Phạm nhân có được chuyển tiền để làm từ thiện không?

“Phạm nhân có được chuyển tiền để làm từ thiện không?” đó là câu hỏi được khá nhiều người gửi đến Văn phòng luật sư Hoàng Hưng trong thời gian gần đây.

 
Với câu hỏi này, Hoanghunglaw.vn xin trả lời như sau:
Theo Điều 44, Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi 2017) quy định:
 

1. Công dân Việt Nam bị kết án phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm khác trong những trường hợp do Bộ luật này quy định, thì bị tước một hoặc một số quyền công dân sau đây:
a) Quyền ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực Nhà nước;
b) Quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước và quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân.
2. Thời hạn tước một số quyền công dân là từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.

 
Dù phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù nhưng không phải bị tước bỏ hết các quyền công dân. Ngoài việc bị cấm ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực Nhà nước; làm việc trong các cơ quan nhà nước và quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân; cấm đảm nhiệm chức vụ có liên quan, cấm thành lập doanh nghiệp hoặc là có một số hạn chế về cư trú, xuất nhập cảnh… trong một thời hạn nhất định thì phạm nhân vẫn có các quyền công dân khác khi đang chấp hành hình phạt tù. Nghĩa là vẫn có thể kết hôn, ly hôn, tặng cho tài sản, lập di chúc, bán nhà, trả nợ, mua xe…
Như vậy, việc phạm nhân có nguyện vọng chuyển tiền làm từ thiện thì không bị hạn chế. Việc cho tặng tài sản này được thực hiện bởi một người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì hoàn toàn hợp pháp.
Tại Điều 11, Thông tư 07/2018/TT-BCA quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận; gửi thư; nhận tiền, đồ vật và liên lạc điện thoại với thân nhân như sau: Phạm nhân khi mới đến cơ sở giam giữ chấp hành án phạt tù có tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (tiền mặt), ngân phiếu, ngoại tệ, vàng bạc, đồng hồ, đồ trang sức quý hiếm, tư trang hoặc những đồ vật có giá trị khác phải lập biên bản và niêm phong để gửi vào lưu ký (tiền mặt gửi vào lưu ký thì phạm nhân được sử dụng) để cơ sở giam giữ quản lý, phạm nhân được nhận lại khi chấp hành xong án phạt tù. Trường hợp phạm nhân có nhu cầu được chuyển số tiền, đồ dùng, tư trang cho thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp thì cơ sở giam giữ có trách nhiệm lập biên bản giao trực tiếp cho thân nhân hoặc gửi qua đường Bưu điện, cước phí do phạm nhân chi trả. Biên bản nhận hay trả tiền, đồ lưu ký phải mô tả đúng thực trạng số lượng, trọng lượng, chủng loại, hình dạng, kích thước, màu sắc và các đặc điểm khác của đồ vật.
Theo quy định trên, khi đến cơ sở giam giữ chấp hành án phạt tù, phạm nhân phải gửi tài sản, tư trang hoặc những đồ vật có giá trị để cơ sở giam giữ lập biên bản và niêm phong gửi vào lưu ký nhằm mục đích quản lý.
Việc phạm nhân có nhu cầu chuyển tiền cho em bé mổ tim thì phải được cơ sở giam giữ lập biên bản giao trực tiếp cho em bé đó hoặc gửi qua đường Bưu điện. Phần cước phí vận chuyển sẽ do phạm nhân chi trả.

Thời điểm và thẩm quyền ra quyết định hoãn phiên tòa hình sự theo BLTTHS 2015

Chỉ khi phiên toà được mở thì Toà án mới xác định được chính xác có căn cứ hoãn hay không và thẩm quyền hoãn phiên toà chỉ thuộc về Hội đồng xét xử.
Tại Điều 297 và 352 BLTTHS năm 2015 quy định về hoãn phiên tòa hình sự. Theo đó hoãn phiên toà được hiểu là việc không tiến hành xét xử vì một số lý do nhằm đảm bảo cho vụ án được xét xử được khách quan, công bằng và thời điểm tiến hành phiên toà đã định sẽ được chuyển sang thời điểm khác muộn hơn.
Về nguyên tắc chỉ khi phiên toà được mở thì Toà án mới xác định được chính xác có căn cứ hoãn hay không, do đó thẩm quyền hoãn phiên toà chỉ thuộc về Hội đồng xét xử và thẩm phán chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử ký quyết định hoãn phiên tòa.
Tuy nhiên, trên thực tế có những trường hợp mặc dù đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng trong thời gian chuẩn bị mở phiên tòa có bị cáo hoặc người tham gia tố tụng tại phiên tòa gửi yêu cầu đến tòa xin hoãn phiên tòa vì lý do sức khỏe không thể tham gia tố tụng tại phiên tòa được. Theo các quy định hiện hành thì việc vắng mặt này được xác định là căn cứ để hoãn phiên tòa. Tuy nhiên Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không thể ra quyết định hoãn phiên tòa ngay được vì pháp luật không cho phép. Như vậy, trong trường hợp này mặc dù biết trước phiên tòa sẽ phải hoãn nhưng Hội đồng xét xử vẫn phải đợi đến ngày mở phiên tòa mới được ra quyết định. Điều này gây lãng phí chi phí tố tụng, khó khăn đối với những người tham gia phiên tòa ở xa, điều kiện đi lại khó khăn… Do vậy, BLTTHS năm 2015 cần bổ sung quy định dự liệu trường hợp này để những người tiến hành tố tụng cũng như những người tham gia tố tụng được biết và chủ động hơn.
Thẩm quyền ra quyết định hoãn phiên tòa thuộc về Hội đồng xét xử và Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử ký quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2015 đã dự liệu trường hợp chủ tọa phiên tòa vắng mặt hoặc bị thay đổi thì Chánh án Tòa án ra quyết định hoãn phiên tòa.  Đây là một quy định hoàn toàn phù hợp bởi lẽ trên thực tế khi vụ án đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử, đến ngày mở phiên tòa vì lý do sức khỏe hay lý do nào đó mà chủ tọa phiên tòa vắng mặt hoặc bị thay đổi thì phải có người ký quyết định hoãn phiên tòa.
 

Nguồn: Tạp chí kiểm sát (kiemsat.vn)

 

Tội vi phạm quy định về phòng cháy, chứa cháy tại BLHS 2015

Tội vi phạm quy định về phòng cháy, chứa cháy được quy định tại Điều 313 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Tương ứng với Điều 240. Tội vi phạm quy địnhh về phòng cháy, chữa cháy BLHS 1999).
 

Điều 313. Tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy
1. Người nào vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 08 năm:
a) Làm chết 02 người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
4. Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy trong trường hp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

 
Bình luận tội vi phạm quy định về phòng cháy, chứa cháy tại BLHS 2015

1. Khái niệm

Vi phạm quy định về phòng chát, chữa cháy được hiểu là hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ các quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy.

2. Các yếu tố cấu thành tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy

2.1. Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội phạm này có dấu hiệu sau:
a) Về hành vi. Có hành vi vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy (như không chuẩn bị bình chữa cháy ở những nơi như trạm xăng dầu…).
Nếu như vi phạm về phòng cháy, chữa cháy rừng thì các hành vi sau đây là hành vi vi phạm:

  • Ở những khu rừng tập chung mà chủ rừng không có phương án phòng cháy, chữa cháy và các công trình phòng cháy, chữa cháy;
  • Đốt lửa, sử dụng lửa ở các khu bảo vệ nghiêm ngặt rừng đặc dụng, phân khu phong hộ rất xung yếu;
  • Đốt lửa, sử dụng lửa ở các khu rừng dễ cháy, thảm thực vật khô nỏ vào mùa hanh khô;
  • Đốt lửa, sử dụng lửa gần kho, bãi gỗ khi có cấp dự báo cháy rừng từ cấp III đến cấp V;
  • Đốt lửa, sử dụng lừa để săn bắt động vật rừng, hạ cây rừng và đốt để lấy than ở trong rừng, lấy mật ong, lấy phế liệu chiến tranh;
  • Đốt nương, rẫy, đồng ruộng trái phép ở trong rừng, ven rừng;
  • Không đảm bảo an toàn về phòng cháy và chữa cháy rừng khi chưa được phép sử dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt, các thiết bị, dụng cụ sinh lửa, sinh nhiệt và bảo quản, sử dụng chất cháy trong rừng và ven rừng;
  • Các hành vi khác trực tiếp gây ra nguy cơ cháy rừng.

b) Các dấu hiệu khác. Có một trong những dấy hiệu sau đây:

  • Làm chết người;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe 01 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% lên 121%;
  • Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2.2. Khách thể

Hành vi nêu trên xâm phạm đến các quy định về phòng cháy, chữa cháy. Đồng thời còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác.

2.3. Mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện lỗi này với lỗi cố ý.

2.4. Chủ thể

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

3. Về hình phạt

Mức khung hình phạt của tội này được chia thành 04 khung, cụ thể như sau:
a) Khung một (khoản 1).
Có mức cải tảo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.
b) Khung hai (khoản 2).
Có mức phạt tù từ 05 năm đến 08 năm.
c) Khung ba (khoản 3)
Có mức phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.
d) Khung bốn (khoản 4)
Có mức phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc bị phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

4. Hình phạt bổ sung

Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình phạt chính nêu trên, tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
 

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Tội phá thai trái phép theo quy định của Bộ luật hình sự 2015

Tội phá thai trái phép được quy định tại Điều 316 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Tương ứng với Điều 243. Tội phá thai trái phép BLHS 1999).
 

Điều 316. Tội phá thai trái phép
1. Người nào thực hiện việc phá thai trái phép cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây tn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương có thể 61 % trở lên;
c) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121 %;
d) Đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Làm chết 02 người;
b) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

 
Bình luận tội phá thai trái phép theo quy định của Bộ luật hình sự 2015

1. Phá thai trái phép là gì?

Phá thai trái phép được hiểu là hành vi hủy bỏ thai nhi của người khác (dưới bất cứ hình thức nào ở người phụ nữ) nhưng không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền.

2. Các yếu tố cấu thành tội phá thai trái phép

2.1. Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội phạm này có các dấu hiệu sau:
a) Mặt hành vi. Có hành vi thực hiện việc phá thai trái phép cho người khác. Được thể hiện nhu thực hiện phá thai ở những nơi không được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ sở không có giấy phép thực hiện việc phá thai…
b) Dấu hiệu khác. Có một trong các dấu hiệu sau đây:

  • Làm chết người;
  • Gây tổn hại đến sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
  • Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
  • Đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

2.2. Khách thể

Hành vi nêu trên xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác.

2.3. Mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

2.4. Chủ thể

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

3. Về hình phạt

Mức hình phạt của tội phạm này được chia thành 03 khung, cụ thể như sau:
a) Khung một (khoản 1).
Có mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.
b) Khung hai (khoản 2).
Có mức phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
c) Khung ba (khoản 3)
Có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

4. Hình phạt bổ sung

Ngoài việc bị áp dung một trong các hình phạt chính nêu trên, tùy từng trường hợp cụ thể người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
 

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Tội vi phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc

Tội vi phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc được quy định tại Điều 312 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). (Tương ứng với điều 239. Tội vi phạm quy định về quản lý chất chát, chất độc BLHS 1999).

1. Khái niệm

Vi phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc được hiểu là hành vi của người có trách nhiệm trong hoạt động quản lý việc sản xuất, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu trữ, vận chuyển hoặc mua bán chất cháy, chất độc đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các quy định của pháp luật trong các hoạt động nêu trên.\

2. Các yếu tố cấu thành tội phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc

2.1. Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu như sau:
a) Về hành vi. có một trong các hành vi sau:

  • Có hành vi vi phạm quy định về quản lý việc sản xuất chất cháy, chất độc.
  • Có hành vi vi phạm quy định về quản lý việc trang bị chất cháy, chất độc.
  • Có hành vi vi phạm quy định về quản lý việc sử dụng chất cháy, chất độc.
  • Có hành vi vi phạm quy định về quản lý việc bảo quản, lưu trữ chất cháy, chất độc.
  • Có hành vi vi phạm quy định về quản lý việc vận chuyển chất chát, chất độc.
  • Có hành vi vi phạm quy định về quản lý việc mua bán chất cháy, chất độc.

Lưu ý:

  • Chất chát là những chất có đặc tính tự bốc chát không tiếp xúc ôxy trong không khí, nước hoặc khi có tác động của yếu tố khác cà những chất dễ tự bốc chát ở nhiệt độ cao như diêm tiêu (ka-li-ni-nát) phốt pho, thuốc đạn.
  • Chất độc là những chất độc có độc tính chất cao và rất có hại đối với sức khỏe của con người và động vật, nếu bị nhiễm phải một liều lượng nhất định (có thể rất nhỏ) có thể gây chết người, gây nguy hại lớn đến sự sống của các sinh vật khác (động vật hoặc thực vật) hoặc gây ô nhiễm môi trường.

b) Dấu hiệu khác. Có một trong các dấu hiệu sau đây:

  • Làm chết người;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trên lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này tử 61% đến 121%;
  • Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2.2. Khách thể

Hành vi nêu trên xâm phạm đến chế độ quản lý chất chát, chất độc của Nhà nước. Đồng thời còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác.

2.3. Mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

2.4. Chủ thể

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

3. Về hình phạt

Mức hình phạt của tội phạm này là bất kỳ người nào được chia thành 03 khung, cụ thể như sau:
a) khung một (khoản 1)
Có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
b) khung hai (khoản 2)
Có mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
c) Khung ba (khoản 3)
Có mức phạt tù từ 03 năm đến 15 năm.

4. Hình phạt bổ sung

Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình phạt chính nêu trên, tùy từng trường hợp cụ thể người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
 

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Giao dịch chuyển nhượng đất đai vô hiệu do bị lừa dối

Chào luật sư, năm 2017 anh trai tôi có mua mảnh đất ở quê. Khi mua người bán cho anh trai tôi xem sổ đỏ thì diện tích đất ghi trên đó là 231.8m2 nhưng khi anh trai tôi làm thủ tục sang tên sổ đỏ thì diện tích thực tế chỉ có 194.5m2. anh trai tôi có nói lại với người bán thì họ nói là diện tích sổ cũ được đo bằng tay nên không chính xác. Tuy nhiên, sau đó anh trai tôi được biết là bên bán đã thỏa thuận với nhà bên cạnh chừa lại phần diện tích đó cho họ để làm lối đi (do đất nhà đó nằm trong góc, bị các nhà khác xây vây bọc xung quanh không có lối ra đường chính), và bên bán cũng đã nhận được tiền đền bù từ nhà bên cạnh. Vì thế, anh trai tôi có yêu cầu bên bán phải hoàn lại tiền cho anh trai tôi tương ứng với phần diện tích hao hụt nhưng bên bán không đồng ý. Vậy xin hỏi, trong trường hợp của anh trai tôi thì anh trai tôi phải làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích của mình?
 


 
Chào bạn, cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về hộp thư tư vấn của Văn phòng luật sư Hoàng Hưng. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin trả lời như sau:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 254 BLDS 2015 thì chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ. Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi. Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Như vậy, trong trường hợp này, việc bên bán chừa lại một phần diện tích đất để làm lối đi cho bất động sản liền kề của nhà bên cạnh là đúng theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, do không rõ là trước đó bên bán và nhà bên cạnh thỏa thuận như thế nào về quyền và nghĩa vụ của các bên trên phần diện tích đất đó nên chúng tôi tạm chia làm 2 trường hợp như sau:
Trường hợp thứ nhất, phần đất đó vẫn thuộc quyền sở hữu của bên bán và nhà bên cạnh chỉ trả tiền đền bù để được sử dụng phần đất đó. Trong trường hợp này thì diện tích đất mà bên bán chuyển nhượng lại cho bạn vẫn đúng với thực tế diện tích đất đo đạc. Tuy nhiên, bên bán vẫn phải thông báo cho bên bạn về phần diện tích chừa lại đó vì sau khi nhận chuyển nhượng bạn cũng không thể sử dụng phần diện tích đó để xây dựng công trình hoặc sử dụng vào mục đích khác. Nếu bên bán không thông báo trước khi chuyển nhượng cho anh trai bạn thì anh trai bạn có thể thỏa thuận yêu cầu bên bán chi trả lại một phần khoản tiền đền bù hoặc yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch chuyển nhượng đất giữa anh trai bạn và bên bán là vô hiệu do có sự lừa dối theo quy định tại Điều 127 BLDS 2015. Cụ thể, Điều 127 BLDS 2015 quy định như sau:
 

Điều 127. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

 
Trường hợp thứ hai, bên bán đã chuyển nhượng cho nhà bên cạnh phần diện tích đất đó để làm lối đi và nhận tiền chuyển nhượng. Đây là một trường hợp thường xảy ra trên thực tế, do bất động sản bị vây bọc không có lối đi ra đường công cộng nên chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc đã thỏa thuận mua lại một phần diện tích đất của bất động sản liền kề để làm lối đi. Trong trường hợp này thì bên bán đã có sự lừa dối trong giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất với anh trai bạn về diện tích thực tế của mảnh đất. Vì thế anh trai bạn có thể thỏa thuận lại với bên bán về việc bên bán phải hoàn trả cho anh trai bạn số tiền tương ứng số tiền mà anh trai bạn đã trả đối với phần diện tích đất đã bị chuyển nhượng cho nhà bên cạnh để làm lối đi. Trong trường hợp không thỏa thuận được hoặc không muốn thỏa thuận thì anh trai bạn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch này bị vô hiệu theo quy định tại Điều 127 BLDS 2015.

Những trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định của BLDS 2015

Giao dịch dân sự vô hiệu là gì? Những trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định của Bộ luật dân sự (BLDS) 2015.
 

I. Giao dịch dân sự vô hiệu là gì?

Theo quy định tại điều 116 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Căn cứ điều 122 BLDS 2015 thì: “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.”
Điều 177 quy định điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Nếu vi phạm các điều khoản tại điều 177 thì giao dịch sẽ không có giá trị pháp lý ngay từ thời điểm ký‎ kết. Trong trường hợp giao dịch chưa được thực hiện hoặc đang thực hiện thì không còn được thực hiện nữa, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Như vậy, giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch dân sự không thỏa mãn một trong các điều kiện về hiệu lực được pháp luật dân sự quy định. 
Những quy định về sự vô hiệu của giao dịch dân sự có ‎ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thiết lập trật tự kỷ cương xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và nhà nước; bảo đảm an toàn pháp l‎ý cho các chủ thể trong giao lưu dân sự.

II. Những trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu trong Bộ luật dân sự 2015

1. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội (Điều 123 Bộ luật dân sự 2015)

Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

  • Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.
  • Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Ví dụ: Giao dịch mua bán và vận chuyển vũ khí vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, cụ thể là vi phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự được quy định tại Điều 304 Bộ luật hình sự 2015.

2. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo (Điều 124 Bộ luật dân sự 2015)

Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.
Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.

3. Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 125 Bộ luật dân sự 2015)

Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ những trường hợp sau:

  • Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;
  • Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;
  • Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.

4. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 126 Bộ luật dân sự 2015)

Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp sau:
Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được.

5. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép (Điều 127 Bộ luật dân sự 2015)

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

6. Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Điều 128 Bộ luật dân sự 2015)

Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Ví dụ: trong khi say rượu A đã ký hợp đồng với B bán quyền sử dụng đất mà A đang sở hữu cho B với giá chỉ bằng 1/2 giá thị trường tại thời điểm đó. Trong trường hợp này, giao dịch vô hiệu do tại thời điểm xác lập giao dịch, A không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.

7. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 129 Bộ luật dân sự 2015)

     Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

  • Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.
  • Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.

 

III. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định của bộ luật dân sự 2015

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.
3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.
4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.
 

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm

Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự là một trong những nguyên tắc có tính cơ bản, xuyên suốt của BLTTDS. Vậy, nguyên đơn có quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án hay không?
 
Thực tế cho thấy nhiều trường hợp trong  giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, nguyên đơn liên tục thay đổi hoặc bổ sung yêu cầu hoặc sau khi Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm thì đương sự mới có thay đổi, bổ sung yêu cầu.
Theo quy định tại Điều 5, khoản 4 Điều 70, khoản 2 Điều 71, khoản 3 Điều 200, khoản 2 Điều 210, Điều 243 BLTTDS chỉ quy định về việc nguyên đơn có quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện và quy định giới hạn việc xem xét, chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của nguyên đơn trong trường hợp tại phiên tòa sơ thẩm nếu việc thay đổi, bổ sung đó của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. Các quy định này là chưa triệt để, chưa giải quyết được những vướng mắc về quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sư thẩm như: thế nào là  thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn? mốc thời điểm cụ thể để xem xét việc chấp nhận hay không chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu  khởi kiện? Trường hợp nào thì chấp nhận hay không chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn? Thủ tục tố tụng khi nguyên đơn có thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện?
Để giải quyết vướng mắc này Tòa án nhân dân tối cao có công văn số 01/2017/GĐ – TANDTC  ngày 07/4/2017 giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ của Tòa án các địa phương, trong đó tại mục 7, Phần IV đã hướng dẫn thực hiện nội dung như sau: “Tòa án chấp nhận việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi, bổ sung được thực hiện trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Tại phiên họp và sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì Tòa án chỉ chấp nhận việc đương sự thay đổi yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu”.
Như vậy, trường hợp nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện trước thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì sẽ được chấp nhận.
Trường hợp nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện từ thời điểm Tòa án mở phiên họp trở đi thì việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chỉ được chấp nhận nếu việc thay đổi yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. Hướng dẫn này của ngành Tòa án phù hợp với quy định về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn và quyền yêu cầu độc lập của người có quyền, nghĩa vụ liên quan được quy định tại khoản 3 Điều 200 và khoản 2 Điều 201 BLTTDS. Tuy nhiên, về khái niệm thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện; mốc thời điểm cụ thể để xem xét việc chấp nhận hay không chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu  khởi kiện? thủ tục thực hiện thay đổi, bổ sung yêu cầu của nguyên đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử được thực hiện như nhế nào thì cho đến nay BLTTDS và các văn bản hướng dẫn hiện nay cũng chưa quy định và chưa hướng dẫn cụ thể.
Từ  thực trạng nêu trên, nhằm đảm bảo cho các quy định của pháp luật tố tụng dân sự ngày càng hoàn thiện; là cơ sở pháp lý cho việc áp dụng và thực hiện pháp luật, chúng tôi kiến nghị một số giải pháp như sau:
Một là, BLTTDS cần quy định về thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là thời điểm để xem xét việc yêu cầu thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với phạm vi chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn tương ứng với nội dung được quy định tại khoản 3 Điều 200 và khoản 2 Điều 201 BLTTDS như quy định về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn và quyền yêu cầu độc lập của người có quyền, nghĩa vụ liên quan.
Hai là, Để tránh được sự không thống nhất từ việc áp dụng pháp luật, Thẩm phán khi xem xét việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, BLTTDS cần giải thích rõ khái niệm thay đổi, bổ sung yêu cầu của nguyên đơn; nên quy định việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của nguyên đơn trong giai đoạn này cần được thể hiện  dưới hình thức văn bản là đơn yêu cầu.
Ba là,  BLTTDS cần bổ sung thêm quy định  ngay sau khi chấp nhận thay đổi, bổ sung yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án thông báo cho các đương sự khác để đảm bảo cho họ có thời gian chuẩn bị tài liệu, chứng cứ bảo vệ cho các quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước khi Tòa án.

Ba phương án để người chuyển giới được pháp luật công nhận

Người chuyển đổi giới tính trên 18 tuổi đã phẫu thuật chuyển giới; chỉ cần được xác nhận kiểm tra tâm lý; điều trị nội tiết tố 2 năm.

Ba phương án này được Bộ Y tế đề xuất trong dự thảo Luật chuyển đổi giới tính, đang ở giai đoạn lấy ý kiến. Dự kiến dự thảo trình Quốc hội vào năm 2019.
Theo dự thảo, người chuyển đổi giới tính là người có giới tính sinh học hoàn thiện, có nhận diện giới khác với giới tính khi sinh ra và đã được can thiệp y học để chuyển giới. Can thiệp y học để chuyển đổi giới tính là một hoặc toàn bộ quá trình từ điều trị nội tiết tố sinh dục đến phẫu thuật ngực, phẫu thuật bộ phận sinh dục.
Điều kiện để người chuyển giới được can thiệp y học là trên 18 tuổi, độc thân, có đủ sức khỏe và không chống chỉ định điều trị nội tiết tố sinh dục. Ban soạn thảo cho rằng người trên 18 tuổi đã có đầy đủ năng lực hành vi để tự quyết định việc chuyển giới. Tình trạng độc thân nhằm đảm bảo “quyền và nghĩa vụ từ quan hệ hôn nhân và gia đình, bao gồm cả việc nhận nuôi con nuôi”. Khi đăng ký thay đổi hộ tịch, người chuyển giới cần có giấy công nhận đã can thiệp y học chuyển giới.
Giải trình của Bộ Y tế gửi Chính phủ, quy định người chuyển giới được pháp luật công nhận khi đã phẫu thuật chuyển đổi, là một trong ba giải pháp được lấy ý kiến. Giải pháp khác là người chuyển giới không cần can thiệp về y học mà chỉ cần có xác nhận đã kiểm tra tâm lý cũng được công nhận. Một phương án nữa là ngoài kết quả kiểm tra tâm lý xác định khác giới tính hiện có thì đã điều trị nội tiết tố sinh dục 1-2 năm trở lên.
Tuy nhiên, phương án người chuyển giới phải điều trị nội tiết tố hoặc phẫu thuật chuyển đổi giới tính, không được cộng đồng người chuyển giới đồng tình. Trong hội thảo về những vấn đề xã hội và pháp lý khi chuyển giới, diễn ra hồi tháng 6, nhiều người bày tỏ không muốn phẫu thuật chuyển đổi mà chỉ mong muốn được công khai giới tính của mình và thay đổi giấy tờ phù hợp với giới tính mới. Một số người khác không đủ điều kiện kinh tế để điều trị chuyển giới do can thiệp y học rất tốn kém.
Tại nhiều quốc gia, quy định về chuyển đổi giới tính đã cởi mở trên tinh thần tôn trọng ý nguyện của công dân. Người chuyển giới được công nhận về mặt pháp lý mà không cần trải qua các quá trình điều trị hormone hoặc phẫu thuật.
Hiện Việt Nam có trên 400.000 người chuyển giới. Do các rào cản về xã hội, văn hóa và pháp lý, những người này dễ bị phân biệt đối xử và bị tổn thương. Nghiên cứu về những người chuyển giới nữ do Tổ chức CARMAH và Đại học Pittsburg (Mỹ) thực hiện ở TP HCM cho thấy 45% bị từ chối việc làm do phân biệt đối xử. 4% người được hỏi có việc làm, tới 13% kiếm sống bằng nghề mại dâm. 83% người được hỏi chia sẻ là bị chế giễu.
Luật chuyển đổi giới tính ở Việt Nam chưa được ban hành nên các dịch vụ y tế, pháp lý và xã hội cho người chuyển giới hầu như không có. Một số cá nhân tự phẫu thuật chuyển giới xong, các vấn đề về pháp lý như giấy tờ tùy thân chưa được đáp ứng.
 

Theo: Vnexpress

Mở công ty luật: Bỏ điều kiện cần ít nhất 02 năm hành nghề

Ngày 08/6/2018, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định 1319/QĐ-BTP về phê duyệt phương án đơn giản hóa điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực Bộ quản lý.

Theo đó, khi thành lập một số tổ chức hành nghề trong lĩnh vực tư pháp được cắt giảm một số điều kiện, đơn cử như sau:

– Thành lập tổ chức hành nghề luật sư

Bãi bỏ điều kiện có ít nhất 02 năm hành nghề liên tục làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức theo quy định Luật Luật sư.
=> Tạo điều kiện cho cá nhân thành lập tổ chức hành nghề.

– Thành lập tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam

Trưởng chi nhánh, Giám đốc công ty luật không cần phải có 02 năm liên tục hành nghề luật sư.
=> Để tạo điều kiện cho tổ chức.

– Thành lập văn phòng công chứng

Bỏ điều kiện thành lập Văn phòng công chứng phải tuân theo quy định của Luật Công chứng và phù hợp với Luật Quy hoạch.
=> Để phù hợp với Luật quy hoạch.
Xem thêm Quyết định 1319/QĐ-BTP tại đây: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Quyet-dinh-1319-QD-BTP-2018-don-gian-hoa-dieu-kien-kinh-doanh-linh-vuc-thuoc-quan-ly-Bo-tu-phap-385601.aspx