ thể để nhằm xác định hai tội danh này vì trong thực tiễn ranh giới tội phạm là rất mong manh./.

TRẦN VĂN HÙNG

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Điều kiện tha tù trước thời hạn có điều kiện, bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tha tù trước thời hạn có điều kiện là chế định mới của Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cùng với chế định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù đã góp phần giảm tải cho các trại giam, đồng thời tạo điều kiện cho các phạm nhân sớm hòa nhập cộng đồng, tuy nhiên quy định về điều kiện tha tù trước thời hạn có điều kiện vẫn còn tồn tại nhiều bất cập hạn chế.

1. Điều kiện tha tù trước thời hạn có điều kiện.

Theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24 tháng 4 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 66 và Điều 106 của BLHS về tha tù trước thời hạn có điều kiện thìĐiều kiện tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 66 của Bộ luật Hình sự có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù.
2. Phạm tội lần đầu.
Được coi là phạm tội lần đầu và có thể xem xét nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Trước đó chưa phạm tội lần nào;
b) Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự;
c) Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng;
d) Trước đó đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích.
3. Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt thể hiện ở việc chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; tích cực học tập, lao động cải tạo và phải có đủ kỳ xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự, cụ thể như sau:
a) Người đang chấp hành án phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn phải có ít nhất 20 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên.
b) Người đang chấp hành án phạt tù trên 20 năm đến 30 năm phải có ít nhất 16 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên.
c) Người đang chấp hành án phạt tù trên 15 năm đến 20 năm phải có ít nhất 12 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên.
d) Người đang chấp hành án phạt tù trên 10 năm đến 15 năm phải có ít nhất 08 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên.
đ) Người đang chấp hành án phạt tù trên 05 năm đến 10 năm phải có ít nhất 06 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên.
e) Người đang chấp hành án phạt tù trên 03 năm đến 05 năm phải có ít nhất 04 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên.
g) Người đang chấp hành án phạt tù từ 03 năm trở xuống phải có ít nhất 02 quý liên tục liền kề thời điểm xét, đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên.

Ví dụ: Nguyễn Văn A bị kết án 14 năm. Tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2018, A đã chấp hành án được 07 năm tù. Để đủ điều kiện xét tha tù trước thời hạn có điều kiện (trong Quý I/2018), thì Nguyễn Văn A phải được xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên của 08 quý liên tục liền kề như sau: Quý I/2018; Quý I, II, III, IV/2017; Quý II, III, IV/2016.
4. Có nơi cư trú rõ ràng.
Nơi cư trú là nơi tạm trú hoặc thường trú theo quy định của Luật Cư trú mà người được tha tù trước thời hạn có điều kiện về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được tha tù.
Nơi cư trú rõ ràng là nơi cư trú có địa chỉ được xác định cụ thể.
5. Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại.
a) Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền và án phí là đã nộp đầy đủ các khoản tiền phạt và án phí thể hiện ở các biên lai, chứng từ hoặc có quyết định miễn chấp hành hình phạt tiền, miễn nộp án phí của Tòa án.
b) Đã chấp hành xong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là một trong các trường hợp: Đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo bản án, quyết định của Tòa án; có quyết định đình chỉ thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền; có thỏa thuận bằng văn bản của bị hại hoặc đại diện hợp pháp của bị hại về việc không phải thi hành nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo bản án, quyết định của Tòa án được cơ quan có thẩm quyền xác nhận.
6. Đã chấp hành được ít nhất một phần hai mức phạt tù có thời hạn; ít nhất là 15 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn.
a) Thời gian đã chấp hành án phạt tù là thời gian người đó bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành án phạt tù trong các cơ sở giam giữ hoặc thời gian người đó bị bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, không kể thời gian được tại ngoại, được hoãn, tạm đình chỉ và thời gian được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. Thời gian đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù (nếu có) được tính để trừ vào phần thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại.
Ví dụ: Nguyễn Văn B bị kết án 14 năm tù. Tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2018, Nguyễn Văn B đã chấp hành án được 07 năm tù. Trong quá trình chấp hành án, B được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 01 năm, nên thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại là 06 năm.
b) Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù là người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì phải chấp hành được ít nhất là một phần ba mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 12 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn.
Người có công với cách mạng, thân nhân người có công với cách mạng được xác định theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng.
Người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng được xác định theo quy định của pháp luật về người khuyết tật.
Việc xác định người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh hoặc kết luận của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật.
7. Khi xét tha tù trước thời hạn có điều kiện phải xem xét thận trọng, chặt chẽ để bảo đảm việc tha tù trước thời hạn có điều kiện không ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là đối với các trường hợp phạm tội về ma túy, tham nhũng, phạm tội có tổ chức, các đối tượng chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố, chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm.

2. Bất cập và kiến nghị.

Giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù và tha tù trước thời hạn có điều kiện là hai chính sách chính sách pháp luật quan trọng của nước ta, Tuy nhiên, qua thực tiễn nghiên cứu đặt ra vấn đề là một người bị kết án trong 01 năm có được vừa giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù vừa được tha tù trước thời hạn có điều kiện không?
Ví dụ: Trong năm 2018 Nguyễn Văn A, được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù dịp 30/4/2018 là 12 tháng, sau đó A tiếp tục được trại giam đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện dịp 02/9/2018.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24 tháng 4 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 66 và Điều 106 của BLHS về tha tù trước thời hạn có điều kiện thì điều kiện tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đó là  “1.Đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù.”Trong năm 2018 Nguyễn Văn A đã được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù trước đó, như vậy A đã đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Nghị quyết số 01 về tha tù trước thời hạn có điều kiện. Đây là hai quy định khác nhau nên trong 01 năm Nguyễn Văn A vừa được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù vừa được tha tù trước thời hạn có điều kiện là hợp lý, áp dụng quy định có lợi cho người chấp hành án phạt tù. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là trong 01 năm Nguyễn Văn A có vừa được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù vừa được tha tù trước thời hạn có điều kiện hay không? và hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào quy định 01 người trong 01 năm có thể vừa được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù vừa được tha tù trước thời hạn có điều kiện nên trong thực tiễn gặp rất nhiều khó khăn.
Theo chúng tôi cần hướng dẫn cụ thể như sau:
“Một phạm nhân trong 01 năm nếu được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù thì không được xét tha tù trước thời hạn có điều kiện nhưng năm tiếp theo được xét tha tù trước thời hạn có điều kiện.”
Trên đây là vướng mắc trong quá trình thực hiện các quy định về giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù và tha tù trước thời hạn có điều kiện, thiết nghĩ cần có văn bản hướng dẫn để tạo điều kiện thi hành trong thực tiễn./.
 

TRẦN VĂN HÙNG

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn)

Tòa án có thể phong tỏa hai lần với một tài sản?

Với trường hợp có hai hay nhiều đương sự không cùng một vụ án yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với một tài sản, thì Tòa án có căn cứ nào để áp dụng không?
Trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 111 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì chỉ có những cá nhân, cơ quan tổ chức sau đây mới có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại Điều 114 BLTTDS: Đương sự, người đại diện hợp pháp của họ; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân gia đình theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình; Tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền theo quy định của pháp luật; Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dung có quyền đại diện cho người tiêu dung khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dung hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật bảo vệ người tiêu dùng; Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy định của pháp luật; cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân gia đình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Tòa án chỉ tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp quy định tại Điều 135 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, gồm: Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm; buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề  nghiệp, tiền bồi thường, trờ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động; tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động.
Mục đích của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự có liên quan đến vụ án được Tòa án giải quyết và cần phải giải quyết ngay, nếu không được giải quyết sẽ ảnh hưởng xấu đến đời sống, sức khỏe, tính  mạng, danh dự, nhân phẩm của đương  sự, nhằm để bảo vệ chứng cứ trong trường hợp chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được, để bảo toàn tình  trạng hiện đang có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, tức là bảo toàn mối quan hệ, đối tượng hiện có liên quan đến vụ án được tòa án giải quyết; để bảo đảm thi hành án tức là làm cho chắc chắn các điều kiện để khi bản án quyết định của Tòa án được thi hành thì có đày đủ điều kiện để thi hành án.
Trong quá trình kiểm sát đối với các quyết định áp dụng, biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án cùng cấp nhận cho thấy thực tế còn có vướng mắc đối với trường hợp có hai hay nhiều đương sự không cùng một vụ án yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với một tài sản thì được giải quyết như thế nào? Tòa án có thẩm quyền áp dụng hay không luật chưa quy định rõ, trong khi đương sự là người có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là nhằm mục đích bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Nếu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp này theo yêu cầu của các bên đương sự thì sẽ gây khó khăn cho cơ quan thi hành án trong việc tổ chức thi hành quyết định khẩn cấp tạm thời vì phải thi hành hai hay nhiếu quyết định thi hành án đối với cùng một tài sản.
 

Trường hợp sau đây là một ví dụ:
Ngày 17/07/2018, TAND huyện D đã thụ lý vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Nguyên đơn là ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1977, địa chỉ: thị trấn T, huyện D, tỉnh BD. Bị đơn là bà Phạm Hoàng N, sinh năm 1977,  cũng tại huyện D, tỉnh BD.
Ông L khởi kiện yêu cầu bà N phải trả số tiền đã vay 1 tỷ đồng. Ngày 20/07/2018, ông L có đơn yêu cầu Tòa án huyện D áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” quy định tại Điều 126 BLTTDS năm 2015 đối với tài sản là phần đất có diện tích 3.411 m tọa lạc tại khu phố B, thị trấn T, huyện D, tỉnh BD do UBND huyện D cấp cho bà Phạm Hoàng N ngày 23/04/2015. Cùng ngày Tòa án nhân dân huyện D ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 24/2018/QĐ – BPKCTT  “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” đối với thửa đất nêu trên, gửi quyết định cho Cơ quan thi hành án cùng cấp. Ngày 23/07/2018, Chi cục trưởng Chi cục thi hành án dân sự huyện D ban hành quyết định thi hành án chủ động phong tỏa tài sản nêu trên và gửi đến cơ quan có thẩm quyền quản lý đăng ký quyền sử dụng.
Đến ngày 31/07/2018, Tòa án huyện D tiếp tục thụ lý vụ án dân sự số 293/2018/DSST-DS “về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Nguyên đơn là bà Phạm Hoàng Y, sinh năm 1980, địa chỉ khu phố B, thị trấn T, huyện D, tỉnh BD. Bị đơn là bà Phạm Hoàng N. Ngày 01/08/2018, bà Y làm đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là “phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” đối với thửa đất mà ông L đã yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, cùng ngày Tòa án đã ra Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tiếp tục áp dụng biện pháp phong tỏa đối với thửa đất nêu trên gởi đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện D.
Chi cục trưởng chi cục Thi hành án Dân sự huyện D đã không ra quyết định thi hành án chủ động là phong tỏa tài sản theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngày 01/08/2018 của Tòa án, đồng thời có văn bản yêu cầu Tòa án giải thích về việc cùng một tài sản đã phong tỏa hai lần trong khi việc phong tỏa lần đầu vẫn còn hiệu lực.

 
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Tòa án đã ra quyết định phong tỏa hai lần đối với một tài sản. Theo Điều 142 BLTTDS năm 2015 quy định “Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự” thì phong tỏa hai lần cùng một tài sản Chi cục thi hành án không thể thực hiện được.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình. Vì vậy, trong trường hợp này Tòa án vẫn phải áp dụng biện pháp phong tỏa đối với tài sản ông L đã yêu cầu trước đó.
Tác giả cho rằng, trong vụ án ông L khởi kiện bà N thì việc ông L, bà N thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời và bà N chuyển nhượng thửa đất cho người khác là hoàn toàn có thể xảy ra. Nếu như vậy, bà Y có đơn yêu cầu mà Tòa án không chấp nhận và không ban hành biện pháp khẩn cấp tạm thời thì quyền lợi của bà Y sẽ bị ảnh hưởng khi thi hành án.
Trường hợp, Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của bà Y ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì rõ ràng tài sản này đã bị phong tỏa đang có hiệu lực pháp luật, nếu tiếp tục phong tỏa tài sản là không cần thiết nên chi cục Thi hành án không ra quyết định thi hành án chủ động là phù hợp, nhưng không ra quyết định thi hành án chủ động thì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời lần hai của Tòa án không được thực hiện trên thực tế và trái với khoảng 1 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 có sửa đổi, bổ sung.
Thiết nghĩ, liên ngành tư pháp Trung ương cần có hướng dẫn, để tháo gỡ, giải quyết vướng mắc, đảm bảo cho việc thực thi pháp luật được thống nhất, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Nguyễn Quang Thịnh 

Phó Viện trưởng VKSND huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)

 

Hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS về tội mua bán người và tội mua bán người dưới 16 tuổi

Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) vừa có Công văn gửi đến VKSNDTC, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Hội Luật gia Việt Nam và Liên đoàn Luật sư Việt Nam đề nghị đóng góp ý kiến vào Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) về tội mua bán người và tội mua bán người dưới 16 tuổi. Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử xin trân trọng giới thiệu nội dung của Dự thảo và mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của quý vị độc giả.

Giải thích từ ngữ

Dự thảo giải thích từ ngữ “Mua bán người” là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây: Chuyển giao người để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; Tiếp nhận người để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; Chuyển giao người để người khác bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; iếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi hướng dẫn tại các điểm a, b, c hoặc d khoản này.
“Mua bán người dưới 16 tuổi” là một trong các hành vi sau đây: Chuyển giao người dưới 16 tuổi để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo; Tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo; Chuyển giao người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; Tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi hướng dẫn tại các điểm a, b, c hoặc d khoản này.
Về “thủ đoạn khác” quy định tại khoản 1 Điều 150 của BLHS là trường hợp người phạm tội dùng các thủ đoạn như: bắt cóc, lừa gạt, cho nạn nhân uống thuốc ngủ, uống rượu say; cho nạn nhân sử dụng thuốc mê; đầu độc nạn nhân; lợi dụng quyền hạn, tình thế dễ bị tổn thương của nạn nhân…  để thực hiện một trong các hành vi hướng dẫn tại các điểm a, b, c hoặc d khoản 2 Điều này.
“Để bóc lột tình dục” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 150 và điểm b khoản 1 Điều 151 của BLHS là trường hợp chuyển giao, tiếp nhận, tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác nhằm phục vụ cho hoạt động  tình dục, như bán dâm, sử dụng nạn nhân để sản xuất ấn phẩm khiêu dâm, trình diễn khiêu dâm hoặc làm nô lệ tình dục.
Ví dụ: Chuyển giao, tiếp nhận, tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác rồi đưa họ đến các ổ mại dâm hoặc tổ chức cho họ bán dâm hoặc tiếp nhận người khác để phục vụ nhu cầu tình dục của mình.
“Để cưỡng bức lao động” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 150 và điểm b khoản 1 Điều 151 của BLHS là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác nhằm buộc người khác lao động trái ý muốn của họ.
“Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 150 và điểm b khoản 1 Điều 151 của BLHS là trường hợp chuyển giao, tiếp nhận, tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác nhằm lấy một phần của cơ thể của họ.
Ví dụ: Nguyễn Văn A đã chuyển giao Nguyễn Thị C cho Nguyễn Văn B để B lấy giác mạc của C (trên thực tế B chưa có hành vi lấy giác mạc).
“Vì mục đích vô nhân đạo khác” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 150 và điểm b khoản 1 Điều 151 của BLHS là việc người phạm tội nhằm sử dụng nạn nhân làm nô lệ, lao động khổ sai, để thanh toán nợ, làm thí nghiệm; buộc nạn nhân phải đi ăn xin; để quay phim, chụp ảnh, vẽ tranh ảnh khiêu dâm, đồi trụy hoặc sử dụng nạn nhân vào các mục đích tàn ác, dã man khác.

Về một số tình tiết định khung hình phạt

Tình tiết “Có tổ chức” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 150 và điểm a khoản 3 Điều 151 của BLHS là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ và phân công, sắp đặt vai trò của những người tham gia thực hiện hành vi phạm tội, trong đó mỗi người thực hiện một hoặc một số hành vi và phải chịu sự điều khiển của người cầm đầu.
Tình tiết “Vì động cơ đê hèn” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 150 và điểm g khoản 2 Điều 151 của BLHS là trường hợp phạm tội với động cơ đê tiện, thấp hèn, ích kỷ, thể hiện sự bội bạc, phản trắc, hèn nhát. Người phạm tội nhằm mục đích trả thù hoặc để khống chế nạn nhân và người thân thích của nạn nhân.
Ví dụ: Do có thù tức cá nhân, B đã dụ dỗ con gái của A rồi bán sang nước ngoài.
Tình tiết “Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 150 và điểm đ khoản 2 Điều 151 của BLHS là đã đưa nạn nhân ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 150 và điểm e khoản 2 Điều 151 của BLHS là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội mua bán người từ 02 lần trở lên nhưng đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ví dụ: Ngày 15/6/2018, Nguyễn Văn A có hành vi mua bán người; đến ngày 20/7/2018, Nguyễn Văn A lại có hành vi mua bán người và bị bắt giữ. Cả hai lần phạm tội trên, Nguyễn Văn A đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người.
Trường hợp người phạm tội vừa thuộc trường hợp phạm tội từ 02 lần trở lên quy định tại điểm e khoản 2 Điều 150 của BKHS vừa thuộc trường hợp phạm tội đối với 06 người trở lên quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 150 của BLHS thì áp dụng điểm đ khoản 3 Điều 150 của BLHS để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tình tiết “Có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 150 và điểm b khoản 3 Điều 151 của BLHS là trường hợp người phạm tội mua bán người từ 05 lần trở lên (không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích) và người phạm tội lấy các việc mua bán người làm nghề sinh sống, lấy khoản lợi bất chính thu được từ việc mua bán người làm nguồn sống chính.
Đối với trường hợp phạm tội từ 05 lần trở lên mà trong đó có lần phạm tội đã bị kết án, chưa được xóa án tích thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội có thể bị áp dụng các tình tiết định khung hoặc tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần”, “đối với nhiều người”, “tái phạm” (hoặc “tái phạm nguy hiểm”) và “có tính chất chuyên nghiệp”.
Tình tiết “Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 150 và điểm đ khoản 3 Điều 151 của BLHS là trường hợp chuyển giao, tiếp nhận, tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác và đã lấy một phần của cơ thể được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau của nạn nhân (chủ yếu là các bộ phận mà y học có thể thay thế, như: giác mạc, thận, gan…).
Ví dụ: Nguyễn Văn A đã chuyển giao Nguyễn Thị C cho Nguyễn Văn B. B đã lấy giác mạc của C để thay cho người khác.
Tình tiết “Làm nạn nhân chết hoặc tự sát” quy định tại điểm d khoản 3 Điều 150 và điểm đ khoản 3 Điều 151 của BLHS là trường hợp chuyển giao, tiếp nhận, tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; để bóc lột tình dục; để cưỡng bức lao động; để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc sử dụng vào mục đích vô nhân đạo khác dẫn đến nạn nhân chết hoặc tự sát.
Ví dụ 1: Nguyễn Văn A đã chuyển giao Nguyễn Thị C cho Nguyễn Văn B. B đã lấy một phần gan của C để thay cho người khác, nhưng do không bảo đảm kỹ thuật, vệ sinh dẫn đến C bị chết do nhiễm trùng.
Ví dụ 2: Nguyễn Văn A lừa bán Nguyễn Thị C cho Nguyễn Văn B để C phục vụ hoạt động mại dâm trong quán Karaoke của B. Vì uất ức C đã tự sát.

Truy cứu trách nhiệm hình sự một số trường hợp cụ thế theo Điều 150

Truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp sử dụng thủ đoạn môi giới hôn nhân với người nước ngoài trái phép
Người sử dụng thủ đoạn môi giới hôn nhân với người nước ngoài trái phép bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người theo quy định tại Điều 150 của BLHS nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Người môi giới dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác để buộc người khác kết hôn với người nước ngoài và đã giao người đó cho người nước ngoài để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;
Người môi giới biết hoặc có khả năng để biết mục đích của người nước ngoài là thông qua hoạt động xem mặt, chọn vợ (hoặc chồng) hoặc kết hôn để đưa người được chọn ra nước ngoài bóc lột sức lao động, bóc lột tình dục hoặc bán cho người khác nhưng vẫn tiến hành môi giới để nhận tiền hoặc lợi ích vật chất khác của người nước ngoài.
Truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp sử dụng thủ đoạn đưa người đi lao động nước ngoài trái phép
Người sử dụng thủ đoạn đưa người đi lao động nước ngoài trái phép bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người theo quy định tại Điều 150 của BLHS nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Người môi giới, người đưa người đi lao động nước ngoài biết hoặc có khả năng để biết người lao động (từ đủ 16 tuổi trở lên) ra nước ngoài sẽ bị bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác (như: người bị đưa ra nước ngoài bị buộc phải làm việc trong môi trường độc hại, không bảo đảm an toàn lao động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe; phải làm việc mà không được trả lương; bị buộc phải hoạt động mại dâm) nhưng vẫn lừa gạt hoặc ép buộc người lao động và giao họ cho người khác ở nước ngoài để lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khác.
Người môi giới sử dụng thủ đoạn môi giới đưa lao động ra nước ngoài để chuyển giao người lao động cho phía nước ngoài bán người lao động cho người khác.
Người sử dụng thủ đoạn môi giới đưa người đi lao động ở nước ngoài để lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (sau khi nhận tiền của người lao động đã chiếm đoạt và bỏ trốn, không thực hiện việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài) thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người nhưng tùy từng trường hợp cụ thể có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nếu có đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm khác.
Người tổ chức, cưỡng ép người khác ở lại nước ngoài không nhằm mục đích bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc không vì mục đích vô nhân đạo khác thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người nhưng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép quy định hoặc tội cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép nếu có đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm khác.
Truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp người phạm tội đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân
Phương án 1: Trường hợp người phạm tội đã lấy đi bộ phận cơ thể quyết định sự sống của nạn nhân (như tim, não…) làm nạn nhân chết thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người theo điểm h khoản 1 Điều 123 BLHS (giết người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân).
Ví dụ: Nguyễn Văn A đã chuyển giao Nguyễn Thị C cho Nguyễn Văn B. B đã lấy tim của C để thay cho người khác. Trong trường hợp này, A và B phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người theo điểm h khoản 1 Điều 123  BLHS (giết người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân).
Trường hợp người phạm tội lấy bộ phận cơ thể không tách rời sự sống của nạn nhân, không làm nạn nhân chết (như lấy 01 quả thận, 01 lá phổi…) thì bị truy cứu trách nhiệm về tội mua bán người theo điểm b khoản 3 Điều 150 của BLHS. Trong trường hợp này, nếu sau đó nạn nhân chết do bị nhiễm trùng hoặc nạn nhân phẫn uất mà tự sát thì người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm d khoản 3 Điều 150 của BLHS.
Phương án 2: Trường hợp người phạm tội đã lấy đi bộ phận không thể tách rời sự sống của nạn nhân (như tim, não…), làm nạn nhân chết thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người theo điểm h khoản 1 Điều 123 của BLHS.

Truy cứu trách nhiệm hình sự một số trường hợp cụ thế theo Điều 151

Truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp sử dụng thủ đoạn môi giới nuôi con nuôi trái pháp luật 
Người biết người khác thực sự có nhu cầu nuôi con nuôi (do hiếm muộn hoặc có lòng yêu trẻ) đã giới thiệu người đó với người muốn cho con của chính họ đi làm con nuôi vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có điều kiện nuôi dưỡng đứa trẻ, mong muốn đứa trẻ được nuôi dưỡng tốt hơn và đã nhận một khoản tiền, đồng thời người môi giới cũng được nhận một khoản tiền cho việc môi giới, thì người môi giới, người cho con mình đi làm con nuôi và người nhận con nuôi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 151 của BLHS.
Người sử dụng thủ đoạn môi giới nuôi con nuôi trái pháp luật phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người theo quy định tại Điều 151 của BLHS nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người môi giới biết hoặc có khả năng biết việc nhận nuôi con nuôi là nhằm bóc lột, cưỡng bức lao động đối với người dưới 16 tuổi hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác nhưng đã sử dụng thủ đoạn môi giới nuôi con nuôi để chuyển giao nạn nhân cho người khác để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;
b) Người môi giới nuôi con nuôi biết hoặc có khả năng biết mục đích của người nhận nuôi con nuôi là sau khi nhận con nuôi sẽ bán nạn nhân cho người khác.
c) Người nhận nuôi con nuôi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
d) Người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để môi giới nhận nuôi con nuôi trái phép (không thực hiện đúng các quy định của pháp luật về cho, nhận nuôi con nuôi) hoặc tạo điều kiện cho việc môi giới, nhận nuôi con nuôi trái phép mà biết hoặc có khả năng biết mục đích của người nhận nuôi con nuôi là nhằm bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc vì mục đích trái pháp luật khác.
đ) Người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để môi giới nhận nuôi con nuôi trái phép (không thực hiện đúng các quy định của pháp luật về cho, nhận nuôi con nuôi) hoặc tạo điều kiện cho việc môi giới, nhận nuôi con nuôi trái phép, nhưng không biết người nhận nuôi con nuôi nhằm bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc có mục đích trái pháp luật khác thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người dưới 16 tuổi. Tùy từng trường hợp cụ thể, người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đến người khác để trục lợi hoặc tội danh khác theo quy định của BLHS.

Truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội

Trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội mà các hành vi đó độc lập với nhau thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội độc lập mà người đó đã thực hiện. Khi xét xử, Tòa án áp dụng Điều 55 của BLHS để quyết định hình phạt chung.
Ví dụ: Một người mua người dưới 16 tuổi, sau đó lại thực hiện một trong các hành vi lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 151 và tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm quy định tại Điều 147 của BLHS. Khi xét xử trường hợp này, Tòa án quyết định mức hình phạt tương ứng đối với từng tội, sau đó quyết định hình phạt chung cho cả hai tội theo quy định tại Điều 55 của BLHS.

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Văn bản chứng thực phân chia di sản và nhận di sản là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính và vụ án dân sự

Luật quy định buộc bà C phải biết được hành vi hành chính của UBND xã ngay thời điểm chứng thực. nhưng mãi đến năm 2017, bà C mới khởi kiện vụ án hành chính là hết thời hiệu khởi kiện. Vì vậy, bà có thể khởi kiện vụ án dân sự.
Sau khi đọc bài viết: “Văn bản chứng thực phân chia di sản và nhận di sản có là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính?” của tác giả Th.s Lê Văn Quang – Phó Viện trưởng VKSND Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước đăng trên Tạp chí Kiểm sát điện tử ngày 21/8/2018, tôi xin có một vài ý kiến trao đổi như sau:
Bà C có quyền lựa chọn khởi kiện vụ án hành chính hoặc vụ án dân sự.
Trường hợp bà C khởi kiện vụ án hành chính đối với hành vi chứng thực hai văn bản của UBND xã thì cần xem xét lại vấn đề thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính.
Theo Thông tư liên tịch 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của Bộ Tư pháp – Bộ Tài nguyên Môi trường hướng dẫn về việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất quy định về các bước chứng thực đối với văn bản phân chia và nhận di sản thừa kế như sau:
– Bước 1: Công chức Tư pháp tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra tính pháp lý và nội dung hồ sơ. Trường hợp hồ sơ đã đầy đủ, hợp lệ thì tiếp nhận hồ sơ tiếp nhận hồ sơ viết phiếu biên nhận hồ sơ trao cho người yêu cầu chứng thực, trường hợp hồ sơ thiếu hoặc không hợp lệ thì hướng dẫn công dân bổ sung, hoàn thiện theo đúng quy định.
– Bước 2: Thông báo niêm yết văn bản thỏa thuận phân chia di sản đến Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú hoặc tạm trú có thời hạn trước đây của người để lại tài sản thừa kế, hoặc nơi có tài sản của người để lại di sản trong thời gian 30 ngày.
– Bước 3: Sau thời hạn niêm yết nêu trên, nếu xét thấy không có khiếu nại, tố cáo nào liên quan đến việc thoả thuận phân chia thừa kế thì tiến hành xem xét nội dung của văn bản thoả thuận phân chia tài sản thừa kế đã được soạn thảo sẵn; trong trường hợp nội dung văn bản được soạn thảo sẵn vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc soạn thảo không đạt yêu cầu thì phải sửa đổi, bổ sung; Đọc lại văn bản thoả thuận phân chia tài sản thừa kế cho những người liên quan nghe hoặc yêu cầu tự đọc lại văn bản trong trường hợp văn bản được sửa đổi, bổ sung. Yêu cầu những người liên quan ký tắt vào từng trang của văn bản, trừ trang cuối phải ký đầy đủ.Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện (theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện) ký văn bản chứng thực.
Như vậy, khi chứng thực 02 văn bản nêu trên, UBND xã đã niêm yết đối với văn bản phân chia và nhận di sản theo thời hạn luật định. UBND xã chứng thực hai văn bản trên là hành vi hành chính thì hành vi đó đã được thực hiện ngày 13/9/2011 và hành vi đó đã được thông báo cho các đương sự có liên quan biết để thực hiện quyền khiếu nại nhưng bà C không có khiếu nại gì. Trường hợp này, luật quy định buộc bà C phải biết được hành vi hành chính của UBND xã ngay thời điểm chứng thực. Nhưng mãi đến năm 2017, bà C mới khởi kiện vụ án hành chính là hết thời hiệu khởi kiện.
Trường hợp bà C khởi kiện vụ án dân sự thì có thể khởi kiện ông N (người khai nhận di sản thừa kế) và các đương sự cùng hàng thừa kế, UBND xã đã thực hiện chứng thực vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự.

Huỳnh Minh Khánh – TAND huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)