Vấn đề trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án cấp sơ thẩm

Trong phạm vi bài viết này, những hạn chế của việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án được chỉ ra, cùng với đó là những nguyên nhân cũng như định hướng khắc phục những hạn chế đó.

1. Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án cấp sơ thẩm

1.1. Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
Có 4 căn cứ để Tòa án trả hồ sơ cho VKS để yêu cầu điều tra bổ sung. Các căn cứ này được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP về quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện quy định của BLTTHS về trả hồ sơ để điều tra bổ sung, cụ thể:
Thứ nhất, khi thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong số những vấn đề được quy định tại Điều 85 BLTTHS mà không thể bổ sung tại phiên tòa được. Theo khoản 2, 3 Điều 3 Thông tư số 02/2017 thì chứng cứ để chứng minh những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự theo điểm a khoản 1 Điều 280 BLTTHS là chứng cứ dùng để chứng minh một hoặc nhiều vấn đề quy định tại Điều 85, Điều 441 của BLTTHS mà nếu thiếu những chứng cứ này thì không thể giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, đúng pháp luật. Các chứng cứ để chứng minh: có hành vi phạm tội xảy ra hay không; thời gian, địa điểm, những tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi; có năng lực trách nhiệm hình sự không; mục đích, động cơ phạm tội; có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không; tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; nguyên nhân và điều kiện phạm tội; những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt; xác định tuổi đối với người dưới 18 tuổi; vị trí, vai trò của từng bị can, bị cáo trong đồng phạm, phạm tội có tổ chức; xác định trách nhiệm dân sự của từng bị cáo và chứng minh điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.
Thứ hai, khi có căn cứ cho rằng bị can hoặc bị cáo còn thực hiện hành vi khác mà BLHS quy định là tội phạm. Theo đó, có hai trường hợp có thể xảy ra:
– VKS đã truy tố bị can về một hay nhiều tội nhưng chứng cứ trong hồ sơ lại cho thấy hành vi của bị can, bị cáo đã thực hiện cấu thành một hay nhiều tội khác.
– Ngoài hành vi phạm tội mà VKS đã truy tố, chứng cứ lại cho thấy còn có căn cứ để khởi tố bị can, bị cáo về một hay nhiều tội khác.
Tuy nhiên, có một vài trường hợp bị can, bị cáo có thực hiện hành vi khác mà BLHS quy định là tội phạm nhưng Tòa án không trả hồ sơ điều tra bổ sung, đó là:
– Trường hợp VKS truy tố về một hay nhiều tội nhưng chứng cứ lại cho thấy có thể xử bị can, bị cáo về một hay nhiều tội khác tương ứng bằng hoặc nhẹ hơn, xử ít tội hơn số tội mà VKS truy tố.
– Đã có quyết định tách vụ án hoặc có căn cứ để tách vụ án nếu xứt thấy việc tách vụ án đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện và đã có quyết định tạm đình chỉ vụ án (khoản 2 Điều 242 BLTTHS năm 2015).
Thứ ba, khi có căn cứ cho rằng còn đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can.
Thứ tư, khi việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng. Có thể hiểu, “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” là trong quá trình điều tra, tuy tố, xét xử, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định, do đó xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án (khoản 1 Điều 4 thông tư liên tich số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC). Các trường hợp cụ thể được coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng được liệt kê trong khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tích số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC_BCA-BQP.
1.2. Thẩm quyền, thủ tục, số lần, thời hạn trả hồ sơ điều tra bổ sung của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
Thứ nhất, về thẩm quyền: Căn cứ khoản 1 Điều 280 BLTTHS, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa là người có thẩm quyền ra quyết định trả hồ sơ bổ sung cho VKS. Nội dung yêu cầu điều tra bổ sung phải ghi rõ trong quyết định.
Thứ hai, về thủ tục trả hồ sơ: Trước tiên, trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, nếu phát hiện một trong các căn cứ để trả hồ sơ điều tra bổ sung thì Thẩm phán phải trao đổi với Kiểm sát viên để có biện pháp khắc phục mà không cần trả hồ sơ. Nếu Kiểm sát viên phát hiện căn cứ trả hồ sơ thì có văn bản đề nghị Tòa án trả hồ sơ. Quyết định trả hồ sơ phải gửi cho VKS cùng cấp kèm theo hồ sơ trong thời hạn 3 ngày từ ngày ra quyết định.

Thứ ba, về số lần Tòa án được trả hồ sơ để điều tra bổ sung: Theo quy định tại khoản 2 Điều 174 BLTTHS 2015 thì trường hợp Tòa án trả hồ sơ thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 01 tháng, đồng thời Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung 01 lần và HĐXX được trả hồ sơ điều tra bổ sung 01 lần.
Thứ tư, về thời hạn điều tra bổ sung: Theo khoản 2 Điều 274, trường hợp Tòa án trả lại hồ sơ điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 01 tháng, tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ và yêu cầu điều tra. Vấn đề đặt ra ở đây là luật không có quy định thời hạn VKS chuyển hồ sơ và quyết định điều tra bổ sung cho CQĐT bởi Tòa án trả hồ sơ cho VKS chứ không trả trực tiếp cho cơ quan điều tra. Liên quan đến vấn đề này, Thông tư liên tích số 02/2017 đã có quy định hướng dẫn tuy nhiên cũng mới dừng lại ở quy định chung chung là “VKS ra quyết định…chuyển ngay cho cơ quan điều tra…”. Vậy, “ngay” là bao lâu hiện nay vẫn chưa được giải thích cụ thể.
1.3. Căn cứ, thẩm quyền trả hồ sơ điều tra bổ sung tại phiên tòa sơ thẩm
Hiện nay, pháp luật TTHS vẫn chưa có quy định cụ thể về căn cứ cũng như thẩm quyền trả hồ sơ điều tra bổ sung tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên, khoản 6 Điều 326 BLTTHS lại quy định rằng khi kết thúc nghị án, HĐXX phải quyết định một trong số các vấn đề luật định, trong đó có vấn đề “Trả hồ sơ vụ án để VKS điều tra bổ sung; yêu cầu VKS bổ sung tài liệu, chứng cứ”. Như vậy, tại phiên tòa sơ thẩm, khi xét thấy có một trong các trường hợp cần trả hồ sơ điều tra bổ sung như giai đoạn chuẩn bị xét xử, HĐXX hoàn toàn có thể ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
1.4. Thủ tục, số lần trả hồ sơ điều tra bổ sung của HĐXX tại phiên tòa sơ thẩm.
Thứ nhất, về thủ tục trả hồ sơ: Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 02/2017 thì việc trả hồ sơ phải lập thành văn bản, có chữ ký của người có thẩm quyền và ghi rõ nội dung cần điều tra bổ sung, những vi phạm thủ tục tố tụng cần khắc phục. Sau khi nhận được hồ sơ và quyết định trả hồ sơ của Tòa án, nếu xét thấy không thể tự bổ sung, VKS phải chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra, nếu thấy quyết định trả hồ sơ của Tòa án không có căn cứ thì VKS gửi văn bản nêu rõ lý do và chuyển lại hồ sơ cho Tòa án. Đối với cơ quan điều tra, sau khi nhận được hồ sơ phải tiến hành điều tra những nội dung trong quyết định. Sauk hi kết thúc điều tra phải ra kết luận điều tra bổ sung. Tùy thuộc vào kết luận điều tra, VKS thông báo, gửi văn bản cho Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
Thứ hai, về số lần trả hồ sơ của HĐXX tại phiên tòa sơ thẩm: Theo khoản 2 Điều 174 BLTTHS, HĐXX chỉ được trả hồ sơ điều tra một lần.
Như vậy, vấn đề trả hồ sơ điều tra bổ sung trong pháp luật TTHS nước ta đã ngày càng chi tiết và đầy đủ hơn, đáp ứng yêu cầu, diễn biến ngày càng phức tạp của tội phạm.

2. Thực trạng việc trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự những năm gần đây

Theo báo cáo tổng kết công tác ngành và số liệu thống kê kết quả thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp của ngành kiểm sát, từ năm 2013 đến 2017, Tòa án đã tiến hành trả hồ sơ điều tra bổ sung 9895 vụ trong tổng số 363503 vụ đã thụ lý, chiếm 2,72%. Đồng thời, số vụ trả hồ sơ tăng đỉnh điểm vào năm 2015 (tới 2.578 vụ trong tổng số 71.804 chiếm 3,59%). Trong đó, các vụ trả hồ sơ điều tra bổ sung nhìn chung tập trung vào các tội: Cố ý gây thương tích; cướp tài sản; vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; tàng trừ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. Thực trạng các trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung tập trung vào các trường hợp: thiếu chứng cứ quan trọng mà không thể bổ sung ngay tại phiên tòa; có mâu thuẫn về chứng cứ trong lời khai của người tham gia tố tụng…
Trước tiên, việc trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm có một số ưu điểm sau:
Thứ nhất, nhìn chung các vụ trả hồ sơ đều là cần thiết và có căn cứ. Những vấn đề cần bổ sung cũng được ghi rõ trong các quyết định trả hồ sơ, giúp VKS và cơ quan điều tra nhanh chóng bổ sung những chứng cứ cần thiết để làm rõ vấn đề. Đồng thời, các quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung đều được VKS tiếp nhận và tiến hành điều tra, chuyển cho cơ quan điều tra.
Thứ hai, việc trả hồ sơ được Tòa án thực hiện đúng quy trình, thủ tục theo pháp luật TTHS. Việc trả hồ sơ được lập thành văn bản ở dạng quyết định, do chủ thể có thẩm quyền ký nhận. Việc giao nhận hồ sơ, quyết định cũng được tiến hành đảm bảo đúng quy định của pháp luật TTHS.
Thứ ba, các quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung của Tòa án có căn cứ xác đáng, được VKS, cơ quan điều tra thực hiện nghiêm túc, kịp thời, bảo đảm việc xét xử nhanh chóng, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tuy nhiên, việc này vẫn còn những hạn chế nhất định, đó là:
Thứ nhất, việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án vẫn còn nhiều nhìn chung ở mức khoảng từ 2,26 – 3,59% (theo tổng hợp của vụ Thống kê tổng hợp VKSNDTC từ 2013-2017). Việc trả hồ sơ do thiếu chứng cứ quan trọng thường chiếm tỷ lệ cao, điều này cho thấy khả năng chuyên môn, nghiệp vụ cũng như trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng còn chưa tốt.
Thứ hai, vẫn còn tình trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung không có căn cứ xác thực dẫn đến việc VKS từ chối không tiến hành điều tra bổ sung theo yêu cầu của Tòa án (Cũng theo thống kê của Vụ thống kê tổng hợp VKSNDTC từ 2011-2015, có 433/9096 vụ Tòa án trả hồ sơ nhưng VKS không chấp nhận). Cá biệt, có trường hợp chứng cứ, tài liệu cần bổ sung nằm trong khả năng của Tòa án khi xét xử, không cần thiết phải trả hồ sơ nhưng vẫn ra quyết định trả hồ sơ cho VKS, làm chậm quá trình giải quyết án cũng như kinh phí phục vụ.
Thứ ba, nhiều trường hợp do kết luận của cơ quan điều tra đã nêu rõ nên Tòa án không thể trả hồ sơ điều tra bổ sung trong khi kết quả nghiên cứu hồ sơ lại cho thấy dấu hiệu chưa khách quan trong kết luận đó. Trong trường hợp này, cách xử lý mà hầu hết các Tòa án áp dụng là làm rõ tại phiên tòa. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung vẫn ở mức nhiều như hiện nay.

Những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Nguyên nhân khách quan có thể kể đến như: Tình hình tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp, phạm vi ngày càng lớn, thủ đoạn ngày càng tinh vi, tính chất nghiêm trọng ngày càng cao; số lượng án lớn và có xu hướng gia tăng theo các năm trong khi nhiều địa phương còn thiếu cán bộ so với biên chế và sự bất cập, hạn chế của pháp luật trong những quy định về vấn đề này. Bên cạnh đó là nguyên nhân chủ quan, xuất phát từ trình độ, năng lực của những người tiến hành tố tụng còn hạn chế, phiến diện, tinh thần trách nhiệm chưa cao hay sự phối hợp giữa các cơ quan, người tiến hành tố tụng chưa chặt chẽ, chưa có nhiều trao đổi, phối hợp trong hoạt động.

3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

Thứ nhất, quy định của BLTTHS 2015 về vấn đề này nhìn chung có nhiều thay đổi, bổ sung so với quy định trước, có nhiều nội dung mới hoàn toàn. Do đó, cần tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ, cơ quan, người tiến hành tố tụng về những nội dung này. Đồng thời, cần nâng cao trình độ chuyên môn, tinh thần trách nhiệm cho cán bộ, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan Tòa án, VKS, Cơ quan Điều tra trong việc trả hồ sơ điều tra bổ sung. Quy định rõ trách nhiệm của từng cơ quan trong cơ chế phối hợp giải quyết án.
Thứ hai, hiện nay quy định tại điểm b khoản 1 Điều 280 BLTTHS còn tạo ra nhiều trường hợp cho phép Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung. Theo đó, chỉ cần có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà VKS đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà BLHS quy định là tội phạm thì Tòa án sẽ tiến hành trả hồ sơ để điều tra bổ sung, không phụ thuộc vào việc hành vi đó có liên quan đến vụ án đang xét xử hay không. Do đó, có thể loại bỏ bớt những trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung bằng cách sửa đổi quy định này theo hướng chỉ nên quy định trường hợp hành vi khác của bị can đã thực hiện có liên quan đến vụ án VKS đã truy tố. Cụ thể, sửa đổi điểm b khoản 1 Điều 280 thành: “Có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà VKS đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà BLHS quy định là tội phạm và có liên quan đến vụ án mà VKS đã truy tố. Trường hợp bị can thực hiện hành vi khác mà BLHS quy định là tội phạm nhưng không liên quan đến vụ án sẽ tiến hành khởi tố vụ án mới”.
Thứ ba, hiện nay đang có sự mâu thuẫn giữa quy định tại điểm d khoản 1 Điều 280 BLTTHS và khoản 2 Điều 6 Thông tư số 02/2017 ở chỗ: Quy định của Thông tư nói rằng, Tòa án không trả hồ sơ điều tra bổ sung nếu có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nhưng không xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng trong khi BLTTHS lại quy định vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là căn cứ để trả hồ sơ điều tra bổ sung. Theo quan điểm của tác giả, quy định trong Thông tư là chưa phù hợp bởi như đã trình bày ở trên, hiện nay, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng được hiểu là trường hợp BTLLHS quy định bắt buộc phải làm nhưng cơ quan, người tiến hành tố tụng đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của người tham gia tố tụng. Do đó, khi đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đương nhiên sẽ xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của người tham gia tố tụng, do đó cần trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Vì vậy, nên điều chỉnh theo hướng bỏ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 TTLT số 02/2017/TTLT- VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP.
Thứ tư, pháp luật hiện hành không quy định về thời hạn cho VKS xem xét quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung của Tòa án. Đây là thiếu sót và nguyên nhân làm chậm quá trình giải quyết vụ án bởi khi Tòa án trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung, VKS sẽ tiến hành xem xét, quyết định tự bổ sung hoặc chuyển hồ sơ cho Cơ quan Điều tra tiến hành bổ sung các vấn đề mà Tòa án yêu cầu. Vì vậy, nếu không quy định thời hạn cho VKS, việc bổ sung có thể bị chậm và không cơ quan nào có trách nhiệm về sự chậm trễ đó. Do đó, cần bổ sung thêm quy định về thời hạn để VKS xem xét quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung của Tòa án, quyết định tự bổ sung hoặc chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra để rút ngắn thời gian tố tụng. Theo đề xuất, nếu như thời hạn Tòa án chuyển quyết định, hồ sơ cho VKS là 03 ngày thì cũng nên ghi nhận thời hạn VKS xem xét quyết định: “Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án, VKS phải xem xét, quyết định tự bổ sung hoặc chuyển hồ sơ cho Cơ quan Điều tra”.
Thứ năm, hiện nay Tòa án chỉ được trả hồ sơ điều tra bổ sung tối đa hai lần, một lần ở giai đoạn chuẩn bị xét xử và một lần tại phiên tòa. Quy định như vậy là nhằm hạn chế tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, kéo dài thời gian tố tụng của các chủ thể tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, thực tế có nhiều trường hợp sau khi trả hồ sơ điều tra bổ sung một lần vẫn còn những vấn đề cần điều tra bổ sung thêm mới có thể giải quyết vụ án một cách chính xác và khách quan. Trong những trường hợp đó, mặc dù rất cần thiết nhưng vẫn không thể trả hồ sơ điều tra bổ sung, dẫn đến khó khăn trong khi xét xử, ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết án. Do đó, cần thay đổi quy định về số lần trả hồ sơ điều tra bổ sung của Tòa án bằng quy định: “Việc trả hồ sơ điều tra bổ sung chỉ được thực hiện một lần đối với một nội dung nhất định”.
Thứ sáu, cùng với việc ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung, Tòa án cần phải ra quyết định hoãn phiên phiên tòa. Bản chất của hai quyết định này hoàn toàn khác nhau và việc ban hành mỗi loại quyết định cũng dẫn đến những hệ quả pháp lý khác nhau. Bản thân quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung sẽ khiến phiên tòa không thể tiếp tục, nhưng không có nghĩa, khi có quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung là phiên tòa sẽ chấm dứt về mặt hình thức. Thay vào đó, phiên tòa vẫn đang tiếp tục được xét xử mặc dù trên thực tế phiên tòa này đã bị dừng lại để chờ kết quả điều tra bổ sung. Do đó, cần bổ sung quy định việc Tòa án ra quyết định hoãn phiên tòa đi kèm với quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, thời hạn hoãn phiên tòa trong trường hợp này không giống như các trường hợp quy định tại Điều 297 BLTTHS năm 2015. Do đó, cần có quy định riêng cho trường hợp này là “Thời hạn hoãn phiên tòa sẽ hết khi Tòa án nhận lại hồ sơ và tiếp tục giải quyết vụ án”.

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)

Bàn về thời hạn trong trường hợp án trả hồ sơ điều tra bổ sung

Sau khi nhận hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và thụ lý vụ án theo Điều 276 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) và trong thời hạn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự tại Điều 277 BLTTHS, Tòa án sẽ ra một trong các quyết định: Đưa vụ án ra xét xử, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, tạm đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án.
Theo đó, căn cứ Điều 280 BLTTHS và hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22 tháng 12 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc Phòng quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ điều tra bổ sung (gọi tắt Thông tư liên tịch số 02/2017), Tòa án sẽ ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong trường hợp như thiếu chứng cứ, có hành vi phạm tội khác, có đồng phạm khác… Vấn đề cần bàn là trong trường hợp Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra được tính như thế nào? Theo khoản 2 Điều 174 BLTTHS “Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 02 tháng; nếu do Tòa án trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 01 tháng”. Viện kiểm sát chỉ được trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hai lần. Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần và Hội đồng xét xử chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần. “Thời hạn điều tra bổ sung tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra bổ sung”. Tuy pháp luật tố tụng hình sự quy định như vậy nhưng thực tiễn áp dụng thời hạn điều tra bổ sung vẫn còn quan điểm áp dụng không thống nhất:
Thứ nhất, sau khi Viện kiểm sát nhận quyết định và hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án, nếu quyết định yêu cầu điều tra bổ sung có căn cứ thì Viện kiểm sát sẽ xem xét, giải quyết yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án theo hai trường hợp thuộc khoản 1 Điều 246 BLTTHS, một là không cần phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để bổ sung tài liệu, chứng cứ; hai là Viện kiểm sát không thể tự điều tra bổ sung được thì Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và chuyển ngay hồ sơ cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra. Như vậy, khi căn cứ khoản 2 Điều 174 BLTTHS thì trường hợp Tòa án trả hồ sơ mà Viện kiểm sát xét thấy không cần phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra thì thời hạn Viện kiểm sát trực tiếp điều tra bổ sung là mấy tháng và kể từ ngày nào? Theo tác giả, thời hạn này là không quá 01 tháng kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được hồ sơ và quyết định yêu cầu điều tra bổ sung (xem mục 32, Công văn số 5024/VKSTC-V14 ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc giải đáp vướng mắc liên quan đến quy định của BLTTHS và nghiệp vụ THQCT, kiểm sát việc giải quyết vụ án hình sự trong ngành KSND).

Thứ hai, thực tiễn áp dụng cho thấy trường hợp Viện kiểm sát không thể tự điều tra bổ sung theo khoản 1 Điều 246 BLTTHS thì Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung vẫn còn xảy ra mâu thuẫn về cách tính thời hạn giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát vì có ý kiến cho rằng thời hạn điều tra bổ sung trong trường hợp này là 02 tháng tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra bổ sung nhưng cũng có ý kiến cho rằng 01 tháng. Theo tác giả học luật, trong trường hợp này, thời hạn điều tra bổ sung là 01 tháng tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra bổ sung, bởi lẽ trường hợp này phải tính là Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung (theo tinh thần của Thông tư liên tịch số 02/2017 tại điểm d khoản 3 Điều 14 chứ không phải thuộc trường hợp Viện kiểm sát trực tiếp trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung theo Điều 245 BLTTHS).
Một vấn đề khác cần bàn là theo khoản 1 Điều 246 BLTTHS, Thông tư liên tịch số 02/2017 và Quy chế Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự (Ban hành kèm theo Quyết định số 505/QĐ-VKSTC ngày 18 tháng 12 năm 2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao) chưa quy định thời hạn Viện kiểm sát xem xét hồ sơ do Tòa án trả để quyết định trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung cho Cơ quan điều tra. Mặt khác, luật cũng chưa quy định trường hợp Viện kiểm sát sau khi đã trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhưng không thể điều tra bổ sung được (do vấn đề khách quan) thì Viện kiểm sát mới ra quyết định trả hồ sơ cho cơ quan điều tra để điều tra bổ sung được hay không? Do chưa có quy đinh cụ thể về thời hạn này nên việc áp dụng vẫn còn tùy nghi và có thể kéo dài thời hạn tố tụng.
Bên cạnh đó, cần chú ý rằng thời hạn chuẩn bị xét xử đối với trường hợp Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung được quy định giới hạn trong thời hạn theo khoản 2 và khoản 3 Điều 277 BLTTHS. Tuy nhiên, thời hạn để Viện kiểm sát ra bản cáo trạng mới thay thế bản cáo trạng trước đó trong trường hợp kết quả điều tra bổ sung làm thay đổi nội dung cáo trạng hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án cũng chưa được pháp luật quy định cụ thể. Do pháp luật chưa quy định nên thực tiễn cho thấy Kiểm sát viên áp dụng đồng nhất thời hạn này với thời hạn quyết định việc truy tố theo Điều 240 BLTTHS để xử lý vụ án.
Từ những vấn đề đã bàn luận trên, pháp luật cần quy định cụ thể hoặc có văn bản hướng dẫn thống nhất trong trường hợp Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung để cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng một cách thống nhất, hạn chế việc kéo dài thời hạn tố tụng.

Mỹ Hường, VKSND huyện Kiên Lương

(Trang tin điện tử VKSND tỉnh Kiên Giang)

Quyền gặp, làm việc của luật sư với người bị tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra
Khoản 4 Ðiều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.
Ðiều 16 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định: “Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này”.
Khoản 1 Ðiều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định: “Người bào chữa có quyền: (a) Gặp, hỏi người bị buộc tội; (b) Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can”. Khoản 3 Ðiều 22 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 cũng quy định: “Người bào chữa được gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam để thực hiện bào chữa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật này tại buồng làm việc của cơ sở giam giữ hoặc nơi người bị tạm giữ, tạm giam đang khám bệnh, chữa bệnh; phải xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy tờ về việc bào chữa”.
Ðiều 10 Thông tư liên tịch số 01/2018/TTLT ngày 23-1-2018 của Bộ Công an – Bộ Quốc phòng – TAND tối cao – Viện KSND tối cao quy định: “Khi nhận được văn bản thông báo người bào chữa cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam của cơ quan đang thụ lý vụ án thì cơ sở giam giữ tổ chức cho người bào chữa được gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật; Trường hợp cần phải giám sát cuộc gặp thì Thủ trưởng, người có thẩm quyền của cơ quan đang thụ lý vụ án phối hợp với cơ sở giam giữ tổ chức giám sát…”.
Kể từ thời điểm Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có hiệu lực vào đầu năm 2018 đến nay, đã có bước chuyển biến căn bản trong nhận thức và thực tế từ phía các cơ quan và những người tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm thực thi các quy định nêu trên, tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham gia bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị can, bị cáo, đương sự trong nhiều vụ án hình sự.
Ðó cũng là cơ sở cho việc Hội đồng xét xử quyết định, ban hành bản án xuất phát từ kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, quyền gặp mặt, trao đổi, làm việc của luật sư với người bị tạm giữ, tạm giam còn gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí bị cản trở từ phía một số cơ quan điều tra và điều tra viên, chủ yếu do nhận thức không đúng, không đầy đủ về quyền gặp, làm việc của luật sư với người bị tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra tại cơ sở giam giữ.
Hiện nay, rất nhiều cơ quan điều tra, điều tra viên, cán bộ điều tra, cán bộ quản lý cơ sở giam giữ vẫn nhận thức và yêu cầu thực hiện trên thực tế trong giai đoạn điều tra là việc gặp, tiếp xúc, làm việc, tham dự các buổi hỏi cung của luật sư với người bị tạm giữ, tạm giam phải được sự chấp thuận của cơ quan điều tra hoặc theo kế hoạch hỏi cung của điều tra viên.
Ðiều này đã được các luật sư phản ánh rất nhiều trong các cuộc tọa đàm, hội thảo. Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã tổng hợp, thống kê và báo cáo lãnh đạo Bộ Công an về hàng trăm đơn thư khiếu nại trong nhiều năm qua của luật sư do phải đăng ký, chờ đợi hằng tháng vẫn không được gặp, làm việc với bị can trong giai đoạn điều tra. Ðó là chưa kể, trong các buổi làm việc, hỏi cung, thường các luật sư không được đặt câu hỏi, thậm chí nếu có chỉ được hỏi thăm về sức khỏe, thông tin về tình trạng gia đình mà thôi…
Quyền gặp mặt, tiếp xúc, làm việc riêng của luật sư với người bị tạm giữ, tạm giam bắt nguồn và liên quan trực tiếp từ quyền hiến định cho phép người bị buộc tội có quyền nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa, và đây là cơ sở triển khai hoạt động của luật sư trong tố tụng hình sự. Tinh thần mới của Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, Thông tư liên tịch số 01 nêu trên khẳng định quyền đương nhiên và chủ động của luật sư trong việc gặp người bị tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra, trừ trường hợp cần giữ bí mật điều tra trong các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia theo quy định tại Ðiều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Tất cả các quy định nêu trên cũng không có bất cứ từ ngữ nào quy định về việc luật sư gặp khách hàng trong giai đoạn điều tra bắt buộc phải có mặt điều tra viên hoặc phải được sự chấp thuận trước của cơ quan điều tra.
Như vậy, về mặt pháp lý, như nội dung Ðiểm (a), (b) Khoản 1 Ðiều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định có hai trình tự cuộc gặp của người bào chữa: Thứ nhất, cuộc gặp, làm việc riêng, chủ động của người bào chữa với người bị tạm giữ, tạm giam. Theo đó cơ sở giam giữ phải giải quyết yêu cầu gặp mặt của người bào chữa, trong trường hợp cần thiết thì báo với cơ quan thụ lý vụ án để cử người tham gia giám sát, chứ không thể lấy lý do cơ quan điều tra không đồng ý, hoặc điều tra viên bận không tham dự, để từ chối việc luật sư yêu cầu gặp mặt người bị tạm giữ, tạm giam. Thứ hai, người bào chữa tham dự cuộc làm việc, hỏi cung theo kế hoạch của cơ quan điều tra, điều tra viên; chỉ được đặt câu hỏi khi được điều tra viên đồng ý, nếu được phép đặt câu hỏi và trả lời thì nội dung phải ghi rõ trong biên bản, luật sư đọc lại, xác nhận và ký tên trên biên bản.
Do đó, cùng với các kiến nghị, góp ý bằng văn bản, Liên đoàn Luật sư Việt Nam trong cuộc gặp đại diện lãnh đạo Bộ Công an vào ngày 23-8-2019 đã đề nghị Bộ Công an sớm ban hành Thông tư mới nhằm hướng dẫn, quán triệt để cơ quan điều tra các cấp, các điều tra viên, cán bộ điều tra, cán bộ có thẩm quyền của cơ sở giam giữ cần nhận thức thống nhất và bảo đảm tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật về bảo đảm quyền bào chữa nói chung và quyền gặp riêng của luật sư với người bị tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra, không bị giới hạn thời gian gặp, làm việc và có hướng dẫn rõ trường hợp nào bị hạn chế gặp hoặc phải có sự giám sát.
Giới luật sư hy vọng điều này sẽ tạo ra một bước đột phá mới trong quá trình dân chủ hóa hoạt động tố tụng, thực thi nhiệm vụ bảo vệ công lý, tôn trọng sự thật khách quan và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, công dân trong các vụ án hình sự.
Vướng mắc về thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, liên quan đến thời hạn tạm giam

Sau khi đọc và nghiên cứu nội dung bài viết “Vướng mắc về biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử phúc thẩm” của Phạm Thị Thùy Dung trên Tạp chí TAND điện tử ngày 30/8/2019/, tác giả có ý kiến trao đổi về nội dung bài viết.
Trước hết chúng ta nghiên cứu thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm theo quy định tại Điều 346 BLTTHS 2015.
“1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 60 ngày; Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự Trung ương phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án.
2. Trong thời hạn 45 ngày đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu, 75 ngày đối với vụ án đối với vụ án Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự Trung ương kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định: a) Đình chỉ xét xử phúc thẩm; b) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm…”.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 347 BLTTHS 2015: “Thời hạn tạm giam để xét xử không được quá thời hạn xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 346 của Bộ luật này… Đối với bị cáo đang bị tạm giam, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa…”.
BLTTHS năm 2015 quy định về vấn đề tạm giam trong giai đoạn xét xử phúc thẩm là rất rõ. Trong thời hạn 45 ngày đối với TAND cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu, 75 ngày đối với vụ án đối với vụ án Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự Trung ương kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định: Đình chỉ xét xử phúc thẩm hoặc đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm (nghĩa là trong thời gian trong thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm).
Về vấn đề tác giả nêu ra “do yếu tố khách quan phiên tòa chưa được mở trong khi quyết định tạm giam đã hết mà Hội đồng xét xử chưa làm việc nên cũng không ra được quyết định tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa”, theo cá nhân tôi, khi chưa có quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thì không thể ra quyết định tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa được vì có thể vụ án bị đình chỉ xét xử phúc thẩm thì làm gì có phiên tòa được mở mà kết thúc.
Tuy nhiên, hiện nay còn vướng mắc về thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và liên quan đến thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử phúc thẩm. BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015 đều chưa quy định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, trong trường hợp vì lý do bất khả kháng học luật hoặc do trở ngại khách quan cũng chưa quy định Tòa án có thể mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn dài hơn, không như quy định hiện nay là: “Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm”.
Trong thực tiễn xét xử phúc thẩm cũng có những vụ án rất phức tạp hoặc có trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chưa ra được quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm hoặc khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm nhưng có yếu tố khách quan không xét xử được trong thời hạn 15 ngày, dẫn đến ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án hình sự phúc thẩm.
Nhằm hoàn thiện về thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 2, 3 Điều 346 như sau:

Điều 346: Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm
…
2. Trong thời hạn 45 ngày đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu, 75 ngày đối với vụ án đối với vụ án Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự Trung ương kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định: a) Đình chỉ xét xử phúc thẩm; b) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
Đối với vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm; trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày.

Để khắc phục được những vướng mắc về biện pháp tạm giam trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, rất mong các cơ quan pháp luật Trung ương hướng dẫn kịp thời và ý kiến trao đổi của quý độc giả.

Th.S TRẦN THANH BÀI (Thẩm phán Tòa án quân sự khu vực Thủ đô Hà Nội)

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Kỹ năng kiểm sát trực tiếp hoạt động hỏi cung bị can

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự hỏi cung bị can là một hoạt động mang tính bắt buộc, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án hình sự nhằm đảm bảo việc truy cứu trách nhiệmhình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tộiđược tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật.

Hỏi cung bị can là gì?

Hỏi cung bị can là hoạt động của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra vụ án hình sự nhằm thu thập chứng cứ về nội dung vụ án cũng như những tin tức, tài liệu khác mà bị can biết, có ý nghĩa làm rõ nội dung vụ án, hay nói cách khác: hỏi cung bị can là một biện pháp điều tra do Điều tra viên tiến hành, thông qua việc hỏi cung bị can để củng cố và chứng minh hành vi phạm tội của bị can cũng như các thông tin khác góp phần làm sáng tỏ nội dung vụ án.

Hỏi cung bị can theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự

Bộ luật Tố tụng hình sự quy định cụ thể về hoạt động hỏi cung bị can của Điều tra viên cũng như Kiểm sát viên trong quá trình điều tra vụ án. Tại Điều 183 Bộ luật Tố tụng hiện hành quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hỏi cung bị can. Quy định này đặt ra trách nhiệm với Kiểm sát viên phải theo sát hoạt động điều tra, nắm chắc diễn biến, tiến độ điều tra của vụ án; khi thuộc các trường hợp luật định phải tiến hành hỏi cung bị can (khác với Bộ luật Tố tụng hình sựnăm 2013 chỉ quy định KSV có thể hỏi cung) để cùng Cơ quan điều tra giải quyết đúng đắn vụ án, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của bị can. Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định:

1. Việc hỏi cung bị can do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can. Có thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó. Trước khi hỏi cung bị can, Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung. Khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên tham gia việc hỏi cung bị can.
2. Trước khi tiến hành hỏi cung lần đầu, Điều tra viên phải giải thích cho bị can biết rõ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 60 của Bộ luật này. Việc này phải ghi vào biên bản.Trường hợp vụ án có nhiều bị can thì hỏi riêng từng người và không để họ tiếp xúc với nhau. Có thể cho bị can viết bản tự khai của mình.
3. Không hỏi cung bị can vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.
4. Kiểm sát viên hỏi cung bị can trong trường hợp bị can kêu oan, khiếu nại hoạt động điều tra hoặc có căn cứxác định việc điều tra vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp khác khi xét thấy cần thiết. Việc Kiểm sát viên hỏi cung bị can được tiến hành theo quy định tại Điều này.
5. Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên bức cung, dùng nhục hình đối với bị can thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.
6. Việc hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh. Việc hỏi cung bị can tại địa điểm khác được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh theo yêu cầu của bị can hoặc của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Như vậy: Kiểm sát việc hỏi cung bị can hiện nay có hai trường hợp là gián tiếp (thông qua các biên bản hỏi cung bị can) và kiểm sát trực tiếp việc hỏi cung của Điều tra viên. Trong bài viết này, người viết lưu ý một số kỹ năng khi trực tiếp kiểm sát trực tiếp việc hỏi cung bị can.

Kỹ năng kiểm sát trực tiếp hoạt động hỏi cung bị can

Trước khi tiến hành hoạt động kiểm sát trực tiếp việc hỏi cung bị can, Kiểm sát viên phải chủ động nghiên cứu hồ sơ, tài liệu trong vụ án, có những nhận xét, đánh giá sơ bộ về những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, ý nghĩa của các tài liệu trong việc chứng minh tội phạm? xác định những vấn đề chưa được làm rõ, những vấn đề còn mâu thuẫn… Nắm rõ nội dung diễn biến của vụ án, loại và đặc điểm vật chứng đã thu giữ; thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội và phương thức che giấu để tránh bị phát hiện của bị can. Nắm rõ những thông tin về lai lịch của bị can, về những mối quan hệ gia đình, quan hệ xã hội thông thường, quan hệ với các đối tượng khác trong đường dây tội phạm có gì đặc biệt, có ý nghĩa trong đấu tranh với các bị can khác trong cùng vụ án; xác định vai trò của bị can trong vụ án.
Kiểm sát viên chủ động trao đổi với Điều tra viên về kế hoạch tiến hành hỏi cung; nội dung hỏi cung; phương pháp hỏi cung; Kiểm sát viên phải luôn thận trọng trong cả trường hợp bị can nhận tội, cũng như các trường hợp bị can chối tội, không khai báo hành vi phạm tội cũng như việc bị can kêu oan.
Khi bị can nhận tội thì những lời khai của bị can có phù hợp với lời khai của những người làm chứngvà vật chứng đã thu giữ trong vụ án không? Đối với bị can chối tội thì cũng phải xác định nguyên nhân của việc không khai báo các chứng cứ khác để chứng minh nhằm buộc tội bị can có đủ căn cứ không? Có đảm bảo tính khách quan không đối với các chứng cứ sẽ được đưa ra sử dụng để đấu tranh, buộc tội bị can. Trong các trường hợp bị can là người không biết chữ, người nước ngoài, người dân tộc ít người không biết tiếng Việt, hoặc bị can có nhược điểm về thể chất thì cần phải mời người phiên dịch, Trợ giúp pháp lý… tham gia buổi hỏi cung.
Khi tham gia kiểm sát việc hỏi cung bị can, Kiểm sát viên cần phải lưu ý quan sát không gian nơi tiến hành hỏi cung, tùy thuộc vào điều kiện thực tế Kiểm sát viên sẽ lựa chọn vị trí ngồi cho phù hợp làm sao có thể quan sát bao quát được toàn bộ hoạt động hỏi cung. Kiểm sát việc Điều tra viên phải giải thích về quyền và nghĩa vụ cho bị can, thông báo cho bị can biết mình đang bị khởi tố điều tra về tội danh gì. Việc giải thích đầy đủ sẽ giúp cho bị can nắm rõ về những quyền của họ được hưởng và nhiệm vụ của họ sẽ phải thực hiện chấp hành, nếu bị can chưa rõ về vấn đề gì thì cần phải giải thích ngay cho bị can hiểu, đối với những đề nghị của bị can thì vấn đề nào hợp lý, không trái quy định của pháp luật thì cần chấp nhận, còn những vấn đề không thể thực hiện vì trái quy định của pháp luật hoặc chưa thể thực hiện ngay được thì cũng phải giải thích cặn kẽ cho bị can biết. Kiểm sát việc Điều tra viên có kiểm tra về tình trạng sức khỏe của bị can, thời điểm hiện tại có đau ốm, bệnh tật gì không? Có đủ sức khỏe, tỉnh táo, minh mẫn để làm việc không?
Kiểm sát việc Điều tra viên giải quyết các đề nghị của bị can như thế nào? Có phù hợp và đúng với các quy định của pháp luật hay không? Khi Điều tra viên hỏi Kiểm sát viên cần có sự quan sát phương pháp hỏi cung mà Điều tra viên đang sử dụng; cách đặt câu hỏi của Điều tra viên có ngắn, rõ ràng không? trong câu hỏi có ẩn ý hoặc có sự ám chỉ ra hiệu về một vấn đề gì không? Nội dung mà Điều tra viên hỏi có làm rõ được những vấn đề cần chứng minh trong vụ án không? nhất là các yếu tố cấu thành tội phạm cơ bản, đó là phải trả lời được các vấn đề sau: Bị can có thực hiện hành vi phạm tội không? nếu có thì thực hiện vào thời gian nào? địa điểm thực hiện hành vi phạm tội ở đâu? đối tượng phạm tội là gì? đặc điểm hình thức của vật chứng ra sao? phương thức thực hiện hành vi phạm tội, thủ đoạn che giấu như thế nào? động cơ, mục đích của bị can khi thực hiện hành vi phạm tội? bị can thực hiện hành vi phạm tội cùng với ai? đó là những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự.
Thông qua hoạt động kiểm sát trực tiếp việc hỏi cung bị can chặt chẽ sẽ góp phần quan trọng trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự được khách quan, toàn diện, chặt chẽ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; góp phần hạn chế những thiếu sót vi phạm của Điều tra viên trong quá tình điều tra vụ án hình sự.
Nguồn: Tạp chí Kiểm sát 

Những vướng mắc bất cập trong công tác giải quyết nguồn tin về tội phạm

Công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (nguồn tin về tội phạm) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; là căn cứđể kịp thời phát hiện hành vi phạm tội xảy ra, xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để xem xét, quyết định việc khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự.

Công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS)  quy định thành một chương riêng (Chương IX); ngày 29/12/2017, Liên ngành Trung ương cũng đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC hướng dẫn áp dụng. Tuy nhiên, qua nghiên cứuvà thực tiễn áp dụng những quy định của BLTTHS năm 2015, TTLT số 01/2017 trong công tác tiếp nhận, thụ lý và giải quyết nguồn tin về tội phạm vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc, cụ thể:

Nguồn tin về tội phạm

Nguồn tin về tội phạm được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự gồm: “tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, cá nhân, lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện”, đây cũng là các căn cứ để Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Điều 143 BLTTHS quy định:

Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:
1. Tố giác của cá nhân;
2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;
4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;
5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;
6. Người phạm tội tự thú.

Về căn cứ pháp lý, trình tự thủ tục, chức năng nhiệm vụ của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc thụ lý, giải quyết một số nguồn tin được quy định từ Điều 144 đến Điều 152 Bộ luật Tố tụng hình sự và TTLT số 01/2017, cụ thể: Tố giác của công dân; Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước và Người phạm tội tự thú. Tuy nhiên, nguồn tin do “Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm” chưa được quy định trong BLTTHS và TTLT số 01/2017 gây khó khăn cho việc thụ lý, giải quyết về trình tự, thủ tục, thời hạn của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nói chung và Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) nói riêng trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm.
Thực tiễn tại nhiều địa phương, Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (chủ yếu là Cơ quan Cảnh sát điều tra) đã phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm qua “hoạt động nghiệp vụ”, mặc dù đã tiến hành kiểm tra, xác minh nhưng không tiến hành thụ lý, phân công người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và  không chuyển nguồn tin đến Viện kiểm sát để Viện kiểm sát thụ lý, phân công Kiểm sát viêntheo quy định. Có một số vụ việc kéo dài, không giải quyết triệt để; một số vụ đã vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục tố tụng trong quá trình kiểm tra, xác minh, ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia tố tụng. Do pháp luật hiện hành (BLTTHS, TTLT số 01/2017) không quy định về trình tự, thủ tục thụ lý và giải quyết nguồn tin này nên VKSND cũng không có căn cứ để ban hành Kiến nghị khắc phục vi phạm và Yêu cầu Cơ quan CSĐT thụ lý, giải quyết theo đúng quy định của TTLT số 01/2017 và BLTTHS về trình tự và thời hạn giải quyết theo Điều 147 BLTTHS.
Đối với một số nguồn tin về tội phạm do “Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện”. Sau khi kiểm tra, xác minh có đủ dấu hiệu của tội phạm (không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 9 TTLT số 01/2017) được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Cơ quan CSĐT đã khởi tố vụ án, bị can và chuyển hồ sơ đến VKSND đề nghị phê chuẩn theo quy định. Quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, VKSND nhận thấy có dấu hiệu của tội phạm. Tuy nhiên, việc này không được thụ lý, kiểm tra, xác minh theo trình tự của BLTTHS và TTLT số 01/2017, dẫn đến những tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ không có giá trị pháp lý và không dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án. Hoạt động của Cơ quan CSĐT đã vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm nên không có căn cứ để xét phê chuẩn.
Điều 86 BLTTHS quy định: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”. Khoản 2 Điều 87 BLTTHS quy định: “Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự”. Điều 102 BLTTHS quy định: “Những tình tiết được ghi trong biên bản về hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử được lập theo quy định của Bộ luật này có thể được coi là chứng cứ”.

Về trình tự, thủ tục tố tụng

Khoản 3 Điều 147 BLTTHS quy định:

Khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền có quyền tiến hành các hoạt động:
a) Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin;
b) Khám nghiệm hiện trường;
c) Khám nghiệm tử thi;
d) Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản.

Như vây chúng ta có thể thấy: Sau khi tiếp nhận, thụ lý Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ được áp dụng 04 nhóm biện pháp (quyền) nêu trên và trong thời hạn luật định (tối đa 120 ngày) phải ban hành 01 trong 03 Quyết định quy định tại khoản 1 Điều 147 BLTTHS, cụ thể: Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định không khởi tố vụ án hình sự và Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thực tiễn, quy định nêu trên gây rất nhiều khó khăn đối với Cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cụ thể:
Một là, Một số biện pháp kiểm tra, xác minh: Một số vụ việc, sau khi khám nghiệm hiện trường, thu thập tài liệu có liên quan đối với tổ chức, cá nhân và lấy lời khai của những người tham gia tố tụng nhưng còn mâu thuẫn trong lời khai, nhiều tình tiết chưa rõ hoặc các vụ tai nạn giao thông, cố ý gây thương tích,…Sau khi xảy ra vụ việc, hai bên không yêu cầu khởi tố hình sự mà tự thỏa thuận bồi thường dân sự, một thời gian sau, do không thống nhất được mức bồi thường dân sự nên có bên yêu cầu khởi tố hình sự. Đối với các vụ việc nêu trên, cần thiết và bắt buộc phải dựng lại hiện trường, thực nghiệm điều tra, đối chất, nhận dạng, khám xét,…thì mới có đủ căn cứ Quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án. Tuy nhiên, Luật chỉ cho phép Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng 01 trong 04 nhóm biện pháp kiểm tra, xác minh như đã nêu trên.
Hai là, Công tác Giám định: Trong giai đoạn kiểm tra, xác minh tin báo, điểm d khoản 4 Điều 147 và Điều 206 BLTTHS quy định về “Trưng cầu giám định” có 06 trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật giám định tư pháp ngày 20/6/2012, lại quy định: “Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương phápkhoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám địnhtheo quy định của Luật này”. Quy định này được hiểu: Cơ quan giám định, Giám định viên được trưng cầu giám định chỉ thực hiện giám định những vấn đề liên quan đến hoạt động điều tra (từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự), truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Thực tiễn, một số trường hợp Cơ quan giám định tư pháp và Giám định viên từ chối giám định với lý do cơ quan trưng cầu giám định chưa khởi tố vụ án, gây khó khăn cho cơ quan trưng cầu giám định trong giai đoạn xác minh, giải quyết nguồn tin về tội phạm.
Một số địa phương Cơ quan điều tra và cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra (Cơ quan Kiểm lâm) trong quá trình hoạt động đã thu giữ cá thể động vật hoang dã. Khi xử lý tội phạm này nhất thiết phải xác định tên, loài cá thể để xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự (khởi tố vụ án, bị can). Tuy nhiên, Điều 206 BLTTHS quy định 06 trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định và  Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP ngày 13/12/2017 của Liên ngành Trung ương quy định có 06 trường hợp cần thiết phải trưng cầu giám định thì “động vật hoang dã” không thuộc trường hợp bắt buộc hoặc cần thiết phải trưng cầu giám định; trong khi điểm d khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015 lại quy định: “Vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật”. Mâu thuẫn, bất cập này khiến các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng gặp khó khăn, vướng mắc khi xử lý các vụ án, vụ việc liên quan đến động vật hoang dã.

Về tạm đình chỉ 

Khoản 1 Điều 148 BLTTHS quy định:

Hết thời hạn quy định tại Điều 147 của Bộ luật này, cơ quan có thẩm quyền giải quyết quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả;
b) Đã yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án nhưng chưa có kết quả.

Sau khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thường gặp vướng mắc khi áp dụng khoản 1 Điều 148 BLTTHS, cụ thể:
Về quy định “cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định…”. Có thể khẳng định, đây là quy định mang tính định tính, tùy theo cách hiểu của từng người. Khi đã hiểu tùy nghi, đồng nghĩa việc áp dụng cũng tùy nghi và khác nhau giữa các địa phương và giữa những người tiến hành tố tụng. Ví dụ: A tố cáo B Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Sau khi thụ lý, Cơ quan điều tra đã triệu tập và xác minh nhiều lần với gia đình và chính quyền địa phương nhưng không xác định được B đang ở đâu, chưa lấy lời khai của B. Do vậy, không đủ căn cứ để khởi tố hoặc không khởi tố vụ án. Vậy, nội dung này có được coi là “đã yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định…” để tạm đình chỉ việc kiểm tra, xác minh không.
Đối với một số vụ việc bị hại trình báo mất tài sản, qua khám nghiệm hiện trường, ghi lời khai và áp dụng các biện pháp kiểm tra, xác minh theo quy định nhưng chưa đủ căn cứ khởi tố vụ án hay không khởi tố vụ án và cũng không thuộc trường hợp tạm đình chỉ theo quy định tại khoản 1 Điều 148 BLTTHS thì giải quyết như thế nào.
Về phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm
Khoản 1 Điều 149 BLTTHS quy định:

1. Khi lý do tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không còn, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tiếp không quá 01 tháng kể từ ngày ra quyết định phục hồi.

Chế định “phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm” là quy định mới của BLTTHS năm 2015, nhằm khắc phục những bất cập khi thực hiện BLTTHS năm 2003 và TTLT số 06/2013 trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm. Tuy nhiên, Điều luật chỉ quy định phục hồi nguồn tin trước đó đã tạm đình chỉ, không đề cập việc phục hồi (giải quyết) nguồn tin trước đó đã tạm dừng. Thực tế, rất nhiều địa phương khi thực hiện BLTTHS năm 2003, TTLT số 06/2013 và Quyết định số 1319/QĐ-BCA-C41 ngày 20/3/2015 của Bộ Công an về Quy trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong Công an nhân dân đã tạm dừng việc kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm rất nhiều vụ việc; đối với những nguồn tin này hiện nay chưa biết giải quyết như thế nào.
Mặc dù có nhiều tiến bộ và giải quyết được nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tế áp dụng; tuy nhiên, quá trình thực hiện, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 vẫn còn một số vướng mắc, bất cập đặc biệt là thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm như đã phân tích nêu trên. Trong thời gian chờ sửa đổi bổ sung Bộ luật, thiết nghĩ Liên ngành Trung ương cần sớm sửa đổi, bổ sung Thông tư số 01/2017 để công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đạt hiệu quả cao, hạn chế thấp nhất tình trạng bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội, đảm bảo quyền và lợi ích hợp phápcủa người tham gia tố tụng, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa./.

Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự trên cơ sở Hiến định

Bảo đảm quyền con người được thực hiện trong pháp luật tố tụng hình sự bằng các quy định đúng đắn, hợp lý, khả thi và đảm bảo thực hiện các quy định đó trên thực tế là quan trọng nhất. Có thể nói trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, việc nghiên cứu hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) liên quan đến bảo đảm quyền con người, đánh giá việc thực hiện các quy định đó trên thực tế để từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng là một trong những nội dung quan trọng của việc nghiên cứu bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự hiện nay.

1. Quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người

Có thể nói rằng ghi nhận rõ ràng, cụ thể quyền con người và có những biện pháp bảo đảm quyền con người là một trong những thành tựu quan trọng của hoạt động lập hiến ở nước ta. Các quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được đưa lên Chương 2 của Hiến pháp sau Chương về hệ thống chính trị. Ngoài các quy định về quyền con người, Hiến pháp cũng có những quy định để bảo đảm thực hiện quyền con người. Có thể khái quát nội dung Hiến pháp về quyền con người và bảo đảm quyền con người trong các điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, Hiến pháp ghi nhận các quyền con người đồng thời quy định các bảo đảm cũng như trách nhiệm của Nhà nước để các quyền đó được thực hiện. Đó là quyền sống, tính mạng con người được pháp luật bảo hộ, không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật; quyền được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về thân thể, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang; quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình, thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn; quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác, không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác.
Thứ hai, Hiến pháp quy định rõ ràng, đầy đủ quyền của người bị buộc tội. Với nguyên tắc suy đoán vô tội thì người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; người bị truy tố có quyền được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai; không bị kết án hai lần vì một tội phạm; người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa;… Nguyên tắc suy đoán vô tội là sự thể hiện rất quan trọng, có ý nghĩa lớn trong tố tụng hình sự, đòi hỏi phải được nghiên cứu kỹ lưỡng để cụ thể hóa trong pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn tố tụng.

2. Cơ chế Hiến định bảo vệ, bảo đảm quyền con người

Cùng với việc quy định quyền con người, Hiến pháp cũng quy định những bảo đảm quan trọng cho việc bảo vệ quyền con người nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng. Hiến pháp quy định về trách nhiệm của Nhà nước tôn trọng, bảo vệ quyền con người; Điều 3 đã khẳng định Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Đi cùng với các quy định về quyền con người, bao giờ cũng có quy định về trách nhiệm của Nhà nước hoặc bảo hộ của pháp luật nhằm thực hiện các quyền đó trên thực tế.
Hiến pháp quy định nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người là trách nhiệm của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân. Việc Hiến pháp quy định Tòa án nhân dân được tổ chức theo cấp xét xử, không quy định Tòa án đặc biệt; quy định Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, phán quyết một người có tội và áp dụng trách nhiệm hình sự, hình phạt đối với người phạm tội; quy định nhiệm vụ đầu tiên của Tòa án nhân dân là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người; quy định các nguyên tắc hoạt động của Tòa án nhân dân như xét xử công khai, độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm trong xét xử, hai cấp xét xử, tranh tụng trong xét xử… có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người nói chung, quyền của người bị buộc tội nói riêng.
Đồng thời, Hiến pháp quy định chức năng chính của Viện kiểm sát nhân dân là thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người; quy định các nguyên tắc độc lập tương đối trong tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân cũng là cơ sở Hiến định quan trọng cho việc cụ thể hóa trong luật tố tụng hình sự nhằm bảo đảm để Viện kiểm sát truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm cũng bảo đảm, bảo vệ quyền con người.
Có thể thấy, Hiến pháp năm 2013 về quyền con người đã có bước phát triển vượt bậc trong tư duycũng như thực tiễn về bảo đảm quyền con người ở nước ta, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.

3. Những bảo đảm về quyền con người trong tố tụng hình sự.

Các quy định về quyền con người và bảo đảm quyền con người trong hiến pháp là cơ sở Hiến định quan trọng để xây dựng hệ thống pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật ở nước ta. Từ góc độ luật tố tụng hình sự, các quy định của Hiến pháp lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bởi vì, hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động phán quyết về hành vi tội phạm của người bị buộc tội và áp dụng trách nhiệm hình sự – biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất đối với người đó; kèm theo đó là hoạt động có thể tác động rất lớn đến quyền con người nói chung, quyền của người bị buộc tội nói riêng. Từ việc nghiên cứu các quy định của Bô luật Tố tụng hình sự 2015, ta thấy Bộ luật đã cơ bản thể hiện được tinh thần của Hiến pháp 2013 trong bảo đảm quyền con người. Đó là:
Thứ nhất, Bộ luật đã quy định các nguyên tắc cơ bản liên quan đến bảo vệ quyền con người. Trong đó có các nguyên tắc quan trọng như nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân (Điều 8); Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 9); Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 10); Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân (Điều 11); Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân (Điều 12); Nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13); Nguyên tắc không bị kết án hai lần vì một tội phạm (Điều 14); Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự (Điều 16); các nguyên tắc xét xử của Tòa án nhân dân, trong đó có các nguyên tắc như độc lập xét xử, đảm bảo hai cấp xét xử (Điều 12-27) …
Thứ hai, Bô luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã hoàn thiện các quy định về các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự, nhất là các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam; quy định cụ thể thẩm quyền, căn cứ và thời hạn áp dụng theo nguyên lý bảo đảm cho hoạt động tố tụng hiệu quả với việc hạn chế quyền con người khi thật cần thiết và ở mức tối thiểu nhất.
Thứ ba, Quy định tương đối rõ ràng địa vị tố tụng của các chủ thể tố tụng hình sự; đặc biệt là địa vị tố tụng của người tham gia tố tụng nói chung, của người bị buộc tội nói riêng. Bô luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định khá cụ thể các quyền tố tụng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, nhất là quyền bào chữa; quyền tranh tụng (chứng minh, thẩm vấn chéo); quyền khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, người tiến hành tố tụng… Các thủ tục tố tụng đảm bảo cho hoạt động tố tụng khách quan, dân chủ, bảo đảm tăng cường yếu tố tranh tụng trong mô hình tố tụng xét hỏi; bảo đảm để các chủ thể tố tụng có thể thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình…
Xem xét từ góc độ bảo vệ quyền con người, pháp luật tố tụng hình sự hiện hành đã phần nào đáp ứng được các đảm đảm về bảo vệ quyền con người cụ thể:
Một là, đã xác định bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người là một trong những nhiệm vụ của Bô luật Tố tụng hình sự. Bởi vì, toàn bộ các quy định của Bô luật Tố tụng hình sự đều phục vụ cho hoạt động quan trọng nhất là thực hiện quyền tư pháp, phán quyết một người có tội hay không và các biện pháp trách nhiệm áp dụng đối với người có tội.
Hai là, đã từng bước hoàn thiện các quy định về nguyên tắc tố tụng hình sự, trong đó có các nguyên tắc liên quan trực tiếp đến bảo vệ quyền con người (nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử…) đảm bảo cho các chủ thể tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định.
Ba là, hoàn thiện địa vị tố tụng của các chủ thể tố tụng hình sự theo hướng tăng cường các quyền tố tụng của người tham gia tố tụng, nhất là bên bào chữa; tăng trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong bảo đảm cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền tố tụng của mình.
Bốn là, hoàn thiện các quy định về các thời hạn tố tụng để bảo đảm quyền của người bị buộc tội được Tòa án xét xử nhanh chóng, kịp thời; rút ngắn thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn… không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án;
Năm là, hoàn thiện các quy định về biện pháp ngăn chặn, nhất là các biện pháp hạn chế quyền tự do của con người. Quy định rõ ràng, cụ thể căn cứ áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, trong đó việc tạm giữ, tạm giam chỉ có thể áp dụng đối với người có căn cứ rõ ràng cho rằng có thể tiếp tục phạm tội, trốn tránh hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử.

4. Một vài kiến nghị hoàn thiện.

Hiến pháp năm 2013 ra đời cùng với việc ban hành Bô luật Tố tụng hình sự 2015 và các văn bảnpháp luật khác có liên quan đến quyền con người là thành tựu rất quan trọng trong hoạt động lập hiến, lập pháp của nước ta nhằm đáp ứng yêu cầu của xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay. Để hoàn thiện hơn nữa các bảo đảm về quyền con người trong tố tụng hình sự cần xem xét:
Thứ nhất, Dưới góc độ pháp luật tố tụng hình sự:
Một là, Không nên phân chia các chủ thể tố tụng thành cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng; mà nên phân chia theo chức năng tố tụng là chủ thể buộc tội, chủ thể gỡ tội, Tòa án và xác định địa vị tố tụng của các chủ thể tương ứng với chức năng đó;
Hai là, Quy định rõ ràng, cụ thể căn cứ áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, trong đó việc tạm giữ, tạm giam chỉ có thể áp dụng đối với người có căn cứ rõ ràng cho rằng có thể tiếp tục phạm tội, trốn tránh hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử; không lấy tính chất nghiêm trọng của tội phạm được khởi tố làm căn cứ duy nhất để tạm giữ, tạm giam; thu hẹp thẩm quyền bắt, tạm giữ, tạm giam;
Ba là, Nghiên cứu hủy bỏ các thẩm quyền tố tụng không phù hợp với chức năng tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng như bỏ thẩm quyền miễn trách nhiệm hình sự của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; bỏ thẩm quyền khởi tố vụ án của Tòa án; bỏ quyền điều tra của Tòa án trong giải quyết vụ án hình sự;
Thứ hai, Dưới góc độ bảo đảm tuân thủ pháp luật trong hoạt động tố tụng:
Một là, Hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện các biện pháp điều tra đặc biệt (Chương XVI Bô luật Tố tụng hình sự) để bảo quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân;
Hai là, Hướng dẫn trình tự, thủ tục ghi âm, ghi hình trong các hoạt động tố tụng và bảo quản, sử dụng kết quả ghi âm, ghi hình đó;
Ba là, Hướng dẫn thực hiện Điều 298 Bô luật Tố tụng hình sự về giới hạn của việc xét xử khi Tòa án xét xử về tội danh nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát truy tố…
Thứ ba, Dưới góc độ tổ chức và con người:
Một là, Hoàn thiện tổ chức cơ quan tư pháp và các cơ quan khác thực hiện các hoạt động tư pháp theo hướng tăng cường công tác cán bộ, cơ chế, chính sách; bảo đảm độc lập của hoạt động tư pháp nói chung, đặc biệt là độc lập xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm.
Hai là, Nâng cao năng lực, trình độ, bản lĩnh nghề nghiệp của các chủ thể tố tụng, nhất là các chủ thể tiến hành buộc tội, kết án người bị buộc tội./.

Th.s Nguyễn Văn Điền, Viện KSND thị xã Sơn Tây

Tài liệu tham khảo
1. Hiến pháp 2013, NXB Chính trị quốc gia 2014.
2. Bộ luật tố tụng hình sự 2015, NXB lao động 2017.
3. PGS. TS. Nguyễn Hòa Bình, Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, NXB Chính trị quốc gia, năm 2016.
4. TS. Lê Hữu Thể, Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện hệ thống pháp luật về tố tụng hình sự bảo đảm quyền con người, quyền công dân phù hợp với Hiến pháp, Đề tài khoa học cấp bộ, Viện nghiên cứu lập pháp, Hà Nội, 2017.
5. PGS. TS. Trần Văn Độ, Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự – Khái quát các tiêu chuẩn quốc tế và quy định pháp luật Việt Nam, Hội thảo về Quyền con người trong tố tụng hình sự, Khoa Luật Đại học Vinh, năm 2017.

Thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với người dưới 18 tuổi

Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung các quy định về việc áp dụngbiện pháp ngăn chặn tạm giam đối với người chưa thành niên, nhằm đảm bảo thuận lợi hơn nữa cho các hoạt động tố tụng, phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em, chặt chẽ hơn về cáccăn cứ, điều kiện áp dụng. Tuy nhiên, hiện nay quy định này đang có nhiều cách hiểu khác nhau, chưa đúng quy định của BLTTHS.
Sau hơn 10 năm thi hành các quy định của BLTTHS năm 2003 về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với người chưa thành niên (Điều 303) đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên các quy định này cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, có một số quy định chưa phù hợp và đáp ứng được với yêu cầu của thực tiễn làm ảnh hưởng không nhỏ đến quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên. Do đó BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung các quy định này tại Điều 419 nhằm đảm bảo thuận lợi hơn nữa cho các hoạt động tố tụng, phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em, chặt chẽ hơn về các căn cứ, điều kiện áp dụng. Tuy nhiên, hiện nay thời hạn tạm giam đối với người dưới 18 tuổi đang có nhiều cách hiểu khác nhau, chưa thống nhất, chưa đúng quy định của BLTTHS. Do đó, để hiểu rõ hơn quy định này, tôi xin trao đổi một số vấn đề cụ thể như sau:
Khoản 1 Điều 419 của BLTTHS quy định “Chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp áp giải đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi trong trường hợp thật cần thiết. Chỉ áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi khi có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả. Thời hạn tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi bằng hai phần ba thời hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi trở lên quy định tại Bộ luật này. Khi không còn căn cứ để tạm giữ, tạm giam thì cơ quan, người có thẩm quyền phải kịp thời hủy bỏ, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác.”. Như vậy, thời hạn tạm giam đối với người dưới 18 tuổi chỉ bằng “hai phần ba thời hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi trở lên”. Theo quy định tại Ðiều 413 của BLTTHS thì thủ tục tố tụng đối với người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng là người dưới 18 tuổi được áp dụng theo quy định của Chương XXVIII, đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy định của Chương XXVIII. Theo đó, thời hạn giải quyết vụ án hình sự có người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng vẫn được áp dụng theo quy định tại Điều 277 của BLTTHS, nên việc xác định thời hạn tạm giam đối với người dưới 18 tuổi căn cứ vào quy định tại các điều 277, 278 và 419 của BLTTHS để xác định như sau:
+ Đối với tội phạm ít nghiêm trọng, thời hạn tạm giam tối đa là 20 ngày. Trường hợp gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử thì tạm giam tối đa thêm là 10 ngày.
+ Đối với tội phạm nghiêm trọng, thời hạn tạm giam tối đa là 30 ngày. Trường hợp gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử thì tạm giam tối đa thêm là 10 ngày.
+ Đối với tội phạm rất nghiêm trọng, thời hạn tạm giam tối đa là 40 ngày. Trường hợp gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử thì tạm giam tối đa thêm là 20 ngày.
+ Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thời hạn tạm giam tối đa là 60 ngày. Trường hợp gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử thì tạm giam tối đa thêm là 20 ngày.
+ Trường hợp sau khi Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì Hội đồng xét xử quyết định tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa. Trường hợp này thời hạn tạm giam người dưới 18 tuổi giống người trên 18 tuổi được xác định cho đến ngày kết thúc phiên tòa. Vì theo quy định tại các điều 255, 258, 322 và Điều 326 của BLTTHS thì phiên tòa xác định cụ thể ngày bắt đầu, nhưng không xác định được ngày kết thúc. Đây là quy định phù hợp thực tiễn khách quan của từng vụ án cụ thể mà việc kết thúc phiên tòa diễn ra khác nhau.
Như vậy, thời hạn giải quyết vụ án hình sự có người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng vẫn áp dụng theo quy định tại Điều 277 của BLTTHS, nhưng thời hạn tạm giam đối với người dưới 18 tuổi chỉ bằng hai phần ba thời hạn tạm giam đối với người trên 18 tuổi, do đó để bảo đảm khi xét xử vụ án hình sự có người dưới 18 tuổi đang bị tạm giam “nhanh chóng, kịp thời” quy định tại khoản 7 Điều 414 thì Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa cũng cần phải giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời tránh trường hợp thời hạn tạm giam đối với người dưới 18 tuổi đã hết mà Tòa án chưa ra được một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều 277 của BLTTHS mà họ lại được trả tự do sẽ gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án.
Trường hợp, sau khi Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng chưa đến ngày mở phiên tòa mà thời hạn tạm giam của người dưới 18 tuổi đã hết thì Chánh án hoặc Phó Chánh án áp dụng biện pháp tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm theo mẫu số 05 ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngày 19-9-2017 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC ban hành một số biểu mẫu trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của BLTTHS.
Trường hợp, sau khi Tòa án tuyên án mà xét thấy cần thiết phải tiếp tục tạm giam bị cáo là người dưới 18 tuổi để bảo đảm thi hành án thì căn cứ khoản 1 Điều 419 của BLTTHS quyết định thời hạn tạm giam là 30 ngày mà không áp dụng thời hạn tạm giam 45 ngày như quy định tại khoản 3 Điều 329 của BLTTHS. Mặc dù, quy định này chưa phù hợp với khoản 1 Điều 337 về thời hạn kháng nghịcủa Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án. Tuy nhiên, căn cứ vào khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21-12-2018 đã hướng dẫn về trách nhiệm phối hợp của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự có người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng dưới 18 tuổi thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ, bảo đảm thực hiện đúng quy định tại Chương XXVIII và các quy định khác của BLTTHS về thủ tục tố tụng thân thiện đối với người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Do đó, trường hợp này Tòa án cần phải phối hợp với Viện kiểm sát để bảo đảm việc xem xét kháng nghị phù hợp tránh trường hợp đến ngày cuối cùng của thời hạn kháng nghị mới có kháng nghị mà thời hạn tạm giam của bị cáo đã hết sẽ gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.

Quy định về giám định trong tố tụng hình sự

Giám định tư pháp là gì?

Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của pháp luật[1]. Việc giám định không chỉ nhằm xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội, khung hình phạt được áp dụng mà còn còn liên quan đến nghĩa vụ dân sự, bồi thườngthiệt hại trong vụ án hình sự cụ thể. Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (BLTTHS) đã quy định rõ ràng, đầy đủ về trình tự, thủ tục, thời hạn, các trường hợp phải tiến hành giám định…Tuy nhiên, qua thực tiễncũng như nghiên cứu các quy định cho thấy vẫn cần phải tiếp tục hoàn thiện hoặc phải có hướng dẫn thể cụ liên quan đến công tác giám định đối với các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc áp dụng pháp luật được thống nhất.

Quy định về giám định trong tố tụng hình sự

Theo từ điển tiếng việt thì “giám định” là “Việc xem xét và kết luận về một sự vật, hiện tượng mà cơ quan nhà nước cần tìm hiểu và xác định”[2]. Kết luận giám định được coi là nguồn của chứng cứ (điểm d khoản 1 Điều 87 BLTTHS) để chứng minh tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội mà trong một số vụ án cụ thể thì việc giám định là bắt buộc để xác định cấu thành tội phạm, khung hình phạt được áp dụng. Theo quy định của BLTTHS thì các chủ thể sau có quyền trưng cầu, đề nghị, yêu cầu giám định:
Cơ quan, người có thẩm quyền trưng cầu giám định gồm: Cấp trưởng, cấp phó của các cơ quan Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm Lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm Ngư; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát; Thẩm phán được phân công, giải quyết vụ án.
Người tham gia tố tụng có quyền đề nghị, yêu cầu giám định gồm: Bị can; bị cáo; bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Việc giám định được thực hiện từ khi các cơ quan có thẩm quyền  tiến hành tố tụng giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sựkhi xét thấy cần thiết hoặc đối với các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định theo quy định tại Điều 206 BLTTHS. Một trong những điểm mới của BLTTHS 2015 đã quy định cụ thể thời hạn giám định đối với từng trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định, thời hạn gửi kết luận giám định cho cơ quan đã trưng cầu nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác, kịp thời đáp ứng được nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng hình sự, cũng như gắn với trách nhiệm của người, cơ quan được trưng cầu giám định trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, để phù hợp với Luật giám định tư pháp, BLTTHS 2015 quy định đương sự, người đại diện của họ có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành trưng cầu giám định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc giám định liên quan đến xác định trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội và nếu yêu cầu, đề nghị của họ không được chấp nhận thì có quyền tự mình yêu cầu giám định. Ngoài ra, quy định mới còn đảm bảo quyền của bị can, bị cáo, bị hại người tham gia tố tụng khác đối với kết luận giám định đó là trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được kết luận giám định thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báokết luận giám định các chủ thể này (khoản 2 Điều 214 BLTTHS) đây là điểm khác biệt so với quy định trước đây khi họ phải có yêu cầu thì cơ quan đã trưng cầu giám định mới phải thông báo (khoản 1 Điều 158 BLTTHS 2003).

Một số vướng mắc liên quan đến giám định và kiến nghị hoàn thiện

Trường hợp bắt buộc phải giám định

Một trong những trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định tại khoản 5 Điều 206 BLTTHS khi cần xác định chất ma túy, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ và quy định về bảo quản vật chứng tại điểm b khoản 1 Điều 90 BLTTHS thì vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, vũ khí quân dụng phải được giám định ngay sau khi thu thập và chuyển ngay để bảo quản tại Kho bạc Nhà nước hoặc cơ quan chuyên trách. Việc giám định các trường hợp này vô cùng quan trọng trong việc định tội danh, xác định khung hình phạt đối với một số tội phạm như: Các tội phạm về ma túy; Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả; Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khi quân dụng, phương tiến kỹ thuật quân sự… Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy đang có những quan điểm, cách hiểu khác nhau về việc giám định đối với vật chứng thu được thuộc một các trường hợp nêu trên. Chúng tôi xin lấy ví dụ tiền thu được là vật chứng thu được trong vụ án hình sự:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Mọi trường hợp khi vật chứng thu được là tiền thì phải tiến hành giám định ngay theo quy định tại Điều 90 BLTTHS do quy định vật chứng là “tiền” mà không bắt buộc phải là “tiền giả”. Nếu các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không thực hiện việc trưng cầu giám định là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Chỉ trưng cầu giám định khi có căn cứ cho rằng đó là “tiền giả” thì mới thực hiện việc trưng cầu giám định. Bởi lẽ, điều 206 BLTHHS quy định bắt buộc trưng cầu giám định khi “cần” xác định đó là tiền giả.
Tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai, vì không phải bất cứ trường hợp nào khi vật chứng thu giữ được là tiền các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng  đều phải thực hiện việc trưng cầu giám định. Như vậy sẽ rất mất rất nhiều thời gian, chi phí giám định trong khi phần nhiều các tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự thì đối tượng tác động của tội phạm là vật chất (chủ yếu là tiền) và tiền mà tội phạm có được (trực tiếp hoặc gián tiếp) sẽ là vật chứng trong vụ án hình sự nếu các cơ quan tiến hành tố tụng thu được khi giải quyết vụ án, cho nên việc quy định phải giám định vật chứng là tiền sẽ gây khó khăn trong quá trình điều tra, xử lý vụ án. Ví dụ trong  vụ án Phan Sào Nam và đồng phạm bị xét vử về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc bằng hình thức game bài trên mạng internet bị đưa ra xét xử thời gian gần đây, cơ quan điều tra thu được hàng ngàn tỉ đồng đây là vật chứng trong vụ án, nếu thực hiện theo quy định tại Điều 90 BLTTHS thì sẽ rất mất thời gian vì số tiền là rất lớn và thực tế vụ án này, số tiền thu được cũng không phải tiến hành giám định vì không có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án tuy rằng đây là vật chứng. Như vậy, theo quan điểm của chúng tôi thì chỉ bắt buộc giám định ngay đối với tiền khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có căn cứ để nghi ngờ đó là “tiền giả” trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố hoặc trong quá trình tiến hành điều tra, truy tố, xét xử vụ án hoặc có khiếu nại, tố cáo của cá nhân, cơ quan, tổ chức…
Tương tự như vậy, có thể lấy thêm trường hợp vật chứng vụ án thu được là vũ khí quân dụng, bị can khai nhận khẩu súng có được là do đã trộm cắp của Sư đoàn X thuộc Bộ quốc phòng. Qua điều tra, xác minh thì đúng là đơn vị này đã mất khẩu súng trùng khớp số hiệu, thông số kỹ thuật trong giấy chứng nhận sử dụng súng, vị trí, thời gian, địa điểm mất trộm. Trong trường hợp này khẩu súng thuộc loại vũ khí quân dụng nhưng lại là vật chứng thì có phải tiến hành giám định theo điểm b khoản 1 điều 90 BLTTHS không? Rõ ràng là không cần thiết vì đã đủ căn cứ để xác định đó là vũ khí quân dụng được Cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy định.
Đối với trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định đối với đồ cổ, qua nghiên cứu, tìm hiểu các văn bản pháp luật hiện hành không thấy có khái niệm, quy định thế nào là đồ cổ, trong khi đó Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) có 07 tội danh quy định có hành vi liên quan đến di vật, cổ vật là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt tại các điều: 173, 176, 177, 178, 188, 189 và Điều 418. Như vậy, đồ cổ có đồng nghĩa với di vật, cổ vật hay không? Tại Luật di sản văn hóa năm 2001 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) chỉ đưa ra khái niệm thể nào là di vật, cổ vật[3]. Như vậy, có bắt buộc phải giám định đối với di vật, cổ vật không? Trong khi đó việc xác định một vật là di vật, cổ vật phải do người, cơ quan có chuyên môn giám định, kết luận thì mới có cơ sở chứ không thể dựa trên nhận định chủ quan của các cơ quan tiến hành tố tụng được. Do đó, chúng tôi thấy rằng cần phải quy định rõ ràng bằng cách thay thế từ “đổ cổ” bằng “di vật, cổ vật” vào khoản 5 Điều 206 BLTTHS mới đầy đủ ý nghĩa và cách hiểu nhất quán.
Từ những phân tích nêu trên, chúng thôi thấy rằng cần phải sửa đổi một phần điểm b khoản 1 Điều 90 BLTTHS cho phù hợp với Điều 206 BLTTHS để có được cách hiểu thống nhất khi áp dụng pháp luật như sau: “ Khi cần xác định vật chứng là tiền giả, vàng, bạc kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật, chất nổ, chất độc, chất phóng xạ, vũ khi quân dụng, chất ma túy thì phải được giám định ngay sau khi thu thập…”

Trường hợp từ chối hoặc thay đổi người giám định 

Như đã phân tích ở trên thì việc giám định được thực hiện từ khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Tại khoản 5 Điều 68 BLTTHS quy định 04 trường hợp người giám định phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi, trong đó có trường hợp họ đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của của bị hại, đương sự hoặc của bị can bị cáo. Vấn đề ở chỗ, khi vụ án chưa được khởi tố mà cần phải đợi kết quả giám định làm căn cứ cho việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can mà người giám định là người thân thích của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, hoặc người bị tạm giữ thì có thuộc trường hợp phải từ chối hoặc bị thay đổi không. Vẫn biết, nếu người giám định cố tình kết luận gian dối, sai sự thật thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tương ứng tại các Điều 382, 383 của Bộ luật hình sự. Nhưng nếu các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không phát hiện ra thì có thể dẫn đến bỏ lọt tội phạm, hoặc trường hợp phát hiện ra muộn thì đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên không thể tiến hành thủ tục tái thẩm đối với trường hợp đã có Bản án, quyết định của Tòa án. Do đó, theo chúng tôi nên nên bổ sung vào điểm a khoản 5 Điều 68 BLTTHS trường hợp người giám định phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi “ Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại điện, người thân thích của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố hoặc của người bị buộc tội”.
Phạm Văn Tuân
Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn)


[1] Khoản 1 Điều 2 Luật giám định tư pháp

[2] Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng việt, tr.389 và tr.1071, NXB Đà Nẵng & Trung tâm từ điển tin học

[3] Xem điểm 5, 6 Điều 4 Luật di sản văn hóa 2001 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009)