Hoạt động hòa giải, đối thoại tại Tòa án có phải là hoạt động tư pháp?

Hội thảo quốc tế về Dự án Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án tiếp tục tham luận và thảo luận những vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Chúng tôi xin lược ghi các tham luận được trình bày tại Hội thảo và lần lượt giới thiệu cùng quý độc giả.
Cân nhắc có thể mở rộng hòa giải
PGS.TS. Trần Anh Tuấn – Phó trưởng Khoa Pháp luật Dân sự, Đại học Luật Hà Nội trình bày tham luận đã phân tích kỹ các vấn đề còn có ý kiến khác nhau và đề xuất hướng xử lý rất cụ thể.
Về phạm vi điều chỉnh của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Dự thảo thì “Phạm vi hòa giải, đối thoại theo quy định của Luật này được thực hiện đối với các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự), khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính và các bên đồng ý hòa giải, đối thoại tại Tòa án trước khi Tòa án thụ lý, giải quyết vụ việc”. Thiết nghĩ, quy định như trên đã thể hiện được chủ kiến của Tổ biên tập Dự thảo Luật trong việc xác định và giới hạn phạm vi những loại việc có thể hòa giải, đối thoại theo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án và triết lý về tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự trong việc lựa chọn phương thức hòa giải, đối thoại. Theo nghiên cứu của chúng tôi thì phạm vi hòa giải, đối thoại theo khoản 1 Điều 1 Dự thảo Luật này được xác định khá chặt chẽ bởi 03 giới hạn: (1) Những các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; (2) Đương sự đã  có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính nhưng Tòa án chưa thụ lý, giải quyết vụ việc; (3) Các bên đồng ý hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
Tuy nhiên, nếu “các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn” được “gọi chung là vụ việc dân sự” như Dự thảo hiện nay có thể dẫn tới sự không thống nhất về thuật ngữ giữa BLTTDS năm 2015 và Dự thảo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Ngoài ra, nghiên cứu các việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động (không có tranh chấp) thuộc thẩm quyền của Tòa án thì ngoài việc về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn còn có nhiều việc khác cũng có khả năng hòa giải, đối thoại tại Tòa án nếu các đương sự đồng ý lựa chọn phương thức hòa giải thông qua hòa giải viên tại Tòa án nhằm bảo mật thông tin.
Thiết nghĩ, có thể cân nhắc có thể mở rộng hòa giải đối với các yêu cầu về dân sự khác tại khoản 6, khoản 9 Điều 27 BLTTDS (Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, Yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án); yêu cầu về hôn nhân gia đình tại khoản 6, khoản 8, khoản 10 Điều 29 BLTTDS (Yêu cầu liên quan đến việc mang thai hộ theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình; Yêu cầu tuyên bố vô hiệu thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình; Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình); yêu cầu về kinh doanh, thương mại tại khoản 1 Điều 31 BLTTDS (Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp); yêu cầu về lao động tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 33 BLTTDS (Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu; Yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình công).
PGS.TS. Trần Anh Tuấn đề xuất có thể hoàn thiện khoản 1 Điều 1 Dự thảo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án như sau:
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và nhiệm vụ của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
«1. Luật này quy định những nguyên tắc cơ bản, phạm vi, chính sách của Nhà nước về hòa giải, đối thoại tại Tòa án; tổ chức, hoạt động của Trung tâm Hòa giải, Đối thoại; quyền, nghĩa vụ của Hòa giải viên, Đối thoại viên; trình tự, thủ tục, xử lý kết quả hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
Phạm vi hòa giải, đối thoại theo quy định của Luật này được thực hiện đối với các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động có thể hòa giải, đối thoại (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự có thể hòa giải, đối thoại), khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính và các bên đồng ý hòa giải, đối thoại tại Tòa án trước khi Tòa án thụ lý, giải quyết vụ việc».
Về nhiệm vụ của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Dự thảo về nhiệm vụ của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án thì “2. Luật này quy định cơ chế pháp lý độc lập về hòa giải, đối thoại để giải quyết hiệu quả các tranh chấp, khiếu kiện trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt của cơ quan, tổ chức, cá nhân; bảo đảm giá trị và hiệu quả thi hành kết quả hòa giải, đối thoại; góp phần hàn gắn những bất đồng, rạn nứt, ngăn ngừa các tranh chấp, khiếu kiện trong tương lai, tạo sự đồng thuận và xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân”. Chúng tôi cho rằng quy định trên đã bao quát và thể hiện được nhiệm vụ cơ bản của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Tuy nhiên, Khoản 1 Điều 1 Dự thảo đi theo hướng là Luật này áp dụng đối với những tranh chấp, yêu cầu “khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính và các bên đồng ý hòa giải, đối thoại tại Tòa án trước khi Tòa án thụ lý, giải quyết vụ việc”. Như vậy, các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính đã xảy ra và đương sự đã có yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, nghiên cứu các quy định cụ thể trong Dự thảo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án thì chủ yếu Luật này đề cập tới việc công nhận giá trị pháp lý của kết quả hòa giải, đối thoại (Điều 35 đến Điều 40 Dự thảo). Từ những phân tích trên, chúng tôi đề xuất cân nhắc việc chỉnh sửa khoản 2 Điều 1 Dự thảo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án như sau:
“2. Luật này quy định cơ chế pháp lý độc lập về hòa giải, đối thoại để giải quyết hiệu quả các tranh chấp, khiếu kiện trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt của cơ quan, tổ chức, cá nhân; góp phần hàn gắn những bất đồng, rạn nứt, tạo sự đồng thuận và xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân, bảo đảm giá trị pháp lý của kết quả hòa giải, đối thoại, hạn chế việc giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện bằng thủ tục tố tụng tại Tòa án”.
Về tiêu chuẩn hòa giải viên, đối thoại viên, Dự thảo có đề xuất 02 phương án: Phương án 1: Luật sư, chuyên gia, nhà chuyên môn khác có ít nhất 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác; Phương án 2: Luật sư, chuyên gia, nhà chuyên môn khác có kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác.
Dưới góc độ nghiên cứu, PGS.TS. Trần Anh Tuấn cho rằng việc lựa chọn phương án 1 hay phương án 2 sẽ phụ thuộc vào việc chúng ta đi theo hướng mở rộng hay thu hẹp phạm vi áp dụng hòa giải, đối thoại tại Tòa án để cân nhắc về phương án nguồn nhân lực mà Tòa án có thể tuyển chọn. Tuy nhiên, lý tưởng nhất vẫn là lựa chọn phương án 1: “Luật sư, chuyên gia, nhà chuyên môn khác có ít nhất 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác”. Theo phương án này, những chủ thể được lựa chọn sẽ là những người có độ tuối trên 30 tuổi, có vốn sống, kinh nghiệm, kỹ năng tích lũy cần thiết có thể đáp ứng yêu cầu công việc đặc thù là hòa giải, đối thoại.
Về thực hiện kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Chương IV Dự thảo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, để bảo đảm sự thống nhất với các quy định của BLTTDS năm 2015 và tinh thần của Công văn số 55/TANDTC-PC ngày 20/03/2018 về việc tiêu chí xác định vụ việc hòa giải thành, đối thoại thành thì cần cân nhắc thêm về nội dung quy định tại khoản 2 Điều 35 Dự thảo. Quy định tại khoản 2 Điều 35 Dự thảo (hòa giải thành) chỉ phù hợp với trường hợp đương sự có tranh chấp về ly hôn, chia tài sản, giải quyết vấn đề con cái và đã khởi kiện ra Tòa án mà không phù hợp với việc dân sự về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn. Bởi vì, theo hướng dẫn tại tiểu mục 2.1.c, d Công văn số 55/TANDTC-PC ngày 20/03/2018 về vụ việc dân sự được tính là vụ việc hòa giải thành nếu: “Vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn được Thẩm phán tiến hành hòa giải mà sau khi hòa giải, vợ, chồng không đoàn tụ nhưng thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản chung; Tòa án quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định tại các Điều 212, 213 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014”. Trường hợp việc dân sự về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn mà sau khi hòa giải, vợ, chồng không đoàn tụ thì đây là trường hợp hòa giải không thành.
Do đó, có thể cân nhắc chỉnh sửa quy định tại khoản 2 Điều 35 Dự thảo theo hướng: “Kết quả hòa giải thành có thể được thực hiện theo một trong những hình thức sau đây: 2. Các bên đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly và sự thỏa thuận của các đương sự nếu hòa giải viên hòa giải vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn mà sau khi hòa giải, vợ, chồng không đoàn tụ nhưng thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản chung”. Thủ tục công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự trong vụ án ly hôn sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 37 (Dự thảo).
Đối với việc dân sự về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn mà sau khi hòa giải, vợ, chồng không đoàn tụ thì đây là trường hợp hòa giải không thành. Tòa án áp dụng các quy định tại Điều 34 (Dự thảo trên) để giải quyết. Trong trường hợp này, cần quy định theo hướng Thẩm phán thụ lý yêu cầu và ra quyết định công nhận thuận tình ly và sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định tại khoản 4 Điều 397 BLTTDS năm 2015.
Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 44 và Khoản 2 Điều 48 Dự thảo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án có quy định: “2. Thẩm phán ra quyết định không công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án đối với trường hợp không có đủ các điều kiện quy định tại Điều 39 của Luật này. Nội dung quyết định không công nhận kết quả hòa giải thành được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Việc không công nhận kết quả hòa giải thành không ảnh hưởng đến nội dung và giá trị pháp lý của kết quả hòa giải”.
Nghiên cứu kỹ các quy định tại khoản 2 Điều 44 và Khoản 2 Điều 48 Dự thảo cho thấy dường như các quy định này chưa thực sự tương thích với các quy định tại Điều 39 và Điều 47 của Dự thảo về điều kiện công nhận kết quả hòa giải, đối thoại thành. Việc không công nhận kết quả hòa giải, đối thoại thành do nội dung thỏa thuận không bảo đảm tính tự nguyện, vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì kết quả hòa giải, đối thoại không thể coi là có giá trị pháp lý. Do vậy, có thể nghiên cứu và cân nhắc thêm về nội dung này khi thiết kế quy định tại khoản 2 Điều 44 và Khoản 2 Điều 48 Dự thảo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
 
Cân nhắc về tên gọi của dự án Luật
TS.Phạm Quý Tỵ, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, nguyên Thứ trưởng Bộ Tư pháp đề nghị cân nhắc về tên gọi của dự án Luật.
Theo ông, thứ nhất, về bản chất thì trình tự, thủ tục, thẩm quyền hòa giải, đối thoại của các Trung tâm hòa giải, đối thoại quy định trong dự thảo Luật là hòa giải ngoài tố tụng, nhưng được đặt tại Tòa án và do các Tòa án quản lý. Theo dự thảo Luật quy định việc tiến hành hòa giải, đối thoại không nhất thiết phải tiến hành tại Tòa án mà có thể ở ngoài Tòa án. Do vậy, tên dự án Luật là Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án chưa thật sát với bản chất của loại hình hòa giải, đối thoại này là ngoài tố tụng.
Thứ hai, theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Luật tố tụng hành chính năm 2015, thì khi giải quyết các vụ án dân sự và vụ án hành chính, Tòa án tiến hành thủ tục hòa giải và đối thoại, việc đặt tên Hòa giải, đối thoại tại Tòa án như trong dự thảo Luật có thể dẫn đến sự nhầm lẫn giữa hai thủ tục này vì cùng ở tại Tòa án.
Thứ ba, dự thảo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án ngoài việc quy định nội dung hòa giải, đối thoại do các Hòa giải viên, Đối thoại viên thực hiện còn có quy định về trình tự, thủ tục tố tụng công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành của Tòa án (tại Chương IV. Thực hiện kết quả hòa giải thành, đối thoại thành). Như vậy, tên dự thảo Luật mới chỉ bao quát được nội dung hòa giải và đối thoại (Phần việc của Hòa giải viên và Đối thoại viên) mà chưa bao quát được nội dung công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành của Tòa án.
TS Phạm Quý Tỵ đặt vấn đề: Hoạt động hòa giải, đối thoại quy định trong dự thảo Luật có phải là hoạt động tư pháp không? Ông cho rằng trong dự thảo Luật có quy định Chương II. Trung tâm hòa giải, đối thoại và Hòa giải viên, Đối thoại viên; Chương III. Trình tự, thủ tục hòa giải, đối thoại và Chương IV. Thực hiện kết quả hòa giải thành, đối thoại thành. Đối với Chương II quy định về tổ chức và Chương III quy định trình tự, thủ tục hòa giải, đối thoại đây là những hoạt động của các Hòa giải viên, Đối thoại viên nên không phải là hoạt động tư pháp. Đối với Chương IV quy định trình tự, thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành của Tòa án, do vậy hoạt động này là hoạt động tư pháp.
Tuy nhiên, trong dự thảo Luật có quy định Chánh án là giám đốc trung tâm, Phó Chánh án là Phó Giám đốc trung tâm hòa giải và đối thoại. Theo pháp luật tố tụng và Luật tổ chức Tòa án thì Chánh án, Phó Chánh án vừa có chức danh quản lý vừa có chức danh tố tụng, vì vậy một số hoạt động của Chánh án, Phó Chánh án là hoạt động tư pháp. Đối với thẩm phán là người có chức danh tư pháp nên hoạt động của Thẩm phán là hoạt động tư pháp. Như đã phân tích ở trên, tại Chương III nếu chỉ có Hòa giải viên, Đối thoại viên thực hiện việc hòa giải, đối thoại thì không phải là hoạt động tư pháp, nhưng khi đã có sự tham gia của Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán vào quá trình này thì lại có hoạt động tư pháp.
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì VKSND có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, vì vậy trong giai đoạn hòa giải, đối thoại có nội dung hoạt động tư pháp thì VKSND có thẩm quyền kiểm sát hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp. Đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc vấn đề này, trong trường hợp dự thảo Luật quy định Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán tham gia vào quá trình hòa giải, đối thoại thì phải quy định trình tự, thủ tục để VKSND thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp.
Về phạm vi điều chỉnh của dự án Luật, ông bày tỏ quan điểm nhất trí với phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật bao gồm: “các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự), khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính và các bên đồng ý hòa giải, đối thoại tại Tòa án trước khi Tòa án thụ lý, giải quyết vụ việc”.
Về tiêu chuẩn Hòa giải viên, Đối thoại viên, không nhất thiết phải là người có đủ 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác mới được bổ nhiệm Hòa giải viên, Đối thoại viên. Mặt khác, Hòa giải viên, Đối thoại viên được bổ nhiệm không theo nhiệm kỳ, mà sẽ bị miễn nhiệm theo quy định tại Điều 19 của dự thảo Luật. Trường hợp Hòa giải viên, Đối thoại viên không hoàn thành nhiệm vụ hoặc 02 năm liên tiếp có số lượng vụ việc hòa giải thành, đối thoại thành thấp nhất tại nơi họ làm việc hoặc không còn đáp ứng một trong các tiêu chuẩn quy định tại Điều 16 của Luật thì sẽ bị miễn nhiệm. Vì vậy, về tiêu chuẩn Hòa giải viên, Đối thoại viên quy định theo phương án 2 là phù hợp.
Về thành phần tham gia phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại quy định hai phương án: Phương án 1: Giám đốc hoặc Phó Giám đốc Trung tâm Hòa giải, Đối thoại hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công tham gia phiên họp để xác nhận sự kiện các bên tự nguyện hòa giải và chữ ký của các bên trong biên bản ghi nhận kết quả hòa giải. Phương án 2: Không quy định điểm này. TS Phạm Quý Tỵ đồng ý với phương án 2.
Về chức danh thư ký của Trung tâm Hòa giải, Đối thoại, thực tiễn hoạt động của Trung tâm Hòa giải, Đối thoại cho thấy hoạt động của các Trung tâm Hòa giải, Đối thoại ngoài Hòa giải viên, Đối thoại viên còn cần một số thư ký để giúp cho Hòa giải viên, Đối thoại viên thực hiện các công việc về hành chính như tiếp nhận hồ sơ, vào sổ theo dõi vụ viêc, thông báo cho các bên đương sự bổ sung hồ sơ, thời gian, địa điểm, nội dung tiến hành phiên hòa giải, đối thoại… Tuy nhiên, trong dự thảo Luật chưa thấy quy định chức danh này. Trong trường hợp không cần quy định có chức danh thư ký ở các Trung tâm Hòa giải, Đối thoại mà các Tòa án cử Thư ký Tòa án sang giúp cho các Trung tâm Hòa giải, Đối thoại (như hoạt động của các Trung tâm Hòa giải, Đối thoại hiện nay) thì cũng phải quy định cụ thể trong dự thảo Luật để thuận tiện cho việc hoạt động của các Trung tâm Hòa giải, Đối thoại.
Về đảm bảo các điều kiện cho các Trung tâm Hòa giải, Đối thoại hoạt động, tại khoản 2, Điều 9 dự thảo Luật quy định: “Trung tâm Hòa giải, Đối thoại chịu sự quản lý trực tiếp của Tòa án nơi đặt Trung tâm”. Quy định như vậy chưa rõ các Tòa án có trách nhiệm đảm bảo các điều kiện cho các Trung tâm Hòa giải, Đối thoại hoạt động không. Vì vậy, dự thảo Luật cần quy định cụ thể hơn nữa trách nhiệm của các Tòa án đảm bảo cơ sở vật chất, phương tiện làm việc để các Trung tâm Hòa giải, Đối thoại hoạt động. Trường hợp Chánh án, Phó Chánh án không kiêm Giám đốc, Phó giám đốc Trung tâm Hòa giải, Đối thoại, thì quy định về đảm bảo các điều kiện cho các Trung tâm Hòa giải, Đối thoại hoạt động trong Luật lại càng cần thiết phải quy định cụ thể trong luật này.

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)

TAND tối cao giải đáp vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, dân sự và hành chính

Ngày 09-01-2019, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức buổi giải đáp trực tuyến toàn quốc về một số vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, dân sự và hành chính. Trên cơ sở các ý kiến phản ánh vướng mắc và giải đáp của Hội đồng Thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao thông báo kết quả giải đáp vướng mắc như sau:
Về hình sự
Tình tiết “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 63 của Bộ luật Hình sự được hiểu như thế nào?
Theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự thì không thi hành án tử hình đối với người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ nếu sau khi bị kết án đã nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn. Tuy nhiên, đối với trường hợp bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn hoặc tù chung thân là loại hình phạt nhẹ hơn so với hình phạt tử hình, nên “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 63 của Bộ luật Hình sự được hiểu là đã bồi thường được ít nhất một phần hai nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án. Trường hợp, người bị kết án bồi thường được ít hơn một phần hai nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án nhưng có văn bản miễn giảm một phần nghĩa vụ dân sự hoặc có thỏa thuận khác của phía bị hại (có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền) thể hiện người bị kết án đã bồi thường được một phần hai nghĩa vụ dân sự thì cũng được coi là “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ   dân sự”.
Tình tiết “chứa mại dâm 04 người trởlên” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 327 và “đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự được hiểu như thế nào (người bán dâm hay bao gồm cả người mua dâm)?
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “mại” là “bán”, “mãi” là “mua” và “chứa mại dâm” là “chứa bán dâm”. Như vậy, tình tiết định khung tặng nặng “chứa mại dâm 04 người trở lên” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 327 và “đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự được hiểu là đối với người bán dâm. Cách hiểu này là phù hợp với các tình tiết định khung tăng nặng khác quy định tại tại Điều 327 và Điều 328 của Bộ luật Hình sự, đồng thời cũng phù hợp với thực tiễn xử lý đối với hành vi chứa mại dâm mà có 01 người bán dâm với 03 người mua dâm trong cùng một khoảng thời gian thì bị xử lý theo quy định tại khoản 1 của điều luật này nếu không có tình tiết định khung tăng nặng.
Trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi xâm phạm sở hữu, nhưng mỗi lần trị giá tài sản bị xâm phạm dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời trong các hành vi xâm phạm đó chưa có lần nào bị xử phạt hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính, nếu tổng trị giá tài sản của các lần bị xâm phạm bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự thì có xử lý về hình sự hay không?
Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có nhiều quy định kế thừa quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về việc lấy trị giá tài sản bị chiếm đoạt làm căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự. Trước đây, nội dung này đã được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV “các tội xâm phạm sở hữu” của       Bộ luật Hình sự năm 1999.
Hiện nay, chưa có Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn quy định này của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, vận dụng Thông tư liên tịch số 02 này thì trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi xâm phạm sở hữu, nhưng mỗi lần trị giá tài sản bị xâm phạm dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời trong các hành vi xâm phạm đó chưa có lần nào bị xử phạt hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính, nếu tổng trị giá tài sản của các lần bị xâm phạm bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự, thì người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi xâm phạm sở hữu phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng theo tổng trị giá tài sản của các lần bị xâm phạm, nếu các hành vi xâm phạm sở hữu được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt     thời gian.
Trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu, mà trị giá tài sản của các lần phạm tội đã được cộng lại để xử lý trách nhiệm hình sự theo khung tăng nặng, thì họ có bị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” hay không?
Trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng một loại hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu (ví dụ: nhiều lần phạm tội trộm cắp tài sản), mà tổng trị giá tài sản của các lần phạm tội thỏa mãn dấu hiệu định khung tăng nặng, nếu các lần phạm tội đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì ngoài việc bị áp dụng khung hình phạt tương ứng với trị giá tài sản chiếm đoạt, họ còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Việc áp dụng khung hình phạt tăng nặng trong trường hợp này là căn cứ vào trị giá tài sản chiếm đoạt, còn việc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” là căn cứ vào nhân thân và thái độ chấp hành pháp luật của người phạm tội, nên hoàn toàn không trái với quy định tại khoản 2 Điều 52 của Bộ luật Hình sự (các tình tiết đã được Bộ luật Hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng). Hơn nữa, việc áp dụng pháp luật như trên còn bảo đảm thực hiện đúng nguyên tắc xử lý trách nhiệm hình sự (quy định tại Điều 3 của Bộ luật Hình sự), bảo đảm sự phân hóa tội phạm, cá thể hóa trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm sự công bằng trong việc xem xét cho hưởng án treo, tha tù trước thời hạn có điều kiện cũng như các chế định nhân đạo khác đối với người phạm tội.
Ví dụ: Một người trộm cắp 02 lần mỗi lần 2.000.000 đồng. Do thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự nên theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP thì họ không được hưởng án treo. Tuy nhiên, giả sử hai lần trộm cắp đó có tổng trị giá tài sản là 50.000.000 đồng, nếu Tòa án chỉ căn cứ vào trị giá tài sản để áp dụng tình tiết định khung “chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”, mà không căn cứ vào nhân thân và thái độ chấp hành pháp luật của người phạm tội để áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” thì họ vẫn có thể được hưởng án treo. Việc áp dụng như vậy sẽ không bảo đảm nguyên tắc công bằng và phù hợp trong việc xử lý.
   Khi xem xét, áp dụng tình tiết định khung “sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự ngoài việc chứng minh, làm rõ các bị cáo sử dụng trang mạng đánh bạc trực tuyến không được phép hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội Việt Nam để đánh bạc thì có phải chứng minh các bị cáo nhận, trả tiền thắng, thua bạc qua tài khoản mạng hay không?
Khi xem xét, áp dụng tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự thì chỉ cần chứng minh các bị cáo sử dụng trang mạng đánh bạc trực tuyến không được phép hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội Việt Nam để đánh bạc là đã đủ điều kiện để áp dụng tình tiết định khung tăng nặng này. Việc chứng minh các bị cáo nhận, trả tiền thắng, thua bạc bằng phương thức nào chỉ nhằm làm sáng tỏ các tình tiết khác của vụ án.
Trường hợp người vay sử dụng vốn vay không đúng mục đích vay vốn, tức là dùng vốn vay với mục đích ban đầu là đầu tư, kinh doanh, sản xuất nhưng sau đó tiêu xài, xây nhà cửa, mua sắm đồ dùng, phương tiện đi lại dẫn đến không trả được nợ thì có được coi là “sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản” và có bị xử lý trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 không?
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì: “Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả”. So với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 140 của Bộ luật Hình sự năm 1999, điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung thêm tình tiết “đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả”. Như vậy, người vay sử dụng vốn vay không đúng mục đích xin vay vốn nhưng không sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp (buôn lậu, rửa tiền, sản xuất, buôn bán ma túy…) mà dùng vốn vay để tiêu xài, xây nhà cửa, mua sắm đồ dùng, phương tiện đi lại…) dẫn đến khi đến hạn họ không có điều kiện, khả năng trả nợ thì không coi là sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản để xử lý trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trường hợp đến thời hạn trả lại tài sản mà họ có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả (có nhà, đất đai, tài sản nhưng chây ì, tẩu tán hoặc có hành vi chống đối lại việc kê biên, thu hồi tài sản…) thì bị xử lí trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Người chấp hành án đã chấp hành xong hình phạt tù, đã đủ thời gian được xem là đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự nhưng chưa thi hành hình phạt bổ sung, chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và các quyết định khác của bản án do không nhận được thông báo và quyết định thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự. Trường hợp này có được đương nhiên xóa án tích không?
Điều 70 của Bộ luật Hình sự quy định về các điều kiện đương nhiên được xóa án tích, trong đó có điều kiện: người bị kết án nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách của án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án. Như vậy, Bộ luật Hình sự không quy định trường hợp loại trừ việc người bị kết án chưa chấp xong hành hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án với bất kỳ lý do gì. Hơn nữa, pháp luật thi hành án dân sự quy định nhiều phương thức thi hành để người phải thi hành án có quyền lựa chọn như: tự nguyện thi hành, thỏa thuận thi hành án hoặc nhờ thân nhân nộp thay.
Do vậy, trường hợp người bị kết án (sau này là bị can, bị cáo trong một vụ án mới) không nhận được thông báo và quyết định thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự nên chưa thi hành hình phạt bổ sung, chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và các quyết định khác của bản án là chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án. Trong trường hợp này, người bị kết án không đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội trước không bị truy cứu trách nhiệm hình sự do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì “người tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có” có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có hay không?
Theo quy định tại Điều 323 của Bộ luật Hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thì: “1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số  09/2011/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC ngày 30-11-2011 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thì: “1.“Tài sản do người khác phạm tội mà có” là tài sản do người phạm tội có được trực tiếp từ việc thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: tài sản chiếm đoạt được, tham ô, nhận hối lộ…) hoặc do người phạm tội có được từ việc mua bán, đổi chác bằng tài sản có được trực tiếp từ việc họ thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: xe máy có được từ việc dùng tiền tham ô để mua); 2. “Biết rõ tài sản là do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ chứng minh biết được tài sản có được trực tiếp từ người thực hiện hành vi phạm tội hoặc có được từ việc mua bán, đổi chác bằng tài sản có được trực tiếp từ người thực hiện hành vi phạm tội”.
Như vậy, theo quy định tại Điều 323 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn nêu trên thì mặt chủ quan của tội phạm này chỉ bắt buộc người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết tài sản đó do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có, mà không buộc người tiêu thụ, chứa chấp phải biết rõ ai là người đã trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội để có được tài sản đó và họ đã bị xử lý hình sự hay chưa. Do vậy, trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội trước không bị truy cứu trách nhiệm hình sự do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nhưng có đủ chứng cứ chứng minh được ý thức chủ quan của người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ biết rõ các tài sản mà họ chứa chấp, tiêu thụ là do người khác phạm tội mà có thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người  khác phạm tội mà có.
9. Trường hợp xác định được ngày, giờ, phút sinh của người bị buộc tội thì tính tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội là theo ngày sinh hay theo ngày, giờ, phút sinh?
Theo quy định tại Điều 417 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì tuổi của người bị buộc tội được xác định theo ngày sinh mà không tính theo giờ, phút sinh. Mặt khác, theo nguyên tắc có lợi cho người bị buộc tội nên mặc dù xác định được ngày, giờ, phút sinh của người bị buộc tội nhưng việc tính tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội là theo ngày sinh.
Về dân sự
Trường hợp giao dịch chuyển nhượng nhà đất bị vô hiệu nhưng bên nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất và đã thế chấp nhà, quyền sử dụng đất đó cho Ngân hàng theo đúng quy định của pháp luật. Vậy giao dịch thế chấp đó có bị vô hiệu không?
Tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự quy định:
“…2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.
Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.…”.
Theo Bản thuyết minh Dự án Bộ luật Dân sự năm 2015 của Ban soạn thảo thì quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự là nhằm: “…Bảo đảm công bằng, hợp lý đối với người thiện chí, ngay tình và bảo đảm sự ổn định trong các quan hệ dân sự (các Bộ luật dân sự trên thế giới đều ghi nhận việc bảo vệ người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự)…”. Cho nên, cụm từ “chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác” tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự phải được áp dụng theo nghĩa rộng. Có nghĩa là: Không chỉ có những giao dịch nhằm chuyển giao quyền sở hữu như: Hợp đồng mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn nhà ở; chuyển nhượng, chuyển đổi, góp vốn bằng quyền sử dụng đất… mà cả những giao dịch nhằm chuyển giao những quyền về sở hữu đối với tài sản hoặc quyền về sử dụng đối với thửa đất.
Đồng thời, thế chấp tài sản là một biện pháp bảo đảm, theo quy định tại Điều 317 của Bộ luật Dân sự thì nội hàm của thế chấp tài sản là việc người thế chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận thế chấp mà không giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp. Tuy nhiên, tại khoản 6 Điều 320 của Bộ luật Dân sự quy định nghĩa vụ của bên thế chấp tài sản là: “Giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp để xử lý khi thuộc một trong các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm quy định tại Điều 299 của Bộ luật này…”; khoản 7 Điều 323 của Bộ luật Dân sự quy định quyền của bên nhận thế chấp: “Xử lý tài sản thế chấp khi thuộc trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật này”. Như vậy, mục đích của thế chấp là người có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận thế chấp, trong trường hợp nghĩa vụ đó không được bên thế chấp thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì phải giao tài sản đã thế chấp cho bên nhận thế chấp xử lý nhằm bảo đảm quyền lợi của bên nhận thế chấp. Vì vậy, phải xem thế chấp tài sản là một giao dịch chuyển giao tài sản có điều kiện; để bảo đảm quyền lợi cho bên nhận thế chấp ngay tình thì phải hiểu quy định “chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác” tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự được áp dụng cả trong trường hợp giao dịch về thế chấp tài sản.
Cho nên, trường hợp giao dịch chuyển nhượng nhà đất bị vô hiệu nhưng bên nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất và đã thế chấp nhà, quyền sử dụng đất đó cho Ngân hàng theo đúng quy định của pháp luật thì giao dịch thế chấp đó không vô hiệu.
Trường hợp, trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng, chuyển đổi, tặng cho quyền sử dụng đất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất đó cho người nhận chuyển nhượng, nhận chuyển đổi, nhận tặng cho quyền sử dụng đất. Sau đó, các bên tranh chấp và Tòa án xét thấy hợp đồng nói trên bị vô hiệu hoặc chấp nhận yêu cầu hủy bỏ, như vậy khi giải quyết Tòa án có phải áp dụng Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự đưa những cơ quan đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho người nhận chuyển nhượng, nhận chuyển đổi, nhận tặng cho quyền sử dụng đất không?
Nhiệm vụ của Bộ luật Tố tụng dân sự là giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân… Trên cơ sở đó, Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định khi giải quyết các vụ việc dân sự, mà trong vụ việc đó có quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và nội dung của quyết định đó liên quan đến vụ việc Tòa án giải quyết thì Tòa án phải hủy quyết định đó để khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
“Quy định này tạo cơ sở cho Tòa án chủ động trong việc hủy quyết định cá biệt trái pháp luật có ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của đương sự, nhằm giải quyết vụ việc dân sự một cách chính xác, toàn diện”. (Mục 3 Bản thuyết minh dự án Bộ luật Tố tụng dân sự ngày 10-4-2015 của Tòa án nhân dân tối cao).
Tại mục 1 Phần I của Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19-9-2016 của Tòa án nhân dân tối cao về Giải đáp nghiệp vụ đã hướng dẫn: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định hành chính…” cá biệt. Như vậy, theo quy định tại Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự khi giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất mà trong đó có việc cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất đang tranh chấp không đúng, gây thiệt hại đến quyền lợi của đương sự thì Tòa án phải đưa cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tham gia tố tụng với tư các là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó.
Tuy nhiên, tại điểm d khoản 2 của Điều 106 của Luật Đất đai quy định cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không được thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp “…người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai…”. Theo Điều 195 của Luật Đất đai thì trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận hoặc xác nhận nội dung biến động do chuyển quyền sử dụng đất do Chính phủ quy định. Điều 79 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ quy định việc đăng ký biến động, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chuyển quyền dựa trên cơ sở hồ sơ hợp đồng, Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thực hiện các quyền theo quy định thì xác nhận nội dung biến động vào Giấy chứng nhận đã cấp hoặc lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Như vậy, theo quy định của Luật Đất đai và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ thì việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc xác nhận nội dung biến động trong trường hợp thực hiện hợp đồng (các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 105 của Luật Đất đai) là thủ tục hành chính trong giao dịch dân sự, không mang tính chất của quyết định hành chính cá biệt; cơ quan, tổ chức có thẩm quyền sẽ thực hiện việc đăng ký biến động, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở kết quả giao dịch có hiệu lực. Cho nên, khi giải quyết tranh chấp về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất mà hợp đồng đó bị vô hiệu, nhưng người nhận chuyển quyền đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đã được xác nhận nội dung biến động thì không đưa cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp giấy tham gia tố tụng và không cần phải tuyên hủy giấy chứng nhận cấp cho người nhận chuyển nhượng. Khi Tòa án tuyên hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất vô hiệu thì Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nếu nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện thì nguyên đơn có phải chịu án phí không? Đến ngày mở phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn mới nộp đơn xin rút yêu cầu khởi kiện thì thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Thẩm phán hay Hội đồng xét xử?
a) Về việc chịu án phí
Khoản 3 Điều 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho họ.”
Khoản 3 Điều 18 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án cũng quy định: Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tiền tạm ứng án phí được trả lại cho người đã nộp.
Điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Bị đơn đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Trong trường hợp này, các đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.”
Quy định tại khoản 3 Điều 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 3 Điều 18 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 không chỉ rõ là áp dụng cho giai đoạn chuẩn bị xét xử hay tại phiên tòa thì phải được hiểu bao gồm cả giai đoạn tại phiên tòa. Không thể áp dụng tương tự quy định của giai đoạn xét xử phúc thẩm cho phiên tòa sơ thẩm vì sẽ là việc đặt ra một quy định mới về trách nhiệm pháp lý nặng hơn của đương sự. Do đó, trường hợp đình chỉ xét xử sơ thẩm do nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, dù là trước khi mở phiên tòa hay tại phiên tòa sơ thẩm thì nguyên đơn vẫn được trả lại tiền tạm ứng án phí; các đương sự không phải chịu án phí sơ thẩm.
b) Về thẩm quyền ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
Điều 219 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về Thẩm quyền ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là:
“1. Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự có thẩm quyền ra quyết định…
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có thẩm quyền ra quyết định…”
Vậy đến ngày mở phiên tòa đã được coi là “tại phiên tòa” hay chưa? Mục 2 Chương XIV Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về thủ tục bắt đầu phiên tòa. Theo quy định tại Mục này thì phiên tòa bắt đầu bằng thủ tục “Khai mạc phiên tòa” (Điều 239). Do đó, đến ngày mở phiên tòa (được triệu tập) nhưng chưa khai mạc phiên tòa thì chưa coi là “bắt đầu phiên tòa”, chưa coi là “tại phiên tòa”. Nếu nguyên đơn nộp đơn xin rút yêu cầu khởi kiện trước khi khai mạc phiên tòa thì Thẩm phán vẫn có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án chứ không phải là Hội đồng xét xử.
Trường hợp con của người để lại di sản vi phạm các quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật Dân sự là những trường hợp không được quyền hưởng di sản nhưng người con này lại chết trước hoặc cùng người để lại di sản thì con của người này có được hưởng thừa kế thế vị đối với di sản do ông bà để lại hay không?
Điều 652 của Bộ luật Dân sự quy định: “Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống…”.
Theo quy định tại Điều 652 nêu trên thì: Không phải cứ con chết trước người để lại di sản thì cháu được hưởng di sản. Thừa kế thế vị là hưởng thay và đối tượng hưởng thay đã được quy định rõ là “phần di sản của cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống”. Trường hợp một người đã không được quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật Dân sự, như bị kết án về hành vi ngược đãi nghiêm trọng người cha thì họ sẽ không được hưởng di sản của người cha. Do vậy, nếu họ còn sống khi cha chết thì họ cũng không được hưởng di sản thừa kế nên không có “phần được hưởng nếu còn sống” để cho người khác hưởng thế vị.
Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự bán đấu giá tài sản của người phải thi hành án để thi hành án, nếu người phải thi hành án không đồng ý với kết quả bán đấu giá thì có quyền khởi kiện “tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản’’ không?
Theo quy định tại khoản 13 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 102 của Luật Thi hành án dân sự thì chỉ có hai đối tượng, cụ thể là người mua được tài sản bán đấu giá và chấp hành viên, mới có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, nếu có căn cứ chứng minh có vi phạm trong quá trình bán đấu giá.
Như vậy, Luật Thi hành án dân sự không quy định người phải thi hành có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản. Do vậy, người phải thi hành án nếu không đồng ý với kết quả bán đấu giá tài sản thì họ không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết loại tranh chấp này.
Vấn đề đặt ra là tại sao Luật lại quy định như vậy? Vấn đề này có thể giải thích như sau:
Thứ nhất, theo quy định tại khoản 2 Điều 5 của Luật Đấu giá tài sản thì đấu giá tài sản là hình thức bán tài sản có từ hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc, trình tự, thủ tục được quy định tại Luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều 49 của Luật này. Theo quy định tại khoản 5 thì người có tài sản đấu giá là cá nhân, tổ chức sở hữu tài sản, người được chủ sở hữu tài sản ủy quyền bán đấu giá tài sản hoặc người có quyền đưa tài sản ra đấu giá theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; theo quy định tại khoản 6 thì người mua được tài sản đấu giá là người trúng đấu giá và ký kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt kết quả đấu giá tài sản; theo quy định tại khoản 8 thì người trúng đấu giá là người trả giá cao nhất so với giá khởi điểm hoặc bằng giá khởi điểm nếu không có người trả giá cao hơn theo phương thức trả giá lên; hoặc là người chấp nhận mức giá khởi điểm hoặc mức giá đã giảm trong trường hợp đấu giá theo phương thức đặt giá xuống. Thực chất, đây là một giao dịch dân sự mà chủ thể tham gia là người có tài sản hoặc có quyền đưa tài sản ra đấu giá và người tham gia đấu giá và người trúng đấu giá theo quy định của pháp luật. Chỉ giữa những người này mới phát sinh quyền, nghĩa vụ có khả năng tranh chấp với nhau có liên quan đến kết quả đấu giá và chỉ người này mới có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy kết quả đấu giá nếu họ cho rằng có vi phạm pháp luật trong quá trình đấu giá làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ. Xem xét trường hợp cơ quan thi hành án bán đấu giá tài sản thì Cơ quan thi hành mà cụ thể là Chấp hành viên là bên có quyền đưa tài sản của người phải thi hành án ra bán đấu, mà không phải là người phải thi hành án có tài sản bị cơ quan thi hành án kê biên và đưa ra bán đấu giá để thi hành án, bên trúng đấu giá tài sản là người tham gia đấu giá trả giá cao nhất theo phương thức trả giá lên hoặc chấp nhận mức giá đã giảm theo phương thức đấu giá xuống. Vì vậy, chỉ có Chấp hành viên và người trúng đấu giá đã ký hợp đồng mua tài sản đấu giá mới có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch bán đấu giá và có thể trở thành các bên tranh chấp với nhau về kết quả bán đấu giá tài sản. Người phải thi hành án không phải là người đưa tài sản ra bán đấu giá, tức là không tham gia, không phải là một bên trong giao dịch này nên không có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch và do đó họ không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản. Chỉ trong trường hợp duy nhất là họ tham gia và trúng đấu giá thì lúc này với tư cách là người mua được tài sản đấu giá thì họ mới có quyền khởi kiện.
Thứ hai, nếu người phải thi hành án có căn cứ cho rằng cơ quan thi hành án có hành vi, quyết định kê biên, định giá và bán đấu giá đối với tài sản của họ để thi hành án trái pháp luật thì họ có quyền khiếu nại theo quy định tại khoản 1 Điều 140 của Luật Thi hành án dân sự. Việc giải quyết khiếu nại của họ được thục hiện theo nguyên tắc, trình tự, thủ tục  quy định tại Mục 1 Chương VI của Luật Thi hành án dân sự.
Theo khoản 4 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì khi quyết định đình chỉ vụ án “Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có)”, trường hợp nguyên đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án có giải quyết việc thi hành án trong quyết định đình chỉ hay không?
Theo quy định tại khoản 4 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì: “Đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm mà Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án thì Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có); trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì việc đình chỉ giải quyết vụ án phải có sự đồng ý của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.”
Theo quy định nêu trên thì trong trường hợp vụ án đã có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm hủy án để xét xử lại, quá trình giải quyết lại sơ thẩm, nguyên đơn rút toàn bộ đơn khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nhưng họ không đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì việc đình chỉ giải quyết vụ án phải được sự đồng ý của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do vậy, trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ đơn khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nhưng họ không đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan, Tòa án phải hỏi ý kiến của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về việc có đồng ý đình chỉ giải quyết vụ án hay không, có yêu cầu giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan không và tùy từng trường hợp xử lý như sau:
– Trường hợp bị đơn không đồng ý đình chỉ giải quyết vụ án, yêu cầu giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan thì Tòa án ra quyết định đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn, xác định lại tư cách bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn.
– Trường hợp bị đơn đồng ý đình chỉ giải quyết vụ án nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đồng ý đình chỉ giải quyết vụ án, yêu cầu giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan, yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn, đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn (nếu có); người có quyền, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người nào bị người có quyền, nghĩa vụ liên quan yêu cầu Tòa án giải quyết thì trở thành bị đơn. Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
– Trường hợp bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng ý đình chỉ giải quyết vụ án, không yêu cầu giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan thì Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án và giải quyết vấn đề án phí, không giải quyết vấn đề hậu quả của việc thi hành án.
– Trường hợp bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để hỏi ý kiến về việc có đồng ý đình chỉ giải quyết vụ án hay không, có yêu cầu giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan không nhưng vẫn vắng mặt nhưng không vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì coi như đồng ý đình chỉ việc giải quyết vụ án.
III. Về tố tụng hành chính
Trong vụ án hành chính, một thành viên hộ gia đình khởi kiện quyết định hành chính thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với hộ gia đình thì Tòa án có phải đưa các thành viên khác của hộ gia đình tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hay không?
Theo quy định tại khoản 10 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính thì: “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức, cá nhân tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được Tòa án nhân dân chấp nhận hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”;
Theo quy định tại khoản 29 Điều 3 của Luật Đất đai thì: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất”.
Do đó, khi xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính liên quan đến quyền sử dụng đất của hộ gia đình thì Tòa án phải đưa các thành viên còn lại của hộ gia đình tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho họ.
Để ban hành quyết định hành chính thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã căn cứ trên cở sở ý kiến của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp huyện (tại một số công văn, báo cáo…). Trường hợp quyết định hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bị khởi kiện thì Tòa án có phải đưa Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp huyện tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hay không?
Theo quy định tại khoản 10 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính thì: “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức, cá nhân tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được Tòa án nhân dân chấp nhận hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”;
Theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Luật Khiếu nại thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện; theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 203 của Luật Đất đai thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính thì:
“1. Hội đồng xét xử xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính… quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan.
Hội đồng xét xử có quyền quyết định:
…b) Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính trái pháp luật và quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan (nếu có)…”
Theo các quy định nêu trên thì khi xem xét yêu cầu khởi kiện mà Tòa án phải xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính có liên quan do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành, thì phải đưa Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp huyện tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Đối với trường hợp này, các văn bản hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành (công văn, báo cáo…) không phải là quyết định hành chính có liên quan nên Tòa án không đưa Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp huyện tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nếu người bị kiện sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính bị khiếu kiện nhưng người khởi kiện không rút đơn khởi kiện thì Tòa án xử bác đơn khởi kiện do đối tượng khởi kiện không còn có đúng không?
Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, người bị kiện có quyền sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính theo quy định tại khoản 4 Điều 57 của Luật Tố tụng hành chính.
Trường hợp tại phiên tòa sơ thẩm, người bị kiện cam kết sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ quyết định bị khởi kiện và người khởi kiện cam kết rút đơn khởi kiện thì Tòa án căn cứ vào Điều 187 của Luật Tố tụng hành chính để tạm ngừng phiên tòa. Hết thời hạn tạm ngừng phiên tòa mà người bị kiện ban hành quyết định hành chính mới, người khởi kiện đồng ý rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
Trường hợp tại phiên tòa sơ thẩm, người bị kiện xuất trình quyết định hành chính mới sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ quyết định bị khởi kiện mà người khởi kiện đồng ý rút đơn khởi kiện thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Nếu người khởi kiện không rút đơn khởi kiện thì Toà án phải tiếp tục xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khởi kiện và quyết định hành chính mới. Trong trường hợp này, Tòa án căn cứ vào khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính để tuỳ vào từng trường hợp cụ thể mà bác yêu cầu khởi kiện nếu yêu cầu đó không có căn cứ pháp luật hoặc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện nếu quyết định hành chính bị khởi kiện, quyết định hành chính mới trái pháp luật. Trường hợp quyết định hành chính mới có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì phải  tạm ngừng phiên tòa để đưa cơ quan, tổ chức, cá nhân đó tham gia tố tụng với  tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và giải quyết vụ án theo thủ     tục chung.
Trong vụ án hành chính đã có quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, nhưng người khởi kiện chỉ khởi kiện đối với quyết định hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Vậy xác định thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là của Tòa án nhân dân cấp huyện hay Tòa án nhân dân cấp tỉnh?
Theo quy định của Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính thì khi giải quyết vụ án hành chính, Hội đồng xét xử có thẩm quyền xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính và quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính thì Tòa án cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án.
Trong trường hợp này, Tòa án phải xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính của Uỷ ban nhân dân cấp xã và quyết định giải quyết khiếu nại Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện. Trong điều kiện hiện nay, các Tòa án nhân dân cấp tỉnh đang bị áp lực lớn về công việc, để tránh việc chuyển quá nhiều vụ án hành chính lên Tòa án nhân dân cấp tỉnh và phù hợp với các quy định của pháp luật thì trong trường hợp này Tòa án nhân dân cấp huyện vẫn thụ lý, xem xét giải quyết vụ án hành chính. Trường hợp có căn cứ xác định quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trái pháp luật và phải hủy quyết định hành chính này mới bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì Tòa án nhân dân cấp huyện đang thụ lý, giải quyết vụ án đình chỉ việc xét xử và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết. Trường hợp có căn cứ xác định quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đúng pháp luật, không xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và không phải hủy quyết định hành chính này thì Tòa án nhân dân cấp huyện đang thụ lý, xem xét tiếp tục giải quyết vụ án.
Việc chỉnh lý bản đồ địa chính cấp xã có là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính không? Nếu thuộc đối tượng khởi kiện thì xác định người bị kiện trong trường hợp này là ai?
Theo quy định tại khoản 3 Điều 22 và khoản 3 Điều 31 của Luật Đất đai thì việc khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính thuộc nội dung quản lý nhà nước về đất đai do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định.
Theo quy định tại khoản 6 Điều 22 Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT quy định về bản đồ địa chính ngày 19-05-2014 và điểm e khoản 5 Điều 2 của Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV ngày 28-8-2014 hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện thì Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm trong việc lập, chỉnh lý và ký duyệt nghiệm thu bản đồ địa chính.
Như vậy, căn cứ vào các quy định nêu trên thì bản đồ địa chính cấp xã được xác định là quyết định hành chính, nếu việc chỉnh lý bản đồ địa chính cấp xã thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính thì là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Việc lập, chỉnh lý, ký duyệt bản đồ địa chính do Sở Tài nguyên và Môi trường hoặc do cơ quan, tổ chức khác thực hiện thì người bị kiện được xác định là cơ quan, tổ chức đã thực hiện việc lập, chỉnh lý, ký duyệt bản đồ địa chính mà người khởi kiện cho rằng việc chỉnh lý đó xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định tại khoản 9 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính.
Trên đây là kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc của Hội đồng Thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao thông báo để các Tòa án nghiên cứu, tham khảo trong quá trình giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền.

Bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi

Đây là nguyên tắc vừa được TANDTC quán triệt trong toàn hệ thống, trong giải quyết các vụ ánxâm hại tình dục và bạo hành trẻ em đang diễn ra rất phức tạp và nghiêm trọng hiện nay.
Nhận thức về xâm hại tình dục và bạo hành trẻ em
Trẻ em bị xâm hại tình dục là một trong những nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt được quy định trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 và là đối tượng cần sự bảo vệ của toàn xã hội. Luật cũng quy định, mọi hành vi xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em đều bị xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Hiện nay,  xâm hại tình dục trẻ em ngày càng diễn biến phức tạp cả về quy mô và cách thức thực hiện, hậu quả mà các em phải gánh chịu có thể có những tổn thất về sức khỏe thể chất và tinh thần, làm giảm khả năng học tập, hòa nhập xã hội và thậm chí có thể hủy hoại các em, ảnh hưởng đến việc trở thành con người tốt, trở thành cha mẹ tốt trong tương lai. Trong nhiều năm qua, Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp để phòng chống, giảm thiểu và nhằm đẩy lùi hiện tượng xâm hại tình dục trẻ em. Tuy nhiên công tác bảo vệ trẻ em hiện nay còn gặp phải những rào cản, khó khăn như: Khâu phát hiện và báo cáo số vụ xâm hại trẻ em còn chưa kịp thời, Luật pháp về bảo vệ trẻ em còn nhiều khoảng trống, thiếu cụ thể, mô hình trợ giúp thiếu tính chuyên nghiệp. Vì vậy, vấn đề trẻ em bị xâm hại tình dục cần phải huy động sự tham gia của toàn xã hội.
Một trong những trở ngại rất lớn hiện nay chính là nhận thức chưa thống nhất, chưa minh bạch về lạm dụng, xâm hại, ngược đãi trẻ em của chính các cơ quan bảo vệ pháp luật, của nhà trường, gia đình và dư luận xã hội, mà vụ nguyên Phó Viện trưởng VKSND Tp Đà Nẵng Nguyễn Hữu Linh có dấu hiệu dâm ô với một bé gái được camera trong thang máy ghi lại, nhưng sau 10 ngày bị phát hiện nhưng chưa khởi tố là một vụ việc điển hình. Trong vụ việc cụ thể này, khái niệm “dâm ô” chưa được nhận thức thống nhất, có sự khác biệt lớn giữa dư luận xã hội và cơ quan tiến hành tố tụng địa phương.
Định nghĩa về lạm dụng (xâm hại/ ngược đãi) trẻ em của Tổ chức y tế thế giới là “Tất cả các hình thứcngược đãi về tình cảm hoặc thân thể, lạm dụng tình dục, sao nhãng hoặc đối xử lơ đãng hoặc khai thác vì mục đích thương mại hoặc khai thác dẫn đến tổn hại hoặc có nguy cơ dẫn đến tổn hại tới sức khỏe, sự sống còn, sự phát triển hoặc nhân phẩm của trẻ trong bối cảnh có liên quan đến trách nhiệm, sự tin cậy hoặc quyền lực”. Xâm hại trẻ em hay ngược đãi trẻ em là tất cả những hình thức đối xử tồi tệ về tình cảm hay thể chất, xâm hại tình dục, sao nhãng, đối xử không đúng mức hoặc bóc lột vì mục đích thương mại hay các mục đích khác gây ra tổn hại thực tế hay tiềm ẩn đối với sự phát triển, sự sống còn, sức khỏe hay nhân phẩm của trẻ khi xét về trách nhiệm, lòng tin hay quyền hành.
Theo Liên Hiệp Quốc thì xâm hại trẻ em hay ngược đãi là tất cả các hình thức đối xử tồi tệ về mặt tình cảm hay thể chất, xâm hại tình dục hay các mục đích khác gây ra tổn hại thực tế hay tiềm ẩn đối với sự phát triển, sự sống còn, sức khỏe hay nhân phẩm của trẻ khi xét về trách nhiệm, lòng tin hay quyền hành.
Trên khắp thế giới, có bốn hình thức xâm hại được thừa nhận bao gồm: Xâm hại thể xác, xâm hại tình dục, xâm hại tâm lý/tình cảm và xao nhãng. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia khác nhau, do những đặc trưng về lịch sử, chính trị, văn hóa và xã hội có những cách phân chia phù hợp hơn. Tại Việt Nam có các hình thức xâm hại phổ biến là Xâm hại (trừng phạt) thân thể, Xâm hại tâm lý/tình cảm, Xâm hại tình dục, Chứng kiến bạo lực gia đình, Xao nhãng, Buôn bán trẻ em, Lao động trẻ em.
Thực tiễn đời sống xã hội Việt Nam hiện  nay, nổi bật lên hiện tượng xâm hại tình dục và bạo hành trẻ em. Trong một tọa đàm với chủ đề “Ngăn ngừa bạo lực học đường để trẻ em không đơn độc” ngày 8/4/2019, với sự tham gia của đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo, đại diện Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, đại diện TƯ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, hiệu trưởng một số trường học và chuyên gia tâm lý học đường, Đại tá Phạm Mạnh Thường – Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát hình sự đại diện cơ quan hành pháp cho biết: Theo thống kê của ngành Công an, riêng về bạo lực học đường xảy ra trong quý 1 năm 2019 là 310 vụ.
Thiếu tá Lê Hoàng Việt Lâm (Trường ĐH An ninh nhân dân, Bộ Công an) cũng cho hay, bạo lực học đường, xâm hại tình dục trẻ em diễn ra với tần suất liên tục, với các hành vi ngày càng tàn bạo, dã man. Việc xử lý của các cơ quan chức năng chưa thực sự rốt ráo, một số quy định của pháp luật còn thiếu chặt chẽ nên khi áp dụng pháp luật để xử lý đã gây ra một “phản ứng ngược” từ cộng đồng.
Theo thống kê từ Bộ Công an, năm 2018 có 1.547 vụ xâm hại trẻ em được phát hiện với 1.669 đối tượng, xâm hại 1.579 em, giảm 2,8% so với năm 2017. Trong đó, số vụ án xâm hại tình dục trẻ em là 1.269 vụ (chiếm 82% so với tổng số vụ xâm hại trẻ em) với 1.233 đối tượng, xâm hại 1.141 em.
Phân tích theo tội danh, Bộ Công an cho biết, đã xảy ra 425 vụ hiếp dâm trẻ em, 606 vụ giao cấu với trẻ em, 232 vụ dâm ô với trẻ em và 271 vụ là tội phạm khác.
Kết quả xử lý hình sự 1.255 vụ (chiếm 81%) với 1.360 đối tượng (chiếm 81%); Xử lý hành chính 112 vụ (chiếm 7,2%) với 162 đối tượng (chiếm 9,7%).
Đáng chú ý, số vụ án xâm hại trẻ em xảy ra tại Hà Nội là 88 vụ, nhiều nhất trong cả nước. Số vụ án xảy ra ở các tỉnh thành còn lại gồm: TPHCM 77 vụ, Đắk Lắk 52 vụ, Tây Ninh 51 vụ, Đồng Nai 46 vụ…
Tình trạng tội phạm xâm hại tình dục trẻ em có diễn biến hết sức phức tạp; xảy ra nhiều vụ như cha hiếp con, thầy giáo dâm ô với học sinh, … nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng như hiếp rồi giết trẻ em, xâm hại nhiều lần dẫn đến nạn nhân có thai hoặc phải tự tử. Tuy nhiên, việc phát hiện, xác minh, khởi tố điều tra, xét xử loại tội phạm này còn gặp rất nhiều khó khăn.
Đôn đốc trong hệ thống Tòa án
Trong việc giải quyết các vụ án xâm hại trẻ em, một vướng mắc lớn của hệ thống Tòa án là nhận thức về các quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, các đạo luật có liên quan và các hướng dẫn thi hành trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử.
Do đó, TANDTC đã có Công văn số 68/TANDTC-PC ngày 8/ 4 /2019 gửi Chánh án Tòa án nhân dân các cấp, Chánh án Tòa án Quân sự các cấp, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao, nhằm kịp thời phòng ngừa, đấu tranh với loại tội phạm này, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em, người chưa thành niên. Tòa án nhân dân tối cao đã yêu cầu Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án Quân sự các cấp, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình quán triệt và thực hiện các nội dung sau đây:
Trong quá trình thụ lý giải quyết các vụ án xâm hại tình dục, bạo hành trẻ em cần quán triệt, thực hiện nghiêm túc các đạo luật mới được Quốc hội thông qua như Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, các đạo luật có liên quan và các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, liên ngành Trung ương; xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, các hình phạt và biện pháp tư pháp việc áp dụng bảo đảm nghiêm khắc.
Ngay khi tiếp nhận hồ sơ vụ án cần thụ lý giải quyết theo đúng quy định tại Thông tư số 02/ 2018/TT-TANDTC ngày 21/ 9 /2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Trong quá trình xét xử cần bảo đảm các quyền của trẻ em, người chưa thành niên trên cơ sở nguyên tắc “bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi”.
Chủ động phối hợp với cơ quan Công an và Viện kiểm sát cùng cấp ngay từ giai đoạn điều tra để kịp thời nắm bắt diễn biến của vụ án, từ đó lên kế hoạch đưa vụ án ra xét xử bảo đảm kịp thời và đúng thời hạn luật định.
Báo cáo Tòa án nhân dân tối cao thông qua Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học về những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện các quy định mới của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan, cũng như những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thụ lý, giải quyết các vụ án xâm hại tình dục và bạo hành trẻ em để Tòa án nhân dân tối cao kịp thời phối hợp với liên ngành Trung ương hướng dẫn, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết.
Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án Quân sự các cấp, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao tổ chức triển khai, quán triệt thực hiện nghiêm túc trong cơ quan đơn vị mình.
**
Có thể nói, chưa khi nào vấn đề phòng chống, ngăn chặn, xử lý tội phạm xâm hại tình dục và bạo hành trẻ em được quan tâm như hiện nay. Với sự phát triển của công nghệ thông tin, ý thức của người dân cũng như toàn xã hội về loại tội phạm này đã có thay đổi, không ngại ngùng, che giấu như trước đây nên nhiều vụ xâm hại trẻ em được phát hiện, đưa ra ánh sáng. Do đó, các cơ quan có liên quan, đặc biệt là các cơ quan bảo vệ pháp luật phải có những biện pháp kịp thời đáp ứng sự thay đổi đó, có những hướng dẫn phù hợp với thực trạng phức tạp của loại tội phạm này để xử lý đúng pháp luật, nghiêm minh và nhanh chóng để bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em, của người chưa thành niên.

ThS. CAO THANH LOAN

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Thành lập công ty chỉ với 05 bước đơn giản
Thành lập công ty là bước đầu tiền đặt nền móng cho việc khởi sự kinh doanh cũng như phát triển, mở rộng sau này. Hiện nay, chỉ với 05 bước đơn giản là có thể thành lập công ty mới.

Bước 1: Chọn loại hình công ty

Có tất cả 05 loại hình doanh nghiệp khác nhau nên khi dự định thành lập công ty, các cá nhân, tổ chức trước tiên cần lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp.
Cách đơn giản nhất là dựa theo số lượng thành viên tham gia thành lập công ty. Nếu chỉ có một người thì có thể chọn loại hình doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty TNHH một thành viên.
Để có thể lựa chọn loại hình doanh nghiệp dễ dàng hơn, Quý khách xem thêm ưu, nhược điểm của từng loại hình tại đây.

Bước 2: Chuẩn bị hồ sơ thành lập công ty

Sau khi lựa chọn được loại hình doanh nghiệp để thành lập, các cá nhân, tổ chức cần xác định tên công ty, nơi đặt trụ sở chính, vốn điều lệ, ngành nghề kinh doanh. Tiếp đó chuẩn bị hồ sơ sau:
– Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp;
– Bản sao chứng thực Chứng minh nhân dân, Căn cước công dân hoặc Hộ chiếu còn thời hạn của các thành viên, cổ đông sáng lập công ty;
– Dự thảo Điều lệ công ty phù hợp với loại hình dự định thành lập.
Hồ sơ nộp tại Phòng Đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh nơi đặt trụ sở chính của công ty.
Thời gian hoàn thành: 03 – 05 ngày.

Bước 3: Khắc con dấu công ty

Sau khi có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đồng thời là mã số thuế công ty tiến hành khắc dấu doanh nghiệp tại các cơ sở đủ điều kiện kinh doanh khắc dấu.
Thời gian thực hiện: 01 ngày.

Bước 4: Công bố mẫu dấu

Sau khi có con dấu để con dấu có hiệu lực và được sử dụng cần thực hiện thủ tục công bố mẫu dấu của công ty trên Cổng thông tin điện tử quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Thời gian thực hiện: 01 ngày.
Lưu ý:

  • Sau 03 ngày kể từ ngày công bố, mẫu dấu sẽ hiển thị trong thông tin của doanh nghiệp trên Cổng thông tin điện tử quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, tra cứu mẫu dấu tại địa chỉ: http://dangkykinhdoanh.gov.vn.

Bước 5: Công bố thông tin đăng ký doanh nghiệp

Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, công ty cần tiến hành nộp hồ sơ công bố thông tin thành lập doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Nội dung công bố bao gồm các nội dung trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và các thông tin sau đây:
– Ngành, nghề kinh doanh;
– Danh sách cổ đông sáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài đối với công ty cổ phần.
Thời hạn công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp
Trong vòng 30 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp doanh nghiệp phải thực hiện công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Quy trình chuyển đổi đất vườn sang đất ở mới nhất 2019

Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 170 Luật đất đai năm 2013 quy định thì người sử dụng đất có nghĩa vụ sử dụng đất đúng mục đích.
Các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyềnbao gồm:

d) Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp;

Đất vườn được xác định là đất nông nghiệp, đất ở là đất phi nông nghiệp, vậy bạn muốn chuyển mục đích sử dụng thì phải được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền.

Căn cứ để giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất

–  Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
–  Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.

Về trình tự, thủ tục:

Điều 69, Nghị định 43/2104/NĐ-CP quy định:

1. Người sử dụng đất nộp đơn xin phép chuyển mục đích sử dụng đất kèm theo Giấy chứng nhận đến cơ quan tài nguyên và môi trường.
2. Cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ; xác minh thực địa, thẩm định nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất; hướng dẫn người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; chỉ đạo cập nhật, chỉnh lý cơ sở dữ liệu đất đai, hồ sơ địa chính.
Đối với trường hợp nhà đầu tư nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người đang sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thì thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đồng thời với thủ tục cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.
3. Người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định.

Hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất:

1. Người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; hồ sơ gồm:
a) Đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư 30/2014/TT-BTNMT (có file đính kèm cuối bài)
b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Về tiền sử dụng đất phải nộp 

Đối với hộ gia đình, cá nhân:
– Chuyển từ đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư không được công nhận là đất ở theo quy định tại Khoản 6 Điều 103 Luật Đất đai sang làm đất ở; chuyển từ đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền nhà ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền hoặc do đơn vị đo đạc khi đo vẽ bản đồ địa chính từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 đã tự đo đạc tách thành các thửa riêng sang đất ở thì thu tiền sử dụng đất bằng 50% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định chuyển mục đích của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Các trường hợp khác ngoài điểm a, xem thêm khoản 2, điều 5 Nghị định 45/2014/NĐ-CP
Ví dụ:
Giá đất tại khu vực đó là 2.500.000đ/ m2 đất ở và đất giá đất nông nghiệp là 180.000đ/m2.  đất có tổng diện tích là 171m2, ngang 9,5 m và dài 18m. Trong đó có 70m2 là thổ cư, còn lại là đất vườn.
Hướng dẫn cách tính tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất?
(2.500.000 – 180.000) × 101m2 × 50% = 117.160.000 đồng. (Nguồn ví dụ: luatannam.vn)
Căn cứ tính tiền sử dụng đất dựa trên 03 tiêu chí:
– Diện tích đất chuyển mục đích;
– Mục đích sử dụng đất;
– Giá đất tính thu tiền sử dụng.

Về thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất

Khoản 2 Điều 59 Luật đất đai 2013 quy định:

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:
a) Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân. Trường hợp cho hộ gia đình, cá nhân thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 héc ta trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước khi quyết định;
b) Giao đất đối với cộng đồng dân cư

Lịch làm việc từ ngày 18/04 – 13/04/2019

Văn phòng luật sư Hoàng Hưng thông báo lịch làm việc từ ngày 18/04 – 13/04/2019.
 

Lịch trực văn phòng luật sư Hoàng Hưng

STT Thứ Luật sư Thực tập
1 Thứ 2 Nguyễn Thị Yến
Kiều Văn Lương
Vũ Hoàng Nhật Tân
Nguyễn Thị Hằng
Đàm Thị Lan Hương
Vũ Vân Anh
2 Thứ 3 Hoàng Văn Doãn
Nguyễn Thị Yến
Lê Thị Thanh Nhàn
Phạm Quốc Hội
Vũ Vân Anh
Nguyễn Thị Phương Anh
3 Thứ 4 Hoàng Thị Dinh Phạm Quốc Hội
Nguyễn Thị Kiều Trinh
Đàm Thị Lan Hương
Hoàng Văn Hưng
4 Thứ 5 Nguyễn Văn Túy
Kiều Văn Lương
Đàm Thị Lan Hương
Lê Thị Thanh Nhàn
Nguyễn Thị Hằng
Hoàng Văn Hưng
5 Thứ 6 Hoàng Văn Doãn
Nguyễn Văn Túy
Nguyễn Thị Phương Anh
Nguyễn Thị Kiều Trinh
Hoàng Văn Hưng
Hà Ngọc Mai Linh
6 Thứ 7 Vũ Hoàng Nhật Tân
Phạm Quốc Hội

Lịch làm việc tại các cơ quan tiến hành tố tụng:

– Ngày 10/04/2019: Ls Hướng, Ls Yến, Ls Lương tham gia bào chữa cho bị cáo trong phiên tòa xét xử vụ án Cố ý gây thương tích tại TAND huyện Mê Linh;
– Ngày 12/04/2019: Ls Hướng, Ls Lương tham gia bào chữa cho bị cáo trong phiên tòa xét xử vụ án Lạm quyền trong thi hành công vụ tại TAND cấp cao Hà Nội.

Hướng dẫn thủ tục cấp lại hộ chiếu sắp hết hạn

Không chỉ hộ chiếu sắp hết hạn mà hộ chiếu hết trang cũng tiến hành cấp đổi giống thủ tục cấp lại hộ chiếu sắp hết hạn.

Nơi nộp hồ sơ đề nghị cấp đổi hộ chiếu sắp hết hạn

Theo quy định tại Thông tư 29/2016/TT-BCA, người đề nghị cấp lại khi hộ chiếu hết hạn nộp hồ sơ tại Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thường trú hoặc tạm trú. Và hồ sơ nộp tại nơi nào thì nhận kết quả tại nơi đó.
Hồ sơ đề nghị cấp lại hộ chiếu (trừ trường hợp đề nghị cấp lại hộ chiếu cho trẻ em dưới 14 tuổi) có thể nộp thông qua doanh nghiệp bưu chính.

Hướng dẫn thủ tục cấp lại hộ chiếu sắp hết hạn

Hồ sơ đề nghị cấp lại hộ chiếu sắp hết hạn bao gồm những giấy tờ sau:
– 01 tờ khai;
– 02 ảnh mới chụp, cỡ 4cm x 6cm, mặt nhìn thẳng, đầu để trần, không đeo kính màu, phông nền màu trắng. Trẻ em dưới 09 tuổi cấp chung hộ chiếu với cha hoặc mẹ thì nộp 02 ảnh cỡ 3cm x 4cm;
– Trẻ em dưới 14 tuổi nộp 01 bản sao hoặc bản chụp có chứng thực giấy khai sinh, nếu không có chứng thực thì xuất trình bản chính để kiểm tra, đối chiếu.
Khi nộp hồ sơ và nhận kết quả, người đề nghị cấp lại hộ chiếu xuất trình giấy chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân còn giá trị sử dụng để kiểm tra, đối chiếu.
Trường hợp nộp hồ sơ tại Phòng Quản lý xuất nhập cảnh nơi tạm trú thì xuất trình thêm sổ tạm trú do cơ quan có thẩm quyền cấp để kiểm tra, đối chiếu. Trường hợp cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp được ủy thác nộp hồ sơ và nhận kết quả thì cán bộ, nhân viên của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp xuất trình giấy giới thiệu; giấy chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân còn giá trị sử dụng của bản thân và của người ủy thác để kiểm tra, đối chiếu.

Trường hợp nào chỉ khởi tố theo yêu cầu của người bị hại?

Khởi tố vụ án hình sự là trách nhiệm của cơ quan Nhà nước nhằm duy trì trật tự xã hội. Tuy nhiên, xuất phát từ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, pháp luật cho phép nhiều trường hợp chỉ khởi tố theo yêu cầu bị hại.

Trường hợp nào chỉ khởi tố theo yêu cầu bị hại?

Trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại được quy định tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Theo đó, chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết về các tội sau đây:
– Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
– Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh;
– Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;
– Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
– Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính;
– Tội hiếp dâm;
– Tội cưỡng dâm;
– Tội làm nhục người khác;
– Tội vu khống;
– Tội xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp.
Các trường hợp chỉ khởi tố theo yêu cầu bị hại chỉ áp dụng đối với tội phạm quy định tại Khoản 1 của các tội trên, không áp dụng khi có tình tiết tăng nặng.

Xử lý thế nào khi người bị hại rút yêu cầu khởi tố tại phiên tòa?

Trong trường hợp khởi tố theo yêu cầu bị hại, Luật quy định nếu người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ.
Tuy nhiên, nếu người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố tại phiên tòa xét xử thì chưa có quy định nào rõ ràng về điều này.
Trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 chỉ quy định việc đình chỉ vụ án trong các trường hợp như không có sự việc phạm tội; hành vi không cấu thành tội phạm; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật…
Không có điều luật nào quy định Hội đồng xét xử đình chỉ vụ án trong các trường hợp tại phiên tòa người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại rút yêu cầu khởi tố.
Vì thế, vấn đề này hiện vẫn đang gây ra nhiều tranh cãi trên thực tế.

Liệu “cưỡng hôn” có đủ cấu thành tội dâm ô với trẻ em?

Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì đủ yếu tố cấu thành tội dâm ô với người dưới 16 tuổi. Tuy nhiên, cách hiểu về hành vi dâm ô đang có nhiều ý kiến trái chiều.

Nhiều tranh cãi xung quanh hành vi “dâm ô”

Câu chuyện tranh cãi gần đây bắt đầu từ câu chuyện giáo viên của một trường tiểu học tại tỉnh Bắc Giang uống rượu sau đó dạy phụ đạo cho học sinh. Trong quá trình dạy, ông này đã có nhiều hành vi véo tai, véo mũi, xoa lưng, vỗ mông… học sinh nữ. Tuy nhiên, sau một thời gian điều tra làm rõ, Công an xác định chưa đủ căn cứ chứng minh thầy giáo có hành vi dâm ô với người dưới 16 tuổi.
Câu chuyện gây tranh cãi tiếp theo mới xảy ra gần đây nhất đó là việc một người đàn ông “cưỡng hôn” một bé gái trong thang máy chung cư tại thành phố Hồ Chí Minh. Trước sự kiện này đã có nhiều tranh cãi nảy lửa. Người thì cho rằng “cưỡng hôn” như vậy đã quá rõ cho hành vi dâm ô. Tuy nhiên người khác đưa ra ý kiến phải có hành vi động chạm vào bộ phận sinh dục của nạn nhân thì mới cấu thành tội dâm ô với trẻ em.
Nhiều người lo lắng với hành vi “cưỡng hôn” bé gái thì ông này chỉ bị xử phạt 200.000 đồng giống như một vụ vi phạm hành chính đã từng rầm rộ trước đó.

Kẽ hở của pháp luật?

Theo nhiều chuyên gia pháp luật, hiện nay dường như đang chưa có sự phân biệt rõ ràng hành vi “dâm ô” và “quấy rối tình dục”. Theo đó, dâm ô có thể được hiểu là hành vi bất kỳ đối với người khác nhằm kích thích hoặc thỏa mãn tình dục của bản thân. Còn quấy rối tình dục được hiểu là hành vi có tính chất tình dục, dùng lời nói hoặc cơ thể để khơi gợi tình dục không mong muốn.
Nói cách khác, dâm ô được thể hiện đa dạng, nhưng để xác định được phải dựa vào mục đích của chủ thể thực hiện hành vi. Nhiều người cho rằng phải có hành vi sờ vào bộ phận sinh dục mới là dâm ô. Tuy nhiên, một bác sỹ nam đỡ đẻ dù có sự động chạm vào cơ quan sinh dục của phụ nữ cũng không thể coi là dâm ô. Dâm ô nếu hành vi chứa đựng ý thức thỏa mãn sinh lý nhưng không bằng giao cấu. Sờ đùi, sờ mông, cưỡng hôn cũng là dâm ô nếu để thỏa mãn sinh lý.
Liệu có phải nhiều người vẫn đang dựa vào sự mù mờ này để gây ra những sự việc đau lòng gây bức xúc trong xã hội?

Cần có hướng dẫn cụ thể hơn về Tội dâm ô với người dưới 16 tuổi

Trên thực tế, hệ thống pháp lý của Việt Nam đang có những khoảng trống nhất định. Qua 2 trường hợp kể trên có thể nhận ra những lỗ hổng trong các tội phạm về tình dục. Việc pháp luật chưa thể đưa ra những hướng dẫn cụ thể, chính xác tạo ra khó khăn nhất định trong công tác áp dụng pháp luật.
Theo thống kê từ Bộ Công an, năm 2018 có 1.269 số vụ án xâm hại tình dục trẻ em (chiếm 82% so với tổng số vụ xâm hại trẻ em). Tuy nhiên, do tâm lý của người phương Đông đây có lẽ chưa phải là con số thực tế.
Vì thế, để góp phần ngăn chặn có hiệu quả tội phạm xâm hại tình dục, có lẽ đã đến lúc cần có những hướng dẫn cụ thể để nhận thức thống nhất về hành vi này nói chung và tội dâm ô với trẻ em dưới 16 tuổi nói riêng.

Chuyến thăm của những vị khách đặc biệt đến từ nước bạn Lào

Trong khuôn khổ hợp tác tư pháp giữa hai nước Việt Nam – Lào, sáng nay ngày 03 tháng 4 năm 2019, đông đảo cán bộ, học viên lớp đào tạo chung nguồn Thẩm phán, Kiểm sát viên và luật sư nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đang học tập và nghiên cứu tại Học viện Tư pháp đã đến thăm và làm việc tại Văn phòng Luật sư Hoàng Hưng. Đi cùng đoàn có các Thầy Cô giáo là cán bộ, giảng viên của Học viện Tư Pháp.
https://www.facebook.com/hoanghunglaw/videos/277336776516671/
Đón tiếp đoàn, Thạc sĩ, Luật sư Hoàng Văn Hướng – Trưởng Văn phòng  bày tỏ sự xúc động và vinh dự khi giao lưu, gặp gỡ các Cán bộ, Học viên đến từ nước bạn Lào. Trong buổi làm việc, Luật sư Hoàng Văn Hướng đã giới thiệu về cơ cấu tổ chức của Văn phòng; chia sẻ với đoàn những kinh nghiệm, kỹ năng cũng như những khó khăn vướng mắc trong quá trình hoạt động nghề Luật sư.


Chuyến thăm và làm việc của đoàn công tác đến từ nước Bạn Lào không chỉ là niềm vui, niềm vinh dự của Văn phòng Luật sư Hoàng Hưng mà còn hứa hẹn sự phát triển, hội nhập của nền tư pháp Việt Nam nói chung và sự nghiệp bảo vệ công lý của Luật sư Việt Nam nói riêng./.