Những vướng mắc, bất cập trong thực hiện Luật thi hành án hình sự năm 2010
Sau 8 năm đi vào thực hiện, đến nay Luật thi hành án hình sự năm 2010 đã bộc lộ một số điểm hạn chế cần sửa đổi, bổ sung để phù hợp với các quy định của các đạo luật liên quan như Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật tố tụng hình sự 2015…
Luật thi hành án hình sự năm 2010 được Quốc hộikhoá XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17/6/2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011, Luật gồm có 15 chương, 182 Điều, quy định cụ thể trình tự, thủ tụctrong thi hành bản án, quyết định về thi hành án; quyền, nghĩa vụ của của người chấp hành án; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trong thi hành án hình sự và biện pháp tư pháp. Luật thi hành án hình sự ra đời là sự pháp điển hóa Pháp lệnh thi hành án phạt tù, Nghị định 60, 61 về thi hành án treo, cải tạo không giam giữ, là sự tiến bộcủa pháp luật đối với công tác thi hành án hình sự, đưa hoạt động thi hành án hình sự đi vào quy củ, thống nhất.
Sau 8 năm đi vào thực hiện, đến nay Luật thi hành án hình sự năm 2010 đã bộc lộ một số điểm hạn chế cần sửa đổi, bổ sung, cụ thể:
Thứ nhất: Theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự hiện hành, trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo. Đây là quy định mới của Bộ luật hình sự, tương ứng với đó là một nhiệm vụ mới của Ủy ban nhân dân xã, phường, Cơ quan tổ chức được giao giám sát người chấp hành án treo trong giám sát, giải quyết; trường hợp này, cần thông tin, báo cáo với Cơ quan thi hành án hình sự để kịp thời lập hồ sơ khi người chấp hành án có vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, vì Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan tổ chức liên quan là cơ quan quản lý người chấp hành án treo nhưng Luật thi hành án hình sự hiện hành chưa có quy định về nội dung xử lý chuyển án treo thành hình phạt tù khi người chấp hành án treo vi phạm nghĩa vụ chấp hành án.
Bên cạnh đó, hiện chưa có hướng dẫn về cách xác định số lần vi phạm nghĩa vụ của người chấp hành án theo Điều 64 Luật thi hành án hình sự năm 2010; vì theo Điều 64 của Luật thi hành án hình sự thì người chấp hành án có nhiều nghĩa vụ khác nhau, như:
“1. Chấp hành nghiêm chỉnh cam kết của mình trong tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, làm việc; tích cực tham gia lao động, học tập; chấp hành đầy đủ các hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại.
2. Phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục.
3. Trường hợp người được hưởng án treo đi khỏi nơi cư trú từ 01 ngày trở lên thì phải khai báo tạm vắng.
4. Ba tháng một lần trong thời gian thử thách người được hưởng án treo phải nộp bản tự nhận xét về việc chấp hành pháp luật cho người trực tiếp giám sát, giáo dục; trường hợp đi khỏi nơi cư trú từ 3 tháng đến 06 tháng thì phải có nhận xét của Công an cấp xã nơi người đó đến lưu trú hoặc tạm trú để trình với Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục người đó.”.
Theo quy định trên thì không xác định được thế nào là một lần người chấp hành án vi phạm nghĩa vụ chưa chấp hành hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Do vậy, để có cơ sở pháp lý thì cần pháp điển hóa quy định về xử lý người chấp hành án cố tình vi phạm nghĩa vụ chấp hành án vào Luật thi hành án hình sự và có sự hướng dẫn cách xác định số lần vi phạm nghĩa vụ của người chấp hành án.
Thứ hai: Cũng là một nội dung mới theo Bộ luật Hình sự hiện hành và tinh thần của Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/4/2018 của Tòa án nhân dân tối cao thì Ủy ban nhân dân xã, phường còn có thêm một nhiệm vụ mới nữa là quản lý, giám sát người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, trong đó người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải chấp hành một số nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Tuy nhiên, nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân cấp xã và nghĩa vụ của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện lại chưa được quy định trong Luật thi hành án hình sự năm 2010 hoặc đạo luật nào khác. Do đó, trong thời gian tới, khi sửa đổi Luật thi hành án hình sự cần bổ sung thêm quy định về nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân cấp xã và nghĩa vụ của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, tạo cơ sở pháp lý trong thực thi pháp luật về thi hành án hình sự.
Thứ ba: Luật thi hành án hình sự năm 2010 không quy định cơ chế giải quyết trường hợp người được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ chết trong thời gian chấp hành hình phạt, do đó khi thực tế xảy ra Quyết định thi hành án đối với người đó vẫn tồn tại và chưa có quy định giải quyết.
Thứ tư: Luật thi hành án hình sự năm 2010 cũng chưa quy định cụ thể trường hợp người chấp hành án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú trong thời gian chấp hành án, nên thực tế xảy ra thường phải vận dụng Điều 69 Luật thi hành án hình sự về án treo, dẫn đến xung đột về quan điểm trong xử lý, giải quyết.
Ngoài ra, trong Luật thi hành án hình sự hiện hành quy định người được hoãn thi hành án được giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú quản lý; tuy nhiên không quy định Tòa án ra quyết định hoãn thi hành án phải gửi quyết định hoãn cho Ủy ban nhân dân cấp xã đó trong luật nên trong thực tế, Ủy ban nhân dân cấp xã thường không nắm được để quản lý./.
Nguồn: Tạp chí Kiểm sát
Phạm nhân chết trong khi đang tại ngoại chờ thi hành án: Giải quyết như thế nào?
Luật Thi hành án hình sự năm 2010 đã đánh dấu bước phát triển quan trọng trong hoạt động lập pháp của Nhà nước ta nói chung, trong lĩnh vực thi hành án hình sự nói riêng. Tuy nhiên trong thực tiễn thi hành Luật thi hành án hình sự năm 2010 còn có một số khó khăn, vướng mắc; cụ thể là trong việc áp dụng khoản 2 Điều 49 của Luật.
Luật Thi hành án hình sự năm 2010 đã đánh dấu bước phát triển quan trọng trong hoạt động lập pháp của Nhà nước ta nói chung, trong lĩnh vực thi hành án hình sự nói riêng, thể hiện chính sáchkhoan hồng, nhân đạo của Nhà nước ta đối với người chấp hành án, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành chính cũng như bảo đảm tốt hơn quyền tự do, dân chủ của công dân.
Tuy nhiên trong quá trình thi hành Luật thi hành án hình sự năm 2010 còn có một số khó khăn, vướng mắc; cụ thể là trường hợp phạm nhân bị chết trong khi đang được tại ngoại chờ thi hành án. Chúng ta cùng xem xét ví dụ sau:
Tại bản án hình sự sơ thẩm ngày 06/10/2018 của Tòa án nhân dân quận K, tuyên phạt Phạm Văn T 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, ngày 16/11/2018 Tòa án nhân dân quận K ra Quyết định thi hành án đối với bị án Phạm Văn T.
Do bị án Phạm Văn T có đơn đề nghị xin hoãn thi hành án với lý do bị bệnh nặng, quá trình xác minh Cơ quan thi hành án quận K xác định bị án T đang điều trị tại Bệnh viện, đã tiến hành thu thập bệnh án chuyển Tòa án quận đề nghị ra quyết định tạm hoãn thi hành án cho bị án T.
Trong quá trình Tòa án đang xem xét, giải quyết, đến ngày 21/02/2019 bị án Phạm Văn T bị chết.
Căn cứ vào khoản 2, Điều 49 Luật Thi hành án hình sự, ngày 28/02/2019 Tòa án nhân dân quận K đã ra Quyết định đình chỉ thi hành án hình phạt tù và chuyển Quyết định đến Viện kiểm sát nhân dân quận K.
Qua công tác kiểm sát thi hành án hình sự đối với Quyết định đình chỉ thi hành án hình phạt tù, Viện kiểm sát nhân dân quận K xem xét giải quyết dựa trên hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất: Do bị án Phạm Văn T không phải là phạm nhân đang ở Trại giam hoặc Trại tạm giam, nên Tòa án nhân dân quận K căn cứ vào khoản 2, Điều 49 Luật Thi hành án hình sự ra Quyết định đình chỉ thi hành án hình phạt tù là không có căn cứ, Viện kiểm sát nhân dân quận cần ban hành Bản kiến nghị đối với Tòa án nhân dân quận trong việc áp dụng sai điều luật.
Quan điểm thứ hai: Đối chiếu với các quy định của pháp luật hiện hành về thi hành án hình sự, chưa có điều nào quy định để áp dụng đình chỉ thi hành án hình phạt tù đối với bị án Phạm Văn T, vì vậy việc Tòa án nhân dân quận K căn cứ vào khoản 2, Điều 49 ra Quyết định đình chỉ là có căn cứ.
Viện kiểm sát nhân dân quận K nghiêng về quan điểm thứ nhất để giải quyết; do Điều 49 Luật Thi hành án hình sự 2010 chỉ quy định: “Giải quyết trường hợp phạm nhân chết” tại Trại giam hoặc Trại tạm giam. Trong trường hợp cụ thể này bị án Phạm Văn T không phải là phạm nhân đang ở Trại giam hoặc Trại tạm giam; bị án Phạm Văn T đang tại ngoại chờ đi thi hành án.
Tuy nhiên, trong thực tế rất khó ban hành Bản kiến nghị về việc Tòa án nhân dân quận K áp dụng sai điều luật (khoản 2, Điều 49) trong Quyết định đình chỉ thi hành án hình phạt tù; do chưa chỉ ra được Tòa án nhân dân quận K cần phải áp dụng điều luật nào. Rất mong nhận được trao đổi, góp ý của bạn đọc để áp dụng giải quyết thống nhất./.

Khoản 2 Điều 49 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 về Giải quyết trường hợp phạm nhân chết:
1. Khi phạm nhân chết tại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ sở chữa bệnh của Nhà nước thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm báo ngay cho cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi có phạm nhân chết để xác định nguyên nhân. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện làm thủ tụckhai tử và thông báo cho thân nhân hoặc đại diện hợp pháp của người chết trước khi làm thủ tục an táng. Trường hợp phạm nhân chết ở cơ sở chữa bệnh thì cơ sở chữa bệnh đó làm giấy chứng tử gửi cho trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.
Trường hợp phạm nhân chết là người nước ngoài, Giám thị trại giam phải báo ngay cho cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cấp tỉnh, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi có phạm nhân chết để xác định nguyên nhân; đồng thời báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự, Bộ Ngoại giao Việt Nam để thông báo cho cơ quan đại diện của nước mà người đó mang quốc tịch. Sau khi được cơ quan có thẩm quyền cho phép, trại giam có trách nhiệm tổ chức an táng.
2. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi thông báo cho thân nhân hoặc đại diện hợp pháp của phạm nhân chết và được cơ quan có thẩm quyền cho phép, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm tổ chức an táng bằng hình thức hỏa táng hoặc địa táng tuỳ điều kiện địa lý, phong tục, tập quán và thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo, Toà án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ việc chấp hành án phạt tù và gửi cho thân nhân của phạm nhân chết, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi phạm nhân chết, Sở Tư pháp nơi Tòa án ra quyết định đình chỉ có trụ sở. Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi phạm nhân chết có trách nhiệm phối hợp với trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện trong việc an táng và quản lý mộ của phạm nhân. Kinh phí cho việc an táng được Nhà nước cấp.
3. …
4. …