Hoàn thiện quy định về lấy ý kiến người dân trong quá trình lập quy hoạch xây dựng đô thị

Lấy ý kiến của người dân là một trong những giai đoạn của quá trình lập quy hoạch đô thị. Pháp luật về quy hoạch đã bao hàm những quy định cụ thể về quy trình này. Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện pháp luật cho thấy, còn có một số vấn đề cần được hoàn thiện nhằm bảo đảm quyền của người dân trong quá trình lập và thực hiện quy hoạch xây dựng đô thị.

1. Tổng quan về quyền tiếp cận thông tin

1.1 Khái niệm thông tin trong quy hoạch xây dựng đô thị

“Thông tin” là một khái niệm cơ bản của khoa học cũng là khái niệm trung tâm của xã hội trong thời đại chúng ta. Mọi quan hệ, mọi hoạt động của con người đều dựa trên một hình thức giao lưu thông tin nào đó. Mọi tri thức đều bắt nguồn bằng một thông tin về những điều đã diễn ra, về những cái người ta đã biết, đã nói đã làm[1].
Theo Từ điển tiếng Việt, “thông tin” là sự truyền đạt tin tức cho nhau về một vấn đề, sự việc, hiện tượng nào đó[2]. Theo quy định của pháp luật, “thông tin” là tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan Nhà nước tạo ra[3]. Dựa vào hai khái niệm trên ta có thể hiểu “Thông tin” là sự truyền đạt, thông báo tin tức từ một cơ quan, tổ chức, cá nhân đến một cơ quan, tổ chức, cá nhân khác về một vấn đề, sự việc, hiện tượng nào đó.
Trong lĩnh vực quy hoạch xây dựng đô thị, chủ thể thông báo tin tức là cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đối tượng được nhận thông báo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quy hoạch. Như vậy, ta có thể hiểu Thông tin quy hoạch xây dựng đô thị là sự thông báo tin tức từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về các vấn đề trong quy hoạch xây dựng đô thị.

1.2 Quyền tiếp cận thông tin của người dân trong quy hoạch xây dựng đô thị

Quyền tiếp cận thông tin
Quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền năm 1948. Điều 19 của Tuyên ngôn này quy định: “Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia” và tại Khoản 2 Điều 19 Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị năm 1966 quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận”. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ[4]. Hai văn kiện này là nền tảng cho việc ghi nhận các quyền cơ bản của con người về dân sự, chính trị, mà quyền tiếp cận thông tin được coi là quyền cơ bản nhất trong nhóm các quyền dân sự, chính trị đó, và rất nhiều công ước quốc tế sau này tiếp tục ghi nhận[5].
Ở Việt Nam, quyền được thông tin được ghi nhận lần đầu tiên trong Hiến pháp năm 1992 tại Điều 69: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình”[6]. Đến Hiến pháp năm 2013, quyền tiếp cận thông tin được quy định theo hướng chủ động hơn. Điều 25 Hiến pháp quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”[7].
Để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, Quốc hội đã thông qua Luật tiếp cận thông tin năm 2016. Sự ra đời của Luật tiếp cận thông tin năm 2016 đã giúp cho quyền tiếp cận thông tin của công dân được đảm bảo thực hiện một cách tốt hơn.
Trong lĩnh vực quy hoạch xây dựng đô thị, việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của người dân cũng được quan tâm đến. Cụ thể, khoản 1 Điều 55 Luật Quy hoạch đô thị (QHĐT) năm 2009  quy định: “Cơ quan quản lý quy hoạch đô thị các cấp có trách nhiệm cung cấp thông tin về quy hoạch đô thị đã được phê duyệt cho các tổ chức, cá nhân khi có yêu cầu”[8]. Việc cung cấp thông tin về quy hoạch xây dựng được thực hiện dưới các hình thức sau: “giải thích trực tiếp, qua phương tiện thông tin đại chúng và cấp chứng chỉ quy hoạch”[9].

2. Quy định pháp luật về lấy ý kiến người dân trong quá trình lập quy hoạch xây dựng đô thị

2.1 Đối tượng được lấy ý kiến

Hiện nay, các đối tượng được lấy ý kiến trong quá trình lập quy hoạch đã được quy định cụ thể theo từng nhóm. Theo quy định của Luật quy hoạch đô thị năm 2009, “Cơ quan tổ chức lập quy hoạch đô thị, chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng tổ chức lập quy hoạch chi tiết khu vực được giao đầu tư có trách nhiệm lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan về nhiệm vụ và đồ án quy hoạch đô thị”[10], đồng thời, “Cơ quan, chủ đầu tư tổ chức lập quy hoạch xây dựng có trách nhiệm lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan về nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng”[11].
Quy định trên cho thấy, đối tượng được lấy ý kiến trong quá trình lập quy hoạch xây dựng đô thị là: Cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan tại khu vực lập quy hoạch. Có thể chia các đối tượng được lấy ý kiến thành các nhóm sau:
Nhóm thứ nhất, cơ quan, tổ chức. Nhóm này thường bao gồm những cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội có chức năng, nhiệm vụ liên quan đến hoạt động quy hoạch xây dựng đô thị.
Nhóm thứ hai, cá nhân có liên quan. Cho đến thời điểm hiện tại, nội hàm từ “cá nhân” vẫn chưa được làm rõ là sẽ lấy ý kiến của ai học luật online. Cá nhân là các nhà khoa học, chuyên gia trong lĩnh vực quy hoạch đang cần lấy ý kiến, hay cá nhân là tất cả các cá nhân không giới hạn đang cư trú tại khu vực có quy hoạch hay không đều có quyền đóng góp cho đồ án của quy hoạch[12].
Nhóm thứ ba, cộng đồng dân cư có liên quan: Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ[13]. Tuy nhiên, định nghĩa trên trong Luật Đất đai năm 2013 rất khó để xác định một cộng đồng dân cư trên thực tế là như thế nào. Trong nhiều trường hợp, định nghĩa về cộng đồng dân cư trong Luật Đất đai năm 2013 chỉ có thể áp dụng để xác định cộng đồng dân cư ở các dân tộc thiểu số.
Đối tượng được lấy ý kiến quy định trong Luật Quy hoạch năm 2017 được mở rộng và đa dạng hơn so với Luật quy hoạch đô thị năm 2009 và Luật Xây dựng năm 2014. Theo đó, khoản 1 Điều 20 Luật Quy hoạch năm 2017 quy định: “Cơ quan lập quy hoạch có trách nhiệm lấy ý kiến các Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp của địa phương có liên quan và cơ quan, tổ chức, cộng đồng, cá nhân khác có liên quan về quy hoạch. Đối với quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh thì cơ quan lập quy hoạch còn phải lấy ý kiến của UBND các tỉnh liền kề”. Như vậy, ngoài các đối tượng được lấy ý kiến được nêu ở trên, Luật bổ sung các Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các cấp có liên quan; đối với quy hoạch vùng hoặc quy hoạch tỉnh còn phải lấy ý kiến của UBND các tỉnh liền kề.
Nhìn chung, mỗi nhóm đối tượng đóng vai trò và có ý nghĩa nhất định trong quá trình lập quy hoạch xây dựng đô thị. Đóng góp của họ sẽ ảnh hưởng đến việc quyết định thực hiện những chiến lược, chính sách, các quy hoạch của đất nước, hay một vùng lãnh thổ nhất định. Đồng thời, những nhóm đối tượng này cũng là chủ thể bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quy hoạch hay các dự án được đầu tư xây dựng, thế nên, những ý kiến đóng góp của họ sẽ thiết thực và đảm bảo tính khách quan đối với việc triển khai thực hiện quy hoạch, dự án công trình.

2.2 Chủ thể có trách nhiệm lấy ý kiến

Trách nhiệm lấy ý kiến về quy hoạch xây dựng đô thị quy định tại Điều 20 Luật quy hoạch đô thị năm 2009 như sau:
Một là, cơ quan tổ chức lập quy hoạch đô thị, chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng tổ chức lập quy hoạch chi tiết khu vực được giao đầu tư có trách nhiệm lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan về nhiệm vụ và đồ án quy hoạch đô thị.
UBND có liên quan, tổ chức tư vấn lập quy hoạch có trách nhiệm phối hợp với cơ quan tổ chức lập quy hoạch đô thị, chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng tổ chức lập quy hoạch chi tiết khu vực được giao đầu tư trong việc lấy ý kiến.
Hai là, đối với nhiệm vụ và đồ án quy hoạch đô thị thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng có trách nhiệm lấy ý kiến các bộ, cơ quan, tổ chức khác ở trung ương có liên quan; UBND có liên quan có trách nhiệm lấy ý kiến cơ quan tổ chức lập quy hoạch đô thị, chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng tổ chức lập quy hoạch chi tiết khu vực được giao đầu tư có trách nhiệm lấy ý kiến.
Ba là, tổ chức tư vấn lập quy hoạch có trách nhiệm lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan về đồ án quy hoạch đô thị.
Bốn là, các ý kiến đóng góp phải được tổng hợp đầy đủ, có giải trình, tiếp thu và báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét trước khi quyết định phê duyệt.

Ngoài ra, theo quy định của Luật Xây dựng năm 2014 thì chủ thể có trách nhiệm lấy ý kiến được quy định như sau:
Thứ nhất, cơ quan, chủ đầu tư tổ chức lập quy hoạch xây dựng có trách nhiệm lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan về nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng.
UBND có liên quan có trách nhiệm phối hợp với cơ quan tổ chức lập quy hoạch xây dựng, chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng trong việc lấy ý kiến.
Thứ hai, đối với nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ thì Bộ Xây dựng có trách nhiệm lấy ý kiến các bộ, cơ quan, tổ chức khác ở trung ương có liên quan; UBND cấp tỉnh có trách nhiệm lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan ở địa phương.
Việc quy định trách nhiệm lấy ý kiến người dân trong quy hoạch xây dựng đô thị tùy thuộc vào quy mô, tính chất của quy hoạch mà được giao về cho cơ quan tổ chức lập quy hoạch, chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng tổ chức lập quy hoạch chi tiết khu vực được giao đầu tư hay Bộ Xây dựng hoặc tổ chức tư vấn lập quy hoạch. Việc lấy ý kiến người dân sẽ giúp cho cơ quan có thẩm quyền hoàn thiện đề án quy hoạch xây dựng đô thị, đáp ứng được mong muốn cũng như nhu cầu của người dân trong khu vực quy hoạch.
So sánh đối tượng có trách nhiệm lấy ý kiến trong Luật quy hoạch đô thị năm 2009 và Luật Xây dựng năm 2014 với Luật Quy hoạch năm 2017 có thể thấy, đối tượng có trách nhiệm lấy ý kiến trong Luật Quy hoạch năm 2017 được tập trung lại là “Cơ quan lập quy hoạch” chứ không còn phân cấp theo quy mô, tính chất như trước đây nữa.

2.3 Phạm vi lấy ý kiến

Căn cứ vào quy định tại Điều 20 Luật quy hoạch đô thị năm 2009 và Điều 16 Luật Xây dựng 2014, phạm vi lấy ý kiến là: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan về nhiệm vụ và đồ án quy hoạch”.Với nội dung quy định này, ta có thể chia phạm vi lấy ý kiến theo hai hướng sau:
– Thứ nhất: Chỉ cần lấy ý kiến người dân trong khu vực quy hoạch vì chỉ những người này mới có liên quan và thuộc phạm vi lấy ý kiến.
– Thứ hai: Có thể hiểu phạm vi lấy ý kiến bao gồm người dân trong và ngoài khu vực quy hoạch nếu những người đó có liên quan đến quy hoạch.
Nếu theo cách hiểu thứ hai thì quy định về phạm vi lấy ý kiến rộng hơn, bao quát hơn. Tuy nhiên, do quy định của luật chỉ mới dừng lại ở mức độ chung chung là “có liên quan”, nên rất khó để xác định được phạm vi lấy ý kiến người dân để đảm bảo một cách tốt nhất lợi ích của người dân. Nghị định 44/2015/NĐ-CP ngày 06/5/2015 của Chính phủ quy định về phạm vi lấy ý kiến của quy hoạch xây dựng vùng; quy hoạch khu chức năng đặc thù; quy hoạch xây dựng nông thôn, nhưng lại không bao hàm quy định về phạm vi lấy ý kiến quy hoạch xây dựng đô thị. Vì vậy, có thể thấy rằng đây là một vấn đề cần phải được nghiên cứu bổ sung trong các quy định của pháp luật trong thời gian tới.

2.4 Nội dung lấy ý kiến

Theo quy định của Luật quy hoạch đô thị năm 2009 và Luật Xây dựng năm 2014, nhiệm vụ quy hoạch là các yêu cầu về nội dung nghiên cứu và tổ chức thực hiện được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt làm cơ sở để lập đồ án quy hoạch đô thị[14]. Đồ án quy hoạch đô thị là tài liệu thể hiện nội dung của quy hoạch đô thị, bao gồm các bản vẽ, mô hình, thuyết minh và quy định quản lý theo quy hoạch đô thị[15].

2.5 Thời gian, hình thức lấy ý kiến

 Thời gian lấy ý kiến
Thời gian lấy ý kiến người dân về quy hoạch xây dựng đô thị là một giới hạn mà trong khoảng thời gian đó người dân được thực hiện quyền tham gia đóng góp ý kiến của mình. Khoản 4 Điều 21 Luật quy hoạch đô thị năm 2009 quy định:“Thời gian lấy ý kiến ít nhất là 15 ngày đối với cơ quan, 30 ngày đối với tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư”.
So với Luật Xây dựng năm 2014 thì thời gian lấy ý kiến người dân trong Luật quy hoạch đô thị năm 2009 có phần ngắn hơn, cụ thể trong Luật Xây dựng năm 2014 là: “20 ngày đối với cơ quan, 40 ngày đối với tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư”[16].Bên cạnh đó, Luật Quy hoạch năm 2017 lại không quy định về thời gian lấy ý kiến người dân.
Thời gian lấy ý kiến người dân trong quy hoạch xây dựng đô thị còn tùy vào nhóm đối tượng được lấy ý kiến và hình thức lấy ý kiến được áp dụng mà ta sẽ cần một khoảng thời gian nhất định để đạt được hiệu quả tối đa nhất. Nhưng nhìn chung, quy định của pháp luật về thời gian lấy ý kiến người dân trong quy hoạch xây dựng đô thị đã hợp lý, vừa ràng buộc được trách nhiệm đối với chủ thể có thẩm quyền lấy ý kiến, vừa đảm bảo được quyền tham gia đóng góp ý kiến của người dân.
Hình thức lấy ý kiến
Để bảo đảm cho hoạt động lấy ý kiến người dân mang lại hiệu quả cao, thu hút được sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân, cần lựa chọn và kết hợp các hình thức lấy ý kiến đa dạng, phù hợp với tình hình thực tế. Hoạt động lấy ý kiến người dân về quy hoạch xây dựng đô thị sử dụng ba hình thức lấy ý kiến, là: Phát phiếu điều tra, phỏng vấn, gửi hồ sơ, tài liệu hoặc tổ chức hội nghị, hội thảo, công khai trên phương tiện thông tin đại chúng[17]. Mỗi hình thức đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng và tùy vào đối tượng lấy ý kiến mà áp dụng hình thức phù hợp.
Có thể nhận thấy những điểm khác biệt về hình thức lấy ý kiến trong Luật quy hoạch đô thị năm 2009 với Luật Quy hoạch năm 2017 qua bảng so sánh sau:

Nội dung Luật quy hoạch đô thị năm 2009 Luật Quy hoạch năm 2017
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan Gửi hồ sơ, tài liệu hoặc tổ chức hội nghị, hội thảo Gửi hồ sơ, tài liệu và đăng tải trên trang thông tin điện tử của cơ quan lập quy hoạch
Cộng đồng dân cư có liên quan Phát phiếu điều tra, phỏng vấnTrưng bày công khai hoặc giới thiệu phương án quy hoạch trên phương tiện thông tin đại chúng Đăng tải trên trang thông tin điện tử của cơ quan lập quy hoạch, niêm yết, trưng bày tại nơi công cộng, phát phiếu điều tra phỏng vấn, tổ chức hội nghị, hội thảo (một vài ý kiến cho rằng, nên bỏ hình thức hội nghị, hội thảo đối với cộng đồng dân cư do sẽ không có nhiều “cộng đồng” có kiến thức và có thể hiểu được trọn vẹn các nội dung của đồ án quy hoạch, điều này sẽ làm cho cả việc lấy ý kiến và góp ý đều không đạt được mục đích và chất lượng như mong muốn)[18].

Luật Quy hoạch năm 2017 đã thực hiện việc kết hợp nhiều hình thức lấy ý kiến người dân với nhau để đảm bảo một cách tốt nhất quyền lợi ích của người dân.
Theo quy định của khoản 3 Điều 21 Luật quy hoạch đô thị năm 2009, hình thức lấy ý kiến người dân bằng phương pháp công khai trên phương tiện thông tin đại chúng được áp dụng để lấy ý kiến cộng đồng dân cư có liên quan đối với đồ án và nhiệm vụ của quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chi tiết.

3.6 Cách thức xử lý thông tin

Theo quy định của khoản 4 Điều 20 Luật quy hoạch đô thị năm 2009, khoản 3 Điều 16 Luật Xây dựng năm 2014, ý kiến đóng góp của nhân dân sẽ được “tổng hợp đầy đủ, giải trình, tiếp thu và báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định”. Luật Quy hoạch năm 2017 cũng bao hàm quy định về ý kiến đóng góp của người dân: “Các ý kiến đóng góp phải được nghiên cứu, tiếp thu hoặc giải trình và báo cáo cấpcó thẩm quyền xem xét trước khi thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt quy hoạch”.Bên cạnh đó, Luật Quy hoạch năm 2017 còn yêu cầu:“Cơ quan lập quy hoạch có trách nhiệm công bố, công khai các ý kiến đóng góp và việc tiếp thu, giải trình các ý kiến đóng góp”[19].

3. Những vấn đề đặt ra trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin trong quá trình lập quy hoạch xây dựng đô thị

Thực tiễn thực hiện quyền tiếp cận thông tin trong quá trình lập quy hoạch xây dựng đô thị đặt ra một số vấn đề sau đây:
Một là, pháp luật hiện hành chưa bao hàm quy định cụ thể về quy trình thực hiện công tác lấy ý kiến người dân về lập quy hoạch xây dựng đô thị. Điều này dẫn đến sự lúng túng của cơ quan, tổ chức trong công tác lấy ý kiến người dân.
Hai là, quy định về hình thức lấy ý kiến người dân trong quy hoạch xây dựng đô thị chưa linh hoạt, chưa thực sự phù hợp với đặc điểm đời sống của từng địa phương. Ví dụ, tại các địa phương ven biển, đa phần người dân ở đây thường theo tàu đi đánh bắt xa bờ dài ngày, vì vậy, khi áp dụng các hình thức lấy ý kiến như hiện nay sẽ khó có thể lấy được ý kiến của những ngư dân này, trong khi đa phần nhóm đối tượng này thường là chủ hộ gia đình.
Ba là, quy định về tổng hợp, tiếp thu ý kiến đóng góp của người dân còn chưa chặt chẽ, thiếu cơ chế giải trình ý kiến đóng góp cho người dân. Đồng thời, chưa có quy định về tỷ lệ ý kiến đồng thuận bắt buộc để các đồ án quy hoạch được thông qua. Bên cạnh đó, việc lấy ý kiến người dân là nhằm mục đích tham khảo hay ý kiến của người dân hay giữ vai trò quyết định đồ án quy hoạch có được thông qua hay không hiện nay vẫn chưa được xác định rõ[20].
Bốn là,  trong quy định của pháp luật, cụm từ “cá nhân có liên quan” và “cộng đồng dân cư” chưa được giải thích rõ. Điều này, gây khó khăn trong vấn đề xác định đối tượng được lấy ý kiến về quy hoạch xây dựng đô thị. Bên cạnh đó, do chưa quy định cụ thể về phạm vi lấy ý kiến dẫn đến tình trạng bỏ sót đối tượng cần được lấy ý kiến, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của cá nhân đó khi thực hiện quy hoạch xây dựng đô thị.
Năm là, công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật về quy hoạch xây dựng đô thị chưa được thực hiện một cách nghiêm túc. Việc lấy ý kiến trong cộng đồng dân cư về quy hoạch xây dựng đô thị được chính quyền cấp xã, trưởng thôn, trưởng ấp thực hiện bằng hình thức họp dân lấy ý kiến, tuy nhiên, trưởng thôn (ấp) lại không phải là người có chuyên môn về quy hoạch xây dựng đô thị thì khó có thể giải thích cụ thể được một số vấn đề phức tạp đòi hỏi về chuyên môn cho cộng đồng được rõ.
Sáu là, trình độ dân trí một số khu vực, đặc biệt là khu vực nông thôn còn tương đối thấp, trong khi quy hoạch xây dựng đô thị với nhiều nội dung còn phức tạp và mang tính chất chuyên môn cao, khó hiểu, nên người dân không hiểu rõ được hết vai trò và tầm quan trọng của việc quy hoạch xây dựng đô thị. Điều này dẫn đến tình trạng người dân cũng không quan tâm nhiều đến việc tham gia đóng góp ý kiến để hoàn thiện quy hoạch xây dựng đô thị.

4. Một số đề xuất kiến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động lấy ý kiến người dân về quy hoạch xây dựng đô thị, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị sau đây:
Một là, cần phải quy định rõ về phạm vi được lấy ý kiến trong quy hoạch xây dựng đô thị. Trong đó, cần có quy định rõ về khu vực ngoài quy hoạch được lấy ý kiến là khu vực nào, cách tâm hoặc biên của khu vực quy hoạch bao nhiêu và tiêu chí xác định trong từng trường hợp cụ thể là như thế nào. Đồng thời, cần quy định quy trình và các hình thức lấy ý kiến người dân để phù hợp với đặc điểm của từng vùng miền, từng địa phương, nhưng vẫn đảm bảo khung quy định thống nhất chung.
Hai là, cần giải thích rõ cụm từ “cá nhân”, “cộng đồng dân cư” được lấy ý kiến trong quy hoạch xây dựng đô thị bao gồm những ai, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ sót đối tượng cần lấy ý kiến, đảm bảo quyền và lợi ích của người dân một cách cao nhất.
Ba là, cần có quy định cụ thể về tỷ lệ ý kiến đồng thuận bắt buộc để nhiệm vụ và đồ án quy hoạch được thông qua. Việc quy định một con số cụ thể để thông qua đồ án quy hoạch xây dựng đô thị sẽ nâng cao tinh thần trách nhiệm, sự nghiêm túc của cơ quan lập quy hoạch. Bên cạnh đó, người được lấy ý kiến cũng nhận thức được vai trò, tầm quan trọng và trách nhiệm của mình trong việc tìm hiểu và góp ý cho các vấn đề kinh tế – xã hội nói chung, trong việc lập quy hoạch xây dựng đô thị nói riêng./.

TRẦN VANG PHỦ

GV. Khoa Luật, Đại học Cần Thơ

NGUYỄN VÕ LINH GIANG

GV. Khoa Luật, Đại học Cần Thơ

Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 14 (390), tháng 7/2019


[1] Đoàn Phan Tân, “Khái niệm thông tin và các thuộc tính làm nên giá trị của thông tin”, Tạp chí Văn hóa – Nghệ thuật, số 3/2001, http://dlib.huc.edu.vn/bitstream/123456789/948/1/VeKNiemTTin%20v%C3%A0%20CacThuocTinhLamNenGTriCuaTT_BaiBao_.pdf [truy cập ngày 10/8/2017].

[2]Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2016, trang 1206.
[3] Khoản 1 Điều 2 Luật tiếp cận thông tin năm 2016.
[4] Khoản 2 Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966.
[5]Hoàng Minh Sơn, Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013, http://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/201602/bao-dam-quyen-tiep-can-thong-tin-theo-tinh-than-cua-hien-phap-nam-2013-299953/ [truy cập ngày 12/08/2017].
[6] Điều 69 Hiến pháp năm 1992.
[7] Điều 25 Hiến pháp năm 2013.
[8] Khoản 1 Điều 55 Luật quy hoạch đô thị năm 2009
[9] Khoản 2 Điều 55 Luật quy hoạch đô thị năm 2009
[10] Khoản 1 Điều 20 Luật quy hoạch đô thị năm 2009
[11] Khoản 1 Điều 16 Luật Xây dựng năm 2014
[12] Trần Vang Phủ, Những điểm nổi bật trong Dự thảo Luật Quy hoạch và các kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 16/2017, trang 36.
[13] Khoản 3 Điều 5 Luật Đất đai năm 2013
[14]Khoản 5 Điều 3 Luật quy hoạch đô thị năm 2009.
[15] Khoản 6 Điều 3 Luật quy hoạch đô thị năm 2009. Hiện nay, từng nội dung cụ thể của từng loại đồ án: đồ án quy hoạch chung thành phố trực thuộc trung ương; đồ án quy hoạch chung thành phố thuộc tỉnh, thị xã; đồ án quy hoạch chung thị trấn, đô thị loại V chưa công nhận là thị trấn, đồ án quy hoạch chung đô thị mới… được quy định chi tiết tại Nghị định 37/2010/NĐ-CP và Thông tư 10/2010/TT-BXD.
[16] Khoản 4 Điều 16 Luật Xây dựng năm 2014
[17] Điều 20 Luật quy hoạch đô thị năm 2009
[18]Trần Vang Phủ, Những điểm nổi bật trong Dự thảo Luật Quy hoạch và các kiến nghị hoàn thiện, tlđd.
[19] Khoản 4 Điều 20 Luật Quy hoạch năm 2017.
[20] Trần Vang Phủ, Những điểm nổi bật trong Dự thảo Luật Quy hoạch và các kiến nghị hoàn thiện, tlđd.
5.0
Quy định của pháp luật và thực trạng xét xử các vụ án xâm hại trẻ em và kiến nghị hoàn thiện

Trong những năm gần đây, số vụ án hình sự xâm hại trẻ em do Tòa án xét xử và số trẻ em bị xâm hại có xu hướng gia tăng và nghiêm trọng với nhiều thủ đoạn mới. Từ thực trạng nêu trên, cần phải đưa ra giải pháp đưa ra trong xét xử các vụ án xâm hại trẻ em. Tác giả bài viết nêu thực trạng xét xử các vụ án xâm hại trẻ em và đưa ra các giải pháp, kiến nghị …
 

Quy định của pháp luật và thực trạng xét xử các vụ án xâm hại trẻ em và kiến nghị hoàn thiện

Mục lục:

  1. Khái quát chung
  2. Thực tiễn xét xử các vụ án xâm hại trẻ em
  3. Thực trạng và giải pháp trong xét xử các vụ án xâm hại trẻ em
  4. Giải pháp đưa ra trong xét xử các vụ án xâm hại trẻ em
Bị cáo Nguyễn Trọng Trình xâm hại bé gái 9 tuổi ở Chương Mỹ bị phạt tù chung thân – Ảnh: Tư Viễn, NĐT
Bị cáo Nguyễn Trọng Trình xâm hại bé gái 9 tuổi ở Chương Mỹ bị phạt tù chung thân – Ảnh: Tư Viễn, NĐT

1. Khái quát chung

Theo Luật Trẻ em năm 2016, “trẻ em” là người dưới 16 tuổi. Xâm hại trẻ em được hiểu là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác.
Tội phạm xâm hại trẻ em, trong BLHS năm 2015, một số được quy định thành tội danh cụ thể như tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” (Điều 142), tội “Cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” (Điều 144), tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” (Điều 145)… một số được quy định thành tình tiết định khung hình phạt như tội “Giết người” (“giết người dưới 16 tuổi” điểm b khoản 1 Điều 123), tội “Làm chết người trong khi thi hành công vụ” (“đối với người dưới 16 tuổi” điểm b khoản 2 Điều 127), tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” (“đối với người dưới 16 tuổi” điểm c khoản 1 Điều 134)…hoặc được quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (“phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” hoặc “xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” các điểm i và o khoản 1 Điều 52).
So sánh với nội dung quy định của BLHS năm 1999, nội dung tại các điều luật quy định về tội phạm xâm hại tình dục trẻ em của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có sự thay đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế tình hình diễn biến và tính chất của loại tội phạm này nhằm xử lý đúng người, đúng tội, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Thứ nhất, thay đổi tên một số tội danh và cụ thể hóa độ tuổi của bị hại vào tên tội danh, giúp thể hiện rõ hơn các dấu hiệu pháp lý của tội phạm (thể hiện ngay trong tên điều luật), đây là một trong những điều kiện thuận lợi giúp các cơ quan hành pháp, tư pháp điều tra xử lý đúng hành vi, đúng tội đảm bảo tính nghiêm minh, tính răn đe của pháp luật. Cụ thể, tội “Hiếp dâm trẻ em” (Điều 122) thành tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” (Điều 142); tội “Cưỡng dâm trẻ em” (Điều 114) thành tội “Cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” (Điều 144); tội “Giao cấu với trẻ em” (Điều 115) thành tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” (Điều 145); tội “Dâm ô trẻ em” (Điều 116) thành tội “Dâm ô với người dưới 16 tuổi” (Điều 146).
Ngoài ra, BLHS năm 2015 còn cụ thể hoá một số cụm từ khác như “người đã thành niên” được thay bằng “người đủ 18 tuổi trở lên”; “nhiều người” được thay bằng “từ 02 người trở lên”; “nhiều lần” được thay bằng “từ 02 lần trở lên”; “hiếp dâm trẻ em” được thay bằng “dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ” hoặc “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi”. Cùng với đó, cụm từ “cưỡng dâm trẻ em”, “giao cấu với trẻ em”, “dâm ô với trẻ em” cũng được khái niệm cụ thể để đảm bảo tính thống nhất trong cách hiểu và quá trình áp dụng của các cơ quan có thẩm quyền.
Thứ hai, bổ sung thêm “hành vi quan hệ tình dục khác” vào mặt khách quan của tội phạm. Theo quy định của BLHS năm 1999 thì yếu tố bắt buộc để chứng minh trong một số tội xâm hại tình dục như tội hiếp dâm, cưỡng dâm là thực hiện việc “giao cấu” với nạn nhân. Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay đã xuất hiện các hành vi quan hệ tình dục phi truyền thống như quan hệ tình dục bằng miệng… Do vậy, ngoài hành vi “giao cấu” BLHS năm 2015 bổ sung thêm hành vi “quan hệ tình dục khác” làm cơ sở để chứng minh tội phạm. Việc bổ sung thêm hành vi vào mặt khách quan của tội phạm giúp nâng cao tính bao quát, toàn diện, phát triển và đảm bảo sự phù hợp của các điều luật có liên quan được quy định trong BLHS năm 2015, tránh để loại tội phạm, loại bỏ hành vi “lách luật”, lợi dụng “kẽ hở” của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội.
Thứ ba, mở rộng chủ thể thực hiện tội phạm xâm hại tình dục và nạn nhân. Trong BLHS năm 1999, những tội phạm xâm hại tình dục được cấu thành bằng hành vi “giao cấu” như tội Hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em, tội cưỡng dâm… Mặc định được hiểu chủ thể thực hiện là nam giới; đồng thời, nữ giới chỉ có thể trở thành chủ thể của Tội hiếp dâm trong trường hợp đồng phạm với vai trò người giúp sức. Tuy nhiên, với BLHS năm 2015, do công nhận các hành vi quan hệ tình dục khác trong mặt khách quan của tội phạm nên chủ thể của tội phạm xâm hại tình dục có thể là nam giới hoặc nữ giới.
Thứ tư, thay đổi khung hình phạt đối với các hành vi phạm các tội thuộc nhóm tội phạm liên quan đến xâm hại tình dục: Đối với tội “Hiếp dâm” so với BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 đã thêm trường hợp bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm khi hành vi hiếp dâm gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%; thêm trường hợp bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân khi hành vi hiếp dâm gây thương tích cho nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 46% trở lên. Việc thay đổi khung hình phạt đối với các tội danh thuộc nhóm tội phạm xâm hại tình dục đảm bảo khung hình phạt tương ứng với hậu quả do hành vi phạm tội, qua đó đảm bảo tính nghiêm minh, chính xác, tính răn đe của pháp luật.

Thứ năm, BLHS năm 2015 quy định thêm tội Sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147). Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đấu tranh, phòng ngừa tội phạm vì trên thực tế, các hình thức khiêu dâm bùng nổ và gia tăng khắp nơi dưới nhiều hình thức. Trong đó, xuất hiện cả những hiện tượng sử dụng trẻ em, người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm. Mặc dù, BLHS năm 1999 đã quy định về tội dâm ô trẻ em, song quy định này chưa bao quát hết các hành vi xâm hại tình dục trẻ em đã và đang diễn ra hiện nay. Hiện tượng ép buộc trẻ em phải biểu diễn các hành vi khiêu dâm, đóng phim khiêu dâm, xem những hình ảnh khiêu dâm… đang diễn ra khó kiểm soát. BLHS năm 2015 bổ sung thêm quy định về tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm nhằm xử lý triệt để mọi hành vi xâm phạm tình dục trẻ em là rất hợp lý, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm và hạn chế sự gia tăng của tội phạm này.
Có thể nói, BLHS năm 2015 đã khắc phục hạn chế của những quy định trước, kịp thời ban hành những quy định cụ thể, chặt chẽ, phù hợp và có hình phạt nghiêm khắc đối với loại tội phạm xâm hại trẻ em nói chung và đối với loại tội phạm xâm hại tình dục trẻ em nói riêng.

2. Thực tiễn xét xử các vụ án xâm hại trẻ em

Từ ngày 01/01/2015 đến ngày 30/6/2019, các Tòa án đã đưa ra xét xử 6.585 vụ với 7.339 bị cáo phạm các tội xâm hại trẻ em. Trong tổng số các vụ án đã đưa ra xét xử, số trẻ em là nạn nhân bị các tội phạm này xâm hại là 7.654 em (trong đó có 7.121 em nữ, 533 em nam).
Trong số trẻ em là nạn nhân của hành vi xâm hại, phần lớn là nạn nhân của hành vi xâm hại tình dục (6.429 em, chiếm 84% tổng số trẻ bị xâm hại); bị bạo lực là 727 em (chiếm 9,5% tổng số trẻ bị xâm hại); bị mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt là 264 em (chiếm 3,4% tổng số trẻ bị xâm hại), còn lại là các hình thức gây tổn hại khác (như bóc lột; bắt cóc; tổ chức, hỗ trợ, xúi giục, ép buộc trẻ em tảo hôn và các hành vi xâm hại khác…).
Trong tổng số 7.339 bị cáo phạm tội xâm hại trẻ em đã đưa ra xét xử: 432 bị cáo là người ruột thịt, người thân thích khác với nạn nhân (chiếm 5,9%); 37 bị cáo là giáo viên, cán bộ, nhân viên tại các cơ sở giáo dục (chiếm 0,5%); 776 bị cáo là người có trách nhiệm chăm sóc, chữa bệnh, người quen của trẻ em (chiếm 10,6%); 20 bị cáo là người nước ngoài (chiếm 0,3%); còn lại chủ yếu là các đối tượng khác (82,7%).
Trong tổng số các tội phạm xâm hại trẻ em đã bị đưa ra xét xử:
+ Chiếm phần lớn là các hành vi xâm hại tình dục trẻ em: 5.851 vụ với 6.165 bị cáo đã đưa ra xét xử sơ thẩm (89% số vụ và 84% số bị cáo). Trong đó: chiếm tới 46% là hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; 29,2% hành vi hiếp dâm người dưới 16 tuổi; 13,1% hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi; 0,7% hành vi cưỡng dâm người dưới 16 tuổi;
+ Hành vi bạo lực trẻ em: có 514 vụ/769 bị cáo đã đưa ra xét xử sơ thẩm (8,7% số vụ và 11,5% số bị cáo);
+ Mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em: có 180 vụ/350 bị cáo đã đưa ra xét xử sơ thẩm (2,7% số vụ và 4,8% số bị cáo);
+ Còn lại là các hành vi xâm hại khác.
Hậu quả của hành vi xâm hại trẻ em gây ra thường rất nghiêm trọng, kết quả xét xử các vụ án xâm hại trẻ em tại các Tòa án:
+ Số trẻ em tử vong do bị xâm hại: 100 em,
+ Số trẻ em bị thương tật do bị xâm hại: 199 em,
+ Số trẻ em bị rối loạn tâm thần do bị xâm hại: 51 em,
+ Số trẻ em có thai do bị xâm hại tình dục: 251 em,
+ Số trẻ em phải bỏ học do bị xâm hại: 84 em,
+ Số trẻ em bị các tác động khác về thể chất, tinh thần do bị xâm hại: 6.969 em.
Một số tội phạm xâm hại trẻ em ngoài việc gây tổn hại về thể chất như thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; từ 61% trở lên; có trường hợp trẻ em bị hoảng loạn tinh thần, tổn thương sâu sắc về mặt tâm lý…

Từ thực tiễn nêu trên cho thấy, số các vụ án về tội phạm xâm hại trẻ em là rất lớn, trong đó nhiều nhất là xâm hại tình dục trẻ em. Thời gian qua, các tội phạm xâm hại tình dục đối với trẻ em diễn biến phức tạp, có xu hướng gia tăng, nhiều vụ việc nghiêm trọng xảy ra gây bức xúc trong dư luận xã hội. Bên cạnh đó, việc triển khai các quy định của BLHS, BLTTHS, các đạo luật có liên quan và hướng dẫn thi hành trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án xâm hại tình dục cũng phát sinh một số khó khăn, vướng mắc. Để kịp thời phòng ngừa, đấu tranh với loại tội phạm này, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên; ngày 20/9/2019, Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã thông qua Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của BLHS và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi. Nghị quyết gồm 08 điều, trong đó có các nội dung hướng dẫn cụ thể về các tình tiết xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi, bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác trên cơ thể, dụng cụ tình dục hoặc dụng cụ khác được sử dụng vào hoạt động tình dục; giải thích cụ thể thế nào là hành vi giao cấu, hành vi quan hệ tình dục khác, hành vi dâm ô, trình diễn khiêu dâm, các hình thức biểu hiện trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm…
Nghị quyết cũng hướng dẫn cụ thể về một số tình tiết định tội, tình tiết định khung hình phạt; các trường hợp loại trừ xử lý hình sự; nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi và việc tổ chức xét xử vụ án xâm hại tình dục có bị hại là người dưới 18 tuổi. Tóm lại, Nghị quyết được ban hành có ý nghĩa quan trọng trong việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS năm 2015 về các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và đảm bảo áp dụng đúng, thống nhất, phù hợp với quy định pháp luật trong nước cũng như quốc tế.
Ngoài ra, TANDTC đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tiến hành tố tụng ở Trung ương trong việc hướng dẫn áp dụng pháp luật, chỉ đạo xử lý, giải quyết các vụ án xâm hại trẻ em, nâng cao hiệu quả trong công tác phòng chống loại tội phạm này, cụ thể: Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 quy định về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng Điều 150 về tội mua bán người và Điều 151 về tội mua bán người dưới 16 tuổi của Bộ luật Hình sự. Chánh án TANDTC ban hành Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21/9/2018 quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Toà gia đình và người chưa thành niên. Thông tư này đã quy định về việc xét xử vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi hoặc vụ án hình sự có người bị hại là người dưới 18 tuổi bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lý hoặc cần sự hỗ trợ về điều kiện sống, học tập do không có môi trường gia đình lành mạnh như những người dưới 18 tuổi khác thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên.

3.Thực trạng và giải pháp trong xét xử các vụ án xâm hại trẻ em

Thực trạng xét xử các vụ án xâm hại trẻ em thời gian từ ngày 01/01/2015 đến ngày 30/6/2019, cho thấy các Tòa án đã phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cùng cấp từ giai đoạn điều tra, truy tố để giải quyết kịp thời, đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội và áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với những hành vi xâm hại trẻ em, nhất là hành vi xâm hại tình dục trẻ em.
Ví dụ: Vụ án Liễu Diệp Quần (sinh năm 1987; trú tại thôn Dục Thanh, thị trấn Bách Thạch Sơn, thành phố Giao Hà, tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc), Quần và Quách Đại Phát nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, ngày 26/02/2014, đột nhập vào nhà anh Long Văn Linh (huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn), bị cháu Long Thanh Tuyền phát hiện (cháu Long ở nhà một mình, khi bị xâm hại là 10 tuổi), Quần và Phát đã dùng dao cắt cổ cháu Tuyền đến chết. TANDCC tại Hà Nội xử phạt Liễu Diệp Quần tử hình về tội “Giết người” với tình tiết định khung tăng nặng “giết trẻ em” (Bản án hình sự phúc thẩm số 307/2016/HSPT ngày 23/5/2016).
Tuy nhiên, việc giải quyết các vụ án xâm hại trẻ em còn gặp nhiều khó khăn, có nhiều trường hợp, khi xảy ra sự việc trẻ bị xâm hại, gia đình ngại tố cáo tội phạm hoặc chính tội phạm là người thân trong gia đình nên dấu kín vì sợ tai tiếng và mặc cảm. Hoặc do tác động tiêu cực của văn hóa phẩm kích động, bạo lực, phim ảnh khiêu dâm, kích dục trên internet. Tình trạng không có việc làm, trình độ văn hóa thấp, không hiểu biết pháp luật, coi thường pháp luật. Sự xuống cấp về đạo đức của một số không ít người là nguyên nhân chính gây ra tình trạng xâm hại trẻ em, có nhiều trường hợp là cha đẻ.
Ví dụ: Vụ án Phạm Văn Hoanh (sinh năm 1982; trình độ văn hóa: Lớp 3/12; trú tại thôn Trường An, xã Ba Thành, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi), sau khi ly hôn vợ, Hoanh ở cùng con gái là cháu Phạm Thị Hiếu (khi bị xâm hại là 12 tuổi 04 tháng). Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2015 đến tháng 3/2016, Hoanh đã 03 lần thực hiện hành vi dùng miệng, tay kích thích vào bộ phận sinh dục của cháu Hiếu nhằm giao cấu với cháu Hiếu nhưng không thành. TANDCC tại Đà Nẵng đã xử phạt Phạm Văn Hoanh 15 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em” (Bản án hình sự phúc thẩm số 68/2017/HSPT ngày 27/3/2017).
Ví dụ: Vụ án Đoàn Huy Hoàng (sinh năm 1982; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; trú tại ấp Cấp Rang, xã Suối Tre, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai), do có mâu thuẫn với vợ, ngày 07/01/2015, Hoàng đã dùng dao giết vợ và đâm một nhát vào ngực con trai là cháu Đoàn Phi Long (khi bị xâm hại là 12 tuổi) gây thương tích cho cháu Long tỷ lệ thương tật 57%. TAND tỉnh Đồng Nai xử phạt Đoàn Huy Hoàng tử hình về tội “Giết người” với tình tiết định khung tăng nặng “giết trẻ em” (Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2017/HSST ngày 27/6/2017).
Do đặc điểm về tâm sinh lý của trẻ em, sự bồng bột thiếu suy nghĩ và non nớt về trí tuệ, trình độ nhận thức còn nhiều hạn chế, thiếu kiến thức về xã hội và pháp luật là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ em bị xâm hại. Về thể chất, các em còn chưa phát triển đầy đủ, chưa có khả năng chống cự lại những hành vi xâm hại của tội phạm.
Ví dụ: Vụ án Nguyễn Văn Mười (sinh năm 1972; trú tại tổ 25, ấp Thành Phú, xã Thành Lợi, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long), sau khi uống rượu và xem phim sex, thấy cháu Phạm Ngọc Bích đi ngang qua nhà, Mười đã thực hiện hành vi hiếp dâm cháu Bích (khi bị xâm hại là 07 tuổi 07 tháng); sau đó, Mười giết cháu Bích để che giấu tội phạm. TANDCC tại Tp Hồ Chí Minh kết án Nguyễn Văn Mười tử hình về tội “Giết người”, 12 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em”; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là tử hình (Bản án hình sự phúc thẩm số 465/2017/HSPT ngày 30/8/2017).
Đối với việc giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em hiện nay cho thấy, việc phát hiện, thu thập tài liệu chứng cứ ban đầu như các dấu vết, mẫu tinh dịch, mẫu AND của đối tượng gây án để lại trên người và quần áo của nạn nhân hoặc ở hiện trường còn gặp nhiều khó khăn vì có nhiều trường hợp, trẻ em bị xâm hại tình dục, khi gia đình biết đã lưỡng lự trong việc giải quyết dẫn đến khai báo muộn, hoặc không biết cách thu giữ vật chứng cần thiết để giao nộp cho cơ quan chức năng, dẫn đến việc vô hình chung đã tạo điều kiện để người phạm tội có đủ thời gian xóa dấu vết. Do đó, việc thu thập chứng cứ đầy đủ, chính xác gặp nhiều khó khăn (không thu được tinh dịch, vùng kín bị hóa sẹo…) nên rất khó để xác định người bị hại có bị hiếp dâm hay không và ai là người thực hiện hành vi phạm tội. Có trường hợp, việc xác định độ tuổi của trẻ bị xâm hại có nhiều mâu thuẫn, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng, dẫn đến việc vụ án phải điều tra lại nhiều lần, kéo dài thời gian giải quyết.

4. Giải pháp đưa ra trong xét xử các vụ án xâm hại trẻ em

– TAND các cấp cần tiếp nhận, giải quyết kịp thời, xử lý nghiêm các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em; Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo việc rà soát hồ sơ, vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em để xử lý dứt điểm, có giải pháp tích cực trong việc xử lý các vụ án xâm hại trẻ em, không để tồn đọng, kéo dài.
– Tổ chức các lớp tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ xét xử để nâng cao năng lực và kỹ năng xét xử cho các Thẩm phán được giao nhiệm vụ giải quyết các vụ án về xâm hại trẻ em, bảo đảm nhận thức, áp dụng đúng đắn thống nhất pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em. Đối với các vụ án xâm hại trẻ em đã xảy ra, bên cạnh việc đấu tranh, xử lý đối tượng phạm tội thì Thẩm phán phải là người hiểu tâm lý và thân thiện với trẻ em là nạn nhân trong vụ án.
– TAND các cấp cần chủ động phối hợp với Cơ quan điều tra, VKSND cùng cấp ngay từ giai đoạn điều tra, truy tố để kịp thời nắm bắt diễn biến vụ án để lên kế hoạch xét xử, đảm bảo kịp thời giải quyết các vụ án xâm hại trẻ em được nhanh chóng, đúng thời hạn luật định và xử lý nghiêm khắc đối với loại tội phạm xâm hại trẻ em; rà soát hồ sơ, xử lý dứt điểm không để tồn đọng việc xâm hại trẻ em. Ngoài ra, tổ chức thực hiện tốt và có hiệu quả quy trình, thủ tục xét xử thân thiện đối với trẻ em, đặc biệt là trẻ em bị xâm hại tình dục.
– Nâng cao hiệu quả điều tra, xử lý tội phạm xâm hại trẻ em, cần xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật, kiên quyết đấu tranh không để lọt tội phạm. Trong công tác tổ chức các phiên tòa xét xử các vụ án hình sự về các tội xâm hại đối với trẻ em, nhất là xâm hại tình dục đối với trẻ em, các Tòa án cần cân nhắc kỹ lưỡng, đảm bảo vừa làm rõ các tình tiết của vụ án, đồng thời đảm bảo thuần phong mỹ tục, các yếu tố văn hóa, bảo vệ danh dự, nhân phẩm của trẻ em. Hình phạt áp dụng đối với các tội xâm hại trẻ em cần phải đảm bảo nghiêm minh, đúng quy định, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về xâm hại trẻ em nói riêng.
– Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các văn bản pháp luật tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình xét xử, góp phần xử lý nghiêm minh các vụ án xâm hại trẻ em nói chung và xâm hại tình dục trẻ em nói riêng.
– Hiện nay, Tòa gia đình và người chưa thành niên đã được triển khai ở 03 TANDCC và 38 tỉnh, thành phố ở Việt Nam. Đây là một cột mốc quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp cũng như cụ thể hóa chủ trương, đường lối của đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước nhằm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và xử lý người chưa thành niên phạm tội. Trong thời gian tới, với việc tội phạm xâm hại trẻ em ngày càng gia tăng, cần thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên tại tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước. Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em nói chung và trẻ em là nạn nhân trong các vụ án hình sự nói riêng cần được quan tâm hơn nữa; cần đổi mới cách thức và tổ chức hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng mà trước hết là Tòa án để bảo đảm việc tiến hành tố tụng không gây tác động xấu đến tâm sinh lý của trẻ em; xây dựng cơ chế hữu hiệu để tư vấn, hỗ trợ các nạn nhân là trẻ em bị tổn hại về tinh thần và sức khỏe, giúp các em phục hồi và phát triển lành mạnh.

PHẠM THỊ BÍCH NGỌC (Vụ Giám đốc, kiểm tra 1, TANDTC)

Nguồn: Hocluat.vn

Bàn về lỗi cố ý gián tiếp hay lỗi vô ý vì quá tự tin dưới góc độ tâm lý tội phạm
Thực tiễn cho thấy việc đánh giá để phân biệt lỗi cố ý gián tiếp và lỗi vô ý vì quá tự tin là một quá trình phân tích phức tạp do phải chứng minh yếu tố chủ quan trong ý thức của người phạm tội.

Bàn về lỗi cố ý gián tiếp hay lỗi vô ý vì quá tự tin dưới góc độ tâm lý tội phạm

Theo quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi 2017):
Lỗi cố ý gián tiếp là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra (Khoản 2 Điều 10). Còn lỗi vô ý vì quá tự tin là trường hợp người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được (Khoản 1 Điều 11).
Những trường hợp thường xảy ra nhầm lẫn trong phân biệt lỗi để định tội danh trong hoạt động tố tụng như tội Giết người (với lỗi cố ý gián tiếp) với tội Vô ý làm chết người; tội Giết người với tội Cố ý gây thương tích (trường hợp dẫn đến chết người); tội Giết người với tội Cản trở giao thông đường bộ (hành vi rải đinh, đặt vật cản trên đường bộ dẫn đến hậu quả chết người), giữa việc định tội danh về xâm phạm sở hữu và tội giết người hay chỉ định tội về tội xâm phạm sở hữu với tình tiết định khung “làm chết người”?…
Điểm khác biệt lớn nhất và qua đó có thể phân biệt được nằm ở lý trí của người phạm tội thông qua việc trả lời câu hỏi người phạm tội “bỏ mặc, chấp nhận hậu quả nếu nó xảy ra” hay chỉ là “tin rằng hậu quả không xảy ra”. Chính bởi yếu tố quyết định để có thể nhận định lại nằm trong ý thức chủ quan nên cách phân biệt chính xác nhất không chỉ dựa vào lời khai của người phạm tội trong quá trình tố tụng, vào các biểu hiện khách quan như vị trí bị tấn công trên cơ thể người bị hại, mức độ của hành vi tấn công… mà còn phải kiểm chứng thông qua các biểu hiện ra bên ngoài (biểu hiện tâm lý) của người phạm tội.
Dưới góc độ tâm lý, chúng ta có thể thấy diễn biến trong ý thức của người phạm tội trong suốt quá trình thực hiện tội phạm như sau:

Trường hợp 1: Vô ý vì quá tự tin
Trường hợp 1: Vô ý vì quá tự tin

Trong trường hợp này, trước khi bắt tay vào thực hiện tội phạm, người phạm tội hình dung được cả hai khả năng, đó là (1) khả năng sẽ không xảy ra hậu quả và (2) khả năng xảy ra hậu quả nguy hiểm. Tuy nhiên, điểm mấu chốt ở chỗ, thời điểm chính thức thực hiện hành vi, người phạm tội đã tự loại trừ khả năng xảy ra hậu quả (khả năng 2), và trong ý thức chủ quan lúc này chỉ còn lại khả năng sẽ không để lại hậu quả (khả năng 1), việc loại trừ này phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có thể về chủ quan do người phạm tội tin tưởng vào khả năng, kinh nghiệm của mình, cũng có thể do đánh giá các yếu tố khách quan như thời gian, địa điểm, thời tiết, thậm chí tin tưởng vào chính “xử sự” của nạn nhân… Chính bởi sự loại trừ này nên người đó mới quyết định thực hiện hành vi nguy hiểm. Vì vậy, về biểu hiện tâm lý, nếu hậu quả thực tế xảy ra thật thì người phạm tội sẽ bị bất ngờ do nằm ngoài tính toán của mình.

Trường hợp 2: Cố ý gián tiếp
Trường hợp 2: Cố ý gián tiếp

Do vậy, việc phân biệt chính xác được hai loại lỗi này có ý nghĩa rất lớn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, là cơ sở để xác định tội danh đúng và qua đó đảm bảo việc quyết định hình phạt có căn cứ và đúng quy định của pháp luật./.Trong trường hợp này, trước khi bắt tay vào thực hiện tội phạm, người phạm tội cũng hình dung được cả hai khả năng, đó là (1) khả năng sẽ không xảy ra hậu quả và (2) khả năng xảy ra hậu quả  nguy hiểm. Tuy nhiên, điểm khác biệt so với vô ý vì quá tự tin ở chỗ, thời điểm chính thức thực hiện hành vi và kể cả sau đó, người phạm tội vẫn hình dung trong ý thức của mình cả hai khả năng đều có thể xảy ra và sẵn sàng chấp nhận cả hai khả năng nếu thực tế nó xảy ra. Do đó về biểu hiện tâm lý, nếu hậu quả thực tế xảy ra thật thì cũng đã nằm trong tính toán và người phạm tội hoàn toàn không bị bất ngờ.

Nguồn: Hocluat.vn
Tích tụ đất trong nông nghiệp – thực trạng và các kiến nghị chính sách

Tóm tắt: Những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về tích tụ ruộng đất, mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp. Trên thực tế, quá trình tích tụ ruộng đất, mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp dù đã có nhiều thành tựu, nhưng cũng đang gặp phải nhiều vấn đề phức tạp, khó khăn phải giải quyết bằng các chính sách, giải pháp, biện pháp cụ thể, thấu đáo. Đặc biệt là vấn đề bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của người dân khi tích tụ đất nông nghiệp. Bài viết nêu rõ thực trạng này và đưa ra các kiến nghị chính sách.

Mục lục:

  1. Chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tích tụ đất nông nghiệp
  2. Khái quát tình hình tích tụ đất trong nông nghiệp
  3. Một số kiến nghị

Đất nông nghiệp

1. Chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tích tụ đất nông nghiệp

Chủ trương về tích tụ đất nông nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn được đưa ra lần đầu tiên trong Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (Nghị quyết số 26-NQ/TW).
Nhiều vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn được đề cập và định hướng phát triển một cách toàn diện, bền vững trong Nghị quyết số 26-NQ/TW. Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân. Như vậy, lần đầu tiên, vấn đề tích tụ đất nông nghiệp được Nghị quyết số 26-NQ/TW đưa ra. Đồng thời, những vấn đề về vốn, đào tạo nghề, đào tạo cán bộ quản lý, hỗ trợ chuyển đổi nghề, hạn mức giao đất nông nghiệp… cũng được đưa ra với mục tiêu là nhằm phát triển bền vững, toàn diện nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đây là chìa khóa để quá trình tích tụ đất nông nghiệp diễn ra sâu, rộng.
Tích tụ đất nông nghiệp
 
Thực hiện các chủ trương của Đảng, Luật Đất đai đã có những quy định cụ thể về tích tụ đất đai. Luật Đất đai năm 2003, đã được sửa đổi và sau đó được thay thế bằng Luật Đất đai năm 2013, có hiệu lực thi hành từ 01/7/2014, đã ảnh hưởng rất lớn tới quá trình tích tụ và tập trung đất ở nước ta.
Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã có Nghị quyết số 19-NQ/TƯ ngày 31/10/2012 Về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nghị quyết đã có nhiều định hướng quan trọngtrong việcđổi mới chính sách, pháp luật về đất đai. Đối với chính sách giao đất, cho thuê đất, Nghị quyết chỉ rõ: “Tiếp tục giao đất, cho thuê đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng có thời hạn theo hướng kéo dài hơn quy định hiện hành để khuyến khích nông dân gắn bó hơn với đất và yên tâm đầu tư sản xuất. Đồng thời, mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất (QSDĐ) nông nghiệp phù hợp với điều kiện cụ thể từng vùng, từng giai đoạn để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích tụ đất đai, từng bước hình thành những vùng sản xuất hàng hoá lớn trong nông nghiệp. Sớm có giải pháp đáp ứng nhu cầu đất sản xuất và việc làm cho bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số đang không có đất sản xuất”.

Để cụ thể hóa các chủ trương, chính sách và pháp luật về đất đai, Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp đã ban hành nhiều văn bản về tích tụ, tập trung đất đai, đề ra các nhiệm vụ và cách thức thực hiện để tích tụ, tập trung đất đai trở thành một xu hướng tích cực trong sản xuất nông nghiệp (SXNN) ở nước ta thời gian qua. Tuy nhiên, với thực trạng nền nông nghiệp cũng như thực trạng sử dụng đất của người nông dân hiện nay, chủ trương tích tụ ruộng đất, mở rộng hạn mức nhận chuyển QSDĐ nông nghiệp dù đã có nhiều thành tựu, nhưng cũng đang gặp phải nhiều vấn đề phức tạp, khó khăn phải giải quyết bằng các chính sách, giải pháp, biện pháp cụ thể, thấu đáo. Đặc biệt là vấn đề bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của người dân khi tích tụ đất nông nghiệp.

2. Khái quát tình hình tích tụ đất trong nông nghiệp

Trong thời gian gần đây, đóng góp của đất đai vào tăng trưởng nông nghiệp dường như đã tới hạn. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản lượng nông nghiệp bình quân trên 01 hecta đất của Việt Nam đang giảm dần và thấp hơn các nước trong khu vực. Ruộng đất phân tán, manh mún là cản trở chính cho việc nâng cao hiệu quả và giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích đất trong quá trình tái cơ cấu nông nghiệp. Diện tích đất bình quân hộ nông nghiệp chỉ vào khoảng 0,46 ha, và trung bình được chia thành 2,83 mảnh. Quy mô diện tích đất của hộ nông dân Việt Nam thấp hơn Trung Quốc và thấp hơn rất nhiều so với các nước khác ở châu Á, châu lục vốn được coi là nơi “đất chật, người đông”. Do vậy, tích tụ ruộng đất trở thành một giải pháp giúp nâng cao hiệu quả SXNN, thông qua việc mở rộng quy mô sản xuất phù hợp, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ và hình thành các vùng chuyên canh theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường.

2.1 Các hình thức tích tụ đất nông nghiệp chủ yếu

2.1.1 Hình thức chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp giữa các hộ nông dân với nhau 

Chuyển nhượng QSDĐ giữa các hộ nông dân với nhau (hay còn gọi là mua bán đất đai ở nông thôn) hiện nay hoàn toàn theo cơ chế thị trường, cung cầu gặp nhau, thỏa thuận giá cả và các điều kiện cần thiết theo cơ chế thị trường. Có người cần bán, gặp người cần mua, hình thành một cuộc thỏa thuận, nếu thành công sẽ có một vụ chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp. Nhà nước chỉ đóng vai trò theo dõi và quản lý biến động về đất đai theo quy định của Luật Đất đai. Theo quy định của luật, tất cả các trường hợp chuyển nhượng QSDĐ phải làm các đầy đủ các thủ tục sang tên trước bạ, chuyển QSDĐ từ người này sang người khác và phải nộp đầy đủ các loại phí, thuế theo quy định. Tuy nhiên, trong thực tế, vì những lý do khác nhau mà nhiều trường hợp chuyển nhượng QSDĐ cho nhau chỉ viết giấy trao tay, hoặc có sự làm chứng của hàng xóm là đủ.
Có nhiều nguyên nhân của việc các hộ nông dân chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp. Có thể vì lý do hộ nông dân muốn chuyển đổi nghề nghiệp, vì lý do thiếu lao động, do sản xuất kém hiệu quả so với các ngành khác… hay vì các nguyên nhân khác nữa, người nông dân bán một phần hoặc toàn bộ ruộng đất.
Tuy tỷ lệ số hộ sẵn lòng nhượng đất nông nghiệp ở các vùng không giống nhau vì nhiều nguyên nhân nhưng kết quả điều tra cho thấy, xu hướng chuyển nhượng bớt QSDĐ khi người nông dân không (hoặc ít) có nhu cầu SXNN nữa hoặc thấy rằng, SXNN cho hiệu quả thấp, đang ngày càng tăng lên ở tất cả các vùng. Do vậy, cơ hội để cho những người có nhu cầu, có khả năng về tiền vốn đầu tư, có tâm huyết với sản xuất nông, lâm nghiệp tích tụ đất đai để tăng quy mô diện tích, đầu tư cho sản xuất. Việc tích tụ nhanh hay chậm tùy thuộc khả năng của mỗi người, và khi tích tụ đến quy mô diện tích đủ lớn thì hình thành nên những trang trại sản xuất nông lâm nghiệp. Để phát triển sản xuất hàng hóa tập trung, việc tích tụ hình thành các trang trại có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.
Nhìn chung, đối tượng nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp chủ yếu là hộ nông dân, người trong cùng xã. Phần lớn các hộ nhận chuyển nhượng để tích tụ thêm đất cho SXNN. Tuy nhiên, đối tượng là doanh nhân, cán bộ công chức ở ngoài xã muốn tích tụ đất đai tuy ít nhưng có xu hướng tăng lên, chính điều này đã đẩy giá đất lên cao, gây khó khăn cho người nông dân muốn tích tụ đất đai.
Một ví dụ để thấy được xu hướng và kết quả của chuyển nhượng nhằm tích tụ đất nông nghiệp là: Theo kết quả Tổng Điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011 thì năm 2011, số hộ của cả vùng đồng bằng sông Hồng là 1.822.682 hộ, đã giảm 301.593 hộ so với năm 2006. Nhờ có chuyển nhượng và tích tụ đất nông nghiệp mà bình quân diện tích đất lúa của hộ tại vùng này trong giai đoạn 2006 – 2011 tăng 302,55 m2 từ 3.098,75 m2 lên 3.401,30 m2.
Quy mô và tốc độ chuyển nhượng đất nông nghiệp trong tổng số mảnh đất nông nghiệp vùng Đông Nam Bộ là cao nhất cả nước trong giai đoạn 1994 -2003, tuy nhiên đến sau năm 2003 thì tỷ lệ chuyển nhượng đất tại khu vực vực này giảm mạnh tụt xuống vị trí thứ hai sau vùng Tây Nguyên. Giai đoạn 1994 -2003 là giai đoạn tăng mạnh về giao dịch đất nông nghiệp thông qua hình thức chuyển nhượng, nhưng sau năm 2003 thì quy mô bắt đầu giảm xuống.
Trong những năm qua, đặc biệt là sau khi Luật Đất đai năm 2013 được ban hành, tình hình chuyển nhượng đất giữa các hộ có sự thay đổi nhất định. Ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, số thửa ruộng của một hộ có giảm đi, nhưng quy mô đất canh tác của một hộ nông dân tăng không đáng kể do các hộ nông dân không muốn nhượng QSDĐ nông nghiệp cho người khác. Ở các vùng chuyên canh phía Nam, tình hình chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp đạt kết quả khá hơn ở phía Bắc nhưng cũng chưa tạo đủ tiền đề để hình thành nền kinh tế trang trại quy mô lớn một cách phổ biến.
Hình thức chuyển nhượng đất giữa các hộ là hình thức khá hiệu quả đối với các hộ có nhu cầu mở rộng SXNN, là một trong những hình thức nên được khuyến khích. Đặc biệt, những nông dân giỏi, có năng lực tài chính lựa chọn hình thức mua đứt bán đoạn các mảnh đất xung quanh khu đất của mình qua từng năm để hình thành quy mô đủ lớn là phù hợp nhất. Hình thức này có tiềm năng thực hiện ở phía Nam, đặc biệt vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, người dân có tư tưởng thoáng hơn về mua bán đất do không bị nặng nề tâm lý giữ đất như một hình thức bảo hiểm hoặc do các nguyên nhân về văn hóa truyền thống. Hiệu quả kinh tế của hình thức này tương đối cao do các nông dân sản xuất giỏi sẽ chủ động tích tụ đất, áp dụng khoa học kỹ thuật và cơ giới hóa trong dài hạn để nâng cao hiệu quả sản xuất. Thêm vào đó, họ nắm giữ QSDĐ nên yên tâm đầu tư phát triển lâu dài, có thế chấp vay vốn các tổ chức tín dụng để sản xuất kinh doanh. Việc nông dân nhận quyền sử dụng từ nông dân khác cũng có nhiều thuận lợi do mối quan hệ cộng đồng làng xã láng giềng, hoặc bạn bè nên dễ tiếp cận và thuyết phục hộ có khả năng chuyển nhượng đất hơn.
Cản trở chính của hình thức tích tụ ruộng đất này là nguồn cung đất hạn chế khi lao động nông nghiệp dôi dư còn tương đối cao, tâm lý lo ngại công việc không ổn định, khi gặp khó khăn đất nông nghiệp vẫn là tài sản để bảo đảm cuộc sống nên ít hộ sẵn sàng bán đất (đặc biệt là ở các tỉnh miền Bắc). Giá đất nhận chuyển nhượng ngày càng tăng cũng là nguyên nhân khiến cho nông dân ngày càng khó tiếp cận với thị trường này. Nhiều hợp đồng chuyển nhượng đất giữa các hộ chỉ được xác nhận bằng giấy viết tay giữa các hộ, có sự làm chứng của các hộ xung quanh nên cơ sở pháp lý không vững chắc. Trong khi đó, khung pháp lý hiện tại vẫn còn nhiều hạn chế khi đặt ra hạn mức nhận chuyển nhượng, quy định đối tượng nhận chuyển nhượng đối với đất lúa, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và thuế chuyển nhượng đất nông nghiệp cao tương đương như các bất động sản khác. Hơn nữa, chưa có quy định về diện tích tối thiểu hoặc thuế thừa kế QSDĐ nông nghiệp khi tách hộ. Bên cạnh đó, việc chuyển nhượng đất nông nghiệp sẽ phải nộp thuế thu nhập cá nhân ở mức 2% của giá chuyển nhượng là con số cao so với lợi nhuận có thể tạo ra từ SXNN.

2.1.2 Hình thức doanh nghiệp nhận chuyển nhượng đất của nông dân

Đây là hình thức doanh nghiệp nhận chuyển nhượng đất của nhiều hộ nông dân trong cùng một vùng liền kề với nhau, sau đó đăng ký thuê lại của chính quyền địa phương, để tạo ra một vùng nguyên liệu nông nghiệp cung cấp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ có một vùng nguyên liệu ổn định để đầu tư dài hạn, có thể sử dụng QSDĐ để thế chấp vay vốn từ các tổ chức tín dụng. Về phía nông dân thì có thêm một khoản tài chính đề đầu tư chuyển đổi nghề nghiệp khi thấy nghề nông đã không còn đem lại hiệu quả kinh tế cao đối với họ hoặc họ có thể được ưu tiên làm thuê cho doanh nghiệp.
Thời gian qua, số lượng doanh nghiệp đã tăng nhiều so với năm 2007, tuy nhiên số doanh nghiệp làm nông, lâm, thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng rất nhỏ, chỉ khoảng 1,4% trong tổng số doanh nghiệp, trong đó có đến 96% là doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Các tỉnh ở miền Nam có quy mô diện tích trung bình hộ lớn nên doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn trong việc mua đất từ nông dân để sản xuất lớn. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, giá đất chuyển nhượng cao hiện là cản trở lớn đối với doanh nghiệp muốn tích tụ, đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thêm vào đó, nông dân cũng chưa sẵn sàng bán đất cho doanh nghiệp. Việc tích tụ diện tích theo nhu cầu của doanh nghiệp sẽ gặp một số khó khăn nếu diện tích mà các hộ sẵn sàng bán chưa đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Một vấn đề vướng mắc khác trong việc thực hiện các giao dịch mua đất của doanh nghiệp với hộ dân là việc mảnh đất của hộ chưa có sổ đỏ hoặc mảnh đất của hộ đang thế chấp tại ngân hàng.
Doanh nghiệp cũng ít chủ động mua đất nông nghiệp của hộ nông nghiệp để sản xuất quy mô lớn vì giá mua đất nông nghiệp cao (giá giao dịch hiện tại ở vùng đồng bằng sông Cửu Long vào khoảng 1-2 tỷ đồng/ha đối với đất lúa, 3 – 5tỷ đồng/ha đối với đất vườn) nên khó tạo ra lợi nhuận đủ hấp dẫn so với số vốn bỏ ra ban đầu để mua đất nếu chỉ SXNN. Thông thường, doanh nghiệp thực sự đầu tư kinh doanh nông nghiệp chỉ mua đất trong trường hợp của các hộ liền kề hoặc nằm rải rác ở giữa vùng chuyên canh đã được quy hoạch của họ.
Không chỉ về vấn đề giá mà việc thỏa thuận giá với mỗi người dân để hình thành quy mô đất đủ lớn quá phức tạp và tốn thời gian nên hình thức này vẫn chưa phổ biến. Ngoài ra, việc giới hạn đối tượng nhận chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp, thuế và phí liên quan đến chuyển nhượng đất (bao gồm rất nhiều loại thuế, phí như thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính, lệ phí thẩm định…) làm tăng chi phí đầu tư cho doanh nghiệp, thủ tục hành chính nhận QSDĐ nông nghiệp còn nhiều phức tạp (Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT, 2016) cũng là một lý do cản trở việc doanh nghiệp đầu tư mua đất mở rộng sản xuất. Mặt khác, Luật Đất đai năm 2013 quy định theo hướng hạn chế các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, mặc dù đã có cơ chế tự thỏa thuận nhận QSDĐ để thực hiện dự án đầu tư nhưng nhiều trường hợp khó đạt được sự đồng thuận cao của người sử dụng đất nên khó tích tụ được đất đai.
Như vậy, để áp dụng hình thức này, doanh nghiệp cần tiếp cận với nguồn cung đất đủ lớn để có thể đầu tư quy mô lớn. Chí phí đầu tư ban đầu để doanh nghiệp mua đất là quá lớn so với lợi nhuận doanh nghiệp có thể tạo ra từ sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, do đó doanh nghiệp cần nguồn vốn tín dụng lớn và trong thời gian đủ để hoạt động nông nghiệp có thể sinh lời (thường là từ 5 năm trở lên nếu trồng các loại cây ăn trái và 2 năm trở lên đối với các loại rau mầu). Doanh nghiệp cũng rất cần được giảm chi phí giao dịch và đơn giản hóa thủ tục. Cần có một đầu mối trung gian để thực hiện giao dịch vì nếu muốn tập trung một diện tích đủ lớn, doanh nghiệp phải làm hợp đồng với rất nhiều hộ dân với nhu cầu giá cả khác nhau.

2.2 Bước đầu đánh giá hiệu quả của các hình thức tích tụ đất và những vấn đề nảy sinh trong quá trình tích tụ đất trong nông nghiệp 

Nhu cầu tích tụ đất đai để SXNN với quy mô lớn là rất cần thiết tại các địa phương. Các địa phương đã tích cực, chủ động triển khai nhiều giải pháp đẩy mạnh tích tụ đất đai để sản xuất hàng hóa với quy mô lớn hơn phù hợp với đặc điểm của địa phương mình. Các quy định của pháp luật về quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn bằng QSDĐ đã đáp ứng được một phần nhu cầu tích tụ đất nông nghiệp để sản xuất, tác động tích cực trong việc đầu tư trên đất, tạo điều kiện cho nhà đầu tư yên tâm đầu tư.
Thực tế cho thấy, mặc dù các mô hình tích tụ ruộng đất hiện nay đều mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội nhất định cho các bên tham gia nhưng những khó khăn trong việc tích tụ đất đai đang là rào cản thu hút cá nhân, doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp. Trong khi đó đầu tư vào nông nghiệp rủi ro lớn, thời gian thu hồi vốn dài. Hiện nay, không nhiều mô hình tích tụ đất đai đạt được cả ba tiêu chí: công bằng, bền vững và hiệu quả.
Bước đầu, chúng ta có thể đánh giáhiệu quả của các hình thức tích tụ đất và những vấn đề nảy sinh trong quá trình tích tụ đất trong nông nghiệp như sau:

2.2.1 Hình thức chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp giữa các hộ nông dân với nhau 

Điều kiện để áp dụng hình thức chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp giữa các hộ nông dân với nhau là người dân phải có nhu cầu mua/bán QSDĐ nông nghiệp và nền sản xuất hàng hóa nông nghiệp tại địa phương đó đang phát triển mạnh.
Hình thức chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp này có một số ưu điểm sau:
– Khung pháp lý và chính sách hiện hành đã khá đầy đủ để thực hiện giao dịch.
– Việc mua đứt bán đoạn tạo ra sự yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh dài hạn, bền vững.
Tuy nhiên, hình thức chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp này có một số hạn chế đáng kể như:
– Nguồn cung đất không phong phú, không tập trung nên không có nhiều sự lựa chọn.
– Người chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp thường đòi giá cao, không hợp lý
– Vốn của hộ nhận chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp thường không có nhiều nên chỉ có thể thực hiện việc chuyển nhượng một cách nhỏ lẻ, không tích tụ lớn được để sản xuất quy mô
– Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp SXNN mới được nhận chuyển nhượng QSDĐ trồng lúa theo quy định của Luật Đất đai năm 2013.
– Quy mô bị giới hạn bởi hạn mức nhận chuyển QSDĐ theo Luật Đất đai năm 2013
– Thủ tục hành chính hay gặp khó khăn vì phải xác định các nghĩa vụ tài chính của người chuyển nhượng QSDĐ và đo đạc lại mảnh đất. Người mua QSDĐ phải trả lệ phí trước bạ cũng như chi phí cấp đổi giấy chứng nhận QSDĐ.
Để phát huy ưu điểm và khắc phục các trở ngại của hình thức chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp này, Nhà nước cần có các chính sách:
– Có chính sách và có quỹ để hỗ trợ rút người lao động ra khỏi khu vực SXNN để tạo quỹ đất.
– Phát triển bảo hiểm xã hội cho những người nông dân rời bỏ khu vực nông nghiệp, tham gia vào lĩnh vực phi nông nghiệp tại nông thôn và đô thị.
– Xây dựng hệ thống quản lý đất đai điện tử để cung cấp thông tin số hóa về QSDĐ và giao dịch bất động sản, từ bỏ sự phụ thuộc vào “Sổ đỏ” và yêu cầu bắt buộc phải đăng ký vào Sổ địa chính của cơ quan đăng ký đất đai;

2.2.2 Hình thức doanh nghiệp nhận chuyển nhượng đất của nông dân

Hình thức doanh nghiệp nhận chuyển nhượng đất của nông dân cần có điều kiện áp dụng là nền sản xuất hàng hóa nông nghiệp phát triển mạnh, mức độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương nhanh, số lao động nông nghiệp ra khỏi khu vực SXNN nhiều, các doanh nghiệp kinh doanh trong các ngành công nghiệp – dịch vụ hỗ trợ SXNN đầu tư lớn và rộng khắp.
Hình thức doanh nghiệp nhận chuyển nhượng đất của nông dân có nhiều ưu điểm dễ thấy như:
– Khung pháp lý và chính sách hiện hành có đầy đủ để thực hiện giao dịch.
– Hoạt động “mua đứt bán đoạn” QSDĐ tạo ra sự yên tâm để nhà đầu tư kinh doanh sản xuất dài hạn, bền vững.
– Doanh nghiệp không bị hạn chế về diện tích có thể nhận chuyển nhượng để đăng ký thuê lại của chính quyền địa phương.
– Doanh nghiệp có đủ vốn để tích tụ đất sản xuất quy mô lớn, tăng năng suất, giảm chi phí.
– Doanh nghiệp dễ tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng.
Tuy nhiên, hình thức này cũng gặp phải một số khó khăn, vướng mắc, như:
– Nguồn cung đất không phong phú nên không có nhiều sự lựa chọn.
– Chí phí đầu tư ban đầu để doanh nghiệp mua QSDĐ đất là quá lớn so với lợi nhuận doanh nghiệp có thể tạo ra từ sản xuất, kinh doanh nông nghiệp.
– Chi phí giao dịch cao, thủ tục phức tạp, một phần là do để có diện tích đủ lớn, doanh nghiệp phải làm việc với nhiều hộ có nhu cầu và điều kiện đa dạng.
– Thủ tục phức tạp vì sau khi doanh nghiệp nhận chuyển nhượng QSDĐ của các hộ nông dân thì doanh nghiệp phải thực hiện việc chuyển sang hình thức cho thuê chứ không được cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo quy định tại Luật Đất đai năm 2013[1].
– Thiếu thông tin về giá đất, giá đất đa dạng, thỏa thuận khó.
– Không áp dụng đối với đất lúa, đất rừng phòng hộ như quy định của Luật Đất đai năm 2013.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhận chuyển nhượng QSDĐ của nông dân, bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà nước tương tự như trường hợp chuyển nhượng đất giữa các hộ nông nghiệp với nhau, Nhà nước cần đổi mới các chương trình đào tạo nghề nông thôn, huy động sự tham gia của doanh nghiệp thuê lao động đào tạo nghề theo nhu cầu của doanh nghiệp sử dụng lao động, đồng thời thành lập các tổ chức (như Trung tâm Phát triển quỹ đất, Trung tâm Thông tin, tư vấn về đất đai) để hỗ trợ, tư vấn pháp lý cho nông dân trong các giao dịch về đất đai (sử dụng nguồn lực từ quỹ phát triển đất).
Nhìn chung, hiện nay các hình thức tích tụ ruộng đất đã có hiệu quả tại nhiều địa phương, nhưng trên thực tế, vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc tích tụ đất đai. Các khó khăn, vướng mắc này đang tạo nên một số rào cản nhất định trong việc thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp cũng như nông dân muốn liên kết mở rộng sản xuất.
Tuy nhiên, với những tác động kinh tế – xã hội to lớn và khả năng áp dụng cao, các mô hình tích tụ ruộng đất hiện nay đã khẳng định tính tất yếu để chuyển đổi mô hình SXNN, nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội cho các thành phần tham gia vào quá trình công nghiệp, hóa hiện đại hóa.

3. Một số kiến nghị

Để đẩy mạnh quá trình tích tụ ruộng đất, khuyến khích nông dân, doanh nghiệp tích tụ đất nông nghiệp phục vụ sản xuất quy mô lớn, tăng hiệu quả SXNN, cải thiện đời sống cho nông dân, trong thời gian tới, Nhà nước cần tiếp tục thực hiện các giải pháp sau:
– Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách tích tụ, tập trung đất nông nghiệp, cụ thể: i) Sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013 theo hướng quy định rõ ràng việc góp vốn chuyển QSDĐ và góp vốn không chuyển QSDĐ. Xây dựng cơ chế pháp lý để doanh nghiệp nhận góp vốn thông qua nhận QSDĐ có thể thế chấp để vay vốn ngân hàng; ii) Thúc đẩy tích tụ, tập trung đất nông nghiệp thông qua tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán chuyển nhượng QSDĐ; iii) Hỗ trợ về cơ sở hạ tầng đối với các diện tích mới được tích tụ, tập trung; iv) Quy hoạch vùng chuyên canh, đẩy mạnh đầu tư theo hình thức đối tác công + tư để xây dựng cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh thu hút đầu tư của doanh nghiệp, HTX.
– Trong lĩnh vực trồng trọt, cần nới lỏng quy định cho phép cá nhân không phải hộ nông nghiệp hoặc không sống cùng địa bàn được nhận chuyển nhượng đất lúa và đất rừng phòng hộ. Giao cho địa phương thẩm định phương án chuyển đổi mục đích sử dụng đất lúa sang các mục đích nông nghiệp, chăn nuôi và thủy sản với diện tích dưới 300 ha theo quy hoạch.
– Đẩy mạnh tín dụng cho vay theo chuỗi giá trị nông nghiệp: (i) Hoàn thiện khung pháp lý để phát triển cung ứng đồng bộ các sản phẩm dịch vụ tài chính mới (như quản lý tiền mặt, quản lý tài sản, bảo hiểm thanh toán, bảo hiểm nhân thọ, phái sinh hàng hóa, đại lý ngân hàng, biên nhận lưu kho…) nhằm tăng khả năng tiếp cận tín dụng với quy mô lớn và dài hạn hơn cho nông dân, trang trại, HTX và doanh nghiệp trong nông nghiệp, nông thôn; (ii) Xây dựng cơ chế chính sách kết hợp chặt chẽ giữa các chương trình cho vay và bảo hiểm nông nghiệp theo chuỗi giá trị nông nghiệp.
– Bỏ hạn mức nhận chuyển QSDĐ nông nghiệp đối với hộ gia đình tại Khoản 1 Điều 130 Luật Đất đai năm 2013. Sử dụng hạn mức nhận chuyển nhượng hiện nay làm hạn mức đánh thuế sử dụng đất nông nghiệp. 
– Nới lỏng quy định tại khoản 3 Điều 191 Luật Đất đai 2013 theo hướng cho phép hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp SXNN được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa.
– Sửa khoản 2 Điều 191 Luật Đất đai năm 2013 “Tổ chức kinh tế không được nhận chuyển nhượng QSDĐ trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân, trừ trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt” theo hướng cho phép tổ chức kinh tế trong nước được phép nhận chuyển nhượng QSDĐ trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân nếu tổ chức kinh tế trong nước đó đáp ứng được một số điều kiện về kinh tế và tiêu chuẩn về môi trường nhất định. Sửa đổi quy định này là tạo điều kiện để các hộ gia đình, cá nhân chuyển nhượng QSDĐ trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình mình cho tổ chức kinh tế trong nước.
– Giảm thuế, phí liên quan đến chuyển nhượng đất nông nghiệp tại Luật sửa đổi các Luật về Thuế năm 2014.
– Không xác định trường hợp các hộ chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp vì mục đích tích tụ và tập trung đất nông nghiệp là chuyển nhượng bất động sản quy định tại Điều 14 Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 và miễn thuế thu nhập cá nhân đối với trường hợp hộ chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp vì mục đích tích tụ và tập trung đất nông nghiệp sản xuất quy mô lớn.
– Xây dựng cơ chế minh bạch thông tin về đất đai./.

ThS. PHAN THỊ THU HÀ

Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn

Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 15 (391), tháng 8/2019.


[1] Mặc dù số tiền mà doanh nghiệp, tổ chức kinh tế đã trả để nhận chuyển nhượng QSDĐ được khấu trừ vào tiền thuê đất phải nộp theo điểm a khoản 4 Điều 12 Nghị định 46/2014/NĐ-CP và hướng dẫn tại khoản 2 Điều 5 Thông tư 77/2014/TT-BTC nhưng doanh nghiệp vẫn không mặn mà thực hiện. Doanh nghiệp thường lựa chọn hình thức viết giấy trao tay và giữ nguyên tên chủ sở hữu.

Phạm vi tương trợ tư pháp hình sự trong một số điều ước quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Trong việc giải quyết các vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài, các quốc gia thường tìm kiếm sự hỗ trợ giúp đỡ từ các quốc gia nước ngoài bằng hình thức tương trợ tư pháp hình sự thông qua một yêu cầu tương trợ tư pháp. Yêu cầu tương trợ tư pháp được thực hiện theo cách thức với trình tự, thủ tục mà các bên có thỏa thuận và phù hợp với quy định của pháp luật quốc gia. Một trong những nội dung mà các quốc gia quan tâm khi tiếp nhận yêu cầu tương trợ tư pháp từ quốc gia yêu cầu là có thuộc phạm vi tương trợ tư pháp hay thuộc trường hợp từ chối tương trợ.
 
Mục lục:

  1. Nhận thức chung về phạm vi tương trợ tư pháp hình sự 
  2. Quy định về phạm vi tương trợ tư pháp hình sự trong một số điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự  
    • Hiệp ước tương trợ tư pháp hình sự của Liên hiệp quốc
    • Tương trợ tư pháp hình sự của Liên minh Châu Âu
    • Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự của ASEAN
  3. Phạm vi tương trợ tư pháp hình sự trong các điều ước quốc tế song phương và pháp luật Việt Nam
    • Việt Nam đã ký kết hơn 20 Hiệp định tương trợ tư pháp với các quốc gia và đang tiếp tục đàm phán ký kết các Hiệp định khác
    • Phạm vi tương trợ tư pháp hình sự trong Luật Tương trợ tư pháp năm 2007
    • Phạm vi tương trợ tư pháp hình sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
  4. Kiến nghị

Điều ước quốc tế

I. Nhận thức chung về phạm vi tương trợ tư pháp hình sự 

1. Phạm vi tương trợ tư pháp (TTTP) hình sự được hiểu là giới hạn mà trong đó các chủ thể có thẩm quyền ở các quốc gia khác nhau thực hiện một hoặc một số hoạt động nhằm hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau trong việc giải quyết vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài.
Quy định trong một số điều ước quốc tế (ĐƯQT) và pháp luật Việt Nam về phạm vi tương trợ tư pháp hình sự cho thấy những nội dung đáng chú ý sau:
Một là, phạm vi tương trợ tư pháp hình sự là giới hạn của hoạt động hợp tác quốc tế trong giải quyết vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài và là cơ sở pháp lý để các quốc gia liên quan thực hiện hoặc từ chối thực hiện nghĩa vụ tương trợ tư pháp hình sự. Căn cứ vào phạm vi tương trợ tư pháp được quy định trong pháp luật quốc gia và các Điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên, bên được yêu cầu sẽ cân nhắc các khả năng đáp ứng hay từ chối thực hiện tương trợ tư pháp của bên yêu cầu.
Hai là, phạm vi tương trợ tư pháp hình sự phải được xác định cụ thể. Phạm vi tương trợ tư pháp hình sự được xác định theo các phương pháp khác nhau (hay kỹ thuật xây dựng khác nhau). Các Điều ước quốc tế đa phương thường sử dụng kỹ thuật liệt kê các hoạt động tương trợ tư pháp hình sự. Đồng thời, trong các Điều ước quốc tế này sẽ loại trừ các hoạt động không được điều chỉnh. Mặc dù theo cách thức nào thì phạm vi này cũng phải được xác định cụ thể.
Ba là, phạm vi tương trợ tư pháp hình sự phụ thuộc vào nhu cầu hợp tác giữa các bên liên quan, tùy thuộc vào mối quan hệ cụ thể cũng như sự cần thiết tăng cường hợp tác quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự để mỗi bên xác định phạm vi tương trợ. Xu hướng chung là phạm vi tương trợ tư pháp hình sự ngày càng mở rộng.
2. Trong thực tiễn hợp tác giữa các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của các quốc gia trong việc giải quyết vụ án hình sự có thể xảy ra các hoạt động tương trợ tư pháp ở những mức độ khác nhau[1]. Thông thường, phạm vi tương trợ tư pháp hình sự thường quy định các nội dung sau: hoạt động tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp hình sự; thu thập hoặc cung cấp chứng cứ; yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự; hoạt động trao đổi thông tin hoặc các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về hình sự; yêu cầu về cung cấp lời khai qua cầu truyền hình, chuyển giao tạm thời bị can hoặc bị cáo để làm chứng tại phiên tòa hình sự tại nước yêu cầu.

II. Quy định về phạm vi tương trợ tư pháp hình sự trong một số điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự  

1. Hiệp ước tương trợ tư pháp hình sự của Liên hiệp quốc

Hiệp ước mẫu về hỗ trợ lẫn nhau trong các vấn đề hình sự A/RES/45/117 (thông qua Nghị quyết của Đại hội đồng 45/117, sau đó được sửa đổi bởi Nghị quyết Đại hội đồng 53/112) bao gồm 22 điều và 01 phụ lục quy định những nội dung căn bản của tương trợ tư pháp hình sự giữa các quốc gia.
Điều 1 Hiệp ước xác định rõ phạm vi tương trợ tư pháp hình sự: Các Bên, phù hợp với Hiệp ước này, sẽ dành cho nhau các biện pháp tương trợ tư pháp rộng rãi nhất có thể trong các cuộc điều tra hoặc tố tụng tòa án đối với hành vi phạm tội mà hình phạt, tại thời điểm yêu cầu hỗ trợ, thuộc thẩm quyền của cơ quan tư pháp của nước yêu cầu.
TTTP có thể được thực hiện phù hợp với Hiệp ước này có thể bao gồm 07 nội dung[2]. Hiệp ước cũng quy định các trường hợp không áp dụng đối với việc bắt giữ hoặc giam giữ bất kỳ người nào có liên quan nhằm mục đích dẫn độ (i); Việc thi hành tại Nước yêu cầu các bản án hình sự được áp dụng trong Nhà nước yêu cầu trừ phạm vi được pháp luật nước yêu cầu cho phép và Điều 18 của Hiệp ước (ii); Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù để thụ án (iii) và việc Chuyển giao các thủ tục tố tụng hình sự (iv).
Năm 2007, Cơ quan Phòng chống tội phạm và ma túy của Liên hiệp quốc (UNODC) đã xây dựng Luật mẫu về tương trợ tư pháp các vấn đề hình sự bao gồm 4 Chương, 35 Điều. Điều 7 của luật này định ra giới hạn của tương trợ tư pháp hình sự mang tính nguyên tắc: tương trợ tư pháp theo Luật này có thể được cung cấp cho bất kỳ quốc gia nước ngoài nào cho dù có thỏa thuận hay không có thỏa thuận; Luật này quy định việc hỗ trợ cho bất kỳ quốc gia nước ngoài nào, trừ khi có thỏa thuận khác; Các bên có thể thỏa thuận cung cấp một phạm vi tương trợ tư pháp được đề cập tới tại khoản 2 Điều 7 và các điều khoản khác của Luật này cũng sẽ được áp dụng cho một yêu cầu hỗ trợ từ Tòa án hình sự quốc tế hoặc một Tòa án quốc tế được liệt kê trong Luật này[3].
Như vậy, Hiệp ước tương trợ tư pháp hình sự của Liên hiệp quốc chính là cơ sở quan trọng để từ đó các quốc gia thành viên có thể vận dụng trong việc xây dựng luật pháp và thể chế trong lĩnh vực hỗ trợ lẫn nhau các vấn đề hình sự. Phạm vi của Hiệp ước căn bản phản ánh nhu cầu, thực tiễn hoạt động tương trợ tư pháp trong tình hình hiện nay giữa các quốc gia.

2. Tương trợ tư pháp hình sự của Liên minh Châu Âu[4]

Quy định về tương trợ tư pháp hình sự các nước Châu Âu được quy định chủ yếu trong Công ước của Châu Âu về hỗ trợ lẫn nhau trong các vấn đề hình sự được ký tại Strasbourg ngày 20/4/1959; Nghị định thư bổ sung ngày 17/3/1978 cho Công ước châu Âu năm 1959; Các quy định về hỗ trợ lẫn nhau trong các vấn đề hình sự của Công ước ngày 19/6/1990; Công ước về hỗ trợ lẫn nhau trong các vấn đề hình sự giữa các quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu năm 2000.
Công ước đầu tiên của Châu Âu về hỗ trợ lẫn nhau trong các vấn đề hình sự năm 1959 bao gồm lời nói đầu và 30 điều áp dụng cho các thành viên của Cộng đồng Châu Âu. Công ước không có điều khoản cụ thể quy định về phạm vi tương trợ tư pháp hình sự mà phạm vi này được xác định thông qua các điều khoản liên quan đến thủ tục thực hiện tương trợ tư pháp hình sự.
Điều 1 Công ước quy định về nghĩa vụ của các quốc gia thành viên: Các Bên ký kết cam kết hỗ trợ lẫn nhau, phù hợp với các quy định của Công ước này, biện pháp hỗ trợ rộng nhất trong các thủ tục tố tụng đối với hành vi phạm tội tại thời điểm yêu cầu hỗ trợ, thuộc thẩm thẩm quyền của cơ quan tư pháp của Bên yêu cầu.
Công ước này không áp dụng cho các vụ bắt giữ, thi hành bản án hoặc vi phạm theo luật quân sự mà không phải là tội phạm theo luật hình sự thông thường.
Các quốc gia thành viên có thể từ chối tương trợ tư pháp nếu yêu cầu liên quan đến hành vi phạm tội mà Bên được yêu cầu xem xét liên quan đến tội phạm chính trị hoặc tội phạm tài chính[5].
Bên được yêu cầu cũng có thể từ chối tương trợ tư pháp khi cho rằng, việc thực hiện yêu cầu có thể ảnh hưởng đến chủ quyền, an ninh, trật tự công cộng hoặc các lợi ích thiết yếu khác của quốc gia.
Công ước về tương trợ tư pháp hình sự giữa các thành viên của Liên minh Châu Âu năm 2000 được tất cả các quốc gia thành viên ký vào ngày 29/5/2000 là nỗ lực nhằm cải thiện các hình thức tương trợ tư pháp đáp ứng yêu cầu phát sinh trong lĩnh vực hợp tác tư pháp. Mục đích của Công ước này là khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ lẫn nhau giữa các cơ quan tư pháp, cảnh sát và hải quan về các vấn đề hình sự. Công ước là sự bổ sung cần thiết cho Công ước Hỗ trợ lẫn nhau trong các vấn đề hình sự năm 1959 và Nghị định thư 1978.
Trong việc xây dựng Công ước mới này, Hội đồng Châu Âu đã không giới hạn một công cụ riêng biệt. Do đó, mục tiêu chính của Công ước là cải thiện hợp tác tư pháp bằng cách phát triển và hiện đại hóa các quy định hiện hành. Sự điều chỉnh trong Công ước này chủ yếu bằng cách mở rộng phạm vi các trường hợp có thể yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự thông qua một loạt các biện pháp nhanh, linh hoạt và hiệu quả hơn.
Điều 3 Công ước quy định về các thủ tục liên quan đến việc hỗ trợ lẫn nhau vượt ra ngoài phạm vi của Công ước 1959. Yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự theo Điều 3 không chỉ cho các cuộc điều tra về các vấn đề hình sự mà còn cho các cuộc điều tra về hành vi chịu sự xử phạt hành chính nhất định. Đồng thời, trong Công ước này có những quy định đáng chú ý như Điều 9 quy định về trường hợp Tạm thời chuyển người bị tạm giữ vì mục đích điều tra; Điều 10 Xét xử thông qua cầu truyền hình. Điều 11 quy định về Phiên điều trần của các nhân chứng và các chuyên gia qua điện thoại; Điều 13. Đội điều tra chung. Điều 14 về Điều tra bí mật; Các Điều 17 đến Điều 22 quy định các vấn đề về ngăn chặn thông tin liên lạc…
Có thể thấy EU là tổ chức quốc tế khu vực đạt được sự thỏa thuận quan trọng trong lĩnh vực tương trợ tư pháp hình sự. Phạm vi tương trợ tư pháp hình sự càng ngày càng được mở rộng phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm giữa các quốc gia thành viên. EU cũng có những quy định mang tính tiên phong trong việc hỗ trợ lẫn nhau giải quyết các vấn đề hình sự như việc lấy lời khai qua cầu truyền hình; điều tra bí mật; điều tra chung; ngăn chặn thông tin liên lạc…

3. Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự của ASEAN

Sau EU, ASEAN là tổ chức quốc tế khu vực đã xây dựng được cơ chế hợp tác trong đấu tranh phòng chống tội phạm thông qua các thỏa thuận trong Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự của ASEAN năm 2004.
Khoản 1 Điều 1 Hiệp định quy định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong tương trợ tư pháp hình sự theo nguyên tắc: Các Quốc gia thành viên, theo quy định của Hiệp định này và phù hợp với pháp luật quốc gia của mình, phải dành cho nhau các biện pháp tương trợ tư pháp rộng rãi nhất có thể được trong việc điều tra, truy tố và thủ tục tố tụng tiếp theo.
Tại khoản 2, Hiệp định xác định cụ thể phạm vi tương trợ tư pháp hình sự giữa các quốc gia thành viên bao gồm 10 nội dung cụ thể và một nội dung mang tính kỹ thuật[6].
Một điểm lưu ý của Hiệp định là chỉ áp dụng đối với việc tương trợ tư pháp giữa các Quốc gia thành viên. Các quy định của Hiệp định này không tạo ra bất cứ quyền nào cho một cá nhân trong việc thu thập, ngăn cản hoặc cản trở việc đưa ra hoặc loại bỏ bất kỳ chứng cứ nào hoặc cản trở việc thực hiện các yêu cầu tương trợ.
Công ước quy định 11 trường hợp quốc gia được yêu cầu có quyền từ chối tương trợ tư pháp và 03 trường hợp có thể từ chối nếu xét thấy cần thiết. Hiệp định cũng mở rộng phạm vi thu thập chứng cứ bằng việc cho phép sử dụng kết nối truyền hình trực tiếp hoặc các công cụ giao tiếp thích hợp khác nhằm thực hiện quá trình thu thập chứng cứ, lời khai[7]…
Nghiên cứu phạm vi tương trợ tư pháp hình sự trên đây có 03 điểm cần lưu ý:
Một là, các hiệp định tương trợ tư pháp hình sự đều giới hạn phạm vi tương trợ tư pháp hình sự giữa các quốc gia thành viên một cách cụ thể. Trong đó phạm vi tương trợ tư pháp hình sự của các nước ASEAN được xác định rất rộng. Không có các tài liệu để lý giải cho quy định một phạm vi tương trợ tư pháp hình sự rất rộng này. Tuy nhiên, xét về bối cảnh và thời gian ra đời có thể thấy, Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự của các nước ASEAN ra đời muộn hơn cả. Đồng thời, trong nội dung về phạm vi tương trợ tư pháp hình sự của các nước ASEAN dường như có sự tích hợp phạm vi của các Công ước chuyên biệt phổ cập của Liên hiệp quốc như Công ước Phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Công ước Chống tham nhũng.
Hai là, các Hiệp định đều quy định rằng Hiệp định không áp dụng đối với trường hợp cho thi hành bản án hình sự; dẫn độ; chuyển giao người bị kết án và chuyển giao vụ án hình sự. Như vậy, điểm thống nhất này trong các hiệp định trên đây cho thấy nhận thức chung của các quốc gia là khá tương đồng. Quy định này cho thấy tính chất khác nhau của tương trợ tư pháp hình sự với dẫn độ, chuyển giao người bị kết án. Về việc cho thi hành bản án hình sự tại quốc gia khác cũng như việc chuyển giao vụ án hình sự liên quan nhiều hơn đến tính chất chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, tính chất chủ quyền không phải là tuyệt đối. Hiệp định cũng thể hiện rằng trong trường hợp pháp luật quốc gia có quy định như vậy thì việc cho thi hành bản án hình sự vẫn có thể được thực hiện.
Ba là, các Hiệp định không chỉ giới hạn phạm vi tương trợ tư pháp cụ thể mà luôn có điều khoản mang tính kỹ thuật – quy định “quét”. Đây là một quy định có độ mở khác nhau. Các thành viên của Hiệp định có thể cung cấp các hình thức hỗ trợ khác nếu như điều đó không trái với mục đích của Hiệp định hoặc pháp luật quốc gia cho phép thực hiện điều đó. Trong dài hạn, các quy định mở này vẫn sẽ được duy trì nhằm đáp ứng sự linh hoạt trong thực tiễn quan hệ giữa các quốc gia thành viên.

III. Phạm vi tương trợ tư pháp hình sự trong các điều ước quốc tế song phương và pháp luật Việt Nam

1. Hiện nay, Việt Nam đã ký kết hơn 20 Hiệp định tương trợ tư pháp với các quốc gia và đang tiếp tục đàm phán ký kết các Hiệp định khác[8]. Phần này chỉ trình bày phạm vi tương trợ tư pháp hình sự trong một số hiệp định nổi bật, cụ thể:

– Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về dân sự và hình sự giữa Cộng hòa XHCN Việt Nam và Cộng hòa XHCN Tiệp Khắc ký ngày 10/12/1982: Hiện nay, hai nước Cộng hoà Séc và Xlô-va-ki-a kế thừa Hiệp định này. Hiệp định quy định phạm vi tương trợ tư pháp là tất cả các hành vi tố tụng, trong đó tập trung vào việc lấy lời khai của người làm nhân chứng, của đương sự, của bị can, hoặc của các người khác, trong việc tiến hành giám định, trong việc lập chuyển và tống đạt giấy tờ.
– Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa Cộng hòa XHCN Việt Nam và Cộng hoà Hung-ga-ri, ký ngày 18/01/1985: Tại Điều 4. Phạm vi tương trợ tư pháp bao gồm việc thực hiện các hành vi tố tụng riêng biệt như việc khám nhà, tạm giữ, tịch biên tài sản, việc gửi các chứng cứ, lấy lời khai của những người làm chứng, người giám định và những người khác, xét hỏi bị can, xem xét tại chỗ, yêu cầu tống đạt, gửi các tài liệu cũng như lập và gửi các giấy tờ. Điều 17 quy định về các trường hợp từ chối như liên quan đến chủ quyền, an ninh hoặc trái với nguyên tắc pháp luật quốc gia. Trong hiệp định cũng quy định nhiều vấn đề khác như chuyển giao vụ án hình sự, chuyển giao đồ vật… Nhìn chung phạm vi tương trợ tư pháp trong hiệp định này khá rộng xét trong bối cảnh ký kết lúc bấy giờ.
– Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự giữa Cộng hòa XHCN Việt Nam và Ấn Độ, ký ngày 8/10/2007: Điều 1 của Hiệp định quy định rõ, Phù hợp với các quy định của Hiệp định này, các Bên sẽ dành cho nhau sự tương trợ tư pháp tối đa trong các vấn đề về hình sự. tương trợ tư pháp hình sự bao gồm các tương trợ tư pháp về điều tra, truy tố hoặc các thủ tục tố tụng khác trong các vấn đề về hình sự do Bên được yêu cầu cung cấp cho Bên yêu cầu, không phụ thuộc vào việc yêu cầu tương trợ tư pháp đó do Tòa án hay cơ quan có thẩm quyền khác yêu cầu hoặc đề nghị.
Đặc biệt Hiệp định cũng quy định yêu cầu tương trợ tư pháp sẽ được thực hiện không phụ thuộc vào việc hành vi là đối tượng của điều tra, truy tố, xét xử của Bên yêu cầu có cấu thành tội phạm theo luật của Bên được yêu cầu hay không.
Khoản 4 của Điều này quy định 09 nội dung tương trợ tư pháp hình sự cụ thể và Các bên có thể dành cho nhau các tương trợ tư pháp khác phù hợp với mục đích của Hiệp định này và không trái với pháp luật của Bên được yêu cầu. Khoản 5 giới hạn tương trợ tư pháp hình sự theo Hiệp định không bao gồm: Dẫn độ, bắt hoặc giam giữ người để dẫn độ; Thực hiện bản án hình sự của Bên yêu cầu ở Bên được yêu cầu, trừ những trường hợp pháp luật của Bên được yêu cầu và Hiệp định này cho phép; Chuyển giao người đang bị giam giữ để thi hành hình phạt; Chuyển giao việc xét xử trong các vấn đề về hình sự.

2. Phạm vi tương trợ tư pháp hình sự trong Luật Tương trợ tư pháp năm 2007

Phạm vi tương trợ tư pháp hình sự theo Luật này được quy định tại Điều 17, bao gồm: Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp về hình sự (i); Triệu tập người làm chứng, người giám định (ii); Thu thập, cung cấp chứng cứ (iii); Truy cứu trách nhiệm hình sự (iv); Trao đổi thông tin (v) và Các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về hình sự (vi).
Như vậy, theo quy định của Luật tương trợ tư pháp, phạm vi tương trợ tư pháp hình sự hẹp hơn so với phạm vi tương trợ tư pháp được đề cập trong Hiệp ước tương trợ tư pháp pháp lý hình sự (mẫu) của Liên hiệp quốc.

3. Phạm vi tương trợ tư pháp hình sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

Bộ luật Tố tụng hình sự 2015(TTHS) năm 2015 có nhiều quy định mới có liên quan đến tương trợ tư pháp hình sự, cụ thể: Xác định phạm vi hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự gồm tương trợ tư pháp hình sự, dẫn độ, tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và các hoạt động hợp tác quốc tế khác được quy định trong Bộ luật TTHS, pháp luật về tương trợ tư pháp và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Điều 491). Xác định giá trị pháp lý của tài liệu, đồ vật thu thập được qua hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự (Điều 494). Quy định về việc tiến hành tố tụng của người có thẩm quyền của Việt Nam ở nước ngoài và người có thẩm quyền của nước ngoài ở Việt Nam được thực hiện theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại (Điều 495). Quy định về việc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho người làm chứng, người giám định, người đang chấp hành án phạt tù tại nước được đề nghị có mặt ở Việt Nam để phục vụ việc giải quyết vụ án hình sự hoặc có thể cho phép người làm chứng, người giám định, người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam có mặt ở nước ngoài để phục vụ việc giải quyết vụ án hình sự (Điều 496). Quy định việc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hợp tác với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trong việc truy tìm, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, tịch thu, xử lý tài sản do phạm tội mà có để phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự (Điều 507). Quy định biện pháp phong tỏa tài khoản có thể được áp dụng nếu có căn cứ cho rằng số tiền trong tài khoản đó liên quan đến hành vi phạm tội của người bị buộc tội (Điều 129). Quy định việc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể hợp tác với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trong việc phối hợp điều tra hoặc áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt (Điều 508). Quy định việc đợi kết quả thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp của nước ngoài là một trong những căn cứ để tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tạm đình chỉ điều tra trong giai đoạn điều tra; tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố; tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử (Điều 148, Điều 229, Điều 247, Điều 281, Điều 443)[9].
Ngoài ra trong các Luật Phòng, chống rửa tiền; Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Phòng, chống khủng bố cũng có các quy định cụ thể cho phép xác định phạm vi tương trợ tư pháp hình sự. Những quy định trên đây là cơ sở pháp lý quan trọng có thể bổ sung cho những khuyết thiếu của Luật tương trợ tư pháp 2007.

IV. Kiến nghị

1. Về tổng thể, trong pháp luật tương trợ tư pháp Việt Nam, phạm vi tương trợ tư pháp hình sự căn bản tương thích với các quy định trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc là thành viên. Tuy nhiên, xem xét các trường hợp cụ thể cho thấy, phạm vi tương trợ tư pháp hình sự của Việt Nam là khá hẹp so với các cam kết trong các Điều ước quốc tế đa phương và song phương. Mặc dù tại khoản 6 Điều 17 quy định “Các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về hình sự” là quy định “quét”. Quy định này có ưu điểm và hạn chế. Ưu điểm của quy định này sẽ giải quyết thỏa đáng các cam kết của Việt Nam đối với các quốc gia hữu quan. Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để giải trình các nghĩa vụ hợp tác của mình. Tuy nhiên, đây cũng là quy định bộc lộ nhiều hạn chế, đặc biệt trong quá trình thực thi các nội dung hợp tác quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự.
Trong thực tiễn thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự, Việt Nam đã giải quyết các nội dung yêu cầu tương trợ tư pháp nằm ngoài nội dung của Luật tương trợ tư pháp năm 2017. Tuy nhiên, pháp luật tương trợ tư pháp hình sự Việt Nam chưa có quy định về sự tham gia của người tiến hành tố tụng tại nước được yêu cầu, các quy định hỗ trợ điều tra hoặc cung cấp chứng cứ, liên kết, phối hợp điều tra; chưa quy định cụ thể trong việc phong tỏa, kê biên, thu giữ, tịch thu và xử lý tài sản do phạm tội mà có…”[10]. Do vậy có thể dẫn đến hệ quả là, nếu như đáp ứng các yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự của nước ngoài thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thiếu cơ sở để thực hiện; ngược lại, nếu không thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự của nước ngoài thì Việt Nam đang đi ngược lại chính các nghĩa vụ mà mình cam kết. Do đó, chúng tôi cho rằng, cần thiết phải sửa đổi quy định hiện hành về phạm vi tương trợ tư pháp hình sự theo hướng bổ sung các nội dung khác như: xác minh, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm; liên kết điều tra, phối hợp điều tra; quy định cho phép sử dụng các phương tiện kỹ thuật áp dụng công nghệ cao (thư điện tử, fax…) trong việc gửi, tiếp nhận hồ sơ ủy thác tư pháp và thực hiện một số hoạt động tương trợ tư pháp…[11].
2. Bên cạnh phạm vi tương trợ tư pháp hình sự được quy định cụ thể trong các Điều ước quốc tế và pháp luật quốc nội, các quốc gia đều có quy định các trường hợp từ chối thực hiện tương trợ tư pháp. Xét về mặt logic, các quy định từ chối này cho phép các quốc gia xem xét yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự nằm ngoài các quy định cụ thể trong phần phạm vi tương trợ tư pháp hình sự.
Điều 21 Luật tương trợ tư pháp 2007 quy định 05 trường hợp Việt Nam sẽ từ chối thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài. Tuy nhiên, cách thể hiện quy định này lại làm cho các trường hợp tương trợ tư pháp được quy định tại khoản 6 Điều 17 bị giới hạn so với các cam kết của Việt Nam. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, để vừa nâng cao hiệu quả hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm vừa hài hòa được lợi ích quốc gia, đồng thời phù hợp với các nghĩa vụ mà Việt Nam đã cam kết, cần phải sửa đổi quy định của Điều 21 theo hướng loại bỏ khoản 2, 3 của Điều này./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Công ước của Châu Âu về hỗ trợ lẫn nhau trong các vấn đề hình sự năm 1959, năm 2000 và Nghị định thư bổ sung năm 1978.
  2. Công ước của Châu Âu về hỗ trợ lẫn nhau trong các vấn đề hình sự năm năm 2000.
  3. Luật Hỗ trợ điều tra quốc tế của Nhật Bản.
  4. Hiệp đinh tương trợ tư pháp hình sự (mẫu) của Liên hiệp quốc năm 2000.
  5. Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự của ASEAN năm 2004.
  6. Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về dân sự và hình sự giữa Cộng hòa XHCN Việt Nam và Cộng hòa XHCN Tiệp Khắc năm 1982.
  7. Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa Cộng hòa XHCN Việt Nam và Cộng hoà Hung-ga-ri năm 1985.
  8. Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự giữa Cộng hòa XHCN Việt Nam và Ấn Độ năm 2007.
  9. Đỗ Mạnh Hồng, Các vấn đề pháp lý cơ bản trong lĩnh vực tương trợ tư pháp về hình sự của ASEAN, Tạp chí Luật học số 09/2008.
  10. Official Journal of the European Communities, Explanatory Report on the Convention of 29 May 2000 on Mutual Assistance in Criminal Matters between the Member States of the European Union, (2000/C 379/02).
  11. Luật tương trợ tư pháp năm 2007
  12.  Bộ luật TTHS năm 2015
  13.  Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Giáo trình Luật tương trợ tư pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016.
  14. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Vụ 13 (2017), Chuyên đề “Thực trạng và giải pháp hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự; Một số kiến nghị, sửa đổi, bổ sung Luật tương trợ tư pháp năm 2007”, Hà Nội.

ThS. DƯƠNG ĐÌNH CÔNG

Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 15 (391), tháng 8/2019

[1] Xem, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Giáo trình Luật tương trợ tư pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016.

[2] Xem Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự (mẫu) của Liên hiệp quốc theo Nghị quyết A/RES/45/117 tại website: www.un.org.

[3] Xem, Luật mẫu về tương trợ tư pháp các vấn đề hình sự của UNODC tại website: www.un.org tham khảo ngày 02/11/2018.
[4] Xem, Official Journal of the European Communities, Explanatory Report on the Convention of 29 May 2000 on Mutual Assistance in Criminal Matters between theMember States of the European Union, (2000/C 379/02) tại website: https://eur-lex.europa.eu (tham khảo ngày 02/11/2018)
[5] Thời điểm ký kết Hiệp định này, tương trợ tư pháp liên quan đến vấn đề tài chính chưa được đề cập cho đến Nghị định thư bổ sung năm 1978.
[6] Xem, Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự của ASEAN năm 2004.
[7] Đỗ Mạnh Hồng, Các vấn đề pháp lý cơ bản trong lĩnh vực tương trợ tư pháp về hình sự của ASEAN, Tạp chí Luật học số 09/2008, tr. 62-64.
[8] Xem, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Vụ 13, Chuyên đề “Thực trạng và giải pháp hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự; Một số kiến nghị, sửa đổi, bổ sung Luật tương trợ tư pháp năm 2007”, (2017), Hà Nội, tr. 10. Việt Nam cũng tham gia khoảng 15 Điều ước quốc tế đa phương có quy định về tương trợ tư pháp hình sự (trong phần này không nghiên cứu các Điều ước quốc tế đa phương này).
[9] Xem, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Vụ 13, Chuyên đề, Tlđd, tr. 5-7.
[10] Xem, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Vụ 13, Chuyên đề, Tlđd, tr. 34.

[11] Xem, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Vụ 13, Chuyên đề, tlđd, tr. 34.