Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của BMNN theo Hiến pháp 2013

Trình bày các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quy định trong Hiến pháp 2013.
 

Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là những phương hướng mang tính chỉ đạo trong quá trình tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác định trong Hiến pháp.

 
Những nguyên tắc bao gồm: Đảng cộng sản lãnh đạo Nhà nước và xã hội; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân; bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ giữa các dân tộc; tập trung dân chủ và pháp chế xã hội chủ nghĩa.
 

Thứ nhất, nguyên tắc Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Khoản 1 Điều 4 Hiến pháp 2013 khẳng định “1. Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân,chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình. 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.“.
Nội dung của điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở Điều 4 của Hiến pháp 1992. Theo đó, ngoài quy định “Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” còn bổ sung quy định “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”. Đồng thời, cũng tại điều này còn bổ sung quy định “Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
Đây chính là cà cơ sở pháp lý quan trọng để ban hành văn bản pháp luật quy định trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân. Đồng thời tạo cơ chế để nhân dân giám sát hoạt động của Đảng về những quyết định của Đảng. Và chính vì vậy mà nhân dân ta ngày càng tin tưởng vào vai trò, vị trí của Đảng trong đời sống của dân tộc.
Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là một tất yếu khách quan, là sự bảo đảm cho Nhà nước ta thực sự là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Thứ hai, nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân.

Điều 2 Hiến pháp 2013 quy định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức“. Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Quốc hội và Hội đồng nhân dân bao gồm các đại biểu của Nhân dân do Nhân dân bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, thay mặt Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước, quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước và ở địa phương.
Ngoài ra Nhân dân còn trực tiếp thực hiện quyền lực Nhà nước bằng nhiều cách khác nhau như: Nhân dân trực tiếp tham gia vào công việc quản lý Nhà nước; tham gia thảo luận Hiến pháp và luật; trực tiếp bầu ra các đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, giám sát hoạt động của các đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, bãi nhiệm các đại biểu này khi họ không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân; bỏ phiếu trưng cầu ý dân về những vấn đề quan trọng thuộc nhiệm vụ quyền hạn của Nhà nước.

Thứ ba, nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ giữa các dân tộc.

Điều 5 Hiến pháp 2013 quy định “1. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; 2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.” Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số”.
Thực hiện nguyên tắc này trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước đòi hỏi, tất cả các dân tộc phải có đại diện của mình trong các cơ quan Nhà nước đặc biệt trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Các cơ quan Nhà nước phải xuất phát từ lợi ích của Nhân dân, của các dân tộc, bảo đảm sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các dân tộc. Nhà nước có chính sách ưu tiên giúp đỡ để các dân tộc ít người mau đuổi kịp trình độ phát triển chung của toàn xã hội.
Bên cạnh đó, Nhà nước nghiêm trị những hành vi miệt thị gây chia rẽ, hằn thù giữa các dân tộc cũng như bất cứ hành vi nào lợi dụng chính sách dân tộc để phá hoại an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước ta.

Thứ tư, nguyên tắc tập trung dân chủ.

Điều 6 Hiến pháp 2013 quy định “Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước.” cùng với đố khoản 1 Điều 8 cũng có quy định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.
Bản chất của nguyên tắc này thể hiện sự thống nhất biện chứng giữa chế độ tập trung lợi ích của Nhà nước, sự trực thuộc, phục tùng của các cơ quan Nhà nước cấp dưới trước các cơ quan Nhà nước cấp trên và chế độ dân chủ, tạo điều kiện cho việc phát triển sự sáng tạo, chủ động và quyền tự quản của các cơ quan Nhà nước cấp dưới.
Tập trung và dân chủ là hai mặt của một thể thống nhất kết hợp hài hòa với nhau. Nếu chỉ chú trọng sự tập trung thì dễ dẫn đến chuyên quyền, độc đoán, mất dân chủ, nhưng nếu chỉ chú trọng phát triển dân chủ mà không bảo đảm sự tập trung thì dễ dẫn đến tình trạng vô chính phủ, cục bộ địa phương. Để bảo đảm thực hiện tốt nguyên tắc này đòi hỏi trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
Thứ nhất, bộ máy Nhà nước phải do Nhân dân xây dựng nên. Nhân dân thông qua bầu cử để lựa chọn những đại biểu xứng đáng, thay mặt Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước, chịu trách nhiệm trước Nhân dân và phục vụ lợi ích của Nhân dân.
Thứ hai, quyết định của cấp trên, của trung ương buộc cấp dưới, địa phương phải thực hiện. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, cấp dưới, địa phương có quyền phản ánh những kiến nghị của mình đối với cấp trên, trung ương, có quyền sáng kiến trong quá trình thực hiện cho phù hợp với tình hình, đặc điểm của đơn vị, địa phương.
Thứ ba, những vấn đề quan trọng của cơ quan Nhà nước phải được đưa ra thảo luận tập thể và quyết định theo đa số.

Thứ năm, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Điều 8 Hiến pháp 2013 quy định “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.“. Nguyên tắc này đòi hỏi:

  • Thứ nhất, Nhà nước phải xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn thiện. Đây là cơ sở pháp lý hết sức cần thiết để thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước.
  • Thứ hai, việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước phải được tiến hành theo đúng pháp luật. Tất cả các cơ quan Nhà nước, cán bộcông chức phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật một cách nghiêm túc.
  • Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Hiến pháp và pháp luật, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật. Bất cứ mọi hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cá nhân nhân, tổ chức nào cũng phải được xử lý ngiêm minh theo đúng quy định của pháp luật.
  • Thứ tư, các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục pháp luật để nâng cao ý thức pháp luật của mọi công dân để mọi công dân hiểu biết pháp luật, tôn trọng pháp luật nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và tích cực đấu tranh với mọi hành vi vi phạm pháp luật.

Hiểu thế nào cho đúng về nơi cư trú của bị can, bị cáo

Thực tế áp dụng pháp luật vẫn có cách hiểu chưa thống nhất về nơi cư trú của bị can, bị cáo.
 

Theo Điều 123 BLTTHS năm 2015, cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.

 
Người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải thông báo về việc áp dụng biện pháp này cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú, đơn vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo và giao bị can, bị cáo cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đơn vị quân đội đó để quản lý, theo dõi họ.
Trường hợp bị can, bị cáo vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan phải tạm thời đi khỏi nơi cư trú thì phải được sự đồng ý của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc đơn vị quân đội quản lý họ và phải có giấy cho phép của người đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Nếu bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan thì chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú, đơn vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo phải báo ngay cho cơ quan đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú biết để xử lý theo thẩm quyền.
Vậy, “nơi cư trú mà bị can, bị cáo bị cấm đi khỏi” được hiểu như thế nào cho đúng. Bởi trong thực tiễn đã có nhiều cách hiểu hoặc cách giải thích khác nhau về “nơi cư trú” dẫn đến việc người có thẩm quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đã xác định không đúng nơi cư trú mà bị can, bị cáo và khi bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đi khỏi nơi cư trú thì ngay lập tức họ bị áp dụng biện pháp tạm giam, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của bị can, bị cáo.
Trong thực tiễn đã có cách hiểu hoặc cách giải thích về “nơi cư trú” trong biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú như sau:
(1) Nơi cư trú bị can, bị cáo cấm đi khỏi là trong phạm vi địa giới hành chính xã, phường nơi bị can, bị cáo sinh sống hoặc làm việc.
(2) Nơi cư trú bị can, bị cáo cấm đi khỏi là trong phạm vi địa giới hành chính huyện, quận nơi bị can, bị cáo đang sinh sống hay đang làm việc;
(3) Nơi cư trú bị can, bị cáo cấm đi khỏi là trong phạm vi doanh trại đơn vị quân đội nơi bị can, bị cáo ở;
Theo quy định của Luật cư trú năm 2006 được sửa đổi bổ sung năm 2013 quy định về nơi cư trú như sau:
 

Điều 12. Nơi cư trú của công dân
1. Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.
Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.
Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú.
Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú.
2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống.

 

Điều 13. Nơi cư trú của người chưa thành niên
1. Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống.
2. Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được cha, mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.

 
Thực tế có những vướng mắc cần phải được cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn để áp dụng cho thống nhất.
Tình huống 1: Bị can A có hộ khẩu thường trú tại phường 1, thị xã A, tỉnh T nhưng làm việc tại Công ty X có trụ sở tại phường 2, thị xã A, tỉnh T. Nếu cấm bị can A đi khỏi phạm vi phường 1, thị xã A thì bị can A không thể đi làm ở Công ty X có trụ sở tại phường 2, thị xã A. Nếu ngày nào bị can A cũng phải báo cáo và xin phép UBND phường 1 để đi làm ở phường 2 thì rất bất tiện và không hợp lý.
 
Tình huống 2: Bị can C (17 tuổi) do giận cha mẹ nên ở nhờ nhà người bạn của C (thuộc phường 2, thị xã A) được khoảng 03 ngày thì phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015. Quá trình điều tra cho thấy cha mẹ của bị can C có hộ khẩu thường trú tại phường 1, thị xã A, tỉnh T. Người có thẩm quyền có quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cứ trú đối với C và nơi cư trú trong trường hợp này là nơi cư trú của cha mẹ C (phường 1). Tuy nhiên sau khi nhận Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú thì C không chịu về nhà sống với cha mẹ mà ở nhà bạn của C thì UBND phường 1 cũng không thể quản lý, theo dõi đối với C nên việc cấm đi khỏi nơi cư trú đối với C không còn ý nghĩa.
 
Rất mong quý đồng nghiệp và bạn đọc cùng thảo luận, trao đổi.
 

Nguồn: Tạp chí kiểm sát (kiemsat.vn)

Một số nội dung lớn trong dự thảo Luật đặc xá (sửa đổi)

Luật đặc xá (sửa đổi) được Quốc hội cho ý kiến vào kỳ họp thứ 5 (tháng 5-2018). Theo đánh giá của Chính phủ, dù đã đạt được một số kết quả tích cực, song nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế lớn trong công tác thi hành Luật đặc xá. Trong đó, số lượng người được đặc xá trong mỗi đợt là khá lớn, chưa thể hiện rõ tính đặc biệt trong việc hưởng ân huệ của người đứng đầu nhà nước đối với người phạm tội. Thời gian thực hiện Quyết định về đặc xá của Chủ tịch nước chưa được quy định cụ thể trong Luật hiện hành nên trong thực tế, thời gian tổ chức thực hiện các công việc đặc xá trong mỗi đợt thường là quá ngắn, gây nhiều áp lực, bị động cho cơ quan tổ chức thực hiện. Ngoài ra, Luật hiện hành cũng chưa quy định thủ tục cụ thể tiến hành bảo hộ công dân đối với phạm nhân là người nước ngoài được Việt Nam đặc xá… Chính vì vậy, dự thảo Luật đặc xá (sửa đổi) đã đưa ra một số quy định mới, nhằm khắc phục những bất cập nêu trên.

1. Về điều kiện được đề nghị đặc xá

Điều 10 dự thảo Luật đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng hơn diện đối tượng người có thể được đề nghị đặc xá so với quy định của Luật Đặc xá 2007 và diện người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, cụ thể như sau:
– Không quy định điều kiện “phạm tội lần đầu” như Bộ luật Hình sự 2015 (Điều 66 BLHS 2015 quy định một trong những điều kiện để tha tù trước thời hạn là “phạm tội lần đầu”).
– Người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII, Chương XXVI, Điều 299; người bị kết án 10 năm tù trở lên về một trong các tội quy định tại Chương XIV của Bộ luật Hình sự do cố ý hoặc người bị kết án 07 năm tù trở lên đối với một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 248, 251, 252 của Bộ luật Hình sự vẫn có thể được đề nghị đặc xá nếu đáp ứng được điều kiện về thời hạn đã chấp hành án phạt tù.
– Đã chấp hành được ít nhất ½ thời gian đối với hình phạt tù có thời hạn, ít nhất 15 năm đối với hình phạt tù chung thân (tăng so với Luật hiện hành).
– Đối với người bị kết án phạt tù về bất kỳ tội gì (trong khi Luật hiện hành chỉ quy định đối với người bị kết án phạt tù về tội phạm tham nhũng hoặc một số tội khác do Chủ tịch nước quyết định) đều phải chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí, bồi thường thiệt hại hoặc nghĩa vụ dân sự khác; trừ trường hợp được Chủ tịch nước xem xét, quyết định đối với khoản tiền phạt bổ sung, án phí; có văn bản không yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc đồng ý bồi thường thiệt hại sau khi được đặc xá.

2. Về các Quyết định của Chủ tịch nước về đặc xá

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung theo hướng:
– Quy định cụ thể hơn trình tự, thủ tục trình Chủ tịch nước ban hành Quyết định về đặc xá; đồng thời bổ sung quy định Tờ trình và dự thảo Quyết định về đặc xá phải được trình lên Chủ tịch nước chậm nhất là 60 ngày trước thời điểm đặc xá, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 5 của dự thảo Luật.
– Quy định Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước được công bố và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và được niêm yết tại trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, UBND cấp xã nơi người được đặc xá cư trú để bảo đảm công khai, minh bạch, tăng cường khả năng giám sát, giúp đỡ người được đặc xá nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Quy định này sẽ tạo điều kiện để người dân giám sát quá trình chấp hành án, đồng thời, tăng cường trách nhiệm xã hội, huy động sự hỗ trợ của người dân tham gia giúp đỡ người được đặc xá nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng.

3. Về đặc xá đối với phạm nhân là người nước ngoài

Luật đặc xá hiện hành (Điều 19) quy định: Khi có Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước đối với người nước ngoài, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng chủ trì phối hợp với Bộ Ngoại giao thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người được đặc xá là công dân biết và đề nghị phối hợp thực hiện Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước.
Để khắc phục những khó khăn, vướng mắc khi thi hành Luật đặc xá năm 2007 về quản lý đối tượng người nước ngoài được đặc xá, dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 19, cụ thể: “Khi có Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước đối với người nước ngoài, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng chủ trì phối hợp với Bộ Ngoại giao thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người được đặc xá là công dân và đề nghị phối hợp thực hiện Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước. Trường hợp các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đã thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người được đặc xá là công dân nhưng các cơ quan này không đến nhận hoặc chưa đến nhận thì người nước ngoài được đặc xá được bố trí lưu trú tại cơ sở lưu trú do cơ quan quản lý thi hành án hình sự chỉ định trong thời gian chờ làm các thủ tục cần thiết” và giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung này.

4. Về người được đặc xá trong trường hợp đặc biệt

Điều 21 dự thảo Luật quy định: “Trong trường hợp đặc biệt, để đáp ứng yêu cầu về đối nội, đối ngoại của Nhà nước, Chủ tịch nước quyết định đặc xá cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân không phụ thuộc vào các điều kiện quy định tại Điều 10 của Luật này”.
Về vấn đề này, một số ý kiến cho rằng, quy định “Trong trường hợp đặc biệt, để đáp ứng yêu cầu về đối nội, đối ngoại” là chưa thật sự rõ ràng về các tiêu chí xác định để Chính phủ và các cơ quan liên quan tham mưu, trình Chủ tịch nước quyết định. Trong khi đó, trên thực tế thì số người được hoãn, tạm đình chỉ được đặc xá trong trường hợp đặc biệt rất lớn (theo Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật đặc xá, có tới 1.123 người đang hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù được đặc xá trong trường hợp đặc biệt qua 07 lần đặc xá). Do vậy, các ý kiến này đề nghị để đảm bảo chặt chẽ và làm căn cứ cho các cơ quan triển khai thực hiện, khắc phục hạn chế về số lượng người được đặc xá lớn như thời gian qua, cần quy định cụ thể tiêu chí xác định thế nào là “trường hợp đặc biệt để đáp ứng yêu cầu về đối nội, đối ngoại”.
Ngoài những vấn đề mới cơ bản nêu trên, dự thảo Luật đã bổ sung một số nội dung khác, như: Thu hẹp diện đối tượng không đề nghị đặc xá; Bổ sung quy định về các tài liệu trong hồ sơ đề nghị đặc xá (có đơn xin miễn, giảm; văn bản thỏa thuận không yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc đồng ý bồi thường thiệt hại sau khi được đặc xá; văn bản đồng ý tiếp nhận của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà ngừoi được đề nghị đặc xá là công dân); Quy định về trình tự, thủ tục lập hồ sơ, danh sách người đủ điều kiện đề nghị đặc xá, thẩm định xét duyệt hồ sơ đề nghị đặc xá theo hướng cụ thể, chặt chẽ hơn; Bổ sung trách nhiệm niêm yết Quyết định về đặc xá tại nhà tạm giữ thuộc Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện…
 

Nguồn: Tạp chí điện tử Pháp lý – www.phaply.vn

Về xác định người khởi kiện trong vụ án dân sự

Việc xác định tư cách khởi kiện trong vụ án dân sự là tiền đề để Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết vụ án. Thực tế trong một số trường hợp, vẫn còn ý kiến khác nhau dẫn đến áp dụng pháp luật chưa thống nhất.
 
Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Nghị quyết số 04/2017) hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án đã có hướng dẫn về người khởi kiện không có quyền khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
 

…1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186, Điều 187 BLTTDS năm 2015.
a) Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186 BLTTDS năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện không nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà mình là người đại diện hợp pháp;
b) Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 187 BLTTDS năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện không thuộc trường hợp theo quy định của pháp luật có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước.
2. Yêu cầu khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân không cần xác minh, thu thập chứng cứ cũng đủ căn cứ kết luận là không có việc quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm hoặc cần bảo vệ.

 
Nghị quyết số 04/2017 nêu trên đã nêu cụ thể về từng trường hợp để Tòa án xác định tư cách nộp đơn khởi kiện của đương sự, song trên thực tế, có một số trường hợp Tòa án lại có nhiều cách xử lý khác nhau trong cùng một quan hệ pháp luật.
Trong phạm vi bài viết này, tác giả đưa ra một tình huống pháp luật liên quan đến tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản như sau:
 

Bà B là người phải thi hành án theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 22 ngày 29/3/2012 của TAND quận X đã có hiệu lực pháp luật. Do bà B không tự nguyện thi hành Quyết định nên theo yêu cầu của bên được thi hành án là Ngân hàng A, Chi cục thi hành án dân sự quận X đã tiến hành các thủ tục kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là căn nhà và quyền sử dụng đất thuộc quyền sở hữu của bà B để thi hành án, thu hồi nợ cho Ngân hàng theo nội dung trong Quyết định số 22. Do cho rằng Chi cục thi hành án dân sự quận X tiến hành phát mãi, bán đấu giá không đúng quy định nên bà B đã khởi kiện đến TAND quận X.

 
Trường hợp này, có một số ý kiến về việc giải quyết như sau.
Ý kiến thứ nhất cho rằng, bà B không có quyền khởi kiện, bởi lẽ, theo quy định của BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) thì Tòa án chỉ có thẩm quyền giải quyết liên quan đến lĩnh vực thi hành án dân sự được quy định tại khoản 10 và khoản 11 Điều 25 BLTTDS (nay là khoản 12, khoản 13 Điều 26 BLTTDS năm 2015). Theo đó, khoản 11 Điều 25 BLTTDS quy định thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với tranh chấp về: “Kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự”. Đối với quan hệ tranh chấp này, người phải thi hành án có tài sản bị bán đấu giá không có quyền khởi kiện theo khoản 2 Điều 102 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Theo đó, chỉ có “Người mua được tài sản bán đấu giá, Chấp hành viên mới có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, nếu có căn cứ chứng minh có vi phạm trong quá trình bán đấu giá tài sản”.
Khoản 10 Điều 25 BLTTDS quy định thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Với quan hệ tranh chấp này, Điều 75 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định về việc xử lý đối với tài sản khi cưỡng chế có tranh chấp: “Trường hợp cưỡng chế đối với tài sản của người phải thi hành án mà có tranh chấp với người khác thì Chấp hành viên tiến hành cưỡng chế và yêu cầu đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Chấp hành viên xử lý tài sản đã kê biên theo quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền”.
Đối chiếu với trường hợp bà B trong vụ án chính là chủ sở hữu của tài sản bị bán đấu giá để thi hành án, không có người khác tranh chấp liên quan đến tài sản đó, nên đối với loại việc này, bà B không có quyền khởi kiện. Do đó, TAND quận X phải trả lại đơn khởi kiện cho đương sự.
Ý kiến thứ hai và cũng là ý kiến của tác giả cho rằng, bà B vẫn có quyền khởi kiện vụ án, bởi lẽ bà B là người có quyền và lợi ích bị xâm phạm nên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng bán đấu giá. Ý kiến này viện dẫn quy định tại điểm b khoản 1 Điều 48 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản quy định: “Hợp đồng bán đấu giá tài sản, Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá bị Tòa án tuyên bố vô hiệu hoặc bị hủy theo quy định của pháp luật dân sự”. Do vậy, trường hợp này, bà B khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng bán đấu giá tài sản, hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá là phù hợp với quy định tại khoản 12 Điều 25 BLTTDS năm 2004 (nay là khoản 14 Điều 26 BLTTDS năm 2015). Bởi lẽ, nếu yêu cầu hủy hợp đồng của bà B được chấp nhận thì có cơ sở để cơ quan chức năng xem xét đến việc hủy kết quả đấu giá. Nếu yêu cầu khởi kiện hủy hợp đồng của bà B không được Tòa án chấp nhận thì không có cơ sở để yêu cầu xem xét hủy kết quả bán đấu giá. Vì theo quy định tại khoản 2 Điều 120 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì Tòa án không phải là cơ quan duy nhất có thẩm quyền hủy kết quả bán đấu giá tài sản. Do đó, Tòa án phải thụ lý đơn và xem xét giải quyết trong phạm vi quyền lợi của bà B.
Quyền khởi kiện Tòa án giải quyết vụ án dân sự là quyền cơ bản của chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm. Do vậy, để đảm bảo quyền này, Tòa án phải thụ lý vụ án để giải quyết.
Bên cạnh đó, ngoài tình huống đã được viện dẫn trên thì trong thực tiễn đời sống dân sự còn một số quan hệ khác cũng gây khó khăn trong công tác xử lý đơn khởi kiện của đương sự, như:
Trường hợp xác định cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tinh thần của họ. Trường hợp này hướng dẫn cho khoản 2 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; tuy nhiên, hiện nay Bộ luật Dân sự năm 2015 bổ sung quy định trường hợp người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi (Điều 23) thì liệu cha, mẹ, người thân thích có quyền nộp đơn khởi kiện cho đương sự hay không? Và xác định họ đồng thời phải là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tinh thần thì cơ quan nào xác nhận? Thủ tục xác nhận như thế nào?…
Hay như trường hợp khởi kiện vụ án lao động, về tranh chấp đòi tiền nợ bảo hiểm xã hội, thì cơ quan bảo hiểm xã hội, Công đoàn cấp trên của Công đoàn cơ sở hay Công đoàn cơ sở mới có quyền nộp đơn khởi kiện. Mặc dù hiện nay, theo quy định tại Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 đã quy định rõ Công đoàn cơ sở sẽ nộp đơn khởi kiện đòi tiền nợ đọng bảo hiểm xã hội, song cho đến nay, tính khả thi của chế định này là chưa cao, chưa phù hợp với thực tiễn, do mối quan hệ lao động – việc làm, Chủ tịch Công đoàn cơ sở đồng thời cũng là người lao động trong doanh nghiệp, nên việc pháp luật trao quyền cho họ nộp đơn khởi kiện cũng là chưa phù hợp. Hoặc tranh chấp liên quan đến nhà, đất của dòng họ thì ai sẽ là người được đứng đơn khởi kiện (trưởng dòng họ, trưởng chi của dòng họ hay phải được tất cả những người trong dòng họ đó ủy quyền?).
 
Tóm lại, việc xác định tư cách khởi kiện của người khởi kiện rất quan trọng, nó là tiền đề để Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết vụ án; do đó, đòi hỏi phải có một sự thống nhất trong nhận thức pháp luật, nhằm đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và tạo niềm tin vào một nền pháp luật dân chủ, nghiêm minh./.
 

Nguồn: Tạp chí kiểm sát (kiemsat.vn)

Tòa án cấp nào có thẩm quyền buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù?

Trường hợp người phạm tội được hưởng án treo đang chấp hành thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần thì Tòa án nào có thẩm quyền ra quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, thì Luật Thi hành án hình sự chưa điều chỉnh và BLTTHS năm 2015 cũng chưa có quy định về vấn đề này.
 
Chế định án treo theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 cơ bản vẫn kế thừa Bộ luật hình sự năm 1999, khi Tòa án xét thấy không cần thiết phải bắt người phạm tội phải chấp hành hình phạt tù, thì có thể cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo chấp hành tốt, có nhiều tiến bộ thì Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, đây là quy định hoàn toàn mới nhằm ràng buộc đối với người được hưởng án treo phải có nghĩa vụ chấp hành các quy định của Luật Thi hành án hình sự, không để xảy ra tình trạng sau khi được Tòa án cho hưởng án treo, người chấp hành thời gian thử thách muốn làm gì tùy ý, thậm chí không trình diện chính quyền địa phương, hiệu lực của bản án không đạt được hiệu quả như mong muốn.
 

Theo quy định tại Điều 65 BLHS năm 2015: Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

 
Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này.
Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

 

Trong thực tiễn có những trường hợp Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử và ra bản án cho hưởng án treo, nhưng người được hưởng án treo có thể lại có hộ khẩu thường trú tại một địa phương khác (huyện khác hoặc tỉnh khác). Như vậy, sẽ có người chấp hành thời gian thử thách tại địa phương khác, không thuộc địa bàn đóng trụ sở của Tòa án đã cho hưởng án treo.

 
Việc xét đề nghị Tòa án quyết định rút ngắn thời gian thử thách đối với người phạm tội được hưởng án treo, sẽ được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, do Tòa án cấp huyện nơi người được hưởng án treo chấp hành thời gian thử thách ra quyết định (không bị ràng buộc bởi Tòa án đã ra bản án cho hưởng án treo). Nhưng đối với trường hợp người phạm tội được hưởng án treo đang chấp hành thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần thì Tòa án nào có thẩm quyền ra quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, thì Luật Thi hành án hình sự chưa được điều chỉnh. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng không có điều luật nào quy định vấn đề này.
Việc chấp hành thời gian thử thách của người được hưởng án treo cũng gần tương tự với việc chấp hành thời gian thử thách của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Nghiên cứu Điều 368 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 09/02/2018 quy định phối hợp thực hiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về  thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện thấy rằng:
Việc xét và ra quyết định buộc người chấp hành thời gian thử thách khi được tha tù trước thời hạn có điều kiện mà cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần hoặc bị xử lý hành chính 02 lần thì thẩm quyền ra quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện và buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù còn lại chưa chấp hành sẽ thuộc Tòa án cấp tỉnh đã ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Tuy nhiên, để vận dụng tương tự đối với việc ra quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù khi cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần, thì cũng chưa thực sự chuẩn xác. Theo quan điểm cá nhân, thì nên giao thẩm quyền ra quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù cho Tòa án cấp tỉnh, nơi người chấp hành thời gian thử thách của bản án treo cư trú sẽ phù hợp với Luật Thi hành án hình sự hơn.
Trong khi Luật Thi hành án hình sự chưa được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, thì rất cần được các cơ quan tiến hành tố tụng trung ương sớm ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn về trình tự, thủ tục xét, ra quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù và nên quy định theo hướng giao thẩm quyền cho Tòa án cấp tỉnh nơi người được hưởng án treo cư trú ra quyết định./.

 

Nguồn: Tạp chí kiểm sát (kiemsat.vn)

Quy định mới của BLTTHS năm 2015 về yêu cầu giám định

Một điểm mới quan trọng của Bộ luật này là quy định quyền của đương sự hoặc người đại diện của họ tự mình yêu cầu cá nhân, tổ chức thực hiện giám định sau khi đã đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận.
 
Điều 207 Bộ luật tố tụng hình sự  năm 2015 về yêu cầu giám định là quy định hoàn toàn mới so với BLTTHS năm 2003.
1. Tại khoản 1 Điều 207 quy định:
1. Đương sự hoặc người đại diện của họ có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét, ra quyết định trưng cầu giám định. Trường hợp không chấp nhận đề nghị thì thông báo cho người đã đề nghị giám định biết bằng văn bản và nêu rõ lý do. Hết thời hạn này hoặc kể từ ngày nhận được thông báo từ chối trưng cầu giám định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì người đề nghị giám định có quyền tự mình yêu cầu giám định.
Một điểm mới quan trọng của Bộ luật này là quy định quyền của đương sự hoặc người đại diện của họ tự mình yêu cầu cá nhân, tổ chức thực hiện giám định sau khi đã đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận. Quy định quyền này là nhằm bảo đảm cho đương sự hoặc người đại diện của họ có điều kiện thu thập chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, phù hợp với quy định của Luật giám định tư pháp.
Bộ luật này quy định quyền yêu cầu giám định của đương sự hoặc người đại diện của họ nhưng chưa có quy định về nội dung văn bản yêu cầu giám định và thủ tục yêu cầu giám định nên vấn đề này được thực hiện theo quy định của Luật giám định tư pháp năm 2012.
2. Tại khoản 2 Điều 207 quy định:
“Người yêu cầu giám định có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật giám định tư pháp”.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Luật giám định tư pháp năm 2012 thì “Người yêu cầu giám định là người có quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận. Người có quyền tự mình yêu cầu giám định bao gồm… nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc yêu cầu giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.”.
BLTTHS năm 2015 không quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của người yêu cầu giám định mà dẫn chiếu đến Luật giám định tư pháp. Theo quy định của Điều 22 Luật giám định tư pháp năm 2012 thì người yêu cầu giám định có các quyền và nghĩa vụ sau: “1. Người yêu cầu giám định có quyền gửi văn bản yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định. Trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không chấp nhận yêu cầu thì trong thời hạn 07 ngày phải thông báo cho người yêu cầu giám định bằng văn bản. Hết thời hạn nói trên hoặc kể từ ngày nhận được thông báo từ chối trưng cầu giám định, người yêu cầu giám định có quyền tự mình yêu cầu giám định.
2. Người yêu cầu giám định có quyền: a) Yêu cầu cá nhân, tổ chức thực hiện giám định tư pháp trả kết luận giám định đúng thời hạn đã thỏa thuận và theo nội dung đã yêu cầu; b) Yêu cầu cá nhân, tổ chức đã thực hiện giám định tư pháp giải thích kết luận giám định; c) Đề nghị Toà án triệu tập người giám định tư pháp đã thực hiện giám định tham gia phiên tòa để giải thích, trình bày về kết luận giám định; d) Yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định lại; yêu cầu giám định bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này.
3. Người yêu cầu giám định tư pháp có nghĩa vụ: a) Cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến đối tượng giám định theo yêu cầu của người giám định tư pháp và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, tài liệu do mình cung cấp; b) Nộp tạm ứng chi phí giám định tư pháp khi yêu cầu giám định; thanh toán kịp thời, đầy đủ chi phí giám định cho cá nhân, tổ chức thực hiện giám định khi nhận kết luận giám định. 4. Người yêu cầu giám định chỉ được thực hiện quyền tự yêu cầu giám định trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.”
Qua nghiên cứu quy định mới của BLTTHS năm 2015 về yêu cầu giám định, chúng tôi thấy rằng quy định này có hạn chế như sau: Bộ luật này thiếu vắng quy định về trách nhiệm xem xét, quyết định trưng cầu giám định của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Trong khi quy định đương sự hoặc người đại diện của họ có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (*) trưng cầu giám định, thì Bộ luật này lại chỉ đặt ra trách nhiệm xem xét, ra quyết định trưng cầu giám định cho cơ quan tiến hành tố tụng là chưa đầy đủ, vì thiếu quy định về trách nhiệm xem xét, quyết định trưng cầu giám định của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Khoản 1 Điều 207).
Ngoài ra, có sự không thống nhất trong quy định của Bộ luật này (khoản 1 Điều 207) với Luật giám định tư pháp năm 2012 (khoản 1 Điều 22). Điều 207 Bộ luật này hạn chế quyền đề nghị trưng cầu giám định của đương sự hoặc người đại diện của họ trong trường hợp việc giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội. Trong khi đó, Điều 22 Luật giám định tư pháp lại chỉ hạn chế quyền này của đương sự hoặc người đại diện của họ trong trường hợp việc giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo, mà không hạn chế với người bị bắt, người bị tạm giữ.
Nhằm bảo đảm tính thống nhất của pháp luật, trong thời gian tới khi tiến hành sửa đổi Luật giám định tư pháp, theo chúng tôi cần sửa đổi quy định liên quan của Luật giám định tư pháp theo hướng phù hợp với nội dung tại Điều 207 Bộ luật này.
(*) Theo điểm a khoản 1 Điều 4 BLTTHS 2015 thì Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
 

Nguồn: Tạp chí kiểm sát (kiemsat.vn)

Thủ tục ly hôn khi chồng bỏ đi biệt tích

Vợ chồng tôi đã có hơn 10 năm chung sống và có 2 con chung. Gần đây, gia đình tôi làm ăn thất bát, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và chồng tôi bỏ nhà đi biệt tích hơn 2 năm nay không có tin tức gì. Tôi muốn ly hôn thì thủ tục như thế nào?
 
Nội dung liên quan được tìm kiếm:

 
Vấn đề bạn hỏi, chúng tôi trả lời như sau:
Do chồng bạn bỏ đi biệt tích, nên bạn muốn ly hôn thì thuộc trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên.
Theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về các trường hợp ly hôn theo yêu cầu một bên như sau:
 

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

 
Căn cứ khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thì trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.” Như vậy, để Tòa án sẽ giải quyết cho ly hôn thì bạn phải thực hiện thủ tục tuyên bố mất tích đối với người chồng đã bỏ đi biệt tích.
Thủ tục tuyên bố một người mất tích được quy định tại các Điều 384, 385 và Điều 388 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 như sau:
– Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích phải có các nội dung chính sau đây: Ngày, tháng, năm ra thông báo; tên Tòa án ra thông báo; số và ngày, tháng, năm của quyết định thông báo tìm kiếm người mất tích tại nơi cư trú; Tên, địa chỉ của người yêu cầu Tòa án thông báo; họ, tên và ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi của người bị yêu cầu tuyên bố mất tích và địa chỉ cư trú của người đó trước khi biệt tích; địa chỉ liên hệ của cơ quan, tổ chức, cá nhân nếu người mất tích biết được thông báo hoặc người khác có được tin tức về người mất tích.
– Việc công bố thông báo được quy định như sau: Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Tòa án ra quyết định thông báo tuyên bố một người mất tích tại nơi cư trú, thông báo này phải đăng trên một trong các báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp, Cổng thông tin điện tử của Tòa án, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (nếu có) và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp. Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích do người yêu cầu chịu.
– Thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo.
Đối với việc tuyên bố người mất tích, tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các điều kiện sau:
 

1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.
Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

 
Sau khi có quyết định của Tòa án tuyên bố một bên vợ hoặc chồng là người mất tích thì bên còn lại có thể khởi kiện và được Tòa án giải quyết cho ly hôn theo yêu cầu của một bên.  
 

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật dân sự năm 2015
Bồi thường thiệt hại (BTTH) ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự do hành vi gây ra thiệt hại phát sinh giữa các chủ thể mà không phụ thuộc vào hợp đồng. Bên có hành vi trái pháp luật phải bồi thường cho bên bị thiệt hại. Bộ luật dân sự 2015 (BLDS 2015) được Quốc hội thông qua với rất nhiều quy định được sửa đổi, bổ sung theo hướng đề cao các giá trị phổ biến về quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 trên cơ sở đó chế định BTTH ngoài hợp đồng cũng có những điểm mới đáng chú ý, cụ thể như sau:
 
1. Căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
Căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH là cơ sở pháp lý mà dựa vào đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể xác định trách nhiệm BTTH. Về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, BLDS 2015 đã được sửa đổi và có sự tiến bộ so với BLDS 2005. Cụ thể, khoản 1 Điều 584 quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”.
Như vậy, trong BLDS 2015, căn cứ xác định trách nhiệm BTTH là “hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại”Theo quy định trước đây tại Điều 604 BLDS 2005, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng yêu cầu người gây thiệt hại phải có “lỗi cố ý hoặc vô ý”. Với quy định như vậy, ngoài việc chứng minh người gây thiệt hại có hành vi trái pháp luật, người bị thiệt hại cần phải chứng minh người gây thiệt hại có lỗi. BLDS 2015 đã quy định về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng theo hướng có lợi cho người bị thiệt hại. Theo đó, trách nhiệm BTTH phát sinh khi có các điều kiện: Có thiệt hại xảy ra, Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra.
BLDS 2015 đã mở rộng phạm vi áp dụng trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Nếu như BLDS 2005 quy định đối với cá nhân có phạm vi áp dụng trách nhiệm rất rộng còn đối với pháp nhân, BLDS 2005 chỉ liệt kê ba đối tượng bị xâm phạm là “danh dự, uy tín, tài sản (khoản 1 Điều 604) thì lần này tại Điều 584 BLDS 2015 quy định đối tượng bị xâm phạm làm phát sinh trách nhiệm BTTH của cá nhân và pháp nhân bao gồm “tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác”.
Ngoài ra, BLDS 2015 đã quy định phạm vi điều chỉnh trong trường hợp đối tượng tài sản gây ra thiệt hại. Các quy định của BLDS 2015 đã khái quát các trường hợp khi đối tượng gây ra thiệt hại là tài sản. Các trường hợp tài sản gây ra thiệt hại được điều chỉnh đó là súc vật, cây cối, nhà cửa, công trình xây dựng và nguồn nguy hiểm cao độ.
Nếu gây ra thiệt hại thì trách nhiệm BTTH sẽ được áp dụng dựa trên căn cứ là tài sản gây thiệt hại chứ không phải là hành vi trái pháp luật.
 
2. Nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng
Nếu như BLDS năm 2005 nêu ra 3 nguyên tắc cơ bản về BTTH ngoài hợp đồng, được quy định tại Điều 605 thì BLDS năm 2015 chỉ ra 5 nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, ngoài 3 nguyên tắc bồi thường như Điều 605 BLDS năm 2005 thì BLDS năm 2015 đã bổ sung thêm 2 nguyên tắc:
+ Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
+ Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.
Cụ thể, nguyên tắc bồi thường thiệt hại, Điều 585 BLDS năm 2015, quy định:
 

1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

 
3. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân
Về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân, Điều 586 BLDS 2015 quy định:
 

1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
2. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật dân sự 2015.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

 
Như vậy, so với BLDS 2005, BLDS 2015 quy định độ tuổi để cá nhân phải tự bồi thường vẫn là từ đủ 18 tuổi trở lên.
Tuy nhiên, trường hợp bồi thường thiệt hại do người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra được thay đổi về chủ thể chịu trách nhiệm khi BLDS 2005 quy định ngoài trường học, bệnh viện thì có các tổ chức khác; còn ở BLDS 2015 có trường học, bệnh viện và tổ chức khác thì được thay thế bằng pháp nhân khác. BLDS 2015 đã quy định phạm vi của chủ thể chịu trách nhiệm trong trường hợp này hẹp hơn, pháp nhân là một chủ thể cụ thể, được thành lập hợp pháp và có đủ điều kiện quy định tại Điều 74 Bộ luật này. Trong khi đó, tổ chức khác có thể là bất cứ một tổ chức đông người, có cùng mục đích, hoạt động cùng nhau và có thể không có sự ràng buộc giữa cá nhân với tổ chức. Quy định này có thể được coi là một thay đổi tích cực vì với những tổ chức không có quy mô, cơ cấu rõ ràng thì tài sản của tổ chức có thể không cố định, không đảm bảo được việc chịu trách nhiệm bồi thường khi có thiệt hại xảy ra, gây có khó khăn khi phải chịu trách nhiệm và có thể thiệt thòi cho những người bị thiệt hại.
Ngoài ra, khoản 3 Điều 586 BLDS 2015 quy định thêm đối tượng là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường. Đây cũng được coi là sự thay đổi tích cực khi quy định thêm đối tượng chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Những người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mặc dù là một trong những chủ thể bị hạn chế thực hiện các giao dịch dân sự nhưng cũng không thể loại bỏ trách nhiệm khi người này gây ra thiệt hại và phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định.
 
4. Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra
Quy định về bồi thường thiệt hại do nhiều người gây ra quy định tại Điều 587 BLDS 2015 không có gì khác so với quy định tại Điều 616 BLDS 2005 trước đây, theo đó trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.
 
5. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại
Điều 588 BLDS 2015 quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. (Điều 607, BLDS năm 2005 quy định thời hiệu yêu cầu bồi thường là 2 năm).
 
6. Bồi thường tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm hại
BLDS 2015 đã bổ sung nhiều điểm mới. Đặc biệt đáng chú ý là việc tăng mức trần bồi thường tổn thất về tinh thần. BLDS 2015 dùng cụm từ “mức lương cơ sở” thay cho “tháng lương tối thiểu” để tính mức bù đắp tổn thất về tinh thần.
Về nguyên tắc, mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên tự thỏa thuận. Tuy nhiên, nếu các bên không thỏa thuận được sẽ theo quy định của pháp luật. BLDS 2015 quy định nếu không thỏa thuận thì mức tối đa bù đắp tồn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm hại là không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (Điều 590 BLDS 2015). BLDS 2015 quy định mức bù đắp về tinh thần trong trường hợp này là 30 tháng lương tối thiểu.
Mức tối đa bù đắp tổn thất về tinh thần cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá 100 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (Khoản 2 Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015); mức cũ tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định (Điều 610 Bộ luật Dân sự năm 2015).
Đối với việc bù đắp về tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm Điều 592 BLDS 2015 quy định: Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền.
 

Nguồn: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ TƯ PHÁP

Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Trước tiên, chúng ta hiểu tài sản chung là gì? Tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tài sản chung của vợ chồng được giải thích như sau:
 

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

 
Như vậy, khi hôn nhân còn tồn tại thì tài sản chung vẫn còn tồn tại, chế độ tài sản chỉ kết thúc khi quan hệ hôn nhân chấm dứt. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều cặp vợ chồng muốn được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bởi vợ chồng có mâu thuẫn trong quản lý, sử dụng tài sản chung hoặc bởi vợ chồng mâu thuẫn về tình cảm, song họ không muốn ly hôn nhưng muốn độc lập về tài sản… vì vậy tại Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân:
 

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Tuy nhiên, đối với  tên người sở hữu đất trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất hoặc tài sản chung của vợ chồng đã được đăng ký và ghi tên một bên vợ hoặc chồng  được quy định rõ tại Điều 12 Nghị định 126/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân và gia đình 2014:
 

1. Tài sản chung của vợ chồng phải đăng ký theo quy định tại Điều 34 của Luật Hôn nhân và gia đình bao gồm quyền sử dụng đất, những tài sản khác mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu.
2. Đối với tài sản chung của vợ chồng đã được đăng ký và ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì vợ, chồng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất để ghi tên của cả vợ và chồng.
3. Trong trường hợp tài sản chung được chia trong thời kỳ hôn nhân mà trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên cả vợ và chồng thì bên được chia phần tài sản bằng hiện vật có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký tài sản cấp lại giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở văn bản thỏa thuận của vợ chồng hoặc quyết định của Tòa án về chia tài sản chung.


Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản trong hôn nhân:
Theo quy định tại Điều 39 Luật hôn nhân gia đình 2014 thì:
 

1. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản.
2. Trong trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định.
3. Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
4. Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.


Hậu quả pháp lý của việc hia tài sản trong hôn nhân:

Được quy định rõ ràng tại Điều 14 Nghị định 126/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân và gia đình 2014:
 

1. Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định.
2. Từ thời điểm việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, nếu vợ chồng không có thỏa thuận khác thì phần tài sản được chia; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng khác của vợ, chồng là tài sản riêng của vợ, chồng.
3. Từ thời điểm việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, nếu tài sản có được từ việc khai thác tài sản riêng của vợ, chồng mà không xác định được đó là thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh của vợ, chồng hay là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng đó thì thuộc sở hữu chung của vợ chồng.

Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thì thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu chung của vợ, chồng. Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác hoặc 1 trong 2 không xác định được đó là thu nhập từ tài sản riêng.
 

Những trường hợp chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu:

Được quy định tại Điều 42 Luật hôn nhân và gia đình 2014:
 

Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
2. Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây:
a) Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;
b) Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;
c) Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản;
d) Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức;
đ) Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước;
e) Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.

 


Các tìm kiếm liên quan đến Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu, chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, tài sản chung của vợ chồng theo luật hôn nhân gia đình 2014, luận văn chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tiểu luận chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014, mẫu thỏa thuận chia tài sản chung vợ chồng, chia tài sản chung của vợ chồng khi chết, tài sản chung của vợ chồng được chia khi nào

Về thẩm quyền giải quyết việc khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của BLTTD 2015

Khởi kiện vụ án dân sự (VADS) là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước.
Về thẩm quyền giải quyết việc khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của BLTTD 2015
Thứ nhất: Thẩm quyền giải quyết việc khởi kiện vụ án dân sự theo vụ việc
Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp sau: Tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân; Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản; Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự; Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau đều có mục đích lợi nhuận; Tranh chấp về thừa kế tài sản; Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, trừ trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại được giải quyết trong vụ án hành chính; Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai, tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng; Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật về báo chí; Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự; Các tranh chấp khác về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
Tòa dân sự có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại như: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn; Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ; Tranh chấp về cấp dưỡng; Tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo; Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc khi hủy kết hôn trái pháp luật; Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty; Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty; Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động mà hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc không hòa giải trong thời hạn do pháp luật quy định; Tranh chấp lao động  không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải: Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;  Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động; Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động; Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Tranh chấp lao động tập thể về quyền giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết mà tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động không đồng ý với quyết định đó hoặc quá thời hạn mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện không giải quyết; Tranh chấp liên quan đến lao động bao gồm: Tranh chấp về học nghề, tập nghề. Tranh chấp về cho thuê lại lao động. Tranh chấp về quyền công đoàn, kinh phí công đoàn. Tranh chấp về an toàn lao động, vệ sinh lao động; Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do đình công bất hợp pháp; Các tranh chấp khác về lao động, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, thẩm quyền giải quyết việc khởi kiện vụ án dân sự theo cấp
– Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo cấp huyện:
Các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam.
Tòa án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp dưới đây nhưng không có yếu tố nước ngoài ( đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài).
Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của BLTTDS năm 2015, trừ tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, trừ trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại được giải quyết trong vụ án hành chính; Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của BLTTDS năm 2015; Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của BLTTDS năm 2015.
Thẩm quyền của các Tòa án chuyên trách Tòa án nhân dân cấp huyện: Tòa dân sự Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc về dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 35 của BLTTDS năm 2015; Tòa gia đình và người chưa thành niên Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 35 của BLTTDS năm 2015; Đối với Tòa án nhân dân cấp huyện chưa có Tòa chuyên trách thì Chánh án Tòa án có trách nhiệm tổ chức công tác xét xử và phân công Thẩm phán giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện.
-Thẩm quyền của Tòa án chuyên trách nhân dân cấp Tỉnh:
Tòa dân sự Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền: Giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp, yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 38 của BLTTDS năm 2015; Giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này.
Tòa gia đình và người chưa thành niên Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền: Giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp, yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 38  BLTTDS năm 2015;  Giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định hôn nhân và gia đình chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của BLTTDS năm 2015.
Tòa kinh tế Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền: Giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp, yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 38 BLTTDS năm 2015; Giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định kinh doanh, thương mại chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của BLTTDS năm 2015.
Tòa lao động Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền: Giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp, yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 38 BLTTDS năm 2015; Giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định lao động chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của BLTTDS năm 2015.
Thứ ba, thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ
Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 BLTTDS năm 2015;
Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của BLTTDS năm 2015; Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.
Trường hợp vụ án dân sự đã được Tòa án thụ lý và đang giải quyết theo đúng quy định của BLTTDS năm 2015 về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ thì phải được Tòa án đó tiếp tục giải quyết mặc dù trong quá trình giải quyết vụ án có sự thay đổi nơi cư trú, trụ sở hoặc địa chỉ giao dịch của đương sự.
Thứ tư, thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn: 
Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau: Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết.