Khái niệm hợp đồng và những nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật hợp đồng Việt Nam
Hợp đồng và luật hợp đồng là chế định cốt lõi của luật tư nói riêng và của toàn bộ hệ thống pháp luật nói chung. Do đó, việc xây dựng một cách khoa học khái niệm hợp đồng cũng như các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh nó có ý nghĩa và vai trò quan trọng. Bài viết này phân tích ba yếu tố cấu thành nên một hợp đồng trong khoa học pháp lý Việt Nam từ thời Pháp thuộc đến nay và phân tích ba nguyên tắc cơ bản trong pháp luật hợp đồng Việt Nam đương đại qua đó tìm hiểu sự thay đổi về tư duy lập pháp cũng như một số ưu điểm và hạn chế của chúng.

1. Khái niệm hợp đồng

1.1 Thành tố của hợp đồng

Theo Vũ Văn Mẫu, khế ước được tạo ra bởi sự ưng thuận giữa hai hoặc nhiều bên kết ước. Hai điều kiện cần để tạo ra hợp đồng là người kết ước và chủ đích của sự ưng thuận[1]. Tìm hiểu khái niệm hợp đồng thông qua câu hỏi hợp đồng được tạo ra như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào chế định giao kết hợp đồng của mỗi nền pháp luật. Trong bài viết này, các phân tích về thành tố của hợp đồng chủ yếu đứng trên quan điểm của truyền thống pháp luật La Mã – Đức (Civil Law) mà Việt Nam bị ảnh hưởng trong thời kỳ Pháp thuộc và kéo dài cho đến tận ngày nay. Pháp luật hợp đồng Việt Nam do đó không có điều kiện bắt buộc về sự đối ứng (consideration)[2] khi hình thành hợp đồng như trong pháp luật hợp đồng của Common Law và sự đối ứng (consideration) cũng sẽ không được xem xét ở đây.
Chủ thể giao kết hợp đồng
Người kết ước, hay chủ thể giao kết hợp đồng là các bên tham gia vào một quan hệ hợp đồng, có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Trong một quan hệ hợp đồng, xuất hiện những cặp chủ thể tương ứng là người có quyền (trái chủ) và người có nghĩa vụ (thụ trái). Một trái chủ có thể có nhiều thụ trái và ngược lại, một thụ trái có thể có nhiều trái chủ. Lưu ý rằng, có những trường hợp “các bên” trong quan hệ hợp đồng mang tính kỹ thuật pháp lý hơn là thực chất, khi mà một người giao kết hợp đồng với chính bản thân mình. Người đó thực hành hai (hoặc nhiều hơn) tư cách pháp lý khác nhau và giao kết hợp đồng giữa các tư cách đó[3]. Ví dụ như: một người được ủy quyền bởi cả hai bên trong quan hệ hợp đồng để giao kết hợp đồng; một người được ủy quyền giao kết một hợp đồng và giao kết hợp đồng đó với chính mình[4].
Sự thỏa thuận ý chí
Chủ đích của sự ưng thuận hay mục đích của thỏa thuận có nghĩa là các bên phải thỏa thuận với nhau về một việc xác định nào đó, ý chí của mỗi bên phải cùng hướng về một mục đích, hay còn gọi là sự thống nhất ý chí, nhưng không nhất thiết phải thỏa thuận về tất cả những vấn đề xoay quanh hay phát sinh từ mối quan hệ của họ. Những vấn đề mà các bên chưa thỏa thuận, vì nhiều lý do mà chủ yếu là do họ không thể lường trước những trường hợp phát sinh bất đồng gặp phải trong tương lai, sẽ được dự liệu trong các quy định của pháp luật về chế định hợp đồng. Ý chí của các bên cần đủ rõ ràng (không có nghĩa là không chấp nhận sự ngầm định) và ăn nhập với nhau. Chẳng hạn nếu một bên muốn có xe đạp để đi, họ có thể mua hoặc thuê chiếc xe. Một bên muốn kiếm được lợi từ chiếc xe đạp không sử dụng nữa, họ có thể cho thuê hoặc bán chiếc xe. Dù ý chí của mỗi người là mua hoặc thuê/bán hoặc cho thuê, chúng đều có sự tương đồng về việc bên A phải trả tiền cho bên B, và bên B phải đưa xe cho bên A đi. Nhưng hai cặp ý chí mua – cho thuê và thuê – bán không thống nhất với nhau, khi đó các bên không có sự thỏa thuận.
Hệ quả pháp lý
Có các bên kết ước và có sự thỏa thuận giữa các bên về một việc xác định nào đó chưa đủ để tạo ra một hợp đồng. Sự thỏa thuận phải tạo lập một hệ quả pháp lý mới có khả năng tạo thành hợp đồng. Hệ quả pháp lý được hiểu là sự tạo lập, thay đổi hay chấm dứt một quyền lợi (và nghĩa vụ dân sự tương ứng) hoặc một quan hệ pháp luật[5]. Một thỏa thuận để được coi là hợp đồng, cần là một trong những nguồn gốc phát sinh của nghĩa vụ dân sự (nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ ý chí của chủ thể) cả về mặt chủ quan và khách quan.
Về mặt chủ quan, một sự thỏa thuận hay một lời cam kết đôi khi chỉ nhắm đến những nghĩa vụ mang tính luân lý chứ không phải là nghĩa vụ pháp lý. Dựa trên hiệu lực của nghĩa vụ[6] hay chủ đích của nghĩa vụ[7], ta cần phân biệt nghĩa vụ pháp lý/có tính ràng buộc bởi pháp luật, với các loại nghĩa vụ phi pháp lý/luân lý/không có tính ràng buộc bởi pháp luật như nghĩa vụ tự nhiên, nghĩa vụ đạo đức, nghĩa vụ tôn giáo.
Nếu người tham gia vào thỏa thuận không thực sự muốn bị ràng buộc bởi pháp luật mà họ chỉ thiết lập nghĩa vụ mang tính luân lý, thì pháp luật không thể cưỡng chế họ thực hiện nghĩa vụ đó được, mặc dù họ có thể bị lên án về mặt đạo đức. Đó có thể là các thỏa thuận mang tính xã giao hay vui đùa giữa mọi người; lời hứa (và chấp nhận lời hứa) về sự giúp đỡ thiện tâm; hay sự cam đoan bằng danh dự[8].
Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931, Bộ Dân luật Trung Kỳ năm 1936, Bộ Dân luật Việt Nam Cộng hòa năm 1972 đều đề cập đến hai đặc điểm của nghĩa vụ tự nhiên: không thể cưỡng chế thi hành bởi pháp luật và trái chủ không có tố quyền[9]. Tuy nhiên nếu người thụ trái đã tự nguyện thi hành nghĩa vụ tự nhiên, thì họ không thể đổi ý hoặc yêu cầu trái chủ phải hoàn lại[10]. Nói cách khác, pháp luật chỉ cung cấp hiệu lực ràng buộc cho sự tự nguyện thực hiện nghĩa vụ tự nhiên chứ không cung cấp hiệu lực ràng buộc cho sự thể hiện ý chí muốn tạo lập nghĩa vụ tự nhiên. Bởi vậy nghĩa vụ tự nhiên có thể hiểu là những việc-phải-làm mang tính luân lý và đạo đức nhiều hơn là pháp lý, nhưng nằm ở giữa hai thứ đó[11].
Nghĩa vụ đạo đức đơn thuần là sự ràng buộc trong lương tâm. Một người có thể đưa ra lời hứa về sự giúp đỡ thiện tâm với một người nào đó mà không nhận được sự đối ứng nào. Nghĩa vụ tôn giáo có thể hiểu là những nghĩa vụ dựa trên một giáo lý tôn giáo nào đó, mà một người gia nhập cần phải thực hiện. Nếu một người không thực hiện hành vi giúp đỡ thiện tâm hoặc hành vi bị ràng buộc bởi giáo lý, thì luật pháp không thể cưỡng chế anh ta thực hiện điều đó. Trong pháp luật Việt Nam Cộng hòa cũ, nếu có tai nạn trong những sự giúp đỡ thiện tâm, tòa án cũng không áp dụng trách nhiệm khế ước đối với người giúp đỡ[12]. Cả hai Bộ dân luật Bắc Kỳ và Trung Kỳ cũ đều quy định “luật pháp không can thiệp vào sự thi hành các nghĩa vụ về luân lý cùng về tôn giáo”[13].
Nghĩa vụ tự nhiên có thể biến đổi thành nghĩa vụ dân sự bởi người thụ trái nếu sự cam kết của người thụ trái đáp ứng các yêu cầu nhất định như nguyên nhân hoặc hình thức hoặc có một nghĩa vụ đối ứng[14]. Điều này có thể áp dụng cho các loại nghĩa vụ phi pháp lý khác, rằng nếu chúng đáp ứng được những yêu cầu nhất định thì người ta có thể suy đoán về ý chí của các bên thỏa thuận rằng họ muốn chịu sự ràng buộc một cách nghiêm túc bởi pháp luật, và do đó chúng trở thành hợp đồng. Như vậy, một thỏa thuận giữa trái chủ và thụ trái không nhằm phát sinh một hệ quả pháp lý, mà chỉ nhằm phát sinh một hệ quả luân lý nói chung hay nghĩa vụ tự nhiên nói riêng không thể coi là hợp đồng được.
Về mặt khách quan, sự thỏa thuận cần tạo ra được hệ quả pháp lý thì mới có thể coi là hợp đồng. Pháp luật luôn đặt ra một giới hạn tự do thỏa thuận nhất định, mà vượt qua lằn ranh đó thì sự thống nhất ý chí của các bên dù có muốn tạo lập một ràng buộc pháp lý cũng không được công nhận. Tuy nhiên ngay cả trong giới hạn của sự tự do thỏa thuận, liệu một sự thỏa thuận có chủ đích tạo ra sự ràng buộc pháp lý có thể coi là hợp đồng hay không, nếu sự ràng buộc ấy lại không đến từ chính thỏa thuận mà lại đến từ nguyên nhân khác.
Vũ Văn Mẫu đưa ra trường hợp sự thỏa thuận giữa các bên chỉ là sự ưng thuận chấp nhận một quy chế pháp lý. Các bên trong thỏa thuận thống nhất ý chí với nhau thừa nhận những quyền và nghĩa vụ mà pháp luật thực định đã trao/áp đặt lên họ. Ở đây ý chí cá nhân không phải là nguồn gốc chính yếu làm phát sinh nghĩa vụ, mà quy định của pháp luật mới là nguồn gốc phát sinh nghĩa vụ trong quan hệ giữa các bên[15]. Nghĩa vụ pháp lý nhưng không phát sinh từ ý chí của các bên được gọi là nghĩa vụ pháp định, để phân biệt với nghĩa vụ dân sự[16].
Chúng tôi cho rằng, trong trường hợp này cần xem xét thỏa thuận đó bị hoãn hiệu lực chứ không phải vô hiệu bởi nó thỏa mãn đầy đủ những yếu tố của một hợp đồng, ngoại trừ việc hệ quả khách quan mà nó nhắm tới đã được thiết lập bởi quy định của pháp luật. Một khi quy định luật thực định đó hết hiệu lực, khiến cho điều kiện về hệ quả ràng buộc khách quan của sự thỏa thuận được thỏa mãn mà sự thỏa thuận đó vẫn chưa hết hạn để phát sinh hiệu lực, thì lúc ấy thỏa thuận sẽ trở thành hợp đồng.

1.2 Khái niệm hợp đồng trong pháp luật Việt Nam[17]

Điều 644(2) Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 quy định:“Khế ước là một hiệp ước của một người hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người khác để tặng cho, để làm hay không làm cái gì”.
Điều 680(2) Dân luật Trung Kỳ năm 1936 quy định: “Khế ước là một hiệp ước của một người hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người khác để chuyển giao, để làm hay không làm cái gì”.
Điều 653 Bộ Dân luật Việt Nam Cộng hòa năm 1972 quy định: “Khế ước hay hiệp ước là một hành vi pháp lý do sự thỏa thuận giữa hai người hay nhiều người để tạo lập, di chuyển, biến cải hay tiêu trừ một quyền lợi, đối nhân hay đối vật”.
Điều 394 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 và Điều 388 BLDS năm 2005 của Việt Nam ngày nay đều quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Điều 385 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Khái niệm về hợp đồng của hai bộ Dân luật Bắc Kỳ và Trung Kỳ thiếu sự bao quát khi đề cập ngay đến một sự phân loại nghĩa vụ dựa trên nội dung của nghĩa vụ, là chuyển giao quyền, làm hoặc không làm một việc gì đó. Riêng Bộ Dân luật Bắc Kỳ sử dụng thuật ngữ “tặng cho” dường như loại trừ các trường hợp chuyển giao quyền có đền bù, có nội hàm hẹp hơn nhiều so với thuật ngữ “chuyển giao” trong Bộ Dân luật Trung Kỳ. Cách phân loại này được đề cập tới nhiều trong việc thực hiện nghĩa vụ, nhưng cũng chỉ là một cách trong nhiều cách phân loại nghĩa vụ. Nội hàm của hai khái niệm này không bao quát được yếu tố tạo lập hậu quả pháp lý. Khái niệm hợp đồng của hai bộ luật này chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi BLDS Pháp năm 1804, do những chuyên gia pháp lý thời đó là người Pháp hoặc tiếp thu nền khoa học pháp lý Pháp[18].
Bộ Dân luật năm 1972 của Việt Nam Cộng hòa nhắc đến sự thỏa thuận với nghĩa tương đồng với khế ước/hợp đồng. Tuy nhiên điều này không gây ra sự nhầm lẫn nào vì việc tạo lập hậu quả pháp lý được nhắc đến ngay sau đó.
BLDS năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005 lại không sử dụng thuật ngữ “hợp đồng” như tất cả các nghiên cứu cơ bản về hợp đồng mà có một bổ ngữ “dân sự” ở sau. Bổ ngữ “dân sự” này đã tạo ra bất cập trong thực tiễn. Về mặt cấu trúc của hệ thống pháp luật, ở những nước có sự phân biệt ngành luật công và luật tư thì BLDS thường được coi là bộ luật nền tảng của luật tư. Do vậy khái niệm hợp đồng và chế định hợp đồng trong BLDS có tính bao quát cho toàn bộ các quan hệ tư nơi mà các chủ thể trong quan hệ ở vị thế bình đẳng với nhau và giao kết hợp đồng dựa trên tự do ý chí. Việc thêm bổ ngữ “dân sự” ở đằng sau có thể khiến cho những người thực hành pháp luật hiểu nhầm rằng chế định về hợp đồng dân sự trong BLDS năm 1995 và năm 2005 chỉ áp dụng cho các quan hệ dân sự thuần túy (phục vụ mục đích sinh hoạt, tiêu dùng, không làm phát sinh lợi nhuận) mà không áp dụng cho các quan hệ tư khác như thương mại, kinh doanh, lao động[19] thể hiện tư duy không chính xác về cấu trúc của hệ thống pháp luật tư và không thích ứng với cơ chế thị trường[20].
Có lẽ thuật ngữ “hợp đồng dân sự” của BLDS 2005 là sự kế thừa mặc định từ BLDS năm 1995. Ở hoàn cảnh BLDS năm 1995 ra đời, nước ta vừa mới bắt đầu quá trình đổi mới, thoát ra khỏi nền kinh tế kế hoạch được gần 10 năm và trong tư duy của các chuyên gia cũng như nhà quản lý vẫn còn những quan niệm cũ về “kế hoạch hóa”, đặc biệt trong các quan hệ nhằm làm phát sinh lợi nhuận, dẫn đến sự phân biệt hợp đồng kinh tế, thương mại và hợp đồng dân sự thuần túy[21]. Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 tồn tại song song với BLDS năm 1995 đã tạo nên hai hệ thống pháp luật hợp đồng riêng biệt. Hai hệ thống này có sự trùng lặp, mâu thuẫn và không thống nhất[22], vì vậy dẫn đến sự sửa đổi về thuật ngữ trong BLDS năm 2015, chỉ còn là “hợp đồng”. Những người soạn thảo BLDS năm 2015 trình bày rằng, sự sửa đổi này nhằm loại bỏ mọi cách hiểu không chính xác cả về mặt khoa học và trong thực tiễn về phạm vi điều chỉnh của chế định hợp đồng trong BLDS, để chế định hợp đồng này là nền tảng của mọi quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực tư[23].
Ở tất cả các khái niệm hợp đồng của các BLDS nêu trên, với sự sử dụng các từ “để” và “về” khi nói đến mục đích của hợp đồng trong việc tạo lập hệ quả pháp lý, có thể thấy nhà làm luật nhìn nhận về sự ràng buộc của hợp đồng nghiêng về mặt chủ quan của sự thỏa thuận ý chí hơn là mặt khách quan/kết quả của sự thỏa thuận đó. Người ta quan tâm đến việc các bên có ý chí tạo lập hệ quả pháp lý ràng buộc mình hay không hơn là việc hệ quả pháp lý ràng buộc các bên xuất phát từ sự thỏa thuận hay xuất phát từ quy chế pháp lý được định sẵn bởi pháp luật.
Từ sự phân tích ba thành tố của hợp đồng, khảo sát về khái niệm hợp đồng trong pháp luật thực định ở Việt Nam từ xưa đến nay, có thể thấy, khái niệm hợp đồng trong pháp luật Việt Nam được hoàn thiện dần theo thời gian. Bộ Dân luật Việt Nam Cộng hòa năm 1972 và BLDS năm 2015 hiện nay đều có chung quan điểm về hợp đồng rằng, hợp đồng là một sự thỏa thuận/sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể, nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.

2. Những nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật hợp đồng Việt Nam

2.1 Về cấu trúc của những nguyên tắc cơ bản

Trong BLDS năm 2005, chế định hợp đồng có nhiều nguyên tắc chi phối và có sự trùng lặp lẫn nhau: những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật (Chương II Phần thứ nhất); nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ dân sự (Điều 283); nguyên tắc giao kết hợp đồng (Điều 389) và nguyên tắc thực hiện hợp đồng (Điều 412). Điều này khiến cho việc xác định nguyên tắc nào là nguyên tắc chung xuyên suốt BLDS và nguyên tắc nào là nguyên tắc riêng chỉ ở một vài chế định mới có gặp khó khăn.
BLDS Việt Nam 2015 khắc phục nhược điểm nêu trên, chỉ đưa ra một bộ nguyên tắc chung cho cả Bộ luật, mang tính khái quát hóa cao và giảm đáng kể số lượng nguyên tắc của BLDS. Trong BLDS Việt Nam năm 2015, chế định hợp đồng nằm ở Phần thứ ba về trái quyền với tên gọi “nghĩa vụ và hợp đồng”. Ở phần này không có quy định nào về nguyên tắc cơ bản của hợp đồng nói chung hay việc giao kết, thực hiện hợp đồng nói riêng. Những người soạn thảo Bộ luật đã giải thích rằng, việc bỏ đi các quy định riêng về nguyên tắc giao kết hợp đồng hay nguyên tắc thực hiện hợp đồng không có nghĩa là việc giao kết và thực hiện hợp đồng không tuân thủ nguyên tắc nào, mà nó phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự Việt Nam[24].
Từ Điều 3. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự trong BLDS năm 2015, có thể rút ra hai nguyên tắc cơ bản của luật tư là nguyên tắc tự do ý chí (khoản 2) và nguyên tắc thiện chí (khoản 3). Trong đó, nguyên tắc tự do ý chí là cơ sở cho hai tiểu nguyên tắc của nó là nguyên tắc hiệu lực ràng buộc của hợp đồng và tự do ý chí có sự giới hạn bởi các trật tự công cộng (khoản 4). Điều 5. Áp dụng tập quán của Bộ luật tuy không được coi là “nguyên tắc cơ bản” của pháp luật dân sự, nhưng ở cấp độ chế định hợp đồng, nó là một quy định chung mang tính khái quát áp dụng cho cả chế định thì vẫn nên được coi là nguyên tắc cơ bản của pháp luật về hợp đồng. Như vậy, pháp luật hợp đồng Việt Nam có ba nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc tự do ý chí, nguyên tắc thiện chí và nguyên tắc áp dụng tập quán.

2.2 Nguyên tắc tự do ý chí hay tự do hợp đồng

Nguyên tắc tự do ý chí trong pháp luật hợp đồng được hiểu là các bên được tự do giao kết hợp đồng hay thỏa thuận về việc xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự theo ý chí của mình miễn là nó không trái với trật tự công cộng. Nguyên tắc này khi chiếu vào việc thực hiện nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồng lại mang một sắc thái khác, làm phát sinh một tiểu nguyên tắc là nguyên tắc hiệu lực ràng buộc của hợp đồng[25].
Theo Vũ Văn Mẫu, nguyên tắc tự do ý chí trong luật hợp đồng là một sản phẩm lịch sử của các lý thuyết về tự do thế kỷ 18, ảnh hưởng mạnh mẽ đến các BLDS của Pháp và Đức[26], gián tiếp ảnh hưởng tới pháp luật hợp đồng của Việt Nam. Lý thuyết này ủng hộ tự do ý chí vô giới hạn vì tin rằng sự tự do thương lượng giữa các cá nhân với nhau để ràng buộc chính mình sẽ mang lại công bằng và sự tự do cạnh tranh sẽ mang lại sự thịnh vượng về kinh tế[27], đã dẫn tới hệ quả là coi hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương là một nguồn gốc quan trọng của nghĩa vụ (đề cao nghĩa vụ dân sự thay vì nghĩa vụ pháp định) vì nó đến từ chính ý chí của chủ thể bị ràng buộc. Đó cũng là hai căn cứ phát sinh nghĩa vụ đầu tiên trong BLDS Việt Nam năm 2015 tại Điều 275.
Một người có quyền tự do giao kết hợp đồng, nghĩa là tự do quyết định mình sẽ bị ràng buộc như thế nào. Và một khi đã tuyên bố ý chí về sự tự ràng buộc thì người đó không còn được tự do thực hiện nghĩa vụ nữa, mà sẽ bị cưỡng chế thực hiện. Hiệu lực ràng buộc của hợp đồng còn được gọi dưới cái tên Latin pacta sunt servanda, được hiểu đơn giản là “cam kết phải được tôn trọng”. Điều 3(2) BLDS Việt Nam năm 2015 quy định về nguyên tắc tự do ý chí như sau: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”.
Quy định trên, theo Đỗ Văn Đại, là có vài vấn đề sau mà chúng tôi thấy hợp lý. Thứ nhất, việc gộp chung nhóm xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền đều đặt trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận có thể tạo ra rủi ro pháp lý khi một người có thể tự do thực hiện và chấm dứt nghĩa vụ dân sự của mình chứ không phải là sự ràng buộc phải thực hiện nghĩa vụ dân sự đó. Có lẽ khi áp dụng, các thẩm phán cần hiểu cụm từ “trên cơ sở” một cách linh hoạt[28].
Thứ hai là sự mở rộng tự do ý chí của các bên gây ra sự mâu thuẫn trong chính bộ luật. BLDS năm 2005 ở Điều 4 quy định “Cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng”. Sự thay đổi thuật ngữ từ “hợp pháp” thành “không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội” khiến Điều 3(2) BLDS Việt Nam năm 2015 có thể bỏ qua quy định về những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mà vẫn công nhận hiệu lực của hợp đồng. Chẳng hạn điều kiện về hình thức phải công chứng. Một hợp đồng theo luật phải công chứng mới có hiệu lực, thì có thể coi sự không công chứng là vi phạm điều cấm của luật hay không[29]? Có thể thấy quy định này chưa chú ý đến sự khác biệt giữa nội hàm của các cụm từ “trái pháp luật”, “không hợp pháp” và “vi phạm điều cấm của luật”.
Thứ ba là sự bỏ đi từ “bắt buộc” trong cụm từ “hiệu lực bắt buộc thực hiện”, khiến cụm từ “hiệu lực thực hiện” không rõ nghĩa[30]. Sự ràng buộc thực hiện đến từ sự tự do ý chí và là một yếu tố quan trọng của hợp đồng nói riêng và hành vi pháp lý nói chung. Vì vậy cần nhấn mạnh sự ràng buộc ở trong nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự.
Sự hạn chế tự do ý chí
Lý thuyết tự do ý chí với tư tưởng tự do cá nhân vô giới hạn không thể điều chỉnh các mối quan hệ xã hội một cách công bằng khi mà con người sống quá phụ thuộc vào nhau với nhiều mối quan hệ phức tạp đan xen lẫn nhau. Để giải quyết vấn đề giữa cá nhân và cộng đồng, cần phải dung hòa hai thuyết tự do và thuyết xã hội bằng cách tôn trọng quyền tự do giao kết hợp đồng và chỉ giới hạn sự tự do này bởi những nguyên nhân chính đáng mà tiêu biểu là trật tự công cộng và đạo đức xã hội[31].
Ngô Huy Cương chỉ ra ba lý do của sự giới hạn tự do ý chí: nhu cầu cân đối giữa lợi ích cá nhân và lợi ích công cộng, nhu cầu bảo vệ người yếu thế trong xã hội, và nhu cầu phát triển kinh tế có trật tự đúng hướng theo sự lựa chọn chung[32]. Nếu như hai nhu cầu đầu tiên đã được thừa nhận rộng rãi bởi pháp luật nhân quyền trong sự giới hạn tự do, thì nhu cầu thứ ba về phát triển kinh tế có trật tự và theo sự lựa chọn chung có lẽ vẫn còn nhiều tranh cãi, vì chúng ta mới bước ra khỏi một nền kinh tế kế hoạch khoảng 30 năm và đang xây dựng kinh tế thị trường.
Hạn chế tự do hợp đồng có thể xem xét dưới hai khía cạnh là hạn chế về nội dung giao kết và chủ thể giao kết. Hạn chế tự do giao kết hợp đồng về nội dung là dạng hạn chế điển hình nhất, thể hiện rõ nhất qua chế định về vô hiệu giao dịch dân sự do xâm phạm trật tự công cộng và đạo đức xã hội.
Trong BLDS năm 2015, Điều 122 về Giao dịch dân sự vô hiệu dẫn chiếu về Điều 117 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, ở điểm c khoản 1 nêu “Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”. Ở đây đã có sự biến chuyển về quan niệm khi xóa bỏ nguyên tắc về giao kết hợp đồng ở Điều 389 BLDS năm 2005 “Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội”; và thay thế bằng nguyên tắc “không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội” ở Điều 3 và sự thể hiện nguyên tắc ở Điều 117 của BLDS năm 2015. Trong luật tư, từ “trái” pháp luật có nội hàm rộng hơn “vi phạm điều cấm của luật” bởi không phải quy phạm luật tư nào cũng là quy phạm mệnh lệnh mà phần lớn là quy phạm dự liệu, đặc biệt là trong chế định hợp đồng.
BLDS năm 2015 không sử dụng “trật tự công cộng” để làm căn cứ giới hạn quyền ở trong những nguyên tắc cơ bản, có lẽ do nghi ngại tính trừu tượng của nó[33], và chỉ sử dụng nó với nghĩa rất hẹp, không biết vô tình hay có chủ đích ở Điều 525 về việc hành khách trong hợp đồng vận chuyển làm mất trật tự công cộng.
Điều 3 khoản 4 BLDS 2015 thay “lợi ích của Nhà nước” ở Điều 10 BLDS năm 2005 thành “lợi ích quốc gia, dân tộc”. Lợi ích quốc gia, dân tộc là khái niệm mang tính chính trị, không đồng nhất với lợi ích của Nhà nước bởi vì “quốc gia, dân tộc” và “nhà nước” là những khái niệm khác nhau. Sự thay đổi này hưởng ứng xu thế đang lên của quyền con người trong đời sống chính trị và pháp lý. Khi nhà nước luôn bị coi là một trong những chủ thể xâm phạm đến quyền của mỗi cá nhân nhiều nhất, thì sự thay đổi về thuật ngữ này là hợp lý.
Có thể nói, BLDS năm 2015 ở những nguyên tắc cơ bản đã thu hẹp hơn phạm vi giới hạn tự do ý chí, đồng nghĩa với mở rộng sự tự do giao kết hợp đồng của các bên.
Ngoài lời văn của nguyên tắc cơ bản, sự thể hiện của hạn chế tự do hợp đồng còn nằm trong nhiều quy định chi tiết của BLDS hoặc ở luật chuyên ngành về các điều khoản áp đặt quyền và nghĩa vụ cho các bên trong một quan hệ tư. Ở trường hợp này, nghĩa vụ pháp định xuất phát từ hiệu lực của luật đã thay thế nghĩa vụ dân sự xuất phát từ ý chí của các bên. Các trường hợp thường thấy là các quy định mang tính mệnh lệnh điều chỉnh các loại hợp đồng lao động, hợp đồng giữa người tiêu dùng và bên bán hàng, điều lệ doanh nghiệp, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng có đối tượng là bất động sản, v.v..
Hạn chế tự do giao kết hợp đồng về chủ thể chủ yếu nhằm bảo vệ những nhóm yếu thế trong xã hội, bảo vệ người thứ ba, hay bảo vệ lợi ích công cộng. Chẳng hạn pháp luật về doanh nghiệp có các quy định phải ưu tiên chuyển nhượng phần vốn góp cho hoặc phát hành cổ phần cho thành viên/cổ đông trong công ty, hoặc trường hợp người cung cấp dịch vụ công cộng không được từ chối giao kết hợp đồng với mọi người nếu còn khả năng cung cấp dịch vụ và không được phân biệt đối xử với bất cứ ai dựa trên bất cứ yếu tố nào về sắc tộc, tôn giáo, giới tính, màu da, v.v..[34].

2.3 Nguyên tắc thiện chí

“Thiện chí” bắt nguồn từ thuật ngữ Latin “bona fide”, trong tiếng Anh là “good faith”, là thuật ngữ trừu tượng và chỉ được làm rõ nghĩa khi gắn chặt với hoàn cảnh cụ thể của một ứng xử cụ thể. Thiện chí không được định nghĩa bởi luật, mang nghĩa về mặt luân lý nhiều hơn với liên hệ gần gũi về sự trung thực, không có sự ác ý hay tư lợi bất chính.
Điều 6 BLDS năm 2005 quy định về nguyên tắc thiện chí như sau: “Trong quan hệ dân sự, các bên phải thiện chí, trung thực trong việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự, không bên nào được lừa dối bên nào”. Điều 3(2) BLDS năm 2015 đã lược bớt đoạn “không bên nào được lừa dối bên nào” ra khỏi nguyên tắc thiện chí: “Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực”.
Theo Ngô Huy Cương, nguyên tắc thiện chí ở BLDS năm 2005 nhấn mạnh về yếu tố phi lừa dối của sự thiện chí, tức là cách thức hành xử chứ không nhấn mạnh vào động cơ hay mục đích của hành vi. Ông cũng đưa ra nhận xét mà có thể áp dụng cho cả quy định mới của BLDS năm 2015 về nguyên tắc thiện chí rằng, nguyên tắc này chưa đủ lớn khi không đề cập tới thiện chí trong giải quyết tranh chấp và trong một số trường hợp đặc biệt khác[35]. Sự bổ sung thêm vào nguyên tắc rằng giai đoạn chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, các bên cũng phải tuân thủ nghĩa vụ thiện chí có thể coi là một nỗ lực khái quát hóa thiện chí cho tất cả các giai đoạn của một hợp đồng, nhưng không nhắc đến thiện chí trong việc giải quyết tranh chấp mà bao gồm nhiều phương thức khác nhau từ thương lượng, hòa giải đặc biệt cần sự thiện chí, đến trọng tài, tòa án thì vẫn còn thiếu sót.
Vì nội hàm của thuật ngữ “thiện chí” không rõ ràng, cần phải giải nghĩa trong những trường hợp cụ thể nên việc xác định nội dung của nguyên tắc thiện chí cần phải được giao cho tòa án. Ngày nay các tòa án ở Hoa Kỳ có khuynh hướng tiếp cận học thuyết về sự thiện chí theo hai khía cạnh về sự công bằng và khía cạnh kinh tế học[36]. Tương đồng như vậy, Vũ Văn Mẫu nhận xét rằng, một sự thi hành thành ý không thể trái với sự công bằng. Còn về mặt kinh tế, khi sự thi hành quá thiệt cho trái chủ và quá lợi cho người thụ trái thì bị coi là không thành ý[37].
Trong lĩnh vực luật hợp đồng, đặc biệt là ở giai đoạn giao kết, nguyên tắc thiện chí được giải thích gần gũi với nguyên tắc tự do ý chí, có nghĩa là việc xác lập hợp đồng và các điều kiện của nó phụ thuộc vào ý chí của các bên[38]. Trong giai đoạn thực hiện hợp đồng, nguyên tắc này có thể không gắn với ý chí của các bên lúc đầu mà lại gắn với sự công bằng về lợi ích giữa các bên[39]. Hoặc với việc chấp nhận sự thực hiện chủ yếu chứ không phải thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của hợp đồng, thiện chí là sự thông cảm cho những thiếu sót khi thực hiện nghĩa vụ của đối phương[40]. Đặc biệt sự vận dụng nguyên tắc này trong một số hoàn cảnh đặc thù có thể coi là tạo ra ngoại lệ cho nguyên tắc hiệu lực ràng buộc của hợp đồng, đó là trong trường hợp thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi (hardship)[41].
BLDS năm 2005 có nguyên tắc riêng về thực hiện hợp đồng, Điều 412 khoản 1 cho thấy nguyên tắc thực hiện đúng và đủ nghĩa vụ hợp đồng là quan trọng nhất và được ưu tiên hàng đầu so với hai nguyên tắc thực hiện trung thực, tin cậy (mà ở đây không xuất hiện thuật ngữ “thiện chí”) và nguyên tắc tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác: “Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức và các thoả thuận khác”.Có lẽ với sự bãi bỏ nguyên tắc riêng của chế định hợp đồng, áp dụng một cách toàn diện nguyên tắc thiện chí cùng với sự công nhận trường hợp không cần phải thực hiện đúng những nghĩa vụ đã cam kết khi có hoàn cảnh thay đổi, BLDS Việt Nam đã có những chuyển biến trong quy tắc thực hiện nghĩa vụ.

2.4 Nguyên tắc áp dụng tập quán

Nguyên tắc này trong khoa học pháp lý được một số học giả đề cập như là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng nói riêng và pháp luật dân sự nói chung[42]. Một nền pháp luật theo hệ thống dân luật thường có hai nguồn cơ bản là luật thành văn và tập quán pháp. BLDS Việt Nam đặt thứ tự ưu tiên áp dụng của tập quán chỉ sau thỏa thuận của các bên và luật thành văn. Tập quán đóng vai trò quan trọng trong việc bổ khuyết những khoảng trống hay giải thích những vấn đề chưa rõ ràng của hợp đồng, nếu pháp luật thực định cũng không có giải pháp cho vấn đề đó.
Định nghĩa về tập quán trong BLDS 2015 (Điều 5 khoản 1) nêu ra ba đặc điểm chính yếu của tập quán, đó là có nội dung rõ ràng đủ để xác định quyền và nghĩa vụ của chủ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong thời gian dài và được mọi người cùng thừa nhận như là những quy tắc ràng buộc. Hai điều kiện để áp dụng tập quán (Điều 5 khoản 2) là: (1) thiếu vắng giải pháp cho vấn đề pháp lý từ các nguồn gốc nghĩa vụ có tính ưu tiên cao hơn là sự thỏa thuận và quy định pháp luật; (2) tập quán không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. Có lẽ chính vì yếu tố (2) nên nhà làm luật Việt Nam đã không xếp quy định áp dụng tập quán vào những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật hay của pháp luật dân sự nói chung.
Quy định chung về áp dụng tập quán tuy đã được công nhận từ lâu nhưng vấn đề chính yếu của nguyên tắc này là cụ thể hóa nó. Sự áp dụng tập quán có đặc điểm khác biệt đặc thù với các áp dụng các nguồn pháp luật khác như luật và án lệ, bởi lẽ nó không “thành văn” cả về nghĩa pháp lý và nghĩa thông dụng. Tập quán có khi không được ghi nhận trong một văn bản nào cả mà chỉ là một quy tắc được nhiều người ngầm định tuân thủ. Trong một tranh chấp cần viện đến tập quán tất yếu sẽ xuất hiện vấn đề chứng minh tập quán. Như vậy cần có những quy định chi tiết để hướng dẫn các tòa án trong việc đánh giá tính xác thực của những quy phạm được các bên viện dẫn xem chúng có đáp ứng đủ điều kiện của một tập quán hay không, bên nào có nghĩa vụ chứng minh tập quán, v.v..
Trong thực tế, đôi khi có những tập quán mà các bên viện dẫn trái ngược nhau. Khi không có những khảo cứu đầy đủ về tập quán thì việc áp dụng và chứng minh tập quán gặp nhiều khó khăn. Các tòa án ở Việt Nam còn gặp nhiều vướng mắc và chưa có sự thống nhất cao trong việc công nhận và áp dụng tập quán[43]. Điều này đòi hỏi chúng ta cần sớm ban hành danh mục tập quán. Trong thời kỳ Pháp thuộc, Hội đồng khảo sát tục – lệ đã sưu tầm và giải đáp trên 300 vấn đề về tập quán, làm cơ sở cho các tòa án thời đó áp dụng tập quán khi xét xử nếu không có quy định của pháp luật[44]. Hiện nay chúng ta mới chỉ có kế hoạch xây dựng danh mục tập quán trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình theo Nghị định số 32/2002/NĐ-CP. Cần mở rộng phạm vi khảo cứu để có thể áp dụng tập quán rộng rãi hơn nữa trong các tranh chấp, bù đắp cho những thiếu hụt trong pháp luật thành văn./.


[1] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân luật lược khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước; Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr. 56–57.
[2] “Consideration” có bản chất pháp lý là vật/thứ/việc (things) được trao đi đổi lại giữa các bên trong giao kết hợp đồng, cam kết và hứa hẹn trao đổi các vật/thứ/việc (things) trong quá trình thực hiện hợp đồng trên thực tế. Trong đa số trường hợp, nếu không có “consideration” thì hợp đồng không có giá trị ràng buộc các bên trong giao kết hợp đồng. Xem thêm: Phạm Quang Huy, “Consideration” theo pháp luật hợp đồng Hoa Kỳ, Tạp chí Luật học số 11(198) tháng 11/2016.
[3] Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung) (Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc , tư.vậy đác văn bviết, ia Hà Nội, 2013), 220.
[4] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân Luật lược Khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, tr. 57.
[5] Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), tr. 12.
[6] Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), tr. 70.
[7] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân Luật lược Khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, tr. 32.
[8] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân Luật lược Khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, tr. 59–60.
[9] Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), tr. 13-15.
[10] Vũ Văn Mẫu và Lê Đình Chân, Danh từ và tài liệu – Dân luật và Hiến luật (Sài Gòn: Tủ sách Đại học Sài Gòn, 1968), tr. 132.
[11] Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), tr. 71.
[12] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân Luật lược Khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, 60.
[13] Điều 462 Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931, Điều 678 Bộ Dân luật Trung Kỳ năm 1936, theo Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), tr. 14.
[14] Ngô Huy Cương, tr. 72.
[15] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân Luật lược Khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, tr. 59.
[16] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân Luật lược Khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, tr. 25.
[17] Định nghĩa về “hợp đồng kinh tế” trong Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 không được nhắc đến vì đây là một định nghĩa không bao quát tất cả các loại hợp đồng.
[18] Người soạn thảo chủ yếu của Bộ Dân luật Bắc Kỳ là một thẩm phán người Pháp, Chánh nhất tòa Thượng thẩm Morché (Vũ Văn mẫu, Dân Luật Khái Luận (Sài Gòn: Bộ Quốc Gia Giáo dục xuất bản, 1961), tr. 314 – 315).
[19] Đỗ Văn Đại, b.t.v, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 (Hà Nội: Nxb. Hồng Đức, 2016), tr. 367.
[20] Nguyễn Như Phát, Một số đề xuất sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005, Trang thông tin pháp luật dân sự. https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/03/09/4690/ truy cập 29/07/2018.
[21] Bùi Ngọc Cường, Vấn đề hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh tế ở nước ta hiện nay, Tạp chí Khoa học pháp lý số 4/2001. https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/02/22/3525/ truy cập 29/07/2018.
[22] Xem thêm: Ngô Ngọc Bửu và Trần Đình Phụng, Cần sửa đổi một số quy định về hợp đồng dân sự cho phù hợp với thể chế của tổ chức thương mại thế giới WTO, Tạp chí Phát triển kinh tế số 9/2004. https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2007/11/23/5418/ truy cập 29/07/2018.
Phạm Hữu Nghị, Sửa đổi BLDS năm 2005: vấn đề cải cách hợp đồng, Trang thông tin pháp luật dân sự. https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/03/09/4691/ truy cập 29/07/2018.
Bài viết Pháp luật về hợp đồng cần được thay đổi theo hướng nào khi BLDS năm 2005 được sửa đổi?, Cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp. http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1519 truy cập 29/07/2018.
[23] Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, tr. 367.
[24] Đỗ Văn Đại, Sđd, tr. 367–368, tr. 386.
[25] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân Luật lược Khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, tr. 243.
[26] Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), tr. 20.
[27] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân luật lược khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, tr. 83–84.
[28] Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, tr. 25.
[29] Đỗ Văn Đại, tlđd, tr. 25.
[30] Đỗ Văn Đại, tlđd, tr. 25.
[31] Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), tr. 30.
[32] Ngô Huy Cương, tlđd, tr. 29.
[33] Ngô Huy Cương, tlđd, tr. 30.
[34] Ngô Huy Cương, tlđd, tr. 33–34.
[35] Ngô Huy Cương, tlđd, tr. 156.
[36] Emily Houh, The Doctrine of Good Faith in Contract Law: A (Nearly) Empty Vessel?, Utah Law Review, Vol. 2005, p. 1, 2005, 1-2. https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=622982 truy cập 29/07/2018
[37] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân Luật lược Khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, tr. 250.
[38] Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), tr. 155.
[39] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân Luật lược Khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, tr. 250.
[40] Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), tr. 374.
[41] Nguyễn Anh Thư, “Đề xuất sửa đổi, bổ sung qui định liên quan đến nguyên tắc thiện chí trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học 30, số p.h 3 (2014): tr. 61–72.
[42] Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), tr. 159
Lê Nguyễn Gia Thiện và Lê Nguyễn Gia Phúc, Những nguyên tắc cơ bản của các BLDS trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 13, Tháng 7 2014
[43] Vụ Hợp tác Quốc tế, Tòa án nhân dân tối cao, “Tập quán pháp – thực trạng ở Việt Nam và một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng tập quán pháp ở Việt Nam”, 2013, tr. 57.
[44] Vụ Hợp tác Quốc tế, Tòa án nhân dân tối cao, tr. 41.

(Tác giả: TS. Trần Kiên – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Khắc Thu – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội)

(Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 2+3/2019)

Thực trạng tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam

Việt Nam đang hội nhập và tham gia sâu vào “sân chơi” của khu vực và thế giới, điều đó mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức cho nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàngnói riêng.

Thế giới chúng ta đang bước vào kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức, trong đó khoa học và công nghệ giữ vai trò chủ đạo. Sản phẩm của khoa học và công nghệ chiếm phần lớn giá trị của nhiều hàng hóa, dịch vụ. Khoa học và công nghệ đang tạo ra sự khác biệt to lớn trong sự phát triển giữa các quốc gia với nhau.
Việt Nam đang hội nhập và tham gia sâu vào “sân chơi” của khu vực và thế giới, điều đó mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức cho nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng. Cuộc cách khoa học và công nghệ diễn ra, kèm theo dịch vụ ngân hàng số nở rộ, tội phạm công nghệ cao tấn công vào lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam có xu hướng gia tăng cả về số lượng và mức độ ngày càng tinh vi hơn.
Bài viết này khái quát về thực trạng tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Namtrong thời gian qua, đồng thời đưa ra những dự báo về nguy hại mà tội phạm này mang lại, từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng trong thời gian tới.

Thực trạng tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam

Trên thế giới, có khoảng 3,9 tỷ người (tương đương khoảng 60% dân số toàn cầu) sử dụng internet. Công nghệ thông tin, viễn thông trở thành một lĩnh vực mà các đối tượng tội phạm tập trung khai thác, sử dụng.
Theo báo cáo của Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (INTERPOL), tội phạm sử dụng công nghệ cao đang trở thành mối nguy hại lớn trên giới với thiệt hại gây ra hàng năm khoảng 400 tỷ đô la Mỹ, cao hơn số tiền mà tội phạm buôn bán ma túy thu được và cứ 14 giây lại xảy ra 01 vụ phạm tội sử dụng công nghệ cao.
Ở Việt Nam, theo Công ty mạng Bkav, thiệt hại do loại tội phạm công nghệ cao gây ra năm 2018 là 14.900 tỷ đồng, đặc biệt, chiếm tỷ trọng lớn trong đó là những thiệt hại xảy ra trong những lĩnh vực ngân hàng, tài chính. Nhóm tội phạm này thường tập trung tại một số tỉnh, thành phố trọng điểm, nơi diễn ra hoạt động kinh tế lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, Hồ Chí Minh, Bình Dương…
Về đối tượng phạm tội, ban đầu chỉ có một số ít người nước ngoài hoặc Việt kiều, nhưng đến nay, loại tội phạm này đã mở rộng đến từ nhiều quốc gia như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Anh… Thậm chí, việc người Việt Nam sử dụng công nghệ cao để phạm tội trong lĩnh vực ngân hàng đã gia tăng, đặc biệt, có cả sinh viên có hiểu biết sâu về công nghệ thông tin.
Tội phạm này có tổ chức, liên kết các cá nhân từ khắp nơi trên thế giới, sử dụng “lính đánh thuê” với mục tiêu tấn công vào hệ thống máy chủ của các ngân hàng, từ đó hình thành lên các nhóm như: nhóm viết mã độc, phát tán mã độc, thu thập lợi ích, tái phân phối; nhóm lắp đặt thiết bị sao chép dữ liệu; nhóm sử dụng thiết bị làm giả thẻ ngân hàng; nhóm sử dụng thẻ giả để rút tiền…
Về phương tiện phạm tội trong lĩnh vực ngân hàng, nhóm tội phạm này đã sử dụng công nghệ cao làm phương tiện thực hiện tội phạm trong khi công nghệ ngày một phát triển, đổi mới. Thủ đoạn phạm tội diễn ra ngày càng phức tạp, tinh vi dưới một số hình thức phổ biến sau:
Xâm phạm thiết bị điện tử, thiết bị số của ngân hàng, cá nhân, tổ chức
Nhóm tội phạm này đã xâm phạm an ninh, an toàn thiết bị điện tử (máy tính, mạng máy tính), thiết bị số của ngân hàng hoặc doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có thực hiện mua bán – thanh toán trực tuyến bằng hình thức phát tán virus, phần mềm gián điệp, mã độc hại với nhiều biến thể qua thư điện tử, đường link website, diễn đàn, mạng xã hội hoặc các phần mềm miễn phí, phần mềm được sử dụng phổ biến (Unikey, phần mềm đọc file PDF/ảnh…) để thu thập, trộm cắp, thay đổi/phá hủy trái phép cơ sở dữ liệu; chiếm quyền điều khiển máy chủ, sau đó thay đổi giao diện của trang web bị tấn công, tạo website giả…. Theo Bkav, năm 2018, Việt Nam có 9.300 website bị hacker xâm nhập và 30% website các ngân hàng Việt Nam có lỗ hổng.
Lừa đảo nhằm lấy cắp thông tin cá nhân
Nhóm tội phạm này đã sử dụng phần mềm gửi thư rác có nội dung khuyến mại, trúng thưởng… giả danh các ngân hàng gửi đến khách hàng với yêu cầu người dùng phải đăng nhập tài khoản ngân hàng của mình và cung cấp mã xác thực mật khẩu (OTP) để nhận được phần thưởng, khi khách hàng làm theo hướng dẫn thì máy tính sẽ bị cài virus, mã độc.
Ngoài ra, còn có hình thức giả mạo như thông qua Facebook gửi cảnh báo đến người dùng Facebook và đề nghị bấm vào đường dẫn để chuyển hướng đến website giả mạo. Một số khách hàng của các ngân hàng như HSBC, Vietcombank, BIDV, ACB… cũng nhận được các cuộc gọi đến xưng danh là cán bộ của ngân hàng thông báo việc khách đã trúng thưởng, đề nghị khách hàng chuyển tiền để làm thủ tục nhận thưởng; hoặc thông báo thẻ tín dụng có vài vấn đề và yêu cầu cung cấp những thông tin liên quan để điều chỉnh; xưng danh là cán bộ điều tra yêu cầu nộp tiền vào một tài khoản khác để bảo lãnh, phục vụ việc điều tra…
Trộm cắp, mua bán và sử dụng trái phép thẻ ngân hàng giả
Nhóm tội phạm này thường sử dụng thiết bị hiện đại gắn vào máy ATM/POS; cài phần mềm gián điệp, mã độc tấn công máy ATM và hệ thống thẻ; bẻ khóa hệ thống bảo mật, đánh cắp thông tin của chủ thẻ rồi chế tạo thẻ ngân hàng giả để sử dụng bất hợp pháp dưới thủ đoạn mua bán thẻ ngân hàng giả; rút tiền tại các máy ATM/POS; thanh toán trực tuyến…
Hack sim điện thoại của khách hàng để lấy thông tin hoặc lấy tiền
Nhóm tội phạm này thông qua các công đoạn như: tìm kiếm mục tiêu, thông qua các kỹ thuật hỗ trợ lừa đảo, tráo đổi thẻ sim, truy cập vào các tài khoản trực tuyến từ đó chiếm quyền sở hữu các tài khoản. Thủ đoạn phạm tội này không chỉ nhằm lấy được tiền trong tài khoản mà còn có thể bán tài khoản ấy cho người khác hoặc lấy hết tiền trong ngân hàng khi sim được liên kết với tài khoản ngân hàng.

Dự báo nguy cơ và thách thức tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam

Quá trình hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới của Việt Nam cho thấy tình hình phạm tội công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng dự báo sẽ còn diễn biến khó lường với hành vi ngày càng phức tạp, tinh vi hơn bởi những yếu tố sau:
Thứ nhất, chỉ số an toàn về thông tin ở Việt Nam đang còn thấp.
Theo Công ty Phần mềm Hoa Kỳ (Symantec), Việt Nam đứng thứ 11 thế giới về các hoạt động đe dọa tấn công mạng. Theo Hiệp hội An toàn thông tin số Việt Nam (VNISA), chỉ số an toàn thông tin năm 2018 là 45,6% mặc dù chỉ số an toàn thông tin của Việt Nam đã cải thiện qua các năm (năm 2015 là 47,4%; năm 2016 là 59,9%; năm 2017 đạt 46,8%) nhưng vẫn được dự báo là nước có tỷ lệ lây nhiễm phần mềm độc hại, mã độc ở mức cao.
Thứ hai, chiến lược phát triển ngành ngân hàng trong thời đại 4.0.
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra dự báo rằng, ngân hàng số sẽ là tương lai của ngành ngân hàng và là mảnh đất màu mỡ để tội phạm công nghệ cao khai thác phi pháp theo phương thức và công cụ ngày càng tinh vi hơn. Tại Việt Nam, năm 2018 có 47 ngân hàng cung cấp dịch vụ internet banking, 27 tổ chức cung cấp hơn 3,5 triệu tài khoản ví điện tử nhưng đến 2020, Việt Nam sẽ có 95% ngân hàng triển khai dịch vụ internet banking, mobile banking và 30% ngân hàng sẽ triển khai ngân hàng số.
Thứ ba, sự bùng nổ của thương mại điện tử và thị trường thiết bị số.
Xu hướng tấn công bằng mã độc sẽ tiếp diễn mạnh mẽ, thậm chí bùng nổ bởi thương mại điện tử và thị trường thiết bị số đang tăng lên nhanh chóng cùng với các dịch vụ tài chính số ngày càng được sử dụng rộng rãi. Hiện nay, hơn 60% người dân (khoảng 55 triệu người) dùng internet ở Việt Nam, có 58 triệu người dùng Facebook.
Theo hãng Ericsson dự báo đến năm 2018, tại Việt Nam tỷ lệ thuê bao smartphone sẽ tăng mạnh lên khoảng 70% và khoảng 10% tỷ lệ người dùng điện thoại sẽ dùng mạng 4G; đến năm 2021, số lượng thuê bao smartphone sẽ tăng gấp hơn 3 lần so với năm 2015 trong khi xét ở thời điểm cuối năm 2015, tỷ lệ thuê bao di động băng rộng đạt gần 40%.
Như vậy, nguy cơ dường như sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn. Theo Kaspersky và Symantec, Việt Nam được xếp đứng thứ 3 về số người dùng di động bị mã độc tấn công nhiều nhất trên thế giới; thứ 6 trên thế giới về số lượng địa chỉ IP trong nước được dùng trong các mạng máy tính ma tấn công nước khá và đứng thứ 12 trên thế giới về các hoạt động tấn công mạng.
Thứ tư, phát triển thanh toán không dùng tiền mặt.
Theo Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2545/QĐ-TTg ngày 30/12/2016, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2020, có 100% các siêu thị, trung tâm mua sắm và cơ sở phân phối hiện đại có POS; 50% cá nhân, hộ gia đình ở các thành phố lớn sử dụng phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt; toàn thị trường có trên 300.000 thiết bị chấp nhận thẻ POS.
Tuy nhiên, sự tiện lợi này lại tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho chủ thẻ, trong đó phổ biến nhất là thủ đoạn lắp đặt thiết bị tại máy ATM/POS để sao chép, trộm cắp dữ liệu, làm giả thẻ ngân hàng.

Kiến nghị giải pháp nhằm phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển mạnh của các dịch vụ ngân hàng điện tử cùng các thiết bị điện tử thông minh sẽ là những điều kiện thuận lợi để tội phạm công nghệ cao tấn công. Cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm công nghệ cao là cuộc chiến “không tiếng súng”, cuộc chiến của trí tuệ và công nghệ từ 3 bên: Nhà nước, ngân hàng và khách hàng. Từ đó tác giả kiến nghị một số giải pháp sau:
Phòng, chống tội phạm công nghệ cao từ các cơ quan quản lý nhà nước
Để phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng đòi hỏi sự quyết liệt, mạnh mẽ từ các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương thông qua các nhóm giải pháp sau:
Một là, kịp thời ban hành các chính sách, biện pháp cụ thể bảo đảm an ninh trật tự trong phát triển các lĩnh vực khoa học và công nghệ để phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao nói chung và trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng.
Hai là, hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực công nghệ cao thông qua các văn bản như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính… Cần phải tăng nặng chế tài hình sự và chế tài hành chính đối với nhóm vi phạm pháp luật về công nghệ cao.
Ba là, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sớm ban hành văn bản về phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng. Đồng thời, có sự phối hợp chặt chẽ với các bộ, ban, ngành khác nhằm phòng chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng.
Bốn là, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao nói chung và lĩnh vực ngân hàng nói riêng. Tập trung trao đổi thông tin tội phạm, nhận sự tài trợ các thiết bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại và đào tạo cán bộ trình độ cao từ các tổ chức quốc tế, phục vụ cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao.
Phòng, chống tội phạm công nghệ cao từ ngân hàng
Trong thời gian tới, các ngân hàng phải tiến hành các nhóm giải pháp sau:
Một là, triển khai áp dụng sớm và đồng bộ các biện pháp bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng điện tử với các công nghệ bảo mật tiên tiến như xác thực sinh trắc học, công nghệ chống tấn công, công nghệ phát hiện giao dịch gian lận, hệ thống bảo mật ba lớp… Bên cạnh đó, cần rà soát, kiểm tra thường xuyên tình hình bảo mật, an ninh để sớm phát hiện các lỗ hổng bảo mật, mã độc… có nguy cơ làm lộ, lọt thông tin khách hàng.
Hai là, triển khai áp dụng các biện pháp bảo đảm an toàn hoạt động thanh toán thẻ của máy ATM/POS như trang bị POS không dây có tính năng định vị qua GPS; kiểm tra, giám sát chặt chẽ các chủ thể thanh toán thẻ. Triển khai các biện pháp bảo vệ dữ liệu khách hàng và bảo đảm hoạt động liên tục của hệ thống thông tin trong ngân hàng.
Ba là, đào tạo nguồn nhân lực có nghiệp vụ trong lĩnh vực ngân hàng và lĩnh vực công nghệ cao nói riêng nhằm ứng phó khi bị nhóm tội phạm này xâm nhập. Ngoài ra, tăng cường trách nhiệm của từng cá nhân trong ngân hàng tham gia phòng ngừa, phát hiện kịp thời, tố giác tội phạm công nghệ cao.
Phòng, chống tội phạm công nghệ cao từ khách hàng
Trong hoạt động phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng không thể thiếu khách hàng, vì nếu Nhà nước và ngân hàng dù có nỗ lực bao nhiêu mà khách hàng không tuân thủ thì cũng không hạn chế được loại tội phạm trên. Vì vậy, khách hành cần có các nhóm giải pháp sau:
Cần tuân thủ các quy định pháp luật về lĩnh vực công nghệ cao theo quy định; tuân thủ quy định của ngân hàng khi tham gia vào các giao dịch liên quan đến ngân hàng. Từ đó, nếu có thiệt hại do tội phạm công nghệ cao gây ra thì sẽ xác định được trách nhiệm của các bên theo quy định pháp luật.
Tăng cường công tác tuyên truyền cho khách hàng nâng cao ý thức và trách nhiệm phòng chống tội phạm công nghệ cao; cảnh báo khách hàng cần cẩn trọng trong việc cung cấp thông tin cá nhân, mật khẩu khi thực hiện các giao dịch thanh toán hoặc thực hiện bất kỳ yêu cầu thay đổi thông tin trên mạng xã hội, website, email, điện thoại…
ThS. Trần Thế Hệ
Nguồn: Luật sư Việt Nam Online

Vấn đề áp dụng pháp luật đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm có diễn biến phức tạp trong thời gian vừa qua, gây ra những hoang mang trong quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử đối với loại tội phạm này còn có nhiều vướng mắc, nhất là việc đánh giá xác định tội danhkhông thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và giữa các Tòa án.

Điều này phần nào đã làm giảm hiệu quả công tác phòng ngừa và đấu tranh, chống tội phạm đối với loại tội phạm này. Trong phạm vi bài viết, tác giả đi sâu phân tích làm rõ khái niệm, phân tích dấu hiệu pháp lý và nêu quan điểm tranh luận đối với một số vụ án phức tạp có liên quan đến tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.

1. Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là gì?

Theo khoản 1 Điều 169 BLHS năm 2015 quy định: “Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Về kỹ thuật lập pháp, nhà làm luật không mô tả hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trong điều luật. Do đó, dưới khía cạnh nghiên cứu, có nhiều quan điểm khác nhau được đưa ra khi định nghĩa về hành vi phạm tội này như: “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là bắt đem giấu đi để làm con tin nhằm buộc gia đình, người thân phải nộp tiền chuộc“.
Tội phạm hoàn thành khi đã có hành vi bắt cóc và đòi tiền chuộc không kể là có lấy được tiền hay không. Nếu vì không đạt được mục đích đòi tiền chuộc mà kẻ phạm tội xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của con tin thì tùy hành vi thực hiện mà xử thêm tội giết người hoặc cố ý gây thương tíchcùng với tội bắt cóc theo nguyên tắc phạm nhiều tội”; “Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bắt, giữ người khác làm con tin do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý nhằm buộc người muốn chuộc phải nộp cho mình tiền hoặc tài sản thì mới thả người bị bắt, giữ”; “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bắt người làm con tin nhằm buộc người khác phải nộp cho mình một khoản tiền hoặc tài sản thì mới thả người bị bắt”…
Trên phương diện lý luận có thể thấy, các quan điểm trên đã nêu ra được một số dấu hiệu pháp lý đặc trưng của hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Điều này đã góp phần làm rõ lý luận và định hướng tích cực cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, giải quyết các vụ án bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trên thực tế.
Tuy nhiên, theo quy định của một số văn bản pháp luật hiện hành có liên quan và thực tiễn công tác phòng ngừa và đấu tranh, chống tội phạm này cho thấy: Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”.  Do đó, tiền cũng là tài sản nên việc sử dụng cụm từ “tiền hoặc tài sản” là chưa thật phù hợp. Khoản 1 Điều 169 BLHS quy định: “Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Tức là hành vi phạm tội thể hiện bằng việc “bắt cóc người khác” nhưng một số quan điểm chưa nêu ra được điều này. Ví dụ: Vụ án xảy ra tại Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, do nợ tiền thua số đề hàng trăm triệu đồng, đối tượng nảy sinh ý định “moi” tiền cha mẹ bằng chiêu giả bị bắt cóc. Anh ta nhờ bạn trói tay chân, bịt mặt, cầm cưa doạ nạt khi gọi điện thoại video về cho gia đình đòi một tỷ đồng tiền chuộc. Gia đình K năn nỉ giảm xuống còn 800 triệu đồng và được “nhóm bắt cóc” đồng ý nhưng phải đưa trước 100 triệu qua ATM. Số tiền còn lại được hẹn giao nhận tại gần siêu thị Lotte Biên Hòa. Khi chúng vừa lấy tiền từ gia đình K thì bị lực lượng công an bắt giữ. Vụ án trên, “nhóm bắt cóc” bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản quy định tại Điều 170 BLHS, mà không phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 169 BLHS. Do đó, khái niệm về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản cần phải nêu rõ dấu hiệu pháp lý này.
– Một số quan điểm trên chưa cắt nghĩa được thuật ngữ “bắt cóc” hoặc điểm khác biệt của hành vi “bắt, giữ người khác làm con tin” trong tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với các tội phạm khác. Thực tế đã xảy ra vụ án, nửa đêm đối tượng đột nhập vào nhà của hai mẹ con (đứa con còn nhỏ). Đối tượng đã bắt, giữ, kề dao vào cổ đứa con làm con tin để uy hiếp, yêu cầu người mẹ phải đưa cho đối tượng 30 triệu đồng thì mới thả đứa con, nếu không đứa con sẽ bị nguy hiểm đến tính mạng. Xung quanh vụ án này, có nhiều quan điểm tranh luận giữa các cơ quan tiến hành tố tụng khi định tội danh, đối tượng phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản hay cướp tài sản?
Theo Từ điển Tiếng Việt, “bắt cóc là bắt người một cách đột ngột và đem giấu đi”. Chúng tôi cho rằng, việc giải thích thuật ngữ “bắt cóc” trong Từ điển Tiếng Việt là tương đối sát nghĩa, thể hiện được bản chất của hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản so với các tội phạm khác.
Bắt cóc người khác phải thể hiện việc đưa người bị bắt giấu đi ở một nơi nào đó mà không muốn cho người khác biết, đặc biệt là đối với người thân, gia đình của người bị bắt (người muốn chuộc con tin). Do đó, trong vụ án trên, nếu xử lý đối tượng về hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là chưa thật sự phù hợp, chưa đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Với những phân tích trên, chúng tôi cho rằng, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bắt người khác đem giấu ở một địa điểm nào đó để làm con tin, nhằm uy hiếp buộc người muốn chuộc con tin (có thể là người thân trong gia đình, bạn bè của người bị bắt…) phải giao tiền hoặc tài sản khác thì mới thả người bị bắt.

2. Một số vấn đề cần chú ý trong quá trình áp dụng pháp luật đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

2.1. Vấn đề xác định thời điểm hoàn thành đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Dưới khía cạnh nghiên cứu lý luận, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được xác định là tội phạm có cấu thành hình thức. Tội phạm hoàn thành khi đối tượng thực hiện được hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác. Việc người phạm tội có chiếm đoạt được tài sản của người khác hay không thì không có ý nghĩa trong việc định tội. Tuy nhiên, việc xác định thời điểm hoàn thành của tội phạm vẫn có một số quan điểm khác nhau.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, khi người phạm tội đã bắt đầu thực hiện hành vi bắt cóc, không phụ thuộc vào việc đã bắt cóc được người khác làm con tin hay chưa và chứng minh được hành vi bắt cóc đó nhằm chiếm đoạt tài sản thì tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản đã hoàn thành. Quan điểm thứ hai cho rằng, khi người phạm tội đã thực hiện được hành vi bắt cóc người khác làm con tin và hành vi đó nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác thì tội phạm đã hoàn thành.
Quan điểm thứ ba cho rằng, khi người phạm tội đã thực hiện được hành vi bắt cóc và đe dọa, có yêu sách về tài sản, không phụ thuộc vào việc họ có chiếm đoạt được tài sản hay không thì tội phạm đã hoàn thành. Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai, khi xác định rằng, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản hoàn thành khi người phạm tội thực hiện được hành vi bắt cóc người khác làm con tin và hành vi đó nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.
Điều này sẽ phù hợp về mặt kỹ thuật lập pháp vì khi đó hành vi của người phạm tội đã thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý được mô tả trong cấu thành tội phạm. Khi người phạm tội đã bắt đầu thực hiện hành vi bắt cóc nhưng chưa bắt cóc được người khác làm con tin thì hành vi đó chưa thỏa mãn dấu hiệu pháp lý được mô tả trong cấu thành cơ bản của tội phạm “Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản…” (Khoản 1 Điều 169) nên tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản chưa hoàn thành. Còn việc đối tượng đã thực hiện hành vi đưa ra yêu sách về tài sản, đe dọa đòi tiền chuộc hay chưa, điều đó không phải dấu hiệu pháp lý được mô tả trong cấu thành tội phạm, mà nó thuộc về vấn đề chứng minh tội phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án hình sự.

2.2. Thời gian giam giữ con tin trong tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Trong thực tiễn xét xử hiện vẫn còn đang có sự tranh cãi về thời gian giam giữ người bị hại. Quan điểm thứ nhất cho rằng, nếu có hành vi bắt và giam giữ con tin nhằm chiếm đoạt tài sản thì có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, bất kể thời gian giam giữ là bao lâu. Quan điểm thứ hai cho rằng, nếu thời gian giam giữ con tin không nhiều, chẳng hạn như chỉ vài phút, thì không thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được mà phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản.
Chúng tôi cho rằng, việc phân biệt giữa tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản không phải dựa trên thời gian giam giữ người bị hại như một số quan điểm được nêu ra. Việc phân biệt các tội phạm với nhau cần được dựa trên dấu hiệu pháp lý đặc trưng của mỗi tội phạm theo luật định. Khoản 1 Điều 170 BLHS quy định: “Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
Người phạm tội cưỡng đoạt tài sản có thể dùng bất cứ phương thức, thủ đoạn nào để uy hiếp tinh thần của người khác nhằm chiếm đoạt tài sản nhưng họ không thực hiện hành vi bắt cóc người khác làm con tin để uy hiếp tinh thần người khác. Nếu người phạm tội có hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản thì không kể thời gian giam, giữ con tin là bao lâu thì vẫn phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, ngay cả trong trường hợp đối tượng chưa bắt cóc được người khác làm con tin nhưng đủ căn cứ chứng minh đối tượng có ý định bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản.

2.3. Nếu người phạm tội bắt cóc người khác làm con tin nhưng không đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản nên đã có hành vi xâm hại tính mạng, sức khỏe của con tin thì có cấu thành tội phạm độc lập hay không?

Hành vi khách quan của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bắt cóc người khác làm con tin và hành vi chiếm đoạt tài sản. Thiệt hại do những hành vi này gây ra cho quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu là hậu quả của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, đó là những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác.
Hành vi bắt cóc là tiền đề, cơ sở và là thủ đoạn quyết định đến việc đối tượng có thể thực hiện được hành vi chiếm đoạt tài sản và những thiệt hại do hành vi bắt cóc gây ra cho con tin cũng nhằm hướng đến việc thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
Do đó, những thiệt hại nào xuất hiện trong quá trình thực hiện hành vi bắt cóc gây ra cho con tin mà không hướng đến việc thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản thì không phải là hậu quả của tội phạm và hành vi gây thiệt hại đó cũng không phải là hành vi khách quan của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, nếu người phạm tội không đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản nên đã có hành vi xâm hại tính mạng, sức khỏe của con tin thì hành vi này sẽ bị truy cứu theo cấu thành tội phạm độc lập. Điều này thể hiện đúng bản chất của hành vi phạm tội, nó giống như một hành vi trả thù nạn nhân khi không chiếm đoạt được tài sản.

2.4. Vấn đề mấu chốt để phân biệt tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản

Đối với tội cướp tài sản, người phạm tội thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Hành vi của người phạm tội hướng đến việc tấn công, uy hiếp, đe dọa trực tiếp đối với người đang quản lý tài sản hoặc đối với người có thể gây cản trở việc chiếm đoạt tài sản của đối tượng. Với hành vi của mình, người phạm tội mong muốn đặt người bị tấn công vào tình trạng không thể chống cự được, để chiếm đoạt được tài sản ngay tức khắc (tại thời điểm thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác).
Người bị tấn công thường không có nhiều thời gian để suy nghĩ, lựa chọn việc có nên giao tài sản cho đối tượng hay không. Đây chính là thủ đoạn quyết định đến việc đối tượng chiếm đoạt được tài sản. Trong trường hợp, nếu người bị tấn công có hành vi chống trả lại đối tượng thì điều đó là những yếu tố khách quan, nằm ngoài ý muốn chủ quan của các đối tượng phạm tội và điều này không ảnh hưởng đến việc định tội, nhưng có ý nghĩa trong việc xem xét về mức độ trách nhiệm hình sự.
Đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, người phạm tội có hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản. Người phạm tội đã thực hiện hành vi bắt người khác đem giấu ở một địa điểm nào đó để làm con tin, nhằm uy hiếp buộc người muốn chuộc con tin (có thể là người thân trong gia đình, bạn bè của người bị bắt…) phải giao tiền hoặc tài sản khác thì mới thả người bị bắt. Cụm từ “đem giấu ở một địa điểm nào đó” thể hiện việc người phạm tội không muốn cho người muốn chuộc con tin hoặc cơ quan chức năng biết được địa điểm “giấu con tin” và dùng nó để uy hiếp người khác nhằm chiếm đoạt tài sản.
Đây chính là thủ đoạn quyết định đến việc đối tượng chiếm đoạt được tài sản. Thông thường, người phạm tội sẽ hẹn người muốn chuộc con tin ở một địa điểm nào đó (khác địa điểm giấu con tin) để chiếm đoạt tài sản của họ. Hành vi của người phạm tội chưa đến mức làm cho người bị đe dọa tê liệt ý chí, mất sức phản kháng ngay tức khắc mà họ vẫn có điều kiện để thỏa thuận, thương lượng về giá trị tài sản chuộc; vẫn có điều kiện cân nhắc xem có nên giao tài sản cho đối tượng hay không; vẫn có điều kiện nhờ sự can thiệp của các cơ quan chức năng trong việc giải cứu con tin, bắt giữ đối tượng… Chính vì vậy, dưới phương diện lý luận và kỹ thuật lập pháp, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được xác định là có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với tội cướp tài sản.
Đối với tội cưỡng đoạt tài sản, người phạm tội có hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản. Người phạm tội không có hành vi bắt cóc người khác làm con tin; không có hành vi dùng vũ lực đối với người khác nhằm chiếm đoạt tài sản; không có hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, mà chỉ là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực để uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản.
Người bị hại không bị tê liệt hoàn toàn về ý chí, không bị lâm vào tình trạng không thể chống cự được mà vẫn có thời gian suy nghĩ có nên giao tài sản cho đối tượng hay không; vẫn có điều kiện để thỏa thuận, thương lượng về giá trị tài sản giao cho đối tượng; vẫn có điều kiện nhờ sự can thiệp của các cơ quan chức năng, của người khác trong việc ngăn chặn hành vi của đối tượng, bắt giữ đối tượng…
Tội cưỡng đoạt tài sản xâm phạm đến quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân, nếu quan hệ nhân thân có bị xâm phạm cũng chỉ gây thiệt hại về tinh thần mà không gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe. Do đó, điều luật không quy định dấu hiệu gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe là dấu hiệu định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Do đó, nếu không chiếm đoạt được tài sản mà người phạm tội có hành vi dùng vũ lực, tấn công hoặc bắt, giữ, giam người khác làm con tin để trả thù hoặc gây thêm áp lực cho người khác nhằm chiếm đoạt bằng được tài sản thì tùy theo từng trường hợp mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm độc lập khác.
Trên đây là một số kết quả nghiên cứu, quan điểm trao đổi của tác giả về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 169 BLHS năm 2015, xin được nêu ra để cùng được trao đổi.
Hy vọng các vấn đề trao đổi trên sẽ tiếp tục được nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa và đấu tranh, chống tội phạm bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trong thời gian tới.

Nguyễn Thị Hải Yến

(Khoa Luật – Học viện Cảnh sát nhân dân)

Nguồn: Luật sư Việt Nam Online

Chính sách hình sự Việt Nam trước thách thức cách mạng công nghiệp 4.0

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0) là cuộc cách mạng thể hiện sự kết hợp của công nghệ trong các lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học… Thực tế đó đòi hỏi phải có nhận thức mới về chính sách hình sự, từ đó định hình những nội dung cần triển khai nghiên cứuvà đáp ứng nhiệm vụ xây dựng, áp dụng pháp luật hình sự.
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (gọi tắt và viết tắt: CMCN 4.0) là cuộc cách mạng thể hiện sự kết hợp của công nghệ trong các lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học, tạo ra thời đại công nghệ thông tin kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực thể, vạn vật đều kết nối Internet và các hệ thống kết nối Internet diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Bên cạnh những thuận lợi, giá trị to lớn mà cuộc cách mạng này đem lại thì cũng kéo theo những thách thức, mối đe dọa mới đòi hỏi toàn bộ hệ thống phải thay đổi từ kinh tế, văn hóa, xã hội… và không thể thiếu sự đổi mới chính sách hình sự, cũng như của hệ thống pháp luậthình sự để phòng, chống tội phạm, bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia và quyền con người, quyền công dân trong tình hình mới. Trên cơ sở này, đòi hỏi phải có nhận thức mới về chính sách, pháp luật hình sự Việt Nam trước thách thức CMCN 4.0, từ đó định hình những nội dung cần triển khai nghiên cứu trong chính sách hình sự và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng, áp dụng pháp luật hình sự.

1. Khái niệm, đặc điểm của chính sách hình sự Việt Nam trước thách thức CMCN 4.0

1.1. Khái niệm
Xuất phát từ các yêu cầu của thực tiễn phát triển mạnh mẽ, nhanh và rộng khắp của khoa học và công nghệ, thực tiễn đấu tranh xử lý tội phạm và thực tiễn điều chỉnh của pháp luật hình sự, cũng như yêu cầu bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong bối cảnh toàn cầu hóa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XII năm 2016 đã nhấn mạnh đến nhiệm vụ xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật. Cụ thể, Nghị quyết đã nêu: “Hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế… Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách, pháp luật…” . Cùng với đó, ngày 01/12/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 623/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016-2025 và định hướng đến 2030”, trong đó đã nhấn mạnh: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tập trung nghiên cứu dự báo, luật hóa kịp thời các hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện. Xây dựng, ban hành kịp thời văn bản hướng dẫn thi hành sau khi các luật, bộ luật có hiệu lực…” với Đề án 12: “Tăng cường hiệu quả công tác phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm trên mạng Internet” do Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì thực hiện. Đặc biệt, ngày 04/5/2017, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg “Về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, trong đó đặt ra những yêu cầu cao hơn về bảo đảm an toàn, an ninh thông tin mạng trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 này; v.v… Vì vậy, yêu cầu nhận thức thống nhất, cập nhật mới chính sách hình sự, từ đó hoạch định, xây dựng hệ thống chiến lược của Nhà nước nhằm đề ra cách thức (phương thức) phòng, chống tội phạm đạt hiệu quả cao, xây dựng nguyên tắc hành động và hoàn thiện thể chế, pháp luật tương ứng trong lĩnh vực này cho quốc gia có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là trước thách thức của CMCN 4.0, cũng như hàng loạt những mối đe dọa mới như: vấn đề “biên giớimềm, không gian ảo”, “quyền lực mềm”, “an ninh không gian mạng”, “an ninh phi truyền thống”, tội phạm công nghệ cao, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia đến vấn đề “trí tuệ siêu thông minh”, “rô-bốt phạm tội”…, từ đó đòi hỏi cần có sự ứng phó chủ động và kiểm soát tốt để bảo đảm chủ quyền, an ninh cho người dân và đất nước.
Cuộc CMCN 4.0 là cuộc cách mạng thể hiện sự kết hợp của công nghệ trong các lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học, tạo ra thời đại công nghệ thông tin kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực thể, vạn vật đều kết nối Internet và các hệ thống kết nối Internet diễn ra trên phạm vi toàn cầu, thúc đẩy xã hội loài người tiến vào kỷ nguyên mới, với những thành tựu đỉnh cao, đem lại hiệu quả cao phục vụ con người. Tuy nhiên, cuộc CMCN 4.0 cũng đang đặt ra những thách thức to lớn. Theo Diễn đàn kinh tế thế giới, những lĩnh vực chịu tác động trực tiếp và mạnh mẽ từ cuộc cách mạng này bao gồm: (1) Cơ sở dữ liệu tập trung (Big Data); (2) Thành phố thông minh (Smart Cities); (3) Tiền ảo (Blockchain/Bitcoin); (4) Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence); (5) Năng lượng tái tạo/Công nghệ sạch (Renewable Energy/Clean-tech); (6) Công nghệ tài chính (FinTech); (7) Thương mại điện tử (E-Commerce); (8) Người máy (Robotics); (9) Công nghệ in 3D (3D Printing); (10) Kết nối thực ảo (Virtual/Augmented Reality); (11) Các nền kinh tế chia sẻ (Shared Economies); (12) Internet kết nối vạn vật (IoT); (13) Công nghệ Nano/Vật liệu 2D (Nanotechnology/2D Materials); (14) Công nghệ sinh học/Biến đổi gene và cách mạng nông nghiệp (Biotechnology/Genetics & Agricultural Innovation) và; (15) Khử muối lọc nước ngọt. Vì vậy, đứng trước nhiều thách thức và bối cảnh cách mạng này, đòi hỏi trong chính sách, pháp luật hình sự của Nhà nước phải có những thay đổi, ứng phó xử lý trước tình hình, xu thế diễn biến của tội phạm và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, cũng như thực tiễn điều chỉnh của pháp luật hình sự về vấn đề này, bảo đảm sự ổn định và phát triển đất nước đi kèm với bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Trước hết, trên phương diện lý luận, chính sách hình sự đã có nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu. Cụ thể, gắn với cách tiếp cận truyền thống, các học giả, nhà nghiên cứu và cán bộ thực tiễn cơ bản đều thống nhất về nội dung, các bộ phận cấu thành và chủ thể ban hành chính sách hình sự mặc dù có nhiều cách tiếp cận với mức độ rộng, hẹp khác nhau . Tuy nhiên, đều coi chủ thể ban hành chính sách hình sự với tư cách là một trong chính sách xã hội do Nhà nước ban hành (một số quan niệm có cả của chủ thể là cơ quan Đảng ban hành), tập trung coi hiện tượng “tội phạm” là đối tượng đấu tranh phòng và chống của chính sách hình sự, đồng thời với việc kiểm soát tội phạm tốt thì Nhà nước cần tập trung vào hoàn thiện các chính sách xã hội khác. Nội dung trong chính sách hình sự tập trung nhất vào vấn đề chính sách về tội phạm (cụ thể là về quá trình lập pháp chính – tội phạm hóa và phi tội phạm hóa, hình sự hóa và phi hình sự hóa, cùng với một số vấn đề khác), cũng như việc tổ chức đấu tranh phòng, chống tội phạm. Vì vậy, tiếp cận theo cách truyền thống này, để hoạch định được một chính sách hình sự khả thi, đúng đắn, đòi hỏi chính sách hình sự phải dựa trên các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước, cũng như các chính sách xã hội khác (kinh tế, văn hóa, xã hội…), các điều kiện lịch sử – truyền thống, thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm để thông qua đó, Nhà nước có thể hoạch định được các đường lối, chủ trương lớn và sử dụng đúng và đủ pháp luật hình sự (đủ liều lượng và đúng pháp luật) vào việc bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia, các lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của tổ chức, qua đó nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Thông qua chính sách hình sự bảo đảm xây dựng nền tảng chính trị – pháp lý vững chắc và ổn định, cùng với đó là việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự nói chung, hệ thống tư pháp hình sự trong tương lai tương thích để điều chỉnh được những thay đổi của các quan hệ xã hội, cũng như sự tăng, giảm của tình hình tội phạm và mức độ trấp áp, răn đe hay giáo dục, phòng ngừa, hướng thiện trong Bộ luật hình sự. Đặc biệt, ở mức độ rộng hơn, chính sách hình sự còn góp phần tìm hiểu nguyên nhân của tội phạm, nghiên cứu các biện pháp đối phó với tội phạm, dự báo tội phạm và những thay đổi của tội phạm, cũng như tìm ra điểm hạn chế trong hệ thống tư pháp hình sự hiện hành để tiếp tục hoàn thiện hơn.
Tuy nhiên, CMCN 4.0 là cuộc cách mạng chưa từng có trong lịch sử nhân loại, đồng thời trong tương lai có thể có những cuộc cách mạng tiếp theo. Hiện nay, mặc dù nhân loại mới bước vào giai đoạn bắt đầu của cách mạng này nhưng kỷ nguyên công nghiệp 4.0 đã đưa đến những khả năng hoàn toàn đột phá và có tác động sâu sắc đối với các hệ thống chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa của thế giới. Hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật hình sự nói riêng và định hướng dẫn đường của chính sách hình sự cũng không thể nằm ngoài những tác động to lớn của cuộc CMCN 4.0 này. Những tác động đa chiều đó đem lại nhiều thuận lợi, tiện ích to lớn (ví dụ: công nghệ cấy ghép, siêu máy tính bỏ túi, dịch vụ lưu trữ, Internet kết nối vận vật, thành phố thông minh, ôtô không người lái, trí tuệ nhân tạo…) , nhưng cũng có các mối đe dọa, tiềm ẩn nguy cơ nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự an toàn xã hội và quyền con người, quyền công dân… đòi hỏi phải được định danh, nhận diện sớm và rõ để Nhà nước có chính sách hình sự phù hợp và tổ chức lại hệ thống pháp luật hình sự bảo đảm ứng phó, thích nghi một cách phù hợp, hiệu quả, bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay.
Do đó, trước thách thức CMCN 4.0, ngoài những yếu tố trên, chính sách hình sự đòi hỏi cần dựa trên nền tảng (thành tựu/ứng dụng) của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Vì vậy, dưới góc độ khoa học, khái niệm đang nghiên cứu được định nghĩa như sau: Chính sách hình sự Việt Nam trước thách thức CMCN 4.0 là các chủ trương, đường lối, sách lược lớn của Nhà nước trong việc sử dụng pháp luật hình sự vào hoạt động đấu tranh phòng và chống tội phạm, định hình những vấn đề pháp lý hình sự và cụ thể hóa các quan điểm, thái độ xử lý đối với những vấn đề đó trên nền tảng các chính sách xã hội kết hợp với thành tựu cách mạng khoa học và công nghệ, góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự quốc gia, đáp ứng yêu cầu xã hội trong xu thế toàn cầu hóa và phòng, chống tội phạm.
1.2. Đặc điểm
Như vậy, gắn với thách thức của CMCN 4.0, chính sách hình sự trong giai đoạn này phản ánh các đặc điểm cơ bản sau:
a. Chính sách hình sự là các chủ trương, đường lối, sách lược lớn do Nhà nước ban hành. Các chủ trương lớn này liên quan đến vấn đề hình sự mà thực tiễn đặt ra hoặc cần dự báo để ứng phó với những vấn đề hình sự của thực tiễn.
b. Nội dung của chính sách hình sự là việc Nhà nước sử dụng pháp luật hình sự vào hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm, định hình những vấn đề pháp lý hình sự và cụ thể hóa các quan điểm, thái độ xử lý đối với những vấn đề đó.
c. Chính sách hình sự được xây dựng dựa trên nền tảng là các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước, các chính sách xã hội khác (kinh tế, văn hóa, xã hội…), các điều kiện lịch sử – truyền thống, thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như kết hợp bổ sung là nền tảng của cách mạng khoa học và công nghệ.
d. Chính sách hình sự góp phần xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự quốc gia đáp ứng yêu cầu phát triển tương ứng của xã hội trong giai đoạn toàn cầu hóa, cũng như bảo đảm an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền con người, quyền công dân. Toàn cầu hóa mang tính tổng thể và đa diện hơn, nhấn mạnh sự rút ngắn về thời gian và không gian, khiến cho không một quốc gia nào có thể biệt lập với phần còn lại của thế giới, mà các quốc gia tương thuộc và tác động qua lại lẫn nhau . Toàn cầu hóa với sự gia tăng sự trao đổi ở mọi cấp độ cũng như sự bùng nổ các dòng dịch chuyển không ngừng của hoạt động tài chính, thương mại và công nghiệp, đã tạo nên hiệu ứng “dồn nén thời gian và không gian” , dẫn tới “sự thủ tiêu không gian và thời gian”, khiến cho biên giới quốc gia – một trong những biểu tượng của quyền lực nhà nước và chủ quyền quốc gia dần trở “trống rỗng” , thoát khỏi sự kiểm soát của Nhà nước. Sự suy yếu của biên giới quốc gia còn đến từ sự tác động của các tiến bộ khoa học – công nghệ mang đến cho cá nhân và các chủ thể khác các phương tiện hữu hiệu hơn để “thoát khỏi” khỏi sự kiểm soát của biên giới quốc gia – sự kiểm soát truyền thống của Nhà nước , từ đó, dẫn đến phát sinh tội phạm xuyên quốc gia, xuyên biên giới.
đ. Cùng với đó, chính sách hình sự đặt ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực công nghệ thông tin với tư cách là nền tảng của khoa học và công nghệ vì cuộc CMCN 4.0 mang lại sự đột phá của công nghệ thông tin, công nghệ thông tin chiếm hữu mọi thứ, Internet kết nối mọi vấn đề trong xã hội thì cần một chính sách pháp lý đồng bộ, có hệ thống và phù hợp để quản lý quyền riêng tư của công dân, cũng như sự an toàn của an ninh mạng, an ninh đất nước. Vì vậy, toàn bộ hệ thống pháp luật liên quan đến công nghệ thông tin như: Luật Công nghệ cao năm 2008, sửa đổi năm 2013, 2014; Luật Công nghệ thông tin năm 2006; Luật An ninh thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018… và hệ thống văn bản tạo hàng lang pháp lý điều chỉnh các lĩnh vực cụ thể như: trí tuệ thông minh, tiền ảo, công nghệ in 3D… đòi hỏi cũng phải được hoàn thiện, vì đây là những lĩnh vực mà nguy cơ bị tấn công và đe dọa ngày càng nhiều, các đối tượng cũng lợi dụng để tiến hành thực hiện các hành vi phạm tội.

2. Những tác động tích cực, các thách thức CMCN 4.0 đặt ra đối với chính sách hình sự và việc xây dựng, áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam

2.1. Những tác động tích cực
Như vậy, đánh giá đúng tầm vóc, vai trò và nhận thức đúng về thành tựu, ứng dụng tích cực, hiệu quả cao mà CMCN 4.0 giúp cho xã hội, gắn riêng với chính sách, pháp luật hình sự Việt Nam cho thấy những tác động tích cực mà cuộc cách mạng này đem lại như sau:
a. Phục vụ cho việc phát triển trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đào tạo pháp luật của đất nước. Với sự phát triển của khoa học và công nghệ, CMCN 4.0 đặt ra hàng loạt vấn đề pháp lý cho việc nghiên cứu, đào tạo về pháp luật trong các cơ sở đào tạo của đất nước.
b. Phục vụ đắc lực cho công tác nghiên cứu chính sách hình sự, xây dựng và áp dụng (thi hành) pháp luật hình sự. Trước hết, các ứng dụng công nghệ thông tin đã cung cấp phương tiện làm việc hiệu quả cao, phục vụ đắc lực cho công tác nghiên cứu, hoạch định chính sách hình sự, xây dựng cũng như áp dụng (thi hành) pháp luật hình sự. Theo đó, nhờ có sự hỗ trợ hiệu quả của các phương tiện công nghệ, những hoạt động khảo sát, đánh giá đối tượng nghiên cứu, thể hiện, trình bày, lưu trữ kết quả nghiên cứu giúp cho việc nghiên cứu trong khoa học luật hình sự được tiến hành thuận lợi, hiệu quả, từ đó đưa ra chiến lược, kế hoạch toàn diện và chính xác trong chính sách hình sự.
Ví dụ: Công nghệ dự báo tội phạm – chương trình này được gọi là PredPol, nó tính toán các dự báo dựa trên thời gian và địa điểm các vụ phạm tội đã từng xảy ra trước đó, kết hợp cùng với những thông tin xã hội học về hành vi và hình mẫu của các vụ phạm pháp. Công nghệ này được thử nghiệm ở khu vực Santa Cruz, thuộc cảnh sát bang California (Mỹ) suốt 1 năm qua và trong 6 tháng gần đây bởi cảnh sát Los Angeles đã cho thấy một kết quả đầy hứa hẹn. Công nghệ dự báo này cũng được các tập đoàn như Wal-Mart và Amazon dùng để xác định xu hướng mua sắm của người tiêu dùng. Chìa khóa thành công của công nghệ dự báo tội phạm là thu thập càng nhiều dữ liệu càng tốt để xác định đặc điểm tội phạm.
Ngoài ra, phương tiện công nghệ cao cũng là một điều kiện thiết yếu phục vụ công tác phòng ngừa tội phạm, đấu tranh xử lý nhanh và triệt để, cũng như việc thi hành pháp luật hình sự (các phương tiện theo dõi, giám sát, định vị, lưu trữ, nhận dạng tra cứu, quản lý…), đặc biệt là sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong lưu trữ, nhận dạng người phạm tội . Thậm chí, theo South China Morning Post, tù nhân ở Trung Quốc sẽ không còn cơ hội trốn thoát. Mỗi camera được trang bị một hệ thống theo dõi thông minh có thể nhận ra những hoạt động đáng ngờ. Hiện tại, hệ thống này đang được thử nghiệm trong nhà tù VIP, nơi giam giữ những tù nhân đặc biệt. Nhà tù Diêm Thành (Yancheng) ở tỉnh Hà Bắc của Trung Quốc được trang bị camera giám sát dựa trên trí tuệ nhân tạo. Các thiết bị được đặt trong mỗi phòng giam sẽ giám sát tù nhân và xác định các kiểu hành vi bất thường. Mạng nơ-ron được dạy để nhận ra hành động của tội phạm và dự đoán nguy cơ trốn thoát. Trong trường hợp có hoạt động đáng ngờ, thuật toán sẽ bật còi báo động, sẽ thông báo cho lính canh. Ngoài ra, người ta cho rằng công nghệ thông minh sẽ loại bỏ khả năng hối lộ. Ngay cả khi tù nhân mua chuộc người giám sát, anh ta vẫn sẽ không thể có tác động gì đến hoạt động của thuật toán . Hay ở Braxin, trí tuệ nhân tạo được sử dụng để phòng ngừa, xử lý tham nhũng. Theo đó, dự án để kiểm soát các chi phí của các chính trị gia đất nước này bằng cách tạo ra rô-bốt phân tích trực tuyến các đại biểu đất nước chi tiêu theo hạn ngạch từng việc để rô-bốt phát hiện ra các bất thường về chi phí đi lại, ăn uống, vé máy bay, chỗ ở…
c. Nhanh chóng kết nối bao trùm thông tin, dữ liệu để phục vụ công tác điều tra, xử lý và kết nối thông tin, dữ liệu phòng, chống tội phạm. Khả năng kết nối bao trùm của Internet toàn cầu giúp các nhà lập pháp tiếp cận nhanh chóng, thuận tiện, khai thác có hiệu quả một khối lượng khổng lồ dữ liệu số liên quan đến những xu hướng, kinh nghiệm lập pháp hình sự tiến bộ, hữu ích từ khắp nơi trên thế giới, cũng như nhanh chóng nhận được phản hồi đa chiều từ nhiều tầng lớp dân cư trong xã hội đối với chính sách, pháp luật hình sự đã hoặc dự kiến sẽ được Nhà nước ban hành.
Ví dụ: Hệ thống nhận biết tên miền – Domain Awareness System (DAS) do Microsoft phát triển có thể cung cấp ngay lập tức một số lượng lớn thông tin cho nhân viên an ninh về những đối tượng mà họ đang theo dõi, vượt trội hẳn so với các mạng lưới camera giám sát đơn giản. Không chỉ cung cấp dữ liệu video trực tiếp mà hệ thống cũng sẽ ngay lập tức hiển thị hồ sơ tiền án của các đối tượng liên quan trong khu vực và các dữ liệu khác hình thành nên một bức chân dung của cá nhân đang bị giám sát. Thậm chí ô tô liên quan đến một nghi phạm cũng sẽ được hiển thị thông tin đã ở đâu vài tháng trước đó. Với cách thức như vậy, hệ thống sẽ giúp các nhân viên điều tra có thể “tua” lại đoạn phim truy tìm những người còn lại trong bất kì vụ việc đáng nghi nào. Có thể nói, hệ thống trên là một công cụ sáng tạo, hứa hẹn một cuộc cách mạng hóa trong việc thực thi pháp luật, hoạt động tình báo và an toàn công cộng…
d. Việc ban hành các kế hoạch, sách lược, chương trình để đề ra cách thức phòng ngừa, chống tội phạm kịp thời và ban hành quyết định, thực hiện các hoạt động phòng ngừa, điều tra tội phạm đến các hoạt động phòng ngừa các hậu quả (thiệt hại) cho xã hội như: cứu hộ, cứu nạn, phòng cháy, chữa cháy… được nhanh chóng, hiệu quả hơn khi có thành tựu, ứng dụng của khoa học và công nghệ. Tại Hàn Quốc, nước này đã thiết lập hệ thống phát hiện và xử lý các đe dọa tấn công mạng dựa trên trí thông minh nhân tạo, ví dụ: Trung tâm dữ liệu lớn về an ninh mạng đang vận hành và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư bảo vệ an ninh mạng. Thiết lập các quy tắc đạo đức cho người phát triển và sử dụng công nghệ thông minh để tránh tình trạng lạm dụng năm 2018 . Ngoài ra, khả năng kết nối này còn là cầu nối quan trọng của công tác hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm giữa các vùng miền, địa phương, quốc gia, khu vực trên thế giới… từ đó, xây dựng chương trình quốc tế về hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
đ. Tăng cường hiệu quả cao trong công tác tuyên truyền, phổ biến, tiếp cận văn bản pháp luật hình sự. Việc số hóa tri thức, thông tin, tài liệu, văn bản pháp luật và truyền tải rộng rãi qua kết nối Internet giúp cho chính sách, pháp luật của nhà nước nói chung, quy định pháp luật hình sự nói riêng được tuyên truyền, phổ biến và việc tiếp cận văn bản pháp luật hình sự rộng rãi tới mọi tầng lớp dân cư, nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật, tư vấn pháp luật giúp nhân dân… , cũng như định hướng dư luận xã hội tốt trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
e. Tiết kiệm chi phí trong hoạt động xử lý tội phạm. Theo đó, nhờ ứng dụng khoa học và công nghệ trong phòng, chống tội phạm, việc xử lý sẽ tiết kiệm chi phí cho Nhà nước, xã hội, qua đó, thực hiện các nhiệm vụ khác của đất nước.
2.2. Các thách thức đặt ra
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích đã nêu, cuộc CMCN 4.0 cũng đặt ra nhiều thách thức đối với công tác xây dựng, áp dụng pháp luật hình sự, trong đó có việc hoạch định chính sách hình sự như sau:
a. Làm lạc hậu về nhận thức và trong nghiên cứu khoa học, trong đào tạo về nhiều vấn đề của pháp luật hình sự. Những biến đổi do cách mạng khoa học và công nghệ đem lại làm lạc hậu những nhận thức truyền thống về tội phạm khi có sự thay đổi về khách thể của tội phạm, hậu quả của tội phạm, địa điểm (nơi) xảy ra tội phạm, chủ thể của tội phạm… trong toàn bộ hệ thống lý luận, sách báo pháp lý, giáo trình trong lĩnh vực tư pháp hình sự… đòi hỏi phải có sự đầu tư, phân tích, nghiên cứu và triển khai mới.
Ví dụ: đối tượng tác động của tội phạm trong môi trường được tạo ra bởi công nghệ có thể là một giá trị, tài sản ảo. Hậu quả của tội phạm theo nhận thức truyền thống là thiệt hại cho xã hội nhưng trong thời đại công nghệ, hậu quả của tội phạm có thể xảy ra trong môi trường ảo, không phải môi trường thực tế mà con người sinh sống. Nơi thực hiện tội phạm có thể rất xa với nơi xảy ra hậu quả, hậu quả của tội phạm thậm chí xảy ra ở nhiều nơi trên toàn thế giới, khả năng tìm kiếm, phát hiện, xử lý đối tượng gặp nhiều khó khăn. Cùng với đó, kéo theo đối với số lượng rất lớn cá nhân, tổ chức phạm tội có thể dẫn đến xung đột về hiệu lực theo không gian của pháp luật hình sự, mâu thuẫn (tranh chấp) trong xác định thẩm quyền tài phán đối với các hành vi và chủ thể phạm tội…
b. Hoạt động sử dụng các thành tựu, tiến bộ của khoa học và công nghệ làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội truyền thống và thực hiện hành nguy hiểm cho xã hội mới. Các thành tựu của cách mạng công nghệ đương nhiên sẽ bị lợi dụng làm phương tiện phạm tội khiến không chỉ hành vi phạm tội đang được Bộ luật hình sự điều chỉnh (quy định) làm công tác phát hiện, xử lý gặp nhiều khó khăn, trở ngại, mà còn phát sinh thêm nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội mới, thủ đoạn tinh vi, phức tạp, có khả năng gây hậu quả trên phạm vi lớn, khó phát hiện, đấu tranh hơn, nhất là trong một số lĩnh vực như: công nghệ thông tin, viễn thông, tài chính, ngân hàng… hoặc các hành vi phạm tội xuyên quốc gia như: buôn lậu ma túy, rửa tiền, khủng bố…
c. Nguy hiểm hơn, nhờ khả năng kết nối vạn vật (IoT) và hệ thống siêu dữ liệu (Big Data) có thể các chủ thể tiến hành phát tán các thông tin, tài liệu giá trị văn hóa phản nhân văn, độc hại, cực đoan, xúc phạm lãnh đạo, tuyên truyền chống Nhà nước, hoạt động khủng bố chống phá Nhà nước, phản đối chế độ xã hội chủ nghĩa… trên lĩnh vực an ninh chính trị, an ninh tư tưởng. Nếu trước đây, các tội phạm truyền thống (hành vi phạm tội thực hiện thông thường, xảy ra trên lãnh thổ quốc gia, xâm phạm đến các quan hệ được pháp luật hình sự bảo vệ, việc phát hiện, xử lý theo cách truyền thống là được…) thì nay, trước thách thức CMCN 4.0 vẫn xảy ra nhưng có biến đổi phức tạp do sự hỗ trợ của các phương tiện công nghệ làm cho việc phát hiện, xử lý gặp khó khăn hơn rất nhiều.
Ví dụ: Cảnh sát Mỹ vừa bắt giữ một công dân 25 tuổi có tên Jorge Edwin Rivera, cách biên giới khoảng 1,83 km sau khi phát hiện ra thiết bị bay không người lái chở đồ vật khả nghi của người này. Theo đó, người đàn ông cho biết anh ta sử dụng thiết bị bay không người lái (drone) để vận chuyển lượng ma túy nặng 5,9 kg trên đường biên từ Mexico sang San Diego (Mỹ)…
Hoặc ở Việt Nam, thời gian vừa qua, tội phạm sử dụng công nghệ cao tại Việt Nam có xu hướng gia tăng, diễn biến phức tạp và ngày càng tinh vi, thủ đoạn liên tục thay đổi để lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các hình thức như: lừa đảo qua Facebook, giả danh cơ quan bảo vệ pháp luật và cơ quan nhà nước, lừa đảo qua các giao dịch thương mại điện tử… Tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; mua bán, trộm cắp, sử dụng thông tin thẻ tín dụng của người khác để chiếm đoạt tài sản; tội phạm đánh bạc bằng các hình thức lô đề, cá độ bóng đá qua Internet…
Ngoài ra, thông qua kết nối không giới hạn bởi không gian địa lý, tội phạm có khả năng xâm hại số lượng nạn nhân khổng lồ ở nhiều nơi, hậu quả cho xã hội ở nhiều nơi, xâm phạm đến quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là quyền bí mật thông tin… Cùng với đó, các dấu vết của tội phạm không để lại trên môi trường vật chất… làm cho khó phát hiện, điều tra và xử lý.
c. Có thể làm phát sinh chủ thể của tội phạm mới trong tương lai. Bộ luật hình sự nhiều quốc gia, trong đó có Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 đã bổ sung thêm chủ thể của tội phạm là pháp nhânthương mại cùng với cá nhân phạm tội. Pháp nhân được coi là một thực thể trừu tượng được tạo ra bởi pháp luật. Tuy nhiên, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, siêu thông minh – rô-bốt… trong một tương lai không xa có thể có những biến đổi đột biến to lớn về lĩnh vực này do sự phát triển của trí tuệ nhân tạo. Cùng với đó, những cỗ máy mang trí tuệ nhân tạo đã và ngày càng có khả năng tư duy, trí tuệ, cảm xúc và hành động độc lập, toàn diện hơn con người, thậm chí đòi khả năng bình đẳng như con người . Khái quát hơn, AI có thể được mô tả ngắn gọn là khoa học làm cho máy móc trở nên thông minh, để có thể thực hiện các nhiệm vụ thường đòi hỏi trí thông minh của con người. Lái xe, giao dịch cổ phiếu tại sàn giao dịch chứng khoán và xác định mục tiêu quân sự trong chiến tranh là những ví dụ về các nhiệm vụ cần thiết trí tuệ con người . Ngày nay, có những AI có thể thực hiện các nhiệm vụ chính xác giống nhau mà không cần có con người tham gia . Song, đồng thời chúng cũng có thể có hành động lệch chuẩn , xâm phạm an ninh, trật tự xã hội và quyền con người mà pháp luật hình sự thiết lập, bảo vệ. Một thực thể trừu tượng được tạo ra bởi pháp luật như pháp nhân thì sự ghi nhận tương tự có lẽ cũng sớm được đặt ra đối với những cỗ máy mang trí tuệ nhân tạo – những thực thể được con người tạo ra nhưng càng ngày càng giống con người, thậm chí siêu việt hơn con người ở nhiều phương diện… còn gọi là “điện tử nhân” (hay rô-bốt) với nhiều khả năng như chiến tranh, giúp việc gia đình, y tế, pháp lý… nhưng cũng có khả năng thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đến tính mạng, sức khỏe con người… (sau khi là chủ thể của quan hệ pháp luật sẽ là chủ thể của tội phạm). Đặc biệt, các nhà nghiên cứu AI thế giới cho rằng, đến một lúc nào đó chúng sẽ phát triển vượt ra khỏi tầm kiểm soát của con người, đồng thời đưa ra các cảnh báo về cuộc thảm họa có thể xảy ra trong tương lai và có thể dẫn đến nguy hiểm cho cho người: (1) AI có khả năng giả dạng con người dẫn đến tiếp tay cho việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản; (2) AI có thể đọc được suy nghĩ của con người dẫn đến đe dọa đến sự an toàn cho con người; (3) AI có thể thành thạo trong mọi việc nhanh chóng hơn con người dẫn đến khả năng mất kiểm soát; (4) AI “mẹ” có thể tạo ra các AI “con” và các khả năng tương ứng như trên, có khả năng đe dọa đến sự an toàn của con người; (5) AI có khả năng gây ra chiến tranh thế giới lần thứ III.

3. Những định hướng lớn cần hoạch định triển khai nghiên cứu trong chính sách, pháp luật hình sự Việt Nam trước thách thức CMCN 4.0

Như vậy, những lợi ích to lớn mà CMCN 4.0 đem lại đối với nhân loại nói chung đang đặt ra khó khăn đối với nghiên cứu về chính sách hình sự cũng như việc xây dựng, áp dụng pháp luật hình sự nói riêng là vô cùng cấp bách. Cuộc CMCN 4.0 này cũng là xu thế tiến bộ vượt bậc và tất yếu mà Việt Nam không thể đứng ngoài quy luật thích ứng theo. Bởi vậy, trong quá trình tiến hành, khai thác thành tựu của cuộc cách mạng này, chỉ có thể nỗ lực ứng phó với những thách thức, mối đe dọa mà nó đặt ra, trong đó có trên phương diện chính sách hình sự. Cho nên, để đáp ứng yêu cầu đó, việc nghiên cứu, hoạch định chính sách hình sự và xây dựng, áp dụng pháp luật hình sự cần có tính cập nhật, phù hợp với biến đổi nhanh chóng của thực tiễn tội phạm trong thời đại CMCN 4.0 và xu hướng toàn cầu hóa hiện nay.
3.1. Nhận thức thay đổi về tội phạm, trách nhiệm hình sự và chủ thể của tội phạm truyền thống
Trước thách thức CMCN 4.0 nổi lên đó là vấn đề định danh (gọi tên) và xác định trách nhiệm hình sự, chủ thể của tội phạm đối với một loại tội phạm có tên gọi mới – tội phạm phi truyền thống, xuất hiện trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Hiểu một cách chung nhất, tội phạm phi truyền thống là hành vi nguy hiểm cho xã hội có nguồn gốc phi quân sự gây ra cho sự an toàn, ổn định của mỗi con người, cũng như các quốc gia, dân tộc và cộng đồng quốc tế được thực hiện do cố ý từ bất kỳ chủ thể phi nhà nước nào với đặc trưng mới về địa điểm, phương thức, thủ đoạn phạm tội và khách thể của tội phạm. Do đó, sự biến đổi thể hiện khác biệt thể hiện ở đặc điểm xuyên quốc gia thể hiện qua ba phương diện sau:
a. Tính chất xuyên quốc gia thể hiện ở không gian diễn ra tội phạm đối với toàn bộ quá trình thực hiện tội phạm với các trường hợp sau đây: Tội phạm được thực hiện ở ít nhất từ hai quốc gia trở lên (ví dụ hành vi mua người hoặc dụ dỗ người ở Việt Nam đem bán ở Trung Quốc, Thái Lan); tội phạm được thực hiện ở một quốc gia nhưng việc chuẩn bị, lên kế hoạch, chỉ đạo hoặc điều khiển nó lại diễn ra ở một quốc gia khác (Giả sử “ông trùm” của một tổ chức tội phạm ma túy ở Hoa Kỳ chỉ đạo, điều hành các thành viên dưới quyền mua bán ma túy ở Campuchia…);
b. Tính chất xuyên quốc gia thể hiện ở phạm vi ảnh hưởng của tội phạm. Đây chính là sự khác nhau về lãnh thổ quốc gia giữa nơi tội phạm được thực hiện với nơi tội phạm gây ảnh hưởng. Đối với tội phạm không có tính chất xuyên quốc gia thì quốc gia nơi thực hiện tội phạm cũng chính là quốc gia nơi tội phạm gây ảnh hưởng. Tội phạm xuyên quốc gia có thể được thực hiện ở một quốc gia nhưng có ảnh hưởng lớn ở một hoặc nhiều quốc gia khác, ví dụ tội phạm công nghệ cao, từ đây, vấn đề khách thể của tội phạm đòi hỏi phải hoàn thiện…
c. Tính chất đa quốc gia thể hiện ở chủ thể thực hiện tội phạm. Tương tự, đây là trường hợp việc thực hiện tội phạm liên quan đến một nhóm tội phạm có tổ chức tham gia các hoạt động phạm tội ở nhiều quốc gia. Trường hợp chủ thể của tội phạm đơn thuần có quốc tịch khác với quốc gia nơi thực hiện tội phạm không thuộc loại tội phạm này mà là chỉ là tội phạm có yếu tố nước ngoài… Bên cạnh chủ thể thường có thêm một đặc điểm nữa là các đối tượng là những chuyên gia có trình độ cao, sử dụng các công cụ công nghệ với phương thức phạm tội tinh vi, phức tạp, am hiểu các lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, tài chính, ngân hàng…
3.2. Điều chỉnh chính sách hình sự xử lý đối với việc sử dụng những thành tựu phát triển của trí tuệ nhân đạo (AI), vạn vật kết nối – Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn (Big Data)… để phạm tội và vấn đề chủ thể tội phạm mới.
Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) , vạn vật kết nối – Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn (Big Data)… sẽ rất hữu ích cho đời sống xã hội và con người trong giai đoạn hiện nay. Xét riêng trong AI, trong tương lai, nếu được coi là chủ thể có tư cách pháp lý, thì không có lẽ gì sau đó với sự xuất hiện của rô-bốt thông minh nhân tạo siêu việt – siêu rô-bốt (cũng còn có thể gọi là “điện tử nhân”) cũng có thể sẽ được coi là chủ thể của tội phạm. Do đó, ở đây, một số thách thức đặt ra đòi hỏi chính sách, pháp luật hình sự Việt Nam phải giải quyết như:
a. Định nghĩa lại khái niệm tội phạm trong khoa học và sự thể hiện trong Bộ luật hình sự như thế nào. Bởi lẽ, với sự phát triển cao của công nghệ vật lý, công nghệ thông tin… có hành vi của con người và hành vi của rô-bốt thông minh siêu việt có thể thực hiện hành vi nguy hiểm vượt ra khỏi không gian ảo, ngoài trái đất, ở trên vũ trụ hay hành tinh khác… Xét riêng trí tuệ nhân tạo (AI) một mặt được thực hiện thông qua máy móc (một chủ thể nhân tạo là rô-bốt) có thể gây ra những thiệt hại không thể tính toán về mặt vật chất được và xâm phạm đến những khách thể (quan hệ xã hội) mới mà trước đây chưa được quy định là khách thể được pháp luật hình sự xác lập và bảo vệ. Cũng như thách thức tội phạm phi truyền thống đã nêu trên, thì ở đây, các khái niệm xung quanh “tội phạm” phải cần được nhân thức lại khi hành vi do rô-bốt thực hiện như: hành vi nguy hiểm cho xã hội đáng kể, điều kiện phải chịu trách nhiệm hình sự, không gian, thời gian, địa điểm (nơi) thực hiện hành vi phạm tội… có thể trên không gian ảo, ngoài trái đất, ở trên vũ trụ hay hành tinh khác…
b. Quan niệm về cấu thành tội phạm trong khoa học và sự thể hiện các dấu hiệu trong Bộ luật hình sự như thế nào. Từ khái niệm tội phạm, xuất phát từ bản chất của AI – được phản ánh qua hình thức nhân tạo – máy móc vì vậy trong tương lai khi máy móc thay đổi, có thể tự hoàn thiện bản thân mình, tự kiểm soát sự thể hiện của mình thông qua các thuật toán… tới mức siêu việt, tổ hợp trí tuệ của hàng tỷ dữ liệu, thì quan niệm về cấu thành tội phạm với các yếu tố truyền thống trước đây (khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm) sẽ như thế nào. Đặc biệt, đó là vấn đề khách thể của tội phạm (như: không gian ảo, ngoài trái đất, ở trên vũ trụ hay hành tinh khác…); vấn đề lỗi trong việc xác định trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm hình sự như trường hợp ô-tô không người lái của Google, pháp luật chưa có phương án giải quyết nên vẫn yêu cầu có người ngồi trên xe như một giải pháp dự liệu cho mục đích xác định trách nhiệm… . Ở mức độ khoa học viễn tưởng hơn nữa, trường hợp “khả năng tự nhận thức” của AI nếu dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng (ví dụ hệ thống điều khiển xe dẫn đến tai nạn đặc biệt nghiêm trọng, thì xác định lỗi, trách nhiệm pháp lý (hình sự) của người dùng, người giám sát, các nhà phát triển AI như thế nào…) trong quá trình xử lý…
c. Quan niệm về chế tài hình sự áp dụng đối với rô-bốt phạm tội thế nào. Rõ ràng, sự thay đổi trong quan niệm về chế tài hình sự là một điều tất yếu khi khái niệm tội phạm thay đổi để áp dụng đối với rô-bốt phạm tội. Trí tuệ nhân tạo là một thứ vô hình tồn tại trong một dạng thức hữu hình vậy đối tượng mà chế tài hình sự nhắm đến là trí tuệ nhân tạo hay là dạng thức vật chất đang chứa trong mình trí tuệ nhân tạo đó? Khi đó, hệ thống chế tài hình sự hiện hành đều trở nên lỗi thời và không thể áp dụng được với chủ thể mới này. Hệ quả tiếp theo là thủ tục tố tụng hình sự và thủ tục thi hành án sẽ phải thay đổi như thế nào, hệ thống cơ sở vật chất ra sao…
d. Khi AI dự báo sai lầm nghiêm trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Xét riêng trong pháp luật hình sự, việc có thể dự báo hành vi phạm tội và nhận dạng người phạm tội trong tương lai, nhưng mặt trái cũng song hành với nó, như việc thay đổi dự liệu, nhận diện sai – nhận dạng từ người cảnh sát, công dân bình thường thành người phạm tội, dẫn đến việc bắt, giữ xử lý nhầm, thậm chí có hoạt động ngăn chặn, xử lý chậm dẫn đến chết người…
đ. Khi AI phát triển siêu siêu việt dẫn đến việc phát triển các vũ khí giết người tự động, hiện đại, đe dọa an ninh và hòa bình khu vực, thế giới. Về khía cạnh tích cực, AI có thể được sử dụng với mục đích giúp chiến trường trở thành nơi an toàn hơn, giảm tối đa các thương vong cho binh sĩ. Tuy nhiên, cũng chính những mặt lợi này lại khiến nhiều chuyên gia, chính khách lo ngại hơn vì nó cũng sẽ giúp các nhà lãnh đạo quốc gia đi đến quyết định phát động chiến tranh nhanh hơn, quyết liệt hơn qua đó dễ gây ra hậu quả rất lớn đối với xã hội, đến tính mạng, sức khỏe của nhiều người… do xuất hiện vũ khí giết người tự động, hiện đại và hàng loạt. Do đó, phát sinh trách nhiệm, nghĩa vụ của các quốc gia trong việc ngăn chặn, phòng ngừa vấn đề này ra sao và cụ thể hóa trong chính sách, pháp luật hình sự quốc gia thế nào…
Như vậy, sự xuất hiện của rô-bốt thông minh nhân tạo – siêu rô-bốt (có thể gọi là điện tử nhân) với nhiều khả năng siêu việc và tương lại trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật và chủ thể của tội phạm, nếu thực hiện hành vi nguy hiểm xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người, xâm phạm đến an ninh, trật tự xã hội, đòi hỏi trong chính sách hình sự dự kiến về thách thức, mối đe dọa để phòng ngừa rô-bốt gây nguy hiểm cho con người, nhưng cũng có cơ chế kiểm soát, khống chế rô-bốt và bảo đảm sự an toàn cho xã hội loài người.
3.3. Xu hướng tội phạm hóa, hình sự hóa trong chính sách hình sự để ứng phó trước thách thức CMCN 4.0
Hiện nay, nội dung chủ yếu của các công ước quốc tế về các loại tội phạm phi truyền thống là quy định về nghĩa vụ tội phạm hóa (Criminalization) của các nước thành viên. Các công ước chỉ ra những hành vi mà mỗi quốc gia thành viên cần xác lập trong pháp luật hình sự của mình là tội phạm. Việc xác lập những hành vi là tội phạm trên tiêu chí chung thống nhất như vậy giúp cho các quốc gia thành viên đạt được sự tương thích về pháp luật và có cơ sở cho việc hợp tác thực hiện các hoạt động phát hiện, trấn áp và phòng ngừa các tội phạm phi truyền thống mà cộng đồng thế giới cùng lên án. Trong bối cảnh này, vấn đề đã nêu thể hiện ở việc tiếp tục tội phạm hóa những hành vi nguy hiểm phát sinh trong hoạt động công nghệ hoặc khai thác, sử dụng công nghệ hiện đại, sử dụng rô-bốt phạm tội…
Cùng với đó, là việc tiếp tục hình sự hóa qua việc ghi nhận các phương thức, thủ đoạn phạm tội mới trong mặt khách quan của tội phạm truyền thống do sử dụng công nghệ hiện đại, hay tăng cường mức độ trấn áp về hình sự các trường hợp sử dụng công nghệ để phạm tội… Cụ thể, trước đây, hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện theo phương thức, thủ đoạn phạm tội có đầy đủ yếu tố cấu thành tội phạm đã được quy định trong Bộ luật hình sự quốc gia, thường được thực hiện trên lãnh thổ phạm vi của quốc gia thì nay, thách thức về phương pháp, cách thức, thủ đoạn thực hiện các tội phạm thường thể hiện dưới dạng tội phạm có tổ chức, phạm tội nhiều lần và có tính chuyên nghiệp cao… với mạng lưới tội phạm từ khu vực đến toàn cầu, diễn ra trên nhiều nước và địa điểm khác nhau.
Ngoài ra, tiếp tục là việc hình sự hóa qua hoạt động lập pháp hình sự – bổ sung một số các biện pháp thực hiện trách nhiệm hình sự mới, thích đáng với đặc thù loại tội phạm mới và phòng ngừa tái phạm, các biện pháp trừng phạt liên quan đến phương diện hoạt động công nghệ (ví dụ: tịch thu tài khoản, dữ liệu; cấm truy cập…) hoặc hình phạt đối với rô-bốt (trí tuệ nhân tạo siêu việt) sẽ thế nào… (như đã đề cập).
3.4. Phát sinh vấn đề xác định an ninh không gian mạng là khách thể của tội phạm trong pháp luật hình sự
Hiện nay, trong thời đại toàn cầu hóa và trước thách thức CMCN 4.0, một quốc gia đơn lẻ chắc chắn không thể giải quyết được các vấn đề an ninh mạng, tội phạm mạng mà cần có sự hợp tác trên bình diện quốc tế, cũng như hệ thống pháp luật hình sự quốc gia cần có những quy định bảo đảm an toàn và bảo vệ kịp thời cho khách thể này, vì ngoài liên quan đến an ninh quốc gia, quốc phòng, nó còn liên quan đến các giá trị cơ bản của Internet, bao gồm cả tính riêng tư, tự do ngôn luận và tự do trao đổi thông tin… Luật An ninh mạng năm 2018 đã xác định: “Nhà nước áp dụng các biện pháp để bảo vệ không gian mạng quốc gia; phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng” (Điều 6) với hệ thống phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng bao gồm: Phòng ngừa, xử lý thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (Điều 16); phòng, chống gián điệp mạng; bảo vệ thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và đời sống riêng tư trên không gian mạng (Điều 17); phòng, chống hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội (Điều 18); phòng, chống tấn công mạng (Điều 19); phòng, chống khủng bố mạng (Điều 20); phòng ngừa, xử lý tình huống nguy hiểm về an ninh mạng (Điều 21)… Do đó, khách thể của tội phạm là “an ninh không gian mạng” cần được cụ thể hóa trong pháp luật hình sự quốc gia, tương ứng với điều đó, giá trị tài sản ảo cũng cần phải được nghiên cứu, công nhận là quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ…
3.5. Phát sinh việc xác định hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với tội phạm xảy ra trên không gian ảo và nơi thực hiện tội phạm
Trong quan niệm truyền thống, nơi thực hiện, nơi xảy ra hậu quả của tội phạm phải là một địa điểm cụ thể nào đó nhưng ở các tội phạm phi truyền thống trước thách thức CMCN 4.0 thì những điều đó có thể diễn ra ở một không gian ảo (không gian mạng thông tin). Không gian mạng hay không gian ảo (Ccyberspace) là nơi các máy tính trao đổi dữ liệu, thông tin. Không gian mạng được xem như một trải nghiệm xã hội, các cá nhân có thể tương tác, trao đổi ý kiến, chia sẻ thông tin, cung cấp hỗ trợ xã hội, đạo đức kinh doanh, hành động trực tiếp, tạo ra phương tiện truyền thông nghệ thuật, chơi trò chơi, tham gia vào các cuộc thảo luận chính trị, và như vậy, sử dụng mạng lưới toàn cầu này. Ngoài những thiệt hại là các giá trị vật chất, tinh thần như tội phạm truyền thống, các tội phi truyền thống còn có thể gây ra những thiệt hại bằng các giá trị ảo (các loại tài sản ảo mà việc thừa nhận hay không và quy chế pháp lý còn khác biệt ở các quốc gia). Chẳng hạn, đó là các hành vi lợi dụng sử dụng tiền ảo Bitcoin để phạm tội. Bitcoin là một loại tiền tệ kỹ thuật số được phát hành dưới dạng phần mềm mã nguồn mở. Bitcoin được phát hành năm 2009 bởi một nhân vật bí ẩn có biệt danh Satoshi Nakamoto. Đồng tiền ảo này có thể được trao đổi trực tiếp bằng thiết bị kết nối Internet mà không cần thông qua một tổ chức tài chính trung gian nào. Với những đặc tính quan trọng như ẩn danh, giao dịch không cần lệ phí nên nó ngày càng được nhiều người tin tưởng và chấp nhận. Bitcoin có độ bảo mật cao, xuất hiện và được phân chia hoàn toàn tự động dựa trên các thuật toán và ai cũng có thể sở hữu thông qua việc giải mã các phương trình toán học và đưa ra đáp án, hay còn gọi là “đào”. Hiện nay, bitcoin chưa được xem là hợp pháp nhưng cũng chưa có chế tài ngăn cấm. Ngân hàng Nhà nước mới chỉ đưa ra khuyến cáo các tổ chức, cá nhân không nên đầu tư, nắm giữ và thực hiện các giao dịch liên quan đến Bitcoin cũng như các loại tiền ảo tương tự để tránh rủi ro vì không có cơ chế bảo vệ quyền lợi. Liên quan tới định hướng quản lý đối với tiền ảo tại Việt Nam, ngày 21/8/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1255/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án hoàn thiện khung pháp lý để quản lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo”. Sau đó, ngày 11/4/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ký Chỉ thị 10/CT-TTg yêu cầu tăng cường quản lý các hoạt động liên quan tới Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác. Trong đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ngân hàng nhà nước chỉ đạo các tổ chức tín dụng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán không được thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền ảo trái pháp luật; tăng cường rà soát, báo cáo kịp thời các giao dịch đáng ngờ liên quan tới tiền ảo theo quy định pháp luật. Do đó, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, ngày 13/4/2018, Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã ban hành Chỉ thị số 02/CT-NHNN về “Các biện pháp tăng cường kiểm soát các giao dịch, hoạt động liên quan tới tiền ảo”, trong đó yêu cầu các tổ chức tín dụng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán không được cung ứng các dịch vụ thanh toán, thực hiện giao dịch thẻ, cấp tín dụng qua thẻ, hỗ trợ xử lý, thanh toán, chuyển tiền, bù trừ và quyết toán, chuyển đổi tiền tệ, thực hiện giao dịch thanh toán, chuyển tiền qua biên giới liên quan tới giao dịch tiền ảo cho khách hàng hàng do có thể phát sinh những rủi ro về rửa tiền, tài trợ khủng bố, gian lận, trốn thuế. Ngoài ra, cũng trong Chỉ thị 10/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ cũng có đề cập tới hoạt động đầu tư, mua bán tiền ảo, huy động vốn qua phát hành tiền ảo (ICO), đặc biệt là hoạt động sử dụng tiền ảo để huy động vốn theo phương thức đa cấp ngày càng diễn biến phức tạp, có nguy cơ ảnh hưởng đến sự ổn định thị trường tài chính, trật tự an toàn xã hội và có thể gây rủi ro lớn đối với tổ chức, cá nhân tham gia. Ngân hàng nhà nước cũng đã có cảnh báo nhiều lần về hình thức huy động vốn đa cấp tiền ảo. Cơ quan quản lý cũng nhấn mạnh việc những đồng tiền ảo như Bitcoin hay iFan không phải là đồng tiền thanh toán hợp pháp tại Việt Nam. Đồng nghĩa với việc phát hành, cung ứng, sử dụng Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác làm phương tiện thanh toán là hành vi bị cấm. Do đó, từ 01/01/2018, hành vi phát hành, cung ứng, sử dụng các phương tiện thanh toán không hợp pháp, bao gồm cả Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 206 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi năm 2017 về tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng.
Ngoài ra, về nơi thực hiện tội phạm (truyền thống), mặc dù Bộ luật hình sự năm 2015 đã bổ sung thêm đoạn 2 khoản 1 Điều 5 gián tiếp đề cập đến vấn đề này: “Quy định này cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam”. Tuy nhiên, để ứng phó trước thách thức CMCN 4.0, người viết cho rằng, so với chính sách, pháp luật hình sự các nước trên thế giới (ví dụ: Cộng hòa Liên bang Đức , Phần Lan ), rõ ràng quy định này vẫn chưa bao quát một số trường hợp xảy ra như trường hợp có đồng phạm, chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt… để giải quyết bài toán hành vi phạm tội gây hậu quả cho xã hội ở một hoặc nhiều nơi khác nhưng những hoạt động đã nêu lại không xử lý được khi bị phát hiện vì xảy ra ở nơi khác. Vì vậy, cần có định hướng, quy định xác định bổ sung các trường hợp trên cũng coi là “nơi thực hiện tội phạm” để thuận lợi cho thực tiễn áp dụng, phù hợp với chuẩn mực pháp luật quốc tế và pháp luật hình sự các nước, cũng như yêu cầu phòng và chống tội phạm, cũng như vì mục đích bảo vệ sự ổn định của hòa bình và an ninh nhân loại là trách nhiệm chung của các quốc gia trên thế giới.
3.6. Phát sinh vấn đề đổi mới chính sách, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự, hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan, yêu cầu tăng cường hợp tác quốc tế, cũng như công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Chính sách hình sự theo nghĩa rộng bao gồm chính sách pháp luật hình sự (luật nội dung), pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự và pháp luật về tổ chức và hoạt động của một số cơ quan tư pháp hình sự (luật hình thức), còn theo nghĩa hẹp được nghiên cứu trong bài viết này là chính sách pháp luật hình sự (TG). Do đó, khi đổi mới chính sách, pháp luật hình sự cũng có nghĩa đồng thời phải đổi mới chính sách, pháp luật pháp luật của các luật hình thức… trên cơ sở những định hướng cơ bản trong chính sách, pháp luật hình sự.
Cùng với đó, chính sách hình sự đặt ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực công nghệ thông tin như:
– Luật Công nghệ cao năm 2008, sửa đổi năm 2013, 2014;
– Luật Công nghệ thông tin năm 2006;
– Luật An ninh thông tin mạng năm 2015;
– Luật An ninh mạng năm 2018…
– Hệ thống các văn bản tạo hàng lang pháp lý điều chỉnh các lĩnh vực cụ thể như: trí tuệ thông tin, tiền ảo, công nghệ in 3D… tạo hệ thống toàn diện trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trước thách thức CMCN 4.0.
Ngoài ra, thường xuyên tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm với khu vực và toàn cầu như: hợp tác song phương, đa phương, tham gia các tổ chức phòng, chống tội phạm quốc tế nhằm từng bước tiếp cận, chuyển giao các công nghệ, kỹ năng phòng, chống tội phạm, nắm bắt kiến thức, công nghệ về sử dụng các phương tiện công nghệ, kinh nghiệm phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh chống tội phạm… Đặc biệt, cùng với đó, việc có chính sách liên quan đến xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác lập pháp, hành pháp và tư pháp ứng phó và xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật cũng là xu hướng cần triển khai sớm. Bởi lẽ, cùng với việc đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, phát triển và sử dụng thành thạo các ứng dụng khoa học và công nghệ trong công tác phòng, chống tội phạm, kết hợp với đầu tư kinh phí mua sắm, trang bị các phương tiện hiện đại để phát hiện, thu thập các loại tài liệu, chứng cứ điện tử… phục vụ công tác phát hiện, xử lý thì yêu cầu nâng cao trình độ, chuyên môn cho cán bộ là nhiệm vụ quan trọng để chủ động ứng phó, xử lý…
***
Tóm lại, Việt Nam có những điều kiện và cơ hội để tranh thủ, hưởng lợi từ CMCN 4.0 đem lại cho xã hôi, phục vụ con người và vì con người. Tuy nhiên, những thách thức trên và nhiều hơn nữa đang đặt ra đòi hỏi chính sách hình sự phải kịp thời có sự điều chỉnh, ứng phó và cụ thể hóa kịp thời trong Bộ luật hình sự quốc gia. Nghiên cứu đầu tiên này là khởi đầu để cho những nghiên cứu tiếp theo trong thời gian tới ở nước ta, qua đó, tiếp tục hoàn thiện chính sách hình sự và phục vụ hiệu quả việc áp dụng pháp luật hình sự, bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh toàn cầu hóa và CMCN 4.0 hiện nay./.
PGS.TS. TRỊNH TIẾN VIỆT (Phó Chủ nhiệm Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội)
Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
* Tiếng Việt
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2016.
[2] Nguyễn Thị Quế Anh, Ngô Huy Cương (đồng chủ biên), Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với cải cách pháp luật Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2018.
[3] Chính phủ, CÔNG BÁO/Số 299 + 300, ngày 25/4/2016.
[4] Lê Văn Cảm, Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự(Phần chung), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.
[5] Klaus Schwab, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018.
[6] Hồ Trọng Ngũ, Một số vấn đề cơ bản về chính sách hình sự dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.
[7] Quốc hội, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017.
[8] Quốc hội, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
[9] Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội, 2011.
[10] Đào Trí Úc, Luật hình sự Việt Nam (Quyển 1 – Những vấn đề chung), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000.
[11] Trịnh Tiến Việt, Tội phạm và trách nhiệm hình sự, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2013.
[12] Trịnh Tiến Việt (chủ biên), Pháp luật hình sự Việt Nam trước thách thức an ninh phi truyền thống, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019.
[13] Kevin Kelly, 12 xu hướng công nghệ trong thời đại 4.0, Khánh Linh dịch, Nxb. Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 2018.
[14] Ajay Agrawal, Joshua Gans, Avi Goldfarb, AI trong cuộc cách mạng Công nghệ 4.0, Đào Lợi dịch, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2018.
* Tiếng Trung
[15] 許福生著, 刑事政策學 (Chính sách hình sự), 元照出版公司, 2017.
* Tiếng Anh
[16] Paul Schiff Berman, The Globalization of Jurisdiction, University of Pennsy Ivania Law Review, Vol.151, 2002.
[17] Klaus Schwab, The fourth industrial revolution: What it means, how to respond, World Economic Forum, Geneva, 2016.
[18] Matilda Claussén-Karlsson, Artificial Intelligence and the External Element of the Crime: An Analysis of the Liability Problem, JU101A, Final Thesis for the Law Program, Second Cycle, 30 Credits, Spring 2017.
[19] David Harvey, The Condition of Postmodernity, an enquiry into the origins of cultural change, Oxford; Cambridge: Blackwell, 1989 trích dẫn bởi Robert John Holton, Globalization and the Nation-State. London: Macmillan Press, 1989.
* Website
[20] http://vnu.edu.vn/ttsk/, Nguyễn Đình Đức, Nhật Bản bắt đầu xây dựng xã hội 5.0, truy cập ngày 01/5/2019.
[21] https://www.finlex.fi/en/laki/kaannokset/1889/en18890039.pdf, truy cập ngày 01/5/2019.
[22] http://daibieunhandan.vn/, Thái Anh, Luật cho trí tuệ nhân tạo, truy cập ngày 01/5/2019.
[23] https://hatgiongtamhon.vn/, Vũ T. Hương, Trung Quốc dùng trí tuệ nhân tạo để quản lý nhà tù, truy cập ngày 01/5/2019.
[24] https://www.pavietnam.vn/, TTCN, Phòng, chống tội phạm hữu hiệu nhờ công nghệ, , truy cập ngày 01/5/2019.
[25] https://www.24h.com.vn/, Trà My, Tác hại khôn lường của rô-bốt tình dục, truy cập ngày 01/5/2019.
[26] https://news.zing.vn/, Đức Nam, Dùng drone để vận chuyển ma túy qua biên giới, truy cập ngày 01/5/2019.
[27] http://kenh14.vn/, Tiến Phúc, Năm cảnh báo đáng sợ về thảm họa trí tuệ nhân tạo AI trong tương lai, , truy cập ngày 01/5/2019.
[28] http://vi.sblaw.vn/, VnReview, Trí tuệ nhân tạo đánh bại 20 luật sư hàng đầu nước Mỹ, truy cập ngày 01/5/2019.
[29] https://phapluatvacmcn4.vn/, Kế hoạch ứng phó cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ tư của Hàn Quốc, truy cập ngày 01/5/2019.
[30] Anh Tuấn, Áp dụng trí tuệ nhân tạo trong phòng, chống tham nhũng toàn cầu, https://tapchimattran.vn, truy cập ngày 28/5/2019.

Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo luật Hình sự Việt Nam – Lý luận và thực tiễn

Việc quy định tội phạm nói chung và các tội xâm phạm tình dục nói riêng trong Bộ luật hình sự Việt Nam đóng vai trò rất quan trọng vì các quy định đó đã góp phần bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cũng như góp phần vào công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên trong những năm gần đây số lượng các vụ án xâm phạm tình dục lại có xu hướng tăng về số lượng cũng như tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Để khắc phục những tồn tại, vướng mắc trong quy định và áp dụng pháp luật về các tội xâm phạm tình dục trong thời gian vừa qua, góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự trong thời gian tới, nhằm đáp ứng được nhu cầu, đấu tranh phòng chống nhóm tội phạm này thì việc nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề lý luận, quy định về các tội xâm phạm tình dục, làm rõ những ưu điểm cũng như hạn chế, bất cập trong những quy định và thực tiễn áp dụngnhóm tội phạm này, từ đó có cơ sở để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện các quy định về các tội xâm phạm tình dục trong pháp luật hình sự Việt Nam là điều cần thiết.

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.1.1. Hiếp dâm

Là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân trái với ý muốn của họ.

1.1.2. Giao cấu

Là giao tiếp bộ phận sinh dục ngoài của giống đực vào bộ phận sinh dục của giống cái ở động vật[3].
Có rất nhiều cách hiểu về giao cấu nhưng theo chúng tôi để dễ hiểu và phù hợp với tính chất pháp lý thì giao cấu là hành vi đưa bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ.

1.1.3. Những hành vi quan hệ tình dục khác

Đây là một cụm từ gây ra rất nhiều tranh cãi trong Bộ luật Hình sự năm 2015. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng rất khó xác định như thế nào là hành vi quan hệ tình dục khác cũng như xác định khi có hành vi xảy ra thực tế trong vụ án. Từ đó, dễ dẫn đến oan, sai.
Qua nghiên cứu một số tài liệu, chúng tôi nhận thấy rằng những hành vi quan hệ tình dục khác với giao cấu là những hành vi quan hệ tình dục qua đường hậu môn, đường miệng và thủ dâm.

1.2. Dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

1.2.1. Định nghĩa
Hiếp dâm người dưới 16 tuổi được hiểu là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến người dưới 16 tuổi trái ý muốn của họ hoặc giao cấu, thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới mười ba tuổi.
1.2.2. Dấu hiệu pháp lý
Đối với nạn nhân từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì phải xác định việc giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân, còn đối với nạn nhân dưới 13 tuổi thì dù nạn nhân có đồng ý hay không đồng ý giao cấu thì người phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm trẻ em.
Việc nhà làm luật quy định nạn nhân dưới 13 tuổi dù có đồng ý để người phạm tội giao cấu thì hành vi giao cấu này vẫn bị coi là phạm tội xuất phát từ luận điểm: ở độ tuổi dưới 13 trẻ em còn hết sức non nớt, yếu ớt, chưa có khả năng biểu lộ ý chí đúng đắn, dễ bị người khác lôi kéo, rủ rê, mua chuộc, khó có thể tự vệ được, nên cần được bảo vệ một cách đặc biệt nhằm bảo đảm sự phát triển bình thường, lành mạnh của các em mà cần phải trừng trị thật nghiêm khắc đối với hành vi xâm phạm tình dục đối với các em.
Tuổi của nạn nhân (người bị hiếp) là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Việc xác định tuổi của người bị hại trên cơ sở giấy khai sinh của họ nếu trường hợp mất giấy khai sinh hoặc không có giấy khai sinh thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng tất cả các biện pháp có thể được, để xác định tuổi thật của người bị hại. Cuối cùng nếu không còn cách nào để xác định tuổi thật của người bị hại, thì theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội, tuổi của người bị hại sẽ được xác định như sau: Nếu chỉ biết tháng và năm sinh thì lấy ngày đầu tiên của tháng đó làm ngày sinh của người bị hại. Ví dụ: Chỉ biết người bị hại sinh vào tháng 05-1986, thì lấy ngày 01-05-1986 là ngày sinh của người bị hại; nếu chỉ biết năm sinh mà không biết ngày tháng thì lấy ngày đầu của tháng đầu tiên trong năm đó làm ngày sinh của người bị hại để tính tuổi. Ví dụ: Chỉ biết người bị hại sinh năm 1985 thì lấy ngày 01-01-1985 là ngày sinh của người bị hại.
Ngoài dấu hiệu về tuổi thì để cấu thành tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi thì đòi hỏi phải có đủ 4 yếu tố cấu thành tội phạm: mặt khách quan, mặt khách thể, mặt chủ quan, mặt chủ thể.
1.2.2.1. Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội này bao gồm các dấu hiệu như sau:
Thứ nhất, có hành vi dùng vũ lực. Việc dùng vũ lực có thể được thực hiện bằng các hình thức sau: thực hiện trực tiếp bằng tay, chân như đấm, đá, bóp cổ, xé quần áo,…; thực hiện gián tiếp thông qua các công cụ vật chất như dùng dao dâm, chém, dùng gập để đập, dùng dây trói,… nhằm khống chế lại sự chống cự của nạn nhân để thực hiện hành vi giao cấu hoặc các hành vi quan hệ tình dục khác.
Thứ hai, có hành vi đe dọa dùng vũ lực. Được hiểu là những hành vi uy hiếp tinh thần của nạn nhân làm cho nạn nhân khiếp sợ, tê liệt ý chí kháng cự. Việc đe dọa dùng vũ lực có thể là các hành vi dọa đánh, đập, dọa trả thù, dọa giết nạn nhân, người thân của nạn nhân,….
Thứ ba, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân. Tức là lợi dụng tình trạng nạn nhân đang có những nhược Điểm, khuyết Điểm về thể chất, tinh thần như bị ngất xỉu, bị bại liệt, bị mù lòa, bệnh tật, tâm thần,…để thực hiện hành vi giao cấu hoặc các hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân. Lúc này nạn nhân không có khả năng kháng cự lại hoặc không biết được hành vi phạm tội của người phạm tội.
Thứ tư, là có những thủ đoạn khác để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân. Là các thủ đoạn, các hành vi mà người phạm tội thực hiện nhằm đưa nạn nhân vào tình trạng mất khả năng nhận thức, kiểm soát được hành vi hay đưa nạn nhân vào tình trạng mê man, mất khả năng kháng cự để thực hiện hành vi giao cấu hoặc các hành vi quan hệ tình dục khác mà không được sự đồng ý của họ như cho uống thuốc kích dục, thuốc ngủ, thuốc mê, ép hít ma túy, chuốc say,… Các hành vi khách quan nêu trên chỉ được xem xét đối với các vụ mà nạn nhân từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Còn trong trường hợp nạn nhân là người dưới 13 tuổi thì không nhất thiết phải có một trong các hành vi nêu trên mới cấu thành tội hiếp dâm người 16 tuổi mà chỉ cần có hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác đối với người dưới 13 tuổi thì đã thỏa mãn mặt khách quan của tội này.
Cuối cùng, là trái với ý muốn của người bị hại. Đây là một dấu hiệu hết sức quan trọng mà thực tiễn xét xử không ít trường hợp khó xác định, vì về phía người bị hại, trong một số trường hợp do nhiều nguyên nhân khác nhau đã khai với các cơ quan tiến hành tố tụng không đúng với trạng thái tâm lýcủa mình, có người do có sự thoả thuận nhưng lại khai với nhà chức trách là mình bị hiếp, ngược lại có người bị hiếp thật, nhưng bị người phạm tội mua chuộc lại khai là có sự thoả thuận. Thông thường khi xác định tội phạm người ta xét đến ý thức chủ quan của người phạm tội, nhưng đối với tội hiếp dâm, thì ý thức chủ quan của người bị hại lại là vấn đề rất quan trọng để xác định có tội hay không có tội.
Để xác định việc giao cấu có trái với ý muốn của người bị hại hay không, ngoài lời khai của người bị hại, chúng ta còn phải căn cứ vào nhiều yếu tố khác như: mối quan hệ giữa hai người, thủ đoạn thực hiện tội phạm, hoàn cảnh cụ thể khi xảy ra việc giao cấu, nhân thân của cả hai người, ý kiến nhận xét của những cơ quan, tổ chức xã hội nơi hai người công tác, của bạn bè, của cha mẹ và các tình tiết khác của vụ án, tránh chủ quan phiến diện. Chỉ khi nào chứng minh việc giao cấu đó là trái với ý muốn của người bị hại (người phụ nữ) thì người có hành vi giao cấu (người đàn ông) mới bị coi là phạm tội hiếp dâm.
Dấu hiệu trái với ý muốn của người bị hại là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội hiếp dâm, nhưng dấu hiệu này chỉ có ý nghĩa đối với trường hợp người bị hại từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, còn đối với trường hợp người bị hại chưa đủ 13 tuổi thì dù có trái ý muốn hay không, người có hành vi giao cấu với họ đều là phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi.
Trong trường hợp người phạm tội không thể tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do sự chống trả, kháng cự quyết liệt của người bị hại, sự phát hiện hoặc có nguy cơ bị phát hiện bởi người khác,…thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này trong trường hợp phạm tội chưa đạt.
1.2.2.2. Mặt khách thể
Hành vi phạm tội đã xâm phạm đến quyền được bảo vệ thân thể, nhân phẩm, danh dự của người dưới 16 tuổi.
Hành vi nêu trên xâm phạm đến sức khỏe (bao gồm sứ khỏe về thể chất và sức khỏe về tinh thần), tính mạng của nạn nhân là người dưới 16 tuổi, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến thuần phong mỹ tục đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển bình thường về tâm, sinh lí của người dưới 16 tuổi.
1.2.2.3. Mặt chủ quan
   Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Tức người phạm tội nhận thức rõ về hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả đó xảy ra (đối với lỗi cố ý trực tiếp) hoặc không mong muốn hậu quả đó xảy ra nhưng cố tình để mặc cho hậu quả xảy ra (đối với lỗi cố ý gián tiếp).
Yếu tố động cơ và mục đích không bắt buộc phải có trong tội phạm này. Tuy nhiên, trong một vụ án thực tế về hiếp dâm người dưới 16 tuổi nếu tồn tại yếu tố động cơ và mục đích thì cần được xác định để làm rõ tính chất của vụ việc, ý đồ, mong muốn của người phạm tội. Từ đó, có hướng xử lí đúng đắn, triệt để, xác định hình phạt cụ thể.
1.2.2.4. Mặt chủ thể
Chủ thể của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là bất kì người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Mặc dù trong quy định của pháp luật không chỉ rõ chủ thể thực hiện hành vi này là nam hay nữ nhưng dựa trên thực tế hoàn cảnh và quá trình xét xử của Tòa án thì chủ thể ở đây chỉ có thể là nam thực hiện với nạn nhân là nữ. Còn chủ thể nữ sẽ bị truy cứu tội này với tư cách là người đồng phạm. Tuy nhiên trong khoa học pháp lý hình sự vẫn tồn tại hai lối suy nghĩ khác nhau về vấn đề này.
Quan Điểm thứ nhất cho rằng: chủ thể của Tội hiếp dâm là chủ thể đặc biệt chỉ có thể là nam giới. Còn nữ giới có thể đóng vài trò là đồng phạm trong tội này[4]. Quan Điểm thứ hai cho rằng: Chủ thể của tội hiếp dâm trẻ là là bất cứ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự[5].
Giải thích tại sao quan Điểm thứ nhất được đa số các nhà học luật đồng ý. xuất phát từ đặc điểm cấu trúc tâm sinh lý của bộ phận sinh dục cũng như cơ chế sinh lý khi giao hợp của nam giới và nữ giới có sự khác nhau đó là “nam cương nữ nhu” cho nên để có thể thực hiện được hành vi giao cấu trên thực tế thì cần phải có sự chủ động của nam giới. Khi thực hiện hành vi giao cấu mà người phụ nữ không đồng ý thì nam giới vẫn thực hiện được hành vi nếu như họ muốn. Muốn thực hiện hành vi giao cấu trên thực tế thì cần có sự cương dương của nam giới, “đây là một quá trình có sự tham gia của nhiều yếu tố như thần kinh, nội tiết, tâm lý… trong đó ham muốn đóng vai trò quan trọng”[6]. Còn nếu nam giới không đồng ý thì nữ giới không thể thực hiện được hành vi giao cấu. Bên cạnh đó trong thực tế những trường hợp nữ giới thực hiện hành vi giao cấu trái với ý muốn của nam giới hầu như là không có, chính vì vậy quan Điểm cho rằng chủ thể của Tội hiếp dâm chỉ là nam giới còn nữ giới chỉ có thể là người đồng phạm nhưng không thể tham gia với vai trò là người thực hành là quan Điểm phù hợp hơn cả trong những năm vừa qua.
Tuy nhiên cần phải nhìn nhận một cách tích cực về quan Điểm này. Bởi vì luồn quan Điểm được đa số mọi người đồng ý khá thuyết phục đối với việc quy định về tội phạm hiếp dâm trẻ em được các Bộ luật Hình sự năm 1999 trở về trước quy định còn đối với việc ghi nhận về tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi được Bộ luật Hình sự năm 2015 rõ ràng đã mở rộng hơn và chắc chắn phải mở rộng về chủ thể của tội phạm này. Theo đó, Bộ luật Hình sự 2015 đã ghi nhận thêm cụm từ “thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác”, như đã giải thích ở trên thì những hành vi quan hệ tình dục khác rất đa dạng chẳng hạn như quan hệ tình dục qua đường miệng, đường hậu môn, thủ dâm,… những hành vi này thì bất kì chủ thể là nam hay nữ đều có thể thực hiện được. Mặc khác, thời gian gần đây vô số các trường hợp trẻ em là nam bị nam, nữ xâm hại tình dục hoặc trẻ em là nữ bị nữ xâm hại tình dục đã xảy rất phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn nhiều nước trên thế giới. Xuất phát từ sự phát triển của cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới hiện nay, nhóm người này có đời sống tình dục vô cùng đa dạng, phong phú và họ thường thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác ngoài giao cấu. Chính vì lẽ đó lối giải thích theo hướng chủ thể của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi chỉ là nam đã quá cũ và không còn phù hợp với việc quy định của Bộ luật Hình sự 2015 và thực tế hiện nay.
Thêm nữa, đối với trường hợp giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác có sự đồng ý của nạn nhân (thuận tình) dưới 13 tuổi thì cả nam và nữ đều có thể thực hiện được các hành vi này. Vì trong trường hợp này có sự chủ động của hai bên thì nữ giới vẫn có thể thực hiện được hành vi phạm tội. Tại Điểm a, Khoản 1, Điều 142, Bộ luật Hình sự 2015 quy định rằng: “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi”, rõ ràng ở điều luật này không cầu điều kiện phải trái ý muốn của người dưới 13 tuổi thì mới phạm tội hiếp dâm. Tức là nếu có hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi thì dù thuận tình hay không thuận tình thì vẫn phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Vì thế nếu loại chủ thể là nữ ra khỏi tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là một điều bất hợp lí.
Vì thế, tác giả hoàn toàn ủng hộ hướng nhìn nhận chủ thể của tội hiếp dâm nói chung và hiếp dâm người dưới 16 tuổi nói riêng là bất cứ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
1.2.3 Hình phạt
1.2.3.1. Khung một (Khoản 1)
   Có mức phạt tù từ 7 năm đến 15 năm. Được áp dụng đối với người có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm này đã thực hiện hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ hoặc với người dưới 13 tuổi.
1.2.3.2. Khung hai (Khoản 2)
Có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm. Được áp dụng đối với một trong các trường hợp cụ thể sau đây:
– Có tính chất loạn luân (Điểm a). Được hiểu là người phạm tội đã hiếp dâm người dưới 16 tuổi là người có cùng dòng máu về trực hệ (như giữa cha mẹ với con cái; giữa ông bà nội, ngoại với cháu nội, ngoại) hoặc là người có quan hệ ruột thịt như anh, chị, em cùng cha mẹ; anh, chị, em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha.
– Làm nạn nhân có thai (Điểm b). Hiếp dâm mà làm nạn nhân có thai là do hành vi hiếp dâm của người phạm tội mà nạn nhân có thai, tức là cái thai của nạn nhân là kết quả của việc giao cấu giữa người phạm tội với nạn nhân. Nếu nạn nhân tuy có bị hiếp dâm nhưng việc nạn nhân có thai lại là kết quả của việc giao cấu giữa nạn nhân với người khác thì người phạm tội hiếp dâm không phải chịu tình tiết “làm nạn nhân có thai”. Nói chung thực tiễn xét xử trường hợp phạm tội này thường xảy ra đối với người phạm tội thực hiện hành vi giao cấu với người bị hại nhiều lần, người phạm tội không từ chối cái thai trong bụng nạn nhân là của mình, nên rất ít khi phải trưng cầu giám định. Tuy nhiên, kết quả giám định cũng không phải chứng cứ duy nhất để xác định cái thai trong bụng nạn nhân có phải là của người phạm tội không. Vì vậy, để xác định nạn nhân có thai có đúng là do hành vi hiếp dâm gây ra không, cần phải đánh giá một cách khách quan toàn diện; chỉ khi nào có đủ căn cứ xác định nạn nhân có thai là do hành vi hiếp dâm gây ra thì người phạm tội hiếp dâm mới phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điểm b Khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự.
– Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% (Điểm c). Trong quá trình thực hiện hành vi nếu người phạm tội đã sử dụng vũ lực tác động lên người nạn nhân hay do bị hiếp dâm mà nạn nhân ốm đau nặng, mắc các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục,…được cơ quan giám định nạn nhân có tỷ lệ tổn thương từ 31% đến 60% thì áp dụng Điểm này. Sau khi bị xâm hại nạn nhân có thể bị ám ảnh bởi các hành vi đồi bại của người phạm tội từ đó dẫn đến trầm cảm, tự kỉ, rối loạn tâm thần ở mức độ nhẹ mà kết quả của cơ quan giám định cho thấy tỷ lệ tổn thương từ 31% đến 60% thì áp dụng điểm này. Vấn đề hậu quả của hành vi hiếp dâm gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân là một dấu hiệu mới, được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
– Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bện (Điểm d). Người phạm tội và người bị hại trong trường hợp này phải có mối quan hệ, trong đó người phạm tội có nghĩa vụ đối với người bị hại. Nghĩa vụ này xuất phát từ quan hệ chăm sóc như người nuôi dưỡng đối với người được nuôi dưỡng, quan hệ giáo dục như thầy giáo đối với học sinh, quan hệ chữa bệnh như thầy thuốc đối với bệnh nhân,…Khi xét đến các quan hệ này, cần chú ý là chỉ khi nào hành vi phạm tội của người có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh đã lợi dụng sự chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh để hiếp dâm người được chăm sóc, được giáo dục hoặc được chữa bệnh thì mới thuộc trường hợp phạm tội này, nếu hành vi hiếp dâm không liên quan đến việc chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh thì không thuộc trường hợp phạm tội này.
– Phạm tội hai lần trở lên (Điểm đ). Được hiểu là có tất cả hai lần phạm tội trở lên mà mỗi lần phạm tội có đầy đủ yếu tố cấu thành tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Đồng thời trong các lần phạm tội đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và đang còn trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Cũng được xem là phạm tội hai lần trở lên trong trường hơp người phạm tội hiếp dâm từ hai lần trở lên đối với cùng một nạn nhân là người dưới 16 tuổi.
– Đối với hai người trở lên (Điểm e). Là trường hợp một người đã hiếp dâm từ hai người trở lên hoặc nhiều người cùng hiếp dâm từ hai người trở lên. Đây là trường hợp có nhiều người bị hiếp, trong đó ít nhất mỗi người bị hiếp một lần, còn người phạm tội có thể là một người hoặc nhiều người. Vì vậy khi xác định hành vi phạm tội, các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải phân biệt:
Nếu có một người hiếp dâm từ hai người trở lên và tất cả nạn nhân chỉ bị hiếp một lần, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điểm e Khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự.
Nếu có một người hiếp dâm từ hai người trở lên, trong đó có nạn nhân bị hiếp một lần, có nạn nhân bị hiếp nhiều lần, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo cả hai Điểm đ và Điểm e Khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự.
Nếu có nhiều người phạm tội (phạm tội có tổ chức hoặc là đồng phạm thông thường), trong đó có nhiều người bị hiếp nhưng tất cả nạn nhân chỉ bị hiếp một lần thì tất cả người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điểm e Khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự. Nếu là phạm tội có tổ chức thì còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điểm a Khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự. Nếu có một người bị hai người trở lên hiếp thì còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điểm b Khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự.
– Tái phạm nguy hiểm (Điểm g). Người phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi bị coi là tái phạm nguy hiểm nếu đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi thuộc một các trường hợp quy định tại Khoản 1, Khoản 2 hoặc Khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự. Hoặc đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi.
1.2.3.3. Khung ba (Khoản 3)
Có mức phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Được áp dụng đối với một trong các trường hợp phạm tội sau đây:
– Có tổ chức (Điểm a). Hiếp dâm người dưới 16 tuổi có tổ chức cũng như trường hợp phạm tội có tổ chức khác. Các dấu hiệu của phạm tội có tổ chức được quy định tại Khoản 2 Điều 17 Bộ luật Hình sự. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Khái niệm đồng phạm được Bộ luật Hình sự nước ta ghi nhận tại Điều 17 với định nghĩa là “có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm”, nhưng phạm tội có tổ chức lại là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ hơn; Phạm tội có tổ chức bao gồm nhiều người cùng tham gia, trong đó có người tổ chức, người thực hành, người xúi dục, người giúp sức. Đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi có tổ chức, hiện hành vi hiếp dâm một người dưới 16 tuổi. Cũng được xem là nhiều người cùng hiếp dâm một người trong trường hợp có hai người trở lên bàn bạc với nhau là tất cả sẽ thay phiên nhau hiếp dâm một người, nhưng trong quá trình thực hiện tội phạm thì chỉ một hoặc một số người thực hiện hành vi hiếp dâm.
Trong trường hợp có từ hai người trở lên cấu kết chặt chẽ với nhau để tổ chức, giúp sức cho một người trong số họ hiếp dâm thì không được xem là nhiều người hiếp dâm một người mà là trường hợp phạm tội có tổ chức. Nhưng nếu trong trường hợp này có hai người trở lên cùng thực hiện hành vi hiếp dâm thì những người này đồng thời phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự với hai trường hợp: phạm tội có tổ chức và nhiều người hiếp dâm một người theo Điểm a, b Khoản 3 của điều luật này.
– Phạm tội đối với người dưới 10 tuổi (Điểm c). Đây là một điểm hoàn toàn mới được Bộ luật Hình sự ghi nhận. Thấy rõ mức độ nguy hiểm và đối tượng phạm tội cần phải được pháp luật trừng trị một cách nghiêm khắc nhất nên các nhà làm luật đã ghi nhận điều này. Việc ghi nhận rõ đối với người dưới 10 tuổi của các nhà làm luật cũng cho ta thấy rõ được đây là trường hợp cần phải được đặc biệt quan tâm và bảo vệ. Hành vi hiếp dâm người dưới 10 tuổi là hành vi phạm tội mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng, phải chịu hình phạt thích đáng nhất. Nguyên tắc áp dụng Điểm này là khi xử phạt người phạm tội nếu độ tuổi của nạn nhân càng nhỏ thì mức án mà người phạm tội phải gánh chịu càng cao.
– Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên (Điểm d). Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp hiếp dâm người dưới 16 tuổi gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự, chỉ khác nhau ở chỗ, tỷ lệ thương tật của nạn nhân trong trường hợp này là từ 61% trở lên và người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điểm d Khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt hai mươi năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Gây rối loan tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên cũng là một điểm mới được Bộ luật Hình sự ghi nhận. Hậu quả của hành vi hiếp dâm của người phạm tội rất có thể để lại dư chấn nặng nề trong tinh thần và hành vi của nạn nhân như tâm thần, rối loạn nhận thức,…Việc xác định mức độ còn phụ thuộc vào kết quả giám định của cơ quan y tế có chuyên môn. Quy định điều này cho thấy rằng nếu mức độ hậu quả mà người phạm tội mang lại cho bị hại càng cao thì hình phạt mà người phạm tội phải gánh chịu càng nặng.
– Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội (Điểm đ). Người phạm tội biết mình nhiễm HIV mà vẫn hiếp dâm, tức là cố ý lây truyền HIV cho người khác bằng hành vi hiếp dâm, làm cho tính chất và mức độ của hành vi hiếp dâm nguy hiểm hơn nhiều so với trường hợp hiếp dâm bình thường.
Khi áp dụng tình tiết này đối với người phạm tội cần chú ý một số điểm như sau:
Nếu có căn cứ cho rằng người phạm tội biết mình nhiễm HIV mà vẫn hiếp dâm thì mới áp dụng tình tiết này, nếu người phạm tội bị niễm HIV thật nhưng họ hoàn toàn không biết, sau khi phạm tội cơ quan Y tế mới xét nghiệm thấy người phạm tội bị nhiễm HIV thì không áp dụng tình tiết này đối với người phạm tội. Đây là tình tiết thuộc ý thức chủ quan của người phạm tội, nên các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải xác định người phạm tội biết rõ mình bị nhiễm HIV thì mới thuộc trường hợp này.
– Làm nạn nhân chết hoặc tự sát (Điểm e). Xét trường hợp này ở hai khía cạnh.
Thứ nhất, làm nạn nhân chết. Đây là trường hợp nạn nhân do bị hiếp dâm mà chết. Đây là trường hợp do bị bị hiếp cùng với tuổi nhỏ, sức chịu đựng của nạn nhân yếu mà dẫn đến chết, thông thường trường hợp này xảy ra đối với nhiều người cùng hiếp một người. Nếu nạn nhân bị chết không phải là do bị hiếp mà do nguyên nhân khác thì không thuộc trường hợp phạm tội này mà tuỳ trường hợp cụ thể mà người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi và tội phạm tương ứng với hành vi làm cho nạn nhân bị chết. Nếu hành vi của người phạm tội có đủ dấu hiệu của tội giết người thì truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người và tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Trong trường hợp nếu lúc đầu người phạm tội đã dùng vũ lực đối với nạn nhân, sau đó thực hiện hành vi hiếp dâm rồi bỏ mặc dẫn đến nạn nhân chết thì không xem là hiếp dâm người dưới 16 tuổi làm nạn nhân chết mà người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội giết người và hiếp dâm người dưới 16 tuổi.
Thứ hai, làm nạn nhân tự sát. Cần xác định rõ ở đây có phải nguyên nhân của việc nạn nhân tự sát là do bị hiếp dâm hay không. Tuy nhiên để xác định điều này thì không phải là một chuyện dễ dàng. Nạn nhân của tội hiếp dâm chủ yếu là phụ nữ, đặc biệt nạn nhân cụ thể ở đây là người dưới 16 tuổi, một độ tuổi quá nhỏ để nhận thức đúng đắn một vấn đề, luôn có những suy nghĩ lệch lạc, nông cạn và bồng bột trong tư duy. Mặc khác sự ám ảnh bởi những hành vi đáng sợ mà người phạm tội gây ra, sự mặc cảm, e ngại với gia đình, bạn bè cùng với chế độ phong tục tập quán còn mang nặng sự trinh tiết. Tất cả những điều này rất dễ làm nạn nhân nghĩ quẩn mà tự sát. Đây cũng là đặc điểm của tội hiếp dâm nói chung và hiếp dâm người dưới 16 tuổi nói riêng ở nước ta mà các cơ quan tiến hành tố tụng phải thận trọng khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, nếu xét thấy cần thiết thì phải xét xử kín để giữ cho nạn nhân tránh khỏi những dị nghị gây bất lợi cho họ.
Cần hiểu rằng nếu nguyên nhân dẫn đến việc nạn nhân tự sát là do bị hiếp dâm thì áp dụng Điểm này, còn việc nạn nhân tự sát có dẫn đến hậu quả làm nạn nhân chết hay không, không phải là dấu hiệu bắt buộc để xác định tình tiết phạm tội này. Tuy nhiên nếu nạn nhân tự sát và dẫn đến chết thì mức hình phạt sẽ cao hơn trường hợp nạn nhân tự sát mà không chết.
1.2.3.4. Khung bốn (Khoản 4)
Người phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm. Đây là hình phạt bổ sung đi kèm với hình phạt chính. Người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính tuy nhiên có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.
1.2.4. Trách nhiệm dân sự
Ngoài các hình phạt mà người phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi phải gánh chịu theo quy định của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nạn nhân hoặc thân nhân của nạn nhân bao gồm các thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm hay thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm và thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm nếu có thiệt hại xảy ra trên thực tế theo quy định của Điều 590, 591,592 Bộ luật Dân sự 2015.
Thông qua Chương 1 đã làm rõ những khái niệm cơ bản đến phân tích rõ về các dấu hiệu pháp lý, hình phạt cho đến tìm hiểu những quy định về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trong Bộ luật Hình sự Việt Nam qua các thời kì và một số nước trên thế giới. Chương này đã cho chúng ta nhận thây những ưu, nhược Điểm về việc ghi nhận tội phạm này trong Bộ luật Hình sự Việt Nam. Thấu hiểu những khía cạnh khác nhau của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tất cả những điều đó là nền tảng để nghiên cứu sâu hơn về thực tiễn áp dụng và đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tội danh này.

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

2.1. Thực tiễn áp dụng các quy định trong Bộ luật Hình sự hiện hành về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm xâm phạm tình dục đang có chiều hướng gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp. Có thể thấy rằng sự hợp lý của một điều luật hay bộ luật không chỉ được phản ánh thông qua nội dung được quy định trong luật mà còn được đánh giá thông qua thực tiễn áp dụng điều luật đó. Chính vì vậy khi xem xét, đánh giá các tội xâm phạm tình dục trong Bộ luật Hình sự thì cần thiết phải xem xét các tội phạm này được áp dụng trên thực tế như thế nào. Đây là bảng số liệu thống kê tình hình tội phạm xâm phạm tình dục trong những năm gần đây:

Năm    2008    2009    2010    2011    2012   2013
Tộidanh SốVụ
án
 Số
Bị
Cáo
 
SốVụ
án
 Số
Bị
Cáo
 
SốVụ
án
 Số
Bị
Cáo
 
SốVụ
án
 Số
Bị
Cáo
 
SốVụ
án
 Số
Bị
Cáo
 
SốVụ
án
 Số
Bị
Cáo
 
Tộihiếp
dâm
(Điều
111)
322 468 322 511 272 416 282 405 285 416 332 430
Tộihiếp
dâm
trẻ em
(Điều
112)
595 677 488 559 483 562 498 561 558 651 656 751
Tộicưỡng
dâm
(Điều
113)
5 5 4 4 7 19 4 9 4 17 7 7
Tộicưỡng
dâm
trẻ em
(Điều
114)
4 6 3 4 2 3 9 10 5 5 2 2
TộiGiao
cấu
với
trẻ em
(Điều
115)
287 305 364 378 390 411 424 444 596 613 694 733
Tộidâm ô
đối
với
trẻ em
(Điều
116)
128 131 131 132 148 157 126 127 144 145 206 208
Tộimua
dâm
người
chưa
thành
niên
(Điều
256)
6 15 15 21 1 2 9 12 12 17 6 9
Tổng 1347 1607 1312 1588 1302 1568 1352 1568 1604 1864 1903 2140

Tình hình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạm tình dục từ năm 2008 đến 2013
(Nguồn: Tòa án Nhân dân Tối cao)
Từ bảng số liệu trên chúng ta có thể thấy rằng:
Thứ nhất, số lượng các vụ án, bị cáo xâm phạm tình dục xảy ra khá nhiều và luôn có sự ổn định qua các năm đồng thời không có sự thuyên giảm qua các năm.
Có thể thấy rằng, năm 2013 là năm số vụ án xâm phạm tình dục xảy ra nhiều nhất cũng như số lượng bị cáo chiếm tỷ lệ cao nhất so với các năm trước. Tổng số các vụ án hình sự sơ thẩm về các tội xâm phạm tình dục đã được xét xử trong sáu năm qua là 8820 vụ với tổng số bị cáo là 10335 người, trong đó dễ dàng nhận thấy Tội hiếp dâm trẻ emlà được áp dụng nhiều nhất trong các tội xâm phạm tình dục, chiếm 20,58% trong tổng số các tội phạm tình dục được xét xử, còn Tội cưỡng dâm trẻ em là tội được xét xử ít nhất, chỉ chiếm 0,28% trong tổng số các vụ án xâm phạm tình dục đã được xét xử (tuy nhiên con số này chưa phản ánh hoàn toàn chính xác về hành vi cưỡng dâm vì dấu hiệu “lợi dụng nạn nhân trong tình trạng quẫn bách” trong Tội cưỡng dâm cũng như Tội cưỡng dâm trẻ em rất khó để xác định).
Bên cạnh đó, theo báo cáo kết quả tổng kết thực tiễn thi hành Bộ luật Hình sự của Bộ Tư Pháp sau 13 năm thì các tội phạm thuộc chương tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm là một trong những nhóm tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp về số lượng, phương thức và thủ đoạn phạm tội, số lượng các vụ án xâm phạm tình dục có sự ổn định qua các năm, đặc biệt là ở hai thành phố lớn nhất nước ta là thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.
Ở trên địa bàn tỉnh Bình Dương thời gian qua cũng xảy ra nhiều vụ hiếp dâm trẻ em.
+ Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự số 90/2011/HSST đối với bị cáo Nguyễn Thanh Trí sinh năm 1993 (Lái Thiêu, Thuận An, Bình Dương) cùng với bạn là Nguyễn Xuân Khánh Duy dụ dỗ đưa vào khách sạn Hương Tràm thay nhau thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với Bùi Thị Ngọc Tuyền sinh năm 1997 (Thuận An, Bình Dương). Y bị tuyên án 13 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em”[7].
+ Vụ án do Nguyễn Văn Hùng (sinh năm 1966 thường trú Vĩnh Long làm công nhân tại Bình Dương) có quan hệ tình cảm với bà Huỳnh Thị Ngọc Đính (sinh năm 1981 ngụ tại Dĩ An, Bình Dương). Hùng 3 lần dụ dỗ quan hệ với con gái bà Đính là Thái Thị Như Ý (sinh năm 2002). Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Dương tuyên án Hùng 20 năm về tội “Hiếp dâm trẻ em”[8].
+ Bị cáo Dương Khánh Nhơn (sinh năm 1975 quê Khánh Hòa làm thợ hàn tại Dĩ An, Bình Dương) dụ dỗ bé Dương Thanh Trúc (sinh năm 2003 ở với cha mẹ cùng dãy nhà trọ với Nhơn) vào phòng của Nhơn chơi. Nhơn đã nảy sinh ý định và thực hiện hành vi giáo cấu với Trúc. Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Dương tuyên án Nhơn 14 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em”.[9]
Thứ hai, vẫn còn một số hạn chế nhất định trong việc xét xử các vụ án xâm phạm tình dục. Cụ thể:
– Việc xem xét các dấu hiệu định tội của cơ quan áp dụng pháp luật chưa được thống nhất dẫn đến việc áp dụng tội danh trong một số vụ án chưa được chính xác, có thể kể đến một số vụ án cụ thể như:
+ Vụ án do Huỳnh Văn Dũng (sinh năm 1983 tại thành phố Hồ Chí Minh) thực hiện, theo bản án hình sự sơ thẩm số 754/2008/HSST ngày 19/09/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tuyên bị cáo Huỳnh Văn Dũng phạm “Tội dâm ô đối với trẻ em” (Khoản 1 Điều 116 Bộ luật Hình sự 1999). Tuy nhiên tại bản án số 1463/2008/HSPT ngày 23 tháng 12 năm 2008 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh sửa bản án hình sự sơ thẩm và xử phạt bị cáo Dũng phạm Tội hiếp dâm trẻ em theo Khoản 4 Điều 112 Bộ luật Hình sự 1999.
+ Vụ án do Đào Hoàng Phúc (sinh năm 1951) thực hiện, theo bản án hình sự sơ thẩm số 58/2209/HSST ngày 30 tháng 09 năm 2009, tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu tuyên bị cáo Phúc phạm Tội cưỡng dâm trẻ em (Khoản 2 Điều 114 Bộ luật Hình sự 1999). Tuy nhiên tại bản án số 961/2009/HSPT ngày 23 tháng 12 năm 2009 của Tòa Phúc thẩm Tòa án Nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo Phúc phạm Tội hiếp dâm trẻ em (Khoản 3 Điều 112 Bộ luật Hình sự 1999).
+ Vụ án do Trần Nhật Bằng (sinh 1979 tại Đồng Nai) thực hiện, theo bản án hình sự sơ thẩm số 35/2012/HSST ngày 23/04/2012 tuyên bị cáo Trần Nhật Bằng phạm Tội dâm ô đối với trẻ em (Khoản 2 Điều 116 Bộ luật Hình sự 1999). Tuy nhiên tại bản án hình sự số 664/2012/HSPT ngày 20 tháng 07 năm 2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo Bằng phạm Tội Hiếp dâm trẻ em (Khoản 4 Điều 112 Bộ luật Hình sự 1999).
Việc đánh giá các tình tiết định khung cũng như các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ giữa các cơ quan áp dụng pháp luật chưa có sự thống nhất nên dẫn đến việc áp dụng hình phạt cũng có sự khác nhau. Trong số các vụ án được xét xử có kháng cáo hay kháng nghị về mức hình phạt được áp dụng ở tòa sơ thẩm, tòa phúc thẩm bên cạnh việc y án sơ thẩm thì cũng có nhiều trường hợp tăng hoặc giảm mức hình phạt, ví dụ như:
+ Bị cáo Mã Phi Hùng phạm Tội hiếp dâm trẻ em (Khoản 4 Điều 112 Bộ luật Hình sự 1999) bị tăng mức hình phạt từ 20 năm tù lên tù chung thân[10].
+ Vụ án Trần Trí Hùng và Lê Duy Hoài phạm Tội hiếp dâm trẻ em (Khoản 3 Điều 112 Bộ luật Hình sự 1999) trong đó bị cáo Trần Trí Hùng bị xử phạt tăng mức hình phạt từ 14 năm tù lên 20 năm tù[11].
+ Bị cáo Đinh Văn Hoàng phạm Tội hiếp dâm trẻ em đươc chuyển từ Khoản 4 Điều 112 sang Khoản 1 Điều 112 Bộ luật Hình sự 1999, giảm mức hình phạt từ 9 năm thành 7 năm[12].
–  Một số vụ án phạm tội xâm phạm tình dục xảy ra với nhiều tình tiết mới, phức tạp bắt đầu xuất hiện như là hành vi dùng vũ lực hay các thủ đoạn khác để thực hiện hành vi quan hệ tình dục với người đồng giới, hành vi quan hệ tình dục giữa người cùng giới tính giữa người đã thành niên với trẻ em hay hành vi mua dâm người chưa thành niên giữa những người cùng giới tính…nhưng pháp luật lại chưa có quy định để điều chỉnh các hành vi này dẫn đến việc định tội trên thực tế gặp nhiều khó khăn, định tội danh không phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi. Có thể kể đến một số trường hợp như:
+ Trường hợp thứ nhất: vào tháng 10/2013, một nam học sinh đang học lớp 9 đi học bơi ở một hồ bơi trên địa bàn quận Tân Bình (thành phố Hồ Chí Minh). Ngay buổi học đầu tiên khi em vào phòng tắm để tắm lại nước sạch và thay đồ thì em bị một nam thanh niên lạ mặt (Khoảng 30 tuổi) xông vào phòng khống chế, bịt chặt miệng nhằm cho em không la lên và sau đó lạm dụng tình dục em qua đường hậu môn. Hai buổi học bơi tiếp theo em vẫn bị nam thành niên này tiếp tục lạm dụng tình dục. Khoảng 6 tháng sau, do nam học sinh này có biểu hiện sốt, ho, mệt mỏi nên gia đình đã đưa em đi khám tại bệnh viện Nhi Đồng 1, thành phố Hồ Chí Minh, xét nghiệm máu kết quả dương tính với HIV[13].
+ Trường hợp thứ hai: ngày 12/11/2007 Dinh Jonathan Peter (còn gọi là Đinh Tấn Bi, sinh năm 1963, quốc tịch Hoa Kỳ) nhập cảnh vào Việt Nam. Ngày 17/12/2007, Đinh Tấn Bi chạy xe trên đường Đinh Tiên Hoàng, quận 1 TP.Hồ Chí Minh thì gặp em Dương Công Minh (sinh ngày 22/01/1993) đi xe đạp cùng chiều nên hỏi chuyện làm quen và cho số điện thoại liên lạc. Đến 11 giờ ngày 17/01/2008, Tấn Bi chạy đến trường học của Minh hẹn chiều đi chơi. 16 giờ chiều Bi đến gặp Minh và rủ Minh về phòng trọ ở Bình Thạnh chơi, Bi dẫn cháu Minh lên giường, mở phim xem và dụ dỗ Minh cho quan hệ đồng tính rồi Bi sẽ mua điện thoại cho. Bi cởi quần áo của Minh, dùng tay và miệng kích thích dương vật của cháu Minh. Sau đó Bi quan hệ với Minh qua đường hậu môn nhưng Minh kêu đau nên Bi dừng lại. Hành vi của Bi bị phát hiện. Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 639/2008/HSST ngày 18/08/2008 của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh đã xét xử tuyên bố bị cáo Dinh Jonathan Peter phạm Tội dâm ô đối với trẻ em theo Khoản 1 Điều 116 Bộ luật Hình sự[14].
Ngoài ra theo số liệu thống kê của của Tòa án Nhân dân Tối cao, trong khoảng thời gian từ năm 2003 đến năm 2013 có 173 quyết định giám đốc thẩm các vụ án hình sự, trong đó số vụ án các tội xâm phạm tình dục có quyết định giám đốc thẩm là 5 vụ án[15].
Cụ thể là: Quyết định giám đốc thẩm số 09/2009/HS-GĐT ngày 29/07/2009 về vụ án hình sự Hàn Đức Long phạm Tội “giết người” và “hiếp dâm trẻ em”; Quyết định giám đốc thẩm số 19/2008/HS-GĐT ngày 22/12/2008 về vụ án Phan Văn Quỳnh phạm các Tội “giết người” và “hiếp dâm”; Quyết định giám đốc thẩm số 03/2008/HS-GĐT ngày 01/04/2008 về vụ án Đinh Xuân Đắc bị xét xử về tội “hiếp dâm trẻ em”; Quyết định giám đốc thẩm số 14/2007/HS-GĐT  ngày 04/06/2007về vụ án Lê Văn Mạnh phạm Tội “giết người”, “hiếp dâm” và “cướp tài sản” và Quyết định giám đốc thẩm số 02/2007/HS-GĐT ngày 05/2/2007 về vụ án Lê Bá Mai phạm các Tội “hiếp dâm trẻ em” và “giết người”. Các vụ án xâm phạm tình dục có quyết định giám đốc thẩm này phần nào phản ánh hoạt động chứng minh tội phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng còn những hạn chế nhất định cũng như một số quy định của luật chưa rõ ràng để chứng minh trên thực tế.
Tóm lại, từ các số liệu trên cho thấy tình hình tội phạm đang diễn biến ngày càng tăng về số lượng cũng như tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi. Thực tiễn áp dụng còn chưa thống nhất cũng như công tác điều tra, truy tố, xét xử vẫn còn một số sai sót .Những hạn chế đó có thể xuất phát từ nhiều lý do khác nhau như từ chính công tác phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm của các cơ quan tư pháp nhưng cũng có thể xuất phát từ chính các quy định trong Bộ luật Hình sự còn những bất cập, vướng mắc. Chính vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện các quy định trong Bộ luật Hình sự nói chung cũng như quy định về các tội xâm phạm tình dục nói riêng là một nhu cầu tất yếu.

2.2. Một số bất cập trong quy định, áp dụng tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trong Bộ luật Hình sự hiện hành

2.2.1. Bất cập về chủ thể
Như tác giả đã trình bày trong nội dung thuộc Chương 1 của bài nghiên cứu, hiện nay trong khoa học pháp lý hình sự vẫn tồn tại một số quan điểm khác nhau về chủ thể của Tội hiếp dâm. Theo những nội dung mà tác giả đã phân tích thì nữ giới hoàn toàn vẫn có thể trở thành chủ thể của Tội hiếp dâm, bên cạnh đó cùng với sự phát triển nhiều mặt của xã hội thì nữ giới cũng có thể thực hiện hành vi này trên thực tế. Chính vì vậy việc quy định chủ thể tại điều 142 Bộ luật Hình sự 2015 là “người nào…” là hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên để có thể thay đổi được quan điểm xét xử hiện nay của nước ta thì nhất thiết cần phải ban hành văn bản hướng dẫn để thống nhất lại vấn đề chủ thể của Tội hiếp dâm.
Cũng giống như Tội hiếp dâm, hiện nay trong khoa học pháp lý hình sự vẫn tồn tại những quan điểm khác nhau về chủ thể của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Có quan điểm cho rằng chủ thể của tội này chỉ là nam giới nhưng cũng có quan điểm cho rằng chủ thể của tội này có thể là nam hoặc nữ vì một trong những trường hợp là giao cấu có yếu tố thuận tình. Tuy nhiên như đã trình bày tại nội dung Chương 1 bài nghiên cứu, dù là người phạm tội giao cấu thuận tình hay không thuận tình với trẻ em thì chủ thể của tội này vẫn có thể là nam hoặc nữ giới đồng thời trẻ em nam hay trẻ em nữ thì vẫn phải được pháp luật bảo vệ như nhau. Đây cũng là một bất cập trong việc xác định chủ thể của tội này vì có thể dẫn đến bỏ lọt tội phạm. Như vậy, cần có văn bản hướng dẫn thống nhất lại vấn đề chủ thể của Tội hiếp dâm trẻ em.
Những năm gần đây ở nước ta, một dạng hành vi mua dâm mới xuất hiện đó là hành vi mua dâm giữa những người cùng giới tính. Vụ việc xảy ra như sau: một người dân ở thành phố Hồ Chí Minh vừa gửi đơn tố cáo đến Sở Lao động – thương binh và xã hội nói rằng cháu trai mình bị một ông giám đốc nhiều lần quan hệ tình dục dẫn đến bị nhiễm HIV. Đơn tố cáo sau đó đã được chuyển sang cơ quan công an để điều tra. Nội dung đơn tố cáo như sau: năm 14 tuổi qua môi giới của một người khác, cháu Thắng (sinh năm 1997 ở Gò Vấp) có gặp và quan hệ đồng tính với ông Minh (đã có vợ). Sau lần đó ông Minh có xin số điện thoại của Thắng để liên lạc. Từ năm 2011 đến năm 2013, ông Minh cùng Thắng vào khách sạn quan hệ nhiều lần. Có mấy lần ông Minh cùng rủ bạn bè quan hệ tập thể với cháu. Mỗi lần quan hệ xong ông ta trả cho Thắng từ 200.000 đến 500.000 đồng, tùy trường hợp chỉ quan hệ với ông hay nhiều người. Kết quả sau những lần đó, cháu Thắng đã bị nhiễm HIV và nhiều bệnh khác[16].
Hành vi mua dâm người đồng giới trong đó đối tượng bán dâm là người dưới 16 tuổi cũng là hành vi diễn ra khá phổ biến hiện nay và cũng là hành vi nguy hiểm cho xã hội cần được qui định vào trong Luật hình sự là tội phạm.
2.2.2. Bấp cập về hành vi khách quan
Hành vi khách quan của Tội hiếp dâm trẻ em (Khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự) là hành vi giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân được thực hiện thông qua các thủ đoạn khác nhau. Đây cũng chính là dấu hiệu rất quan trọng để phân biệt hai tội này với các tội xâm phạm tình dục khác. Tuy nhiên hiện nay việc xác định như thế nào là giao cấu lại còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng nên hiểu hành vi giao cấu ở phạm vi hẹp tức là chỉ có sự tiếp xúc giữa bộ phận sinh dục nam và nữ, tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng nên hiểu hành vi giao cấu theo phạm vi rộng hơn bao gồm cả các hành vi tình dục qua đường miệng hay đường hậu môn. Việc tồn tại nhiều quan điểm khác nhau như vậy gây rất nhiều khó khăn trong công tác xét xử cũng như xử lý tội phạm.
Cho đến nay chỉ mới có một văn bản duy nhất mô tả cụ thể về hành vi giao cấu. Đó là Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử về Tội hiếp dâm và một số tội phạm khác về mặt tình dục số 329-HS2 ngày 11/5/1967 của Tòa án Nhân dân Tối cao.
Trong Bản tổng kết này đã đề cập đến khái niệm hành vi giao cấu như sau : “Giao cấu là chỉ cần có sự cọ xát trực tiếp dương vật vào bộ phận sinh dục của người phụ nữ (bộ phận từ môi lớn trở vào) với ý thức nhấn vào trong không kể sự xâm nhập của dương vật là sâu hay cạn, không kể có xuất tinh hay không là Tội hiếp dâm được coi là hoàn thành, vì khi đó nhân phẩm danh dự của người phụ nữ đã bị chà đạp”. Có thể thấy rằng văn bản này đã hướng dẫn khá rõ về hành vi giao cấu cũng như đề cập được nạn nhân chỉ là nữ tức là thừa nhận chủ thể là nam giới, cũng như xác định được giai đoạn hoàn thành của Tội hiếp dâm, bên cạnh đó theo tinh thần của văn bản hướng dẫn này thì khi nói đến hành vi giao cấu là có hành vi tiếp xúc giữa bộ phận sinh dục nam và nữ.
Cách định nghĩa này đã được ban hành rất lâu rồi nhưng vẫn có một phần nội dung thể hiện được quan điểm tiến bộ, góp phần bảo vệ quyền tự do tình dục cũng như danh dự, nhân phẩm của người phụ nữ và các cơ quan xét xử của nước ta hiện nay vẫn xét xử theo tinh thần nội dung của bản tổng kết này. Tuy nhiên văn bản này đã ra đời rất lâu và không còn hiệu lực để áp dụng, đồng thời quan điểm về chủ thể cũng như hành vi khách quan của Tội hiếp dâm cũng như hiếp dâm trẻ em cũng đã có nhiều sự thay đổi, chính vì vậy ta cần xem xét lại thế nào là hành vi giao cấu.
Để có thể hiểu thế nào là hành vi giao cấu thì trước tiên cần phải xác định được phạm vi của hành vi giao cấu. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam “tình dục là hành vi tìm kiếm khoái cảm hoặc để sinh sản, có nội hàm rộng, không chỉ có nghĩa là giao hợp giữa người nam và người nữ mà còn bao gồm cả nhiều hành vi khác nhằm đem lại khoái cảm, bằng tay hay bằng miệng, ở vùng cơ quan sinh dục hay ở những bộ phận khác của cơ thể. Cũng vẫn là tình dục khi thực hiện hành vi tìm kiếm khoái cảm với bạn tình khác giới hay cùng giới với một hay nhiều hơn một người, tự mình gây khoái cảm (thủ dâm) hay gây khoái cảm cho nhau, mơ tưởng đến chuyện tình dục hay sử dụng dụng cụ chuyên dụng”[17].
Như vậy nếu theo cách hiểu về tình dục như vậy thì hành vi giao cấu nên hiểu theo nghĩa rộng tức là không chỉ là hành vi tiếp xúc giữa bộ phận sinh dục nam và nữ mà có thể là bằng tay hoặc bằng miệng…
Việc hiểu như thế nào là hành vi giao cấu rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến việc xác định đúng tội danh, giai đoạn thực hiện tội phạm cũng như quyết định hình phạt.
Vụ việc xảy ra vào trưa ngày 19/10/2012, Nguyễn Phước Thiện tổ chức uống rượu tại nhà cùng ông Phan Văn Dô và ông Phan Văn Thảnh. Uống được vài ly thì anh Thảnh về, một lúc sau Phùng văn Liêm đến. Khoảng 14h, ông Dô say nên nằm ngủ. Thiện và Liêm ngồi lại hút thuốc. Lúc này có cháu Dương Thị Cẩm Nhung sinh ngày 22/12/2004 ở cùng xóm qua nhà Thiện chơi. Thiện nảy sinh ý định quan hệ tình dục với Nhung nên kêu cháu Nhung đi vào buồng ngủ. Tại đây Thiện muốn quan hệ tình dục với cháu Nhung nhưng do âm hộ của cháu Nhung quá nhỏ nên Thiện chỉ dùng dương vật đưa ngoài âm hộ cháu Nhung. Khoảng 10 phút sau thì Liêm đi vào buồng, thấy vậy Thiện bỏ ra ngoài. Thấy cháu Nhung vẫn nằm trên giường không mặc quần nên Liêm nảy sinh ý định quan hệ tình dục với cháu Nhung, Liêm cởi quần ra và dùng ngón tay đưa vào bên trong âm hộ cháu Nhung, bị đau nên cháu Nhung đẩy Liêm ra thì Liêm đánh một cái vào mặt. Do bị đánh đau nên cháu Nhung khóc, còn Liêm vẫn chuẩn bị để thực hiện hành vi giao cấu thì bị bà Phan Thị Mưng (mẹ Thiện) phát hiện. Bị cáo Liêm thừa nhận nếu không bị bà Mưng phát hiện thì sẽ thực hiện hành vi giao cấu với cháu Nhung. Theo kết luận giám định số 221/GĐPY thì màng trinh của cháu Nhung bị rách ở điểm 2 giờ và 5 giờ. Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử và tuyên Thiện phạm tội “dâm ô đối với trẻ em (Khoản 2 Điều 116 Bộ luật Hình sự) và Liêm phạm tội hiếp dâm trẻ em theo Khoản 4 Điều 112 Bộ luật Hình sự ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử Liêm và Thiện cùng phạm tội hiếp dâm trẻ em (Khoản 4 Điều 112 Bộ luật Hình sự) ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. (Bản án số 661/2013/HSPT ngày 25/6/2013 “về xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 607/2013/HSPT ngày 8/5/2013 đối với bị cáo Nguyễn Phước Thiện và Phùng Văn Liêm” của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh)
Một vấn đề đặt ra nữa là khi quy định dấu hiệu trái ý muốn của nạn nhân trong luật có bao gồm cả trường hợp nạn nhân rơi vào tình trạng không thể biểu lộ được thái độ trái ý muốn của mình hay không (ví dụ như trường hợp cho nạn nhân dùng thuốc mê hay chuốc cho nạn nhân uống rượu say để thực hiện hành vi giao cấu thì nạn nhân không thể hiện được thái độ trái ý muốn của mình). Mặc dù thực tế các cơ quan áp dụng pháp luật đã áp dụng luật theo hướng dấu hiệu trái ý muốn của nạn nhân bao gồm cả trường hợp nạn nhân không biểu lộ được thái độ của mình. Tuy nhiên quy định của luật cần phải rõ ràng và chặt chẽ, tránh những lổ hỏng trong pháp luật dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất, vi phạm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Tại Điểm a Khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự 2015 có qui định: “Dùng vũ lực, đe dọa dung vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thự hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ”. Thì hành vi “thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác” ở đây là quan hệ tình dục bằng miệng, qua đường hậu môn,… hay một hành vi cụ thể nào khác cần có văn bản hướng dẫn rõ ràng, chi tiết.
2.2.3. Bấp cập về loại cấu thành tội phạm
Có quan điểm cho rằng Tội hiếp dâm trẻ em là tội phạm có cấu thành vật chất, tuy nhiên quan điểm được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận hiện nay là Tội hiếp dâm trẻ em là tội phạm có cấu thành hình thức vì vậy tội phạm hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hết các hành vi khách quan được quy định trong luật, tuy nhiên việc xác định hành vi giao cấu là hành vi, mục đích hay hậu quả thì vẫn chưa có sự thống nhất. Việc chưa thống nhất trong cách xác định cấu thành tội phạm của hai tội danh này đã dẫn đến việc xác định giai đoạn thực hiện tội phạm trên thực tế cũng chưa có sự thống nhất.
+ Trường hợp thứ nhất: khoảng 22 giờ 30 phút ngày 01/01/2012 Đinh Văn Hoàng (sinh năm 1991) đi đám cưới tại nhà ông Quang ở ấp Tân Quảng Đông, xã Nguyễn Việt Khái, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Cùng dự đám cưới có cháu Hồng Thị Như Quỳnh (sinh ngày 05/12/1999). Hoàng đến bàn Quỳnh xin làm quen và rủ Quỳnh nhảy nhạc nhưng Quỳnh không đồng ý. Quỳnh mượn điện thoại của chị bà con Nguyễn Huỳnh Như để nhắn tin cho người quen, Hoàng thấy vậy vừa hỏi mượn, vừa dùng tay lấy điện thoại của Quỳnh đang cầm đi ra khỏi đám. Quỳnh đi theo đòi lại nhưng Hoàng không trả và tiếp tục đi cách đám cưới khoảng 35 mét. Quỳnh chạy theo, Hoàng ôm Quỳnh và hôn vào miệng Quỳnh, dùng tay sờ ngực Quỳnh, Quỳnh đẩy Hoàng ra. Hoàng tiếp tục đẩy Quỳnh vào đám bạch đàn cách lộ khoảng 2 mét thì Quỳnh vấp ngã bất tỉnh. Hoàng dùng tay cởi nút quần jean và dây kéo quần của Quỳnh xuống, rồi đứng lên cởi dây thắt lưng và nút quần của Hoàng để thực hiện hành vi giao cấu với Quỳnh, lúc này ông Hồng Văn Tính đi tìm phát hiện Quỳnh đang nằm ngửa, còn Hoàng đang đứng mở thắt lưng với nút quần nên ông Tính đánh Hoàng và truy hô lên, Hoàng chạy về nhà và đến công an xã Nguyễn Việt Khái đầu thú. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 72/2012/HSST ngày 10/12/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau tuyên phạt Đinh Văn Hoàng phạm Tội hiếp dâm trẻ em, áp dụng Khoản 4 Điều 112, Điểm b, o, p Khoản 1 và 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt Hoàng 9 năm tù. Sau đó Hoàng kháng cáo và Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh áp dụng Khoản 1 Điều 112, Điểm b, o, p Khoản 1 và 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng 7 năm tù về Tội hiếp dâm trẻ em. (Bản án số 576/2013/HSPT ngày 28/5/2013 “về xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 558/2013/TLPT – HS ngày 24/04/2013 đối với bị cáo Đinh Văn Hoàng” của tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh.)
+ Trường hợp thứ hai: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 10/04/2011, cháu Lê Thị Thùy Trinh (sinh ngày 17 tháng 11 năm 1999) sau giờ giải lao thì đi bộ ra đường Phạm Văn Chí mua bánh mì thì gặp Huỳnh Chí Hải (sinh năm 1973). Hải nói dối cháu Trinh là đi theo lấy đồ cho ba và sau đó thuê xe ôm chở hai người đến chung cư Hòa Bình, phường 14, quận 10. Tại chung cư Hải hù dọa bé Trinh là có mấy thằng “nghiện” ở đây và bảo Trinh xuống cầu thang thoát hiểm. Tại đây Hải kéo áo thun và áo ngực của Trinh ra nhưng Trinh không đồng ý và chống cự. Hải hù dọa Trinh “em muốn mình anh hiếp hay cả đám “nghiện” hiếp” và “muốn về nhà phải cho quan hệ giao cấu” nên Trinh sợ hãi không dám chống cự nữa. Sau đó Hải thực hiện hành vi giao cấu với bé Trinh. Sau khi nhận được tin báo, gia đình cháu Trinh và công an quận 10 phối hợp với bảo vệ chung cư Hòa Bình xem băng ghi hình thì phát hiện và bắt giữ Hải đang thực hiện hành vi phạm tội tương tự như trên đối với cháu Hà Bửu Liên. Cụ thể như sau: khoảng 9 giờ 50 phút ngày 16/4/2011, Hải thuê Honda ôm là anh Vũ chở Hải và cháu Liên (sinh ngày 25/2/1997) đến chung cư Hòa Bình để thực hiện hành vi hiếp dâm. Khi Hải đưa cháu Liên lên lầu 5 bảo cháu đứng chờ đợi để xuống gặp Vũ lừa gạt mượn tiền thì bị bảo vệ chung cư bắt giữ giao cho công an. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 325/2012/HSST ngày 12/9/2012 Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh đã áp dụng điểm d khoản 3 Điều 112, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 18, Điều 52, Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt Huỳnh Chí Hải 18 năm tù về “Tội hiếp dâm trẻ em”. Tại Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh lại không đồng quan điểm với bản án sơ thẩm về việc áp dụng Điều 18 và Điều 52, Điều 47 Bộ luật Hình sự về giai đoạn phạm tội chưa đạt “Với tính chất đặc biệt nghiêm trọng như trên án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh chỉ xử phạt bị cáo Hải 18 năm tù, dưới khung hình phạt Khoản 3 Điều 112 Bộ luật Hình sự là không có căn cứ. Xét án sơ thẩm cho rằng hành vi hiếp dâm Hà Bửu Liên là phạm tội chưa đạt là không đúng. Hiếp dâm là tội có cấu thành hình thức. Còn việc bị cáo không thực hiện hành vi giao cấu là ngoài ý muốn của bị cáo vì bị cáo bị bắt, không phải là phạm tội chưa hoàn thành như án sơ thẩm nhận định không có căn cứ pháp lý”. Vì vậy Tòa phúc thẩm đã tăng mức hình phạt từ 18 năm lên tù chung thân. (Bản án số 128/2012/HSPT ngày 23/11/2012 “về xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 85/2012/ HSPT ngày 18/10/2012 đối với bị cáo Huỳnh Chí Hải” của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh).
Như vậy trong hai trường hợp trên việc áp dụng giai đoạn phạm tội chưa đạt có sự khác nhau trong thực tiễn. Ở trường hợp thứ nhất, rõ ràng người phạm tội chưa hề thực hiện hành vi giao cấu thì đã bị phát hiện thì theo lý luận cũng như quan điểm của tác giả thì đây là trường hợp phạm tội ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Thế nhưng trong bản án sơ thẩm cũng như phúc thẩm lại không đề cập đến vấn đề này cũng như khi áp dụng điều luật để định tội danh cũng như quyết định hình phạt lại không áp dụng Điều 18 và Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ở trường hợp thứ hai thì cấp phúc thẩm và sơ thẩm có quan điểm trái chiều trong việc xác định giai đoạn thực hiện tội phạm đối với trường hợp nạn nhân là bé Liên. Trong hai quan điểm xét xử nêu trên, tác giả đồng ý với quan điểm xét xử của Tòa Sơ thẩm rằng đối với trường hợp bị cáo Hải hiếp dâm bé Liên thì Hải phạm tội ở giai đoạn chưa đạt chứ không phải giai đoạn tội phạm hoàn thành vì Hải chưa thực hiện được hành vi khách quan là hành vi giao cấu trái với ý muốn của bé Liên.
Từ những phân tích trên, cần có sự thống nhất về loại cấu thành tội phạm để việc xác định giai đoạn thực hiện tội phạm trong Tội hiếp dâm cũng như Tội hiếp dâm trẻ em trên thực tế được thống nhất.
2.2.4. Bất cập trong các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm
Lỗi của người phạm tội khi thực hiện các hành vi xâm phạm tình dục đều là lỗi cố ý. Lỗi cố ý tức là người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, nhận thức được hậu quả của hành vi đó và người phạm tội mong muốn thực hiện hành vi. Tuy nhiên trong các tội xâm phạm tình dục mà có đối tượng tác động là trẻ em thì trong lý luận đòi hỏi rằng để xác định được lỗi cố ý của người phạm tội, người phạm tội phải nhận thức được đối tượng mà mình đang hướng đến là trẻ em thì mới cấu thành các tội phạm này. Tuy nhiên thực tiễn xét xử hiện nay lại xét xử theo hướng dựa vào giới tính nạn nhân trên thực tế tức là nếu xác định nạn nhân là trẻ em thì người phạm tội sẽ phạm vào các tội xâm phạm tình dục mà đối tượng tác động là trẻ em, không phụ thuộc vào ý chí của người phạm tội là có biết hay không.
Một người khi thực hiện các hành vi xâm phạm tình dục người khác có thể biết nạn nhân là bao nhiêu tuổi vì một số lý do khác nhau như giữa người phạm tội và nạn nhân có quen biết nhau hay có quan hệ gia đình với nhau… Tuy nhiên có những trường hợp giữa nạn nhân và người phạm tội lại không quen biết nhau nên việc người phạm tội biết được độ tuổi của nạn nhân trong những trường hợp này là không khả thi. Tuy nhiên người phạm tội vẫn thực hiện hành vi của mình mà không quan tâm nạn nhân bao nhiêu tuổi, tức là người phạm tội biết hành vi xâm phạm tình dục là nguy hiểm, biết được rằng hành vi này sẽ gây ra những tổn hại nhất định cho nạn nhân nhưng người phạm tội vẫn mong muốn thực hiện hành vi, tức là họ bất chấp nạn nhân là bao nhiêu tuổi, họ chấp nhận hậu quả pháp lý do hành vi của mình gây ra. Vì vậy việc xét xử các hành vi này về các tội xâm phạm tình dục trẻ em khi trên thực tế nạn nhân là trẻ em là hoàn toàn có cơ sở, tránh tình trạng bỏ lọt tội phạm cũng như bảo vệ được quyền lợi của nạn nhân. Vì vậy trong những trường hợp này đồng tình với quan điểm thực tiễn xét xử hiện nay.
Tuy nhiên, nếu trên thực tế có những trường hợp đặc biệt trong đó nạn nhân thuận tình cho người phạm tội thực hiện hành vi giao cấu nhưng lại bị nạn nhân lừa dối về độ tuổi thì lúc này cần phải xem xét khả năng nhận thức của người thực hiện hành vi về đối tượng tác động trong trường hợp này. Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu nếu thực tế người thực hiện hành vi chứng minh được là mình bị nạn nhân lừa dối về độ tuổi nên mới thực hiện các hành vi nguy hiểm và có những căn cứ cụ thể để chứng minh được thì lúc này sẽ giải quyết những trường hợp sai lầm.
Hiện nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn thi hành cụ Tội hiêp dâm trẻ em (Điều 142 Bộ luật Hình sự 2015). Vì vậy, những bất cập trên cần được nhanh chóng giải quyết, góp phần đi đến thắng lợi trên con đường dấu tranh phòng, chống tội phạm.

2.3. Kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trong Bộ luật Hình sự Việt Nam

Nhằm đảm bảo công tác hoàn thiện pháp luật và công tác đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận về tội phạm hiếp dâm trẻ em trong Bộ luật Hình sự 2015 và các Bộ luật Hình sự từ năm 1999 trở về trước, thực trạng về tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi trong những năm gần đây và thấy được những bất cập trong việc quy định và áp dụng, nhóm tác giả đề xuất một số kiến nghị sau đây:
2.3.1 Thay đổi tư duy xét xử
Thứ nhất, Chủ thể của tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi không chỉ là nam. Trong lịch sử xét xử của Tòa án Việt Nam trước khi Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực cho thấy rất ít các vụ án xét xử chủ thể của tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi là nữ mà chủ yếu chủ thể của tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi là nam. Đa số các thẩm phán và các nhà làm luật đều cho rằng: chủ thể của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là nam. Hơn nữa, pháp luật chưa từng có văn bản nào thừa nhận hay hướng dẫn chủ thể của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là chỉ là nam và bị hại chỉ là nữ giới. Rõ một điều rằng, các nhà “cầm cân nảy mực” của nước ta đang mang nặng một tư tưởng đi theo số đông và không dám tách mình ra khỏi số đông đó. Như những gì tác giả đã phân tích thì lối tư duy này vô cùng chai sạn và đã bị vo cứng. Đến khi Bộ luật Hình sự 2015 có hiệu lực, với những quy định mới có hướng mở rộng hơn thì không thể duy trì cách nhìn nhận và lối tư duy xét xử như thế này được. Tuy nhiên, trên thực tế đã từng có vụ án xét xử chủ thể của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là nữ. Bằng chứng: “cuối tháng 9/2014, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP. Hồ Chí Minh đưa 2 bị cáo Nguyễn Minh Tâm (17 tuổi) và Trương Thị Mỹ Châu (23 tuổi) phạm tội Hiếp dâm trẻ em ra xét xử phúc thẩm. Trước đó, tại phiên tòa sơ thẩm, Trương Thị Mỹ Châu bị xử phạt 9 năm tù, còn Nguyễn Minh Tâm lãnh 8 năm tù[18]”. Không chỉ ở Việt Nam mà tại một số quốc gia trên thế giới cũng đã đưa ra xét xử các chủ thể nữ phạm tội hiếp dâm: “Tòa án tiểu bang Michigan, Mỹ đang xét xử một vụ án hiếp dâm hy hữu mà nạn nhân là một chàng trai 19 tuổi. Còn thủ phạm là cô gái 17 tuổi có tên Lestina Marie Smith. Theo Dailymail, Lestina Marie Smith xuất hiện trong phiên tòa hồi tuần trước với cáo buộc 2 lần tấn công tình dục cấp độ 1.Theo hồ sơ của cảnh sát, vào ngày 11/1 vừa qua, Lestina đã sử dụng dao để uy hiếp một thanh niên 19 tuổi và buộc thanh niên này phải quan hệ tình dục với mình. Hiện tại, Lestina đang bị giam giữ tại Nhà tù Saginaw và không được quyền bảo lãnh. Nếu bị kết án, cô có thể sẽ phải ngồi tù chung thân[19]”. Điều này cho thấy rằng đã có những nhà làm luật, những thẩm phán, cơ quan điều tra và viện kiểm sát vẫn đồng tình với quan điểm: chủ thể của tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi là bất kì người nào có đủ năng lực hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Phát huy tinh thần đó, các thẩm phán, cơ quan điều tra, viện kiểm sát cùng các nhà làm luật cần phải nhìn nhận chính xác và thoát khỏi những ý nghĩ duy ý chí, đi theo đa số. Với thực trạng hiện này thì nạn nhân của tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi không chỉ là nữ mà còn là nam. Hơn thế, trên thực tế có vô số các vụ hiếp dâm người dưới 16 tuổi do nữ, người đồng tính nữ, người nữ chuyển giới sang nam thực hiện. Đối với người đồng tính nữ và người nữ chuyển giới sang nam thì giới tính sinh học được ghi nhận trong các giấy tờ vẫn là nữ, tuy nhiên xu hướng tính dục của họ là nam và có xu hướng thích quan hệ tình dục với nữ. Vì thế, nếu cứ duy trì một cách nghĩ và lối xét xử chủ thể của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi chỉ là nam là một việc hết sức nguy hiểm, đe dọa đến sự gia tăng của tội phạm này, tạo điều kiện cho người nữ tiếp tục phạm tội và tạo ra sự bất bình đẳng trong pháp luật. Cần nhìn nhận rõ ràng và mạnh mẽ rằng: chủ thể của tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi là bất cứ người nào có đủ năng lực hành vi dân sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Có như vậy mới tạo ra sự công bằng trong pháp luật, không bỏ sót người phạm tội, kéo giảm tội phạm này. Điều nay như một hồi chuông cảnh báo những người phạm tội là nữ đã, đang và có ý định phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi phải kiểm Điểm lại hành vi sai trái của mình.
Thứ hai, Cần phải cân nhắc kĩ lưỡng và có chế tài nhẹ hơn đối với những chủ thể có những sai lầm khi ý thức về độ tuổi của nạn nhân.
Với sự phát triển của xã hội và nhu cầu vật chất ngày càng đầy đủ hiện nay thì nhiều bé gái dưới 16 tuổi nhưng đã phát triển như một thiếu nữ đã thành niên. Hiện nay nhiều trẻ em được tiếp xúc với nhiều hình ảnh dành cho người lớn từ các sách báo, phim ảnh. Chính những hình ảnh này đã tác động lên tuyến yên, buồng trứng và tử cung làm bé gái dậy thì sớm. Nhìn bề ngoài của một người từ 14 tuổi đến 15 tuổi hiện nay rất khó để nhận biết các em nằm trong độ tuổi này vì trông vào dáng vẻ bề ngoài thì không khác gì một nữ sinh 17, 18 tuổi. Chính vì những điều này đã làm cho những chủ thể của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi lầm tưởng rằng mình đang thực hiện hành vi sai phạm này với một người đã thành niên. Trong cơn khao khát tình dục và sự không làm chủ được hành vi của mình cùng với những gì mà người phạm tội trông thấy thì việc lầm tưởng về độ tuổi của nạn nhân là điều rất dễ xảy ra hiện nay. Ví như vụ án bị cáo Lê Tuấn Anh tại Hà Nội xảy ra vào ngày 28/05/2011 đã phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi vì sự sai lầm là được sự đồng ý của bạn gái và lầm tưởng rằng cô bạn gái đã thành niên. Tuy nhiên lúc thực hiện hành vi giao cấu thì cô bạn gái chỉ mới 12 tuổi 8 tháng 7 ngày nên Lâm vẫn phải lãnh án về tội hiếp dâm trẻ em. Và khi đưa ra xét xử thì mọi người đều sửng sốt với vẻ ngoài và giọng nói của một cô gái chưa đầy 13 tuổi mà không khác gì một thiếu nữ thành niên.[20]
Mặc khác, trong một số vụ việc giao cấu thuận tình với người 13 tuổi thì có nhiều trường hợp nạn nhân không khai thật tuổi của mình với người phạm tội, đó cũng là một lí do khiến người phạm tội sai lầm và phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Đã có ý kiến cho rằng: trường hợp người phạm tội không biết nạn nhân là người dưới 16 tuổi do sự lầm tưởng có căn cứ (dựa vào quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân, hình dáng bên ngoài của nạn nhân, thông tin do nạn nhân và người khác cung cấp, điều kiện và hoàn cảnh phạm tội) nếu thực tế khách quan nạn nhân là người dưới 16 tuổi và ý thức chủ quan của người phạm tội lầm tưởng rằng không phải là người dưới 16 tuổi thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm về tội hiếp dâm chứ không phải là hiếp dâm trẻ em. Tuy nhiên, nhóm tác giả không đồng tình với quan Điểm này. Trong trường hợp thực tế nếu có những vụ việc có sự lầm tưởng có căn cứ thì chủ thể thực hiện hành vi đủ điều kiện để cấu thành tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi thì vẫn xem là phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Nhưng trong trường hợp này cơ quan điều tra cần phải xem xét kĩ càng vấn đề và cơ quan xét xử cần xem xét một chế tài nhẹ nhàng, giảm mức hình phạt nhưng đủ sức răn đe người phạm tội.
2.3.2 Hoàn thiện các quy định của pháp luật
2.3.2.1 Nhanh chóng ban hành các văn bản hướng dẫn
Bộ luật Hình sự 2015 mới có hiệu lực và hoàn toàn chưa có một văn bản hướng dẫn cụ thể nào. Đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được quy định tại điều 142 thì có hai Điểm mới được ghi nhận. Thứ nhất, việc quy định hành vi khách quan vi phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được ghi nhận bằng cụm từ “hành vi quan hệ tình dục khác”, đây là một Điểm mới, hoàn toàn chưa được ghi nhận trong các Bộ luật Hình sự trước đây. Việc ghi nhận điều này gây ra nhiều sự tranh cãi, mông lung rằng những hành vi quan hệ tình dục khác là những hành vi nào? Và hành vi nào là vi phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi? Thứ hai, về định khung tăng nặng tại Khoản 2, Điều 142 Bộ luật Hình sự 2015 có ghi nhận rằng “gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%” và tại Khoản 3 của điều luật này quy định “gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân trên 46%”. Đây là hai điểm định khung tăng nặng hoàn toàn mới được ghi nhận trong Bộ luật Hình sự 2015. Điều này cũng làm cho nhiều nhà làm luật, cơ quan tư pháp cũng như người dân chưa thể hiểu rõ để áp dụng cho đúng. Chính vì những lẽ đó, nhà nước cần nhanh chóng ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể áp dụng Bộ luật Hình sự 2015 nói chung và điều 142 Bộ luật Hình sự nói riêng. Điều này sẽ có lợi trong việc hiểu luật và áp dụng luật một cách chính xác, trách xảy ra sự mâu thuẫn bởi cách sử dụng luật ở nhiều nơi khác nhau. Làm cho Bộ luật Hình sự 2015 tiến bộ hơn.
2.3.2.2 Điều chỉnh lại quy định pháp luật
Thứ nhất, cần điều chỉnh lại hình phạt đối với hành vi giao cấu và thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi. Tại Khoản 4, Bộ luật Hình sự 1999 có quy định: “Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình”. Tuy nhiên ở Khoản 1 Bộ luật Hình sự 2015 lại quy định “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục với người dưới 13 tuổi” thì chỉ phải chịu hình phạt tù từ 7 đến 15 năm. Việc ghi nhận cùng một hành vi khách quan vi phạm tội hiếp dâm trẻ em nhưng giữa Bộ luật Hình sự 1999 và Bộ luật Hình sự 2015 có sự chênh lệch quá lớn về hình phạt, giảm từ tội đặc biệt nghiêm trọng xuống tội rất nghiêm trọng. Việc quy định như vậy chưa thực sự thuyết phục và tạo được sức răn đe lớn đối với người đã, đang và sẽ có ý định phạm tội. Bởi vì người dưới 13 tuổi là người có tư duy và lối nghĩ vô cùng non nớt, với thể trạng sức khỏe yếu ớt và tâm lý vô cùng nhạy cảm. Việc xâm hại tình dục đối với người thuộc độ tuổi này cần được trừng trị một cách thích đáng. Chính vì những lẽ đó, hành vi giao cấu và thực hiện hành vi quan hệ tình dục với người dưới 13 tuổi không thể ghép chung một hình phạt cùng với các hành vi khách khác của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Cần phải quy định hành vi giao cấu và thực hiện hành vi quan hệ tình dục với người dưới 13 tuổi thành một điểm định khung tăng nặng ở một Khoản khác, cụ thể là Khoản 2 với ghi nhận rằng “đối với người từ đủ 10 tuổi đến dưới 13 tuổi” cùng mức hình phạt từ 12 đến 20 năm tù. Bởi vì tại Khoản 3 đã có quy định nếu phạm tội đối với người dưới 10 tuổi thì gánh chịu hình phạt từ 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Việc ghi nhận này rất cụ thể, dễ hiểu và mức hình phạt được phân loại theo từng độ tuổi tạo nên sự thuyết phục cao, giàu sức răn đe người phạm tội.
Thứ hai, phân hóa hình phạt đối với hình vi hiếp dâm người chưa đủ 13 tuổi. Tại Điểm a Khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự 2015 quy định rằng: “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi” với khung hình phạt từ 7 năm đến 12 năm tù. Nghĩa là dù giao cấu thuận tình hay không thuận tình (trái ý muốn) với người dưới 13 tuổi thì đều chịu một hình phạt như nhau. Nhóm tác giả thấy rằng việc quy định như vậy là chưa công bằng với người phạm tội. Vì nguyên tắc của luật Hình sự theo hướng có lợi cho người phạm tội. Như những gì nhóm tác giả đã phân tích ở mục 2.3.1 thì bởi vì có sự đồng thuận giao cấu của nạn nhân nên người phạm tội mới có cơ hội dễ dàng thực hiện hành vi phạm tội, cùng với sự nhận thức sai lầm về độ tuổi của nạn nhân. Sự đồng thuận giao cấu của nạn nhân cũng là sự tiếp sức cho suy nghĩ lệch lạc, vi phạm pháp luậtcủa người phạm tội. Chính vì thế, Bộ luật Hình sự cần có sự phân hóa cụ thể về hinh phạt trong trường hợp “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi” có yếu tố thuận tình hay trái ý muốn.
Để tránh được những thiếu sót trong việc ban hành luật cũng như làm pháp luật hiệu quả nhất thì tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã nhấn mạnh rằng:
“Nâng cao trình độ và năng lực làm luật của Quốc hội. Tăng hợp lý tỉ lệ đại biểu chuyên trách, có trình độ, hiểu biết về pháp luật; xác lập cơ chế bảo đảm thực hiện quyền sáng kiến pháp luật của đại biểu Quốc hội; phát huy vai trò, trách nhiệm của Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội trong việc chuẩn bị, thẩm tra dự án luật, pháp lệnh. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn cách thức thảo luận, thông qua luật, pháp lệnh.
Tăng cường hoạt động giải thích luật, pháp lệnh của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Tăng cường trách nhiệm của Chính phủ và các bộ trưởng trong việc chỉ đạo hoạt động xây dựng pháp luật. Chính phủ tập trung xem xét, quyết định những vấn đề mang tính quan Điểm, chính sách và những vấn đề liên ngành còn có ý kiến khác nhau; tăng cường kiểm tra đối với văn bản quy phạm pháp luật do các bộ, ngành và địa phương ban hành để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Kiện toàn và nâng cao năng lực bộ máy giúp việc cho Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành trong công tác xây dựng pháp luật. Củng cố bộ phận pháp chế bộ, ngành, địa phương; thành lập Viện Nghiên cứu lập pháp của Quốc hội”.
Điều này cho thấy rằng Đảng và Nhà nước thật sự quan tâm đến việc kiện toàn pháp luật, song vẫn chưa làm được. Bằng chứng là các văn bản pháp luật mới được ban hành gần đây luôn có những sự thiếu sót đáng tiếc. Bộ máy ban hành pháp luật của nước ta cần đươc chú trọng hơn nữa và việc ban hành pháp luật cũng cần đầu tư cả về nội dung lẫn hình thức, cần xem xét và cần nhắc kĩ lưỡng trước khi ban hành để tránh có sự sai sót, làm mất lòng tin của nhân dân vào pháp luật và hiệu quả của pháp luật không cao.
2.3.3 Cơ quan tiến hành tố tụng cần xử lí hiệu quả tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi không nằm trong danh sách các tội chỉ được khởi tố vụ án khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của của bị hại dưới 18 tuổi, người có nhược Điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết[21]. Vì thế khi có vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi xảy ra trên thực tế thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải nhanh chóng tiến hành các hoạt động tố tụng và đưa người phạm tội ra ánh sáng pháp luật, trả lại sự công bằng cho bị hại. Trên thực tế đã xảy rất nhiều vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi nhưng người phạm tội vẫn ngẩn ngơ trước pháp luật. Chẳng hạn như vụ án “ngày 11-02, Công an huyện Thới Bình (Cà Mau) cho biết đang làm rõ nguyên nhân dẫn đến cái chết của bé gái tên K. (13 tuổi), ngụ ấp 7, xã Tân Lộc, huyện Thới Bình. Thông tin ban đầu, chiều 10-2, người nhà phát hiện em K. uống thuốc tự vẫn nên nhanh chóng đưa em đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cà Mau cấp cứu. Tuy nhiên, K. đã tử vong vào lúc 6 giờ sáng 11-02. Cũng theo gia đình nạn nhân, trước đó vào tháng 11-2016, gia đình K. đã tố giác em bị một người hàng xóm xâm hại tình dục và K. đã khai với cơ quan công an rằng, em đã nhiều lần bị xâm hại. Tuy nhiên, cơ quan công an đã không khởi tố vụ án hình sự vì cho rằng không có cơ sở. Theo người nhà nạn nhân, trước khi chết, K. có nói không muốn sống vì nhục nhã với hàng xóm[22]” là một ví dụ điển hình cho việc xử lí chưa thật sự có hiệu quả tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Cơ quan điều tra và Tòa án phải xử lí nghiêm minh, triệt để, nhanh chống đúng người, đúng tội để răn đe, giáo dục người phạm tội và toàn thể nhân nhân. Đặc biệt đối tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi thì nhất quán không được phép lơ là, buông lơi tội phạm do tính chất và mức độ nguy hiểm của nó.
Cần phải ý thức và hoàn thành nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao phó. Trong nghị quyết số 48 NQ/TW ngày 24/05/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã đề cập rằng:
“Trọng tâm là hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của toà án nhân dân, bảo đảm toà án xét xử độc lập, đúng pháp luật, kịp thời và nghiêm minh; phân định thẩm quyền xét xử của toà án sơ thẩm và toà án phúc thẩm phù hợp với nguyên tắc hai cấp xét xử. Hoàn thiện cơ chế quản lý toà án nhân dân địa phương theo hướng bảo đảm tính độc lập giữa các cấp toà án trong hoạt động xét xử.
Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của viện kiểm sát nhân dân theo hướng bảo đảm thực hiện tốt chức năng công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Nghiên cứu hướng tới chuyển thành viện công tố.
Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra theo hướng thu gọn đầu mối, kết hợp chặt chẽ giữa trinh sát, điều tra ban đầu với hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra.” Làm được những điều đó thì pháp luật nước ta mới được xem là tiên tiến và người dân mới an tâm làm việc, tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế, làm giàu cho đất nước.
Thông qua Chương 2, xuất phát từ những tình trạng trong thực tiễn về vấn đề hiếp dâm người dưới 16 tuổi, từ đó tác giả đã chỉ ra những bất cập và một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hơn các quy định trong Bộ luật Hình sự về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Với những kiến nghị của tác giả, nó phù hợp với ý chí và nguyện vọng của người dân, làm cho Bộ luật Hình sự tiến bộ, đồng thời giúp cho việc tiến hành về tố tụng, xét xử dễ dàng hơn. Góp phần giúp cho công tác đấu tranh phòng chống tội đạt hiệu quả, giàu sức, răn đe, giáo dục người phạm tội cũng như mọi công dân khác để ngăn chặn và hạn chế tình trạng tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi diễn ra như hiện nay.
KẾT LUẬN
Một đất nước được xem là phát triển khi nước đó phát triển toàn diện các mặt như kinh tế, văn hóa, xã hội. Đối với mặt xã hội, thì không thể không nói đến tình trạng tội phạm ngày nay, trong đó có tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Độ tuổi này được xem là chưa phát triển toàn diện về mặt thể chất lẫn tinh thần đồng thời trẻ em được xem là những mầm non tương lai của đất nước, là lực lượng nòng cốt cho việc xây dựng đất nước sau này nên được pháp luật Việt Nam nói riêng và pháp luật của các nước trên thế giới nói chung bảo vệ và khi có tội phạm xảy ra thì xem xét và xử lí nghiêm khắc. Tuy nhiên ngày nay số lượng các vụ án xảy ra vẫn còn rất nhiều.
Qua đó, bài viết của tác giả về “Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi dưới góc độ pháp lý hình sự – Lý luận và thực tiễn” đã góp phần làm rõ được các yếu tố cấu thành tội phạm của tội phạm này và nhìn nhận chung các quy định về tội danh này qua các thời kì trong nước và quy định của một số nước trên thế giới. Từ đó, rút ra được những sự khác nhau để từ đó có thể học hỏi. Đồng thời đưa ra các vấn đề thực tiễn hiện nay, các bất cập và đưa ra một số kiến nghị từ đó góp phần vào việc bảo vệ quyền lợi của trẻ em cũng như người phạm tội và nhằm hạn chế số lượng tội phạm này. Đối với tình hình tội phạm ngày này diễn ra ngày càng phức tạp đòi hỏi chúng ta cần phải tích cực, chủ động trong việc điều tra nghiên cứu để bổ sung và sửa chữa nhiều hơn góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn) 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ luật Hình sự nước Việt Nam 1985.
  2. Bộ luật Hình sự nước Việt Nam 1999.
  3. Bộ luật Hình sự nước Việt Nam 2015.
  4. Bộ luật Hình sự nước Việt Nam 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
  5. Bộ luật Tố tụng hình sự nước Việt Nam 2003.
  6. Bộ luật Tố tụng hình sự nước Việt Nam 2015.
  7. Luật Thi hành án hình sự 2010:
  8. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
  9. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
  10. Nhà xuất bản Tư pháp, “Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 – Phần các tội phạm – Quyển 1”:
  11. Từ điển tiếng việt, NXB Hồng Đức, 2010.
  12. Đinh Văn Quế, “Bình luận khoa học hình sự”, Trường ĐH luật Hà Nội, 22/08/2014 TS. Trần Văn Biên và TS. Đinh Thế Hưng (đồng chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), NXB Thế giới, 2017.
  13. TSKH Lê Cảm, “Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần chung)”, NXB ĐHQG Hà Nội, 2007.
  14. TSKH Lê Cảm, “Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm)”, NXB ĐHQG Hà Nội, 2007.
  15. TS Nguyễn Ngọc Hòa, “Tội phạm và cấu thành tội phạm”, NXB Tư pháp, 2013.
  16. TS Nguyễn Xuân Yêm, “Tội phạm học Việt Nam”, tập 2, NXB Công an nhân dân.
  17. TS. Nguyễn Xuân Yêm, “Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm”, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2001.
  18. Trần Quang Tiệp, “Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam”, NXB Tư pháp, 2003.
  19. Ngô Thị Oanh (chủ biên), “Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm)”, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010.
  20. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia https://www.wikipedia.org/
  21. Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp http://m7uoj.gov.vn/Pages/home.aspx
  22. Bộ luật Hình sự Thụy Điển.
  23. Bộ luật Hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
  24. Bộ luật Hình sự Hà Lan.
  25. http://legislationline.org/download/action/download/id/4247/file/RF_CC_1996_am03.2012_en.pdf
  26. https://www.unicef.org/vietnam/vi/c%C3%B4ng-%C6%B0%E1%BB%9Bc-li%C3%AAn-h%E1%BB%A3p-qu%E1%BB%91c-v%E1%BB%81-;quy%E1%BB%81n-tr%E1%BA%BB-em ;
  27. https://www.crin.org/en/home/rights/convention ;
  28. https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0277953605001176 ;
  29. https://www.ohchr.org/EN/UDHR/Documents/UDHR_Translations/eng.pdf ;
  30. https://www.ncjrs.gov/App/Publications/abstract.aspx?ID=42792;
  31. https://digitalcommons.ilr.cornell.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1007&context=child .

[1]  Lê Đức Trịnh (2010), Các tội xâm phạm tình dục trẻ em dưới góc độ pháp lý hình sự – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, TP.HCM.
[2] Cao Thị Mỹ Hằng (2010), Các tội xâm phạm tình dục trẻ em theo pháp luật hình sự Việt Nam -Lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, TP.HCM.
[3] Từ điển tiếng việt, trung tâm từ điển ngôn ngữ 1992
2 Trường Đại học Luật TP.HCM (2013), Giáo trình Luật Hình Sự Việt Nam – Phần các tội phạm (Quyển 1), Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 112. Đại học quốc gia Hà Nội – Khoa luật (2007), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần các tội phạm, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội,tr. 142. Trường Đại học Luật Hà Nội (2011).
3 Nguyễn Đức Mai (Chủ biên) (2010), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 – Phần các tội phạm, Nxb Chính trị quốc gia, tr. 113.
[6] Trần Quán Anh, Nguyễn Bửu Triều (2002), Bệnh học giới tính nam, Nxb Y học, tr.395.
[7] Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, bản án số 5/2012/HSST ngày 13 tháng 1 năm 2012.
[8] Tòa án nhân dân tỉnh Binh Dương, bản án số 53/2012/HSST ngày 29 tháng 6 năm 2012.
[9] Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, bản án số 03/2012/HSST ngày 12 tháng 1 năm 2012.
[10] Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, bản án số 661/2012/HSPT ngày 20/7/2012.
[11] Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, bản án số 105/2012/HSPT ngày 21/11/2012.
[12] Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, bản án số 576/2013/HSPT ngày 28/5/2013.
[13] http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/phong-su-ky-su/20140414/rinh-mo-o-ho-boi/602653.html
[14] Tòa Phú thẩm Tòa án Nhân Dân tối cao tại tp Hồ Chí Minh, bản án số 1177/2008/HSPT ngày 20 tháng 10 năm 2008 xét xử phúc thẩm “vụ án hình sự thụ lý số 1034/2008/HSPT ngày 1 tháng 10 năm 2008 đối với bị cáo Dinh jonathan peter”.
[15] http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/545500/3377352
[16]http://www.baomoi.com/Be-trai-bi-xam-hai-Ban-chat-la-hiep-dam-nhung-chi-xu-dam-o/104/13229651.epi
[17] Hội đồng biên soạn từ điển bách khoa (2002), Từ điển Bách khoa Việt Nam – Tập 2, Nxb Từ điển Bách khoa, tr. 117-118.
[18]http://www.doisongphapluat.com/dia-phuong/tin-phap-luat/nhung-phu-nu-tung-pham-toi-hiep-dam-a54061.html
[19] http://eva.vn/tin-tuc/thieu-nu-17-tuoi-doi-mat-voi-an-chung-than-vi-toi-hiep-dam-c73a297479.html
[20] https://www.tin247.com/duoc_ban_gai_cho_yeu_van_pham_toi_hiep_dam-6-21861064.html
[21] Khoản 1 điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
[22] http://eva.vn/tin-tuc/tin-nong-nghi-an-be-gai-13-tuoi-tu-van-vi-bi-xam-hai-c73a299102.html