Quy định của pháp luật và thực trạng xét xử các vụ án xâm hại trẻ em và kiến nghị hoàn thiện

Trong những năm gần đây, số vụ án hình sự xâm hại trẻ em do Tòa án xét xử và số trẻ em bị xâm hại có xu hướng gia tăng và nghiêm trọng với nhiều thủ đoạn mới. Từ thực trạng nêu trên, cần phải đưa ra giải pháp đưa ra trong xét xử các vụ án xâm hại trẻ em. Tác giả bài viết nêu thực trạng xét xử các vụ án xâm hại trẻ em và đưa ra các giải pháp, kiến nghị …
 

Quy định của pháp luật và thực trạng xét xử các vụ án xâm hại trẻ em và kiến nghị hoàn thiện

Mục lục:

  1. Khái quát chung
  2. Thực tiễn xét xử các vụ án xâm hại trẻ em
  3. Thực trạng và giải pháp trong xét xử các vụ án xâm hại trẻ em
  4. Giải pháp đưa ra trong xét xử các vụ án xâm hại trẻ em
Bị cáo Nguyễn Trọng Trình xâm hại bé gái 9 tuổi ở Chương Mỹ bị phạt tù chung thân – Ảnh: Tư Viễn, NĐT
Bị cáo Nguyễn Trọng Trình xâm hại bé gái 9 tuổi ở Chương Mỹ bị phạt tù chung thân – Ảnh: Tư Viễn, NĐT

1. Khái quát chung

Theo Luật Trẻ em năm 2016, “trẻ em” là người dưới 16 tuổi. Xâm hại trẻ em được hiểu là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác.
Tội phạm xâm hại trẻ em, trong BLHS năm 2015, một số được quy định thành tội danh cụ thể như tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” (Điều 142), tội “Cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” (Điều 144), tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” (Điều 145)… một số được quy định thành tình tiết định khung hình phạt như tội “Giết người” (“giết người dưới 16 tuổi” điểm b khoản 1 Điều 123), tội “Làm chết người trong khi thi hành công vụ” (“đối với người dưới 16 tuổi” điểm b khoản 2 Điều 127), tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” (“đối với người dưới 16 tuổi” điểm c khoản 1 Điều 134)…hoặc được quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (“phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” hoặc “xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” các điểm i và o khoản 1 Điều 52).
So sánh với nội dung quy định của BLHS năm 1999, nội dung tại các điều luật quy định về tội phạm xâm hại tình dục trẻ em của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có sự thay đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế tình hình diễn biến và tính chất của loại tội phạm này nhằm xử lý đúng người, đúng tội, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Thứ nhất, thay đổi tên một số tội danh và cụ thể hóa độ tuổi của bị hại vào tên tội danh, giúp thể hiện rõ hơn các dấu hiệu pháp lý của tội phạm (thể hiện ngay trong tên điều luật), đây là một trong những điều kiện thuận lợi giúp các cơ quan hành pháp, tư pháp điều tra xử lý đúng hành vi, đúng tội đảm bảo tính nghiêm minh, tính răn đe của pháp luật. Cụ thể, tội “Hiếp dâm trẻ em” (Điều 122) thành tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” (Điều 142); tội “Cưỡng dâm trẻ em” (Điều 114) thành tội “Cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” (Điều 144); tội “Giao cấu với trẻ em” (Điều 115) thành tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” (Điều 145); tội “Dâm ô trẻ em” (Điều 116) thành tội “Dâm ô với người dưới 16 tuổi” (Điều 146).
Ngoài ra, BLHS năm 2015 còn cụ thể hoá một số cụm từ khác như “người đã thành niên” được thay bằng “người đủ 18 tuổi trở lên”; “nhiều người” được thay bằng “từ 02 người trở lên”; “nhiều lần” được thay bằng “từ 02 lần trở lên”; “hiếp dâm trẻ em” được thay bằng “dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ” hoặc “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi”. Cùng với đó, cụm từ “cưỡng dâm trẻ em”, “giao cấu với trẻ em”, “dâm ô với trẻ em” cũng được khái niệm cụ thể để đảm bảo tính thống nhất trong cách hiểu và quá trình áp dụng của các cơ quan có thẩm quyền.
Thứ hai, bổ sung thêm “hành vi quan hệ tình dục khác” vào mặt khách quan của tội phạm. Theo quy định của BLHS năm 1999 thì yếu tố bắt buộc để chứng minh trong một số tội xâm hại tình dục như tội hiếp dâm, cưỡng dâm là thực hiện việc “giao cấu” với nạn nhân. Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay đã xuất hiện các hành vi quan hệ tình dục phi truyền thống như quan hệ tình dục bằng miệng… Do vậy, ngoài hành vi “giao cấu” BLHS năm 2015 bổ sung thêm hành vi “quan hệ tình dục khác” làm cơ sở để chứng minh tội phạm. Việc bổ sung thêm hành vi vào mặt khách quan của tội phạm giúp nâng cao tính bao quát, toàn diện, phát triển và đảm bảo sự phù hợp của các điều luật có liên quan được quy định trong BLHS năm 2015, tránh để loại tội phạm, loại bỏ hành vi “lách luật”, lợi dụng “kẽ hở” của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội.
Thứ ba, mở rộng chủ thể thực hiện tội phạm xâm hại tình dục và nạn nhân. Trong BLHS năm 1999, những tội phạm xâm hại tình dục được cấu thành bằng hành vi “giao cấu” như tội Hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em, tội cưỡng dâm… Mặc định được hiểu chủ thể thực hiện là nam giới; đồng thời, nữ giới chỉ có thể trở thành chủ thể của Tội hiếp dâm trong trường hợp đồng phạm với vai trò người giúp sức. Tuy nhiên, với BLHS năm 2015, do công nhận các hành vi quan hệ tình dục khác trong mặt khách quan của tội phạm nên chủ thể của tội phạm xâm hại tình dục có thể là nam giới hoặc nữ giới.
Thứ tư, thay đổi khung hình phạt đối với các hành vi phạm các tội thuộc nhóm tội phạm liên quan đến xâm hại tình dục: Đối với tội “Hiếp dâm” so với BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 đã thêm trường hợp bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm khi hành vi hiếp dâm gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%; thêm trường hợp bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân khi hành vi hiếp dâm gây thương tích cho nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 46% trở lên. Việc thay đổi khung hình phạt đối với các tội danh thuộc nhóm tội phạm xâm hại tình dục đảm bảo khung hình phạt tương ứng với hậu quả do hành vi phạm tội, qua đó đảm bảo tính nghiêm minh, chính xác, tính răn đe của pháp luật.

Thứ năm, BLHS năm 2015 quy định thêm tội Sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147). Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đấu tranh, phòng ngừa tội phạm vì trên thực tế, các hình thức khiêu dâm bùng nổ và gia tăng khắp nơi dưới nhiều hình thức. Trong đó, xuất hiện cả những hiện tượng sử dụng trẻ em, người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm. Mặc dù, BLHS năm 1999 đã quy định về tội dâm ô trẻ em, song quy định này chưa bao quát hết các hành vi xâm hại tình dục trẻ em đã và đang diễn ra hiện nay. Hiện tượng ép buộc trẻ em phải biểu diễn các hành vi khiêu dâm, đóng phim khiêu dâm, xem những hình ảnh khiêu dâm… đang diễn ra khó kiểm soát. BLHS năm 2015 bổ sung thêm quy định về tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm nhằm xử lý triệt để mọi hành vi xâm phạm tình dục trẻ em là rất hợp lý, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm và hạn chế sự gia tăng của tội phạm này.
Có thể nói, BLHS năm 2015 đã khắc phục hạn chế của những quy định trước, kịp thời ban hành những quy định cụ thể, chặt chẽ, phù hợp và có hình phạt nghiêm khắc đối với loại tội phạm xâm hại trẻ em nói chung và đối với loại tội phạm xâm hại tình dục trẻ em nói riêng.

2. Thực tiễn xét xử các vụ án xâm hại trẻ em

Từ ngày 01/01/2015 đến ngày 30/6/2019, các Tòa án đã đưa ra xét xử 6.585 vụ với 7.339 bị cáo phạm các tội xâm hại trẻ em. Trong tổng số các vụ án đã đưa ra xét xử, số trẻ em là nạn nhân bị các tội phạm này xâm hại là 7.654 em (trong đó có 7.121 em nữ, 533 em nam).
Trong số trẻ em là nạn nhân của hành vi xâm hại, phần lớn là nạn nhân của hành vi xâm hại tình dục (6.429 em, chiếm 84% tổng số trẻ bị xâm hại); bị bạo lực là 727 em (chiếm 9,5% tổng số trẻ bị xâm hại); bị mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt là 264 em (chiếm 3,4% tổng số trẻ bị xâm hại), còn lại là các hình thức gây tổn hại khác (như bóc lột; bắt cóc; tổ chức, hỗ trợ, xúi giục, ép buộc trẻ em tảo hôn và các hành vi xâm hại khác…).
Trong tổng số 7.339 bị cáo phạm tội xâm hại trẻ em đã đưa ra xét xử: 432 bị cáo là người ruột thịt, người thân thích khác với nạn nhân (chiếm 5,9%); 37 bị cáo là giáo viên, cán bộ, nhân viên tại các cơ sở giáo dục (chiếm 0,5%); 776 bị cáo là người có trách nhiệm chăm sóc, chữa bệnh, người quen của trẻ em (chiếm 10,6%); 20 bị cáo là người nước ngoài (chiếm 0,3%); còn lại chủ yếu là các đối tượng khác (82,7%).
Trong tổng số các tội phạm xâm hại trẻ em đã bị đưa ra xét xử:
+ Chiếm phần lớn là các hành vi xâm hại tình dục trẻ em: 5.851 vụ với 6.165 bị cáo đã đưa ra xét xử sơ thẩm (89% số vụ và 84% số bị cáo). Trong đó: chiếm tới 46% là hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; 29,2% hành vi hiếp dâm người dưới 16 tuổi; 13,1% hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi; 0,7% hành vi cưỡng dâm người dưới 16 tuổi;
+ Hành vi bạo lực trẻ em: có 514 vụ/769 bị cáo đã đưa ra xét xử sơ thẩm (8,7% số vụ và 11,5% số bị cáo);
+ Mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em: có 180 vụ/350 bị cáo đã đưa ra xét xử sơ thẩm (2,7% số vụ và 4,8% số bị cáo);
+ Còn lại là các hành vi xâm hại khác.
Hậu quả của hành vi xâm hại trẻ em gây ra thường rất nghiêm trọng, kết quả xét xử các vụ án xâm hại trẻ em tại các Tòa án:
+ Số trẻ em tử vong do bị xâm hại: 100 em,
+ Số trẻ em bị thương tật do bị xâm hại: 199 em,
+ Số trẻ em bị rối loạn tâm thần do bị xâm hại: 51 em,
+ Số trẻ em có thai do bị xâm hại tình dục: 251 em,
+ Số trẻ em phải bỏ học do bị xâm hại: 84 em,
+ Số trẻ em bị các tác động khác về thể chất, tinh thần do bị xâm hại: 6.969 em.
Một số tội phạm xâm hại trẻ em ngoài việc gây tổn hại về thể chất như thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; từ 61% trở lên; có trường hợp trẻ em bị hoảng loạn tinh thần, tổn thương sâu sắc về mặt tâm lý…

Từ thực tiễn nêu trên cho thấy, số các vụ án về tội phạm xâm hại trẻ em là rất lớn, trong đó nhiều nhất là xâm hại tình dục trẻ em. Thời gian qua, các tội phạm xâm hại tình dục đối với trẻ em diễn biến phức tạp, có xu hướng gia tăng, nhiều vụ việc nghiêm trọng xảy ra gây bức xúc trong dư luận xã hội. Bên cạnh đó, việc triển khai các quy định của BLHS, BLTTHS, các đạo luật có liên quan và hướng dẫn thi hành trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án xâm hại tình dục cũng phát sinh một số khó khăn, vướng mắc. Để kịp thời phòng ngừa, đấu tranh với loại tội phạm này, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên; ngày 20/9/2019, Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã thông qua Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của BLHS và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi. Nghị quyết gồm 08 điều, trong đó có các nội dung hướng dẫn cụ thể về các tình tiết xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi, bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác trên cơ thể, dụng cụ tình dục hoặc dụng cụ khác được sử dụng vào hoạt động tình dục; giải thích cụ thể thế nào là hành vi giao cấu, hành vi quan hệ tình dục khác, hành vi dâm ô, trình diễn khiêu dâm, các hình thức biểu hiện trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm…
Nghị quyết cũng hướng dẫn cụ thể về một số tình tiết định tội, tình tiết định khung hình phạt; các trường hợp loại trừ xử lý hình sự; nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi và việc tổ chức xét xử vụ án xâm hại tình dục có bị hại là người dưới 18 tuổi. Tóm lại, Nghị quyết được ban hành có ý nghĩa quan trọng trong việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS năm 2015 về các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và đảm bảo áp dụng đúng, thống nhất, phù hợp với quy định pháp luật trong nước cũng như quốc tế.
Ngoài ra, TANDTC đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tiến hành tố tụng ở Trung ương trong việc hướng dẫn áp dụng pháp luật, chỉ đạo xử lý, giải quyết các vụ án xâm hại trẻ em, nâng cao hiệu quả trong công tác phòng chống loại tội phạm này, cụ thể: Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 quy định về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng Điều 150 về tội mua bán người và Điều 151 về tội mua bán người dưới 16 tuổi của Bộ luật Hình sự. Chánh án TANDTC ban hành Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21/9/2018 quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Toà gia đình và người chưa thành niên. Thông tư này đã quy định về việc xét xử vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi hoặc vụ án hình sự có người bị hại là người dưới 18 tuổi bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lý hoặc cần sự hỗ trợ về điều kiện sống, học tập do không có môi trường gia đình lành mạnh như những người dưới 18 tuổi khác thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên.

3.Thực trạng và giải pháp trong xét xử các vụ án xâm hại trẻ em

Thực trạng xét xử các vụ án xâm hại trẻ em thời gian từ ngày 01/01/2015 đến ngày 30/6/2019, cho thấy các Tòa án đã phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cùng cấp từ giai đoạn điều tra, truy tố để giải quyết kịp thời, đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội và áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với những hành vi xâm hại trẻ em, nhất là hành vi xâm hại tình dục trẻ em.
Ví dụ: Vụ án Liễu Diệp Quần (sinh năm 1987; trú tại thôn Dục Thanh, thị trấn Bách Thạch Sơn, thành phố Giao Hà, tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc), Quần và Quách Đại Phát nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, ngày 26/02/2014, đột nhập vào nhà anh Long Văn Linh (huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn), bị cháu Long Thanh Tuyền phát hiện (cháu Long ở nhà một mình, khi bị xâm hại là 10 tuổi), Quần và Phát đã dùng dao cắt cổ cháu Tuyền đến chết. TANDCC tại Hà Nội xử phạt Liễu Diệp Quần tử hình về tội “Giết người” với tình tiết định khung tăng nặng “giết trẻ em” (Bản án hình sự phúc thẩm số 307/2016/HSPT ngày 23/5/2016).
Tuy nhiên, việc giải quyết các vụ án xâm hại trẻ em còn gặp nhiều khó khăn, có nhiều trường hợp, khi xảy ra sự việc trẻ bị xâm hại, gia đình ngại tố cáo tội phạm hoặc chính tội phạm là người thân trong gia đình nên dấu kín vì sợ tai tiếng và mặc cảm. Hoặc do tác động tiêu cực của văn hóa phẩm kích động, bạo lực, phim ảnh khiêu dâm, kích dục trên internet. Tình trạng không có việc làm, trình độ văn hóa thấp, không hiểu biết pháp luật, coi thường pháp luật. Sự xuống cấp về đạo đức của một số không ít người là nguyên nhân chính gây ra tình trạng xâm hại trẻ em, có nhiều trường hợp là cha đẻ.
Ví dụ: Vụ án Phạm Văn Hoanh (sinh năm 1982; trình độ văn hóa: Lớp 3/12; trú tại thôn Trường An, xã Ba Thành, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi), sau khi ly hôn vợ, Hoanh ở cùng con gái là cháu Phạm Thị Hiếu (khi bị xâm hại là 12 tuổi 04 tháng). Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2015 đến tháng 3/2016, Hoanh đã 03 lần thực hiện hành vi dùng miệng, tay kích thích vào bộ phận sinh dục của cháu Hiếu nhằm giao cấu với cháu Hiếu nhưng không thành. TANDCC tại Đà Nẵng đã xử phạt Phạm Văn Hoanh 15 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em” (Bản án hình sự phúc thẩm số 68/2017/HSPT ngày 27/3/2017).
Ví dụ: Vụ án Đoàn Huy Hoàng (sinh năm 1982; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; trú tại ấp Cấp Rang, xã Suối Tre, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai), do có mâu thuẫn với vợ, ngày 07/01/2015, Hoàng đã dùng dao giết vợ và đâm một nhát vào ngực con trai là cháu Đoàn Phi Long (khi bị xâm hại là 12 tuổi) gây thương tích cho cháu Long tỷ lệ thương tật 57%. TAND tỉnh Đồng Nai xử phạt Đoàn Huy Hoàng tử hình về tội “Giết người” với tình tiết định khung tăng nặng “giết trẻ em” (Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2017/HSST ngày 27/6/2017).
Do đặc điểm về tâm sinh lý của trẻ em, sự bồng bột thiếu suy nghĩ và non nớt về trí tuệ, trình độ nhận thức còn nhiều hạn chế, thiếu kiến thức về xã hội và pháp luật là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ em bị xâm hại. Về thể chất, các em còn chưa phát triển đầy đủ, chưa có khả năng chống cự lại những hành vi xâm hại của tội phạm.
Ví dụ: Vụ án Nguyễn Văn Mười (sinh năm 1972; trú tại tổ 25, ấp Thành Phú, xã Thành Lợi, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long), sau khi uống rượu và xem phim sex, thấy cháu Phạm Ngọc Bích đi ngang qua nhà, Mười đã thực hiện hành vi hiếp dâm cháu Bích (khi bị xâm hại là 07 tuổi 07 tháng); sau đó, Mười giết cháu Bích để che giấu tội phạm. TANDCC tại Tp Hồ Chí Minh kết án Nguyễn Văn Mười tử hình về tội “Giết người”, 12 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em”; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là tử hình (Bản án hình sự phúc thẩm số 465/2017/HSPT ngày 30/8/2017).
Đối với việc giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em hiện nay cho thấy, việc phát hiện, thu thập tài liệu chứng cứ ban đầu như các dấu vết, mẫu tinh dịch, mẫu AND của đối tượng gây án để lại trên người và quần áo của nạn nhân hoặc ở hiện trường còn gặp nhiều khó khăn vì có nhiều trường hợp, trẻ em bị xâm hại tình dục, khi gia đình biết đã lưỡng lự trong việc giải quyết dẫn đến khai báo muộn, hoặc không biết cách thu giữ vật chứng cần thiết để giao nộp cho cơ quan chức năng, dẫn đến việc vô hình chung đã tạo điều kiện để người phạm tội có đủ thời gian xóa dấu vết. Do đó, việc thu thập chứng cứ đầy đủ, chính xác gặp nhiều khó khăn (không thu được tinh dịch, vùng kín bị hóa sẹo…) nên rất khó để xác định người bị hại có bị hiếp dâm hay không và ai là người thực hiện hành vi phạm tội. Có trường hợp, việc xác định độ tuổi của trẻ bị xâm hại có nhiều mâu thuẫn, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng, dẫn đến việc vụ án phải điều tra lại nhiều lần, kéo dài thời gian giải quyết.

4. Giải pháp đưa ra trong xét xử các vụ án xâm hại trẻ em

– TAND các cấp cần tiếp nhận, giải quyết kịp thời, xử lý nghiêm các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em; Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo việc rà soát hồ sơ, vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em để xử lý dứt điểm, có giải pháp tích cực trong việc xử lý các vụ án xâm hại trẻ em, không để tồn đọng, kéo dài.
– Tổ chức các lớp tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ xét xử để nâng cao năng lực và kỹ năng xét xử cho các Thẩm phán được giao nhiệm vụ giải quyết các vụ án về xâm hại trẻ em, bảo đảm nhận thức, áp dụng đúng đắn thống nhất pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em. Đối với các vụ án xâm hại trẻ em đã xảy ra, bên cạnh việc đấu tranh, xử lý đối tượng phạm tội thì Thẩm phán phải là người hiểu tâm lý và thân thiện với trẻ em là nạn nhân trong vụ án.
– TAND các cấp cần chủ động phối hợp với Cơ quan điều tra, VKSND cùng cấp ngay từ giai đoạn điều tra, truy tố để kịp thời nắm bắt diễn biến vụ án để lên kế hoạch xét xử, đảm bảo kịp thời giải quyết các vụ án xâm hại trẻ em được nhanh chóng, đúng thời hạn luật định và xử lý nghiêm khắc đối với loại tội phạm xâm hại trẻ em; rà soát hồ sơ, xử lý dứt điểm không để tồn đọng việc xâm hại trẻ em. Ngoài ra, tổ chức thực hiện tốt và có hiệu quả quy trình, thủ tục xét xử thân thiện đối với trẻ em, đặc biệt là trẻ em bị xâm hại tình dục.
– Nâng cao hiệu quả điều tra, xử lý tội phạm xâm hại trẻ em, cần xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật, kiên quyết đấu tranh không để lọt tội phạm. Trong công tác tổ chức các phiên tòa xét xử các vụ án hình sự về các tội xâm hại đối với trẻ em, nhất là xâm hại tình dục đối với trẻ em, các Tòa án cần cân nhắc kỹ lưỡng, đảm bảo vừa làm rõ các tình tiết của vụ án, đồng thời đảm bảo thuần phong mỹ tục, các yếu tố văn hóa, bảo vệ danh dự, nhân phẩm của trẻ em. Hình phạt áp dụng đối với các tội xâm hại trẻ em cần phải đảm bảo nghiêm minh, đúng quy định, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về xâm hại trẻ em nói riêng.
– Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các văn bản pháp luật tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình xét xử, góp phần xử lý nghiêm minh các vụ án xâm hại trẻ em nói chung và xâm hại tình dục trẻ em nói riêng.
– Hiện nay, Tòa gia đình và người chưa thành niên đã được triển khai ở 03 TANDCC và 38 tỉnh, thành phố ở Việt Nam. Đây là một cột mốc quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp cũng như cụ thể hóa chủ trương, đường lối của đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước nhằm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và xử lý người chưa thành niên phạm tội. Trong thời gian tới, với việc tội phạm xâm hại trẻ em ngày càng gia tăng, cần thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên tại tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước. Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em nói chung và trẻ em là nạn nhân trong các vụ án hình sự nói riêng cần được quan tâm hơn nữa; cần đổi mới cách thức và tổ chức hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng mà trước hết là Tòa án để bảo đảm việc tiến hành tố tụng không gây tác động xấu đến tâm sinh lý của trẻ em; xây dựng cơ chế hữu hiệu để tư vấn, hỗ trợ các nạn nhân là trẻ em bị tổn hại về tinh thần và sức khỏe, giúp các em phục hồi và phát triển lành mạnh.

PHẠM THỊ BÍCH NGỌC (Vụ Giám đốc, kiểm tra 1, TANDTC)

Nguồn: Hocluat.vn

Quy định về trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới theo pháp luật Việt Nam

Quy định về trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới theo pháp luật Việt Nam

Sau khi tham gia các Công ước CCPR, CRC và CEDAW, Việt Nam đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật từng bước nội luật hóa các quy định của Công ước. Đến nay, bên cạnh nguyên tắc hiến định: “Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”, Việt Nam còn ban hành nhiều văn bản quan trọng có những quy định liên quan đến bạo lực trên cơ sở giới. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật quy định về trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bạo lực còn có mức độ, tập trung vào các quy định sau:

Thứ nhất, quy định pháp luật về trợ giúp pháp lý: 

Việc trợ giúp pháp lý được điều chỉnh bởi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Theo Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, người được trợ giúp pháp lý bao gồm: người có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo; trẻ em (quy định này thậm chí còn mở rộng hơn so với quy định tại điểm d Điều 37, điểm b khoản 2 Điều 40 Công ước CRC); người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo; những người có khó khăn về tài chính (người thuộc hộ cận nghèo hoặc là người đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng) thuộc một trong các trường hợp sau: cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; người nhiễm chất độc da cam; người cao tuổi; người khuyết tật; người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự; nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người; người nhiễm HIV.
Như vậy, tiến bộ hơn Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 hiện hành đã quy định 02 nhóm đối tượng người được trợ giúp pháp lý độc lập liên quan chặt chẽ đến nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới (Người có khó khăn về tài chính là nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người). Ngoài ra, nếu nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới thuộc một trong trong 12 nhóm đối tượng được trợ giúp pháp lý còn lại thì vẫn được hưởng quyền trợ giúp pháp lý.
Bên cạnh đó, thông qua quy định việc “phân biệt đối xử người được trợ giúp pháp lý” là một trong những hành vi bị cấm (Điểm a khoản 1 Điều 6 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017) cũng cho thấy hoạt động trợ giúp pháp lý bảo đảm cho người được trợ giúp pháp lý có quyền ngang nhau khi thụ hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý mà không bị phân biệt đối xử dù họ là nạn nhân của bạo lực trên cơ sở giới hoặc là nam hay nữ.
Nhằm bảo đảm sự tham gia bình đẳng của người được trợ giúp pháp lý trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và hỗ trợ thực hiện các biện pháp bảo vệ và hỗ trợ cho người được trợ giúp pháp lý là người mẹ, trẻ em gái, nạn nhân bạo lực gia đình, nạn nhân bị mua bán, nạn nhân bị xâm hại tình dục, Thông tư số 11/2014/TT-BTP ngày 17/4/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định về bảo đảm bình đẳng giới trong trợ giúp pháp lý (hiện vẫn còn hiệu lực) đã quy định một số biện pháp như tạo điều kiện cho người được trợ giúp pháp lý tiếp cận và thực hiện quyền, nghĩa vụ của họ theo quy định của pháp luật mà không bị phân biệt đối xử về giới; không tạo áp lực hoặc sử dụng điểm yếu về giới tính của người được trợ giúp pháp lý để buộc họ phải quyết định ngay lập tức hướng giải quyết vụ việc; khi phát hiện người được trợ giúp pháp lý là nạn nhân bạo lực gia đình, nạn nhân bị mua bán, nạn nhân bị xâm hại tình dục, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý thông tin, phối hợp với cơ sở trợ giúp, hỗ trợ nạn nhân để thực hiện biện pháp hỗ trợ, bảo vệ và trợ giúp theo quy định của pháp luật; trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý cho các đối tượng trên, nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý chuyển vụ việc cho cơ quan có thẩm quyền xử lý hoặc đề nghị cơ quan công an hỗ trợ, bảo đảm an toàn cho nạn nhân…
Nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới là người được trợ giúp pháp lý được trợ giúp pháp lý theo hình thức tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, tư vấn để được bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (Điều 31, Điều 32, Điều 33 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017). Riêng trong lĩnh vực tham gia tố tụng, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan có thẩm quyền thi hành tạm giữ, tạm giam có trách nhiệm phối hợp với các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý cho họ. Đặc biệt, với việc quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan trên trong việc giải thích về quyền được trợ giúp pháp lý cho các đối tượng; thông báo, thông tin cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước để có thể tiếp cận đối tượng kịp thời là một cơ chế quan trọng giúp giảm thiểu việc bỏ lọt những người thuộc diện được trợ giúp pháp lý, trong đó có nạn nhân bị bạo lực trên cơ sở giới. Đồng thời, với quy định về chỉ định bào chữa cho trẻ em thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý đã tạo cơ sở cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng này (Điều 41 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017; Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC- TANDTC-VKSNDTC ngày 29/6/2018 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng).

Thứ hai, quy định về bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình: 

Luật Bình đẳng giới năm 2006 và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 quy định khái niệm, hành vi, điều cấm, biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, xử lý đối với các hành vi bất bình đẳng giới, bạo lực gia đình và bảo vệ nạn nhân của các hành vi trên. Các quy định trên là cơ sở để xác định hành vi bạo lực gia đình, bạo lực trên cơ sở giới và là cơ sở để các văn bản pháp luật khác quy định các biện pháp cụ thể trong việc đấu tranh phòng, chống các hành vi này, bảm đảm phù hợp với các quy định của các Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đặc biệt, trên cơ sở quy định mang tính nguyên tắc “Phụ nữ là nạn nhân bạo lực gia đình được tư vấn pháp luật để giải quyết tình trạng bạo lực gia đình” (Khoản 1, Điều 24 Luật phòng Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007) đã tạo cơ sở cho việc điều chỉnh chính sách trợ giúp pháp lý cho đối tượng này.

Thứ ba, quy định về phòng, chống mua bán người:

Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011 quy định: (1) Các khái niệm về “Bóc lột tình dục”, “Nô lệ tình dục”, “Cưỡng bức lao động” (Điều 2); (2) Các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người (Điều 3); (3) Các biện pháp trong phòng, chống mua bán người; phát hiện, xử lý hành vi vi phạm pháp luật và tiếp nhận, xác minh, bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân; (4) Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong phòng, chống mua bán người. Đặc biệt, Điều 36 quy định nạn nhân được tư vấn pháp luật để phòng ngừa bị mua bán trở lại và được trợ giúp pháp lý để làm thủ tục đăng ký hộ khẩu, hộ tịch, nhận chế độ hỗ trợ, đòi bồi thường thiệt hại, tham gia tố tụng và các thủ tục pháp lý khác có liên quan đến vụ việc mua bán người. Trình tự, thủ tục trợ giúp pháp lý được thực hiện theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý.

Thứ tư, quy định về hình sự và tố tụng hình sự: 

Bộ luật Hình sự năm 2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2017 (sau đây gọi chung là Bộ luật hình sự năm 2015) có nhiều điều luật quy định liên quan đến răn đe, trừng phạt hành vi bạo lực trên cơ sở giới đủ yếu tố cấu thành tội phạm và bảo vệ nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới chống lại các hành vi này. Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: Tình tiết phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên; người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác… là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 52); các tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với các khung hình phạt tương ứng áp dụng đối với mức độ thương tật mà hành vi bạo lực gây ra cho nạn nhân (Từ Điều 134 đến Điều 139); tội hành hạ người khác (Điều 140); các tội khác liên quan đến chống bạo lực tình dục đối với phụ nữ và trẻ em (Từ Điều 141 đến Điều 147), riêng Bộ luật Hình sự năm 2015 có bổ sung tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147); các tội mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt người (Điều 150 đến Điều 153); tội làm nhục người khác, vu khống (Điều 155, Điều 156); các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình, trong đó bao gồm các tội xuất phát từ yếu tố bạo lực gây ra, đủ sức cấu thành tội phạm có thể bị xử lý theo các tội tương ứng (Điều 181, Điều 182, Điều 185). Đặc biệt, Bộ luật quy định “tội xâm phạm quyền bình đẳng giới” (Điều 165) có tính chất mở rộng so với Điều 130 “Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ” (Bộ luật tố tụng hình sự năm 1999).
Bên cạnh đó, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng quy định về việc nạn nhân trong các vụ án được bảo vệ đời tư thông qua quy định quyền của người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố có quyền “Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giữ bí mật việc tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của họ, người thân thích của họ khi bị đe dọa” (Điều 56); quy định khi tiến hành khám người hay xem xét thân thể người để tìm chứng cứ quan trọng đối với vụ án phải do người cùng giới tiến hành và có người cùng giới chứng kiến, trong trường hợp cần thiết thì có bác sỹ tham gia… (Điều 194 và Điều 203). Vận dụng quy định trên, nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới có cơ sở để được bảo vệ trong các vụ án hình sự.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng quy định cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải thích cho người bị hại thuộc diện được trợ giúp pháp lý về quyền được trợ giúp pháp lý, nếu họ đề nghị trợ giúp pháp lý thì phải thông báo cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước để cử người thực hiện trợ giúp pháp lý cho họ (Điều 71); Trợ giúp viên pháp lý và luật sư (bao gồm cả luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, luật sư của tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý) được tham với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại (Điều 84). Đây là các quy định mới bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người bị hại thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.

Thứ năm, quy định về dân sự và tố tụng dân sự:

Bộ luật dân sự năm 2015 có nhiều quy định liên quan đến việc chống lại các hành vi bạo lực, kể cả bạo lực trên cơ sở giới: (1) Quy định các nguyên tắc trong dân sự như nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ dân sự, không phân biệt giới tính (Điều 5); nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự, cụ thể khi quyền dân sự của chủ thể bị xâm phạm (kể cả do hành vi bạo lực), chủ thể có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận quyền dân sự của mình, buộc chấm dứt hành vi vi phạm, buộc xin lỗi, cải chính công khai, buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự, buộc bồi thường thiệt hại (Điều 9); nguyên tắc không ai được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực khi tham gia quan hệ dân sự, giải quyết các tranh chấp dân sự (Điều 12); (2) Quy định các quyền về nhân thân và tài sản của cá nhân, nghiêm cấm việc xâm phạm các quyền này, kể cả sử dụng vũ lực và khi các quyền này bị xâm phạm, chủ thể quyền có thể có thể lựa chọn các giải pháp bảo vệ quyền của mình (Chương III); (3) Quy định giao dịch vô hiệu trong trường hợp do bị lừa dối, đe dọa và người tham gia giao dịch đó có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu, bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường (Điều 132 và Điều 137); (4) Quy định hạn chế năng lực hành vi dân sự xuất phát từ hành vi có tính chất bạo lực của người nghiện ma tuý hoặc chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình để bảo vệ tài sản cho người có liên quan (Điều 23).
Đồng thời, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định Thẩm phán có trách nhiệm giải thích, hướng dẫn cho đương sự biết để họ thực hiện quyền yêu cầu trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý (Khoản 6 Điều 48). Đây là quy định bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý cho đương sự là đối tượng trợ giúp pháp lý trong vụ án dân sự.

Thứ sáu, quy định về trẻ em:

Luật Trẻ em năm 2016 có các quy định bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực, bao gồm cả bạo lực trên cơ sở giới: (1) Quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với trẻ em, trong đó có các hành vi liên quan quan đến bạo lực; (2) Quy định các quyền của trẻ em, trong đó liên quan đến việc chống bạo lực đối với trẻ em; (3) Quy định riêng về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt để có chính sách riêng hỗ trợ các đối tượng này, trong đó có một số đối tượng có nguy cơ bị bạo lực (Điều 10 Luật Trẻ em năm 2016). Về trợ giúp pháp lý, Luật trẻ em năm 2016 quy định trẻ em có quyền được trợ giúp pháp lý trong tố tụng và xử lý vi phạm hành chính (Điều 30).

Một số khó khăn và giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

Xâm hại tình dục trẻ em đang là vấn nạn trên toàn Việt Nam, hậu quả mà các em phải gánh chịu là những tổn thất về sức khỏe thể chất và tinh thần, làm giảm khả năng học tập, hòa nhập xã hội và thậm chí có thể hủy hoại các em, ảnh hưởng đến việc trở thành con người tốt, trở thành cha mẹ tốt trong tương lai. Nhằm hạn chếđến mức tối đa hậu quả của loại tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, cần có cách nhìn toàn diện về loại tội phạm này để từ đó áp dụng các biện pháp xử lý kịp thời, góp phần tạo hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng ngừa.

1. Khái quát chung về trẻ em và các hình thức xâm hại tình dục trẻ em.

“Trẻ em” được đề cập đến trong nhiều văn bản pháp lý khác nhau. Tuy nhiên theo Luật Trẻ em năm 2016, “trẻ em” được hiểu là người dưới 16 tuổi. Còn theo Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam thì: Trẻ em được hiểu là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn. Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về xác định độ tuổi trẻ em nhưng tựu chung lại có thể hiểu, trẻ em là người đang trong giai đoạn phát triển, chưa hoàn thiện về mặt sinh lý và tâm lý, dễ bị tổn thương do các tác động tiêu cực từ môi trường xã hội.
Luật Trẻ em năm 2016 quy định rõ cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình và các cá nhân có trách nhiệm thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm trẻ em được sống an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em… Mặc dù vậy, tình trạng phạm xâm hại tình dục trẻ em hiện nay đang diễn biến hết sức phức tạp với nhiều thủ đoạn mới. Có thể hiểu Xâm hại tình dục trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức.
Trẻ có thể bị xâm hại tình dục dưới nhiều hình thức khác nhau trong đó phổ biến là xâm hại bằng cách đụng chạm và không đụng chạm. Xâm hại tình dục trẻ em bằng cách đụng chạm bộc lộ qua một số hành vi như hôn hít hoặc ôm trẻ theo kiểu tình dục, sờ mó vào bộ phận sinh dục của trẻ, hoặc bắt trẻ sờ mó vào bộ phận sinh dục của người lớn hoặc của một đứa trẻ lớn hơn, ép trẻ thực hiện hành vi mại dâm… Xâm hại tình dục trẻ em bằng cách không đụng chạm là những hành vi như dùng lời nói hoặc tranh ảnh khiêu dâm để làm cho trẻ sốc, làm cho trẻ hưng phấn tình dục hoặc làm cho trẻ quen với tình dục, cho trẻ nghe hoặc nhìn những cảnh tình dục, bắt trẻ đứng ngồi theo tư thế gợi dục để chụp ảnh (khiêu dâm), hoặc cho trẻ xem sách báo khiêu dâm…

2. Một số khó khăn khi giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em.

Nhận diện loại tội phạm và các hình thức thực hiện tội phạm xâm hại tình dục trẻ em là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm, góp phần ngăn chặn, phòng ngừa chung. Bộ luật hình sự năm 2015 quy định 5 điều về xâm hại tình dục trẻ em gồm: Điều 142. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi; Điều 144. Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; Điều 145. Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; Điều 146. Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi; Điều 147. Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm. Trong đó quy định các hành vi xâm hại tình dục trẻ em gồm: Hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, quan hệ tình dục khác, dâm ô và sử dụng trẻ em vào mục đích khiêu dâm. Tuy nhiên, các khái niệm “quan hệ tình dục khác”, “dâm ô”, “khiêu dâm” đến nay Tòa án nhân dân tối cao vẫn đang thực hiện dự thảo hướng dẫn chưa có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, khi xảy ra vụ việc cụ thể các cơ quan tố tụng không thống nhất được cách hiểu dẫn đến việc áp dụng pháp luật còn nhiều lúng túng. Ngoài ra, quá trình giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em các cơ quan tố tụng còn gặp nhiều khó khăn:
Thứ nhất, trong hoạt động thu thập chứng cứ, chứng minh.
Thực trạng giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em hiện nay cho thấy việc phát hiện, thu thập tài liệu chứng cứ ban đầu như các dấu vết, mẫu tinh dịch, mẫu AND của đối tượng gây án để lại trên người và quần áo của nạn nhân, hoặc ở hiện trường còn gặp nhiều khó khăn bởi có nhiều trường hợp trẻ em bị xâm hại tình dục, khi gia đình biết đã lưỡng lự trong cách giải quyết dẫn đến khai báo muộn, không biết cách thu giữ vật chứng cần thiết để giao nộp cho cơ quan chức năng nên vô hình chung đã tạo điều kiện để người thực hiện hành vi phạm tội có đủ thời gian xóa hết dấu vết. Do đó, việc thu thập chứng cứ đầy đủ, chính xác gặp nhiều khó khăn (vùng kín bị hóa sẹo, không thu được tinh dịch…) nên rất khó để xác định người bị hại có bị hiếp dâm hay không và ai là người thực hiện hành vi. Trong khi đó yêu cầu của việc thu thập mẫu tinh dịch, mẫu ADN để lại trên người và quần áo của nạn nhân, hoặc ở hiện trường và giám định pháp y cần phải tiền hành nhanh chóng, kịp thời nhưng theo quy trình giải quyết tin báo thì khi cơ quan điều tra sau tiếp nhận tin báo về tội phạm, phải phân loại và tổ chức lấy lời khai ban đầu, xác minh, làm thủ tục giới thiệu đến cơ quan chuyên môn thăm khám, lấy mẫu, giám định,… quy trình này mất trên dưới 1 tuần, có trường hợp còn kéo dài hơn. Vì vậy, thời gian càng kéo dài, việc thu thập dấu vết tội phạm, chứng cứ chứng minh thủ phạm càng khó khăn hơn.
Do có tính đặc thù như đối tượng bị xâm hại đang trong giai đoạn phát triển, chưa hoàn thiện về mặt sinh lý và tâm lý, cần được quan tâm bảo vệ đặc biệt; các dấu vết của loại tội phạm này thường nhanh chóng bị mất. Vì thế, cơ quan có thẩm quyền cần chủ động phối hợp với các cơ quan chuyên môn xây dựng quy trình giải quyết theo hướng khi tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm về xâm hại tình dục trẻ em, Cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện ngay một số hoạt động như:
Một là, kịp thời thu giữ dấu vết vật chất đặc biệt là lông, tóc, sợi, dịch, máu, quần áo, công cụ trong các vụ án xâm hại tình dục trẻ em.
Hai là, phối hợp với Bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý, bác sĩ chuyên khoa phụ sản, cán bộ đã được đào tạo chuyên môn về quản lý, chăm sóc, giáo dục trẻ em để xử lý thông tin ban đầu, thăm khám, thu thập dấu vết, vật chứng có liên quan trên thân thể nạn nhân để tiến hành giám định pháp y trong thời gian nhanh nhất nhằm kết luận có hay không dấu hiệu xâm hại tình dục.
Ba là, công tác khám nghiệm hiện trường phải kịp thời, tỉ mỉ, toàn diện để đánh giá lời khai của bị hại có căn cứ hay không, để làm căn cứ để đấu tranh với bị can vì đây là những chứng cứ quan trọng để truy nguyên đối tượng.
Thứ hai, kỹ năng của cán bộ trực tiếp xử lý, giải quyết vụ việc.
Khi giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em cơ quan tiến hành tố tụng cần phải làm rõ các đặc điểm riêng biệt như: độ tuổi, đặc điểm tính cách của nạn nhân, hoàn cảnh gia đình. Căn cứ vào đặc điểm của từng em để có những biện pháp tác động cụ thể, kịp thời. Ví dụ trong trường hợp các em do chưa nhận thức đầy đủ đã đồng tình hoặc chủ động trong quan hệ tình dục, khi người lớn phát hiện không động viên, nâng đỡ mà dùng bạo lực với các em, dẫn đến các em sẽ khai báo không đúng sự thật. Hoặc khi trẻ em bị xâm hại nhưng do bị đe dọa nên sợ không dám nói ra sự thật,… Những trường hợp này cần có biện pháp phối hợp với gia đình động viên, tôn trọng trẻ và có biện pháp chia sẻ để các em hiểu, yên tâm trình bày nội dung sự việc một cách trung thực nhất.
Tuy nhiên, cán bộ giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em còn chưa được đào tạo về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi, nên khi tiến hành lấy lời khai trẻ em đã dùng những từ ngữ mang tính chất chuyên môn hoặc các câu hỏi áp dụng như người lớn khiến trẻ em không biết trả lời hoặc trả lời không chính xác. Vì thế, khi tiến hành lấy lời khai trong trường hợp này cần phải mời chuyên gia tâm lý tham gia cùng. Trong trường hợp không mời được thì khi tiếp cận trẻ em cần quan sát thái độ, cử chỉ, hành động của các em. Khi hỏi trẻ em cần hỏi những câu rõ ý để trẻ em trả lời đúng, cần sử dụng từ ngữ đơn giản, dễ hiểu mà ở nhà ông bà, bố mẹ hay dùng để trao đổi với trẻ.
Cần chú ý, những trẻ bị xâm hại thường có những biểu hiện như: Nép và bám chặt vào cha mẹ, không dám nhìn người lạ, òa khóc khi gặp người lạ, trên người có dấu vết,… Khi lấy lời khai người nhà nạn nhân cần hỏi gia đình xem khi đêm ngủ các em có biểu hiện giật mình và tự nhiên khóc thét lên, ngại tắm, sợ cởi quần áo khi tắm, sợ bị người khác chạm vào người, không thích đến chỗ đông người, không thích ở một mình, thay đổi tính nết. Tự nhiên có tiền hoặc quà, phát ngôn những từ mới, vẽ hình ảnh bất thường về tình dục, có hành vi tình dục không phù hợp,… để có phương pháp tiếp cận trẻ phù hợp khi lấy lời khai của các em.
Thứ ba, từ chính người bị hại hoặc gia định người bị hại.
Trong nhiều vụ án mặc dù tại cơ quan điều tra và trong hồ sơ vụ án đã thể hiện quan điểm rõ ràng và khẳng định hành vi của bị cáo đã xâm hại tình dục đối với trẻ em. Nhưng do trong quá trình chờ xét xử, giữa gia đình bị cáo và gia đình người bị hại đã thỏa thuận, thống nhất với nhau và thậm chí do sự tác động nào đó (có thể do bị đe dọa hoặc hứa hẹn) nên tại phiên tòa người bị hại lại thay đổi lời khai, phủ nhận lời khai trước đó và một mực bảo vệ bị cáo, cho rằng bị cáo không thực hiện hành vi xâm hại tình dục đối với họ như trong hồ sơ vụ án đã thể hiện,…qua đó đã gây nhiều khó khăn cho Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án đó.
Trong các vụ án xâm hại tình dục đối với trẻ em, người bị hại và gia đình của người bị hại thường có tâm lý e ngại, lo sợ ảnh hưởng đến danh dự, cuộc sống gia đình nên khi xảy ra vụ việc, họ thường không trình báo với cơ quan có thẩm quyền mà giấu diếm, bỏ qua hoặc tự thỏa thuận với người có hành vi phạm tội và gia đình của người phạm tội gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử. Trong quá trình giải quyết vụ án, do thời gian xảy ra đã lâu, sự hợp tác không chặt chẽ của người phạm tội, người bị hại nên việc giám định của cơ quan có thẩm quyền gặp khó khăn, cũng ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án.
Cũng có trường hợp khi biết sự việc thì phía gia đình bị hại và gia đình bị cáo tự thỏa thuận với nhau về việc bồi thường, sau đó do không thống nhất được mức bồi thường nên bị hại mới tố cáo hành vi của người phạm tội, nhưng việc khai báo sau đó không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án nên việc điều tra và nhận định các chứng cứ gặp nhiều khó khăn, kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em và công tác đấu tranh phòng ngừa.

Để nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án xâm hại tình dục nói chung và xâm hại tình dục trẻ em nói riêng các thì cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện đồng bộ các việc sau:
Thứ nhất, cần có văn bản hướng dẫn, giải thích thống nhất về các khái niệm còn đang mâu thuẫn nhằm đảm bảo cách hiểu thống nhất và vận dụng đồng bộ trong thực tế. Ví dụ: như khái niệm “hành vi quan hệ tình dục khác” là hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục của mình với người khác dưới những hình thức nhất định.
Khái niệm “hành vi dâm ô” là có hành vi bỉ ổi đối với người khác, tuy không phải là hành vi giao cấu nhưng cũng nhằm thoả mãn tình dục của mình hoặc khêu gợi bản năng tình dục của người đó. Hoặc khái niệm về hành vi dâm ô đối với trẻ em là hành vi của người phạm tội, như sờ, bóp… vào những bộ phận kích thích tình dục của trẻ em hoặc buộc trẻ em phải có hành vi như sờ, bóp … vào những bộ phận kích thích tình dục của người đó hoặc của người khác, nhưng không có việc giao cấu với trẻ em.
Khái niệm “hành vi khiêu dâm” là hành vi dùng cử chỉ, hành động, hình ảnh, âm thanh gây kích thích ham muốn tình dục của người khác. Các hình thức của khiêu dâm bao gồm: mô tả bộ phận sinh dục, khoả thân, mô tả khoả thân hoặc không khoả thân nhưng kích thích tình dục, mô tả nhu cầu tình dục, thủ dâm dưới mọi hình thức.
Thứ hai, cần sớm có kế hoạch đào tạo về trình độ tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi cho cán bộ điều tra, kiểm sát viên, thẩm phán để giải quyết các vụ án có liên quan đến người chưa thành niên trong đó có nhóm tội xâm phạm tình dục trẻ em; thường xuyên tổ chức việc trao đổi, rút kinh nghiệm trong công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án về xâm hại tình trẻ trong liên ngành tư pháp. Đồng thời, quan tâm sắp xếp các cán bộ theo hướng chuyên sâu, có tính ổn định theo từng lĩnh vực công tác.
Thứ ba, liên ngành các cấp cần chủ động xây dựng Quy chế phối hợp với các cơ quan, đơn vị hữu quan, trong công tác giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em như chủ động phối hợp để xác minh, điều tra, xử lý từng trường hợp trẻ em bị xâm hại, trong đó quy định rõ các thủ tục, quy trình và trách nhiệm phòng ngừa, phát hiện, tố giác, trợ giúp và giải quyết các trường hợp trẻ em bị xâm hại của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, nhà trường, gia đình, cá nhân và trẻ em.
Đối với công tác đấu tranh phòng ngừa loại tội phạm xâm hại tình dục trẻ em cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:
Một là, đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật về giới, về tình dục, về quyền của phụ nữ và trẻ em một cách sâu rộng, có trọng tâm, trọng điểm để các nạn nhân, gia đình nạn nhân hiểu và nhận thức đầy đủ quyền của mình để đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em. Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật này phải có kế hoạch, chương trình cụ thể, trong đó chú trọng đến việc lồng ghép nội dung truyền thông vào trong sinh hoạt của thôn, ấp, tổ dân phố; trong sinh hoạt ngoại khóa của các cấp học và sinh hoạt chuyên đề của các tổ chức, đoàn thể các cấp… Đặc biệt là việc quan tâm quản lý, chăm sóc, giáo dục trẻ em, nhất là những em có hoàn cảnh đặc biệt, có nhiều khả năng bị xâm hại.
Hai là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống bảo vệ trẻ em bằng các biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức cảnh giác, phát hiện sớm, tự phòng ngừa các hoạt động xâm hại tình dục và hỗ trợ tư vấn pháp lý khi cần thiết. Khi bị xâm hại tình dục, nạn nhân và gia đình phải trình báo ngay cho cơ quan Công an để được hỗ trợ tư vấn, giải quyết, tránh để lọt tội phạm…
Ba là, nâng cao vai trò, trách nhiệm của cha mẹ và người thân để tránh những sự việc đau lòng do tội phạm xâm hại tình dục gây nên, cha mẹ cần thường xuyên quan tâm, chia sẻ với con em mình để nhận thấy những thay đổi tâm, sinh lý cần thiết. Bên cạnh đó, do khả năng nhận thức và tự bảo vệ của trẻ em còn nhiều hạn chế nên các em có nguy cơ bị lạm dụng, xâm hại tình dục cao. Vì vậy, cha mẹ cũng cần phải trang bi cho con cái biết cách thức phòng vệ trước những đối tượng có ý định thực hiện hành vi đồi bại.
Bốn là, chủ động xác minh, nắm tình hình, diễn biến hoạt động của tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, có kế hoạch phòng ngừa, ngăn chặn và quản lý chặt chẽ số lượng thanh thiếu niên chậm tiến, có tiền án, tiền sự, các băng nhóm trên địa bàn là những đối tượng có nguy cơ phạm tội xâm hại tình dục. Đồng thời, nâng cao hiệu quả công tác điều tra, xử lý tội phạm xâm hại tình dục trẻ em kết hợp với công tác đấu tranh, phòng ngừa vi phạm pháp luật trong thanh thiếu niên, học sinh và vận độngnhân dân tố giác kịp thời các hành vi xâm hại tình dục trẻ em. Đối với người phạm tội cần xử lý nghiêm minh, kịp thời đúng pháp luật, kiên quyết đấu tranh không để lọt tội phạm. Tổ chức tốt các phiên tòa lưu động đối với các vụ án xâm hại tình dục trẻ em nhưng phải đảm bảo thuần phong mỹ tục.
Có thể nói công tác đấu tranh phòng chống xâm hại tình dục trẻ em không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng mà thuộc về mọi gia đình, nhà trường và toàn xã hội./.