Bị đơn có quyền yêu cầu phản tố về ly hôn không?

Bị đơn có quyền yêu cầu phản tố về ly hôn không? Việc rút lại yêu cầu ly hôn của nguyên đơn thì Tòa án giải quyết như thế nào. Vấn đề này hiện có hai quan điểm khác nhau.
Một trong những nguyên tắc được quy định trong BLTTDS năm 2015 là quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự. Theo đó, trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình. Thực tiễn xét xử có vụ ánhôn nhân và gia đình, tại phiên tòa sơ thẩm nguyên xin rút lại yêu cầu ly hôn để đoàn tụ gia đình nhưng bị đơn không đồng ý và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. Vậy bị đơn có quyền yêu cầu phản tố về ly hôn không? Việc rút lại yêu cầu ly hôn của nguyên đơn thì Tòa án giải quyết như thế nào. Vấn đề này hiện có hai quan điểm khác nhau.
Quan điểm thứ nhất, cho rằng trong vụ án hôn nhân và gia đình, ngoài yêu cầu ly hôn, đương sự còn có các yêu cầu khác như chia tài sản chung, nuôi con, cấp dưỡng nuôi con.. Khoản 2 Điều 244 BLTTDS quy định: “Trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút.”. Như vậy, đối với yêu cầu ly hôn, nếu tại phiên tòa phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn rút lại phần yêu cầu ly hôn thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử yêu cầu ly hôn của nguyên đơn mà không phụ thuộc vào việc bị đơn có đồng ý hay không. Việc bị đơn yêu cầu giải quyết cho ly hôn thì không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với yêu cầu chia tài sản chung, đây là yêu cầu độc lập với yêu cầu ly hôn nên Hội đồng xét xử sẽ tiếp tục xem xét giải quyết yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Đối với yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con thì tại khoản 1, 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định như sau: “Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Cho nên vấn đề nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chỉ đặt ra khi Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn. Và vì nguyên đơn đã rút lại yêu cầu ly hôn nên Tòa án không xem xét giải quyết các yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp nguyên đơn rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện (bao gồm yêu cầu ly hôn, chia tài sản chung của vợ chồng, nuôi con, cấp dưỡng nuôi con) và các đương sự còn lại không có yêu cầu gì khác thì Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử toàn bộ yêu cầu đã rút.
Quan điểm thứ hai cho rằng, mặc dù tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn rút lại yêu cầu ly hôn nhưng bị đơn không đồng ý việc rút đơn này và có yêu cầu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử phải xem xét yêu cầu ly hôn của bị đơn tại phiên tòa và nếu có căn cứ cho ly hôn thì Tòa án phải giải quyết cho ly hôn. Đối với các yêu cầu khác thì Tòa án phải tiếp tục xem xét giải quyết theo thủ tục chung.
Tác giả hoàn toàn đồng tình với lập luận của quan điểm thứ nhất và không đồng ý quan điểm thứ hai, vì các lý do sau:
Thứ nhất, về nguyên tắc yêu cầu ly hôn là yêu cầu của nguyên đơn, không phải là yêu cầu của bị đơn. Nếu tại phiên tòa nguyên đơn chỉ rút lại yêu cầu ly hôn nhưng bị đơn không đồng ý và yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì Tòa án cũng không thể thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự trong vụ án được. Bởi vì vấn đề thay đổi địa vị tố tụng chỉ đặt ra khi nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình (theo khoản 1 Điều 245 BLTTDS). Trong vụ án này, nguyên đơn không rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện mà chỉ là rút lại yêu cầu ly hôn, các yêu cầu khác nguyên đơn vẫn yêu cầu Tòa án giải quyết.
Thứ hai, việc giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hoàn toàn không phụ thuộc vào việc Tòa án có giải quyết cho vợ chồng ly hôn hay không. Bởi vì trong trường hợp vợ chồng chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân mà không yêu cầu giải quyết ly hôn thì Tòa án vẫn phải xem xét giải quyết (theo khoản 2 Điều 28 BLTTDS năm 2015). Sau khi Tòa án giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng, nếu bị đơn muốn ly hôn với nguyên đơn thì hoàn toàn có thể nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn trong một vụ án khác.
Rất mong bạn đọc cùng thảo luận và trao đổi thêm.

DƯƠNG TẤN THANH (TAND thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh)

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Yếu tố lỗi ảnh hưởng đển tỉ lệ tài sản được chia khi vợ chồng ly hôn

Khi ly hôn, theo nguyên tắc chung, vợ chồng có tranh chấp về tài sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi. Tuy nhiên, theo qui định hiện hành, Toà án còn phải tính đến một số yếu tố để xác định tỉ lệ tài sản mà vợ chồng được chia, trong đó có yếu tố lỗi của mỗi bên vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Thực tế, Toà án khó xác định được lỗi của mỗi bên (vợ, chồng) thậm chí là không thể. Mặt khác, yếu tố lỗi của mỗi bên không phải là căn cứ để quyết định cho hay không cho ly hôn.
Trong phạm vi bài viết, chúng tôi tập trung tìm hiểu, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ chia tài sảnchung của vợ chồng, thực tiễn về đường lối của Toà án về vấn đề này như thế nào. Đánh giá về tính khả thi của qui định về yếu tố lỗi của mỗi bên vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng phân tích một số định có liên quan để làm sáng tỏ hơn vấn đề.

1. Quy định về chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn

Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) năm 1959, không qui định về việc chia đôi tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn thành một nguyên tắc nhưng có qui định: Khi ly hôn, việc chia tài sản sẽ căn cứ vào sự đóng góp về công sức của mỗi bên, vào tình hình tài sản và tình trạng cụ thể của gia đình[1]. Nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng có tranh chấp sẽ được chia đôi khi ly hôn bắt đầu được qui định tại Luật HN&GĐ năm 1986[2], Luật HN&GĐ năm 2000[3] và hiện nay là Luật HN&GĐ năm 2014.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014 và điểm d khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ tư pháp về việc hướng dẫn thi hành một số qui định của Luật HN&GĐ năm 2014 (viết tắt là Thông tư số 01/2016) thì tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỉ lệ tài sản mà vợ chồng được chia: Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung; bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Chia đôi là nguyên tắc và sẽ “giữ vai trò chi phối” trong mối quan hệ với các yếu tố khác. Nhưng nếu có xuất hiện yếu tố khác: Chẳng hạn yếu tố công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung, hay yếu tố lỗi của một trong hai bên  trong việc vì phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng thì sẽ ảnh hưởng đến việc chia tài sản chung của vợ chồng như thế nào và tỉ lệ chia cho mỗi bên là bao nhiêu hay do Toà án tự quyết định? Quan điểm và đường lối chia tài sản khi ly hôncủa TANDTC về vấn đề này như thế nào?

2. Đường lối chia tài sản khi ly hôn của TANDTC

Tại Thông tư số 690-DS ngày 29-4-1960
Đối với tài sản thừa kế hay tặng cho một bên, tài sản riêng của mỗi bên trước khi kết hôn mà đem về, đồ đạc dùng cho cá nhân mà có giá trị và những tài sản do vợ chồng lao động chung mà tạo nên đều được coi là tài sản chung của vợ chồng và nên kiểm kê, đánh giá rồi căn cứ vào các tiêu chuẩn: Lao động góp sức vào gia đình nhiều hay ít, kết hôn lâu hay mới, con cái đông hay ít và trình trạng cụ thể của hai bên mà nhận xét để chia cho thoả đáng. Nếu xét lao động cả hai bên tương xứng thì mới chia bằng nhau. Nếu xét một bên lao động kém, lại có những hành vi phá tán, hoang phí sẽ chia cho sát theo sự đóng góp công sức của mỗi bên.
Lời tổng kết hội nghị tổng kết công tác năm 1977 của ngành Toà án nhân dân
Về tư trang… Đặc biệt ở Miền Nam, trong nhiều vụ án, các Toà án giải quyết chia vàng và đồ trang sức bằng vàng cho các đương sự, việc chia như vậy là hợp tình hợp lý, vì khi kết hôn, nhà trai và nhà gái tặng vợ chồng một số vàng vừa có tác dụng trang sức cho người phụ nữ, vừa có mục đích cho vợ chồng làm vốn liếng xây dựng gia đình. Vì vậy, khi xử lý loại việc này, các Toà án cần xác định là số ít đồ trang sức của riêng người phụ nữ không chia… còn những thứ chủ yếu là để dành làm vốn cho cả hai vợ chồng thì cần kiểm kê để chia cho cả hai người  theo những nguyên tắc đã qui định tại Điều 15 và Điều 29 Luật HN&GĐ (năm 1959).
Thông tư 60/TATC ngày 22 tháng 2 năm 1978 của TANDTC hướng dẫn giải quyết các việc tranh chấp về hôn nhân và gia đình của cán bộ, bộ đội có vợ, có chồng trong nam, tập kết ra bắc lấy vợ, lấy chồng khác
Về tài sản: Nếu cần xử chia tài sản trong các trường hợp ly hôn, tiêu hôn trên đây. Cũng như trong các vụ ly hôn trước đây chỉ mới xử ly hôn, còn gác lại vấn đề tài sản để xét sau, thì trước khi xử chia, phải điều tra, xác minh đầy đủ về nguồn gốc, về tình trạng tài sản còn nhiều hay ít, hiện ai giữ… để việc phân chia được chính xác, thoả đáng.
Chỉ thị số 69/TATC ngày 24 tháng 12 năm 1979 về việc giải quyết vấn đề nhà, đảm bảo chỗ ở cho các đương sự sau khi ly hôn
Nhà do hai vợ chồng tạo lập trong thời gian chung sống là tài sản chung của vợ chồng – việc chia nhà cho bên vợ hay chồng cần phải xem xét các mặt như: Hai người có thực sự ở nhà đó từ trước đến khi ly hôn hay vợ hoặc chồng có nơi ở khác… Nếu hai bên thực sự đều có khó khăn trong việc tạo lập chỗ ở mới thì ngăn chia nhà đó cho cả hai bên sử dụng. Diện tích chia cho mỗi bên sử dụng nhiều hay ít tuỳ thuộc cụ thể vào việc đảm nhận nuôi con cái, không nhất thiết chia đôi… Nhà gắn liền với đất – Trong trường hợp đất rộng thì có thể chia đất cho cả hai bên – Nếu trên đất có cây ăn trái thì cũng chia cho thoả đáng…
Báo cáo tổng kết công tác năm 1978 của ngành Toà án nhân dân
Đối với  các Toà án ở Miền Nam, Toà án  nhân dân tối cao đã lưu ý sự cảnh giác đối với những vụ án ly hôn có khối tài sản lớn, đề phòng thủ đoạn ly hôn giả tạo để phân tán tài sản, trốn tránh cải tạo… Trong quá trình giải quyết vụ án tranh chấp dân sự và hôn nhân gia đình, các Toà án còn phải chú ý thêm đến đặc điểm ở mỗi vùng miền, đặc điểm của từng địa phương … để có chủ trương đúng… Vì vậy, khi giải quyết các vụ án kiện ly hôn có chia tài sản (máy móc, nông cụ, ruộng đất, trâu bò…), các Toà án cần thận trọng. Đối chiếu kỹ với nội dung, tinh thần các văn bản kể trên tránh thiếu sót.
Lời tổng kết hội nghị tổng kết công tác năm 1975 của ngành Toà án nhân dân, lời tổng kết hội nghị tổng kết công tác năm 1979 của ngành Toà án nhân dân có đề cập đến vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn nhưng cũng không đề cập đến tỉ lệ cụ thể. Ngoài ra, các văn bản pháp luật có qui định về việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn từ năm 1986 đến trước trước ngày Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực thì không có qui định cụ thể về tỉ lệ nếu có xuất hiện yếu tố khác[4].
Luật HN&GĐ năm 2014 và Thông tư liên tịch số 01/2016 có đề cập đến một số yếu tố để xác định tỉ lệ tài sản mà vợ chồng được chia khi ly hôn nhưng không nói rõ là tỉ lệ cụ thể. Tháng 11 năm 2018, trong tài liệu tập huấn Luật HN&GĐ , TANDTC có đề cập: “trong thực tiễn xét xử, dù một bên có công sức rất lớn, có nhiều yếu tố khác để được chia nhiều hơn thì cũng không được chia nhiều gấp đôi bên kia, hay nói cách khác thì dù được chia nhiều cũng không đến 2/3 giá trị tài sản chung”[5].
Chúng tôi viện dẫn đường lối xét xử vụ án hôn nhân và gia đình có liên quan đến việc chia tài sản chung nêu trên để thấy được và đi đến kết luận là: bắt đầu từ  Luật HN&GĐ năm 1986 cho đến thời điểm hiện tại, khi xét xử vụ án ly hôn, nếu tài sản chung mà vợ chồng có tranh chấp thì căn cứ vào nguyên tắc là “chia đôi” nhưng cũng phải tính đến các yếu tố khác, nhưng không nói cụ thể tỉ lệ là bao nhiêu mà do Toà án quyết định trong từng vụ việc cụ thể.

3. Yếu tố lỗi ảnh hưởng đến tỉ lệ tài sản được chia khi vợ chồng ly hôn

Trong các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ tài sản được chia khi vợ chồng li hôn thì  lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng là một yếu tố mới bổ sung vào Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014. Theo Thông tư liên tịch số 01/2016 hướng dẫn thi hành Luật HN&GĐ năm 2014 thì “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.
Với việc qui định “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là một yếu tố để xác định tỉ lệ tài sản mà vợ chồng được chia thật sự không thể thi hành trên thực tế. Bởi những lý do sau đây:
Thứ nhất: Khó nhận diện và phân định rõ ràng vợ hay chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân; vi phạm quyền, nghĩa vụ về tài sản.
Về quyền và nghĩa vụ về nhân thân của vợ chồng được qui định, tại Mục 1, Chương III, từ Điều 17 đến Điều 23 trong Luật HN&GĐ năm 2014 là một qui định viện dẫn đến các quyền, nghĩa vụ cụ thể trong Luật HN&GĐ, Bộ luật Dân sự, các luật khác có liên quan và cả trong Hiến pháp. Đơn cử về điều luật qui định về tình nghĩa vợ chồng tại Điều 19 Luật HN&GĐ: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác. Nghĩa vụ yêu thương, nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, nghĩa vụ sống chung vv… như điều luật qui định là những thuật ngữ mang tính định tính, trừu tượng nên khi xét xử, Toà án khó xác định vợ chồng có vi phạm về quyền, nghĩa vụ về nhân thân, thậm chí không muốn nói là không thể.
Về vi phạm quyền, nghĩa vụ về tài sản: Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2014 qui định về nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng: Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Trong trường hợp việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường. Rõ ràng vấn đề bồi thường dân sự đã được đặt ra nếu vợ chồng có vi phạm về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản đối với người còn lại hoặc người thứ ba, vậy tại sao lại tiếp tục qui định vi phạm quyền, nghĩa vụ về tài sản tại điểm d khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016. Với qui định như thế, chúng tôi cho rằng một hành vi vi phạm phải chịu đến hai loại trách nhiệm pháp lý và theo chúng tôi qui định tại hướng dẫn của thông tư là không phù hợp với Điều 29 của Luật HN& GĐ.
Để làm rõ thêm về “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng”, Thông tư liên tịch số 01/2016 cho Ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên. Theo chúng tôi ví dụ này thực chất là làm sáng tỏ thêm nguyên nhân mâu thuẫn, mức độ trầm trọng của tình cảm vợ chồng và hoàn cảnh của vợ, con để có cách thức bảo vệ chủ thể yếu thế hơn đó là người vợ và trẻ chưa thành niên. Một số trong những cách thức hữu hiệu là giao cho họ với tỉ lệ nhiều hơn, không nên đồng nhất “lỗi” là yếu tố tác động, ảnh hưởng đến tỉ lệ được chia. Vấn đề này đã được đề cập tại Thông tư số 690-DS ngày 29-4-1960 của TANDTC: … căn cứ vào tiêu chuẩn: Lao động góp sức vào gia đình nhiều hay ít, kết hôn lâu hay mới, con cái đông hay ít và trình trạng cụ thể của hai bên mà nhận xét để chia cho thoả đáng. Nếu xét lao động cả hai bên tương xứng thì mới chia bằng nhau. Nếu xét một bên lao động kém, lại có những hành vi phá tán, hoang phí sẽ chia cho sát theo sự đóng góp công sức của mỗi bên.
Thứ hai: Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng không phải là căn cứ để Toà án giải quyết cho các bên ly hôn. Căn cứ để Toà án cho vợ chồng ly hôn được qui định tại Điều 55, 56 Luật Hôn nhân & Gia đình. Khoản 1 Điều 56 qui định: Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Với nội dung qui định này thì lỗi mỗi bên không phải là một căn cứ để Toà án giải quyết cho ly hôn. Nếu không phải là một căn cứ để cho ly hôn thì Toà án không nhận định trong bản án về lỗi nên không có cơ sở nhận định việc chia tài sản cho vợ hay chồng được hưởng nhiều hơn do người kia có lỗi trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Có quan điểm cho rằng “Lỗi” của vợ chồng là một trong những căn cứ cho ly hôn tại khoản 1 Điều 56 và đây là điểm mới của Luật HN&GĐ 2014 là không chính xác[6]. Thực chất đó là một nội dung được luật hoá vào trong khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ 2014 từ nội dung hướng dẫn thế nào “Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng”, “Đời sống chung không thể kéo dài được”, “Mục đích của hôn nhân không đạt được”  đã được nêu tại Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&GĐ năm 2000.
Về vấn đề lỗi của vợ chồng cũng đã được đề cập tại Báo cáo tổng kết công tác năm 1962 của ngành Toà án nhân dân: … Có một vài Toà án còn nêu lỗi của một bên trong phần quyết định của của bản án xử ly hôn là do chưa quán triệt đường lối, xét xử ly hôn phải căn cứ vào tình cảm vợ chồng hết hay còn để làm cơ sở phân tích cho ly hay không cho ly… Tất nhiên, khi phân tích, đánh giá tình cảm, Toà án phải xét nguồn gốc mâu thuẫn, động cơ đưa đến việc ly hôn để có hướng giúp đỡ thích hợp cho đương sự…  Với lời tổng kết này, TANDTC không xem lỗi không là căn cứ cho li hôn.
Thứ ba: Không thể cân đối lỗi giữa vợ và chồng trong cuộc sống khi xét xử, giải quyết vụ án li hôn. Thực tế xét xử tại Toà án cho thấy: Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn trong gia đình dẫn đến ly hôn khá đa dạng và hầu hết xuất phát từ cả hai phía, người vợ người chồng. Đến Toà án, người vợ khai người chồng thiếu quan tâm, chăm sóc, không sống chung (theo Điều 19 Luật HN&GĐ là vi phạm nghĩa vụ vợ chồng) người vợ mới đi ngoại tình (vì phạm nghĩa vụ vợ chồng). Người chồng khai người bị vợ thường xuyên xúc phạm nên người chồng không quan tâm đến người vợ (vi phạm nghĩa vụ vợ chồng) vvv… Rõ ràng, mỗi vợ chồng, mỗi gia đình là một hoàn cảnh, có nhiều nguyên nhân đang xen nhau, nguyên nhân này là tiền đề của mâu thuẫn gia đình, rồi chính mâu thuẫn đó lại là nguyên nhân, là tiền đề của mâu thuẫn mới nên không thể xác định được lỗi thuộc về ai, ai là người nhiều lỗi hơn, ai là người ít hơn. Nên việc qui định vấn đề xem xét lỗi của mỗi bên để tính toán quyết định tỉ lệ chia tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn như qui định tại điểm d khoản 2 Điều 59 Luật HN&GĐ hiện hành và điểm d khoản 4 Điều 7  Thông tư liên tịch số 01/2016  là thiếu tính thực tiễn, không khả thi trên thực tế.

4. Nhận xét, kiến nghị

Một trong những nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là phải đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật[7]. Văn bản quy phạm pháp luật phải đảm bảo tiêu chí: qui định phải dễ áp dụng, thi hành trên thực tế đời sống. Như phân tích ở trên, rõ ràng việc qui định yếu tố lỗi của mỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng để Toà án xem xét tính toán đến tỉ lệ chia tài sản chung khi ly hôn là không khả thi trên thực tế.
Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng không phải là căn cứ cho ly hôn tức là không được nhận định khẳng định vợ hay chồng có lỗi nhiều hay ít, tỉ lệ bao nhiêu mà hệ quả kéo theo là nhận định trong việc chia tài sản với tỉ lệ đó. Cả phương diện thực tiễn, chưa có qui định nào qui định khi có lỗi thì tỉ lệ được chia tài sản là bao nhiêu.
Trên cơ sở đã phân tích ở phần trên,  chúng tôi có kiến nghị sau:
Nên bãi bỏ điểm qui định tại điểm d khoản 2 Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014. Cụ thể là bãi bỏ nội dung:  “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng được qui định”.
Đồng thời, bãi bỏ điểm d khoản 4 Điều 7 tại Thông tư liên tịch 01/2016 và ví dụ hướng dẫn điểm khoản này, cụ thể bãi bỏ hướng dẫn: “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôm và bãi bỏ ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.
ThS. TRƯƠNG THANH HÒA (TAND huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi)
Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).


[1] Xem Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959.
[2] Xem Điều 42 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986.
[3] Xem Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
[4] Nghị quyết số 02/2004/HĐTP ngày 10 tháng 8 năm 2004 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 01/2003/HĐTP ngày 16 tháng 4 năm 2003 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết  một số loại tranh chấp án dân sự, hôn nhân và gia đình;  Nghị quyết số 02/2000/ HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng hướng dẫn áp dụng một số qui định của luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19 tháng 10 năm 1990 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng  một số qui định của pháp lệnh thừa kế; Nghị quyết 01/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 01 năm 1988 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng hướng dẫn áp dụng một số qui định của luật hôn nhân và gia đình (năm 1986). Nghị quyết sô 35/2000/NQ-QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc Hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình. Nghị định số 70/2001/NĐ ngày 03 tháng 10 năm 2001của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật hôn nhân và gia đình.
[5] Xem Tài liệu tập huấn giải quyết vụ việc hôn nhân gia đình năm 2018 của TANDTC, tr46,47.
[6] Xem tại http://www.sotuphapqnam.gov.vn/index.php/2017-03-13-06-49-51/2061-v-yu-t-li-trong-lut-hon-nhan-va-gia-inh-2014
[7] Xem Khoản 1 Điều 5 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Ly hôn một bên bị bệnh tâm thần hoặc có dấu hiệu bị bệnh tâm thần

Bài viết này, tác giả nghiên cứu và đề cập một số qui định có liên quan xoay quanh vấn đề ly hôn trong trường hợp đặc biệt: Một bên bị bệnh tâm thần hoặc có dấu hiệu bị bệnh tâm thần để có góc nhìn cụ thể và có hướng hoàn thiện pháp luật.
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (Luật HN&GĐ) có nhiều điểm mới so với các Luật HN&GĐ trước. Một trong những điểm mới đó được qui định ngay tại Điều 3 giải thích về từ ngữ ly hôn:“Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án” mà không cần phải có thêm cụm từ theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng như Luật HN&GĐ năm 2000[1]. Việc giải thích từ ly hôn như hiện nay thể hiện: Ngoài vợ, chồng có quyền yêu cầu ly hôn thì còn có một chủ thể khác không phải là vợ, chồng nhưng cũng có quyền yêu cầu ly hôn trong một số trường hợp đặc biệt. Đó là cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ[2]. Đây cũng là một điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2014. Tuy nhiên, để giải quyết vụ án ly hôn trong trường hợp đặc biệt nêu trên không đơn giản đối với các Thẩm phán. Thực tế khi giải quyết có sự vướng mắc, bất cập khi áp dụng Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS), Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS),  Luật HN&GĐ.

1. Quy định về ly hôn khi vợ, chồng bị bệnh tâm thần

Trong thực tiễn có hai trường hợp xảy ra, trường hợp thứ nhất người vợ (chồng) bình thường yêu cầu ly hôn với người còn lại bị bệnh tâm thần mà đã xác định đã mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Toà án. Trường hợp thứ hai là người bị bệnh tâm thần (Đã xác định là mất năng lực hành vi dân sự) bị đối xử ngược đãi hay vì một lý do nào đó mà chủ thể khác (Chủ thể thứ ba) đứng ra yêu cầu Toà án giải quyết cho người bị bệnh tâm thần được ly hôn với người vợ (chồng) còn lại.
1.1.Trường hợp thứ nhất, người vợ (chồng) yêu cầu ly hôn với người còn lại bị bệnh tâm thần (được hiểu là đã xác định mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Toà án)
Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn chỉ bị hạn chế đối với người chồng trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi được qui định tại khoản 3 Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014. Điều luật qui định về Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn không cấm hay hạn chế trường hợp vợ (chồng) yêu cầu ly hôn với người còn lại bị bệnh tâm thần. Khi có yêu cầu ly hôn trong trường hợp bên bị kiện là người bị tâm thần thì Tòa án phải thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự như chỉ dẫn của khoản 1 Điều 53 Luật HN&GĐ năm 2014. Nhưng chưa có qui định cụ thể nào về tố tụng trong trường hợp người bị kiện trong vụ án ly hôn là người bị tâm bệnh tâm thần. Do đó, Thẩm phán phải vận dụng các qui định của BL TTDS để xác định tư cách đương sự cho hợp lý.
Khi bị đơn là người bị bệnh tâm thần thì họ không thể tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, khoản 4 Điều 69 BLTTDS qui định: “Người mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng dân sự. Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện”.
Vậy người đại diện cho vợ (chồng) bị tâm thần là ai?
Đại diện cho nhau giữa vợ, chồng khi một bên bị mất năng lực hành vi dân sự cần phải tiếp cận dưới hai phương diện. Thứ nhất, vợ (chồng) bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì người còn lại sẽ được xác định là người giám hộ đương nhiên theo qui định tại khoản 1 Điều 53 BLDS và khoản 3 Luật HN&GĐ năm 2014[3]. Khi thực hiện các giao dịch dân sự hoặc tham gia tố tụng tại Toà án với một chủ thể thứ ba thì người giám hộ đại diện và thay mặt họ để thực hiện. Thứ hai, nếu ngay chính vợ (chồng) hay nói cách khác là ngay người giám hộ và người được giám hộ có xung đột về lợi ích, xung đột về quyền và nghĩa vụ thì người giám hộ sẽ không đủ điều kiện để giám hộ, Toà án sẽ chỉ định người khác giám hộ để đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự thực hiện bảo vệ các quyền và lợi ích của họ, chẳng hạn như vợ chồng ly hôn.
Nội dung này được qui định tại khoản 3 Điều 24 Luật HN&GĐ năm 2014: Trong trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn. Việc chỉ định của Toà án phải căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự. Tại khoản 1 Điều 88 BLTTDS cũng có đề cập: Khi tiến hành tố tụng dân sự, nếu có đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự mà không có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 87 của Bộ luật này thì Tòa án phải chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng.
Vậy thì ai là người được Toà án chỉ định đại diện cho người cho người bị mất năng lực hành vi dân sự (vợ hoặc chồng bị bị bệnh tâm thần) để đại diện cho họ khi giải quyết việc ly hôn theo chỉ dẫn của Khoản 3 Đều 24 Luật HN&GĐ năm 2014 và khoản 1 Điều 88 BLTTDS?
Theo BLDS, Toà án chỉ được chỉ định người giám hộ trong trường hợp có tranh chấp giữa những người giám hộ quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này về người giám hộ hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án chỉ địnhngười giám hộ. Cũng theo BLDS tại khoản 2, khoản 3 Điều 136 qui định về đại diện theo pháp luật của cá nhân là người giám hộ đối với người được giám hộ, cũng có nghĩa là người mất năng lực hành vi dân sự thì người giám hộ là người đại diện cho họ. Toà án chỉ định người đại diện khi không xác định được người đại diện (là người giám hộ đối với người được giám hộ).
Với những qui định trên cho thấy BLDS và BLTTDS năm 2015, không có điều khoản nào qui định cho trường hợp Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn nên Thẩm phán bị lúng túng, nhận thức không thống nhất về việc chỉ định ai là người đại diện cho vợ (chồng) tham gia tố tụng khi tiến hành giải quyết vụ án ly hôn trong trường hợp đặc biệt này. Toà án chỉ định bằng hình thức nào? Trước khi thụ lý vụ án hay sau khi thụ lý vụ án? Người được chỉ định: Cha, mẹ, người thân thích khác hay là ai?
Theo tác giả, cần phải có hướng dẫn cụ thể vấn đề này để có thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật trên thực tế, trong khi chờ đợi sửa đổi bổ sung, chúng ta nhìn nhận một số giải pháp sau:
Áp dụng pháp luật tương tự về giám hộ, đại diện nói chung để vận dụng vào tình huống ly hôn
Một giải pháp là Toà án có thể áp dụng pháp luật tương tự được qui định tại khoản 3 Điều 53 về giám hộ đương nhiên của BLDS trong tình huống này. Khoản 3 Điều 53 qui định: Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.Theo điều khoản này, ta lần lược xem xét: Vợ chồng ly hôn thì người còn lại không đủ điều kiện giám hộ, để làm đại diện cho nhau khi ly hôn nên bị loại trừ. Chủ thể còn lại là con của vợ chồng xin ly hôn đại diện cho cha, mẹ (Bị mất năng lực hành vi dân sự) để ly hôn với người còn lại là cha hoặc mẹ mình, tuy không bị cấm nhưng Toà án sẽ không chọn lựa trong tình huống như vậy bởi vì trái với truyền thống tốt và ý thức hệ của gia đình người Việt Nam. Chủ thể còn lại là cha (mẹ) của người vợ (chồng) bị bệnh tâm thần là người sẽ được chỉ định để đại diện cho con của họ (nếu đủ điều kiện) để tham gia tố tụng tại Toà án khi chồng hoặc vợ có yêu cầu ly hôn. Xa hơn nữa, nếu cha mẹ của người bị mất năng lực hành vi dân sự không có đủ điều kiện giám hộ (hoặc đã chết hoặc không có cha mẹ) thì Toà án sẽ chỉ định người thân thích[4] của người mất năng lực hành vi dân sự để đại diện cho họ tham gia tố tụng trong vụ án ly hôn.
Thời điểm nào Toà án chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng và giải quyết việc ly hôn và xác định tư cách tham gia tố tụng?
Khi Toà án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đồng thời xác định người đại diện của người mất năng lực hành vi dân sự ngay trong quyết định của Toà án. Vợ (chồng) là người giám hộ đương nhiên của nhau khi một khi một bên bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự. Nhưng khi người giám hộ muốn ly hôn với người được giám hộ thì người giám hộ không còn đủ điều kiện được giám hộ và cũng không thể làm đại diện như đã phân tích. Khoản 4 Điều 69 BLTTDS trường hợp người bị kiện là người mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng dân sự. Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện. Người đại diện hợp pháp trong trường hợp ly hôn với một người bị tâm thần thì như đã luận giải phải do Toà án chỉ định để làm người đại diện. Nhưng Toà án chỉ định tại thời điểm nào: Sau khi thu lý vụ án hay tại giai đoạn xử lý đơn?
Vấn đề này pháp luật tố tụng hiện hành không đề cập nhưng chúng ta vận dụng Điều 70 BLDS về thay đổi người giám hộ (vì người giám hộ không còn đủ các điều kiện giám hộ), Toà án xác định (chỉ định) cha, mẹ là giám hộ đương nhiên để đại diện. Việc này phải được thực hiện tại thời điểm xử lý đơn và yêu cầu người vợ (chồng) ly hôn phải xác định được tên, tuổi, địa chỉ của cha, mẹ (của người bị tâm thần) và yêu cầu người khởi kiện ghi vào đơn khởi kiện. Để khi Toà án thụ lý vụ án xác định được người đại diện và tiến hành tống đạt văn bản tố tụng để người này tiến hành các hoạt động đại diện cho bị đơn.
1.2.Trường hợp thứ hai người vợ (chồng) bị bệnh tâm thần yêu cầu ly hôn với người còn lại. 
Như trình bày ở mục 1.1, người bị bệnh tâm thần là vợ (chồng) thì người kia là người giám hộ và đại diện cho họ nhưng trong thực tế người bị tâm thần vì lý do nào đó cần được ly hôn với người vợ chồng nên khoản 2 Điều 51 Luật HNGĐ qui định:  Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ. Ngoài chủ thể là cha, mẹ, người thân thích, khoản 1, 5 Điều 187 BLTTDS còn có qui định: Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. 

2. Ly hôn với một bên có dấu hiệu bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh tâm thần nhưng chưa có quyết định tuyên bố người này mất năng lực hành vi dân sự

BLTTDS và Luật HN&GĐ không có qui định về trường hợp ly hôn với người có dấu hiệu bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh tâm thần nhưng chưa có quyết định tuyên bố người này mất năng lực hành vi dân sự. Khi gặp tình huống này, Toà án thường yêu cầu đương sự làm thủ tục xác định tình trạng năng lực pháp luật của người này để xác định họ có thể đủ năng lực tham gia tố tụng tại Toà án hay không. Một trong trong những cách thức đó là: Yêu cầu làm thủ tục tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự. Nhưng để tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi dân sự vì lý do bị bệnh tâm thần thì cần phải có tài liệu chứng cứ chứng minh như kết luận của cơ quan chuyên môn và đó là một việc dân sự nên đòi hỏi những thủ tục nhất định theo qui định của BLTTDS.
Tuy nhiên, trên thực tế, không phải đương sự nào cũng đáp ứng về thủ tục, đặc biệt là kết luận giám định của cơ quan chuyên môn về trình trạng nhận thức của người bị bệnh tâm thần vì họ từ chối đi giám định. Do đó, Toà án không thể tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự. Toà án phải làm gì trong những trường hợp như vậy: Trả lại đơn khởi kiện, từ chối thụ lý, nếu đã thụ lý thì tạm đình chỉ, đình chỉ? Hay Toà án phải thụ lý và giải quyết theo thủ tục chung. Tác giả đã trao đổi và tìm hiểu một số đồng nghiệp và nhận được nhiều câu trả lời không rõ ràng, không dứt khoát nhưng có một điểm chung trong nhận thức là: Việc trả đơn, tạm đình chỉ, đình chỉ, từ chối thụ lý trong tình huống trên rõ ràng cách làm này miễn cưỡng vì pháp luật tố tụng dân sự không cho phép và không nằm trong các trường hợp trả đơn khởi kiện tại Điều 192, tạm đình chỉ Điều 214 (Trừ trường hợp áp dụng điểm d khoản 1 Điều 214), đình chỉ Điều 217 của BLTTDS. Nhưng nếu tiến hành giải quyết theo thủ tục chung thì còn lúng túng và khả năng bản án bị hủy, sửa do sự thiếu sót khi nhận thức, vận dụng pháp luật là điều không tránh khỏi.
Quan điểm của TANDTC về vấn đề này như thế nào? Chúng ta nhận diện quan điểm của TANDTC thông qua một số văn bản như sau:
Theo tinh thần hướng dẫn tại Công văn số 7/NCPL ngày 30-9-1966 của Tòa án nhân dân tối cao “Về việc xét xử việc ly hôn với người mất trí” được giải quyết như sau: Người mắc bệnh tâm thần là người không có năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, như vậy họ không thể tham gia tố tụng. Do đó, việc làm trước tiên của Toà án khi nhận được đơn xin ly hôn về loại này là điều tra, xác minh tình trạng và mức độ bệnh tật, thời gian mắc bệnh của bị đơn, nếu đúng bị đơn là người bị mắc bệnh tâm thần, thì phải có giám định của bệnh viện xác nhận. 
Công văn số 53/KHXX ngày 21-9-1996: “Trường hợp một bên vợ hoặc chồng mắc bệnh tâm thần mà bên kia gửi đơn đến Toà án xin ly hôn, nếu xét thấy mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án nhân dân xử cho ly hôn”, đồng thời lưu ý: “Thủ tục giải quyết loại việc này là thủ tục phức tạp, trong đó việc bảo vệ quyền lợi của một bên đương sự được đặc biệt chú ý và viện dẫn tinh thần của nội dung tại Công văn số 7/NCPL ngày 30-9-1966 của TANDTC “Về việc xét xử việc ly hôn với người mất trí”.
Tại Công văn số 16/1999/KHXX ngày 1 tháng 2 năm 1999 của TANDTC giải đáp về một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng tiếp tục nhắc lại nội dung của các công văn giải đáp trước đó và có hướng dẫn thêm: Toà án không nhất thiết phải lấy lời khai của người mắc bệnh tâm thần và triệu tập họ đến Toà án. Trường hợp họ là người hoàn toàn mất trí, bệnh tình trầm trọng, Toà án sẽ không lấy lời khai của họ. Trường hợp họ không phải là người thường xuyên mất trí (có khi họ tỉnh táo), thì kinh nghiệm một số Toà án cử cán bộ đến tận nơi kết hợp với gia đình và bệnh viện để giải thích và lấy lời khai của họ. Với giải đáp này, quan điểm của TANDTC tuy có đặt ra vấn đề về trình trạng nhận thức của người bị bệnh tâm thần: Thứ nhất đó là người hoàn toàn mất trí, bệnh tình trầm trọng và thứ hai là không phải là người thường xuyên mất trí (có khi họ tỉnh táo) nhưng TANDTC không đề cập đến việc có cần phải tuyên bố người bị bệnh tâm thần, mất trí đó mất năng lực hành vi dân sự không. Ngoài ra, giải đáp này còn hướng dẫn về người đại diện: Tại phiên toà, người đại diện sử dụng quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn nên không cần thiết gọi người mắc bệnh tâm thần đến phiên toà vì sẽ ảnh hưởng đến trật tự phiên toà, gây khó khăn cho việc xét xử. Khi xét xử, cần có đại diện Viện kiểm sát và đây là loại việc mà Viện kiểm sát có thể tham gia tố tụng ngay từ khi Toà án bắt đầu thụ lý đơn xin ly hôn. Hướng dẫn về thủ tục: Toà án không tiến hành hoà giải như các vụ ly hôn khác, nhưng đối với nguyên đơn xin ly hôn, Toà án nên thuyết phục, giải thích để họ đoàn tụ và rút đơn xin ly hôn. Trường hợp bị đơn không phản đối việc ly hôn Toà án cũng không ra quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn mà phải mở phiên toà xét xử… 
Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC ngày 07 tháng 4 năm 2017 của TANDTC về giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ, có tình huống đặt vấn đề: Trong vụ án dân sự, đương sự có dấu hiệu tâm thần nhưng chưa có quyết định của Tòa án tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự thì Tòa án giải quyết như thế nào? TANDTC giải đáp: …”khi có chủ thể cho rằng một người là đương sự trong vụ án mất năng lực hành vi dân sự thì Tòa án phải giải thích, hướng dẫn để họ thực hiện quyền yêu cầu tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự theo quy định …; trường hợp họ có yêu cầu và Tòa án thụ lý, giải quyết yêu cầu này thì Tòa án áp dụng điểm d khoản 1 Điều 214 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; trường hợp họ không yêu cầu thì Tòa án giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục chung”. 

3. Nhận xét, kiến nghị 

Qua các giải đáp từ năm 1966 cho đến hiện nay, quan điểm của TANDTC là không cấm hay hạn chế việc Tòa án thụ lý giải quyết ly hôn với người bị bệnh tâm thần hoặc có dấu hiệu bị bệnh tâm thần. Tuy nhiên, tại Công văn số 7/NCPL ngày 30-9-1966 của TANDTC “Về việc xét xử việc ly hôn với người mất trí” có nội dung “… nếu đúng bị đơn là người bị mắc bệnh tâm thần, thì phải có giám định của bệnh viện xác nhận..”  và tại nội dung của giải đáp Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC thể hiện nếu nói bị đơn, hay đương sự nào đó là bị thâm thần thì phải có giám định của bệnh viện xác nhận. Hướng dẫn này là nhằm để có những thủ tục phù hợp khi giải quyết vụ án, không cấm hay hạn chế việc ly hôn đối với trường hợp ly hôn có người bị bệnh tâm thần hay có dấu hiệu bị bệnh tâm thần.
Như vậy, quan điểm của TANDTC cũng như qui định của pháp luật hiện hành, cụ thể là Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014, Điều luật qui định về Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn, không cấm hay hạn chế một người yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với một người bị bệnh tâm thần hay có dấu hiệu bị bệnh tâm thần cho dù người đó đã có quyết định của Tòa án tuyên bố là mất năng lực hành vi dân sự hay chưa. Việc yêu cầu Tòa án tuyên bố người vợ (chồng) mất năng lực hành vi dân sự là một việc dân sự độc lập với việc ly hôn theo thủ tục, trình tự nhất định và chỉ có ý nghĩa cho việc xác định người giám hộ, đại diện để thực hiện quyền và nghĩa vụ cho người đó.
Tuy nhiên, như đã phân tích các qui định ở mục 1, 2; chúng ta đã nhận diện được sự bất cập tại Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014 là: Trong trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hônthì Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn. Việc chỉ định của Toà án phải căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự. Qui định này đã viện dẫn đến BLDS về giám hộ và đại diện nhưng đạo luật này không dự liệu cho trường hợp đã viện dẫn. Trong khi đó, thủ tục ly hôn là do Tòa án tiến hành nên việc chỉ định đại diện trong trường hợp này là phải theo qui định của BLTTDS, đại diện trong BLDS cũng là đại diện trong BLTTDS. Tạm thời khắc phục những khiếm khuyết, bất cập đã nêu chúng ta cần áp dụng pháp luật tương tự như phân tích ở trên để chỉ định đại diện cho những trường hợp ly hôn này.
Bên cạnh đó, phải sửa đổi, bổ sung qui định tại Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014: Sửa cụm từ “chỉ định” thành “xác định”,cần làm rõ “người khác” là cha, mẹ, hoặc anh, em, chú, bác (Trong phạm vi ba đời) hoặc cơ quan, tổ chức (Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam). Bỏ qui định chỉ dẫn việc “giám hộ” trong Bộ luật dân sự nên thay vào đó là chỉ dẫn đến “đại diện”  trong BLTTDS.
Nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể: “Trong trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì Tòa án xác định một trong những người có huyết thống trong phạm vi ba đời (cha, mẹ, anh, em, chú, bác, cô, dì..) hoặc cơ quan, tổ chức (Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam) đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn. Việc xác địnhcủa Toà án phải căn cứ vào quy định về đại diện trong Bộ luật tố tụng dân sự”.
Về tố tụng dân sự, cần có qui định hoặc hướng dẫn giải thích thời điểm xác định người đại diện: “Trong trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì Tòa án cần yêu cầu người khởi kiện ly hôn phải xác định người đại diện của người vợ chồng còn lại hoặc do Tòa án xác định khi tiến hành xử lý đơn khởi kiện”.
TANDTC cần có hướng dẫn cụ thể: “Trường hợp vợ chồng xin ly hôn mà một bên, hay cả hai bên bị bệnh tâm thần hoặc chỉ có dấu hiệu bị tâm thần không phải là trường cấm hay hạn chế quyền ly hôn” nhưng cũng phải có hướng dẫn  trình tự thủ tục tố tụng riêng cho trường hợp này như việc mời các cá nhân, cơ quan chức năng tham gia gia tố tụng để tạo sự thống nhất trong nhận thức trong hệ thống Tòa án đối với những trường hợp ly hôn đặt biệt này.

Nguồn Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)

 
[1] Khoản 14 Điều 3 Luât Hôn nhân và gia đình năm 2014 bỏ cụm từ theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng như khoản 8 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
[2] Xem Khoản 2 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Xem Khoản 3 Điều 24 Luật HN&GĐ năm 2014. Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ có liên quan.
[4] Theo khoản 19 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Người thân thích là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời.

Thủ tục ly hôn khi chồng bỏ đi biệt tích

Vợ chồng tôi đã có hơn 10 năm chung sống và có 2 con chung. Gần đây, gia đình tôi làm ăn thất bát, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và chồng tôi bỏ nhà đi biệt tích hơn 2 năm nay không có tin tức gì. Tôi muốn ly hôn thì thủ tục như thế nào?
 
Nội dung liên quan được tìm kiếm:

 
Vấn đề bạn hỏi, chúng tôi trả lời như sau:
Do chồng bạn bỏ đi biệt tích, nên bạn muốn ly hôn thì thuộc trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên.
Theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về các trường hợp ly hôn theo yêu cầu một bên như sau:
 

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

 
Căn cứ khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thì trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.” Như vậy, để Tòa án sẽ giải quyết cho ly hôn thì bạn phải thực hiện thủ tục tuyên bố mất tích đối với người chồng đã bỏ đi biệt tích.
Thủ tục tuyên bố một người mất tích được quy định tại các Điều 384, 385 và Điều 388 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 như sau:
– Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích phải có các nội dung chính sau đây: Ngày, tháng, năm ra thông báo; tên Tòa án ra thông báo; số và ngày, tháng, năm của quyết định thông báo tìm kiếm người mất tích tại nơi cư trú; Tên, địa chỉ của người yêu cầu Tòa án thông báo; họ, tên và ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi của người bị yêu cầu tuyên bố mất tích và địa chỉ cư trú của người đó trước khi biệt tích; địa chỉ liên hệ của cơ quan, tổ chức, cá nhân nếu người mất tích biết được thông báo hoặc người khác có được tin tức về người mất tích.
– Việc công bố thông báo được quy định như sau: Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Tòa án ra quyết định thông báo tuyên bố một người mất tích tại nơi cư trú, thông báo này phải đăng trên một trong các báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp, Cổng thông tin điện tử của Tòa án, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (nếu có) và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp. Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích do người yêu cầu chịu.
– Thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo.
Đối với việc tuyên bố người mất tích, tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các điều kiện sau:
 

1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.
Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

 
Sau khi có quyết định của Tòa án tuyên bố một bên vợ hoặc chồng là người mất tích thì bên còn lại có thể khởi kiện và được Tòa án giải quyết cho ly hôn theo yêu cầu của một bên.  
 

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)

Ly hôn đơn phương thì có thể giành quyền nuôi cả 2 con không ?

Điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:
 

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

 
Vậy, về nguyên tắc, việc ai là người nuôi con sau khi ly hôn có thể được các bên đương sự (vợ, chồng) tự thỏa thuận với nhau và được tòa án ghi nhận trong bản án. Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con khi chưa thành niên (dưới 18 tuổi) hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
 
Ngoài ra tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:
 

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

 
Vậy, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng (mức cấp dưỡng tùy theo điều kiện kinh tế hoặc theo thỏa thuận) để người kia chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành.
Hơn nữa tại Điều 83 của luật hôn nhân và gia đình năm 2014 còn quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:
 

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.