Hạn chế, bất cập trong xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật về nghĩa vụ quân sự
Thời gian gần đây, tỉ lệ thanh niên không chấp hành pháp luật nghĩa vụ tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định có chiều hướng gia tăng; tuy nhiên, việc xử lý còn chậm, thiếu tính giáo dục và răn đe, nhiều trường hợp thể hiện sự lúng túng, thậm chí bế tắc trong khâu xử lý hình sự.
Trong những năm qua, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định luôn được đánh giá là đơn vị dẫn đầu trong việc hoàn thành chỉ tiêu giao quân hàng năm; tuy nhiên gần đây, tình trạng thanh niên không chấp hành pháp luật nghĩa vụ có biểu hiện gia tăng; trong đó trường hợp không chấp hành lệnh khám sức khoẻ gia tăng đột biến, từ 128 trường hợp (năm 2018) lên 379 trường hợp (năm 2019), có trường hợp tái phạm đến 03 lần; năm 2018, có 03 xã lập hồ sơ, báo cáo kiến nghị xử lý hình sự đối với 11 trường hợp vi phạm có tính chất tái phạm, trong đó có 06 trường hợp vi phạm do không chấp hành lệnh khám sức khỏe.
Đâu là nguyên nhân?
Theo chủ thể xử phạt vi phạm hành chính cũng như các cơ quan tiến hành tố tụng cấp huyện, việc xác lập hồ sơ ban đầu để xử lý thanh niên vi phạm thuộc trách nhiệm của cấp cơ sở; tuy nhiên, do trình độ và năng lực của một số xã đội trưởng còn hạn chế nên thiếu chặt chẽ, quy trình còn thiếu nhưng không thể khắc phục được. Sự hạn chế này dẫn đến tuy hành vi vi phạm (trốn lệnh nhập ngũ) đã được quy định trong Bộ luật Hình sự nhưng thiếu sót trong khâu lập thủ tục nên không thể xử lý được; có trường hợp hồ sơ tương đối chặt chẽ nhưng hành vi vi phạm chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự dẫn đến tình trạng lúng túng, hay nói đúng hơn là bế tắc trong quá trình xử lý về hình sự, nhất là đối với các trường hợp không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe.
Việc quyết định xử phạt vi phạm hành chính nói chung, đối với hành vi không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe nói riêng, chủ thể xử phạt là chủ tịch UBND các xã, thị trấn chưa thực hiện đúng nguyên tắc về xử phạt (tính chất, mức độ; hậu quả và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ) từ đó nảy sinh tình trạng cào bằng, trung bình trong xử phạt.
Ngoài ra, quy định về xử phạt, trong đó có mức xử phạt vi phạm pháp luật nghĩa vụ quân sự đã khá lạc hậu không đáp ứng được yêu cầu phòng, chống vi phạm pháp luật. Dễ nhận thấy, sở dĩ các trường hợp bị xử phạt dù nặng hay nhẹ; dù xử phạt ở mức cao nhất hay trung bình của khung xử phạt cũng không nảy sinh tình trạng khiếu nại quyết định xử phạt. Cũng có lẽ, do mức phạt tối đa đối với hành vi không chấp hành lệnh nhập ngũ cũng chỉ 2,5 triệu đồng, chênh lệch khoản cách giữa các khung cũng chỉ 500.000đ; mức phạt tối đa đối với hành vi không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe cũng chỉ 1,2 triệu đồng, chênh lệch giữa các khung chỉ 200.000 đồng.
Có thể nói, chế tài xử phạt và khoản cách giữa các khung phạt như quy định hiện nay còn khá thấp. Có trường hợp không chấp hành lệnh khám sức khỏe 03 năm liên tục nhưng chỉ bị phạt tổng cộng 3,4 triệu đồng (cho lần xử phạt đầu tiên được đánh giá là không có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ 1 triệu đồng; cho 02 lần tiếp theo được đánh giá là tái phạm, áp dụng mức khung tăng nặng 1,2 triệu đồng/ lần); có trường hợp, năm trước bị xử phạt hành chính về hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ bị phạt 2,5 triệu đồng, năm sau đó vi phạm về hành vi không chấp hành lệnh khám sức khỏe, bị phạt 1,2 triệu đồng. Điều đó cho thấy, người vi phạm đã cố tình “lách luật” bằng cách hoặc chỉ vi phạm không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe với mức phạt thấp hơn; hoặc trốn theo kiểu “giã gạo”, nếu năm trước bị xử phạt về hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ thì năm sau không chấp hành lệnh khám sức khỏe (sẽ không bị xử lý hình sự và mức phạt sẽ thấp hơn).
Quy định về xử lý hình sự đối với các trường hợp không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe mang tính chất tái phạm thiếu tính thống nhất giữa Bộ luật Hình sự 2015 và Luật Nghĩa vụ quân sự 2015 dẫn đến ách tắc, không xử lý hình sự được. Năm 2018, UBND các xã, thị trấn đã lập thủ tục và đề nghị cơ quan cảnh sát điều tra huyện xử lý hình sự 11 trường hợp. Tuy nhiên, hầu hết các cơ quan tiến hành tố tụng đều cho rằng cơ sở xác định trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 2 Bộ luật Hình sự năm 2015 là “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Điều đó cũng có nghĩa là, chỉ được xử lý hình sự những hành vi đã được quy định trong Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 332 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữu đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”. Như vậy, đối chiếu với quy định mang tính liệt kê trên thì về mặt khách quan của tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự chỉ 03 hành vi độc lập (không đăng ký, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, không chấp hành lệnh gọi tập trung huấn luyện); hành vi không chấp hành lệnh khám sức khỏe chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015 và được hiểu là độc lập với hành vi “không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự” như quy định tại Khoản 1 Điều 332 Bộ luật Hình sự.
Trong khi đó, tại Khoản 8 Điều 3 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 quy định “Trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự là hành vi không chấp hành lệnh gọi đăng ký nghĩa vụ quân sự; lệnh gọi khám sức khoẻ nghĩa vụ quân sự; lệnh gọi nhập ngũ; lệnh gọi tập trung huấn luyện, diễn tập…”. Tại Nghị định số 13/2016/NĐ-CP ngày 19/2/2016 của Chính phủ quy định về trình tự, thủ tục đăng ký, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự thì việc sau khi công dân đăng ký, Ban chủ huy quân sự cấp giấy chứng nhận đăng ký nghĩa vụ quân sự cho công dân; Chương 2 của Nghị định quy định về trình tự, thủ tục đăng ký nghĩa vụ quân sự; tuy nhiên, việc gọi công dân khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự không được đề cập như một bước thủ tục, quy trình của sau việc đăng ký nghĩa vụ quân sự. Như vậy, việc gọi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự được thực hiện sau khi đăng ký nghĩa vụ quân sự; là bước trung gian, mang tính độc lập giữa đăng ký nghĩa vụ quân sự và gọi công dân nhập ngũ. Do đó, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự không được xem là tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”.
Cần sớm sửa đổi, bổ sung chế tài xử phạt
Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong việc thực thi pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm pháp luật nghĩa vụ quân sự, cần sớm sửa đổi, bổ sung Nghị định số 120/2013/NĐ-CP ngày 09/10/2013 của Chính phủ theo hướng nâng mức phạt tiền, tăng khoảng cách giữa các mức phạt đối với hành vi không chấp hành lệnh gọi khám sức khoẻ để bảo đảm tính răn đe.
Về xử lý hình sự đối với hành vi không chấp hành lệnh khám sức khỏe có yếu tố tái phạm, cần sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 332 Bộ luật Hình sự theo hướng liệt kê thêm hành vi không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe; đồng thời sửa đổi quy định tại Chương 2, Nghị Định số 13/2016/NĐ-CP ngày 19/2/2016 của Chính phủ quy định về trình tự, thủ tục đăng ký, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự theo hướng: Hoặc bổ sung cụm từ “và các hành vi vi phạm pháp luật nghĩa vụ quân sự khác” (bao hàm cả hành vi không chấp hành lệnh gọi khám sức khỏe); hoặc lấy nguyên tắc trường hợp có xung đột thì ưu tiên sử dụng luật chuyên ngành quy định trong Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 2015 để tháo gỡ vướng mắc.
Trước mắt, các cơ quan chức năng cần sớm có văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật theo Điều 332 Bộ luật Hình sự, Điều 3 Luật Nghĩa vụ quân sự về tội trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự, làm cơ sở cho việc xử lý đúng pháp luật, bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần phục vụ nhiệm vụ chính trị tại các địa phương trong cả nước nói chung, tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định nói riêng.
Về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015.
Hành vi cho vay nặng lãi hiện nay đang có xu hướng lan rộng ở cả thành thị và nông thôn; tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây nguy hiểm cho xã hội, làm gia tăng tội phạm khác như: cố ý gây thương thương tích, cướp tài sản hoặc cưỡng đoạt tài sản… Việc xử lý hình sự đối với tội phạm “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” là hết sức cần thiết và có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Tóm tắt nội dung vụ án:
Trong thời gian từ tháng 6/2018 đến tháng 12/2018 Nguyễn Văn B đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết về pháp luật và hoàn cảnh khó khăn của người dân, nên Nguyễn Văn B  đã làm các tờ rơi quản cáo có nội dung cho vay nhanh, gọn; không cần thế chấp; giải ngân trong ngày, Nguyễn Văn B đã cho 53 người với 119 lượt vay tại các huyện  trong tỉnh QN, tổng số tiền 524.000.000 đồng, đến lúc bị bắt Nguyễn Văn B đã thu được 463.470.000 đồng. Trong đó: tiền gốc là 355.385.240 đồng, tiền lãi là 108.084.760 đồng, lãi suất thấp nhất là 319%/năm, cao nhất là 473%/năm cao hơn so với quy định trong Bộ luật dân sự từ 16,45 đến 23,65 lần (trong đó lãi xuất 20% theo Bộ luật dân sự là 6.572.603 đồng, lãi suất vượt trên 20% là 101.512.157 đồng) và 25.050.000 đồng tiền công thu thêm.
Trong quá trình truy tố và xét xử, các Cơ quan tiến hành tố tụng đã thống nhất về tội danh Nguyễn Văn B phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự 2015; Tuy nhiên trong việc áp dụng các biện pháp tư pháp vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến xác định tư cách của người vay (bên nhận nợ) là người Bị hại được quy định tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hay Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quy định tại Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Quan điểm thứ nhất: Người vay (bên nhận nợ) là người Bị hại được quy định tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 do đó trong quá trình xét xử phải tuyên trả lại người vay đối với tiền lãi vay 108.084.760 đồng và tiền thu thêm (phụ thu) 25.050.000 đồng vì đây là thiệt hại của người vay theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đối với tiền cho vay 524.000.000 đồng : Đây là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên phải tuyên sung công quỹ nhà nước.
Quan điểm thứ hai: Người vay (bên nhận nợ) là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quy định tại Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 do đó số tiền thu lợi bất chính là 101.512.157 đồng mà Nguyễn Văn B đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” (108.084.760 đồng – 6.572.603 đồng) phải bị tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo điểm b khoản 1 và khoản 3 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đối với khoản lãi được pháp luật cho phép (20%/năm) là 6.572.603 đồng và số tiền cho vay 524.000.000 đồng là giao dịch dân sự mà nhà nước không cấm nên các bên tự thỏa thuận.
Quan điểm thứ ba: Người vay (bên nhận nợ) là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quy định tại Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và xác định hợp đồng vay mượn này là giao dịch dân sự vô hiệu vì vi phạm điều cấm của pháp luật nên áp dụng Điều 123, 131 Bộ luật Dân sự năm 2015, các bên “hoàn trả cho nhau những gì đã nhận” tức là bên cho vay hoàn trả toàn bộ khoản lãi vay 108.084.760 đồng và khoản thu thêm 25.050.000 đồng cho bên vay và bên vay trả lại toàn bộ gốc cho bên cho vay là 524.000.000 đồng.
Tác giả bài viết cho rằng, quan điểm thứ hai là đúng, vì:
Tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” là loại tội phạm nằm trong chương xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; giao dịch dân sự vay và cho vay tài sản  nhà nước không cấm và được quy định từ Điều 463 đến Điều 471 Chương “ Hợp đồng vay tài sản” của Bộ luật Dân sự năm 2015, lãi suất quy định tại Điều 468 cao nhất không được vượt quá 20%/ năm; như vậy nhà nước chỉ điều chỉnh khoản lãi xuất vượt trên 20% và chỉ bị điều chỉnh bởi pháp luật hình sự khoản lãi vay gấp 5 lần mức cao nhất do Bộ luật Dân sự quy định;
Do đó Số tiền thu lãi vượt quy định  101.512.157 đồng ( số lãi suất trên 20%)  và số tiền thu thêm là 25.050.000 đồng (tiền thu ngoài lãi xuất) là tiền thu lợi bất chính nên phải bị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; bởi vì Bên vay chấp nhận lãi suất mà Nguyễn Văn B đã đưa ra tuy không bị ép buộc nhưng so với quy định của pháp luật là trái pháp luật hình sự,  bên đi vay cũng có lỗi. Căn cứ điểm b khoản 1 và khoản 3 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 phải bị tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền gốc  524.000.000 đồng ( tiền cho vay)  và lãi vay trong khoảng 20% theo quy định của Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 là giao dịch dân sự các bên tự thỏa thuận vì không vi phạm điều cấm của pháp luật./.
Chuẩn bị phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015

Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện, thành lập, tham gia nhóm tội phạm hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm. Nội dung này được quy định tại Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Điều 14. Chuẩn bị phạm tội
1. Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.
2. Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.
3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

 

Bình luận về Chuẩn bị phạm tội trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

– Tội phạm có thể thực hiện đến cùng khi người phạm tội đã đạt được mong muốn của họ. Tuy nhiên cũng nhiều trường hợp tội phạm không thực hiện được đến cùng (không như mong muốn ban đầu của họ) vì những nguyên nhân khách quan khác. Để phân hóa trách nhiệm hình sự đảm bảo nguyên tắc công bằng, Luật hình sự phân chia quà trình thực hiện tội phạm thành các giai đoạn tương ứng với mỗi giai đoạn thì trách nhiệm hình sự không giống nhau bởi lẽ, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hộicủa mỗi giai đoạn là khác nhau.
– Các giai đoạn thực hiện phạm tội là quá trình thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp thể hiện mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và kéo theo đó là mức độ trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải gánh chịu tương ứng với các giai đoạn thực hiện tội phạm.
– Như vậy, việc xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc của mỗi giai đoạn phạm tội là rất quan trọng. Xác định không đúng thời điểm này sẽ hoặc xử lý quá nặng hoặc quá nhẹ không tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Các giai đoạn thực hiện phạm tội chỉ xảy ra đối với lỗi cố ý trực tiếp. Lỗi cố ý gián tiếp và vô ý không có giai đoạn mà chỉ có việc có hoặc không phạm tội. Bên cạnh đó, phải xác định biểu hiện khách quan của các hành vi phạm tội trong mỗi giai đoạn đó
– Điều luật đang bình luận quy định về giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình phạm tội thể hiện ra ngoài thế giới khách quan và trách nhiệm hình sự được đặt ra (giai đoạn hình thành âm mưu, dự định, toan tính… diễn ra trong ý thức người phạm tội thì không đặt ra vấn đề trách nhiệm hình sự cho dù nó có nguy hiểm đến đâu.

– Về thời điểm của giai đoạn chuẩn bị phạm tội:

+ Thời điểm bắt đầu của chuẩn bị phạm tội: là thời điểm người phạm tội bắt đầu có hành vi thể hiện ra bên ngoài thế giới khách quan bằng hành vi chuẩn bị tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hiện phạm tội.
+ Thời điểm chấm dứt của giai đoạn chuẩn bị phạm tội: Là thới điểm ngay trước khi thực hiện hành vi được mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm hoặc ngay trước khi thực hiện hành vi liền trươcs hành vi khách quan. Ở đây cần giải thích khái niệm “hành vi liền trước hành vi khách quan”. Giữa giai đoạn chuẩn bị phạm tội và giai đoạn phạm tội chưa đạt có một giai đoạn chung gian được gọi là giai đoạn thực hiện hành vi liền trước hành vi khách quan . Hành vi này không phải là hành vi chuẩn bị cũng không phải hành vi khách quan của cấu thành tội phạm mà nó mang tính chất hỗ trợ hành vi khách quan. Ví dụ A giơ súng lên chuẩn bị bóp cò. Giơ súng lên không phải là hành vi chuẩn bị như liệt kê các hành vi chuẩn bị ở Điều này cũng không phải hành vi khách quan của tội giết người(bóp cò).

– Các hành vi bị coi là hành vi chuẩn bị bao gồm:

+ Tìm kiếm, sửa soạn công cụ phương tiện: Công cụ phạm tội là những vật, bộ phận của thế giới khách quan tách rời người phạm tội mà họ dùng để tác động vào đối tượng phạm tội, ví dụ: vũ khí, hung khí, gậy guộc, dây trói… Phương tiện phạm tội là những vật dùng để tạo điều kiện cho việc phạm tội được thuận lợi như xe máy dùng để cướp giật, thang để leo vào nhà… Tìm kiếm công cụ, phương tiện là biện pháp có được công cụ phương tiện, ví dụ: đi mua súng để giết người. Sửa soạn công cụ phương tiện là việc người phạm tội tự chế tạo công cụ phương tiện
+ Tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm: Chuẩn bị kế hoạch phạm tội, thăm dò quy luật sinh hoạt của người bị hại, tìm người giúp đỡ, tìm nơi cất giấu tang vật của tội phạm…
+ Thành lập, tham gia nhóm tội phạm: là hành vi rủ rê, lôi kéo, cưỡng bức, lừa gạt, tụ tập người khác tham gia vào nhóm tội phạm hoặc tham gia với tư cách là thành viên của nhóm tội phạm. Ở đây, loại trừ trường hợp thành lập, tham gia tổ chức tội phạm đã cấu thành tội độc lập quy định tại Điều 109, Điểm a Khoản 2 Điều 299 của Bộ luật hình sự.

– Trách nhiệm ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội:

+ Mặc dù hành vi đã thực hiện ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội chưa tác động vào đối tượng tác động của tội phạm để gây thiệt hại cho xã hộ nhưng họ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Bởi vì:
+ Bản chất của chuẩn bị phạm tội là hành bi tiền đề tạo điều kiện cho việc thực hiện tội phạm. Hành vi này luôn tới việc đạt một mục đích nhất định. Chính nó quyết định tội phạm có xảy ra hay không và xảy ra như thế nào.
+ Một tội phạm khi thực hiện mà có sự chuẩn bị thì tính nguy hiểm cho xã hội của nó cao hơn so với trường hợp không có sự chuẩn bị. Trong ý thức chủ quan của can phạm là mong muốn tiếp tục thực hiện tội phạm đến cùng. Việc dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn.
– Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Người chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng. Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn đầu của quá trình phạm tội tuy nhiên, tính chất mức độ nguy hiểm còn thấp, người phạm tội mới thực hiện hành vi chuẩn bị, chưa thực hiện hành vi phạm tội quy định trong cấu thành tội phạm, khách thể chưa bị xâm phạm, hậu quả chưa xảy ra… Chính vì vậy, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 đã thu hẹp phạm vi các tội mà người phạm tội chuẩn bị thực hiện phải chịu trách nhiệm hình sự. Theo khoản 2, khoản 3 Điều luật này, người chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự được chia thành hai nhóm:
+ Nhóm 1: Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các Điều 108, 109, 120, 121, 122, 123, 134, 168, 207, 299, 300, 301, 302, 303, và 324 của Bộ luật hình sự.
+ Nhóm 2: Người từ 14 tuổi đến 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 Bộ luật hình sự.
– Trách nhiệm hình sự của người phạm tội ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội cũng nhẹ hơn so với các giai đoạn sau nó được quy định cụ thể trong từng điều luật quy định về tội phạm cụ thể.
– Lưu ý: Nếu hành vi chuẩn bị phạm tội đã cấu thành một tội độc lập thì người phạm tội chịu trách nhiệm hình sự về tội độc lập đó và tội họ định thực hiện ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội.
Ví dụ: A có ý định giết B. A đã mua một khẩu súng với mục đích để giết B, nhưng chưa kịp hành động giết B thì bị phát hiện. Trường hợp A phải chịu trách nhiệm về tội mua bán trái phép vũ khí quân dụng và tội giết người ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)