Kỹ năng kiểm sát trực tiếp hoạt động hỏi cung bị can

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự hỏi cung bị can là một hoạt động mang tính bắt buộc, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án hình sự nhằm đảm bảo việc truy cứu trách nhiệmhình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tộiđược tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật.

Hỏi cung bị can là gì?

Hỏi cung bị can là hoạt động của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra vụ án hình sự nhằm thu thập chứng cứ về nội dung vụ án cũng như những tin tức, tài liệu khác mà bị can biết, có ý nghĩa làm rõ nội dung vụ án, hay nói cách khác: hỏi cung bị can là một biện pháp điều tra do Điều tra viên tiến hành, thông qua việc hỏi cung bị can để củng cố và chứng minh hành vi phạm tội của bị can cũng như các thông tin khác góp phần làm sáng tỏ nội dung vụ án.

Hỏi cung bị can theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự

Bộ luật Tố tụng hình sự quy định cụ thể về hoạt động hỏi cung bị can của Điều tra viên cũng như Kiểm sát viên trong quá trình điều tra vụ án. Tại Điều 183 Bộ luật Tố tụng hiện hành quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hỏi cung bị can. Quy định này đặt ra trách nhiệm với Kiểm sát viên phải theo sát hoạt động điều tra, nắm chắc diễn biến, tiến độ điều tra của vụ án; khi thuộc các trường hợp luật định phải tiến hành hỏi cung bị can (khác với Bộ luật Tố tụng hình sựnăm 2013 chỉ quy định KSV có thể hỏi cung) để cùng Cơ quan điều tra giải quyết đúng đắn vụ án, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của bị can. Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định:

1. Việc hỏi cung bị can do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can. Có thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó. Trước khi hỏi cung bị can, Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung. Khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên tham gia việc hỏi cung bị can.
2. Trước khi tiến hành hỏi cung lần đầu, Điều tra viên phải giải thích cho bị can biết rõ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 60 của Bộ luật này. Việc này phải ghi vào biên bản.Trường hợp vụ án có nhiều bị can thì hỏi riêng từng người và không để họ tiếp xúc với nhau. Có thể cho bị can viết bản tự khai của mình.
3. Không hỏi cung bị can vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.
4. Kiểm sát viên hỏi cung bị can trong trường hợp bị can kêu oan, khiếu nại hoạt động điều tra hoặc có căn cứxác định việc điều tra vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp khác khi xét thấy cần thiết. Việc Kiểm sát viên hỏi cung bị can được tiến hành theo quy định tại Điều này.
5. Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên bức cung, dùng nhục hình đối với bị can thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.
6. Việc hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh. Việc hỏi cung bị can tại địa điểm khác được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh theo yêu cầu của bị can hoặc của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Như vậy: Kiểm sát việc hỏi cung bị can hiện nay có hai trường hợp là gián tiếp (thông qua các biên bản hỏi cung bị can) và kiểm sát trực tiếp việc hỏi cung của Điều tra viên. Trong bài viết này, người viết lưu ý một số kỹ năng khi trực tiếp kiểm sát trực tiếp việc hỏi cung bị can.

Kỹ năng kiểm sát trực tiếp hoạt động hỏi cung bị can

Trước khi tiến hành hoạt động kiểm sát trực tiếp việc hỏi cung bị can, Kiểm sát viên phải chủ động nghiên cứu hồ sơ, tài liệu trong vụ án, có những nhận xét, đánh giá sơ bộ về những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, ý nghĩa của các tài liệu trong việc chứng minh tội phạm? xác định những vấn đề chưa được làm rõ, những vấn đề còn mâu thuẫn… Nắm rõ nội dung diễn biến của vụ án, loại và đặc điểm vật chứng đã thu giữ; thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội và phương thức che giấu để tránh bị phát hiện của bị can. Nắm rõ những thông tin về lai lịch của bị can, về những mối quan hệ gia đình, quan hệ xã hội thông thường, quan hệ với các đối tượng khác trong đường dây tội phạm có gì đặc biệt, có ý nghĩa trong đấu tranh với các bị can khác trong cùng vụ án; xác định vai trò của bị can trong vụ án.
Kiểm sát viên chủ động trao đổi với Điều tra viên về kế hoạch tiến hành hỏi cung; nội dung hỏi cung; phương pháp hỏi cung; Kiểm sát viên phải luôn thận trọng trong cả trường hợp bị can nhận tội, cũng như các trường hợp bị can chối tội, không khai báo hành vi phạm tội cũng như việc bị can kêu oan.
Khi bị can nhận tội thì những lời khai của bị can có phù hợp với lời khai của những người làm chứngvà vật chứng đã thu giữ trong vụ án không? Đối với bị can chối tội thì cũng phải xác định nguyên nhân của việc không khai báo các chứng cứ khác để chứng minh nhằm buộc tội bị can có đủ căn cứ không? Có đảm bảo tính khách quan không đối với các chứng cứ sẽ được đưa ra sử dụng để đấu tranh, buộc tội bị can. Trong các trường hợp bị can là người không biết chữ, người nước ngoài, người dân tộc ít người không biết tiếng Việt, hoặc bị can có nhược điểm về thể chất thì cần phải mời người phiên dịch, Trợ giúp pháp lý… tham gia buổi hỏi cung.
Khi tham gia kiểm sát việc hỏi cung bị can, Kiểm sát viên cần phải lưu ý quan sát không gian nơi tiến hành hỏi cung, tùy thuộc vào điều kiện thực tế Kiểm sát viên sẽ lựa chọn vị trí ngồi cho phù hợp làm sao có thể quan sát bao quát được toàn bộ hoạt động hỏi cung. Kiểm sát việc Điều tra viên phải giải thích về quyền và nghĩa vụ cho bị can, thông báo cho bị can biết mình đang bị khởi tố điều tra về tội danh gì. Việc giải thích đầy đủ sẽ giúp cho bị can nắm rõ về những quyền của họ được hưởng và nhiệm vụ của họ sẽ phải thực hiện chấp hành, nếu bị can chưa rõ về vấn đề gì thì cần phải giải thích ngay cho bị can hiểu, đối với những đề nghị của bị can thì vấn đề nào hợp lý, không trái quy định của pháp luật thì cần chấp nhận, còn những vấn đề không thể thực hiện vì trái quy định của pháp luật hoặc chưa thể thực hiện ngay được thì cũng phải giải thích cặn kẽ cho bị can biết. Kiểm sát việc Điều tra viên có kiểm tra về tình trạng sức khỏe của bị can, thời điểm hiện tại có đau ốm, bệnh tật gì không? Có đủ sức khỏe, tỉnh táo, minh mẫn để làm việc không?
Kiểm sát việc Điều tra viên giải quyết các đề nghị của bị can như thế nào? Có phù hợp và đúng với các quy định của pháp luật hay không? Khi Điều tra viên hỏi Kiểm sát viên cần có sự quan sát phương pháp hỏi cung mà Điều tra viên đang sử dụng; cách đặt câu hỏi của Điều tra viên có ngắn, rõ ràng không? trong câu hỏi có ẩn ý hoặc có sự ám chỉ ra hiệu về một vấn đề gì không? Nội dung mà Điều tra viên hỏi có làm rõ được những vấn đề cần chứng minh trong vụ án không? nhất là các yếu tố cấu thành tội phạm cơ bản, đó là phải trả lời được các vấn đề sau: Bị can có thực hiện hành vi phạm tội không? nếu có thì thực hiện vào thời gian nào? địa điểm thực hiện hành vi phạm tội ở đâu? đối tượng phạm tội là gì? đặc điểm hình thức của vật chứng ra sao? phương thức thực hiện hành vi phạm tội, thủ đoạn che giấu như thế nào? động cơ, mục đích của bị can khi thực hiện hành vi phạm tội? bị can thực hiện hành vi phạm tội cùng với ai? đó là những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự.
Thông qua hoạt động kiểm sát trực tiếp việc hỏi cung bị can chặt chẽ sẽ góp phần quan trọng trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự được khách quan, toàn diện, chặt chẽ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; góp phần hạn chế những thiếu sót vi phạm của Điều tra viên trong quá tình điều tra vụ án hình sự.
Nguồn: Tạp chí Kiểm sát 

Kinh nghiệm của Kiểm sát viên qua giải quyết vụ án hiếp dâm trẻ em

Trong thời gian gần đây, tội phạm xâm hại tình dụcđối với trẻ em diễn biến phức tạp, việc phát hiện, xử lý loại tội phạm này gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập chứng cứ. Từ công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiểm sát điều tra vụ án hiếp dâm trẻ em xảy ra tại huyện Lục Nam, Kiểm sát viên chia sẻ kinh nghiệm với các đồng nghiệp.
Nội dung vụ án: Khoảng 11 giờ 08/3/2018, Đỗ Văn M, sinh năm 1988 trú tại thôn T, xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang lợi dụng gia đình cháu Nguyễn Thị H, sinh năm 2004 ở thôn N, xã T, huyện Lục Nam đi vắng, chỉ có mình cháu H ở nhà, M đã dụ dỗ, đưa cháu H đến đồi cây bạch đàn ở gần đó rồi dùng dao đe dọa, khống chế cháu H mục đích để hiếp dâm. Do sợ hãi và không thể tự vệ được nên cháu H phải để cho M giao cấu. Sau khi bị xâm hại, cháu H đã kể với bố, mẹ nên gia đình cháu H làm đơn trình báo.
Sau khi tiếp nhận, thụ lý giải quyết tố giác của gia đình người bị hại, Cơ quan điều tra phối hợp cùng Viện kiểm sát kịp thời tiến hành lấy lời khai người bị hại, khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ việc nhưng chứng cứ thu thập được rất ít, không thu giữ được bất cứ dấu vết, vật chứng gì tại hiện trường để truy nguyên đối tượng. Mặt khác, khi thực hiện tội phạm thì đối tượng gây án đội mũ, đeo khẩu trang nên người bị hại không nhận dạng được.
Xác định phải nhanh chóng làm rõ, tạo niềm tin cho nhân dân, Kiểm sát viên đã chủ động bàn với Điều tra viên tiến hành thu giữ ngay mẫu chất dịch trong bộ phận sinh dục của người bị hại để giám định. Vì đây là chứng cứ vật chất quan trọng nhất trong các vụ án xâm hại tình dục; đề nghị Điều tra viên tập trung rà soát các đối tượng trên địa bàn có cùng đặc điểm như chiều cao, giọng nói, độ tuổi và đặc biệt là các đối tượng có biểu hiện phạm tội về tình dục.
Ngày 04/4/2018, Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc trên. Quá trình điều tra tưởng như rơi vào bế tắc khi 3 tháng trôi qua vẫn không có thêm manh mối nào có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án. Kiểm sát viên đã phối hợp với Điều tra viên lấy lời khai thật tỉ mỉ cháu H để gợi nhớ những chi tiết mà có thể do tâm lý e ngại và hoảng loạn nên chưa khai hết. Bằng lời khai của bị hại và thông tin thu thập được, Cơ quan điều tra xác định nhiều khả năng đối tượng là người quen và thường xuyên ra vào nhà bị hại (do đối tượng biết được mẹ của bị hại đi làm công ty và bị hại có 1 người anh trai). Cơ quan điều tra thấy nổi lên đối tượng Đỗ Văn M có nhiều biểu hiện nghi vấn như hay cờ bạc và khi thua bạc thì thích giải đen, sau khi xảy ra vụ án M thường xuyên vắng mặt tại địa phương, đặc biệt M có thửa ruộng ở gần nhà cháu H, thường xuyên vào nhà cháu H hút thuốc lào. Cơ quan điều tra đã triệu tập lấy lời khai, nhưng M không thừa nhận.
Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên thu mẫu tóc và niêm mạc của Đỗ Văn M để giám định AND và kết quả là trùng với mẫu AND thu được trong bộ phận sinh dục của cháu H. Lúc này, M vẫn ngoan cố không thừa nhận hành vi phạm tội. Kiểm sát viên cùng Điều tra viên nghiên cứu kỹ hồ sơ, rà soát, đánh giá chứng cứ và thống nhất quan điểm là có căn cứ để khởi tố bị can đối với M về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
Trên cơ sở báo cáo, đề xuất của Điều tra viên và Kiểm sát viên, lãnh đạo Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã thống nhất khởi tố bị can, ra lệnh bắt tạm giam đối với M để điều tra và được Viện kiểm sát phê chuẩn.
Sau khi bị khởi tố và trước các chứng cứ không thể chối cãi, cuối cùng Đỗ Văn M đã thừa nhận hành vi phạm tội. Ngày 04/01/2019, Đỗ Văn Mạnh bị Tòa án xử phạt 8 năm tù về tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi.
Từ thực tiễn giải quyết vụ án trên, Kiểm sát viên rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
– Kiểm sát viên phải bám sát quá trình xác minh, thu thập tài liệu, vật chứng, lấy lời khai của các đối tượng ngay từ đầu; đề ra yêu cầu xác minh, yêu cầu điều tra kịp thời và đảm bảo chất lượng.
– Kịp thời yêu cầu cơ quan điều tra thu giữ dấu vết vật chất đặc biệt là lông, tóc, sợi, dịch, máu, quần áo, công cụ trong các vụ án xâm hại tình dục vì đây là những chứng cứ quan trọng để truy nguyên đối tượng.
– Công tác khám nghiệm hiện trường phải kịp thời, tỉ mỉ, toàn diện để đánh giá lời khai của bị hại có căn cứ hay không, sau đó là căn cứ để đấu tranh với bị can; thu giữ mẫu vật liên quan vụ án để giám định.
– Lãnh đạo phải luôn quan tâm sát sao đối với vụ việc, kịp thời chỉ đạo Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và suốt quá trình điều tra vụ án.
– Quá trình hỏi cung, lời khai đối tượng khi chứng cứ chưa rõ phải rất tỷ mỷ, làm rõ những bất minh trong lời khai của đối tượng.
– Kiểm sát viên phải thực sự trách nhiệm, luôn bám sát các hoạt động điều tra, phối hợp chặt chẽ với Điều tra thực hiện các biện pháp điều tra, thu thập chứng cứ đảm bảo theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự./.

Nguyễn Tuấn Hải

VKSND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát

Về việc lập biên bản hỏi cung bị can của Kiểm sát viên

Điều 133; Điều 184 BLTTHS đã quy định khi lập biên bản nói chung, lập biên bản hỏi cung bị can nói riêng phải viết tay. Việc dùng máy vi tính lập biên bản hỏi cung sẽ tiềm ẩn hoặc phát sinh những rủi ro.
Hỏi cung bị can là một trong các hoạt động điều tra hình sự. Những người có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS sử dụng các chiến thuật tác động đến bị can nhằm mục đích thu thập các tình tiết liên quan đến nội dung vụ án, hành vi phạm tội của bị can và các tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự.
Hỏi cung bị can là một trong những nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm sát viên được quy tại điểm g khoản 1 Điều 42; Điều 183 và Điều 236 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), đây là hoạt động thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, gắn công tố với hoạt động điều tra, nhằm đảm bảo điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 183 và khoản 3 Điều 236 BLTTHS, trong cả ba giai đoạn tố tụng (điều tra, truy tố, xét xử), khi xét thấy cần thiết Kiểm sát viên trực tiếp tiến hành hỏi cung bị can, cụ thể:
1. Trong giai đoạn điều tra: Bị can kêu oan, khiếu nại về hoạt động điều tra; có căn cứ xác định việc điều tra vi phạm pháp luật.
2. Trong giai đoạn truy tố: Nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu chứng cứ để quyết định việc truy tố.
3. Trong giai đoạn xét xử: Khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra.
Khi tiến hành hỏi cung bị can, Kiểm sát viên phải lập biên bản theo quy định tại Điều 133 và Điều 184 BLTTHS. Việc lập biên bản thực hiện theo mẫu số 126/HS (ban hành kèm theo Quyết định số 15/QĐ-VKSTC ngày 09/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao).
Mẫu biên bản hỏi cung bị can số 126/HS được xây dựng trên cơ sở quy định của BLTTHS, đầy đủ nội dung, thuận lợi cho hoạt động của Kiểm sát viên.
Qua thực tiễn công tác, tôi nhận thấy việc lập Biên bản hỏi cung bị can được lập bằng hình thức đánh máy vi tính có ưu điểm là hình thức rõ ràng, dễ nhìn và có những thuận lợi nhất định. Tuy nhiên ngoài những ưu điểm đó thì việc đánh máy biên bản hỏi cung bị can thì có thể tiềm ẩn những vấn đề như sau:
1. Chưa thực hiện đúng quy định của BLTTHS về việc lập biên bản nói chung, lập biên bản hỏi cung bị can nói riêng
Điều 133 BLTTHS quy định: Biên bản

1. Khi tiến hành hoạt động tố tụng phải lập biên bản theo mẫu thống nhất.
Biên bản ghi rõ địa điểm, giờ, ngày, tháng, năm tiến hành tố tụng, thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc, nội dung của hoạt động tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc người liên quan đến hoạt động tố tụng, khiếu nại, yêu cầu hoặc đề nghị của họ.
2. Biên bản phải có chữ ký của những người mà Bộ luật này quy định. Những điểm sửa chữa, thêm, bớt, tẩy xóa trong biên bản phải được xác nhận bằng chữ ký của họ…

Điều 184 BLTTHS quy định: Biên bản hỏi cung bị can

1. Mỗi lần hỏi cung bị can đều phải lập biên bản.
Biên bản hỏi cung bị can được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này; phải ghi đầy đủ lời trình bày của bị can, các câu hỏi và câu trả lời. Nghiêm cấm Điều tra viên, Cán bộ điều tra tự mình thêm, bớt hoặc sửa chữa lời khai của bị can.
2. Sau khi hỏi cung, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải đọc biên bản cho bị can nghe hoặc để bị can tự đọc. Trường hợp bổ sung, sửa chữa biên bản thì Điều tra viên, cán bộ điều tra và bị can cùng ký xác nhận. Nếu biên bản có nhiều trang thì bị can ký vào từng trang biên bản. Trường hợp bị can viết bản tự khai thì Điều tra viên, cán bộ điều tra và bị can cùng ký xác nhận vào bản tự khai đó…

Như vậy, các điều luật nêu trên đều quy định “ghi” biên bản hỏi cung bị can. Theo Đại từ điển tiếng Việt, “ghi” được hiểu là: Dùng chữ viết hoặc dấu hiệu để lưu giữ một nội dung nào đó, khi nhìn lại có thể biết hoặc nhớ lại nội dung ấy.
Quy định “ghi” này có mối quan hệ chặt chẽ với phần giả định: “Những điểm sửa chữa, thêm, bớt, tẩy xóa trong biên bản”, (tại khoản 1 Điều 133 BLTTHS) và “trường hợp bổ sung, sửa chữa biên bản …” (tại khoản 2 Điều 184 BLTTS) và phần quy định về “ký xác nhận” trong các điều luật, bởi lẽ: Chỉ có ghi trên giấy thì mới để lại rõ những điểm sửa chữa, thêm bớt, tẩy xóa do đó mới cần phải ký xác nhận, dùng máy vi tính soạn thảo các phần đã được sửa chữa, thêm bớt có thể không để lại trên văn bản do đó không cần phải ký xác nhận.
Từ sự phân tích đó, tôi cho rằng Điều 133; Điều 184 BLTTHS đã quy định khi lập biên bản nói chung, lập biên bản hỏi cung bị can nói riêng bắt buộc phải viết tay, việc dùng máy vi tính lập biên bản hỏi cung là chưa thực hiện đúng quy định này.
2. Vi phạm chế độ bảo mật của ngành Kiểm sát
Biên bản hỏi cung bị can là một trong những tài liệu quan trọng nằm trong hệ thống tài liệu có chế độ ưu tiên bảo mật. Đa số các bị can đều bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam và bị giam tại cơ sở giam giữ. Trường hợp Kiểm sát viên sử dụng máy vi tính để lập biên bản hỏi cung bị can thì phải có máy in để in biên bản thì mới thực hiện được việc thông qua và ký xác nhận vào biên bản ngay sau khi kết thúc việc hỏi cung. Trên thực tiễn máy in khá cồng khềnh nên Kiểm sát viên không mang theo mà sử dụng máy in của người khác, do đó có thể xảy ra các trường hợp sau:
– Máy vi tính không tương thích với máy in, do đó Kiểm sát viên phải sử dụng máy vi tính của người khác;
– Kiểm sát viên không mang theo USB hoặc USB không đảm bảo chất lượng nên phải sử dụng USB của người khác.
Trong cả hai trường hợp nêu trên nếu sau khi in ấn Kiểm sát viên không thực hiện thao tác xóa biên bản trên máy vi tính hoặc trên USB, thì biên bản hỏi cung vẫn tồn tại trên máy tính và USB của người khác như vậy biên bản hỏi cung không còn ở trong chế độ được bảo mật.
3. Biên bản soạn thảo trên máy vi tính có thể không phản ánh đúng và đầy đủ diễn biến hoạt động hỏi cung bị can
– Dùng bút viết (viết tay) lên giấy: phản ánh đầy đủ, chân thực cả quá trình hỏi cung bị can, các câu hỏi và câu trả lời đều được ghi nhận cụ thể và chi tiết, một chữ hay một đoạn bị gạch xóa hoặc bổ sung đều để lại dấu vết trên giấy. Thông thường nếu muốn thêm thì phải viết lên trên hoặc chèn vào phần đã viết trước đó; nếu bớt thì gạch lên phần đã viết; nếu sửa thì cũng sửa trên chính phần đã viết. Do đó những phần thêm, bớt, sửa đều tồn tại trên giấy, mắt thường nhìn có thể nhận thấy, cho nên đây chính là nội dung “gốc”.
– Dùng máy vi tính đánh máy: Máy vi tính có các chức năng xóa, sao chép và việc bổ sung rất đơn giản. Khi cần xóa bỏ: đưa con trỏ chuột vào vị trí đã xác định rồi sử dụng phím “delete” (gạch đi, xóa đi); khi cần bổ sung: đưa con chỏ chuột vào vị trí đã xác định rồi gõ thêm nội dung. Nhìn vào biên bản chúng ta không thấy nội dung “gốc” vì: phần bị xóa không còn và phần mới bổ sung không khác biệt so với các phần còn lại. Như vậy, sự thay đổi về “lượng” (ít hơn hoặc nhiều hơn) có thể sẽ dẫn đến sự thay đổi về “chất”, biên bản không được giữ nguyên tình trạng ban đầu, có thể nói biên bản này không có tính khách quan, toàn diện, lịch sử và cụ thể.

Từ sự phân tích đó, tôi thấy rằng hình thức viết tay biên bản hỏi cung bị can có tính ưu việt hơn so với biên bản soạn thảo trên máy vi tính. Khi nhìn biên bản với nội dung “gốc” chúng ta sẽ nhìn nhận và đánh giá toàn diện về cả quá trình hỏi cung bị can, một câu trả lời bị xóa, bị thay đổi hoặc được bổ sung của bị can có thể sẽ gợi cho chúng ta một hướng nghiên cứu mới tránh sự xuôi chiều, mặt khác có thể phản ánh rõ về trạng thái tâm lý, thái độ của bị can để chúng ta có biện pháp phù hợp cho hoạt động tiếp theo.

4. Không thuận tiện, khó quản lý bị can
Trước và sau khi hỏi cung bị can, Kiểm sát viên phải tiến hành hoạt động giao – nhận bị can với cơ sở giam giữ. Kể từ thời điểm nhận, bị can thuộc trách nhiệm quản lý của Kiểm sát viên. Kết thúc việc hỏi cung nếu là biên bản viết tay thì việc thông qua biên bản và ký xác nhận được thực hiện ngay nhưng với biên bản soạn thảo trên máy vi tính thì Kiểm sát viên phải in ấn rồi mới thông qua và ký xác nhận được. Phòng hỏi cung không có máy in và Kiểm sát viên không mang máy in theo do đó Kiểm sát viên phải rời khỏi phòng; việc in ấn có thể gặp những trở ngại dẫn đến kéo dài thời gian in ấn. Việc quản lý bị can trong thời gian này có thể bị buông lỏng dẫn đến những hậu quả khó lường.
Đối với ngành Kiểm sát, bên cạnh việc đảm bảo chất lượng kiểm sát hoạt động tư pháp, chúng ta phải đảm bảo chất lượng hoạt động công tố, do đó khi thực hiện các nhiệm vụ phục vụ cho công tố trong cả ba giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử Kiểm sát viên đều phải đảm bảo thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Từ sự nhận thức không đúng, không đầy đủ có thể là nguyên nhân phát sinh vi phạm và thiếu sót trong việc lập biên bản hỏi cung bị can từ đó dẫn đến hậu quả: biên bản hỏi cung bị can không có giá trị pháp lý; vi phạm chế độ bảo mật và không giám sát được bị can.
Thiết nghĩ, cần kiến nghị đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét và hướng dẫn cụ thể việc lập biên bản hỏi cung bị can của Kiểm sát viên. Trong khi chờ hướng dẫn, chúng ta nên thực hiện lập biên bản hỏi cung bị can với hình thức viết tay để chủ động phòng ngừa vi phạm và rủi ro.          
Nguồn: Tạp chí Kiểm sát