Các nguyên tắc xử lý người phạm tội và pháp nhân thương mại phạm tội

Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định 07 nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội và 04 nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

Các nguyên tắc xử lý người phạm tội và pháp nhân thương mại phạm tội theo quy theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015

Nguyên tắc xử lý đối với các đối tượng phạm tội quy đinh tại Điều 3 Bộ luật Hình sự 2015:

1. Đối với người phạm tội:
a) Mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;
b) Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội;
c) Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;
d) Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn, hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;
đ) Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục;
e) Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện;
g) Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích.
2. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội:
a) Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;
b) Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế;
c) Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;
d) Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra.

Như vậy là có 07 nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội và 04 nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội.
Người chưa thành niên phạm tội

7 nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội

Các nguyên tắc này đã được sửa đổi bổ sung từ 5 nguyên tắc xử lý quy định tại Điều 3 Bộ luật Hình sự được Quốc hội thông qua ngày 21- 12- 1999, sửa đổi bổ sung ngày 16- 9- 2009 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự 1999). Các nguyên tắc này đã được áp dụng có hiệu quả trong thời gian thi hành Bộ luật Hình sự 1999 và các nguyên tắc này còn được quy định cụ thể thành từng điều luật.
Ví dụ có điều luật quy định “Khái niệm tội phạm”, có điều luật quy định phân loại tội phạm, có điều luật quy định “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự” đối với từng loại tội phạm, có điều luật quy định không áp dụng thời hiệu truy cập truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia và phạm các tội phá hoại hòa bình, chống lại loài người và tội phạm chiến tranh. Có các điều luật giải thích từng loại hình phạt, giải thích về “cố ý phạm tội”, “vô ý phạm tội”, về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, về chuẩn bị phạm tội, về phạm tội chưa đạt, về tự ý nửa chừng.chấm dứt việc phạm tội…Có điều luật quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự để khi giải quyết hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định loại hình phạt mức phạt tương xứng với hành vi phạm tội và thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
Bộ luật Hình sự cũng có các điều luật quy định về không áp dụng thời hiệu thi hành bản án đối với người phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia (chương XIII), các tội phá hoại hòa bình, chống lại loài người, tội phạm chiến tranh (Chương XXVI), người phạm tội tham ô tài sản thuộc khoản 3 khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015 và người phạm tội nhận hối lộ thuộc khoản 3 khoản 4 Điều 354 Bộ luật Hình sự 2015. Có các điều luật quy định về miễn chấp hành hình phạt đối với người bị kết án khi được đặc xá hoặc đại xá, quy định về giảm mức hình phạt đã tuyên, quy định về giảm thời thời hạn chấp hành phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện, về hoãn chấp hành hình phạt tù, về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, về xóa án tích. Có như vậy mới đảm bảo việc thực hiện thống nhất các nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội.

4 nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Pháp nhân thương mại phạm tội quy định trong Bộ luật Hình sự 2015 là pháp nhân thương mại được hiểu theo quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) được Quốc hội thông qua ngày 24/11 năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 (sau đây gọi là BLDS năm 2015). Điều 75 BLDS năm 2015 quy định pháp nhân thương mại như sau:

1. Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.
2. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác.
3. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Để thực hiện đúng và thống nhất 4 nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội, Bộ luật Hình sự 2015 có một số điều luật quy định cụ thể 4 nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội cụ thể là:
– Điều 74 quy định về: “Áp dụng quy định của bộ luật hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội”
– Điều 75 quy định về: “Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại”
– Điều 76 quy định về: “Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại” với nội dung là pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại một trong các điều: “Điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196,200, 203, 209, 210, 211, 213, 216, 217, 225, 226,227, 232, 234,235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245, 246, 300 và 304 của Bộ luật Hình sự 2015.
– Điều 77 quy định về: “Phạt tiền”
– Điều 78 quy định về: “Đình chỉ hoạt động có thời hạn”
– Điều 79 quy định về: “Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn”
– Điều 80 quy định về: “Cấm kinh doanh hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định”
– Điều 81 quy định về: “Cấm huy động vốn”
– Điều 82 quy định về: “Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội”
– Điều 83 quy định về: “Căn cứ quyết định hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội”
– Điều 84 quy định về: “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại”
– Điều 85 quy định về: “Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại”
– Điều 186 quy định về: “Quyết định hình phạt trong trường hợp pháp nhân thương mại phạm nhiều tội”
– Điều 187 quy định về: “Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án
– Điều 188 quy định về: “Miễn hình phạt”
– Điều 189 quy định về: “Xóa án tích”
Về xóa án tích quy định là: “Pháp nhân thương mại bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 2 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không thực hiện hành vi phạm tội mới”.
Theo quy định tại khoản 3 điều 60 Bộ luật Hình sự 2015 thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với pháp nhân thương mại là 05 năm và theo quy định tại khoản 4 Điều 60 Bộ luật Hình sự 2015 thì thời hiệu thi hành bản án được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Xóa án tích được coi như chưa bị kết án./.

ĐỖ VĂN CHỈNH

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự

Nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015.
BLHS 2015 là văn bản đầu tiên và duy nhất trong lịch sử lập pháp hình sự của Nhà nước ta quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Đây là điểm mới nổi bật, mang tính đột phá trong chính sách hình sự của nước ta. Sự điều chỉnh về chính sách hình sự này làm thay đổi căn bản nhận thứctruyền thống về vấn đề tội phạm và hình phạt. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tập trung giới thiệu các quy định của BLHS năm 2015 về nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bộ luật Hình sự năm 2015 – văn bản đầu tiên và duy nhất quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại2015

Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018[1](sau đây viết tắt là BLHS năm 2015) là văn bản đầu tiên và duy nhất trong lịch sử lập pháp hình sự của Nhà nước ta quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại[2]. Đây là điểm mới nổi bật, mang tính đột phá trong chính sách hình sự của nước ta. Sự điều chỉnh về chính sách hình sự này làm thay đổi căn bản nhận thức truyền thống về vấn đề tội phạm và hình phạt. Cùng với việc quy định pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự, BLHS năm 2015 quy định hệ thống chế tài áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội tại Điều 33 và Điều 46 của BLHS năm 2015 (bao gồm 03 hình phạt chính (phạt tiền; đình chỉ hoạt động có thời hạn; đình chỉ hoạt động vĩnh viễn), 03 hình phạt bổ sung (cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; cấm huy động vốn; phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính) và 04 biện pháp tư pháp (tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thườngthiệt hại; buộc công khai xin lỗi; buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra)). Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tập trung giới thiệu các quy định của BLHS năm 2015 về nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự.
– Quy định TNHS đối với pháp nhân thương mại: BLHS năm 2015 đã buộc pháp nhân thương mại phải chịu TNHS tại 22 điều luật (quy định 30 tội danh) trong chương[3]. Cùng với đó, BLHS năm 2015 còn sửa đổi quy định về cơ sở của TNHS (Điều 2), nguyên tắc xử lý (Điều 3), khái niệm tội phạm (Điều 8), các quy định về hình phạt và các biện pháp tư pháp, đồng thời dành hẳn 01 chương (Chương XI “Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội”) để có thể truy cứu TNHS của pháp nhân thương mại theo đúng chính sách hình sự mà Nhà nước đã đề ra. Việc quy định TNHS đối với pháp nhân thương mại trong thời điểm này là vô cùng cần thiết và phù hợp, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và xử lý tội phạm trong tình hình mới.

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (nhóm tội phạm trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại)

Tội buôn lậu (Điều 188)

Theo quy định tại khoản 6 Điều 188 thì pháp nhân thương mại bị xử hình sự khi buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng; hàng hóa trị giá dưới 200 triệu đồng nhưng là di vật, cổ vật; hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chínhcủa pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 300 triệu đồng, cao nhất có thể lên đến 15 tỷ đồng hoặc hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm hoặc hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 300 trăm đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới (Điều 189)

Theo quy định tại khoản 5 Điều 189 thì pháp nhân thương mại bị xử hình sự khi vận chuyển qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng; hàng hóa trị giá dưới 200 triệu đồng nhưng là di vật, cổ vật; hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 200 triệu đồng, cao nhất có thể lên đến 05 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 trăm đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190)

Theo quy định tại khoản 5 Điều 190 thì pháp nhân thương mại bị xử hình sự khi thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của BLHS: (1) sản xuất, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng từ 50 kilôgam đến dưới 100 kilôgam hoặc từ 50 lít đến dưới 100 lít; (2) buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao; (3) sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam; (4) sản xuất, buôn bán hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng; (5) sản xuất, buôn bán hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng; (6) sản xuất, buôn bán hàng hóa dưới mức quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm b khoản 5 Điều 190 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) phạm tội có tổ chức; (2) có tính chất chuyên nghiệp; (3) thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng từ 100 kilôgam đến dưới 300 kilôgam hoặc từ 100 lít đến dưới 300 lít; (4) thuốc lá điếu nhập lậu từ 3.000 bao đến dưới 4.500 bao; (5) pháo nổ từ 40 kilôgam đến dưới 120 kilôgam; (6) hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá từ 300 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (7) hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng hoặc thu lợi bất chính từ 300 triệu đồng đến dưới 700 triệu đồng. Ngoài ra, nếu pháp nhân mà thực hiện hành vi buôn bán qua biên giới, trừ hàng hóa là thuốc lá điếu nhập lậu; tái phạm nguy hiểm cũng bị áp dụng tình tiết tại khoản 2 Điều này.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm c khoản 5 Điều 190 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng 300 kilôgam trở lên hoặc 300 lít trở lên; (2) thuốc lá điếu nhập lậu 4.500 bao trở lên; (3) pháo nổ 120 kilôgam trở lên; (4) hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá 500 triệu trở lên hoặc thu lợi bất chính 500 triệu đồng trở lên; (5) hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá 01 tỷ đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 700 triệu đồng trở lên.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 1 tỷ đồng, cao nhất có thể lên đến 09 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 79 của BLHS thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Điều 191)

Theo quy định tại khoản 5 Điều 191 thì pháp nhân thương mại bị xử lý hình sự khi thực hiện một trong các hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của BLHS: (1) thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng từ 50 kilôgam đến dưới 100 kilôgam hoặc từ 50 lít đến dưới 100 lít; (2) thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao; (3) pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam; (4) hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá từ 100 trăm triệu đồng đến dưới 300 trăm triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến dưới 200 trăm triệu đồng; (5) hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá từ 200 trăm triệu đồng đến dưới 500 trăm triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100 trăm triệu đồng đến dưới 300 trăm triệu đồng; (6) hàng hóa dưới mức quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 190, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm b khoản 5 Điều 191 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) phạm tội có tổ chức; (2) có tính chất chuyên nghiệp; (3) thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng từ 100 kilôgam đến dưới 300 kilôgam hoặc từ 100 lít đến dưới 300 lít; (4) thuốc lá điếu nhập lậu từ 3.000 bao đến dưới 4.500 bao; (5) pháo nổ từ 40 kilôgam đến dưới 120 kilôgam; (6) hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá từ 300 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 200 trăm triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (7) hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá từ 500 trăm triệu đồng đến dưới 01 tỷ đồng hoặc thu lợi bất chính từ 300 triệu đồng đến dưới 700 triệu đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm c khoản 5 Điều 191 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng 300 kilôgam trở lên hoặc 300 lít trở lên; (2) thuốc lá điếu nhập lậu 4.500 bao trở lên; (3) pháo nổ 120 kilôgam trở lên; (4) hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá 500 trăm triệu đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 500 trăm triệu đồng trở lên; (5) hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá 01 tỷ đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 700 triệu đồng trở lên.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 300 triệu đồng, cao nhất có thể lên đến 05 tỷ đồng; đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 79 của BLHS thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192)

 Theo quy định tại khoản 5 Điều 192 thì pháp nhân thương mại bị xử lý hình sự khi thực hiện một trong các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 193, 194 và 195 của Bộ luật này (1) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 30 triệu đồng đến dưới 150 triệu đồng hoặc dưới 30 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; (2) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; (3) Thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng; (4) Gây thiệt hại về tài sản từ 01 tỷ đồng đến dưới 500 triệu đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm b khoản 5 Điều 192 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) phạm tội có tổ chức; (2) có tính chất chuyên nghiệp; (3) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (4) thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (5) làm chết người; (6) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; (7) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; (8) gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng. Ngoài ra, nếu pháp nhân mà thực hiện hành vi vận chuyển qua biên giới; tái phạm nguy hiểm cũng bị áp dụng tình tiết tại khoản 2 Điều này.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm c khoản 5 Điều 192 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500 triệu đồng trở lên; (2) thu lợi bất chính 500 triệu đồng trở lên; (3) làm chết 02 người trở lên; (4) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên; (5) gây thiệt hại về tài sản 1,5 tỷ đồng trở lên.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 01 tỷ đồng, cao nhất có thể lên đến 09 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm.  Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 79 của BLHS thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193)

Theo quy định tại khoản 6 Điều 193 thì pháp nhân thương mại bị xử lý hình sự khi thực hiện một trong các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm mà không cần căn cứ vào trị giá, số lượng hay thiệt hại cụ thể của hàng giả.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm b khoản 6 Điều 193 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) phạm tội có tổ chức; (2) có tính chất chuyên nghiệp; (3) tái phạm nguy hiểm; (4) buôn bán qua biên giới; (5) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (6) thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (7) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; (8) gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm c khoản 6 Điều 193 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500 triệu đồng trở lên; (2) thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng; (3) gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng; (4) làm chết người; (5) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; (6) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm d khoản 6 Điều 193 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) thu lợi bất chính 1,5 tỷ đồng trở lên; (2) gây thiệt hại về tài sản 1,5 tỷ đồng trở lên; (3) làm chết 02 người trở lên; (4) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 1 tỷ đồng, cao nhất có thể lên đến 18 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 79 của BLHS thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 300 triệu đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194)

 Theo quy định tại khoản 6 Điều 194 thì pháp nhân thương mại bị xử lý hình sự khi thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh mà không cần căn cứ vào trị giá, số lượng hay thiệt hại cụ thể của hàng giả.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm b khoản 6 Điều 194 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) phạm tội có tổ chức; (2) có tính chất chuyên nghiệp; (3) tái phạm nguy hiểm; (4) Buôn bán qua biên giới; (5) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (6) thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (7) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; (8) gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm c khoản 6 Điều 194 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500 triệu đồng trở lên; (2) thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng đến dưới 02 tỷ đồng; (3) làm chết người; (4) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; (5) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; (6) gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm d khoản 6        Điều 194 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) thu lợi bất chính 02 tỷ đồng trở lên; (2) làm chết 02 người trở lên; (3) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên; (4) gây thiệt hại về tài sản 1,5 tỷ đồng trở lên.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 1 tỷ đồng, cao nhất có thể lên đến 20 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 79 của BLHS thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 300 triệu đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi (Điều 195)

Theo quy định tại khoản 6 Điều 195 thì pháp nhân thương mại bị xử lý hình sự khi thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi thuộc một trong các trường hợp (1) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 30 triệu đồng đến dưới 150 triệu đồng hoặc dưới 30 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; (2) gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (3) thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm b khoản 6  Điều 195 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) phạm tội có tổ chức; (2) có tính chất chuyên nghiệp; (3) tái phạm nguy hiểm; (4) buôn bán qua biên giới; (5) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (6) gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng; (7) thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm c khoản 6 Điều 195 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500 triệu đồng trở lên; (2) gây thiệt hại về tài sản từ 1,5 tỷ đồng đến dưới 03 tỷ đồng; (3) thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng đến dưới 02 tỷ đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm d khoản 4 Điều 195 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) gây thiệt hại về tài sản 03 tỷ đồng trở lên; (2) thu lợi bất chính 02 tỷ đồng trở lên.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 1 tỷ đồng, cao nhất có thể lên đến 15 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 79 của BLHS thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 300 triệu đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội đầu cơ (Điều 196)

Theo quy định tại khoản 5 Điều 196 thì pháp nhân thương mại bị xử lý hình sự khi thực hiện hành vi lợi dụng tình hình khan hiếm hoặc tạo ra sự khan hiếm giả tạo trong tình hình thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh hoặc tình hình khó khăn về kinh tế mua vét hàng hóa thuộc danh mục mặt hàng bình ổn giá hoặc thuộc danh mục hàng hóa được Nhà nước định giá nhằm bán lại để thu lợi bất chính thuộc một trong các trường hợp (1) hàng hoá trị giá từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng; (2) thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm b khoản 5       Điều 196 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) phạm tội có tổ chức; (2) hàng hóa trị giá từ 1,5 tỷ đồng đến dưới 03 tỷ đồng; (3) thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng đến dưới 01 tỷ đồng; (4) gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm c khoản 5 Điều 196 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) hàng hóa trị giá 03 tỷ đồng trở lên; (2) thu lợi bất chính 01 tỷ đồng trở lên; (3) tái phạm nguy hiểm.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 300 triệu đồng, cao nhất có thể lên đến 09 tỷ đồng. Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 300 triệu đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
(Còn nữa)
TS. NGUYỄN CHÍ CÔNG – CN. HOÀNG THỊ SONG MAI (Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học TANDTC)
Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).


[1] Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự).
[2] Nội dung quy định thể hiện tập trung tại Chương XI, gồm 16 điều (từ Điều 74 đến Điều 89) và một số điều khoản của thể khác của Bộ luật (các điều 2, 3, 8, 9, 33, 46 và 33 điều về các tội phạm cụ thể, gồm: Điều 188 (tội buôn lậu); Điều 189 (tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới); Điều 190 (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm); Điều 191 (tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm); Điều 192 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả); Điều 193 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm); Điều 194 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 195 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi); Điều 196 (tội đầu cơ); Điều 200 (tội trốn thuế); Điều 203 (tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ); Điều 209 (tội cố ý công bốthông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán); Điều 210 (tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán); Điều 211 (tội thao túng thị trường chứng khoán); Điều 213 (tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm); Điều 216 (tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động); Điều 217 (tội vi phạm quy định về cạnh tranh); Điều 225 (tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan); Điều 226 (tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp); Điều 227 (tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên); Điều 232 (tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng); Điều 234 (Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã); Điều 235 (tội gây ô nhiễm môi trường); Điều 237 (tội vi phạm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường); Điều 238 (tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông); Điều 239 (tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam); Điều 242 (tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản); Điều 243 (tội huỷ hoại rừng); Điều 244 (tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm); Điều 245 (tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên); Điều 246 (tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại), Điều 300 (tội tài trợ khủng bố) và Điều 324 (tội rửa tiền)).
[3] Xem chú thích số 2, trang 1.

Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Dưới góc độ khoa học luật hình sự, khái niệmđang đề cập được định nghĩa như sau: pháp nhân thương mại phạm tội là pháp nhân thương mại thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến khách thể được Bộ luật Hình sự ghi nhận, bảo vệ mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

1. Khái quát quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân phạm tội trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018. BLHS năm 2015 đã thể hiện bước phát triển quan trọng trong chính sách hình sự của Nhà nước, đánh dấu nhiều điểm tiến bộ thể hiện trong tư duy lập pháp hình sự . Đáng chú ý, một trong những điểm mới đột phá của BLHS năm 2015 là đã bổ sung quy định về trách nhiệm hình sự (TNHS) của pháp nhân thương mại (pháp nhân thương mại) (các Điều 2, 3, 6, 8, 9, 33, 74-89 và 33 tội danh của Phần các tội phạm BLHS).
Như vậy, pháp nhân thương mại chỉ chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm này trong trường hợp được thực hiện nhân danh và vì lợi ích, dưới sự điều hành, chấp thuận của chính pháp nhân thương mại đó. Điều này thể hiện quan điểm hoàn toàn đổi mới của các nhà lập pháp Việt Nam về chủ thểcủa tội phạm và đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong việc tập trung xử lý những vi phạm trong các lĩnh vực kinh tế và môi trường, tài trợ khủng bố và rửa tiền, đồng thời,tạo điều kiện bảo vệ tốt hơn quyềnlợi của người bị thiệt hại do các vi phạm của pháp nhân gây ra , cũng như trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế khi Việt Nam tham gia nhiều Công ước quốc tế về phòng, chống tội phạm như: Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000, Công ước chống tham nhũngnăm 2003 của Liên Hợp quốc…

1.1. Khái niệm, cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Điều 75 Bộ luật Dân sự 2015 quan niệm pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan. Cùng với đó, Điều 8 BLHS năm 2015 quy định tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
Do đó, dưới góc độ khoa học luật hình sự, khái niệm đang đề cập được định nghĩa như sau: pháp nhân thương mại phạm tội là pháp nhân thương mại thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến khách thể được BLHS ghi nhận, bảo vệ mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
Trên cơ sở này, khoản 2 Điều 2 BLHS năm 2015 đã quy định: “Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử hình thành và phát triển của luật hình sự Việt Nam, quy định về cơ sở trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với pháp nhân thương mại đã được ghi nhận, đồng thời đây chính là “tuyên bố” mang tính nền tảng, tiền đề để các nhà làm luật quy định những vấn đề khác trong nội dung trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân của BLHS năm 2015. Nhấn mạnh hơn, về vấn đề này, rõ ràng “hành vi, lỗi của người lãnh đạo, chỉ huy, người đại diện cũng được coi là hành vi, lỗi của pháp nhân. Như vậy, lý thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm được các nhà lập pháp Việt Nam quy định là cơ sở quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại” .

1.2. Nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Khoản 2 Điều 3 BLHS năm 2015 quy định năm nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội bên cạnh xử lý đối với người phạm tội như sau:
– Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;
– Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế;
– Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;
– Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra.
Ngoài ra, cần lưu ý, kể cả pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS năm 2015 trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên (Điều 6 BLHS 2015).

1.3. Hình phạt và những quy định áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Lần đầu tiên trong BLHS năm 2015 đã quy định về hệ thống hình phạt và một chương độc lập – Chương XI “Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội” để áp dụng đối với đối tượng là pháp nhân thương mại phạm tội.
Về hình phạt, BLHS năm 2015 quy định hai loại là hình phạt chính và hình phạt bổ sung áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội như sau:
– Hình phạt chính bao gồm: (1) Phạt tiền; (2) Đình chỉ hoạt động có thời hạn; (3) Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn (khoản 1 Điều 33).
– Hình phạt bổ sung bao gồm: (1) Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; (2) Cấm huy động vốn; (3) Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính (khoản 2 Điều 33).
Ngoài ra, Chương XI “Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội” đã quy định đầy đủ về điều kiện, phạm vi chịu TNHS; nội dung cụ thể về các hình phạt và biện pháp tư pháp cụ thể áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS; việc quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt, miễn hình phạt và xóa án tích đối với pháp nhân thương mại bị kết án (các điều 74-89). Đây là những căn cứ quan trọng để cùng với đó, tại Phần các tội phạm BLHS có quy định 33 tội danh cụ thể mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự , qua đó, bảo đảm tính hệ thống trong toàn bộ Phần những quy định chung và Phần các tội phạm của BLHS năm 2015.
Như vậy, có thể khẳng định, những quy định này không chỉ bảo đảm sự thống nhất chung của hệ thống pháp luật nước ta, mà còn nhằm thực thi các cam kết, nghĩa vụ của nước ta trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, qua đó, bảo đảm công bằng, minh bạch, bình đẳng giữa pháp nhân thương mại Việt Nam ở nước ngoài và pháp nhân thương mại nước ngoài tại nước ta.

2. Khái quát quy định về thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Cùng với việc ban hành BLHS năm 2015 với tư cách là luật nội dung, Bộ luật Tố tụng hình sự(BLTTHS) năm 2015 với tư cách là luật hình thức cũng đã quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự; nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân; hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự (TTHS), trong đó có quy định về thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân (nhưng không ghi rõ là pháp nhân thương mại – TG).
Do đó, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân (ở đây được hiểu là pháp nhân thương mại) là một vấn đề hoàn toàn mới được đặt ra, đặc biệt là vấn đề thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với đối tượng này nhằm đáp ứng kịp thời với những thay đổi của BLHS năm 2015 . Ở đây, quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong BLHS làm tiền đề để quy định thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân trong BLTTHS. Vì vậy, quá trình giải quyết vụ án hình sự cần làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh khi tiến hành tố tụng đối với pháp nhân bị buộc tội, đồng thời làm sáng tỏ các tình tiết, hành vi phạm tội của cá nhân hoặc pháp nhân (nếu có), trường hợp pháp nhân ra quyết định hoặc chỉ đạo cá nhân thực hiện hành vi phạm tội thì cần xử lý hình sự cả cá nhân và pháp nhân về tội mà họ đã thực hiện để giải quyết, xử lý tội phạm toàn diện, minh bạch, công minh, đúng pháp luật…

2.1. Khái niệm thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân

Lần đầu tiên, BLTTHS năm 2015 đã quy định bị can, bị cáo là người hoặc pháp nhân. Theo đó, bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này (khoản 1 Điều 60). Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này (khoản 1 Điều 61).
Ngoài ra, điểm mới quan trọng và lớn nhất được quy định trong BLTTHS năm 2015 so với BLTTHS năm 2003 là các nhà lập pháp đã xây dựng một chương riêng là Chương XXIX “Thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân” (các Điều 431-446) với nhiều quy định về thủ tục, việc tham gia tố tụng, biện pháp cưỡng chế, những vấn đề cần phải chứng minh, cũng như trình tự điều tra, truy tố, xét xử… đối với đối tượng này. Trong đó, phạm vi áp dụng được xác định tại Điều 431 Bộ luật này, có nghĩa thủ tục tố tụng được tiến hành theo quy định tại Chương XXIX và những quy định khác trong BLTTHS không trái với quy định của Chương này.
Do đó, dưới góc độ khoa học luật TTHS, thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân là trình tự thực hiện các quy định của BLTTHS khi tiến hành giải quyết vụ án liên quan đến bị can, bị cáo là pháp nhân thương mại và áp dụng những quy định khác có liên quan, nhằm bảo đảm xử lý đúng đắn vụ án, cũng như góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

2.2. Việc tham gia tố tụng của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân

Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại có mối quan hệ rất chặt chẽ đối với pháp nhân, họ là người nhân danh pháp nhân tham gia các hoạt động. Do đó, khi BLTTHS năm 2015 quy định pháp nhân với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật TTHS thì mọi hoạt động tố tụng của pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự được thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Pháp nhân phải cử và bảo đảm cho người đại diện theo pháp luật của mình tham gia đầy đủ các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền. Trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hoặc không thể tham gia tố tụng được thì pháp nhân phải cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của mình tham gia tố tụng. Trường hợp pháp nhân thay đổi người đại diện thì pháp nhân phải thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng… Khi tham gia vào hoạt động tố tụng người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được Nhà nước quy định cho họ những quyền và nghĩa vụ nhất định được quy định tại Điều 435 BLTTHS năm 2015.

2.3. Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân bị buộc tội

Để ngăn chặn việc pháp nhân tiếp tục phạm tội, cũng như hạn chế các hậu qủa do hành vi phạm tội của pháp nhân gây ra, qua đó, bảo đảm thi hành án liên quan đến việc bồi thường thiệt hại hoặc phạt tiền, BLTTHS năm 2015 quy định Cơ quan Điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế sau đây đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử tại Điều 436 Bộ luật này bao gồm:
– Kê biên tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
– Phong tỏa tài khoản của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
– Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
– Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án.
Lưu ý, quy định về thời hạn áp dụng các biện pháp cưỡng chế quy định tại khoản 1 Điều này không được quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử.

2.4. Những vấn đề cần phải chứng minh khi tiến hành tố tụng đối với pháp nhân bị buộc tội

Trong vụ án hình sự liên quan đến pháp nhân thương mại bị buộc tội, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh, xác định rõ các tình tiết đặc trưng gắn liền với pháp nhân tại Điều 441 BLTTHS năm 2015 bao gồm:
– Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội thuộc trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo quy định của BLHS.
– Lỗi của pháp nhân, lỗi của cá nhân là thành viên của pháp nhân.
– Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội của pháp nhân gây ra.
– Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết khác liên quan đến miễn hình phạt.
– Nguyên nhân và điều kiện phạm tội.
Trong đó, việc chứng minh vấn đề lỗi của pháp nhân là một vấn đề rất quan trọng trong vụ án mà pháp nhân thực hiện tội phạm.

2.5. Thẩm quyền và thủ tục xét xử đối với pháp nhân

Điều 444 BLTTHS năm 2015 quy định, Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự về các tội phạm do pháp nhân thực hiện là Tòa án nơi pháp nhân thực hiện tội phạm. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi pháp nhân đó có trụ sở chính hoặc nơi có chi nhánh của pháp nhân đó thực hiện tội phạm. Việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với pháp nhân phạm tội được thực hiện theo thủ tục chung quy định tại Phần thứ tư và Phần thứ sáu của Bộ luật này. Phiên tòa xét xử đối với pháp nhân phải có mặt người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp; có mặt bị hại hoặc người đại diện của bị hại…
Như vậy, thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân chính là các trình tự thực hiện các quy định của BLTTHS khi tiến hành giải quyết vụ án liên quan đến bị can, bị cáo là pháp nhân thương mại, cũng như việc áp dụng những quy định khác có liên quan, qua đó, bảo đảm xử lý đúng đắn vụ án, trách nhiệm hình sự của pháp nhân và trách nhiệm hình sự của cá nhân, cũng như góp phần đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm và đề ra các biện pháp khắc phục nguyên nhân và điều kiện phạm tội.

3. Một số vấn đề đặt ra khi thi hành các quy định của BLHS năm 2015 và BLTTHS năm 2015 liên quan đến trách nhiệm hình sự và thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân

Như vậy, từ việc nghiên cứu quy định của BLHS năm 2015 và BLTTHS năm 2015 liên quan đến trách nhiệm hình sự và thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân (thương mại) với tư cách là hai đạo luật lớn quy định về luật nội dung và luật hình thức (luật thủ tục), chúng tôi đưa ra một số vấn đề sau để các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn hoặc sửa đổi, bổ sung khi thi hành hai đạo luật này (đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) mà mục 3.1 và mục 3.2 sẽ đề cập dưới đây.

3.1. Một số vấn đề đặt ra khi thi hành quy định của BLHS năm 2015 liên quan đến trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội

Khi thi hành quy định của BLHS năm 2015 liên quan đến trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội có một số vấn đề đặt ra và hướng giải quyết như sau:
– Khoản 2 Điều 2 BLHS năm 2015 quy định: “Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự” cần sửa lại thành “phạm một hay nhiều tội đã được quy định tại Điều 76 và đáp ứng các điều kiện theo Điều 75 Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự” cho thống nhất với Điều 75 về “Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại” và chính xác với thực tiễn vì có trường hợp pháp nhân thương mại phạm một tội, có trường hợp phạm nhiều tội, một hay nhiều tội đều phải bị xử lý trách nhiệm hình sự và để truy cứu thì cần đáp ứng các điều kiện chịu trách nhiệm hình sự (ví dụ: pháp nhân thương mại phạm một tội tại Điều 76 nhưng tội phạm đó lại hết thời hiệu truy cứu TNHS, rõ ràng pháp nhân đó lại không phải chịu TNHS).
– Khoản 2 Điều 9 BLHS năm 2015 quy định về phân loại tội phạm đối với pháp nhân: “Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều này và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này”. Điều này có nghĩa, tội phạm được phân loại thành các tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng (theo khoản 1 – căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt), tuy nhiên, chưa có quy định nào “quy đổi” tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà pháp nhân thương mại thực hiện tương ứng với mức cao nhất của khung hình phạt mà pháp nhân thương mại phải chịu trong BLHS. Hơn nữa, hình phạt chính đối với pháp nhân thương mại phạm tội chỉ có hình phạt tiền là có thể quy đổi, nhưng chỉ tương ứng với tội phạm ít nghiêm trọng. Do đó, cần có hướng dẫn cụ thể hơn về nội dung này, để xác định rõ trường hợp nào là tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện là các tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, trong đó, nên căn cứ với loại tội mà người phạm tội đã thực hiện.
– Điều 10 về “Cố ý phạm tội”, Điều 11 về “Vô ý phạm tội”, Điều 17 về “Đồng phạm”… của BLHS năm 2015 đều quy định cho người phạm tội mà không quy định cho pháp nhân thương mại phạm tội. Trong khi đó, Điều 8 về “Khái niệm tội phạm” lại nêu: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý…”; Điều 85 về “Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại” lại có đề cập đến trường hợp pháp nhân thương mại “câu kết với pháp nhân thương mại khác để phạm tội” (điểm a khoản 1 Điều 85)… Do đó, đề nghị các nhà làm luật nghiên cứu, bổ sung điều luật về lỗi cố ý và vô ý đối với pháp nhân thương mại phạm tội và vấn đề đồng phạm của pháp nhân thương mại phạm tội trong BLHS năm 2015. Hơn nữa, trong vụ án hình sự liên quan đến pháp nhân thương mại bị buộc tội, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh, xác định rõ các tình tiết đặc trưng gắn liền với pháp nhân tại Điều 441 BLTTHS năm 2015, trong đó có việc chứng minh một vấn đề quan trọng – “Lỗi của pháp nhân, lỗi của cá nhân là thành viên của pháp nhân” (khoản 2).
– Khoản 1 Điều 75 BLHS năm 2015 đã đưa ra các điều kiện để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại: (1) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; (2) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; (3) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại và; (4) Chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS. Tuy nhiên, do đây là bốn điều kiện độc lập và phải có đủ các điều kiện này mới truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Song, điều kiện thứ nhất (hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại) và điều kiện thứ ba (hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại) dường như chưa độc lập với nhau vì thực tế, nếu hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại thì không thể lại có trường hợp không có sự chỉ đạo, điều hành, chấp thuận của pháp nhân thương mại và ngược lại, nếu đã có sự chỉ đạo, điều hành hay chấp thuận của pháp nhân thương mại thì chính là đã nhân danh pháp nhân rồi. Hơn nữa, pháp nhân không có tri giác để hành động được mà mọi hoạt động phải thông qua người đại diện của nó. Do đó, có thể ghép hai điều kiện này vào thành một điều kiện chung làm cơ sở cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân được công bằng và dễ chứng minh hơn về phương diện TTHS.
– Điều 78 BLHS năm 2015 quy định về hình phạt “Đình chỉ hoạt động có thời hạn” đối với pháp nhân thương mại phạm tội như sau: “Đình chỉ hoạt động có thời hạn là tạm dừng hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế” (khoản 1). Quy định này chưa thật sự chính xác vì nếu gây thiệt hại đến “tính mạng” (đoạn trước) mà hậu quả gây ra lại “có khả năng khắc phục trên thực tế” (đoạn sau) là chưa đúng vì gây thiệt hại đến tính mạng rõ ràng không thể khắc phục được. Vì vậy, cần sửa lại cho chính xác theo hướng “một số hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế…”.
– Danh tiếng, uy tín, vị thế đối với pháp nhân thương mại là vô cùng quan trọng, nó là tài sản tinh thần vô giá được xây dựng qua nhiều năm tháng, sự đánh giá của cộng đồng, xã hội… Chính vì vậy, kinh nghiệm trong pháp luật hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới như: Cộng hòa Pháp, Hà Lan, Bỉ… đều quy định hình phạt “Niêm yết bản án, quyết định đã được Tòa án tuyên hoặc thông báo bản án, quyết định đó trên các phương tiện nghe nhìn” để răn đe, cảnh tỉnh đối với các pháp nhân khác và bản thân pháp nhân đã phạm tội. Trong khi đó, BLHS năm 2015 chưa (không) quy định hình phạt này như kinh nghiệm của một số nước. Do đó, chúng tôi cho rằng, trong lần sửa đổi, bổ sung sắp tới các nhà làm luật nước ta cân nhắc quy định bổ sung hình phạt này để nâng cao hiệu quả công tácphòng ngừa tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện, để các pháp nhân khác thấy rằng, “danh tiếng thì có rất lâu nhưng tai tiếng thì rất nhanh”, từ đó không có ý định phạm tội.

3.2. Một số vấn đề đặt ra khi thi hành quy định của BLTTHS năm 2015 liên quan đến thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân

Khi thi hành quy định của BLTTHS năm 2015 liên quan đến thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân có một số vấn đề đặt ra và hướng giải quyết như sau:
– Điều 8 BLHS năm 2015 về “Khái niệm tội phạm” đã xác định pháp nhân thương mại là loại pháp nhân duy nhất có tư cách chủ thể của tội phạm. Cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân được quy định tại Điều 2 Bộ luật này cũng khẳng định: “Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Tuy nhiên, Chương XXIX BLTTHS năm 2015 lại có tên là “Thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân” và toàn bộ quy định trong Chương này đều sử dụng thuật ngữ “pháp nhân” mà không phân biệt hay giới hạn loại pháp nhân nào trong khi thủ tục tố tụng này chỉ có thể áp dụng đối với pháp nhân thương mại bị truy cứu TNHS. Theo đó, có thể nói rằng, quy định về thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân của BLTTHS hiện nay chưa thống nhất với quy định về pháp nhân phạm tội trong BLHS. Tuy nhiên, nhiệm vụ chứng minh tính chất “thương mại” trong “nhân thân” của pháp nhân bị truy cứu không được đề cập đến trong bất kỳ quy định nào của BLTTHS năm 2015. Do đó, BLTTHS năm 2015 cần phải đổi tên Chương XXIX và sử dụng các thuật ngữ trong đó thống nhất là “pháp nhân thương mại” (hoặc cũng có thể sửa đổi trong Điều 4 BLTTHS năm 2015 khi giải thích thuật ngữ – pháp nhân trong Bộ luật này được hiểu là pháp nhân thương mại) .
– Hiện nay, trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố hoặc xét xử sẽ xảy ra một số khả năng cần được dự báo, đó là các trường hợp xóa sổ hoặc thay đổi pháp nhân (điều này khác với cá nhân là đối với pháp nhân có thể có giải thể, phá sản hoặc hợp nhất, chia, tách, sáp nhận pháp nhân) , do đó, các cơ quan có thẩm quyền cần có hướng dẫn thi hành quy định về việc tham gia tố tụng của người đại diện pháp nhân và việc đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án cũng như xác định bị can, bị cáo là pháp nhân trong vụ án để áp dụng thủ tục giải quyết, đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án thì pháp nhân không được chia, tách, sáp nhập để xử lý được chính xác. Ngoài ra, việc xác định rõ vai trò và quy chế pháp lý của người đại diện trong thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân thương mại cũng cần được xác định rõ. Rõ ràng, trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một pháp nhân, cá nhân – người đại diện của chủ thể này tham gia tố tụng với tư cách là người thay mặt pháp nhân chứ không phải vì người này đã tham gia vào hành vi phạm tội . Chúng tôi tán thành với quan điểm cho rằng quy chế pháp lý (vai trò, quyền và nghĩa vụ) của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại quy định tại khoản 2 Điều 435 BLTTHS năm 2015 về cơ bản giống với vai trò của người làm chứng trong vụ án hình sự .
– Khoản 1 Điều 436 BLTTHS năm 2015 về “Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân” quy định: “Cơ quan Điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế sau đây đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử:
a) Kê biên tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
b) Phong tỏa tài khoản của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
c) Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
d) Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án”.
Sau đó, riêng hai biện pháp tại điểm “a” và “b” (đã nêu) quy định tại khoản 4 Điều 437 về “Kê biên tài sản” và khoản 5 Điều 438 về “Phong tỏa tài khoản” của BLTTHS năm 2015 có dẫn chiếu thẩm quyền, thủ tục sang Điều 128 về biện pháp “Kê biên tài sản” và Điều 129 về biện pháp “Phong tỏa tài khoản” (còn hai biện pháp sau (điểm “c” và “d” lại được quy định rõ tại khoản 2 Điều 439). Dẫn chiếu tiếp hai Điều luật này lại tiếp tục dẫn chiếu thẩm quyền áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 113 Bộ luật này và Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, nhưng không có quy định thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế là “Kê biên tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân” và “Phong tỏa tài khoản của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân” cho cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mà khoản 1 Điều 436 BLTTHS năm 2015 đã quy định. Do đó, các nhà làm luật cần quy định thống nhất vấn đề này theo hướng – hoặc bỏ đi thẩm quyền của cơ quan này (cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) hoặc đã quy định thì bổ sung cho đầy đủ, thống nhất trong các điều luật trên và điều luật dẫn chiếu .
– Khoản 1 Điều 439 BLTTHS năm 2015 quy định: “Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân chỉ áp dụng khi có căn cứ xác định hành vi phạm tội của pháp nhân gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của con người, môi trường hoặc trật tự, an toàn xã hội…
Thời hạn tạm đình chỉ hoạt động của pháp nhân không được quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn tạm đình chỉ đối với pháp nhân bị kết án không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm pháp nhân chấp hành án”. Do đó, theo như quy định trên thì “thời hạn tạm đình chỉ hoạt động của pháp nhân không được quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật này”. Rõ ràng, “quy định này không khác gì hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn, thậm chí, nếu tất cả các cơ quan tiến hành tố tụng đều áp dụng thì còn nặng hơn cả hình phạt chính và thực sự làm khó cho các pháp nhân, bởi hoạt động của các pháp nhân thương mại luôn đặt lợi ích kinh tế làm đầu” . Khắc phục vấn đề này các cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn theo hướng là tùy theo hành vi phạm tội của pháp nhân gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của con người, môi trường hoặc trật tự, an toàn xã hội để cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định tạm đình chỉ hoạt động của pháp nhân thương mại cho phù hợp . Bởi lẽ, việc phải ngừng hoạt động trong lĩnh vực nhất định ảnh hưởng không nhỏ không chỉ đến chính pháp nhân, mà còn ảnh hưởng liên đới đối với người lao động làm việc trong pháp nhân ấy.
– Điều 444 BLTTHS năm 2015 quy định, Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự về các tội phạm do pháp nhân thực hiện là Tòa án nơi pháp nhân thực hiện tội phạm. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi pháp nhân đó có trụ sở chính hoặc nơi có chi nhánh của pháp nhân đó thực hiện tội phạm. Việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với pháp nhân phạm tội được thực hiện theo thủ tục chung quy định tại Phần thứ tư và Phần thứ sáu của Bộ luật này. Phiên tòa xét xử đối với pháp nhân phải có mặt người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp; có mặt bị hại hoặc người đại diện của bị hại. Nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi tán thành với quan điểm trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp, BLTTHS Việt Nam cần mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo lãnh thổ đối với pháp nhân. Nghĩa là trường hợp không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm hoặc tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau thì thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với cá nhân và pháp nhân trong cùng vụ án thuộc về Tòa án nơi cá nhân cư trú hoặc bị bắt. Mặt khác, BLTTHS năm 2015 cũng cần bổ sung quy định nhập vụ án để điều tra, truy tố đối với cá nhân và pháp nhân trong cùng vụ án .
– Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự do pháp nhân thương mại thực hiện tội phạm đòi hỏi các cơ quan, người tiến hành tố tụng cần làm sáng tỏ các quan hệ pháp luật hình sự và quan hệ pháp luật TTHS, để các cơ quan tiến hành tố tụng xác định chính xác đối tượng chứng minh trong vụ án có tội phạm do pháp nhân thực hiện, từ đó giải quyết vụ án được khách quan, chính xác và đúng pháp luật vấn đề tội phạm và trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại . Trên cơ sở này, từ đó xác định rõ có dấu hiệu tội phạm hay không; chủ thể của tội phạm là pháp nhân có đúng là pháp nhân thực hiện tội phạm hay không; cũng như vấn đề trách nhiệm hình sự của cá nhân của các thành viên pháp nhân và pháp nhân trong vụ án đó thế nào.. .
Tóm lại, BLHS và BLTTHS năm 2015 đã có nhiều thay đổi lớn trong chính sách hình sự của Nhà nước khi quy định vấn đề trách nhiệm hình sự và thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân thương mại. Tuy nhiên, để bảo đảm thi hành đúng và có căn cứ đối với quy định của hai đạo luật này đòi hỏi các nhà làm luật cần tiếp tục nghiên cứu, rà soát, chỉnh sửa, bổ sung những tồn tại, vướng mắc (nếu có) trên phương diện lập pháp hình sự và TTHS, kết hợp với thực tiễn áp dụng trong thời gian tới để hoàn thiện, qua đó, mới bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người và pháp nhân thương mại phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, áp dụng thủ tục tố tụng truy cứu chính xác, đúng pháp luật./.

Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án trong trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội và một số vướng mắc

Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với pháp nhân thương mại phạm tội là quy định mới lần đầu tiên được quy định tại Điều 87 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS năm 2015).
Theo quy định Điều 87 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội được thực hiện trong 03 trường hợp sau:
Trường hợp thứ nhất: Khi một pháp nhân thương mại đang chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này (khoản 1 Điều 87 BLHS năm 2015). Trường hợp này, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 86 của BLHS năm 2015(1). Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước về đình chỉ hoạt động có thời hạn, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung. Thẩm quyền tổng hợp hình phạt là của Hội đồng xét xử đang xét xử vụ án.
Trường hợp thứ hai: Khi một pháp nhân thương mại đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới (Khoản 2 Điều 87 BLHS năm 2015). Trường hợp này, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 86 của BLHS năm 2015. Thẩm quyền tổng hợp hình phạt là của Hội đồng xét xử đang xét xử vụ án.
Trường hợp thứ ba: Khi một pháp nhân thương mại phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp (Khoản 3 Điều 87 BLHS năm 2015). Trường hợp này, Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 87 BLHS năm 2015 (tức là tổng hợp hình phạt theo trường hợp thứ nhất hoặc theo trường hợp thứ hai).
Tuy nhiên, qua nghiên cứu Điều 87 BLHS năm 2015, tác giả thấy có một số quy định cần được hướng dẫn cụ thể để việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn cho thống nhất như sau:
Một là, quy định pháp nhân thương mại đang chấp hành một bản án được hiểu như thế nào? 
Tòa án chỉ được tổng hợp hình phạt theo khoản 1, 2 Điều 87 BLHS năm 2015 khi thỏa mãn điều kiện chung là pháp nhân thương mại bị xét xử phải là pháp nhân thương mại đang chấp hành một bản án. Vậy khi nào được coi là một pháp nhân thương mại đang chấp hành một bản án thì hiện nay còn có quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng một pháp nhân thương mại đang chấp hành một bản án là khi có quyết định thi hành án hoặc khi pháp nhân thương mại đang thực tế chấp hành bản án có hiệu lực pháp luật. Nhưng cũng có quan điểm cho rằng một pháp nhân thương mại đang chấp hành một bản án là chỉ cần khi bản án xét xử pháp nhân thương mại phạm tội có hiệu lực pháp luật, vì khi bản án có hiệu lực pháp luật đương nhiên pháp nhân thương mại phạm tội phải chấp hành bản án đó của Tòa án.
Hai là, Chánh án Tòa án nào có quyền tổng hợp hình phạt theo khoản 3 Điều 87 BLHS năm 2015.
Đối với quy định Chánh án Tòa án tổng hợp hình phạt của nhiều bản án có hiệu lực pháp luật theo khoản 3 Điều 87 BLHS năm 2015 thì hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn. Tuy nhiên, việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án có hiệu lực pháp luật trước đây đã được hướng dẫn tại mục 5 của Thông tư liên tịch 02/TT-LN ngày 20/12/1991 của Toà án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Nội dung cụ thể như sau:
– Trong trường hợp các bản án đã có hiệu lực pháp luật đều của cùng một Toà án thì Chánh án Toà án đó ra quyết định tổng hợp hình phạt.
– Trong trường hợp các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của các Toà án khác nhau nhưng cùng cấp (cùng cấp huyện trong một tỉnh hoặc khác tỉnh, cùng cấp tỉnh, cùng cấp khu vực, cùng cấp quân khu), thì Chánh án toà án ra bản án sau cùng (về mặt thời gian) ra quyết định tổng hợp hình phạt, cụ thể là: nếu các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của các Toà án cấp huyện khác nhau (trong cùng một tỉnh hay khác tỉnh), thì Chánh án toà án cấp huyện đã ra bản án sau cùng ra quyết định tổng hợp hình phạt; nếu các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của các Toà án quân sự khu vực khác nhau (trong cùng một quân khu hay khác quân khu), thì Chánh án Toà án quân sự khu vực đã ra bản án sau cùng quyết định tổng hợp hình phạt; nếu các bản án đã có hiệu lực pháp luật đều là của các Toà án cấp tỉnh (hoặc đều là của Toá án quân sự cấp quân khu), thì Chánh án Toá án cấp tỉnh (hoặc Chánh án Toà án quân sự cấp quân khu) ra bản án sau cùng ra quyết định tổng hợp hình phạt.
– Trong trường hợp các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của các Toá án không cùng cấp thì Chánh án Toà án cấp cao hơn ra quyết định tổng hợp hình phạt, không phụ thuộc vào việc bản án của Toà án cấp cao hơn có trước hay có sau.
– Trong trường hợp trong số các bản án đã có hiệu lực pháp luật có bản án của Toà án nhân dân, có bản án của Toà án quân sự, thì việc tổng hợp hình phạt cũng được thực hiện tương tự như hướng dẫn tại các điểm b, c trên đây, cụ thể là: Nếu các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của Toà án cấp huyện và của Toà án quân sự khu vực hoặc là của Toà án cấp tỉnh và của Toà án quân sự cấp quân khu, thì Chánh án Toà án đã ra bản án sau cùng ra quyết định tổng hợp hình phạt ra quyết định; nếu các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của các toà án khác nhau và khác cấp, thì Chánh án Toà án cấp cao hơn ra quyết định tổng hợp hình phạt, không phụ thuộc vào việc bản án của toà án cấp cao hơn có trước hay có sau (ví dụ: có bản án là của Toà án nhân huyện, có bản án là của Toà án quân sự quân khu, thì Chánh án Toà án quân sự quân khu ra quyết định tổng hợp hình phạt, không phụ thuộc vào việc bản án của Toà án quân sự quân khu có trước hay có sau bản án của Toà án nhân dân huyện).
– Trong trường hợp trong số các bản án đã có hiệu lực pháp luật có bản án là của Toà án nước ngoài đã được Toà án Việt Nam công nhận, có bản án là của Toà án Việt nam, thì Chánh án Toà án nhân dân tối cao ra quyết định tổng hợp hình phạt.
 
Hiện tại do chưa có hướng dẫn cụ thể nên việc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật theo khoản 3 Điều 87 BLHS năm 2015 có thể vận dụng theo tinh thần quy định tại mục 5 của Thông tư liên tịch 02/TT-LN ngày 20/12/1991 của Toà án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao mà tác giả đã trình bày. Tuy nhiên, để việc áp dụng pháp luật cho thống nhất thì theo tác giả quy định tại khoản 3 Điều 87 BLHS năm 2015 cần được hướng dẫn lại cho cụ thể.

Theo: moj.gov.vn

Pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự khi nào?

Lần đầu tiên luật hình sự nước ta quy định pháp nhân thương mại là chủ thể của tội phạm. Tuy nhiên, chỉ xử lý đối với một số hành vi phạm tội.
 

Theo quy định tại Điều 75 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 thì pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại, vì lợi ích của pháp nhân thương mại, có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS.

 
Theo đó, pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi phạm tội thỏa mãn các điều kiện:

Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại

Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại là hành vi của một người hoặc một số người đang thuộc biên chế của tổ chức kinh tế mà theo pháp luật thì tổ chức kinh tế này là pháp nhân thương mại. Nếu họ không phải trong tổ chức kinh tế được công nhận là pháp nhân thương mại thì hành vi phạm tội của họ không phải là hành vi của pháp nhân thương mại.
Tuy nhiên, nếu một người được pháp nhân thương mại ký hợp đồng hay uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ do pháp nhân thương mại giao và khi thực hiện họ nhân danh pháp nhân thương mại đã ký hợp đồng hoặc uỷ quyền cho họ thì hành vi phạm tội của người này vẫn là hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại mà họ ký hợp đồng hoặc được uỷ quyền.

Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại

Khi một người hoặc một số người thực hiện hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại giao hoặc uỷ quyền đều vì lợi ích của pháp nhân thương mại chứ không vì lợi ích cá nhân của họ. Tuy nhiên, nếu trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội họ lại lợi dụng pháp nhân thương mại để thực hiện thêm hành vi vì lợi ích cá nhân thì chỉ hành vi nào vì lợi ích của pháp nhân thương mại mới buộc pháp nhân thương mại phải chịu, còn hành vi nào vượt ra ngoài lợi ích của pháp nhân thương mại mà vì lợi ích cá nhân họ thì họ phải chịu. Có thể nói, đây là một dạng hành vi “vượt quá của người thực hành” trong vụ án mà pháp nhân thương mại phạm tội.
Ví dụ:  Công ty TNHH một thành viên X giao cho Nguyễn Văn A và Nguyễn Văn B vận chuyển một số thiết bị y tế là hàng cấm mà Công ty mua được của một Công ty Y. Trong quá trình nhận và vận chuyển số hàng cấm trên, A và B đã bàn với nhau “nhân tiện” vận chuyển một số thuốc lá ngoại để tiêu thụ. Trên đường vận chuyển thì bị Công an bắt giữ. Khi bị bắt, để trốn tránh trách nhiệm A và B khai tất cả hàng trên xe là của Công ty X. Sau khi điều tra, xác minh thì số thuốc lá ngoại mà A và B vận chuyển không phải của Công ty X, mà của cá nhân A và B. Do đó, Cơ quan điều tra chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Công ty X về hành vi vận chuyển hàng cấm là các thiệt bị y tế.

Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại

Hành vi phạm tội của một hoặc một số người phải có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại. Sự chỉ đạo điều hành là sự chỉ đạo của những người đứng đầu hoặc của một tập thể pháp nhân thương mại như: Giám đốc, Tổng giám đốc, Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc của công ty.
Sự chỉ đạo, điều hành này cũng tương tự như trường hợp phạm tội có tổ chức mà người tổ chức là người chỉ đạo điều hành mọi hành vi của tất cả các đồng phạm khác. Ngoài sự chỉ đạo, điều hành của những người nhân danh pháp nhân thương mại còn có trường hợp tuy không có sự chỉ đạo, điều hành nhưng lại có sự chấp thuận của những người đứng đầu pháp nhân thương mại thì hành vi phạm tội cũng là hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại.
Ví dụ: Một số Công nhân của Công ty A có nhiệm vụ kiểm tra các van xả nước thải theo quy trình xả thải đã được thiết kế và được cơ quan chức năng chấp nhận. Tuy nhiên, khi kiểm tra các van xả thải thấy có nhiều van đã hỏng, một số đường ống đã vỡ làm cho nước thải chảy ra sông. Các công nhân này đã gọi điện về báo cáo Giám đốc tình hình xả thải như trên và đề nghị tiếp tục cho xả thải ra môi trường. Khi được báo cáo, Giám đốc công ty đã đồng ý với biện pháp của các công nhân, mà không có biện pháp khắc phục trong một thời gian dài gây ô nhiễm nguồn nước làm cho các sinh vật sống ở sồng chết hàng loạt.

Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Dù là người phạm tội hay pháp nhân thương mại phạm tội thì bao giờ BLHS sự cũng quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của BLHS năm 2015 tuỳ thuộc vào tội phạm mà pháp nhân thương mại thực hiện: 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng; 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng; 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng; 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc xác định thế nào là tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đối với pháp nhân thương mại phạm tội được quy định tại khoản 2 Điều 9 BLHS năm 2015. Điều luật này đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015.
Theo đó, tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của BLHS năm 2015 (là các tội phạm mà pháp nhân thương mại thương mại bị truy cứu trách nhiệm hình sự). Cũng như đối với người phạm tội, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015 (sau đây gọi tắt là BLHS năm 2015), pháp nhân thương mại lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà BLHS quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với người phạm tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới. Khi áp dụng các điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội cần chú ý:
Nếu người của pháp nhân thương mại thực hiện hành vi nhân danh pháp nhân thương mại và pháp nhân thương mại bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì tùy trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tư cách là cá nhân. Quy định này chống việc lợi dụng pháp nhân thương mại để thực hiện hành vi phạm tội nhằm thoát sự trừng trị của pháp luật.
Pháp nhân thương mại tuy là chủ thể của tội phạm, nhưng không phải là chủ thể của tất cả các tội phạm quy định trong BLHS, mà chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự một số tội phạm có liên quan trực tiếp đến hoạt động của pháp nhân thương mại.

Theo quy định tại Điều 76 BLHS năm 2015 thì pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm quy định tại các điều: Điều 188 (Tội buôn lậu); Điều 189 (Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới); Điều 190 (Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm); Điều 191 (Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm); Điều 192 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả); Điều 193 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm); Điều 194 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 195 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi); Điều 196 (tội đầu cơ); Điều 200 (Tội trốn thuế); Điều 203 (Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước); Điều 209 (Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán); Điều 210 (Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán); Điều 211 (Tội thao túng thị trường chứng khoán); Điều 213 (Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm); Điều 216 (Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động); Điều 217 (Tội vi phạm quy định về cạnh tranh); Điều 225 (Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan); Điều 226 (Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp); Điều 227 (Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên); Điều 232 (Tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản); Điều 234 (Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã). Trước khi Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa được sửa đổi, bổ sung thì chỉ có 31 tội danh mà pháp nhân thương mại bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, sau khi Bộ luật Hình sự năm 2015  được sửa đổi, bổ sung thì ngoài 31 tội danh đã được quy định trong BLHS thì Quốc hội đã bổ sung thêm 2 tội, đó là Tội tài trợ khủng bố (Điều 300) và Tội rửa tiền (Điều 324). Như vậy, tổng số tội danh mà pháp nhân thương mại có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự là 33 tội.

Trong số 33 tội danh pháp nhân thương mại có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì có những tội liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của pháp nhân thương mại như  tội trốn thuế; tội buôn lậu; tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động… nhưng cũng có tội ít liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của pháp nhân thương mại như: Tội tài trợ khủng bố và Tội rửa tiền.
 

Nguồn: Tạp chí kiểm sát (kiemsat.vn)

Pháp luật Việt Nam về trách nhiệm hình sự của pháp nhân

1. Lần đầu tiên, trách nhiệm hình sự của pháp nhân được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015

Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta đang có những bước phát triển mạnh mẽ tạo ra nhiều thuận lợi, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực thì mặt trái của nền kinh tế thị trường đã dẫn đến tình trạng nhiều tổ chức doanh nghiệp tiến hành các họat động sản xuất kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận bằng mọi cách, bất chấp sự an toàn tính mạng, sức khỏe của cộng đồng, vi phạm nghiêm trọng lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân trong một số lĩnh vực như sản xuất kinh doanh, quản lý kinh tế, xã hội, chứng khoán, đầu tư, bảo hiểm, đấu thầu xây dựng, bảo vệ môi trường, bảo hộ lao động… Nhiều vụ việc gây hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng nhưng việc xử lý rất khó và mới chỉ ở dừng lại xử lý hành chính. Trong khi đó, chế tài xử phạt hành chính theo Luật xử lý vi phạm hành chính vừa thiếu tính răn đe lại vừa không đầy đủ. Theo đó, Luật xử lý vi phạm hành chính cho phép các cơ quan chức năng áp dụng phạt tối đa đối với pháp nhân, doanh nghiệp có hành vi vi phạm nặng nhất không vượt quá hai (02) tỷ đồng. Còn đối với một số lĩnh vực cụ thể như: lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thì mức phạt tối đa không quá 300 triệu đồng; lĩnh vực bảo hiểm xã hội không quá 150 triệu đồng hay lĩnh vực thương mại không quá 200 triệu đồng. Với mức phạt này, theo ý kiến của một số chuyên gia, nhiều doanh nghiệp pháp nhân nhất là pháp nhân là các doanh nghiệp có quy mô lớn như: các tập đoàn kinh tế, công ty liên doanh, các công ty đa quốc gia, các hãng vận tải biển quốc tế có thể chấp nhận nộp phạt để tiếp tục vi phạm. Đồng thời, qua rà soát hệ thống pháp luật hiện hành cho thấy, một số hành vi vi phạm do pháp nhân thực hiện không được qui định trong các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính như: hành vi mua bán người, hành vi tham nhũng, rửa tiền… nên không có căn cứ để xử phạt. Vì vậy, trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, nếu không quy định trách nhiệm hình sự (TNHS) của pháp nhân thì sẽ rất khó xử lý sai phạm của chủ thể này; cần xử lý hình sự chủ thể là pháp nhân trong các trường hợp trên để đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Nếu coi pháp nhân là chủ thể tội phạm sẽ giải quyết được nhiều vướng mắc trong thực tiễn, nhất là bảo vệ kịp thời lợi ích người bị thiệt hạn bằng thủ tục tư pháp hình sự.
Việc quy định TNHS của pháp nhân là phù hợp với lý luận về TNHS bởi pháp nhân tham gia vào quan hệ pháp luật như một chủ thể bình đẳng độc lập với các chủ thể khác cho nên pháp nhân phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Năng lực pháp luật và năng lực hành vi của pháp nhân phát sinh đồng thời và thường là kể từ thời điểm đăng kí hoạt động được cấp phép hoạt động. Pháp nhân tham gia vào các quan hệ pháp luật thông qua các hoạt động của mình. Mọi hoạt động của pháp nhân được tiến hành thông qua hành vi của những cá nhân người đại diện hợp pháp của pháp nhân. Hành vi của những cá nhân này không tạo ra quyền và nghĩa vụ cho họ mà nhân danh pháp nhân, tạo ra các quyền và nghĩa vụ cho pháp nhân. Như vậy, pháp nhân được xem như là một cá nhân tách biệt với các thành viên và chủ sở hữu của nó. Pháp nhân mặc dù là thực thể trừu tượng nhưng nó do con người lập ra và hoạt động của nó chỉ có thể thực hiện được thông qua những con người cụ thể. Khi những người này thực hiện nghĩa vụ hoặc nhiệm vụ của pháp nhân thì ý chí và hành vi của họ được coi là ý chí và hành vi của pháp nhân.
Nếu pháp nhân không được coi là chủ thể của tội phạm, tức là mọi hành vi, việc làm của pháp nhân cho dù có nguy hiểm cho xã hội đến đâu cũng không được coi là tội phạm và không bị xử lý hình sự thì các quan hệ xã hội bị xâm hại sẽ không được bảo vệ.
Hơn nữa, TNHS của pháp nhân không phải là vấn đề mới mà vấn đề này đã được ghi nhận trong pháp luật hình sự quốc gia cũng như các văn bản pháp luật quốc tế. Xét ở góc độ pháp luật quốc gia, vấn đề TNHS của pháp nhân đã được quy định trong pháp luật hình sự của nhiều nước trên thế giới như Anh, Mỹ, Canada, Australia, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Phần Lan, Vương quốc Bỉ, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha và gần đây, một loạt các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu như Slovakia, Hungari, Lavia, Estonia, Croatia, v.v…. Tại châu Á, một số quốc gia cũng đã ghi nhận TNHS của pháp nhân như Nhật Bản, Singapore, Malaysia, Trung Quốc… Dưới góc độ pháp luật quốc tế, TNHS của pháp nhân đã được khuyến nghị trong nhiều Công ước của Liên Hợp quốc như: Công ước về trừng trị việc tài trợ cho khủng bố, Công ước quốc về chống tham nhũng, Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia… Vì vậy, để Việt Nam có thể thực hiện có hiệu quả các quy định của các Công ước quốc tế cũng như nhận được sự đồng thuận của các quốc gia trong khu vực phòng, chống tội phạm đặc biệt là phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm tham nhũng thi cần nội luật hóa vấn đề TNHS của pháp nhân trong pháp luật hình sự nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ cho sự hợp tác về lĩnh vực này.
Bộ luật hình sự năm 2015 đã bổ sung 01 Chương XI quy định về TNHS của pháp nhân gồm 16 điều (từ Điều 74 đến Điều 89) và trong một số điều khoản cụ thể khác của Bộ luật (các điều 2, 3, 8, 33, 46), thể hiện nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội như sau: (i) Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật; (ii) Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; (iii) Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng; (iv) Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra (Khoản 2 Điều 3 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm b khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015)

2. Chỉ đặt ra vấn đề trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại

Điều 2 Bộ luật hình sự năm 2015 về cơ sở TNHS quy định: “Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự”.
Pháp nhân theo pháp luật Việt Nam hiện nay là một khái niệm có nội hàm rất rộng. Điều 74 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau: (i) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; (ii) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này; (iii) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình và (i) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Điều 75 Bộ luật dân sự năm 2015 cũng quy định về pháp nhân thương mại, theo đó pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác. Như vậy, chỉ các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận mới có thể là chủ thể của tội phạm. Còn không đặt ra vấn đề TNHS đối với pháp nhân phi thương mại, là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên, bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác (Điều 76 Bộ luật dân sự 2015).
Theo quy định tại Điều 75 Bộ Luật Hình sự 2015, pháp nhân thương mại chỉ phải chịu TNHS khi có đủ các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại. Như vậy, việc thực hiện hành vi phạm tội này do các cá nhân trong pháp nhân thương mại thực hiện, nhân danh pháp nhân đó và mục đích là thu được lợi ích kinh tế, vật chất cho pháp nhân đó. Trong các quan hệ chủ thể thực hiện hành vi vi phạm sẽ nhân danh pháp nhân thương mại, sử dụng danh nghĩa, nguồn vốn, con dấu của pháp nhân và lợi ích thu được cũng thuộc về pháp nhân.
Thứ hai, hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại. Tương tự như điều kiện trên, hành vi phạm tội của các chủ thể vi phạm phải hướng tới một mục đích nhất định của pháp nhân như lợi ích về kinh tế, tài chính,…Vì vậy, người đứng đầu pháp nhân (người đại diện theo pháp luật của pháp nhân) hoặc những người được cấp lãnh đạo của pháp nhân trực tiếp ủy quyền trực tiếp thực hiện tội phạm nhằm tối đa hóa lợi ích cho pháp nhân như trốn thuế, xả thải gây ô nhiễm môi trường nước, in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước…thì pháp nhân phải chịu TNHS theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quy định này cũng không loại bỏ việc cá nhân có hành vi vi phạm trong pháp nhân lại không bị truy cứu TNHS. Điều này có nghĩa là, đồng thời với việc pháp nhân bị truy cứu TNHS nhiệm hình sự về một tội phạm cụ thể thì những cá nhân có liên quan đến việc thực hiện tội phạm của pháp nhân cũng phải trịu TNHS. Điều này không trái với nguyên tắc “không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm” theo Điều 31 Hiến pháp năm 2013 vì trong trường hợp này, pháp nhân với những đặc điểm của mình đã trở thành một thực thể pháp lý có những quyền, nghĩa vụ độc lập với những cá nhân tham gia với tư cách là thành viên. Như vậy, pháp nhân và cá nhân khi thực hiện một hành vi vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm) và bị kết án thì sẽ được hiểu là hai chủ thể khác nhau.
Thứ ba, hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại. Xuất phát từ việc hành vi phạm tội nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân mà những hành vi phạm tội của pháp nhân chủ yếu do chính các quyết định, các kế hoạch, điều hành, quản lý của pháp nhân mà đứng đầu là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Yếu tố quản lý, điều hành mang tính quyết định và nếu không có những chỉ thị, quyết định này thì hành vi vi phạm có thể sẽ không được thực hiện.
Thứ tư, hành vi vi phạm chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS. Thời hiệu truy cứu TNHS là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu TNHS.Theo đó, thời hiệu truy cứu TNHS được quy định cụ thể tại Điều 27 Bộ luật hình sự năm 2015 như sau: 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng; 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng; 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng; 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Loại tội phạm mà pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự

Đa số các nước theo hệ thống Common Law như Hoa Kỳ, Canada, Australia và một số nước theo hệ thống luật châu Âu lục địa như Thụy Sỹ, Bỉ, Hà Lan đều không giới hạn phạm vi tội phạm quy kết cho pháp nhân mà pháp nhân có thể phải chịu TNHS đối với mọi tội phạm được quy định trong pháp luật hình sự. Trong khi đó, luật hình sự một số nước như Pháp, Trung Quốc lại quy định rõ pháp nhân chỉ phải chịu TNHS đối với một số tội phạm cụ thể.
Pháp luật hiện hành quy định về phạm vi chịu TNHS của pháp nhân thương mại (Khoản 11 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015), theo đó, pháp nhân thương mại chỉ phải chịu TNHS về 33 tội phạm sau đây:
Thứ nhất, nhóm tội phạm trong lĩnh vực kinh tế: Điều 188 (tội buôn lậu); Điều 189 (tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới); Điều 190 (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm); Điều 191 (tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm); Điều 192 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả); Điều 193 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm); Điều 194 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 195 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi); Điều 196 (tội đầu cơ); Điều 200 (tội trốn thuế); Điều 203 (tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước); Điều 209 (tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán); Điều 210 (tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán); Điều 211 (tội thao túng thị trường chứng khoán); Điều 213 (tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm); Điều 216 (tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động); Điều 217 (tội vi phạm quy định về cạnh tranh); Điều 225 (tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan); Điều 226 (tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp); Điều 227 (tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên); Điều 232 (tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản); Điều 234 (tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã)[1].
Thứ hai, nhóm tội phạm trong lĩnh vực môi trường: Điều 235 (tội gây ô nhiễm môi trường); Điều 237 (tội vi phạm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường); Điều 238 (tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông); Điều 239 (tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam); Điều 242 (tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản); Điều 243 (tội hủy hoại rừng); Điều 244 (tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm); Điều 245 (tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên); Điều 246 (tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại);
Ngoài hai nhóm tội phạm trên, Luật sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 đã mở rộng phạm vi chịu TNHS của pháp nhân thương mại đối với 02 tội danh, đó là Tội tài trợ khủng bố (Điều 300) và Tội rửa tiền (Điều 324)[2].

4. Về chế tài hình sự áp dụng đối với pháp nhân

Khi mở rộng phạm vi chủ thể của tội phạm là pháp nhân, cũng cần phải sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến chế tài hình sự, hệ thống hình phạt để tương thích và phù hợp với bản chất của dạng chủ thể mới này. Việc thiết lập một hệ thống hình phạt dành cho pháp nhân phải dựa trên những cơ sở nhất định; trong đó, cần tính đến bản chất của pháp nhân, phạm vi chủ thể là pháp nhân phải chịu TNHS cũng như phạm vi và bản chất của các tội phạm mà pháp nhân phải chịu TNHS.Qua nghiên cứu hệ thống hình phạt dành cho pháp nhân phạm tội của một số quốc gia trên thế giới, có thể thấy hệ thống hình phạt có thể được áp dụng với pháp nhân như sau: phạt tiền, hạn chế kinh doanh, cấm kinh doanh, đóng cửa cơ sở, giải thể, cấm huy động vốn, tịch thu tài sản…
Theo quy định pháp luật hiện hành, đối với mỗi tội phạm, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.
– Hình phạt chính bao gồm:
+ Phạt tiền (Điều 77 BLHS năm 2015): Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phạm tội; Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội, sự biến động của giá cả nhưng không được thấp hơn 50.000.000 đồng.
+ Đình chỉ hoạt động có thời hạn (Điều 78 BLHS năm 2015): Đình chỉ hoạt động có thời hạn là tạm dừng hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế; Thời hạn đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 03 năm.
+ Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn (Điều 79 BLHS năm 2015): Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn là chấm dứt hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả gây ra; Pháp nhân thương mại được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm thì bị đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ hoạt động.
– Hình phạt bổ sung bao gồm:
+ Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định (Điều 80 BLHS năm 2015): Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án tiếp tục kinh doanh hoặc hoạt động trong lĩnh vực đó, thì có thể gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người hoặc cho xã hội; Tòa án quyết định lĩnh vực cụ thể bị cấm kinh doanh hoặc cấm hoạt động; Thời hạn cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
+ Cấm huy động vốn (Điều 77 BLHS năm 2015): Cấm huy động vốn được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án huy động vốn thì có nguy cơ tiếp tục phạm tội. Tòa án quyết định áp dụng một hoặc một số hình thức cấm huy động vốn; Các hình thức cấm huy động vốn bao gồm: Cấm vay vốn ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc các quỹ đầu tư; Cấm phát hành, chào bán chứng khoán; Cấm huy động vốn khách hàng; Cấm liên doanh, liên kết trong và ngoài nước; Cấm hình thành quỹ tín thác bất động sản. Thời hạn cấm huy động vốn là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
+ Phạt tiền (nếu không áp dụng là hình phạt chính).
Ngoài ra Bộ luật hình sự năm 2015 còn quy định cụ thể về các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội (Điều 82); Căn cứ quyết định hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội (Điều 83); Các tình tiết giảm nhẹ TNHS áp dụng đối với pháp nhân thương mại (Điều 84); Các tình tiết tăng nặng TNHS áp dụng đối với pháp nhân thương mại (Điều 85); Quyết định hình phạt trong trường hợp pháp nhân thương mại phạm nhiều tội (Điều 86); Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án (Điều 87) Miễn hình phạt (Điều 88) và Xóa án tích (Điều 89 BLHS)
Trên thế giới, số lượng các quốc gia quy định về TNHS của pháp nhân ngày càng tăng và đây được coi là tất yếu trong sự phát triển của luật hình sự thế giới. Ở các nước theo hệ thống Common Law, TNHS của pháp nhân đã được quy định tương đối lâu (bắt đầu từ thế kỉ XIX) còn các quốc gia theo hệ thống châu Âu lục địa, mặc dù muộn hơn nhưng cũng đã chấp nhận quan điểm này nhằm đấu tranh có hiệu quả với tình hình tội phạm trong xã hội hiện đại.Ở châu Á, một số nước đã quy định TNHS của pháp nhân trong pháp luật của nước mình. Các quốc gia chưa quy định vấn đề này trong pháp luật hình sự thì cũng tồn tại nhiều quan điểm của các nhà luật học với nhiều ý kiến khác nhau. Song, quan điểm thừa nhận TNHS của pháp nhân đang ngày càng chiếm ưu thế. Trong khu vực các nước ASEAN và Trung Quốc cũng quy định TNHS đối với loại chủ thể này. Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 và các văn bản khác liên quan đã bổ sung quy định hết sức quan trọng về TNHS của pháp nhân thương mại. Bên cạnh đó, nhằm bảo đảm sự phù hợp và thống nhất với Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung chương mới (Chương XXIX) quy định về thủ tục tố tụng truy cứu TNHS đối với pháp nhân. Theo đó: (i) Quy định cụ thể về người đại diện của pháp nhân tham gia tố tụng, quyền và nghĩa vụ của người đại diện; (ii) Quy định các biện pháp cưỡng chế áp dụng đối với pháp nhân bao gồm kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân, buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án; (ii) Quy định rõ các thủ tục tố tụng áp dụng đối với pháp nhân bị truy cứu TNHS.
Việc bổ sung quy định về TNHS đối với pháp nhân là cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc thắt chặt hành lang pháp lý trong thời kỳ kinh tế Việt Nam hội nhập như hiện nay. Hành vi phạm tội không chỉ do cá nhân mà pháp nhân cũng gây ra và cần phải được xử lý nghiêm minh. Có những hành vi mà cả cá nhân và pháp nhân đều xâm phạm như: tội buôn bán người, tội rửa tiền, tội khủng bố, tội độc quyền, tội buôn lậu, tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ… Thậm chí, có tội chỉ do pháp nhân thực hiện, như tội phạm về môi trường. Truy cứu TNHS đối với pháp nhân sẽ giúp người dân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao khả năng tiếp cận công lý của người dân. Quy định về xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại là điểm mới quan trọng của Bộ luật hình sự năm 2015. Đây là bước tiến bộ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế đất nước trong thời kỳ mới./.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Hiến pháp năm 2013
  2. Bộ Luật hình sự năm 2015;
  3. Bộ luật Dân sự năm 2015;
  4. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
  5. Luật sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015
  6. Website:
    http://www.fdvn.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=987%3Acn-thit-phi-quy-nh-trach-nhim-hinh-s-ca-phap-nhan&catid=2%3Ax-phuc-thm-v-tan-hoang-phat-khong-hy-an-la-sai&Itemid=18&lang=vi
    http://congly.com.vn/hoat-dong-toa-an/nghiep-vu/truy-cuu-trach-nhiem-hinh-su-cua-phap-nhan-van-de-moi-tai-viet-nam-khong-moi-voi-the-gioi-109680.html

 


 

[1] Các Điều: từ Điều 199 đến Điều 195, Điều 200, Điều 213, Điều 217, Điều 225 – 227, Điều 232 và Điều 234 có sự thay đổi theo Luật sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015

[2] Các Điều 235, Điều 237, Điều 239, Điều 242 – 244, Điều 300 và Điều 324 có sự thay đổi theo Luật sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015

 

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp