Phân biệt các từ ngữ dễ nhầm lẫn trong lĩnh vực thuế

Trong lĩnh vực thuế có nhiều từ ngữ dễ gây nhầm lẫn. Để góp phần khắc phục những khó khăn đó, dưới đây là bảng phân biệt các từ ngữ dễ nhầm lẫn trong lĩnh vực thuế.

Căn cứ:
– Luật Quản lý thuế 2006;
– Luật Thuế giá trị gia tăng 2008 (sửa đổi, bổ sung 2013, 2016);
– Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 (sửa đổi, bổ sung 2012);
– Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 (sửa đổi, bổ sung 2013);
– Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2016;
– Thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn Luật Thuế giá trị gia tăng.

Bảng phân biệt các từ ngữ dễ nhầm lẫn

STT

Các thuật ngữ

1

Thuế trực thu

Là loại thuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế.
– Có đặc điểm là người nộp thuế đồng thời là người chịu thuế.
Ví dụ:
– Thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp.

Thuế gián thu

Là thuế điều tiết gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ.
– Người nộp thuế không phải là người chịu thuế. Người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là người chịu thuế (giá mua hàng đã bao gồm thuế gián thu) còn người nộp thuế là nhà sản xuất, kinh doanhhàng hóa, dịch vụ.
Ví dụ:
Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng..

2

Người nộp thuế

Người chịu thuế

Lưu ý: Giống nhau khi đó là thuế trực thu: Người nộp thuế đồng thời là người chịu thuế.

– Người nộp thuế là người mang thuế đến nộp cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.Theo Điều 2 Luật Quản lý thuế 2006 gồm:
– Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế, phí, lệ phí hoặc các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;
– Tổ chức được giao nhiệm vụ thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước;
– Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế;
– Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế;cá nhân làm thủ tục về thuế thay người nộp thuế…
– Tổ chức, cá nhân thực tế phải nộp thuế cho Nhà nước khi có thu nhập chịu thuế hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ mà hàng hóa, dịch vụ đó là đối tượng chịu thuế.Với thuế trực thu:
– Là cá nhân có thu nhập chịu thuế;
– Doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế;
Với thuế gián thu:
Là người mua, sử dụng hàng hóa.
Ví dụ: Thuế giá trị gia tăng:
+ Người nộp thuế là doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh khác;
+ Người chịu thuế là người mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ.

3

Người chịu thuế

Tổ chức, cá nhân thực tế phải nộp thuế cho Nhà nước khi có thu nhập chịu thuế hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ mà hàng hóa, dịch vụ đó là đối tượng chịu thuế.

Đối tượng chịu thuế

– Là hàng hóa, dịch vụ, thu nhập hoặc những lợi ích vật chất khác mà thuế tác động đến làm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế.
Tùy thuộc vào từng loại thuế mà đối tượng chịu thuế là khác nhau:
Ví dụ:
– Thuế giá trị gia tăng là hàng hóa, dịch vụ.
– Thuế thu nhập cá nhân là thu nhập chịu thuế.

4

Hoàn thuế

– Là việc hoàn trả lại số tiền thuế đã nộp trong các trường hợp theo pháp luật quy định với từng loại thuế.
Ví dụ: Doanh nghiệp nộp thuế đã nộp thuế giá trị gia tăng nhưng khi xuất khẩu thì sẽ được hoàn thuế khi đủ điều kiện về thời gian khấu trừ (vì thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa nhưng với điều kiện là tiêu thụ trên lãnh thổ Việt Nam).

Khấu trừ thuế

– Thuế khấu trừ tại nguồn chi trả (còn có cách gọi khác là thuế thu tại nguồn…) là một hình thứccủa các loại thuế thu nhập mà cơ quan thuế sẽ thu bằng cách khấu trừ ngay vào khoản tiền mà người trả thu nhập trả cho người nhận thu nhập.
Ví dụ: Trong thuế thu nhập cá nhân.
– Cá nhân ký HĐLĐ có thời hạn dưới 03 tháng hoặc không ký HĐLĐ mà có thu nhập trên 02 triệu đồng thì sẽ bị nơi trả thu nhập khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân trước khi chi trả (trừ trường hợp làm đơn cam kết).
– Đối với cá nhân không cư trú thường là người nước ngoài khi trả thu nhập thì sẽ bị khấu trừ 20%.

5

Thuế tương đối (thuế suất tương đối)

– Thuế tương đối là mức thuế được tính bằng một tỉ lệ % trên một đơn vị giá trị đối tượng chịu thuế.

Thuế tuyệt đối (thuế suất tuyệt đối)

– Theo khoản 4 Điều 3 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2016 quy định phương pháp tính thuế tuyệt đối là việc ấn định số tiền thuế nhất định trên một đơn vị hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Hay nói cách khác, thuế tuyệt đối hay còn gọi là định suất thuế là mức thuế được tính bằng số tuyệt đối theo một đơn vị vật lý của đối tượng chịu thuế.

6

Thuế suất 0%Là một trong ba mức thuế suất của thuế giá trị gia tăng, áp dụng với:
+ Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu;
+ Hoạt động xây dựng, lắp đặt công trình ở nước ngoài và ở trong khu phi thuế quan;
+ Vận tải quốc tế;
+ Hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng khi xuất khẩu (theo Điều 9 Thông tư 219/2013/TT-BTC).
– Vẫn thuộc đối tượng chịu thuế nên doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh khác phải kê khai thuế giá trị gia tăng.
Không chịu thuếLà những sản phẩm hàng hóa không thuộc đối tượng chịu thuế như sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác..
– Vì không phải đối tượng chịu thuế nên doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không phải thực hiện kê khai thuế giá trị gia tăng với những sản phẩm hàng hóa này.

7

Thu nhập chịu thuế

Thu nhập tính thuế

Thu nhập tính thuế bao gồm cả thu nhập chịu thuế (phạm vi rộng hơn), tùy thuộc vào mỗi loại thuế thu nhập mà có cách tính khác nhau, cụ thể:

Thuế thu nhập cá nhân

– Thu nhập chịu thuế bằng tổng thu nhập trừ đi các khoản miễn thuế. – Thu nhập tính thuế là bằng tổng thu nhập chịu thuế trừ đi các khoản giảm trừ (giảm trừ gia cảnh…).

Thuế thu nhập doanh nghiệp

– Thu nhập chịu thuế bằng doanh thu và các khoản thu nhập khác trừ đi chi phí được trừ. – Thu nhập tính thuế bằng thu nhập chịu thuế trừ đi thu nhập được miễn thuế và các khoản lỗ kết.

Nguồn: Luatvietnam.vn

Toàn bộ quy định cần biết về thuế giá trị gia tăng 2019

Thuế giá trị gia tăng (GTGT) tác động đến hầu hết các đối tượng trong xã hội. Luật Thuế giá trị gia tăng 2008, được sửa đổi, bổ sung 2016 điều chỉnh trực tiếp lĩnh vực này. Bài viết dưới đây tổng hợp các vấn đề pháp lý cơ bản, liên quan mật thiết đến đời sống người dân của pháp luật thuế GTGT.

1. Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là gì?

Thuế giá trị gia tăng trong Tiếng Anh là Value Added Tax (VAT) hay còn được biết đến là Goods and Services Tax. Thuế GTGT có nguồn gốc từ nước Pháp, đến nay đã được áp dụng rộng rãi tại khoảng 130 quốc gia trên thế giới.
Theo quy định tại Luật Thuế giá trị gia tăng 2008, thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Thuế GTGT chỉ áp dụng trên phần giá trị tăng thêm mà không phải đối với toàn bộ giá trị hàng hóa, dịch vụ.
Một điểm đặc trưng khác, thuế GTGT là một loại thuế gián thu, được cộng vào giá bán hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng trả khi sử dụng sản phẩm đó. Mặc dù người tiêu dùng mới chính là người chi trả thuế GTGT, nhưng người trực tiếp thực hiện nghĩa vụ đóng thuế với Nhà nước lại là đơn vị sản xuất, kinh doanh.

2. Đối tượng nào không phải nộp thuế GTGT?

Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng 2008 quy định về đối tượng có nghĩa vụ nộp thuế trực tiếp với cơ quan Nhà nước. Theo đó, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế chính là người có nghĩa vụ đóng thuế.
Theo quy định Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế 2016, hầu hết các sản phẩm tiêu dùng, sản xuất hiện nay đều là đối tượng chịu thuế GTGT.
Một số đối tượng không chịu thuế quy định cụ thể tại Thông tư 219/2013/TT-BTC, được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư 26/2015/TT-BTC, gồm: Nông, thủy sản chưa chế biến; vật nuôi, giống cây trồng; muối; dịch vụ tín dụng; dịch vụ vận chuyển hành khách công cộng;…
Ngoài ra, Thông tư 219/2013/TT-BTC cũng quy định một số trường hợp cụ thể mà tổ chức, cá nhân không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT, gồm:
– Nhận các khoản thu bồi thường bằng tiền;
– Tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế GTGT bán tài sản;
– Tổ chức, cá nhân chuyển nhượng dự án đầu tư để sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT cho doanh nghiệp, hợp tác xã;
Thông tư 193/2015/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư 219/2013/TT-BTC cũng liệt kê một số trường hợp cơ sở kinh doanh không phải kê khai, nộp thuế GTGT theo quy định:
– Góp vốn bằng tài sản để thành lập doanh nghiệp;
– Điều chuyển tài sản giữa các đơn vị hạch toán phụ thuộc trong doanh nghiệp;
– Thu đòi người thứ 3 của hoạt động bảo hiểm;
– Nhận các khoản thù lao từ cơ quan Nhà nước do thực hiện hoạt động thu hộ, chi hộ các cơ quan Nhà nước …

3. Căn cứ tính thuế GTGT cho hàng hóa, dịch vụ

Thuế GTGT được tính dựa trên giá tính thuế và thuế suất.

Giá tính thuế

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng 2013 quy định giá tính thuế bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh, sản xuất được hưởng. Đơn vị tính thuế GTGT là đồng Việt Nam.
Chi tiết giá hàng hóa, dịch vụ được sử dụng làm căn cứ tính thuế GTGT quy định trong một số trường hợp cụ thể như sau:
– Sản phẩm do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra, giá tính thuế là giá bán chưa có thuế GTGT; Sản phẩm chịu thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc/và thuế bảo vệ môi trường là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc/và thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế GTGT;
– Hàng hóa nhập khẩu: Giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu hoặc/và thuế bảo vệ môi trường hoặc/và thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có);
– Hoạt động cho thuê tài sản: Số tiền cho thuê chưa có thuế GTGT;
– Hàng hóa bán trả góp, trả chậm: Giá bán theo phương thức trả một lần chưa có thuế GTGT, không gồm lãi trả góp, trả chậm;
– Gia công hàng hóa: Giá gia công chưa có thuế GTGT;
– Hàng hoá, dịch vụ được sử dụng chứng từ thanh toán ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì tính theo công thức:

Giá chưa có thuế GTGT    = Giá thanh toán
1 + Thuế suất của hàng hoá, dịch vụ (%)

3 mức thuế suất 0%, 5% và 10% áp dụng ra sao?

Thuế suất được hiểu là mức thuế phải nộp trên một đơn vị khối lượng chịu thuế. Định mức thu thuế tính trên khối lượng thu nhập hoặc giá trị tài sản chịu thuế.
Luật Thuế GTGT hiện hành quy định áp dụng 03 mức thuế suất: 0%, 5% và 10% với những quy định cụ thể như sau:
– Thuế suất 0% được áp dụng đối với sản phẩm xuất khẩu, vận tải quốc tế và hàng hóa không chịu thuế GTGT. Thông tư 130/216/TT-BTC hướng dẫn cụ thể các trường hợp không áp dụng mức thuế suất 0%: Tái bảo hiểm; chuyển giao công nghệ ra nước ngoài; thuốc lá, rượu, bia nhập khẩu; …
– Thuế suất 5%: Áp dụng với các sản phẩm quy định tại Điều 10, Thông tư 219/2013/TT-BTC và được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư 26/2015/TT-BTC như sau: Nước sạch sinh hoạt, phân bón, nông sản, thủy sản, quặng, dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp, …
– Thuế suất 10%: Được áp dụng đối với các sản phẩm, dịch vụ không áp dụng 2 mức thuế suất 0% và 5%.

4. Cách tính thuế GTGT phải nộp của doanh nghiệp

Luật Thuế giá trị gia tăng 2008 quy định 02 phương pháp tính thuế GTGT bao gồm: Phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng 2013 quy định cụ thể tại khoản 4 Điều 1 về đối tượng áp dụng, cách tính đối với mỗi phương pháp:

Phương pháp khấu trừ thuế

– Đối tượng áp dụng là các cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định pháp luật: Cơ sở kinh doanh có doanh thu hàng năm từ bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ từ 01 tỷ đồng trở lên, trừ hộ, cá nhân kinh doanh; Cơ sở kinh doanh đăng ký áp dụng tự nguyện.
– Cách tính:
Thuế GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra – Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ

Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT

– Đối tượng áp dụng: Doanh nghiệp, hợp tác xã có doanh thu hàng năm dưới 01 tỷ đồng; hộ, cá nhân kinh doanh; người nước ngoài kinh doanh, không thường trú nhưng có doanh thu tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ…
– Cách tính:
Số thuế GTGT phải nộp  =       Doanh thu                   x        Tỷ lệ %
Trong đó, tỷ lệ % được quy định như sau:
– Phân phối và cung cấp hàng hóa: 1%;
– Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 5%;
– Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: 3%;
– Hoạt động kinh doanh khác: 2%.
Thông tư số 219/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định 209/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư 119/2014/TT-BTCcũng quy định cách tính đối với hoạt động mua bán, chế tác vàng, bạc, đá quý, như sau:
Số thuế GTGT phải nộp  =      (Giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý bán ra – Giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý mua vào)  x  Thuế suất thuế GTGT
Như vậy, hộ, cá nhân kinh doanh chỉ có thể thực hiện phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT. Doanh nghiệp có doanh thu dưới 01 tỷ đồng có thể lựa chọn 1 trong 2 phương pháp trên, trường hợp chọn phương pháp khấu trừ thuế thì phải đăng ký trước.

5. 3 trường hợp hoàn thuế GTGT phổ biến nhất

Các trường hợp được hoàn thuế GTGT quy định tại Luật Thuế giá trị gia tăng 2008, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế 2016, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng 2013 và một số văn bản hướng dẫn liên quan.

Trường hợp 1: Cơ sở kinh doanh chưa được khấu trừ hết thuế

Theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế 2016 thì cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng hoặc trong quý thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo.
Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế GTGT mà được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo đối với các trường hợp:
– Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng ký; kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật đầu tư hoặc không bảo đảm duy trì đủ điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động;
– Dự án đầu tư khai thác tài nguyên, khoáng sản được cấp phép từ ngày 01/07/2016 hoặc dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hàng hóa mà tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên theo dự án đầu tư.
Trường hợp này được hướng dẫn cụ thể tại Mục II Chương III Thông tư 219/2013/TT-BTC(đã được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 3 Điều 1 Thông tư 130/2016/TT-BTC).

Trường hợp 2: Đơn vị xuất khẩu chưa được khấu trừ thuế từ 300 triệu đồng

Cơ sở kinh doanh trong tháng, quý có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa khấu trừ từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT theo tháng, quý, trừ trường hợp hàng hóa nhập khẩu để xuất khẩu, hàng hóa xuất khẩu không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan.
Thực hiện hoàn thuế trước, kiểm tra sau đối với người nộp thuế sản xuất hàng hóa xuất khẩu không vi phạm pháp luật về thuế, hải quan trong thời gian hai năm liên tục; người nộp thuế không thuộc đối tượng rủi ro cao theo quy định của Luật Quản lý thuế.

Trường hợp 3: Đơn vị kinh doanh thực hiện dự án đầu tư

Về việc hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư, khoản 3 Điều 1 Thông tư 130/2016/TT-BTCquy định:
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư cùng tỉnh, thành phố, đang trong giai đoạn đầu tư thì thực hiện kê khai riêng và phải kết chuyển thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư để bù trừ với việc kê khai thuế GTGT của hoạt động kinh doanh đang thực hiện, trừ trường hợp:
– Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế GTGT mà được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo đối với 04 trường hợp quy định cụ thể tại Thông tư;
– Dự án đầu tư xây dựng nhà để bán hoặc cho thuê mà không hình thành tài sản cố định.
Sau khi bù trừ nếu số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư, nếu nhỏ hơn 300 triệu đồng thì kết chuyển vào số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư của kỳ kê khai tiếp theo…
Bên cạnh 03 trường hợp phổ biến trên, khoản 7 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng 2013 còn quy định 04 trường hợp khác được hoàn thuế GTGT.

6. Chậm nộp hồ sơ khai thuế, phạt đến 5 triệu đồng

Mức xử phạt hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế được Bộ Tài chính quy định tại Điều 9 Thông tư 166/2013/TT-BTC, cụ thể:
– Phạt cảnh cáo đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định từ 01-05 ngày mà có tình tiết giảm nhẹ…;
– Phạt tiền 3,5 triệu đồng, nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu không thấp hơn 2 triệu đồng hoặc có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa không quá 5 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
+ Nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định từ trên 40-90 ngày;
+ Nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định trên 90 ngày nhưng không phát sinh số thuế phải nộp hoặc trường hợp quy định tại khoản 9 Điều 13 Thông tư;
+ Không nộp hồ sơ khai thuế nhưng không phát sinh số thuế phải nộp (trừ trường hợp pháp luật có quy định không phải nộp hồ sơ khai thuế);
+ Nộp hồ sơ khai thuế tạm tính theo quý quá thời hạn quy định trên 90 ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp Hồ sơ khai thuế nhưng chưa đến thời hạn nộp hồ sơ khai quyết toán thuế năm.
Thời hạn nộp hồ sơ quy định tại Điều này bao gồm cả thời gian được gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Không áp dụng các mức xử phạt quy định Điều này đối với trường hợp người nộp thuế trong thời gian được gia hạn thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, gia hạn thời hạn nộp thuế.

Đánh giá tính công bằng của Luật Thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam hiện hành

Benjamin Franklin đã nói “Không có gì trên thế giới là không thay đổi chỉ trừ cái chết và thuế”, nói như vậy để khẳng định tính tất yếu của thuế trong xã hội. Bởi thuế đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc tạo ra nguồn thu cho ngân sách; thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế và quan trọng hơn là đảm bảo sự công bằngtrong xã hội.

Tính công bằng của thuế cũng chính là một trong những yếu tố để tạo nên một hệ thống thuế tốt. Đối với hệ thống thuế của Việt Nam, tính công bằng đã được thể hiện trong một số đạo luật thuế mà điển hình nhất đó là thuế Thu nhập cá nhân.

1. Những vấn đề chung về tính công bằng của thuế 

1.1.  Khái niệm tính công bằng của thuế

Công bằng là đòi hỏi khách quan từ phía người nộp thuế vì đây chính là giá mà họ phải trả có tính chất bắt buộc cho những hàng hoá và dịch vụ công cộng. Một hệ thống thuế quá bất công có thể là một phần nguyên nhân gây ra các biến động chính trị như cách mạng Pháp, Hoa Kỳ[1]. Nói về vấn đề công bằng trong đánh thuế trong lịch sử nghiên cứu kinh tế cũng như nghiên cứu đánh thuế đã được đề cập nhiều. Tuy nhiên, chưa có bất kỳ một khái niệm cụ thể rõ ràng thế nào là “công bằng “ trong đánh thuế. Những nghiên cứu chỉ dừng lại ở quan điểm, học thuyết, có thể tìm thấy tính chất công bằng của thuế trong quan điểm của Aristotel hay Adamsmith hay trong khoa học kinh tế.
Đối với Aristotel ông nghiên cứu về sự công bằng của thuế đi từ những câu hỏi: “Ai có quyền thu thuế, tính công bằng của thuế như thế nào – cho đến sau những sự tranh luận sôi nổi về tính công bằng của thuế trực thu và thuế gián thu trong xã hội cận đại, đó là những tranh luận về thuế trong thế kỷ 17 và 18” [2].
Còn về phía Adamsmith lại có nghiên cứu về tính công bằng của thuế một cách tổng hợp hơn. Các nguyên tắc về thuế của ông không chỉ xem xét sự công bằng giữa người trả thuế theo luật mà còn xem xét nguồn gốc của sự không công bằng và tính không rõ ràng của luật thuế[3].
Đối với khoa học kinh tế thì chỉ đưa ra vấn đề: điều gì công bằng và điều gì không công bằng, nên xem xét sự tái phân phối qua thuế một cách công bằng như thế nào…nên có các giải pháp như thế nào? Các nhà kinh tế có thể đưa ra các ý tưởng bổ ích khác nhau – ví dụ: thuế có thể góp phần vào cấu trúc công bằng cần thiết của thu nhập, của tài sản và của lợi ích,…như thế nào?[4]
Quan niệm về tính công bằng của thuế như trên dù có khác nhau về cách tiếp cận nhưng tựu trung lại đều hàm ý hai nguyên lý đó là: lợi ích và khả năng nộp thuế.

1.2. Tiêu chuẩn phân phối công bằng

Phân phối công bằng được xem xét dựa trên các tiêu chuẩn sau:[5]
Thứ nhất, tài năng và năng lực
Tiêu chuẩn này xuất phát từ quan điểm cho rằng cá nhân có quyền đối với kết quả lao động của mình. Một xã hội như thế là xã hội đề cao chủ nghĩa tự do và Nhà nước điều hành nền kinh tế theo chính sách để cho tư nhân tự do kinh doanh.
Thứ hai, lợi ích tối đa cho số người được hưởng đông nhất
Tiêu chuẩn này được hiểu đó là sự phân phối rất rộng những lợi ích, mọi người đều được hưởng ngang bằng nhau về mọi mặt.
Thứ ba, sự công bằng chính đáng
Tiêu chuẩn này xuất phát từ quan điểm cho rằng mọi cá nhân đều có cùng giá trị thì đều được hưởng lợi ích xã hội như nhau. Giống như sự phân phối theo khả năng riêng có, không có sự phân phối đảm bảo công bằng tuyệt đối.

2. Tính công bằng trong Luật Thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam

Thuế thu nhập cá nhân hiện nay được điều chỉnh bởi các văn bản bao gồm Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi bổ sung năm 2012 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của các Luật về thuế năm 2014.  Luật Thuế thu nhập cá nhân được xây dựng dựa trên tính công bằng của thuế đặc biệt nguyên tắc khả năng nộp thuế. Điều này được thể hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, quy định về người nộp thuế
Điều 2 Luật Thuế thu nhập cá nhân quy định về đối tượng nộp thuế bao gồm cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam. Như vậy, ngay trong quy định về đối tượng nộp thuế cũng đã thể hiện được tính công bằng khi phân chia đối tượng cá nhân cư trú  và cá nhân không cư trú. Xuất phát từ nguyên tắc đánh thuế theo lãnh thổ và đánh thuế theo thu nhập phát sinh, việc Luật Thuế thu nhập cá nhân phân chia hai đối tượng này hoàn toàn hợp lý và phù hợp với quy định của các nước trên thế giới như Malaysia, Indonesia…cũng như phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm tránh đánh thuế nhiều lần đối với cùng một thu nhập.
Thứ hai, quy định về thu nhập chịu thuế
Đối tượng đánh thuế của thuế thu nhập cá nhân là thu nhập nhận được trong kỳ tính thuế. Mục tiêu đánh thuế công bằng là một cá nhân nhận được thu nhập từ các nguồn khác nhau sẽ bị đánh thuế giống nhau. Các nhà kinh tế đều nhất trí rằng thu nhập toàn diện bao gồm không chỉ là thu nhập bằng tiền mà còn bao gồm cả thu nhập vốn và thu nhập khác. Vì vậy, cần có một số điều chỉnh để chuyển đổi mọi khoản thu nhập không bằng tiền sang thu nhập bằng tiền khi xác định thu nhập toàn diện trong xác định thu nhập chịu thuế. Quan niệm về thu nhập phản ánh chính xác khả năng trả thuế[6] . Đối với Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện hành thể hiện rất rõ điều này, thu nhập chịu thuế của cá nhân được xác định là tổng thu nhập của cá nhân nhận được trong kỳ tính thuế bao gồm mười loại thu nhập quy định tại Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 sửa đổi bổ sung 2012: (i) Thu nhập từ kinh doanh; (ii)thu nhập từ tiền lương, tiền công; (iii) thu nhập từ đầu tư vốn; (iv)thu nhập từ chuyển nhượng vốn; (v)thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; (vi)thu nhập từ trúng thưởng; (vii) thu nhập từ bản quyền; (viii) thu nhập từ nhượng quyền thương mại; (ix) thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng; (x) thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng.
Thứ ba, quy định về thu nhập miễn thuế
Mặc dù Luật thuế thu nhập cá nhân quy định cá nhân có thu nhập cao và đáp ứng điều kiện theo quy định phải nộp thuế. Tuy nhiên, không phải mọi đối tượng và mọi loại thu nhập đều phải chịu thuế. Sự công bằng ở đây được thể hiện ở quy định về thu nhập miễn thuế nhằm thể hiện được chính sách ưu đãi của Nhà nước, tránh tình trạng “tận thu” đánh thuế vào sức người. Theo đó, tại Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 sửa đổi bổ sung 2012 quy định 16 loại thu nhập được miễn thuế chủ yếu đối với các thu nhập liên quan đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp; thu nhập nhận được từ quan hệ chuyển nhượng bất động sản, nhà ở giữa những người có mối quan hệtrong gia đình; hoạt động tài chính, bảo hiểm nhân thọ và tiền lương hưu.
Thứ tư, quy định về giảm trừ gia cảnh
Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ  tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú. Sở dĩ đặt ra khoản giảm trừ này chủ yếu xuất phát từ mục đích xã hội, tạo điều kiện cho những người mang gánh nặng gia đình thực hiện được trách nhiệm của mình cũng như tránh tình trạng “đánh vào sức người”, đồng thời khoản giảm trừ còn có ý nghĩa trong khuyến khích cá nhân tham gia một số hoạt động nhất định như đóng góp từ thiện, nhân đạo… Quy định này thể hiện tính công bằng giữa những người có thu nhập cao với nhau nhưng có những điều kiện, hoàn cảnh gia đình khác nhau . Cụ thể hoá điều này tại Khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân đã quy định mức giảm trừ như sau:
Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 9 triệu đồng/tháng (108 triệu đồng/năm);
Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 3,6 triệu đồng/tháng.
Ngoài mức giảm trừ gia cảnh, Luật thuế thu nhập cá nhân còn quy định mức giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo.
Thứ năm, quy định về thuế suất luỹ tiến
Thuế suất là việc xác định mức thu của nhà nước trên đối tượng tính thuế. Đối với thuế thu nhập cá nhân đảm bảo mục tiêu công bằng trong trả thuế tương ứng với nguyên tắc khả năng trả thuế, thuế suất được thiết kế theo Biểu thuế luỹ tiến có nghĩa là mức thu nhập càng cao phải chịu thuế suất cao lên tương ứng với giá trị thu nhập. Rõ ràng ở đây đã thấy được sự công bằng theo chiều dọc của thuế đảm bảo người có thu nhập cao hơn phải đóng thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp hơn, trách nhiệm của người nộp thuế thể hiện sự công bằng không có tính chất luỹ thoái như thuế gián thu. Điều này đươc quy định rõ tại Điều 22 3 Luật thuế thu nhập cá nhân 2007 sửa đổi bổ sung năm 2012, để đảm bảo tính công bằng Luật đã quy định biểu thuế như sau:
Biểu thuế luỹ tiến từng phần áp dụng cho thu nhập từ tiền lương, tiền công. Biểu thuế chia ra càng nhiều khoảng thu nhập thì sẽ đảm bảo được công bằng hơn, Luật đã chia ra 7 khoảng thu nhập với 7 mức thuế khác nhau:

Bậc thuế Phần thu nhập tính thuế/năm (triệu đồng) Phần thu nhập tính thuế/tháng (triệu đồng) Thuế suất (%)
1 Đến 60 Đến 5 5
2 Trên 60 đến 120 Trên 5 đến 10 10
3 Trên 120 đến 216 Trên 10 đến 18 15
4 Trên 216 đến 384 Trên 18 đến 32 20
5 Trên 384 đến 624 Trên 32 đến 52 25
6 Trên 624 đến 960 Trên 52 đến 80 30
7 Trên 960 Trên 80 35

Mặc dù các quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân đã thể hiện được tính công bằng của thuế, tuy nhiên vẫn còn những hạn chế từ các quy định cũng như thực tiễn áp dụng ảnh hưởng tới tính công bằng của Luật thuế thu nhập cá nhân. Điều này được thể hiện qua những điểm như sau:
Thứ nhất, hệ thống thuế khá không công bằng ở Việt Nam và nguyên tắc công bằng theo chiều dọc bị vi phạm bằng nhiều cách vì nhiều lý do khác nhau[7]. Những quy định làm cho thuế thu nhập cá nhân thiếu tính công bằng đó là:
Quy định về thu nhập miễn thuế
Một là, Luật thuế thu nhập cá nhân hiện nay quy định thu nhập từ tiền lương tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công được xác định là thu nhập chịu thuế, trừ một số khoản phụ cấp, trợ cấp như: phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công; phụ cấp quốc phòng, an ninh; phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật; trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng và các khoản trợ cấp khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của Bộ luật lao động; trợ cấp mang tính chất bảo trợ xã hội và các khoản phụ cấp, trợ cấp khác không mang tính chất tiền lương, tiền công theo quy định của Chính phủ. Những quy định này cho thấy số lượng các khoản phụ cấp, trợ cấp được miễn thuế là khá nhiều làm giảm đi tính công bằng giữa các thu nhập chịu thuế hay giảm tính công bằng ngay trong cùng một loại thu nhập chịu thuế.
Hai là, quy định về thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa những người có quan hệ gia đình với nhau như giữa vợ và chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau được xác định là thu nhập miễn thuế. Theo đó, giả định một người nhận được nhiều thu nhập từ quan hệ chuyển nhượng trên cũng không phải đóng bất kỳ một đồng thuế nào. Trong khi đó quan hệ chuyển nhượng bên ngoài lại phải chịu thuế khi có từ hai quyền sử dụng đất ở trở lên. Rõ ràng, chính quy định này cho thấy không có sự công bằng giữa những đối tượng chịu thuế với nhau.
Ba là, quy định thu nhập từ lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng cũng là thu nhập được miễn thuế, tuy nhiên bản thân nó đã chứa đựng sự không công bằng. Bởi lẽ, tiền gửi ngân hàng cũng là một kênh đầu tư mà đã là đầu tư thì phải nộp thuế, thêm vào đó khi chúng ta làm một phép so sánh nhỏ một người bỏ công sức ra để làm việc cả tháng nhận được mức thu nhập 9 triệu đồng, trong khi đó những người khác gửi một số lượng tiền nhiều vào ngân hàng với mức lãi suất cao thì cũng đã vượt quá ngưỡng nộp thuế. Với quy định này mức độ điều tiết thu nhập của thuế đã không đạt được như kỳ vọng.
Quy định về thuế suất luỹ tiến
Luật thuế thu nhập cá nhân quy định thuế suất theo biểu thuế luỹ tiến đặc biệt thu nhập từ kinh doanh, tiền lương và tiền công áp dụng biểu thuế luỹ tiến từng phần, trong đó chia ra 7 khoảng thu nhập tương ứng với 7 mức thuế suất, thu nhập càng cao chịu mức thuế suất cao theo tỷ lệ thuận. Tuy nhiên biểu thuế suất này cũng cho thấy không có sự công bằng giữa các đối tượng có thu nhập cao chiu thuế bởi vì khoảng thu nhập là quá ngắn. Khoảng cách từ bậc 1 đến bậc 2 chỉ có 5 triệu đồng, từ bậc 2 đến bậc 3 là 8 triệu đồng, và cho đến bậc thuế cuối cùng chỉ gấp bậc thấp nhất 16 lần. Trong khi đó ở các nước khoảng cách này là khá xa như Trung Quốc 200 lần, Malaysia 100 lần, Thái Lan 50 lần…[8].
Thứ hai, cách tính thuế mới của Luật sửa đổi bổ sung các điều của các Luật về thuế cũng còn bất cậpkhi đang tạo ra sự bất bình đẳng, được thể hiện như sau:
Một là, theo cách tính mới đối với những cá nhân kinh doanh có doanh thu 100 triệu đồng/năm trở lên thì phải đóng thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ 2% trên tổng doanh thu. Theo lý thuyết, sẽ có ít nhất 3 triệu hộ kinh doanh cá thể sẽ thuộc diện nộp thuế, có nghĩa là thu nhập bình quân của những hộ kinh doanh này đạt tầm 8,4 triệu/tháng đã phải chịu thuế. Trong khi đó, những người khác có thu nhập phải từ 9 triệu đồng/tháng mới phải chịu thuế. Điều này đã thấy rõ được thiếu sự công bằng giữa những đối tượng nộp thuế này.
Hai là, quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân dường như đang đánh đồng các đối tượng nộp thuế, giữa người cho thuê nhà ở và người cho thuê văn phòng, chung cư cao cấp[9]. Những thu nhập nhận được từ những nguồn này có sự chêch lệch đáng kể, nhưng khi xác định để chịu thuế thì lại không có sự phân biệt về giá trị tài sản.

3. Kiến nghị hoàn thiện Luật thuế thu nhập cá nhân để đảm bảo tính công bằng của thuế

Để Luật thuế thu nhập cá nhân thực sự đảm bảo được tính công bằng của thuế đòi hỏi những hoàn thiện từ các quy định của pháp luật. Cụ thể:
– Quy định về thu nhập miễn thuế có thể xem xét giảm các loại thu nhập miễn thuế trong đó giảm các loại trợ cấp, phụ cấp.
– Bổ sung quy định thu nhập từ lãi tiền gửi tiết kiệm ngân hàng là loại thu nhập chịu thuế.
– Vẫn tiếp tục quy định thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản của những người có quan hệ gia đình với nhau, tuy nhiên nên khống chế số lượng nhất định đối với những bất động sản này.
– Quy định thuế luỹ tiến từng phần áp dụng cho thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công nên giãn khoảng cách mức thu nhập chịu thuế làm sao cho mức cao nhất cách mức thấp nhất lớn hơn 16 lần và ở mức phù hợp nhất với thu nhập chịu thuế của người Việt Nam.
– Nên quy định lại mức chịu thuế của những hộ kinh doanh cá thể, có thể nâng mức trung bình lớn hơn ngưỡng chịu thuế của các đối tượng khác. Luật thuế thu nhập cá nhân cần phải có sự phân biệt rõ giữa đối tượng nộp thuế là hộ kinh doanh nhỏ lẻ và người đi làm.
– Nên có sự phân biệt về giá trị tài sản đem lại thu nhập chịu thuế, không nên đánh đồng tất cả các loại tài sản đem lại thu nhập cho người nộp thuế có như vậy mới tạo nên sự công bằng giữa các đối tượng nộp thuế.
Bên cạnh việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân, để đảm bảo được tính công bằng của thuế cần có những giải pháp khác về con người, về các cơ quan thực thi cũng như về cơ sở vật chất. Từ đó, thuế thu nhập cá nhân mới phát huy được vai trò tái phân phối thu nhập và thực hiện công bằng xã hội./.

Tác giả bài viết: Phương Huyền / Trường Trung cấp Luật Đồng Hới

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn) 


[1] Giáo trình Lý thuyết tài chính công, Trường Đại học kinh tế TP.HCM,  Nxb Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh (2006), tr.145

[2] Lý thuyết và chính sách thuế, Học viện Tài chính, Nxb Tài chính (2009), tr. 138

[3] Lý thuyết và chính sách thuế, Học viện Tài chính, Nxb Tài chính (2009), tr. 138

[4] Lý thuyết và chính sách thuế, Học viện Tài chính, Nxb Tài chính (2009), tr. 139

[5] Lý thuyết và chính sách thuế, Học viện Tài chính, Nxb Tài chính (2009), tr. 140

[6] Lý thuyết và chính sách thuế, Học viện Tài chính, Nxb Tài chính (2009), tr. 235-236

[7] Gangadha Prasad Shukla, Phạm Minh Đức, Michael Engelschalk(Đồng chủ biên), Cải cách thuế ở Việt Nam hướng tới một hệ thống hiệu quả và công bằng hơn, Ngân hàng thế giới, Ban quản lý Kinh tế và xoá đói giảm nghèo khu vực Châu Á và Thái Bình Dương, ngày 30/09/2011, Mã số 66317, tr 49.

[8] http://www.tinmoi.vn/nen-dieu-chinh-lai-cac-bac-thue-thu-nhap-ca-nhan-01643391.html

[9]http://www.tienphong.vn/Kinh-Te/tinh-thue-thu-nhap-ca-nhan-moi-thieu-cong-bang-de-tieu-cuc-808673.tpo

Thuế nhà thầu là gì? Thuế nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam

Thuế nhà thầu là một loại thế sẽ được áp dụng cho các công ty đã cung cấp dịch vụ vào nước ta, nó chính là tiền bắt buộc phải trả cho nhà đầu tư, trong đó chưa trừ đi những khoản thuế mà nhà thầu phải nộp. Để hiểu rõ hơn thuế nhà thầulà gì, thuế nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam hoạt động như thế nào, chúng ta sẽ tìm hiểu trong nội dung sau đây.

Thuế nhà thầu là gì?

Thuế nhà thầu là loại thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam (những tổ chức này không hoạt động theo luật Việt Nam) có phát sinh thu nhập từ cung ứng dịch vụ hoặc dịch vụ gắn với hàng hóa tại Việt Nam.
Thuế nhà thầu là viết tắt của Foreign Contractor Tax (FCT), luật FCT đã được phát triển và sửa đổi theo thời gian kể từ khi nó được ban hành vào năm 1995. Những quy định trong FCT hiện tại có từ năm 2014. Nó làm rõ sự mơ hồ trước đây và đưa ra các quy tắc thuế mới. Đối với một thực thể, FCT bao gồm hai phần: Thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế TNDN) và Thuế giá trị gia tăng (VAT). Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (LCIT) và Luật thuế giá trị gia tăng (LVAT) và cả hai tạo thành một phần phức tạp của chế độ FCT. Chính phủ cũng đã ban hành một số thông tư để thực hiện và giải thích các luật này.

Thuế nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam

Đối với các nhà thầu nước ngoài, Thông tư 103/2014/TT-BTC về thuế nhà thầu nước ngoài (Thông tư 103) là luật FCT quan trọng nhất và được sửa đổi. Thông tư 103 có hiệu lực vào ngày 1 tháng 10 năm 2014.
Nhà thầu nước ngoài là gì? Theo Thông tư 103, nhà thầu nước ngoài là một thực thể nước ngoài hoặc một cá nhân kinh doanh hoặc tạo thu nhập tại Việt Nam trên cơ sở thỏa thuận giữa nhà thầu nước ngoài và một bên Việt Nam hoặc giữa nhà thầu nước ngoài và nhà thầu phụ nước ngoài. Các bên đối tác của Việt Nam có thể bao gồm bất kỳ thực thể nào cho dù là nhà nước, trong nước hay nước ngoài, được đăng ký kinh doanh tại Việt Nam. Nhà thầu phụ nước ngoài là một thực thể hoặc cá nhân nước ngoài, sau đó, cung cấp dịch vụ cho nhà thầu nước ngoài hoặc thực hiện một phần công việc của nhà thầu nước ngoài.
Thuế nhà thầu thanh toán cho nhà thầu nước ngoài áp dụng khi một bên ký kết Việt Nam (bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam) ký hợp đồng với một bên nước ngoài không có sự hiện diện được cấp phép tại Việt Nam, bất kể các dịch vụ được cung cấp ở Việt Nam hay nước ngoài.
Thuế nhà thầu thường áp dụng cho các khoản thanh toán có nguồn gốc từ Việt Nam, ngoại trừ việc cung cấp hàng hóa thuần túy (nghĩa là trách nhiệm, chi phí và rủi ro liên quan đến hàng hóa đi qua hoặc trước cửa khẩu Việt Nam và không có dịch vụ liên quan nào được thực hiện tại Việt Nam), các dịch vụ được thực hiện và tiêu thụ bên ngoài Việt Nam và các dịch vụ khác được thực hiện hoàn toàn bên ngoài Việt Nam.
Ngoài ra, một số thỏa thuận phân phối nhất định trong đó các thực thể nước ngoài trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia phân phối hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ tại Việt Nam phải chịu thuế nhà thầu (ví dụ: nơi thực thể nước ngoài giữ quyền sở hữu hàng hóa; chịu chi phí phân phối, quảng cáo hoặc tiếp thị; chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa hoặc dịch vụ, ra quyết định về giá hoặc ủy quyền/ thuê các thực thể Việt Nam khác thực hiện một phần phân phối hàng hóa/ cung cấp dịch vụ tại Việt Nam).
Nhà thầu nước ngoài có thể đăng ký làm người nộp thuế theo phương pháp khấu trừ nếu họ áp dụng hệ thống kế toán Việt Nam. Nếu hồ sơ kế toán đầy đủ, nhà thầu nước ngoài sẽ trả thuế TNDN trên lợi nhuận thực tế, nhưng nếu không thì trên cơ sở lợi nhuận được coi là.
Đối với các nhà thầu nước ngoài trực tiếp (không khấu trừ), VAT và thuế TNDN sẽ được bên ký kết khấu trừ theo tỷ lệ được coi là. Tỷ lệ khác nhau được chỉ định theo tính chất của hợp đồng được thực hiện. Đối với thuế TNDN, tỷ lệ FCT thay đổi từ 0,1% đến 10%. Đối với VAT, tỷ lệ FCT cũng có thể dao động từ 2% đến 5%. Thuế VAT mà bên ký kết khấu trừ là khoản tín dụng đầu vào được phép trong tờ khai thuế VAT.
FCT áp dụng cho thanh toán lãi cho người cho vay ở nước ngoài là 5%. Lãi suất cho các khoản vay trước năm 1999 có thể được miễn từ FCT. Các khoản vay nước ngoài được cung cấp bởi một số tổ chức chính phủ hoặc bán chính phủ nhất định có thể được miễn FCT lãi suất khi áp dụng thỏa thuận thuế kép (DTA) hoặc thỏa thuận liên chính phủ (IGA).
Một bên thuê tại Việt Nam được yêu cầu khấu trừ thuế từ các khoản thanh toán cho bên cho thuê ngoài khơi. Thuế VAT 5% và thuế TNDN 5% được áp dụng cho phí thuê nếu đó là hợp đồng thuê hoạt động. Nếu là hợp đồng thuê tài chính, phần lãi sẽ được miễn thuế VAT và chịu thuế TNDN 5%.