Cha mẹ của bị cáo chưa thành niên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm

Nếu bị cáo là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội, khi xét xử thì được miễn án phí (hình sự, dân sự). Nếu bị cáo từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội, khi xét xử vụ án hình sự thì bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định tại BLTTDS và Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326.
Tôi trao đổi bài viết: “Cha mẹ của bị cáo chưa thành niên có phải chịu án phí dân sự sơ thẩm” của tác giả Dương Tấn Thanh, TAND thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, đăng trên Kiemsat online ngày 25/10/2018 như sau:
Tuy Nguyễn Văn A là bị cáo chưa thành niên nhưng phải chịu 6.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm/130 triệu đồng tiền bị cáo phải bồi thường. Cha mẹ của bị cáo chưa thành niên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bởi vì, theo điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (gọi tắt là Nghị quyết 326) quy định nghĩa vụ chịu án phí trong vụ án hình sự: “Người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự được thực hiện theo quy định tại Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết này”.
Theo đó, khoản 2  Điều 26 Nghị quyết 326 quy định nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: “Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận”.
Qua đó cho thấy, đối với vụ án hình sự, Nghị quyết 326 chỉ quy định: “Người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm” và “bị đơn (bị cáo) phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm”, riêng phần án phí pháp luật không có quy định liên đới chịu án phí như đối với phần bồi thường thiệt hại theo khoản 2 Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình”.
Trong trường hợp nêu trên, điểm đ khoản 1 Điều 12 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định những trường hợp sau đây được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí như sau: “Trẻ em; cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo; người cao tuổi; người khuyết tật; người có công với cách mạng; đồng bào dân tộcthiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; thân nhân liệt sĩ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ”.
Theo đó, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”.
Như vậy, nếu bị cáo là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội, khi xét xử thì được miễn án phí (hình sự, dân sự). Nếu bị cáo từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội, khi xét xử vụ án hình sự thì bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định tại BLTTDS và Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326, cha mẹ của bị cáo chưa thành niên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Nếu sau này bị cáo không có điều kiện thi hành án thì Cơ quan thi hành án dân sự giải quyết (miễn, giảm…) theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)

Ly hôn với một bên đang bị truy nã

Ly hôn với một bên đang bị truy nã có thuộc trường hợp bị hạn chế theo quy định của luật không? Và trường hợp khi một bên vợ hoặc chồng đang bị truy nã mà bên còn lại xin ly hôn thì việc giải quyết ly hôn như thế nào?

1. Các ý kiến khác nhau về giải quyết ly hôn với một bên đang bị truy nã

Vấn đề giải quyết ly hôn với một bên đang bị truy nã, hiện nay đang có hai quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015 và Luật Hôn nhân và gia đình (LHNGĐ) 2014 không có quy định cụ thể thủ tục giải quyết cũng như căn cứ cho ly hôn đối với trường hợp có một bên đang bị truy nã. Do đó, khi một bên vợ/chồng xin ly hôn với bên chồng/vợ đang bị truy nã thì trước khi giải quyết ly hôn, phải thực hiện tuyên bố một người mất tích.
Trường hợp quá thời hạn 02 năm, kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền ra quyết định truy nã, bên còn lại có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố người bị truy nã mất tích theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015.
Khoản 1 Điều 68 BLDS 2015 quy định: “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích”.
Sau khi quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực pháp luật thì bên còn lại khởi kiện yêu cầu ly hôn theo quy định tại điều 51 LHNGĐ 2014 và Tòa án áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 55 Luật HNGĐ 2014 để giải quyết, cụ thể là: “2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn” .
Quan điểm thứ hai cho rằng: Do người bị truy nã không còn ở tại địa phương và không xác định được địa chỉ của họ, do đó, căn cứ đoạn thứ 3 điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015, Tòa án trả lại đơn khởi kiện, không thụ lý giải quyết với lý do không có địa chỉ của bị đơn[1]; trường hợp đã thụ lý thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015[2]. Việc giải quyết ly hôn chỉ có thể giải quyết được khi người bị truy nã ra đầu thú hoặc bị bắt.
Theo tác giả, cả hai quan điểm nêu trên đều không đúng. Bởi lẽ, “truy nã” là việc cơ quan có thẩm quyền quyết định truy tìm tung tích, bắt giam trở lại đối với người vi phạm pháp luật hình sự (bị can, bị cáo, bị án) bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và đã được cơ quan có thẩm quyền tiến hành các biện pháp xác minh, truy bắt nhưng không có kết quả[3]. Mặc dù, không có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định thế nào là “biệt tích” nhưng có thể hiểu “biệt tích” trong chế định tuyên bố một người mất tích là yếu tố khách quan và người biệt tích không cố ý bỏ trốn, lẩn tránh, còn truy nã là trường hợp người phạm tội (bị can, bị cáo, bị án) cố tình lẩn trốn, hoàn toàn do ý chí chủ quan của họ.
Theo Điều 68 BLDS 2015, thời hạn biệt tích 2 năm trong tuyên bố một người mất tích được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó. Trong khi đó, Điều 27 Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015 quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định: “Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ”. Điều này có nghĩa là, thời gian họ trốn tránh và bị truy nã không được trừ vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, không thể xem thời gian đã truy nã như căn cứ “đã biệt tích 02 năm” để tuyên bố người đó là mất tích và giải quyết ly hôn như quan điểm thứ nhất được.
Thực tiễn xét xử, Tòa án không tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết trong trường hợp người đó đang bị truy nã hoặc Tòa án có tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết trong trường hợp người đó đang bị truy nã thì quyết định của Tòa án cũng bị kháng nghị, bị Tòa án cấp trên hủy vì lý do người đó đang bị truy nã[4].
Mặt khác, có thể thấy ly hôn là một trong các quyền cơ bản của quyền con người. Quyền này được quy định tại khoản 1 Điều 36 Hiến pháp năm 2013 như sau: “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn…”. Cụ thể hóa quy định này của Hiến pháp, khoản 1 Điều 39 BLDS 2015 quy định: “Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn,…”; khoản 1 Điều 51 Luật HNGĐ 2014 quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”.
Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Với quy định này, quyền con người, quyền công dân nói chung và quyền ly hôn nói riêng chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật và việc hạn chế đó phải là trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.
Khoản 2 Điều 51 LHNGĐ 2014 quy định: “Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”. Với quy định này của Luật HNGĐ 2014 thì người chồng không có quyền khởi kiện xin ly hôn trong các trường hợp: Vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Trong các trường hợp này, nếu người chồng nộp đơn khởi kiện xin ly hôn thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015[5].
Từ các quy định nêu trên, có thể khẳng định quyền ly hôn với một bên đang bị truy nã không thuộc trường hợp bị hạn chế theo quy định của luật. Vì vậy, không thể có việc một bên đang bị truy nã, bên còn lại không thể ly hôn mà phải chờ tới khi bên bị truy nã ra đầu thú hoặc bị bắt mới giải quyết như quan điểm thứ hai được.
Vậy, vấn đề đặt ra là trường hợp khi một bên vợ hoặc chồng đang bị truy nã mà bên còn lại xin ly hôn thì việc giải quyết ly hôn như thế nào?

2. Giải quyết ly hôn với một bên đang bị truy nã

Qua nghiên cứu, tác giả thấy rằng, pháp luật tố tụng dân sự trước đây cũng như  BLTTDS 2015 không quy định thủ tục giải quyết vụ án đối với trường hợp người bị kiện, bị đơn đang bị truy nã. Tuy nhiên:
Đoạn thứ hai điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 quy định: “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung”.
Khoản 3 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án dân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiên, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án có hướng dẫn “Về địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” như sau: “3. Địa chỉ “nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng” của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quy định tại điểm đ, e khoản 4 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là địa chỉ người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã từng cư trú, làm việc hoặc có trụ sở mà người khởi kiện biết được gần nhất tính đến thời điểm khởi kiện và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh”.
Như đã nêu ở trên, người bị truy nã là người đã bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu và đã được cơ quan có thẩm quyền tiến hành các biện pháp xác minh, truy bắt nhưng không có kết quả. Vì vậy, cần xác định, người bị truy nã là người bỏ trốn, cố tình giấu địa chỉ; khi có đơn khởi kiện của bên còn lại xin ly hôn, Tòa án hoàn toàn có thể áp dụng quy định tại đoạn thứ hai điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 và hướng dẫn tại khoản 3 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP để thụ lý giải quyết theo thủ tục chung.
Về căn cứ cho ly hôn, Điều 56 Luật HNGĐ 2014 về ly hôn theo yêu cầu của một bên:
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
2.Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3.Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.”
Do đó, theo tác giả, khi giải quyết yêu cầu ly hôn với một bên đang bị truy nã, Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ 2014 để giải quyết chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý phân biệt các trường hợp cụ thể như sau:
Trường hợp thứ nhất: Trước khi bị truy nã, có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án giải quyết cho ly hôn không phụ thuộc vào thời gian đã bị truy nã.
Trường hợp thứ hai: Trước khi bị truy nã, không có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án phải xem xét thời gian đã bị truy nã là bao lâu. Tòa án căn cứ vào việc người bị truy nã đã vi phạm nghĩa vụ chung sống với nhau của vợ, chồng quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật HNGĐ 2014[6] để giải quyết. Theo tác giả, trong trường hợp này nên áp dụng việc xác định thời hạn vi phạm nghĩa vụ chung sống của vợ chồng để cho ly hôn tương tự với thời gian biệt tích trong tuyên bố một người bị mất tích. Nghĩa là Tòa án giải quyết chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn khi thời gian truy nã từ đủ hai năm trở lên.
Ly hôn là quyền cơ bản của con người và việc một bên xin ly hôn đối với bên đang bị truy nã không bị hạn chế theo quy định của luật nhưng lại chưa được pháp luật quy định một cách cụ thể, rõ ràng về thủ tục giải quyết cũng như căn cứ để giải quyết ly hôn. Vì vậy, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.

BÍCH PHƯỢNG – NGỌC TRÂM

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)


[1] Đoạn thứ 3 điểm e Điều 192 BLTTDS 2015 quy định: “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện”.
[2] Điểm g khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015 quy định: “g) Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý;”
[3] Xem Thông tư liên tịch số 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 09/10/2012 của Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Thi hành án hình sự về truy nã.
[4] Xem bài “Hủy quyết định tuyên đối tượng trong vụ án Tân Trường Sanh đã chết” đăng trên Báo Thanh niên điện tử, link: https://thanhnien.vn/thoi-su/huy-quyet-dinh-tuyen-doi-tuong-trong-vu-an-tan-truong-sanh-da-chet-859029.html 
Xem bài “Trốn truy nã mà được Tòa tuyên đã chết – VKSND cấp cao 3 kháng nghị” đăng trên Tạp chí Kiểm sát điện tử,  link: http://kiemsat.vn/tron-truy-na-ma-duoc-toa-tuyen-da-chet-8211-vksnd-cap-cao-3-khang-nghi-45229.html  
[5] Điểm a khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 quy định:
“Điều 192. Trả lại đơn khởi kiện, hậu quả của việc trả lại đơn khởi kiện 
Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây: a) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 và Điều 187 của Bộ luật này hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;”
[6] Khoản 2 Điều 19 Luật HNGĐ 2014 quy định:
“2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”

Tổng hợp ý kiến thảo luận Dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi)

Sáng ngày 25/10/2018, Quốc hội thảo luận về dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi). Đây là dự án luật rất quan trọng, tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế – xã hội, nhận được sự quan tâm lớn của cử tri cả nước. Dự kiến Quốc hội sẽ thông qua tại kỳ họp thứ 6 này.
Trình bày tóm tắt Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi), bà Lê Thị Nga, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội cho biết tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội đã thảo luận và cho ý kiến lần thứ hai về dự án Luật Phòng, chống tham nhũng, đến nay hầu hết các nội dung lớn của dự thảo Luật đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến thống nhất. Riêng quy định về xử lý tài sản, thu nhập tăng thêm không giải trình được hợp lý về nguồn gốc (Điều 57) vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội giao cho Cơ quan chủ trì thẩm tra phối hợp với các cơ quan hữu quan nghiên cứu để xây dựng 02 phương án:

Phương án 1: Thu hồi thông qua thủ tục xem xét, giải quyết tại Tòa án. Theo đó, đối với tài sản, thu nhập tăng thêm mà người có nghĩa vụ kê khai không giải trình được hợp lý về nguồn gốc, Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập chuyển Kết luận xác minh và các tài liệu có liên quan để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định về tính hợp lý của việc giải trình; Tòa án ra quyết định thu hồi tài sản, thu nhập tăng thêm nếu người có nghĩa vụ kê khai không giải trình được hợp lý về nguồn gốc hoặc bác yêu cầu của Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập trong trường hợp người có nghĩa vụ kê khai đã giải trình hợp lý về nguồn gốc tài sản, thu
Phương án 2: Thu thuế thu nhập cá nhân bảo đảm có căn cứ, phù hợp với thực tiễn, nếu Nhà nước không chứng minh được tài sản, thu nhập tăng thêm của người có nghĩa vụ kê khai do phạm tội, vi phạm pháp luật mà có thì tạm coi đây là một khoản thu nhập phải chịu thuế, người kê khai phải nộp thuế thu nhập cá nhân.

Phát biểu trước khi các đại biểu thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu nhận định đây là một dự án luật khó, có nhiều chính sách mới, phức tạp và còn nhiều nội dung có ý kiến khác nhau. Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị đại biểu Quốc hội tập trung thảo luận để làm rõ thêm các nội dung: Việc mở rộng phạm vi điều chỉnh của dự án luật ra khu vực ngoài nhà nước; cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập; người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập; về xử lý tài sản, thu nhập tăng thêm giải trình không hợp lý về nguồn gốc.
Mở rộng phạm vi điều chỉnh ra khu vực tư
Đa số ý kiến đại biểu phân tích về sự cần thiết và tán thành phương án mở rộng phạm vi điều chỉnh ra khu vực ngoài nhà nước. Đại biểu Phạm Văn Hòa, Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp; đại biểu Võ Đình Tín, Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Nông cho biết trên thực tế nạn tham nhũng ngoài khu vực nhà nước làm ảnh hưởng môi trường đầu tư kinh doanh, đến phát triển lành mạnh của nền kinh tế; hành vi tham nhũng ở khu vực tư là rất lớn, trục lợi đầu tư, mua chuộc quan chức đưa hối lộ. “Thời gian qua không ít doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng bị thanh tra, kiểm toán do liên quan đến đấu thầu những thầu bán tài sản, nguồn kinh phí từ các chương trình dự án của nhà nước”, đại biểu Nguyễn Ngọc Phương, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Bình cho biết thêm.
Đồng tình mở rộng phạm vi phòng chống tham nhũng ra khu vực tư, nhưng đại biểu Hoàng Văn Cường, Đoàn ĐBQH TP. Hà Nội không đồng tình với đối tượng của khu vực tư đưa vào kiểm soát là doanh nghiệp đại chúng. Vì doanh nghiệp đại chúng đã phải chịu sự kiểm soát của rất nhiều cổ đông, đồng thời doanh nghiệp này phải chịu cáo bạch trên thị trường chứng khoán. Theo ông, đối tượng cần kiểm soát chỉ nên quy định là những doanh nghiệp tư có quan hệ cung cấp mua bán tài sản, dịch vụ cho khu vực công thì phải kiểm soát tham nhũng bằng hình thức kiểm toán công khai tài chính 3 năm, năm trước, năm sau và năm có nảy sinh giao dịch, quan hệ mua bán đó.
Thanh tra Chính phủ có quá tải?
Hầu hết các ý kiến thảo luận tại Hội trường nhất trí với phương án giao Thanh tra Chính phủ và thanh tra bộ, ngành, cấp tỉnh kiểm soát tài sản, thu nhập của những người kê khai công tác tại các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan Chính phủ và chính quyền địa phương. Các cơ quan khác, các tổ chức chính trị xã hội chịu trách nhiệm kiểm soát tài sản thu nhập của người kê khai công tác trong cơ quan tổ chức mình. Đại biểu Võ Đình Tín, đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Nông đánh giá phương án này thể hiện sự tăng cường hơn tính tập trung, đồng thời khắc phục một bước việc tổ chức dàn trải quá nhiều đầu mối của cơ quan có thẩm quyền kiểm soát tài sản thu nhập như hiện nay.
Tuy nhiên, các đại biểu còn tỏ ra băn khoăn về việc giao cho Thanh tra Chính phủ kiểm soát tài sản, thu nhập của người giữ chức vụ từ Giám đốc sở và tương đương trở lên công tác tại bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương, đơn vị sự nghiệp công lập, cơ quan, tổ chức do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Đại biểu Tô Văn Tám, đoàn ĐBQH tỉnh Kon Tum đặt câu hỏi: Việc giao như vậy có quá tải với Thanh tra Chính phủ không? ông đề nghị: Thanh tra Chính phủ chỉ kiểm soát tài sản, thu nhập từ Phó Chủ tịch tỉnh trở lên. Đại biểu Trần Văn Mão, đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An góp ý: Với 63 tỉnh, thành và các cơ quan bộ ngành ở Trung ương trong bộ máy nhà nước, Thanh tra Chính phủ mà kiểm soát từ Giám đốc Sở trở lên thì sẽ trở thành hình thức.
“Cần cân nhắc việc thành lập cơ quan chuyên trách thực hiện việc kiểm soát tài sản thu nhập của các đối tượng có nghĩa vụ kê khai vì dự thảo luật đã bổ sung thẩm quyền cho cơ quan kiểm soát tài sản thu nhập về xây dựng quản lý cơ sở dữ liệu về kiểm soát tài sản thu nhập”, đại biểu Phạm Văn Hòa, đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp đề nghị.
Xử lý thu nhập tăng thêm: Khó có phương án mỹ mãn
Xử lý thu nhập tài sản tăng thêm, giải trình không hợp lý về nguồn gốc theo Điều 52 của Dự thảo luật là vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau.
Thảo luận về vấn đề này, đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm, đoàn ĐBQH TP. Hồ Chí Minh đề nghị Ban soạn thảo giải trình, làm rõ thêm cụm từ “không hợp lý” trong “thu nhập tăng thêm giải trình không hợp lý về nguồn gốc” để tránh nhận thức pháp luật khác nhau và dẫn tới thực thi pháp luật không thống nhất. Đối với tài sản bất minh, theo đại biểu Trương Trọng Nghĩa, đoàn ĐBQH TP.Hồ Chí Minh thì cần phân chia ra làm nhiều loại: Loại thứ nhất là tài sản hoàn toàn hợp pháp mà không khai báo. Loại thứ hai là tài sản có vấn đề, có thể là không đóng thuế, chỉ xử lý ở mức độ hành chính, thậm chí không đưa vào xử lý tài sản. Cũng là tài sản bất minh, có trường hợp phải chuyển Cơ quan điều tra.
Về xử lý thu nhập tăng thêm, giải trình không hợp lý về nguồn gốc, đại biểu Phạm Đình Cúc, đoàn ĐBQH tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cho rằng chỉ có Tòa án là cơ quan xét xử nhân danh nhà nước, xem xét tính hợp lý của việc giải trình mới đảm bảo khách quan, minh bạch về quyền lợi các bên trên cơ sở tài liệu chứng minh của cơ quan kiểm soát tài sản. Vì vậy, theo ông, xử lý tài sản thu nhập tăng thêm giải trình không hợp lý về nguồn gốc sẽ do Tòa án xem xét quyết định.
Cùng quan điểm này, đại biểu Ngô Trung Thành, đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk đặt vấn đề đây là các tài sản chưa xác định được đó là tài sản bất minh hình thành được từ vi phạm pháp luật, chỉ đơn giản là tài sản chưa giải trình được.Vì vậy, dù phương án 2 hay phương án 1 thì vẫn phải là Tòa án, vì chỉ có Tòa án mới đảm bảo sự minh bạch.
Cho rằng việc thu thuế thu nhập cá nhân dường như chưa có cơ sở chắc chắn khi nhận thức chỉ tạm coi đây là khoản thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai. Điều đặc biệt hơn ở đây là theo phương án này, việc thu thuế ngay khi chính người phải nộp thuế thu nhập cá nhân lại không giải trình, chứng minh được một cách hợp lý tài sản thu nhập mà họ phải chịu thuế là của họ, nên đại biểu Đỗ Văn Bình, đoàn ĐBQH TP. Hải Phòng cho rằng việc xử lý tài sản tăng thêm mà giải trình không hợp lý sẽ do Tòa án xem xét quyết định. Phương án này sẽ đảm bảo tính khách quan, dân chủ và sự minh bạch khi thực hiện thủ tục có tranh tụng công khai tại Tòa để xem xét quyết định tính hợp lý về nguồn gốc tài sản của người có nghĩa vụ kê khai.
“Không nên áp dụng quy định thuế thu nhập cá nhân đối với tài sản không giải trình rõ nguồn gốc hoặc giải trình chưa hợp lý…” đại biểu Vũ Thị Lưu Mai, đoàn ĐBQH TP. Hà Nội góp ý như vậy khi chỉ ra các lý do sau: Chưa thực sự phù hợp với bản chất thuế và chưa đảm bảo tính công bằng; căn cứ để tính thuế chưa thực sự vững chắc; với giao dịch tiền mặt còn đang phổ biến hiện nay, cơ sở dữ liệu chưa ổn định thì việc khẳng định nguồn gốc tài sản không hợp lý cũng chưa vững chắc và sẽ đối mặt với rất nhiều khó khăn trong tổ chức thực hiện.
Theo đại biểu Võ Đình Tín, đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Nông: Tòa án sẽ ra quyết định thu hồi tài sản tăng thêm cho Nhà nước nếu người có nghĩa vụ kê khai không giải trình hợp lý về nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm của mình. Song, trước khi chuyển cho Tòa án cần phải chuyển cho cơ quan điều tra làm rõ căn cứ pháp lý để tòa án phán quyết chính xác.
Không đồng tình với phương án xử lý tài sản thông qua thủ tục xem xét, giải quyết tại Tòa án, đại biểu Nguyễn Ngọc Phương, đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Bình lý giải: Bởi vì Thanh tra, Kiểm toán, Cơ quan điều tra mà không chứng minh được tài sản thu nhập do vi phạm pháp luật mà có thì không thể có chứng cứ, không có cơ sở pháp lý để quy tội và không thể chuyển cho Tòa án xét xử. Không chứng minh được vi phạm mà thu hồi thì khó thực thi.
Chọn phương án thu thuế thu nhập cá nhân, đại biểu Phạm Văn Hòa, đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp nói thêm, việc thu thuế cũng không loại trừ xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự và tịch thu tài sản của người có nghĩa vụ kê khai, nếu sau đó Nhà nước chứng minh được tài sản này do vi phạm pháp luật mà có. Ông cũng tỏ ra băn khoăn, nếu thông qua Tòa án thì thực tế cho thấy thủ tục, quy trình xử lý qua Tòa án khó có thể tiến hành nhanh chóng vì có thể đối tượng khởi kiện ra Tòa án cao hơn. Đại biểu Tô Văn Tám, đoàn ĐBQH tỉnh Kon Tum nhận định nếu thông qua Tòa án, thì Tòa phải chứng minh xem người kê khai đúng hay cơ quan quản lý tài sản đúng, việc chứng minh này là không đơn giản và nếu giao cho Tòa án một nhiệm vụ nữa thì liệu có quá tải không?
Thể hiện quan điểm của mình, theo đại biểu Hoàng Văn Cường, đoàn ĐBQH TP. Hà Nội  thì tài sản không kê khai tức là cố tình che giấu, phải xử lý thật nghiêm khắc, thậm chí là tịch thu và xử lý kể cả về mặt hành chính. Đối với tài sản kê khai không chứng minh được nguồn gốc mà có nghi ngờ thì phải chuyển tài sản đó cho Cơ quan điều tra để điều tra dấu hiệu bất minh đó. Còn trường hợp cơ quan quản lý không phát hiện ra dấu hiệu bất minh thì chuyển qua cơ quan thuế để thu thuế.
Theo ý kiến của đại biểu Nguyễn Thanh Hồng, đoàn ĐBQH tỉnh Bình Dương, phải dùng giải pháp kinh tế để xử lý những vấn đề kinh tế. Nếu tài sản chưa hợp pháp thì chưa thể thu thuế và xử lý vấn đề tài sản phải có lộ trình. Bà đề nghị lộ trình đến năm 2025 và có phân loại từng loại tài sản để xử lý.
Đại biểu Lưu Bình Nhưỡng, đoàn ĐBQH tỉnh Bến Tre đề nghị vẫn giữ vấn đề thu tài sản tham nhũng theo quy định hiện hành, vì đã là tài sản có nghi vấn thì dứt khoát phải đưa vào quá trình điều tra và nếu là tài sản tham nhũng là phải tịch thu.
Phát biểu kết luận thảo luận, bà Lê Thị Nga, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội nhận định xử lý tài sản là vấn đề nóng nhất hiện nay. Tuy nhiên, tài sản tăng thêm, giải trình không hợp lý về nguồn gốc không phải là loại tài sản tham nhũng, vì nếu đã là tài sản tham nhũng thì trách nhiệm là của Cơ quan điều tra và đã là tài sản tham nhũng phải xử lý và tịch thu.
Tài sản được đề cập ở đây là loại tài sản chưa chứng minh được. Thứ nhất là, cơ quan có trách nhiệm chưa chứng minh được đó là tài sản tham nhũng. Thứ hai là, người có tài sản cũng không giải trình được hợp lý tài sản tăng thêm đó có nguồn gốc từ đâu.
Đối với hành vi kê khai không trung thực và hành vi giải trình nguồn gốc tăng thêm không trung thực thì hiện xử lý theo Điều 52 Luật Phòng chống tham nhũng hiện hành và Điều 29 Nghị định 78 năm 2013 về minh bạch tài sản. Đối với những người kê khai tài sản không trung thực thì xóa tên khỏi danh sách đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và danh sách ứng cử, không bổ nhiệm, không phê chuẩn vào chức vụ dự kiến sẽ bổ nhiệm phê chuẩn, xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chứcnhà nước theo quy định của pháp luật.
Theo Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội, không có một phương án nào là mỹ mãn hoàn toàn, có thể đáp ứng được tất cả mọi yêu cầu, mỗi phương án đều có những ưu điểm và nhược điểm. Phương án ưu việt hơn như đánh giá của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là giải quyết qua Tòa án theo thủ tục xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại tòa.
(Tổng hợp theo Biên bản ghi âm buổi sáng ngày 25/10/2018: Thảo luận ở Hội trường về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) – Cổng thông tin điện tử Quốc hội).

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Bộ luật hình sự 2015

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tương ứng Điều 139 BLHS 1999.
 

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g) (được bãi bỏ)
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) (được bãi bỏ)
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b)(được bãi bỏ)
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

 
Bình luận Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Bộ luật hình sự 2015

1. Khái niệm

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành  vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhằm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó.

2. Các yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

2.2. Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
a) Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản.

  • Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra các thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là sự thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa rra các thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói hay chữ viết (viết thư), bằng hành động… (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.
  • Chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối.

Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn như dùng thủ đoạn cân, đong, do đếm gian dối chỉ nhằm ăn gian, bớt hàng hóa của khách hành hoặc để bán hành giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.
Lưu ý: Thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định kể từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khu dùng thủ đoạn gian dối để làm cho chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa giao tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phản nhận.

  • Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hàng vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), tùy từng trường hợp cụ thể mà người mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự.
  • Trường hợp hành vi gian dối, hay hành vi chiếm đoạt cấu thành vào một tội danh độc lập khác, thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà bị truy cứu về những tội danh tương ứng đó.

b) Dấu hiệu khác, có một trong các dấu hiệu sau đây:

  • Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên (Ví dụ; Gia đình bị hại chỉ có 01 chiếc xe gắn máy duy nhất và dùng để hành nghề xe ôm tạo thu nhập cho gia đình);
  • Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc vào các trường hợp: gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản được quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175, 290 chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.
  • Gây ảnh hướng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
  • Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
  • Tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần với người bị hại.

2.2. Khách thể

Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.

2.3. Mặt khách quan

Người phạm tội nêu trên thực hiện hành vi này với lỗi cố ý.
Tuy nhiên cần lưu ý:
Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt với dấu hiệu của tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản. Vì trong một số trường hợp cách thức thực hiện tội phạm giống nhau về hình thức nhưng trong trường hợp phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định.
Ý thức chiếm đoạt phải có trước khi có thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội. Nếu sau khi có được tài sản hợp pháp mới phát sinh thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì không coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng. (Như phạm tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản).

2.4. Chủ thể

Chủ thể của tội này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

3. Về hình phạt của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Mức hình phạt của tội này được chia làm 04 khung, cụ thể như sau:
a) Khung một (khoản 1)
Có mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
a) Khung hai (khoản 2)
Có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
a) Khung ba (khoản 3)
Có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
a) Khung bốn (khoản 4)
Có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

4. Hình phạt bổ sung

Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình phạt chính nêu trên, tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn) 

Pháp luật về xử phạt VPHC trong hoạt động công chứng – một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Đặt vấn đề

Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã được Chính phủ ban hành ngày 24/9/2013 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015 của Chính phủ). Trong thời gian qua, việc triển khai thi hành Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) đã góp phần xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm hành chính, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp. Tuy nhiên, sau 05 năm thực hiện, bên cạnh những kết quả đạt được, Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) đã bộc lộ một số vướng mắc, bất cập, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thực tiễn, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung. Hiện tại, Bộ Tư pháp đang chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định thay thế Nghị định số 110/2013/NĐ-CP và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP[1]. Bên cạnh đó, đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính cũng đã được Bộ Tư pháp xây dựng và tiến hành thẩm định[2]. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung nêu những vướng mắc, bất cập chủ yếu lên quan đến nội dung quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng tại Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật XLVPHC), Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP), từ đó đề xuất, kiến nghị hướng xử lý nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng.

1. Một số quy định tại Luật XLVPHC và Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) chưa phù hợp thực tế

1.1. Về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng
Điểm a khoản 1 Điều 6 Luật XLVPHC quy định:
“Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp sau:
Vi phạm hành chính về kế toán; thủ tục thuế; phí, lệ phí; kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, hải sản; quản lý rừng, lâm sản; điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; thăm dò, khai thác dầu khí và các loại khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng lượng nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý lao động ngoài nước thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm.
Vi phạm hành chính là hành vi trốn thuế, gian lận thuế, nộp chậm tiền thuế, khai thiếu nghĩa vụ thuế thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về thuế”.
Từ quy định nêu trên, có thể thấy, tùy thuộc vào đặc thù của từng lĩnh vực quản lý nhà nước, nhà làm luật quy định các loại thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính khác nhau, cụ thể là:
– Đối với các hành vi vi phạm hành chính trong hầu hết các lĩnh vực quản lý nhà nước (trong đó có lĩnh vực bổ trợ tư pháp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 24 Luật XLVPHC), thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm.
– Đối với một số lĩnh vực đặc thù thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm (chẳng hạn như: Lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; đất đai…).
– Riêng vi phạm hành chính là hành vi trốn thuế, gian lận thuế, nộp chậm tiền thuế, khai thiếu nghĩa vụ thuế thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về thuế[3].
Theo quy định tại điểm a khoản 20 Nghị định số 96/2017/NĐ-CP ngày 16/8/2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp thì công chứng là một trong những hoạt động thuộc lĩnh vực bổ trợ tư pháp.
Như vậy, theo các quy định pháp luật hiện hành thì các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng chỉ có thời hiệu xử phạt là 01 năm.
Qua thực tiễn xử phạt vi phạm hành chính thấy rằng, quy định thời hiệu xử phạt là 01 năm đối với hoạt động công chứng chưa thực sự hợp lý. Bởi vì, hoạt động công chứng có một đặc thù, đó là, việc tranh chấp, khiếu nại đối với các hợp đồng, giao dịch không xảy ra ngay tại thời điểm công chứng mà thường xảy ra sau một khoảng thời gian khá dài, kể từ thời điểm công chứng, đặc biệt là các giao dịch liên quan đến di chúc, thừa kế di sản. Có những vụ việc công chứng phải hơn 01 năm kể từ ngày công chứng mới phát sinh khiếu nại và khi xác minh, kết luận có sai sót thì cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt không thể tiến hành việc xử phạt vì đã quá thời hiệu 01 năm. Do vậy, để bảo đảm xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng, tác giả cho rằng, cần nghiên cứu quy định về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng theo một trong hai hướng:
Một là, sửa đổi, bổ sung đoạn 1 điểm a khoản 1 Điều 6 Luật XLVPHC để quy định thời hiệu xử phạt đối với hoạt động công chứng là 02 năm.
Hai là, sửa đổi, bổ sung đoạn 2 điểm a khoản 1 Điều 6 Luật XLVPHC để dẫn chiếu quy định thời hiệu xử phạt đối với hoạt động công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng; đồng thời sửa đổi, bổ sung Luật công chứng năm 2014 để quy định thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về công chứng, tương tự như cách quy định của Luật quản lý thuế năm 2006 (được sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014, 2016) như đã nêu trên.
1.2. Về mức phạt tiền đối với một số hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng 
Thứ nhất, tính chất, mức độ vi phạm cũng như mức độ xâm hại trật tự quản lý hành chính nhà nước giữa các hành vi trong cùng một khung tiền phạt tại Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) chưa có sự tương đồng. Chẳng hạn như khoản 1 Điều 14 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) quy định mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: Công chứng ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng không đúng quy định tại Điều 44 của Luật công chứng; công chứng không đúng thời hạn quy định; sửa lỗi kỹ thuật văn bản công chứng không đúng quy định; sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng; từ chối yêu cầu công chứng mà không có lý do chính đáng; không đeo thẻ công chứng viên khi tiếp người yêu cầu công chứng hoặc chứng thực. Tuy nhiên, tính chất, mức độ vi phạm cũng như mức độ xâm hại trật tự quản lý hành chính nhà nước của các hành vi nêu trên không hoàn toàn giống nhau nên việc quy định chung một khung phạt tiền đối với các hành vi này là không hợp lý, cụ thể là: Hành vi không đeo thẻ công chứng viên khi tiếp người yêu cầu công chứng hoặc chứng thực, xét về tính chất, mức độ vi phạm, mức độ xâm hại trật tự quản lý hành chính nhà nước không thể nghiêm trọng bằng hành vi công chứng ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng không đúng quy định hay hành vi sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng.
Thứ hai, mức phạt đối với một số hành vi vi phạm hành chính tại Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) quá nhẹ, chưa tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm, mức độ xâm hại trật tự quản lý hành chính nhà nước, chưa bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa, đặc biệt là các hành vi diễn ra một cách phổ biến trên thực tế sau đây:
– Hành vi “công chứng ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng không đúng quy định tại Điều 44 của Luật công chứng” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 14 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP): Chỉ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng mà không bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung hay biện pháp khắc phục hậu quả nào.
– Hành vi “không chứng kiến việc người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch ký hoặc điểm chỉ vào hợp đồng, giao dịch” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 14 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP): Đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng về trình tự, thủ tục công chứng nhưng chỉ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng mà không bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung hay biện pháp khắc phục hậu quả nào.
– Hành vi “mở chi nhánh, văn phòng đại diện, cơ sở, địa điểm giao dịch khác ngoài trụ sở tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngoài phạm vi hoạt động đã đăng ký” quy định tại điểm c khoản 4 Điều 15 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP): Chỉ bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được.
Theo quy định tại điểm a và điểm c khoản 2 Điều 2, điểm b khoản 3 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính thì việc quy định hình thức xử phạt, mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm hành chính phải căn cứ vào các yếu tố như: “Tính chất, mức độ xâm hại trật tự quản lý hành chính nhà nước của hành vi vi phạm”; “mức độ giáo dục, răn đe” của việc áp dụng hình thức, mức phạt…; việc quy định biện pháp khắc phục hậu quả phải “đáp ứng yêu cầu khôi phục lại trật tự quản lý hành chính nhà nước do vi phạm hành chính gây ra”. Do vậy, tác giả đề nghị trong quá trình xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số 110/2013/NĐ-CP và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP, Bộ Tư pháp cần nghiên cứu, báo cáo Chính phủ quy định hình thức, mức phạt tiền và biện pháp khắc phục hậu quả phù hợp đối với các hành vi vi phạm nêu trên nhằm bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa.

2. Một số quy định tại Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) chưa cụ thể, rõ ràng, dẫn đến các cách hiểu và áp dụng khác nhau

2.1. Về việc công chứng ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng
Điểm a khoản 1 Điều 14 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi “công chứng ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng không đúng quy định tại Điều 44 của Luật công chứng”.
Khoản 2 Điều 44 của Luật công chứng quy định: “Việc công chứng có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng trong trường hợp người yêu cầu công chứng là người già yếu, không thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng”.
Mặc dù Điều 44 của Luật công chứng nêu rõ những trường hợp được thực hiện công chứng ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng trên thực tế, quy định này vẫn còn vướng mắc do chưa có văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn cụ thể những trường hợp nào được coi là “có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng” nên đã tạo “kẽ hở” để một số công chứng viên lợi dụng, thực hiện việc công chứng ngoài trụ sở trái quy định pháp luật, dẫn đến việc “công chứng dạo”, làm méo mó hình ảnh của công chứng viên như phản ánh trên một số phương tiện thông tin đại chúng thời gian qua. Do quy định pháp luật chưa chặt chẽ, cụ thể nên thậm chí, hiện nay, rất phổ biến tình trạng công chứng viên thực hiện việc công chứng ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng đối với tất cả những trường hợp khách hàng có nhu cầu, ví dụ như: Trường hợp người yêu cầu công chứng mặc dù có đầy đủ điều kiện đến trụ sở tổ chức hành nghề công chứng giao kết hợp đồng, giao dịch nhưng vẫn yêu cầu công chứng viên thực hiện việc công chứng ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng (vì họ cho rằng, họ là khách hàng, họ có khả năng, điều kiện kinh tế và có nhu cầu thuê “dịch vụ về nhà công chứng” thì có quyền thỏa thuận với tổ chức hành nghề công chứng về việc này, đó là nhu cầu hết sức chính đáng nếu coi công chứng là một loại hình dịch vụ); trường hợp giao kết hợp đồng thế chấp tại các tổ chức tín dụng (các tổ chức hành nghề công chứng ký kết hợp đồng dịch vụ với tổ chức tín dụng và bố trí công chứng viên thường xuyên túc trực tại trụ sở của tổ chức tín dụng để thực hiện việc công chứng hợp đồng thế chấp, cầm cố…); trường hợp các bên trong hợp đồng, giao dịch muốn công chứng tại trụ sở của tổ chức tín dụng để thuận tiện cho việc ký kết, giao, nhận tiền… Đối với những trường hợp này, trên thực tế rất khó xác định lý do chính đáng nên người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính không thể tiến hành xử phạt. Do vậy, tác giả đề nghị Bộ Tư pháp nghiên cứu, sửa đổi bổ sung điểm a khoản 1 Điều 14 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) theo hướng quy định cụ thể những trường hợp nào được coi là “có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng” để tạo điều kiện thuận lợi cho người có thẩm quyền xử phạt khi áp dụng pháp luật.
2.2. Về việc miễn nhiệm đối với công chứng viên thực hiện hành vi “kiêm nhiệm công việc thường xuyên khác”
Điểm g khoản 2 Điều 14 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) quy định xử phạt đối với hành vi “đồng thời hành nghề tại hai tổ chức hành nghề công chứng trở lên hoặc kiêm nhiệm công việc thường xuyên khác”; điểm h khoản 2 Điều 14 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) quy định xử phạt đối với hành vi “tham gia quản lý doanh nghiệp ngoài tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện hoạt động môi giới, đại lý…”. Trên thực tế thường xảy ra trường hợp công chứng viên đang hành nghề tại một tổ chức hành nghề công chứng nhưng vẫn tham gia quản lý, điều hành một doanh nghiệp khác ngoài tổ chức hành nghề công chứng. Khi xử lý đối với hành vi này đã có những quan điểm trái chiều: (i) Có quan điểm cho rằng, phải xử phạt về hành vi “kiêm nhiệm công việc thường xuyên khác” và tiến hành việc miễn nhiệm đối với công chứng viên sau khi xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 15 Luật công chứng[4]; (ii) Quan điểm khác cho rằng, phải xử phạt về hành vi “tham gia quản lý doanh nghiệp ngoài tổ chức hành nghề công chứng…” (chỉ xử phạt, không tiến hành việc miễn nhiệm đối với công chứng viên sau khi xử phạt vi phạm hành chính theo điểm c khoản 2 Điều 15 Luật công chứng).
Do vậy, để bảo đảm sự minh bạch, rõ ràng, tác giả cho rằng, cần bỏ hành vi “tham gia quản lý doanh nghiệp ngoài tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện hoạt động môi giới, đại lý” tại điểm h khoản 2 Điều 14 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP), vì thực chất, đây cũng là hành vi “kiêm nhiệm công việc thường xuyên khác” hoặc chỉnh sửa điểm g khoản 2 Điều 14 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) theo hướng loại trừ hành vi vi phạm “tham gia quản lý doanh nghiệp ngoài tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện hoạt động môi giới, đại lý” tại điểm h khoản 2 Điều 14 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP). Theo đó, điểm g khoản 2 Điều 14 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) có thể được chỉnh sửa như sau:
“h) Đồng thời hành nghề tại hai tổ chức hành nghề công chứng trở lên hoặc kiêm nhiệm công việc thường xuyên khác, trừ hành vi tham gia quản lý doanh nghiệp ngoài tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện hoạt động môi giới, đại lý quy định tại điểm h khoản 2 Điều này”.
2.3. Việc xác định hành vi vi phạm của công chứng viên trong trường hợp văn bản công chứng thiếu chữ ký của các bên liên quan
Điểm b khoản 2 Điều 14 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) quy định hành vi “công chứng hợp đồng, giao dịch mà thiếu chữ ký của công chứng viên, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của người yêu cầu công chứng vào từng trang của hợp đồng, giao dịch; công chứng bản dịch mà thiếu chữ ký của công chứng viên, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của người dịch vào từng trang của bản dịch”. Quy định này chưa thực sự rõ ràng nên thường dẫn đến những cách hiểu và áp dụng khác nhau trên thực tế:
Cách hiểu và áp dụng thứ nhất, hợp đồng, giao dịch phải thiếu cả chữ ký của công chứng viên và chữ ký (dấu điểm chỉ) của người yêu cầu công chứng vào từng trang hợp đồng, giao dịch; bản dịch phải thiếu cả chữ ký của công chứng viên và chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của người dịch vào từng trang của bản dịch thì mới bị coi là vi phạm.
Cách hiểu và áp dụng thứ hai, hợp đồng, giao dịch chỉ cần thiếu chữ ký của công chứng viên hoặc chữ ký (dấu điểm chỉ) của người yêu cầu công chứng vào từng trang hợp đồng, giao dịch; bản dịch chỉ cần thiếu chữ ký của công chứng viên hoặc chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của người dịch vào từng trang của bản dịch thì đã bị coi là vi phạm.
Tác giả tán thành với cách hiểu và áp dụng thứ hai, chỉ cần một trong hai lỗi (hoặc thiếu chữ ký của công chứng viên, hoặc thiếu chữ ký (dấu điểm chỉ) của người yêu cầu công chứng vào từng trang hợp đồng, giao dịch; hoặc thiếu chữ ký của công chứng viên, hoặc thiếu chữ ký (dấu điểm chỉ) của người dịch vào từng trang của bản dịch) là có thể xử phạt, không nhất thiết phải “chờ đợi” công chứng viên thực hiện đủ 02 lỗi nêu trên. Do vậy, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 2 Điều 14 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) như sau:
“b) Công chứng hợp đồng, giao dịch mà thiếu chữ ký của công chứng viên hoặc chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của người yêu cầu công chứng vào từng trang của hợp đồng, giao dịch; công chứng bản dịch mà thiếu chữ ký của công chứng viên hoặc chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của người dịch vào từng trang của bản dịch”.

3. Một số hành vi diễn ra phổ biến trong thực tế nhưng chưa được quy định là hành vi vi phạm hành chính và chế tài xử lý

Theo quy định tại Điều 4 Luật XLVPHC thì “căn cứ quy định của Luật này, Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính”.
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP thì một trong những căn cứ để quy định hành vi vi phạm hành chính là phải “có vi phạm các quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm, điều cấm của pháp luật về trật tự quản lý hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước”. Điều này có nghĩa là, các quy định về hành vi vi phạm hành chính tại Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng đều phải xuất phát từ các văn bản quy phạm pháp luật về nội dung, quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm, điều cấm của pháp luật liên quan đến trật tự quản lý hành chính trong quản lý nhà nước về hoạt động công chứng. Hay nói một cách khác, trên cơ sở những văn bản quy phạm pháp luật quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm, điều cấm của pháp luật liên quan đến trật tự quản lý hành chính trong quản lý nhà nước về hoạt động công chứng (văn bản quy phạm pháp luật về nội dung), Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng phải cụ thể hóa thành hành vi vi phạm hành chính và các chế tài xử phạt (hình thức xử phạt, mức phạt và biện pháp khắc phục hậu quả) đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng theo quy định tại Điều 4 Luật XLVPHC.
Tuy nhiên, qua thực tiễn và rà soát nội dung Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) thấy rằng, nhiều hành vi vi phạm diễn ra phổ biến nhưng chưa được quy định là hành vi vi phạm hành chính và chế tài xử lý, có thể dẫn ra một số hành vi sau đây:
3.1. Hành vi công chứng hợp đồng, giao dịch khi không có người làm chứng trong trường hợp pháp luật quy định bắt buộc phải có người làm chứng
Tại khoản 2 Điều 47 Luật công chứng quy định: “ Trường hợp người yêu cầu công chứng không đọc được, không nghe được, không ký, điểm chỉ được hoặc trong những trường hợp khác do pháp luật quy định thì việc công chứng phải có người làm chứng”. Tuy nhiên, Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) chưa quy định xử phạt đối với hành vi này nên trên thực tế khi thanh tra, kiểm tra, phát hiện có sai phạm thì không có căn cứ để xử phạt vi phạm hành chính. Do vậy, tác giả cho rằng, cần nghiên cứu, bổ sung hành vi này vào Nghị định thay thế Nghị định số 110/2013/NĐ-CP và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP để có căn cứ xử phạt, tránh bỏ lọt hành vi vi phạm.
3.2. Hành vi công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản mà có nội dung cho phép người thừa kế được chuyển nhượng di sản thừa kế
Khoản 1 Điều 57 Luật công chứng quy định:
“Những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc mà trong di chúc không xác định rõ phần di sản được hưởng của từng người thì có quyền yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản. 
Trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản, người được hưởng di sản có thể tặng cho toàn bộ hoặc một phần di sản mà mình được hưởng cho người thừa kế khác”.
Căn cứ quy định pháp luật nêu trên, có thể thấy, nội dung cơ bản, chủ yếu, không thể thiếu trong mọi văn bản thỏa thuận phân chia di sản đó là, nội dung liên quan đến xác định phần di sản của từng người thừa kế. Trong một số trường hợp, văn bản thỏa thuận phân chia di sản có thể chứa đựng cả nội dung liên quan đến chuyển dịch quyền sở hữu đối với phần di sản mà người thừa kế được hưởng. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản, đồng thời với việc xác định phần di sản của từng người thừa kế, khoản 1 Điều 57 Luật công chứng chỉ cho phép người được hưởng thừa kế được thực một giao dịch duy nhất liên quan đến chuyển dịch quyền sở hữu đối với phần di sản mà họ được hưởng: Giao dịch tặng cho di sản thừa kế. Việc tặng cho di sản thừa kế này cũng chỉ được giới hạn trong phạm vi các đồng thừa kế. Điều này có nghĩa là, tại thời điểm thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, người hưởng di sản thừa kế chỉ được tặng cho phần di sản thừa kế mà mình được hưởng (không được thực hiện các giao dịch khác như: Mua bán, chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp…) và đối tượng nhận tặng cho chỉ giới hạn trong phạm vi những người thừa kế còn lại (không được tặng cho người không phải là người đồng thừa kế).
Tuy nhiên, trên thực tế, có nhiều trường hợp công chứng viên công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nhưng trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có cả nội dung liên quan đến việc người thừa kế di sản chuyển nhượng phần di sản được hưởng cho người khác. Một ví dụ như sau: Một gia đình có 03 người con, được hưởng di sản thừa kế từ bố, mẹ là một mảnh đất có diện tích 600m2. Một trong số 03 người con có mong muốn bán phần đất (200m2) mà mình được chia thừa kế sau khi thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.
Nếu theo đúng quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 57 Luật công chứng[5] thì công chứng viên công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản giữa 03 người được hưởng di sản, trong đó xác định rõ diện tích đất của mỗi người được hưởng. Trên cơ sở văn bản thỏa thuận phân chia si sản thừa kế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện đăng ký việc chuyển quyền sử dụng đất cho mỗi người được hưởng di sản. Chỉ sau khi được “đứng tên” trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, người được hưởng di sản thừa kế lúc này mới được thực hiện quyền chuyển nhượng phần đất được thừa kế đó cho người khác.
Tuy nhiên, để nhanh chóng thực hiện việc chuyển nhượng đối với phần đất được chia thừa kế, trong thực tế, đối với trường hợp này, công chứng viên lách luật, tự “cắt bớt thủ tục”, “làm tắt”, đưa luôn nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện đăng ký việc chuyển quyền sử dụng đất thẳng cho người có nhu cầu nhận chuyển nhượng. Hành vi này của công chứng viên là không phù hợp với quy định của Luật công chứng nhưng hiện nay chưa được Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) quy định là hành vi vi phạm, chưa có chế tài xử lý. Do vậy, theo tác giả, cần nghiên cứu, bổ sung hành vi “công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản mà có nội dung cho phép người thừa kế được thực hiện các giao dịch khác liên quan đến việc định đoạt đối với di sản thừa kế, ngoài giao dịch tặng cho toàn bộ hoặc một phần di sản mà mình được hưởng cho người thừa kế khác” vào dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 110/2013/NĐ-CP và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP.
3.3. Hành vi trả tiền hoa hồng, chiết khấu cho người yêu cầu công chứng hoặc người môi giới
Khoản 9 Điều 9 Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng ban hành kèm Thông tư số 11/2012/TT-BTP ngày 30/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định một trong những công việc công chứng viên không được làm đó là: “Trả tiền hoa hồng, chiết khấu cho người yêu cầu công chứng hoặc người môi giới”.
Từ khi Nhà nước có chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng, cùng với sự ra đời của hàng loạt Văn phòng công chứng trên cả nước, đặc biệt là tại các thành phố lớn thì sự cạnh tranh giữa các tổ chức hành nghề công chứng cũng diễn ra ngày càng mạnh mẽ để lôi kéo khách hàng (người yêu cầu công chứng). Có thể kể đến một số hành vi mang tính cạnh tranh không lành mạnh như: Trích lại phần trăm (%) tiền phí, thù lao công chứng, chi phí khác thu được cho các tổ chức tín dụng, nhân viên của tổ chức tín dụng trực tiếp đưa khách hàng đến ký kết hợp đồng, giao dịch (thế chấp, cầm cố…) tại tổ chức hành nghề công chứng; trích lại phần trăm (%) tiền phí, thù lao công chứng, chi phí khác thu được cho những người môi giới (ví dụ: môi giới bất động sản) khi những người này đưa khách hàng đến ký kết hợp đồng, giao dịch (mua bán, chuyển nhượng bất động sản…) tại tổ chức hành nghề công chứng… Mức phần trăm (%) trích lại khoảng từ 10 – 30% tiền phí, thù lao công chứng, chi phí khác tùy theo thỏa thuận giữa công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng với tổ chức tín dụng, nhân viên tổ chức tín dụng hoặc người môi giới. Chính vì số tiền phần trăm (%) này mà các tổ chức tín dụng thường ép khách hàng là người vay vốn phải lựa chọn tổ chức hành nghề công chứng đã “liên danh, liên kết” với tổ chức tín dụng mà không được lựa chọn tổ chức hành nghề công chứng nào khác. Sai phạm nêu trên diễn ra chủ yếu ở các Văn phòng công chứng và công chứng viên của các Văn phòng công chứng này. Điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín và sự phát triển lành mạnh của hoạt động công chứng[6].
Tuy nhiên, hiện nay, Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) chưa quy định hành vi này là hành vi vi phạm hành chính nên mặc dù phát hiện trên thực tế cũng không có cơ sở pháp lý để tiến hành xử phạt. Do đó, theo tác giả cần nghiên cứu, bổ sung vào Nghị định thay thế Nghị định số 110/2013/NĐ-CP và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP hành vi của công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng: “Trả tiền hoa hồng, chiết khấu cho người yêu cầu công chứng hoặc người môi giới để ép buộc người yêu cầu công chứng phải ký kết hợp đồng, giao dịch tại tổ chức hành nghề công chứng của mình”.
3.4. Hành vi chứng thực bản sao nhưng không kiểm tra bản chính, đối chiếu với bản sao 
Theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch thì “Người thực hiện chứng thực chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản sao đúng với bản chính” và quy định tại khoản 3 Điều 20 Nghị định số 23/2015/NĐ thì người thực hiện chứng thực bản sao từ bản chính có trách nhiệm phải “kiểm tra bản chính, đối chiếu với bản sao”. Tuy nhiên, hiện nay, Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) không có quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi của công chứng viên chứng thực bản sao từ bản chính nhưng không thực hiện việc kiểm tra bản chính, đối chiếu với bản sao. Do vậy, cần thiết phải nghiên cứu, bổ sung hành vi này trong quá trình nghiên cứu, xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số 110/2013/NĐ-CP và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP.
3.5. Hành vi vi phạm của Hội công chứng viên
Triển khai thực hiện Đề án thành lập Hiệp hội công chứng viên Việt Nam (theo Quyết định số 132/QĐ-TTg ngày 02/02/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án thành lập Hiệp hội công chứng viên Việt Nam), đến nay, trên cả nước đã có khoảng hơn 40 Hội công chứng viên của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được thành lập, đi vào hoạt động[7]. Tuy nhiên, việc xử lý đối với các hành vi vi phạm của Hội công chứng viên các địa phương chưa được thực hiện, vì Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) chưa có quy định về hành vi vi phạm hành chính của các tổ chức này, mặc dù theo quy định tại Điều 26 Nghị định số 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật công chứng, các Hội công chứng viên phải thực hiện một số nhiệm vụ, trách nhiệm theo quy định pháp luật.
Hiện nay, Điều 15a Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) về hành vi vi phạm của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên mới chỉ quy định hành vi vi phạm hành chính của Hiệp hội công chứng viên Việt Nam. Do vậy, để bảo đảm mọi hành vi vi phạm hành chính phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh, tác giả kiến nghị nghiên cứu, bổ sung quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với Hội công chứng viên các địa phương trên cơ sở quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của các tổ chức này đã được quy định tại Điều 26 Nghị định số 29/2015/NĐ-CP như đã nêu trên.

Lời kết

Xây dựng, hoàn thiện pháp luật về công chứng (trong đó có pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng) và tổ chức thực hiện pháp luật về công chứng (trong đó có xử phạt vi phạm hành chính đối với những hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng) là những nội dung hoạt động quan trọng của quản lý nhà nước về công chứng. Có thể nói, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng phụ thuộc rất lớn vào hai yếu tố nêu trên. Việc nghiên cứu, chỉ ra những vướng mắc, bất cập và đề xuất, kiến nghị phục vụ cho xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC, Nghị định thay thế Nghị định số 110/2013/NĐ-CP và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP nhằm khắc phục những vướng mắc, bất cập về mặt thể chế cũng như tổ chức thực hiện pháp luật về công chứng là hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện nay, khẳng định hơn nữa vai trò của thiết chế công chứng trong việc bảo đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch dân sự – kinh tế, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của đất nước./.

Nguyễn Hoàng Việt
Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
  2. Luật công chứng năm 2014.
  3. Luật quản lý thuế năm 2006.
  4. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế năm 2012.
  5. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế năm 2014.
  6. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế năm 2016.
  7. Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã ngày 24/9/2013 của Chính phủ.
  8. Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
  9. Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính.
  10. Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính.
  11. Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch.
  12. Nghị định số 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật công chứng.
  13. Nghị định số 96/2017/NĐ-CP ngày 16/8/2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp.
  14. Thông tư số 11/2012/TT-BTP ngày 30/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng.
  15. Dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (thay thế Nghị định số 110/2013/NĐ-CP và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp, địa chỉ: http://moj.gov.vn/dtvb/pages/chi-tiet.aspx?itemid=480.
  16. Báo cáo thẩm định đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính số 238/BC-BTP ngày 21/9/2018 của Bộ Tư pháp.
  17.  Luận văn Thạc sỹ Luật học, Quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng, Nguyễn Hoàng Việt (2014).
  18. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong hoạt động công chứng, truy cập ngày 07/10/2018 tại địa chỉ: http://dangcongsan.vn/phap-luat/xu-ly-nghiem-cac-hanh-vi-vi-pham-trong-hoat-dong-cong-chung-490787.html, Thu Hằng thực hiện ngày 18/7/20.

[1] Xem dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (thay thế Nghị định số 110/2013/NĐ-CP và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp, địa chỉ: http://moj.gov.vn/dtvb/pages/chi-tiet.aspx?itemid=480.
[2] Báo cáo thẩm định đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính số 238/BC-BTP ngày 21/9/2018 của Bộ Tư pháp.
[3] Khoản 2 Điều 110 Luật quản lý thuế năm 2006 (được sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014, 2016) quy định: “Đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn, thời hiệu xử phạt là năm năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm”.
[4] Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 15 Luật công chứng thì một trong những trường hợp công chứng viên bị xem xét bị miễn nhiệm đó là: “Kiêm nhiệm công việc thường xuyên khác”
[5] Khoản 4 Điều 57 Luật công chứng quy định: “ Văn bản thỏa thuận phân chia di sản đã được công chứng là một trong các căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản”.
[6] Nguyễn Hoàng Việt (2014), Quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng, Luận văn Thạc sỹ Luật học.
[7] Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong hoạt động công chứng, truy cập ngày 07/10/2018 tại địa chỉ: http://dangcongsan.vn/phap-luat/xu-ly-nghiem-cac-hanh-vi-vi-pham-trong-hoat-dong-cong-chung-490787.html, Thu Hằng thực hiện ngày 18/7/2018.
Tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác tại BLHS 2015

Tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tương ứng với Điều 104 Tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác người BLHS 1999.
 

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
đ) Có tổ chức;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
i) Có tính chất côn đồ;
k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Làm chết 02 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

 
Bình luận Tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác tại BLHS 2015
Điều luật quy định hai tội phạm gồm:

  • Tội cố ý gây thương tích
  • Tội cố ý gây tổn hại cho sức khỏe người khác

1. Khái niệm

a) Cố ý gây thương tích được hiểu là hành vi dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác gây tổn thương cơ thể của người khác (như chém đứt tay, đánh gãy xương).
b) Cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn tác động lên cơ thể nạn nhân dẫn đến làm mất hoặc giảm chức năng của các bộ phận (cơ quan) trên cơ thể của họ (như cho uống thuốc độc,  tạt axit vào người nạn nhân…).

2. Các yếu tố cấu thành Tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác

2.1. Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội phạm này có các dấu hiệu sau:
a) Về hành vi:

  • Đối  với tội cố ý gây thương tích. Được thể hiện qua hành vi dùng vũ lực (có sử dụng hung khí hoặc không sử dụng hung khí) hoặc thủ đoạn khác tác động lên cơ thể người khác gây tổn thương cho họ (như gãy chân, thủng bụng, lòi mắt…) Các thương tích nhìn chung có thể thấy rõ.
    Việc sử dụng vữ lực có thể chỉ bằng sức mạnh cơ thể (như dùng tay đấm, dùng chân đá) hoặc có kèm theo hung khí (như gậy gộc, dao, búa…) tác động lên cơ thể của nạn nhân.
    Việc dùng thủ đoạn khác (gian tiếp) có thể là ép cho nạn nhân tự gây thương tích hoặc xô đẩy làm cho nạn nhân ngã, va vào vật cứng dẫn đến thương tích…
  • Đối với tội cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Được thể hiện qua hành vi dùng thủ đoạn tác động vào cơ thể nạn nhân làm cho một số bộ phận cơ thể nạn nhân bị mất hoặc bị suy giảm chức năng (như đánh vào huyện gây liệt bán thân, cho uống thuốc độc gây tổn hại nội tạng, tạt axit gây mù mắt…) mặc dù các bộ phân (cơ quan) của cơ thể vẫn còn nguyên vẹn.
    Tổn hại gồm tổn hại đối với cơ thể và tổn hại đối với thần kinh (sức khỏe tâm thần).

Lưu ý: Người chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, axit nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tha, gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác thì vẫn phải chịu TNHS.
b) Dấu hiệu khác

  • Về hậu quả: Hậu quả gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân từ 11% trở lên là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

Lưu ý: Trường hợp tỷ lệ thương tật dưới 11% nêu thuộc vào một trong các trường hợp sau đây thì người có hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác vẫn phải chịu TNHS cụ thể là:

  • Dùng vữ khí (tham khảo Điều 304), vật liệu nổ (tham khảo Điều 305). hung khí gây nguy hiểm (xem Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 của Hội đồng thẩm phán) hoặc thủ đoạn khác có khả năng gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;
  • Dùng axit huy hiểm (như axit sunfuric – H2S04) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác;
  • Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vện;
  • Đối với ông, bà, cha, me, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
  • Có tổ chức. Tức là có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.
  • Lợi dụng chức vụ quyền hạn. Tức sử dụng chức vụ, quyền hạn như một phương tiện để phạm tội.
  • Phạm tội trong thời gian đang bị giữ, tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào sở cai nghiện bắt buộc.
  • Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe do được thuê;
  • Có tính chất côn đồ. Được hiểu là hành vi phạm tội được thực hiện tính chất hung hãn, coi thường pháp luật hoặc vì những lý do nhỏ nhặt;
  • Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2.2. Khách thể

Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến sức khỏe của người khác.

2.3. Mặt khách quan

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý, có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp.

2.4. Chủ thể

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

3. Về hình phạt

Mức hình phạt của tội phạm này được thành 06 khung, cụ thể như sau:
a) Khung một (khoản 1)
Có mức phạt cải tạo không giam giữ từ 01 đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
b) Khung hai (khoản 2)
Có mức phạt tù từ 02 đến 06 năm.
c) Khung ba (khoản 3)
Có mức phạt tù từ 05 đến 10 năm.
d) Khung bốn (khoản 4)
Có mức phạt tù từ 07 đến 14 năm.
d) Khung năm (khoản 5)
Có mức phạt tù từ 12 đến 20 năm hoặc tù chung thân.
e) Khung sáu (khoản 6)
Có mức phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm (áp dụng đối với người chuẩn bị phạm tội).

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Giải pháp hạn chế việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng

Muốn hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng thì cần phải tăng cường nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự.
Quảng Ninh là tỉnh biên giới vùng Đông Bắc của đất nước, là tỉnh có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế xã hội ở nhiều lĩnh vực như: xuất nhập khẩu, khai thác khoáng sản, du lịch, kinh tế biển.., thu hút nhiều lao động đến từ các địa phương trong cả nước và du khách trong, ngoài nước. Song bên cạnh đó tội phạm cũng nảy sinh nhiều và có nhiều diễn biến phức tạp, trung bình hàng năm gần 2000 vụ án hình sự. Để làm tốt công tác bảo vệ pháp luật, tạo môi trường lành mạnh cho phát triển kinh tế – xã hội, dưới sự chỉ đạo của VKSND tối cao và của Cấp ủy địa phương, những năm qua, Lãnh đạo VKSND tỉnh Quảng Ninh đã chỉ đạo 2 cấp làm tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.
Lãnh đạo VKSND tỉnh Quảng Ninh đã quán triệt, thống nhất trong toàn ngành nhận thức rõ: Muốn hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng thì cần phải tăng cường nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự. Đó cũng chính là việc cần phải thực hiện thật tốt các quyền, nhiệm vụ của Viện kiểm sát được quy định tại các Điều 165, 166 và các điều luật khác của BLTTHS 2015 cũng như các quy định khác của pháp luật kể từ khi có sự kiện phạm tội xảy ra đến khi vụ án được Tòa án xét xử có hiệu lực pháp luật.
Từ nhận thức thống nhất này, trong những năm qua tỷ lệ án trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hai cấp ở tỉnh Quảng Ninh luôn ở mức thấp dưới 1%. Cụ thể trong 3 năm từ năm 2015 đến năm 2017, VKSND hai cấp tỉnh Quảng Ninh đã trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung là 33 vụ/159 bị can trên tổng số 3.836 vụ án/6.597 bị can đã kết thúc điều tra, đề nghị truy tố đều Cơ quan điều tra chấp nhận, đạt tỷ lệ là 33/3.836 vụ = 0,86%.
Toà án hai cấp tỉnh Quảng Ninh đã trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung là 253 vụ/712 bị can trong tổng số 4.292 vụ/7.606 bị can Viện kiểm sát đã truy tố, trong đó Viện kiểm sát chấp nhận 151 vụ/545 bị can, trong đó số vụ án Tòa án trả có lỗi của Kiểm sát viên là 27/4.292 vụ, chiếm tỷ lệ 0,62% .
Bên cạnh những kết quả đã đạt được nêu trên, trong những năm qua tại tỉnh Quảng Ninh vẫn còn xảy ra án trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng do những nguyên nhân sau:
Nguyên nhân khách quan
Tình hình tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp về quy mô và tính chất. Thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, gây khó khăn cho việc thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm. Các vụ án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung thường là những vụ án lớn, phức tạp, các chứng cứ tài liệu ban đầu chưa rõ ràng, song trong quá trình điều tra chưa thu thập đầy đủ các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án hoặc những nội dung có mâu thuẫn mà chỉ tập trung thu thập các tài liệu buộc tội.
Hệ thống văn bản dưới luật còn nhiều mâu thuẫn, đặc biệt hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến các tội phạm về kinh tế, ma túy, sở hữu, môi trường, tham nhũng và chức vụ .v.v.. dẫn đến việc áp dụng pháp luật chưa thống nhất, cách hiểu và vận dụng còn nhiều mâu thuẫn giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
Năng lực chuyên môn của đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán còn nhiều hạn chế và thiếu sót, do vậy công tác giải quyết án còn chưa thống nhất, đồng bộ. Sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng chưa chặt chẽ và linh hoạt, trong công tác đánh giá chứng cứ còn thiếu đồng nhất. Bên cạnh đó, số lượng Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán còn thiếu, do vậy gây ra tình trạng quá tải, áp lực công việc cao dẫn đến tình trạng né tránh trách nhiệm cá nhân, do vậy còn tồn tại tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Nhận thức pháp luật giữa các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Quảng Ninh trong một số vụ việc còn chưa đồng nhất. Một số quy định của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành còn bất cập, chưa chi tiết và cụ thể, vẫn còn mâu thuẫn, chồng chéo. Các bộ luật mới có hiệu lực pháp luật, tuy nhiên công tác hướng dẫn giải thích pháp luật của cơ quan có thẩm quyền chưa được thực hiện kịp thời và đồng bộ dẫn đến việc nhận thức, đánh giá chứng cứ, xác định tội danh và đường lối xử lý của các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng không thống nhất, nhất là đối với các vụ án nghiêm trọng và phức tạp.
Nguyên nhân chủ quan
Năng lực chuyên môn của một số Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán còn nhiều hạn chế và thiếu sót, do vậy công tác giải quyết án còn chưa thống nhất, đồng bộ. Sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng có lúc, có việc chưa chặt chẽ và linh hoạt, trong công tác đánh giá chứng cứ còn thiếu đồng nhất. Bên cạnh đó, số lượng Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán ở một số đơn vị còn thiếu, chưa đáp ứng yêu cầu.
Công tác kiểm tra của Lãnh đạo đơn vị chưa thường xuyên, sâu sát. Việc xử lý vi phạm chưa kịp thời và nghiêm túc. Công tác phối hợp giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án có lúc, có nơi còn hạn chế dẫn đến việc trả hồ sơ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng tăng.
Từ thực tế thực hiện ở địa phương, để tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục tồn tại, đảm bảo thực hiện tốt hơn việc nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự nhằm hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thời gian tới, tôi xin đề xuất những giải pháp sau đây:
Thứ nhất: Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo và điều hành trong việc THQCT – KSĐT, KSXXST các vụ án hình sự
Trong công tác quản lý, chỉ đạo nghiệp vụ, Lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp cần quản lý chặt chẽ số liệu, lý do trả hồ sơ để điều tra bổ sung của các Kiểm sát viên. Coi việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung là một chỉ tiêu để đánh giá năng lực công tác, kết quả hoàn thành nhiệm vụ của từng cá nhân trong đơn vị; đồng thời, Viện kiểm sát cấp trên cần tăng cường công tác quản lý, kiểm tra nghiệp vụ đối với Viện kiểm sát cấp dưới, kịp thời phát hiện thiếu sót, tồn tại trong nhận thức và thực hiện các quy định của pháp luật để có biện pháp khắc phục. Bên cạnh đó, Viện kiểm sát cấp dưới cũng cần tranh thủ sự chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ của Viện kiểm sát cấp trên để giải quyết các vụ án phức tạp, có vướng mắc hoặc quan điểm giải quyết khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
Tăng cường sự giáo dục nâng cao bản lĩnh chính trị, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, không ngừng nâng cao ý thức trách nhiệm, năng lực và trình độ của Kiểm sát viên. Đẩy mạnh việc thực hiện cuộc vận động xây dựng đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm”.
Lãnh đạo các đơn vị phải chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các hoạt động nghiệp vụ của Kiểm sát viên ở các giai đoạn tố tụng, nhất là kiểm tra việc thực hiện các yêu cầu nghiệp vụ về kiểm sát việc khởi tố, đề ra yêu cầu điều tra, kiểm sát việc lập hồ sơ, kiểm sát việc kết thúc điều tra, đề xuất truy tố.v.v.. Lãnh đạo các đơn vị phải chỉ đạo xử lý kịp thời các vướng mắc trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án, thể hiện vai trò, trách nhiệm đối với công việc, thận trọng, khách quan khi xem xét ý kiến đề xuất của cán bộ, Kiểm sát viên nhất là những ý kiến có nhiều quan điểm khác nhau. Khi phê duyệt báo cáo đề xuất cần phải chi tiết, cụ thể, làm đúng vai trò trách nhiệm, tránh việc xảy ra sai sót khi đã quyết định truy tố, Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Chú trọng công tác bố trí, sử dụng và sắp xếp cán bộ nhằm lựa chọn được những cán bộ, Kiểm sát viên có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải được quan tâm đặc biệt nhằm nâng cao năng lực nhận thức và khả năng vận dụng pháp luật của cán bộ, Kiểm sát viên. Cán bộ, Kiểm sát viên là những người được giao nhiệm vụ thay mặt VKSND thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, vì vậy việc xây dựng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên trong sạch, có phẩm chất, năng lực và trách nhiệm là một trong những giải pháp quan trọng nhằm hạn chế việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của hoạt động kiểm sát.
Thứ hai: Tích cực nâng cao trình độ nghiệp vụ của đội ngũ Kiểm sát viên được phân công giải quyết các vụ án hình sự
Kiểm sát viên làm công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử án hình sự phải nắm chắc các đạo luật cơ bản; trình tự thủ tục tố tụng đó được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật hình sự; thường xuyên nghiên cứu và cập nhật, tích lũy các văn bản quy phạm pháp luật mới về hình sự, các Nghị Quyết, Nghị định, Thông tư hướng dẫn có liên quan đến công tác nghiệp vụ, Quy chế của ngành để áp dụng vào thực tiễn. Nâng cao ý thức, trách nhiệm hành động vì mục đích chung trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Tổ chức thực hiện tốt công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra. Kiểm sát chặt chẽ việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can của CQĐT. Kiểm sát viên theo dõi, nghiên cứu hồ sơ tài liệu và nắm nội dung vụ việc ngay từ giai đoạn tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác tin báo theo đúng quy định của pháp luật, khắc phục việc bỏ lọt tội phạm và chủ động áp dụng các biện pháp tố tụng tiếp theo.
Kiểm sát viên phải bám sát tiến độ điều tra, chủ động phối hợp với Điều tra viên nghiên cứu hồ sơ, nắm chắc chứng cứ. Phải bám sát tiến độ điều tra, đề ra yêu cầu điều tra nhằm khắc phục kịp thời những thiếu sót về chứng cứ hoặc vi phạm tố tụng; tham gia với Điều tra viên  tổng cung bị can để nắm chắc nội dung vụ án và các tình tiết phạm tội của bị can; phối hợp với Cơ quan điều tra tiến hành sơ kết điều tra theo từng giai đoạn để thống nhất thời điểm kết thúc điều tra và định hướng đường lối xử lý vụ án. Đối với các vụ án phức tạp, bị can phản cung, chối tội hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, sau khi kết thúc điều tra, Kiểm sát viên phải thực hiện việc phúc cung đối với từng bị can để bảo đảm việc truy tố có căn cứ và thận trọng.
Trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, Kiểm sát viên cần chuẩn bị tốt đề cương xét hỏi, dự thảo luận tội, dự kiến các tình huống có thể xảy ra. Đối với những vấn đề phức tạp, có quan điểm đánh giá về chứng cứ, về tội danh khác nhau, KSV phải chuẩn bị tốt câu hỏi, tình huống để tranh tụng tại phiên toà, chứng cứ đưa ra tại phiên tòa phải đảm bảo vững chắc và có sức thuyết phục để bảo vệ quan điểm truy tố đúng đắn của Viện kiểm sát. Nâng cao chất lượng bản cáo trạng và hồ sơ truy tố đảm bảo có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đối với các vụ án phức tạp, khó khăn thì cần thực hiện tốt Quy chế phối hợp liên ngành, tổ chức họp liên ngành để có phương hướng giải quyết kịp thời và đúng đắn trước khi kết thúc điều tra vụ án. Đối với các vụ án có bị can, bị cáo kêu oan; các vụ án quan điểm giữa CQĐT và VKSND khác nhau về xác định có tội hay không có tội; các vụ án mà quan điểm của Tòa án hay HĐXX cho rằng bị cáo không phạm tội hoặc sẽ tuyên bị cáo không phạm tội, VKSND cấp huyện phải báo cáo ngay cho Phòng nghiệp vụ VKSND tỉnh để nghiên cứu, tham mưu cho lãnh đạo Viện chỉ đạo kịp thời. Từ đó hạn chế việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung, nhất là các trường hợp trả hồ sơ do thiếu chứng cứ, bỏ lọt tội phạm hay do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Cần quán triệt và thực hiện nghiêm túc các yêu cầu nghiệp vụ được nêu trong Chỉ thị 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013 của Viện trưởng VKSND tối cao về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm; Chỉ thị số 04/CT-VKSTC của Viện trưởng VKSND tối cao về tăng cường các biện pháp phòng, chống oan, sai cũng như các Quy chế nghiệp vụ của ngành. Nắm vững và thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các quy định của BLTTHS năm 2015 về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của VKS trong giải quyết vụ án hình sự.
Viện kiểm sát chỉ ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung nếu có căn cứ pháp luật và thực sự thấy cần thiết đối với việc giải quyết vụ án. Trong quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải nêu rõ những nội dung cần phải điều tra bổ sung. KSV phải xem xét tính khả thi của yêu cầu điều tra bổ sung và kiểm tra chặt chẽ kết quả thực hiện của Cơ quan điều tra, khắc phục việc trả đi trả lại nhiều lần giữa ba cơ quan tiến hành tố tụng.
Thứ ba: Tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng
Trong quá trình giải quyết vụ án, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán. Trong đó, Kiểm sát viên cần tích cực, chủ động trao đổi với Điều tra viên, Thẩm phán để giải quyết những vấn đề phát sinh cần tháo gỡ  ở các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử; tham mưu kịp thời với Lãnh đạo liên ngành kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết vụ án nhằm hạn chế và khắc phục triệt để việc trả hồ sơ điều tra bổ sung đối với những trường hợp không cần thiết hoặc không có căn cứ.
Cần xây dựng tốt mối quan hệ phối hợp giữa 3 ngành, để phối hợp khắc phục thiếu sót trong quá trình giải quyết vụ án. Khi xảy ra tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung, lãnh đạo Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án cần tiến hành họp ngay và làm rõ trách nhiệm về những thiếu sót của Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán để cùng rút kinh nghiệm đối với những vụ án phải trả hồ sơ điều tra bổ sung, hướng tới mục đích đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đúng thời hạn luật định, hạn chế tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Đối với những vụ án phức tạp và nghiêm trọng, lãnh đạo các cơ quan tiến hành tố tụng cần chủ động phối hợp để kịp thời tháo gỡ các vướng mắc trong quá trình giải quyết vụ án, bên cạnh đó tranh thủ sự hướng dẫn nghiệp vụ của cấp trên.
Duy trì việc tổ chức các hội nghị rút kinh nghiệm về chuyên đề án trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhằm bàn bạc, thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm tìm ra giải pháp khắc phục các vướng mắc, thống nhất quan điểm về nhận thức và áp dụng pháp luật. Từ đó giúp cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán thay đổi nhận thức, khắc phục những hạn chế, thiếu sót còn tồn tại nhằm hạn chế tỷ lệ án trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Thứ tư: Xây dựng đội ngũ Lãnh đạo, Kiểm sát viên có phẩm chất, năng lực, trình độ, đáp ứng yêu cầu thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao
Để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, đòi hỏi đội ngũ Kiểm sát viên phải có năng lực, trình độ, kinh nghiệm và có tính chuyên nghiệp cao. Vì vậy, đội ngũ Kiểm sát viên làm công tác này phải được lựa chọn, bố trí, sắp xếp công tác ổn định và thường xuyên được bồi dưỡng nâng cao trình độ, đề cao ý thức trách nhiệm đối với công việc được giao; mặt khác phải có cơ chế khen thưởng, kỷ luật rõ ràng, tạo ra động lực để cán bộ, Kiểm sát viên phấn đấu, tu dưỡng và rèn luyện nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.
Nâng cao chất lượng công tác Lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra hoạt động nghiệp vụ của cán bộ, Kiểm sát viên, giải quyết các khó khăn vướng mắc trong quá trình giải quyết vụ án, chịu trách nhiệm trước các quyết định tố tụng, kết quả giải quyết vụ án, đảm bảo chất lượng, hiệu quả. Giao việc tương xứng với năng lực của cán bộ, Kiểm sát viên nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Trên đây là các giải pháp nhằm hạn chế việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các Cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Quảng Ninh từ năm 2015 đến năm 2017 để các đồng chí nghiên cứu, tổng hợp rút kinh nghiệm chung nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

Thạc sĩ Nguyễn Trung Hoan

Nguồn: VKSND tỉnh Quảng Ninh (http://www.vksquangninh.gov.vn)

Khái niệm và các hình thức (các loại) áp dụng pháp luật tương tự

Trong quá trình làm luật, các nhà làm luật ở các quốc gia, nhất là các quốc gia đương đại đều cố gắng dự kiến đến mức tối đa các trường hợp, điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra trong cuộc sống để kịp thời điều chỉnh, nhằm tạo ra đầy đủ cơ sở pháp lý cho việc áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ việc xảy ra trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật rất khó tránh được tình trạng có những vụ việc có tính chất pháp lý, liên quan đến lợi ích của nhà nước, của cộng đồng xã hội hoặc của cá nhân buộc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải giải quyết, nhưng trong hệ thống pháp luật lại không có quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó. Đây chính là  tình trạng thiếu pháp luật, tình trạng pháp luật có những lỗ hổng, những khoảng trống.
Tình trạng trên xảy ra vì nhiều lý do. Có thể là do đời sống xã hội quá phức tạp, các vụ việc xảy ra trong thực tế cuộc sống vô cùng đa dạng, phong phú mà khả năng nhận thức của con người chỉ có hạn nên các nhà làm luật không thể dự kiến được hết tất cả các trường hợp đó. Có thể là do các quan hệ xã hội phát triển quá nhanh, khi người ta xây dựng và ban hành luật thì nó  chưa xảy ra nên các nhà làm luật không dự kiến việc điều chỉnh nó. Chẳng hạn, khi Quốc hội soạn thảo và ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 thì ở nước ta chưa xảy ra hiện tượng đua xe trái phép gây hậu quả nghiêm trọng đến mức phải xử lý hình sự, vì thế, trong Bộ luật hình sự lúc đó chưa có điều khoản nào quy định về việc xử lý hình sự đối với những người đua xe trái phép gây hậu quả nghiêm trọng. Cũng có thể có những sự kiện chỉ là ngoại lệ, có những quan hệ xã hội chỉ xảy ra đột xuất, nhất thời nên không cần phải ban hành một quy phạm pháp luật riêng để điều chỉnh những quan hệ đó…
Khi gặp các trường hợp nêu trên, để kịp thời bảo vệ lợi ích hợp pháp và chính đáng của nhà nước, của xã hội, của cá nhân thì các chủ thể có thẩm quyền không thể chờ đến khi ban hành được quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh vụ việc mới giải quyết mà phải giải quyết ngay bằng cách áp dụng pháp luật tương tự.

1. Khái niệm áp dụng pháp luật tương tự

Trên cơ sở cách hiểu về áp dụng pháp luật, chúng ta có thể hiểu: Áp dụng pháp luật tương tự là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế cụ thể của các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật khi trong hệ thống pháp luật không có quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó.
Với cách hiểu này, ta thấy, áp dụng pháp luật tương tự vừa mang các đặc điểm của áp dụng pháp luật nói chung vừa có những đặc điểm riêng làm cho nó khác với các trường hợp áp dụng pháp luật khác. Nếu như áp dụng pháp luật là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế, cụ thể trên cơ sở quy pháp pháp luật trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó nhằm cá biệt hoá quy phạm pháp luật đó vào trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể thì áp dụng pháp luật tương tự lại là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế, cụ thể khi trong hệ thống pháp luật không có quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó, tức là không có khuôn mẫu trực tiếp do nhà nước quy định cho việc giải quyết vụ việc đó. Vì thế, áp dụng pháp luật tương tự chỉ được tiến hành khi có đủ những điều kiện nhất định nhằm hạn chế đến mức tối đa sự tuỳ tiện của người áp dụng.
Áp dụng pháp luật tương tự là hoạt động rất cần thiết trong cuộc sống nhằm khắc phục tất cả các chỗ trống của pháp luật, để điều chỉnh cụ thể đối với tất cả các quan hệ xã hội cần điều chỉnh bằng pháp luật nhưng lại chưa có pháp luật để điều chỉnh, bất kể đó là trường hợp chưa có nhu cầu điều chỉnh khi ban hành pháp luật (tức là khi đó quan hệ xã hội chưa xuất hiện) hay trường hợp cần được điều chỉnh nhưng những người ban hành pháp luật chưa nhận thức ra được hay quan hệ xã hội đó chỉ là ngoại lệ, bất thường, chỉ xảy ra một vài lần trong cuộc sống. Nó cần thiết không chỉ cho riêng một quốc gia nào vì với điều kiện phức tạp và đầy biến động của đời sống xã hội thì khó có hệ thống pháp luật của quốc gia nào đủ khả năng điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội cần điều chỉnh bằng pháp luật, kể cả khi có trình độ phát triển tương đối cao. Bên cạnh tác dụng trên, áp dụng pháp luật tương tự còn có tác dụng khác nữa là tạo điều kiện tích lũy kinh nghiệm giải quyết các vụ việc thực tế cho các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật, đồng thời trên cơ sở đó có thể đề xuất giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật.

2. Các hình thức (các loại) áp dụng pháp luật tương tự:

Tương tự như áp dụng pháp luật, áp dụng pháp luật tương tự cũng rất đa dạng, song khái quát lại có thể chia thành hai hình thức (hai loại) cơ bản là áp dụng tương tự quy phạm pháp luật và áp dụng tương tự pháp luật. Có thể phân biệt được hai hình thức này với nhau khi xem xét cụ thể về từng hình thức.

a) Áp dụng tương tự quy phạm pháp luật:

* Khái niệm: Từ khái niệm áp dụng pháp luật tương tự đã nêu, có thể hiểu áp dụng tương tự quy phạm pháp luật là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế cụ thể của các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật dựa trên cơ sở quy phạm pháp luật điều chỉnh vụ việc khác có nội dung tương tự như vậy.
* Điều kiện áp dụng: Việc áp dụng tương tự quy phạm pháp luật chỉ có thể được tiến hành khi có đủ những điều kiện nhất định. Đó là những điều kiện sau đây:
Thứ nhất, chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải xác định được tính chất pháp lý của vụ việc, tức là vụ việc đó phải thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật. Hay nói cách khác, đó là quan hệ xã hội cần phải được điều chỉnh bằng pháp luật bởi vì nó liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của Nhà nước, tập thể hoặc cá nhân. Nếu vụ việc không có tính chất pháp lý thì đương nhiên các chủ thể có thẩm quyền không cần thụ lý và giải quyết.
Thứ hai, chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải xác định được một cách chắc chắn rằng trong hệ thống pháp luật không có quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó (vì có như vậy thì mới có thể được phép áp dụng pháp luật tương tự) nhưng có quy phạm điều chỉnh vụ việc khác có nội dung tương tự như vậy (vì khi đó thì mới có thể áp dụng tương tự quy phạm pháp luật). Đồng thời, phải xác định được một cách cụ thể quy phạm tương tự đó nằm trong điều khoản nào của văn bản quy phạm pháp luật nào để có thể coi đó là cơ sở pháp lý cho hoạt động giải quyết vụ việc của mình.
Ở nước ta trước khi có Bộ luật hình sự năm 1985, hoạt động áp dụng tương tự quy phạm pháp luật được thực hiện trong cả lĩnh vực hình sự. Từ khi Bộ luật hình sự năm 1985 có hiệu lực, việc áp dụng tương tự quy phạm pháp luật trong lĩnh vực hình sự ở nước ta đã chấm dứt. Riêng trong lĩnh vực dân sự, việc áp dụng tương tự quy phạm pháp luật chính thức được ghi nhận tại Điều 14 Bộ luật dân sự năm 1995 và Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2005.
Bên cạnh hình thức áp dụng trên trong thực tế còn có trường hợp có vụ việc có tính chất pháp lý xảy ra, có liên quan trực tiếp tới việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân cần phải được giải quyết song trong hệ thống pháp luật không có quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó và cũng không có quy phạm pháp luật điều chỉnh vụ việc khác có nội dung tương tự như vậy. Khi đó, các chủ thể có thẩm quyền sẽ phải giải quyết bằng cách áp dụng tương tự pháp luật.

b) Áp dụng tương tự pháp luật

* Khái niệm: Áp dụng tương tự pháp luật là một hình thức áp dụng pháp luật tương tự, có thể hiểu: Áp dụng tương tự pháp luật là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế cụ thể của các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật dựa trên cơ sở các nguyên tắc chung của pháp luật và ý thức pháp luật.
Khi tiến hành giải quyết một vụ việc có tính chất pháp lý, vì trong hệ thống pháp luật hiện hành không có quy phạm pháp luật nào có thể dựa vào để giải quyết, kể cả quy  phạm trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó lẫn quy phạm điều chỉnh vụ việc khác có nội dung tương tự như vậy thì các chủ thể có thẩm quyền phải giải quyết bằng cách áp dụng tương tự pháp luật.
* Điều kiện áp dụng: Việc áp dụng tương tự pháp luật đòi hỏi sự sáng tạo rất cao của người áp dụng, song cũng rất dễ dẫn đến sự tuỳ tiện của người áp dụng, vì vậy, nó chỉ được tiến hành khi có đủ những điều kiện nhất định.

  • Điều kiện thứ nhất tương tự như của hình thức áp dụng tương tự quy phạm pháp luật, tức là chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải xác định được tính chất pháp lý của vụ việc vì nếu vụ việc không có tính chất pháp lý thì không cần giải quyết.
  • Điều kiện thứ hai đó là chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải xác định được một cách chắc chắn rằng trong hệ thống pháp luật không có quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó (bởi vì nếu có thì đương nhiên phải áp dụng pháp luật) và cũng không có quy phạm pháp luật nào điều chỉnh vụ việc khác có nội dung tương tự như vậy (vì nếu có thì phải áp dụng tương tự quy phạm pháp luật).

Nói chung, sự phân định thành hai hình thức áp dụng pháp luật tương tự như trên dường như chủ yếu có ý nghĩa về mặt lý luận và chỉ được đề cập đến trong khoa học pháp lý, còn trong pháp luật thực định của nước ta thì không có sự phân định này. Cụ thể, trong pháp luật dân sự Việt Nam, hai cụm từ “áp dụng quy định tương tự của pháp luật” và “áp dụng tương tự pháp luật” được dùng đồng nghĩa với nhau. Điều này được thể hiện rõ trong việc đặt tên hai điều luật đề cập đến vấn đề này trong hai bộ luật dân sự của nước ta. Cụ thể, Điều 14 Bộ luật dân sự năm 1996 được đặt tên là “Nguyên tắc áp dụng tập quán, áp dụng tương tự pháp luật”, còn Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2005 lại được đặt tên là: “Áp dụng tập quán, quy định tương tự của pháp luật” với nội dung như đã nêu.
Hai điều luật trên không chỉ quy định về việc áp dụng tương tự quy phạm pháp luật mà còn quy định về việc áp dụng tập quán trong quá trình giải quyết các vụ việc thực tế của các chủ thể có thẩm quyền. Theo các quy định này thì có thể thấy, khi giải quyết các vụ việc pháp lý cụ thể, các chủ thể có thẩm quyền chủ yếu áp dụng quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, bên cạnh đó, họ còn có thể áp dụng tập quán và áp dụng pháp luật tương tự. Tập quán nào được các chủ thể có thẩm quyền áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc thực tế thì sẽ trở thành tập quán pháp – một trong các hình thức cơ bản của pháp luật.

Ts. Nguyễn Thị Hồi / Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

 


Các tìm kiếm liên quan đến áp dụng tương tự pháp luật, ví dụ về áp dụng tương tự pháp luật trong luật dân sự, trường hợp áp dụng tương tự pháp luật, ví dụ về các trường hợp áp dụng pháp luật tương tự, so sánh áp dụng tập quán và áp dụng tương tự pháp luật. cho ví dụ minh họa, nguyên tắc tương tự trong luật hình sự\, ví dụ áp dụng tập quán trong luật dân sự, thực trạng áp dụng pháp luật ở việt nam, nguyên tắc áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự

Có ra quyết định thi hành án với doanh nghiệp bị giải thể không?

Trường hợp người phải thi hành án là tổ chức đã bị giải thể, không còn tài sản mà theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của họ không được chuyển giao cho tổ chức khác thì xử lý như thế nào? Đình chỉ hay vẫn tiếp tục thi hành án dân sự?
 

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định khá chi tiết về việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án trong dân sự (Điều 54). Tuy nhiên, trong thực tiễn đang phát sinh một số vướng mắc, khó khăn khi doanh nghiệp bị giải thể theo quy định của Luật Doanh nghiệp thì Cơ quan Thi hành án dân sự có được ra Quyết định thi hành án theo đơn hay không? Chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự là ai?

 
Nội dung vụ án:
Theo hợp đồng xây dựng số 01/HĐTC ngày 05/3/2011 giữa ông Dương Minh Đ và Công ty xây dựng S, hai bên thỏa thuận thời gian thi công căn nhà tại TP. Hồ Chí Minh cho ông Đ từ 6 đến 7 tháng và toàn bộ các công đoạn thiết kế, thi công, vật tư đều do Công ty S chịu trách nhiệm mà không tổ chức giám sát thi công.
Sau khi bàn giao nhà vào tháng 12/2011, ngày 10/01/2012, Công ty S thanh lý hợp đồng thì chủ đầu tư là ông Dương Minh Đ cho rằng Công ty S đã giao nhà không đúng chất lượng nên không thanh lý hợp đồng mà khởi kiện đòi bồi thường hợp đồng theo kết quả kiểm định của Công ty Cổ phần giám định N với tổng chi phí để khắc phục công trình trên là 5.011.169.000 đồng.
TAND cấp quận đã tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Dương Minh Đ, buộc Công ty xây dựng S phải trả cho ông Đ là 5.011.169.000 đồng. Sau khi có bản án sơ thẩm, Công ty S có đơn kháng cáo. Quá trình giải quyết theo thủ tục phúc thẩm thì Công ty S giải thể. Do không triệu tập được người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn nên Tòa án phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm, bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
Tiếp theo, ngày 29/11/2016, Chi cục thi hành án dân sự có Quyết định thi hành án theo yêu cầu, cho thi hành án đối với Công ty xây dựng S (đã giải thể ngày 25/3/2016), và xác định người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn gồm: ông Hoàng Thế B, ông Hoàng Văn T và ông Nguyễn Thế H. Những người này phải liên đới chịu trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ theo bản án sơ thẩm.
Xung quanh Quyết định thi hành án theo yêu cầu, có ba quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất, cho rằng, theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 204 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì “Thành viên Hội đồng quản trị Công ty cổ phần, thành viên Hội đồng quản trị Công ty trách nhiệm hữu hạn, chủ sở hữu công ty, chủ doanh nghiệp tư nhân, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, thành viên hợp doanh, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của hồ sơ giải thể doanh nghiệp. Trường hợp hồ sơ giải thể không chính xác, giải mạo, những người quy định tại khoản 2 Điều này phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán số nợ chưa thanh toán, số thuế chưa nộp và quyền lợi của người lao động chưa được giải quyết và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về những hệ quả phát sinh trong thời hạn 05 năm kể từ ngày nộp hồ sơ giải thể doanh nghiệp đến Cơ quan đăng ký kinh doanh”. Và “Người quản lý có liên quan và doanh nghiệp quy định tại điểm d khoản 1 Điều này cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp” (khoản 2 Điều 201 Luật Doanh nghiệp).
Cũng theo quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 54 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì “trường hợp giải thể thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định giải thể phải thông báocho cơ quan thi hành án dân sự biết trước khi ra quyết định. Trường hợp quyền, nghĩa vụ thi hành án của tổ chức bị giải thể được chuyển giao cho tổ chức khác thì tổ chức mới tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án. Cơ quan thi hành án dân sự, người được thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét lại quyết định giải thể theo quy định của pháp luật. Trường hợp tài sản để thi hành án không còn do thực hiện quyết định giải thể trái pháp luật thì cơ quan ra quyết định giải thể phải chịu trách nhiệm thi hành phần nghĩa vụ của tổ chức bị giải thể tương ứng với tài sản đó”. Căn cứ vào các quy định của pháp luật nêu trên thì Cơ quan Thi hành án dân sự ra Quyết định thi hành án theo yêu cầu và xác định những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Công ty S đồng thời là những người quản lý doanh nghiệp theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án là đúng.
Quan điểm thứ hai cho rằng, theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), quy định Thủ trưởng cơ quan THADS phải ra quyết định đình chỉ thi hành án trong trường hợp: … “đ) Người phải thi hành án là tổ chức đã bị giải thể, không còn tài sản mà theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của họ không được chuyển giao cho tổ chức khác”. Theo đó, khi một tổ chức bị giải thể mà nghĩa vụ không được chuyển giao cho tổ chức khác thì Cơ quan Thi hành án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc chứ không thực hiện được việc chuyển giao nghĩa vụ cho cá nhân người quản lý doanh nghiệp theo quy định tại Điều 54 Luật Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) và Điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Do đó, trường hợp này, lẽ ra Cơ quan thi hành án dân sự cấp quận phải ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc do nghĩa vụ của họ không được chuyển giao cho tổ chức khác. Quyết định thi hành án theo yêu cầu xác định các cá nhân người quản lý doanh nghiệp phải liên đới chịu trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ theo Bản án sơ thẩm là không chính xác.
Quan điểm thứ ba, đồng thời cũng là quan điểm của tác giả: Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã quy định khá chi tiết, rõ ràng về các trường hợp và điều kiện để giải thể doanh nghiệp, theo đó, doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác và doanh nghiệp không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc cơ quan trọng tài. Trường hợp này, rõ ràng, Công ty S vẫn đang trong quá trình giải quyết tranh chấp và đang còn phải thực hiện nghĩa vụ theo bản án đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, không đảm bảo về điều kiện để thực hiện giải thể doanh nghiệp. Trường hợp này phải làm rõ nếu cơ quan ra Quyết định giải thể (Sở Kế hoạch và Đầu tư) là trái pháp luật và Công ty S không còn tài sản để thi hành án thì cơ quan ra quyết định giải thể phải chịu trách nhiệm thi hành phần nghĩa vụ của tổ chức bị giải thể tương ứng với tài sản đó theo quy định tại Điều 54 Luật Thi hành án dân sự năm 2014. Trường hợp cá nhân người quản lý doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp theo quy định tại Điều 203 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì cần buộc cá nhân người quản lý công ty có liên quan phải chịu trách nhiệm cá nhân về thiệt hại do việc không thực hiện hoặc không thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nếu có căn cứ cho rằng có việc trốn tránh thực hiện nghĩa vụ, lừa dối nhằm mục đích vụ lợi thì phải chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra để giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự mới có tác dụng răn đe, giáo dục.
Trên đây là các quan điểm khác nhau xung quanh việc ra Quyết định thi hành án theo yêu cầu của Chi cục Thi hành án dân sự. Do có sự chưa thống nhất giữa Điều 54 và Điều 50 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 và giữa Luật Thi hành án dân sự năm 2014 với Luật Doanh nghiệp năm 2014 nên thực tiễn đã phát sinh lúng túng trong quá trình giải quyết.
Rất mong nhận được sự quan tâm trao đổi của đồng nghiệp và độc giả.
Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (http://kiemsat.vn/co-ra-quyet-dinh-thi-hanh-an-voi-doanh-nghiep-bi-giai-the-khong-50933.html)

Tại sao cần tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá?

Sử dụng thuốc lá đang gây ra gánh nặng bệnh tật và kinh tế nặng nề cho Việt Nam. Trong khi những hệ lụy của sử dụng thuốc lá đang không ngừng gia tăng, thuế và giá thuốc lá ở Việt Nam lại đang ở mức thấp nhất so với các nước trên thế giới và trong khu vực, điều này khiến sức mua thuốc lá đang không ngừng gia tăng. Bài viết này phân tích sự bất cập về thuế và giá thuốc lá, tính cấp thiết của việc tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá tại Việt Nam.

1. Tiêu dùng thuốc lá cao, tín hiệu báo động về sức khỏe cộng đồng

Theo điều tra toàn cầu năm 2015 về sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành (trên 15 tuổi) mặc dù tỷ lệ hút thuốc có xu hướng giảm nhưng với 15,6 triệu người hút thuốc, Việt Nam hiện đứng thứ 3 trong khu vực ASEAN và đứng thứ 9 trên thế giới về số người hút thuốc cao nhất; trung bình cứ hai nam giới trưởng thành thì có một người hút thuốc, tỷ lệ hút thuốc ở thanh thiếu niên (15-24 tuổi) là 24,3%; bên cạnh đó, có 28,5 triệu người không hút thuốc bị tiếp xúc với khói thuốc thụ động ở nhà và 5,9 triệu người không hút thuốc bị tiếp xúc với khói thuốc thụ động tại nơi làm việc[1].

Tại Việt Nam, theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm có trên 40.000 ca tử vong vì các bệnh do thuốc lá gây ra; con số này sẽ tăng lên thành 70.000 ca/năm vào năm 2030, nếu Việt Nam không thực hiện ngay các biện pháp phòng chống tác hại thuốc lá hiệu quả (mà chính sách thuế và giá đóng góp 60% gảm tiêu dùng thuốc lá trong tổng số các giải pháp)[2]. Các bệnh có nguyên nhân chính từ sử dụng thuốc lá gây ra tử vong hàng đầu ở Việt Nam là đột quỵ, mạch vành, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính và ung thư phổi[3].

Vấn đề đáng lo ngại nữa là phần lớn những người hút thuốc lá Việt Nam bắt đầu hút thuốc từ khi còn rất trẻ. Năm 2015, theo điều tra toàn cầu về sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành, có tới 56% người Việt Nam hút thuốc bắt đầu hút thuốc trước tuổi 20. Năm 2014, theo điều tra toàn cầu về sử dụng thuốc lá ở thanh thiếu niên, có tới 17,9 % nam thanh thiếu niên và 5,4% nữ thanh thiếu niên ở Việt Nam trong lứa tuổi từ 13 -15 đã từng sử dụng thuốc lá, trong đó 17% hút thuốc trước tuổi lên 10[4].  Hệ lụy hút thuốc lá ở người trẻ tuổi là khả năng nghiện thuốc khi trưởng thành cao hơn và tác hại đối với sức khỏe sinh sản và sức khỏe của các thế hệ sau cũng lớn hơn.

2. Sử dụng thuốc lá gây gánh nặng về kinh tế cho hộ gia đình và quốc gia

Hút thuốc lá gây ra bệnh tật và tử vong sớm, vì thế tạo ra gánh nặng về chi phí y tế đối với gia đình và xã hội. Chi phí y tế do tác hại của việc hút thuốc lá là tất cả các khoản chi tiêu hay thu nhập bị mất đi vì bệnh tật do thuốc lá gây ra. Các khoản chi phí này bao gồm: chi phí trực tiếp cho điều trị bệnh (viện phí, chi phí mua thuốc, máu…), chi phí trực tiếp không cho điều trị bệnh (chi phí đi lại, thuê người chăm sóc, ở trọ…) và chi phí gián tiếp (thu nhập bị mất đi do giảm năng suất lao động vì nghỉ sớm và tử vong sớm, do việc chăm sóc người thân bị bệnh). Cho đến nay, nhiều quốc gia đã tổ chức nghiên cứu về mức độ bệnh tật và ước tính chi phí y tế do tác hại của việc hút thuốc đối với gia đình, đối với hệ thống y tế nói riêng và xã hội nói chung để từ đó đưa ra các khuyến nghị về chính sách kiểm soát thuốc lá cũng như các chính sách chăm sóc sức khỏe quốc gia. Các nghiên cứu đều có chung kết luận là: hút thuốc lá tạo ra một gánh nặng rất lớn cho gia đình và xã hội do tác hại của việc hút thuốc gây ra. Tổng chi phí y tế do tác hại của việc hút thuốc chiếm từ 6% đến 15% tổng chi phí y tế tại các nước phát triển và ở các nước đang phát triển như Trung Quốc, tỷ lệ này là 3,1%[5].

Tại Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Y tế công cộng và HealthBridge Canada tại Việt Nam, tổng chi phí cho điều trị và mất khả năng lao động vì bệnh tật và tử vong sớm cho 5 nhóm bệnh bao gồm ung thư phổi, ung thư đường tiêu hóa hô hấp trên, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, đột quỵ và nhồi máu cơ tim do hút thuốc lá gây ra là hơn 24.000 tỷ đồng, chiếm 0,97% tổng GDP của cả nước vào năm 2011, chi phí y tế trực tiếp cho khám và điều trị nội trú và ngoại trú là hơn 12.464 tỷ đồng, chi phí do tử vong sớm vì các bệnh liên quan đến hút thuốc lá là 9.563 tỷ đồng và tổn thất do mất khả năng lao động vì bệnh tật liên quan đến thuốc lá là 2.653 tỷ đồng[6].

Gánh nặng của khoản chi phí điều trị nội trú được chia cho ba bên: nhà nước, cơ quan bảo hiểm và gia đình người bệnh. Chi phí của nhà nước và các cơ quan bảo hiểm chiếm 46% – 67% tổng chi phí tùy theo từng nhóm bệnh. Tính trung bình ngân sách nhà nước trả 40% chi phí điều trị nội trú, gia đình trả 40,8% và 19,2% chi phí điều trị nội trú là từ bảo hiểm y tế.7

Năm 2015, tổng số tiền nngười dân Việt Nam bỏ ra mua thuốc lá lên tới 31 nghìn tỉ đồng (GATS 2015)[7]. Số tiền này tương ứng với 2,4 triệu tấn gạo (năm 2015), đủ nuôi sống 14,3 triệu người trong một năm.

Mặc dù ngành công nghiệp thuốc lá có những đóng góp cho ngân sách quốc gia (khoảng 16.000 tỷ đồng năm 2015), nhưng phần đóng góp của ngành công nghiệp thuốc lá không đủ để bù đắp những tổn thất kinh tế và sức khỏe do sử dụng thuốc lá gây ra đối với các cá nhân, gia đình và xã hội.

Đáng lo ngại là có một tỷ lệ đáng kể người nghèo hút thuốc và người nghèo có xu hướng hút thuốc nhiều hơn người giàu. Theo điều tra mức sống hộ gia đình năm 2006, tỷ lệ hút thuốc ở nhóm thu nhập thấp nhất là 54,8% cao hơn so với mức của nhóm thu nhập cao nhất (43,5%). Hệ lụy của việc sử dụng thuốc lá ở người nghèo là làm gia tăng đói nghèo vì:

+ Thứ nhất, sử dụng thuốc lá lấy đi một phần ngân sách hộ gia đình mà lẽ ra đã có thể dùng cho những tiêu dùng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, giáo dục, mua sắm tư liệu sản xuất, là những điều kiện cần thiết giúp họ giảm nghèo.

+ Thứ hai, người nghèo sử dụng thuốc lá cũng dễ mắc bệnh hơn do điều kiện dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe hạn chế. Khi mắc bênh, do áp lực kinh tế, họ thường có xu hướng bỏ qua những dấu hiệu sớm của bệnh và chỉ quan tâm khi mọi chuyện trở nên quá muộn. Việc điều trị các bệnh như ung thư, tim mạch ở giai đoạn muộn thường có kết quả rất hạn chế, vô cùng tốn kém, và thường vượt quá khả năng kinh tế của phần lớn các bệnh nhân nghèo.

+ Thứ ba, sự suy giảm khả năng lao động, sự thiếu vắng lực lượng lao động chính do ốm đau và/hoặc mất sớm khiến cho thu nhập của các hộ gia đình này ngày càng suy giảm, gánh nặng cơm áo rơi vào phụ nữ và trẻ em. Những đứa trẻ trong những gia đình này sẽ phải bỏ học để để bắt đầu lao động kiếm sống từ rất sớm và có một vòng xoay nghèo đói mới lại bắt đầu.

3. Sự bất cập về thuế và giá thuốc lá

Theo luật thuế hiện hành, thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) của thuốc lá bằng 70% giá xuất xưởng. Tuy nhiên khi tính theo chuẩn quốc tế là “tỷ lệ trong giá bán lẻ”, thì tỷ lệ thuế Việt Nam (bao gồm cả thuế VAT) chỉ chiếm khoảng 35,6% giá bán lẻ. Tỷ lệ này thấp hơn rất nhiều so với trung bình thế giới (56%) và so với đa số các nước ASEAN (Thái Lan 73%, Singapore 66%, Philippines 63%, Brunei 61,7%).

Nguồn: WHO Global Tobacco Control Report 2017

Chính vì thuế thấp nên giá thuốc lá ở Việt Nam cũng thuộc loại rẻ nhất so với các nước trên thế giới và trong khu vực. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới năm 2017, giá trung bình một bao Malboro 20 điếu ở Việt Nam chỉ khoảng 1,1 USD, chỉ cao hơn một chút so với Campuchia (~ 1 USD) và thấp hơn so với tất cả các nước còn lại trong khu vực ASEAN.

 Biểu đồ 3: Giá một bao thuốc lá nhãn phổ biến nhất, tính theo đô la quốc tế Việt Nam so với các nước khu vực Tây Thái Bình Dương 2014

Nguồn: WHO. Báo cáo Kiểm soát Thuốc lá Toàn cầu 2015

Trong khi xu hướng sử dụng thuốc lá và những hệ lụy của nó đang không ngừng gia tăng thì giá thực của thuốc lá lại đang có xu hưởng giảm đi.

Mặc dù giá bán lẻ của thuốc lá có tăng theo thời gian nhưng thu nhập của người dân đang gia tăng nhanh hơn. Nếu lấy mốc là năm 2005 thì trong giai đoạn 2015 – 2016, trong khi thu nhập theo đầu người tăng gấp 4,7 lần thì giá thuốc lá chỉ tăng 2,2 lần (số liệu của Tổng cục Thống kê và Báo cáo của WHO).

Phân tích sức mua thuốc lá bằng chỉ số “Giá thuốc lá tính theo phần trăm thu nhập quốc dân trên đầu người”, hay nói cách khác là tỷ lệ phần trăm thu nhập cần thiết để mua được 100 bao thuốc lá (20 điếu) cho thấy, nếu như năm 2005 người dân phải bỏ 9% thu nhập để mua 100 bao thuốc lá Vinataba,  nhưng đến năm 2016 người dân chỉ còn phải bỏ ra 4,3% thu nhập là có thể mua được 100 bao thuốc lá Vinataba. Điều này cho thấy giá thuốc lá đang rẻ đi so với thu nhập trong khi sức mua thuốc lá của người Việt Nam vẫn đang trên đà gia tăng.

 Biểu đồ 4: Giá bán lẻ thuốc lá và thu nhập đầu người tại Việt Nam 2005-2016

Nguồn: Số liệu từ Tổng cục Thống kê và các Báo cáo toàn cầu của WHO về kiểm soát thuốc lá

4. Tăng thuế thuốc lá: Biện pháp hiệu quả nhất giảm tiêu dùng và tăng thu ngân sách.

Do những tác hại khôn lường của việc hút thuốc lá đối với sức khỏe con người, các quốc gia trong đó có Việt Nam đã và đang tích cực thực hiện các biện pháp phòng, chống tác hại của thuốc lá. Trong số các biện pháp này, tăng thuế đối với thuốc lá là biện pháp hiệu quả giúp  giảm tiêu dùng thuốc lá và  mang lại nhiều lợi ích khác không chỉ cho người hút, cho gia đình họ mà còn cho toàn xã hội. Tăng thuế thuốc lá có hai lợi ích cơ bản:: (1) làm giảm sử dụng thuốc lá, giảm chi phí khám chữa bênh do sử dụng thuốc lá, qua đó giảm bệnh tật, tử vong và gánh nặng kinh tế do việc sử dụng thuốc lá; (2) tăng thu cho ngân sách nhà nước. Chính vì vậy, tăng thuế được gọi là biện pháp có lợi đôi đường: lợi cho sức khỏe người dân và lợi cho Nhà nước.

Tăng thuế làm giảm tiêu dùng thuốc lá, ngăn ngừa thanh thiếu niên bắt đầu hút thuốc

Bằng chứng từ các nước cho thấy, việc tăng thuế và giá thuốc lá có tác động mạnh đến giảm nhu cầu. Thuế cao hơn sẽ được chuyển hóa vào giá và làm tăng giá thuốc lá. Người tiêu dùng phản ứng với sự tăng giá bằng cách bỏ thuốc, hoặc giảm số lượng điếu hút. Đối với một bộ phận dân cư, giá thuốc cao hơn sẽ giúp họ không bắt đầu hút thuốc. Theo Ngân hàng Thế giới (năm 2003), trung bình giá một bao thuốc lá tăng 10% sẽ làm giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá 4% tại các nước có thu nhập cao và 8% tại các nước nước có thu nhập trung bình và thấp. Tại Việt Nam theo ước tính, giá thuốc tăng 10% sẽ làm giảm tiêu dùng thuốc lá 5%[8].

Biện pháp tăng thuế rất có hiệu quả với nhóm thanh thiếu niên. Theo ước tính, khi giá thuốc lá tăng 10% thì sẽ giảm sử dụng thuốc lá khoảng 10% hoặc nhiều hơn ở nhóm trẻ tuổi (tác động mạnh hơn so vói nhóm trưởng thành)[9].

Một số liệu điều tra ở Mỹ cho thấy, tỷ lệ hút thuốc trong nhóm học sinh lớp 12 giảm tương ứng với mức tăng giá thuốc lá qua các năm (Hình 4).

Hình 4: Xu hướng giá thuốc lá và tỷ lệ hút thuốc ở học sinh lớp 12, Hoa Kỳ, 1991-2014

Nguồn: United states National Caner Institute & WHO. 2016

Tăng thuế thuốc lá làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước:

Số thu từ thuế thuốc lá đối với ngân sách nhà nước phụ thuộc vào hai yếu tố, đó là tỷ lệ thuế/mức thuế suất và mức độ co giãn của cầu theo giá thuốc lá. Nếu mức thuế suất càng cao sẽ làm giá thuốc lá tăng và số thu thuế trên mỗi bao tăng. Bên cạnh đó, tăng thuế sẽ có tác động làm tăng giá bán lẻ và giảm lượng tiêu dùng thuốc lá, nên thay đổi trong số thu ngân sách sẽ bằng tỷ lệ tăng của thuế và giá trừ đi tỷ lệ giảm của sản lượng.

Việc tăng thuế thuốc lá sẽ làm tiêu dùng thuốc lá giảm đi, tuy nhiên doanh thu thuế vẫn tăng vì lý do sau:

– Thuốc lá là loại hàng hoá có tính gây nghiện nên tốc độ giảm tiêu dùng sẽ chậm hơn so với tốc độ tăng giá.

– Do sự gia tăng dân số nên ngay cả khi tỷ lệ hút thuốc giảm vẫn luôn có một số người mới gia nhập thị trường và tổng số người hút sẽ giảm nhưng rất chậm.

Ở Thổ Nhĩ Kỳ, năm 2010, do dân số tăng, nên ngay cả khi tỷ lệ hút thuốc giảm vẫn luôn có một số người mới gia nhập thị trường, do đó, tổng số người hút giảm nhưng rất chậm. Khi tăng thuế, đã làm tăng giá thuốc lá mạnh hơn, giá thuốc lá bán đến tay người dùng tăng khoảng hơn gấp đôi. Kết quả, doanh thu thuế thuốc lá của Chính phủ tăng khoảng hơn 40% từ 11 tỷ TL năm 2009 lên thành 15,9 tỷ TL năm 2011. Trong khi tiêu dùng thuốc lá giảm đáng kể, từ 5,3 tỷ bao năm 2009 xuống còn 4,5 tỷ bao năm 2011[10].

Ở Nam Phi, trong giai đoạn 1991-2012 thuế thuốc lá (sau khi đã trừ lạm phát) đã tăng từ mức 2 Rands (1USD = 12,7 Rands) lên mức 10 Rands mỗi bao. Kết quả là thu thuế thuốc lá đã tăng từ 3 tỷ Rands lên gần 12 tỷ Rands trong cùng giai đoạn[11].

Ở Thái Lan, từ năm 1993-2015, thuế thuốc lá đã tăng từ 55% lên 87% giá bán buôn đã có thuế (tương đương mức tăng từ 120% giá xuất xưởng lên thành 670% giá xuất xưởng như cách tính thuế của Việt Nam). Kết quả, thu ngân sách từ thuế thuốc lá tăng gấp 4 lần (từ 500 triệu USD năm 1993 lên 2,1 tỷ USD năm 2015, tỷ lệ hút thuốc chung giảm từ 32% (năm 1991) xuống còn 19,9% (năm 2015), trong khi sản lượng thuốc lá không thay đổi nhiều, dao động quanh con số 2 tỷ bao mỗi năm[12].

Tại Việt Nam, năm 2008 (sau khi áp dụng mức thuế mới 65% – tăng 10% so với mức thuế 55% năm 2007), doanh thu từ thuế thuốc lá đã tăng hơn 1.000 tỷ đồng so với năm 2007 (từ 6.500 tỷ VND lên 7.500 tỷ VND) mặc dù tiêu dùng trong năm 2008 giảm khoảng 3% so với 2007. Tuy nhiên việc tăng thuế chỉ trong một năm duy nhất không có nhiều tác dụng, vì các năm sau đó thuế không tăng nên tiêu dùng lại tiếp tục trở lại xu hướng tăng như trước đó. Năm 2016 (sau khi áp dụng mức thuế mới 70% – tăng 5% so với mức thuế 65% năm 2015), thu thuế thuốc lá năm 2016 ước tính tăng khoảng 4% so với năm 2015. Do mức tăng thuế nhỏ nên tác động tới tiêu dùng hầu như không đáng kể[13].

Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới, trên phạm vi toàn cầu khi thuế tăng 10% sẽ giúp tăng thu thuế thuốc lá của chính phủ thêm 7%. Theo tổ chức Y tế thế giới, chính phủ các nước trên thế giới có thể thu thêm 141 tỷ đô la Mỹ từ thuế thuốc lá nếu tăng thuế với mức trung bình là 0,8 USD mỗi bao[14]. Ở các quốc gia nơi mà tỷ lệ thuế trong giá bán lẻ thấp như ở Việt Nam, tăng thuế thuốc lá thường không dẫn tới một mức tăng lớn trong giá bán thuốc lá hay mức giảm mạnh đối với tiêu dùng, nhưng lại sẽ làm tăng doanh thu từ thuế thuốc lá ở mức rất đáng kể cho quốc gia đó./.

Bác sĩ Phan Thị Hải, Phó Giám dốc Quỹ phòng, chống tác hại thuốc lá; TS. Phạm Thị Duyên Thảo – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 17/2018.


[1] Bộ Y tế, Điều tra toàn cầu về sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành ở Việt Nam, 2015.
[2] Lyvy DT, Bales S, Lam NT, Nikolayev L. The role of public policies in reducing smoking and deaths caused by smoking in Vietnam: results from the Vietnam tobacco policy simulation model. Soc Sci Med. 2006; 62(7):1819-1830. 10.1016/j.socscimed.2005.08.043.
[3] Bui N Linh, Nguyen TT Nhung, Tran K Long, Vos Theo, Norman Rosana, Nguyen T Huong. Risk factors of burden of disease: a comparative assessment study for evidence-based health policy making in Vietnam. The Lancet.381:S23. 10.1016/S0140-6736(13)61277-5.
[4] Bộ Y tế, Điều tra toàn cầu về sử dụng thuốc lá ở thanh thiếu niên ở Việt Nam, 2014.
[5] Phạm Hoàng Anh, Lê Thị Thu. Gánh nặng bệnh tật và chi phí y tế của các bệnh liên quan đến thuốc lá. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 20 (276) 10/2015.
[6] Hoang Anh PT, Thu T Le, Ross H, Quynh Anh N, Linh BN, Minh NT. Direct and indirect costs of smoking in Vietnam.Tob Control. 2016;25(1):96-100. 10.1136/tobaccocontrol-2014-051821.
[7] Bộ Y tế, Điều tra toàn cầu về sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành ở Việt Nam, 2015.
[8] Bộ Y tế, WHO, HealthBridge, Hỏi đáp về thuế thuốc lá tại Việt Nam, 2018
[9] World Bank. Curbing The Tobacco Epidemic: Governments and the Economics of Tobacco Control.Washington DC: World Bank; 1999.
[10] Bộ Y tế, WHO, HealthBridge, tlđd, 2018.
[11] Bộ Y tế, WHO, HealthBridge, tlđd, 2018.
[12] Bộ Y tế, WHO, HealthBridge, tlđd, 2018.
[13] Bộ Y tế, WHO, HealthBridge, tlđd, 2018.
[14] World Health Organization. World No Tobacco Day 2017 brochure: “Tobacco threatens us all: protect health, reduce poverty and promote development”. 2017.