Những vướng mắc bất cập trong công tác giải quyết nguồn tin về tội phạm

Công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (nguồn tin về tội phạm) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; là căn cứđể kịp thời phát hiện hành vi phạm tội xảy ra, xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để xem xét, quyết định việc khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự.

Công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS)  quy định thành một chương riêng (Chương IX); ngày 29/12/2017, Liên ngành Trung ương cũng đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC hướng dẫn áp dụng. Tuy nhiên, qua nghiên cứuvà thực tiễn áp dụng những quy định của BLTTHS năm 2015, TTLT số 01/2017 trong công tác tiếp nhận, thụ lý và giải quyết nguồn tin về tội phạm vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc, cụ thể:

Nguồn tin về tội phạm

Nguồn tin về tội phạm được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự gồm: “tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, cá nhânlời khai của người phạm tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện”, đây cũng là các căn cứ để Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Điều 143 BLTTHS quy định:

Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:
1. Tố giác của cá nhân;
2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;
4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;
5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;
6. Người phạm tội tự thú.

Về căn cứ pháp lý, trình tự thủ tụcchức năng nhiệm vụ của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc thụ lý, giải quyết một số nguồn tin được quy định từ Điều 144 đến Điều 152 Bộ luật Tố tụng hình sự và TTLT số 01/2017, cụ thể: Tố giác của công dân; Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước và Người phạm tội tự thú. Tuy nhiên, nguồn tin do “Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm” chưa được quy định trong BLTTHS và TTLT số 01/2017 gây khó khăn cho việc thụ lý, giải quyết về trình tự, thủ tục, thời hạn của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nói chung và Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) nói riêng trong công tác thực hành quyền công tốkiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm.
Thực tiễn tại nhiều địa phương, Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (chủ yếu là Cơ quan Cảnh sát điều tra) đã phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm qua “hoạt động nghiệp vụ”, mặc dù đã tiến hành kiểm tra, xác minh nhưng không tiến hành thụ lý, phân công người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và  không chuyển nguồn tin đến Viện kiểm sát để Viện kiểm sát thụ lý, phân công Kiểm sát viêntheo quy định. Có một số vụ việc kéo dài, không giải quyết triệt để; một số vụ đã vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục tố tụng trong quá trình kiểm tra, xác minh, ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia tố tụng. Do pháp luật hiện hành (BLTTHS, TTLT số 01/2017) không quy định về trình tự, thủ tục thụ lý và giải quyết nguồn tin này nên VKSND cũng không có căn cứ để ban hành Kiến nghị khắc phục vi phạm và Yêu cầu Cơ quan CSĐT thụ lý, giải quyết theo đúng quy định của TTLT số 01/2017 và BLTTHS về trình tự và thời hạn giải quyết theo Điều 147 BLTTHS.
Đối với một số nguồn tin về tội phạm do “Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện”. Sau khi kiểm tra, xác minh có đủ dấu hiệu của tội phạm (không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 9 TTLT số 01/2017) được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Cơ quan CSĐT đã khởi tố vụ án, bị can và chuyển hồ sơ đến VKSND đề nghị phê chuẩn theo quy định. Quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, VKSND nhận thấy có dấu hiệu của tội phạm. Tuy nhiên, việc này không được thụ lý, kiểm tra, xác minh theo trình tự của BLTTHS và TTLT số 01/2017, dẫn đến những tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ không có giá trị pháp lý và không dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án. Hoạt động của Cơ quan CSĐT đã vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm nên không có căn cứ để xét phê chuẩn.
Điều 86 BLTTHS quy định: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án. Khoản 2 Điều 87 BLTTHS quy định: “Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự”. Điều 102 BLTTHS quy định: “Những tình tiết được ghi trong biên bản về hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tốxét xử được lập theo quy định của Bộ luật này có thể được coi là chứng cứ”.

Về trình tự, thủ tục tố tụng

Khoản 3 Điều 147 BLTTHS quy định:

Khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền có quyền tiến hành các hoạt động:
a) Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin;
b) Khám nghiệm hiện trường;
c) Khám nghiệm tử thi;
d) Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản.

Như vây chúng ta có thể thấy: Sau khi tiếp nhận, thụ lý Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ được áp dụng 04 nhóm biện pháp (quyền) nêu trên và trong thời hạn luật định (tối đa 120 ngày) phải ban hành 01 trong 03 Quyết định quy định tại khoản 1 Điều 147 BLTTHS, cụ thể: Quyết định khởi tố vụ án hình sựQuyết định không khởi tố vụ án hình sự và Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thực tiễn, quy định nêu trên gây rất nhiều khó khăn đối với Cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cụ thể:
Một là, Một số biện pháp kiểm tra, xác minh: Một số vụ việc, sau khi khám nghiệm hiện trường, thu thập tài liệu có liên quan đối với tổ chức, cá nhân và lấy lời khai của những người tham gia tố tụng nhưng còn mâu thuẫn trong lời khai, nhiều tình tiết chưa rõ hoặc các vụ tai nạn giao thông, cố ý gây thương tích,…Sau khi xảy ra vụ việc, hai bên không yêu cầu khởi tố hình sự mà tự thỏa thuận bồi thường dân sự, một thời gian sau, do không thống nhất được mức bồi thường dân sự nên có bên yêu cầu khởi tố hình sự. Đối với các vụ việc nêu trên, cần thiết và bắt buộc phải dựng lại hiện trường, thực nghiệm điều tra, đối chấtnhận dạngkhám xét,…thì mới có đủ căn cứ Quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án. Tuy nhiên, Luật chỉ cho phép Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng 01 trong 04 nhóm biện pháp kiểm tra, xác minh như đã nêu trên.
Hai là, Công tác Giám định: Trong giai đoạn kiểm tra, xác minh tin báo, điểm d khoản 4 Điều 147 và Điều 206 BLTTHS quy định về “Trưng cầu giám định” có 06 trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật giám định tư pháp ngày 20/6/2012, lại quy định: “Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương phápkhoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám địnhtheo quy định của Luật này”. Quy định này được hiểu: Cơ quan giám định, Giám định viên được trưng cầu giám định chỉ thực hiện giám định những vấn đề liên quan đến hoạt động điều tra (từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự), truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Thực tiễn, một số trường hợp Cơ quan giám định tư pháp và Giám định viên từ chối giám định với lý do cơ quan trưng cầu giám định chưa khởi tố vụ án, gây khó khăn cho cơ quan trưng cầu giám định trong giai đoạn xác minh, giải quyết nguồn tin về tội phạm.
Một số địa phương Cơ quan điều tra và cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra (Cơ quan Kiểm lâm) trong quá trình hoạt động đã thu giữ cá thể động vật hoang dã. Khi xử lý tội phạm này nhất thiết phải xác định tên, loài cá thể để xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự (khởi tố vụ án, bị can). Tuy nhiên, Điều 206 BLTTHS quy định 06 trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định và  Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP ngày 13/12/2017 của Liên ngành Trung ương quy định có 06 trường hợp cần thiết phải trưng cầu giám định thì “động vật hoang dã” không thuộc trường hợp bắt buộc hoặc cần thiết phải trưng cầu giám định; trong khi điểm d khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015 lại quy định: “Vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật”. Mâu thuẫn, bất cập này khiến các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng gặp khó khăn, vướng mắc khi xử lý các vụ án, vụ việc liên quan đến động vật hoang dã.

Về tạm đình chỉ 

Khoản 1 Điều 148 BLTTHS quy định:

Hết thời hạn quy định tại Điều 147 của Bộ luật này, cơ quan có thẩm quyền giải quyết quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả;
b) Đã yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án nhưng chưa có kết quả.

Sau khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thường gặp vướng mắc khi áp dụng khoản 1 Điều 148 BLTTHS, cụ thể:
Về quy định “cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định…”. Có thể khẳng định, đây là quy định mang tính định tính, tùy theo cách hiểu của từng người. Khi đã hiểu tùy nghi, đồng nghĩa việc áp dụng cũng tùy nghi và khác nhau giữa các địa phương và giữa những người tiến hành tố tụng. Ví dụ: A tố cáo B Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Sau khi thụ lý, Cơ quan điều tra đã triệu tập và xác minh nhiều lần với gia đình và chính quyền địa phương nhưng không xác định được B đang ở đâu, chưa lấy lời khai của B. Do vậy, không đủ căn cứ để khởi tố hoặc không khởi tố vụ án. Vậy, nội dung này có được coi là “đã yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định…” để tạm đình chỉ việc kiểm tra, xác minh không.
Đối với một số vụ việc bị hại trình báo mất tài sản, qua khám nghiệm hiện trường, ghi lời khai và áp dụng các biện pháp kiểm tra, xác minh theo quy định nhưng chưa đủ căn cứ khởi tố vụ án hay không khởi tố vụ án và cũng không thuộc trường hợp tạm đình chỉ theo quy định tại khoản 1 Điều 148 BLTTHS thì giải quyết như thế nào.
Về phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm
Khoản 1 Điều 149 BLTTHS quy định:

1. Khi lý do tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không còn, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tiếp không quá 01 tháng kể từ ngày ra quyết định phục hồi.

Chế định “phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm” là quy định mới của BLTTHS năm 2015, nhằm khắc phục những bất cập khi thực hiện BLTTHS năm 2003 và TTLT số 06/2013 trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm. Tuy nhiên, Điều luật chỉ quy định phục hồi nguồn tin trước đó đã tạm đình chỉ, không đề cập việc phục hồi (giải quyết) nguồn tin trước đó đã tạm dừng. Thực tế, rất nhiều địa phương khi thực hiện BLTTHS năm 2003, TTLT số 06/2013 và Quyết định số 1319/QĐ-BCA-C41 ngày 20/3/2015 của Bộ Công an về Quy trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong Công an nhân dân đã tạm dừng việc kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm rất nhiều vụ việc; đối với những nguồn tin này hiện nay chưa biết giải quyết như thế nào.
Mặc dù có nhiều tiến bộ và giải quyết được nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tế áp dụng; tuy nhiên, quá trình thực hiện, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 vẫn còn một số vướng mắc, bất cập đặc biệt là thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm như đã phân tích nêu trên. Trong thời gian chờ sửa đổi bổ sung Bộ luật, thiết nghĩ Liên ngành Trung ương cần sớm sửa đổi, bổ sung Thông tư số 01/2017 để công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đạt hiệu quả cao, hạn chế thấp nhất tình trạng bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội, đảm bảo quyền và lợi ích hợp phápcủa người tham gia tố tụng, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa./.

Thực trạng tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam

Việt Nam đang hội nhập và tham gia sâu vào “sân chơi” của khu vực và thế giới, điều đó mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức cho nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàngnói riêng.

Thế giới chúng ta đang bước vào kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức, trong đó khoa học và công nghệ giữ vai trò chủ đạo. Sản phẩm của khoa học và công nghệ chiếm phần lớn giá trị của nhiều hàng hóa, dịch vụ. Khoa học và công nghệ đang tạo ra sự khác biệt to lớn trong sự phát triển giữa các quốc gia với nhau.
Việt Nam đang hội nhập và tham gia sâu vào “sân chơi” của khu vực và thế giới, điều đó mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức cho nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng. Cuộc cách khoa học và công nghệ diễn ra, kèm theo dịch vụ ngân hàng số nở rộ, tội phạm công nghệ cao tấn công vào lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam có xu hướng gia tăng cả về số lượng và mức độ ngày càng tinh vi hơn.
Bài viết này khái quát về thực trạng tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Namtrong thời gian qua, đồng thời đưa ra những dự báo về nguy hại mà tội phạm này mang lại, từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng trong thời gian tới.

Thực trạng tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam

Trên thế giới, có khoảng 3,9 tỷ người (tương đương khoảng 60% dân số toàn cầu) sử dụng internet. Công nghệ thông tin, viễn thông trở thành một lĩnh vực mà các đối tượng tội phạm tập trung khai thác, sử dụng.
Theo báo cáo của Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (INTERPOL), tội phạm sử dụng công nghệ cao đang trở thành mối nguy hại lớn trên giới với thiệt hại gây ra hàng năm khoảng 400 tỷ đô la Mỹ, cao hơn số tiền mà tội phạm buôn bán ma túy thu được và cứ 14 giây lại xảy ra 01 vụ phạm tội sử dụng công nghệ cao.
Ở Việt Nam, theo Công ty mạng Bkav, thiệt hại do loại tội phạm công nghệ cao gây ra năm 2018 là 14.900 tỷ đồng, đặc biệt, chiếm tỷ trọng lớn trong đó là những thiệt hại xảy ra trong những lĩnh vực ngân hàng, tài chính. Nhóm tội phạm này thường tập trung tại một số tỉnh, thành phố trọng điểm, nơi diễn ra hoạt động kinh tế lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, Hồ Chí Minh, Bình Dương…
Về đối tượng phạm tội, ban đầu chỉ có một số ít người nước ngoài hoặc Việt kiều, nhưng đến nay, loại tội phạm này đã mở rộng đến từ nhiều quốc gia như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Anh… Thậm chí, việc người Việt Nam sử dụng công nghệ cao để phạm tội trong lĩnh vực ngân hàng đã gia tăng, đặc biệt, có cả sinh viên có hiểu biết sâu về công nghệ thông tin.
Tội phạm này có tổ chức, liên kết các cá nhân từ khắp nơi trên thế giới, sử dụng “lính đánh thuê” với mục tiêu tấn công vào hệ thống máy chủ của các ngân hàng, từ đó hình thành lên các nhóm như: nhóm viết mã độc, phát tán mã độc, thu thập lợi ích, tái phân phối; nhóm lắp đặt thiết bị sao chép dữ liệu; nhóm sử dụng thiết bị làm giả thẻ ngân hàng; nhóm sử dụng thẻ giả để rút tiền…
Về phương tiện phạm tội trong lĩnh vực ngân hàng, nhóm tội phạm này đã sử dụng công nghệ cao làm phương tiện thực hiện tội phạm trong khi công nghệ ngày một phát triển, đổi mới. Thủ đoạn phạm tội diễn ra ngày càng phức tạp, tinh vi dưới một số hình thức phổ biến sau:
Xâm phạm thiết bị điện tử, thiết bị số của ngân hàng, cá nhân, tổ chức
Nhóm tội phạm này đã xâm phạm an ninh, an toàn thiết bị điện tử (máy tính, mạng máy tính), thiết bị số của ngân hàng hoặc doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có thực hiện mua bán – thanh toán trực tuyến bằng hình thức phát tán virus, phần mềm gián điệp, mã độc hại với nhiều biến thể qua thư điện tử, đường link website, diễn đàn, mạng xã hội hoặc các phần mềm miễn phí, phần mềm được sử dụng phổ biến (Unikey, phần mềm đọc file PDF/ảnh…) để thu thập, trộm cắp, thay đổi/phá hủy trái phép cơ sở dữ liệu; chiếm quyền điều khiển máy chủ, sau đó thay đổi giao diện của trang web bị tấn công, tạo website giả…. Theo Bkav, năm 2018, Việt Nam có 9.300 website bị hacker xâm nhập và 30% website các ngân hàng Việt Nam có lỗ hổng.
Lừa đảo nhằm lấy cắp thông tin cá nhân
Nhóm tội phạm này đã sử dụng phần mềm gửi thư rác có nội dung khuyến mại, trúng thưởng… giả danh các ngân hàng gửi đến khách hàng với yêu cầu người dùng phải đăng nhập tài khoản ngân hàng của mình và cung cấp mã xác thực mật khẩu (OTP) để nhận được phần thưởng, khi khách hàng làm theo hướng dẫn thì máy tính sẽ bị cài virus, mã độc.
Ngoài ra, còn có hình thức giả mạo như thông qua Facebook gửi cảnh báo đến người dùng Facebook và đề nghị bấm vào đường dẫn để chuyển hướng đến website giả mạo. Một số khách hàng của các ngân hàng như HSBC, Vietcombank, BIDV, ACB… cũng nhận được các cuộc gọi đến xưng danh là cán bộ của ngân hàng thông báo việc khách đã trúng thưởng, đề nghị khách hàng chuyển tiền để làm thủ tục nhận thưởng; hoặc thông báo thẻ tín dụng có vài vấn đề và yêu cầu cung cấp những thông tin liên quan để điều chỉnh; xưng danh là cán bộ điều tra yêu cầu nộp tiền vào một tài khoản khác để bảo lãnh, phục vụ việc điều tra…
Trộm cắp, mua bán và sử dụng trái phép thẻ ngân hàng giả
Nhóm tội phạm này thường sử dụng thiết bị hiện đại gắn vào máy ATM/POS; cài phần mềm gián điệp, mã độc tấn công máy ATM và hệ thống thẻ; bẻ khóa hệ thống bảo mật, đánh cắp thông tin của chủ thẻ rồi chế tạo thẻ ngân hàng giả để sử dụng bất hợp pháp dưới thủ đoạn mua bán thẻ ngân hàng giả; rút tiền tại các máy ATM/POS; thanh toán trực tuyến…
Hack sim điện thoại của khách hàng để lấy thông tin hoặc lấy tiền
Nhóm tội phạm này thông qua các công đoạn như: tìm kiếm mục tiêu, thông qua các kỹ thuật hỗ trợ lừa đảo, tráo đổi thẻ sim, truy cập vào các tài khoản trực tuyến từ đó chiếm quyền sở hữu các tài khoản. Thủ đoạn phạm tội này không chỉ nhằm lấy được tiền trong tài khoản mà còn có thể bán tài khoản ấy cho người khác hoặc lấy hết tiền trong ngân hàng khi sim được liên kết với tài khoản ngân hàng.

Dự báo nguy cơ và thách thức tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam

Quá trình hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới của Việt Nam cho thấy tình hình phạm tội công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng dự báo sẽ còn diễn biến khó lường với hành vi ngày càng phức tạp, tinh vi hơn bởi những yếu tố sau:
Thứ nhất, chỉ số an toàn về thông tin ở Việt Nam đang còn thấp.
Theo Công ty Phần mềm Hoa Kỳ (Symantec), Việt Nam đứng thứ 11 thế giới về các hoạt động đe dọa tấn công mạng. Theo Hiệp hội An toàn thông tin số Việt Nam (VNISA), chỉ số an toàn thông tin năm 2018 là 45,6% mặc dù chỉ số an toàn thông tin của Việt Nam đã cải thiện qua các năm (năm 2015 là 47,4%; năm 2016 là 59,9%; năm 2017 đạt 46,8%) nhưng vẫn được dự báo là nước có tỷ lệ lây nhiễm phần mềm độc hại, mã độc ở mức cao.
Thứ hai, chiến lược phát triển ngành ngân hàng trong thời đại 4.0.
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra dự báo rằng, ngân hàng số sẽ là tương lai của ngành ngân hàng và là mảnh đất màu mỡ để tội phạm công nghệ cao khai thác phi pháp theo phương thức và công cụ ngày càng tinh vi hơn. Tại Việt Nam, năm 2018 có 47 ngân hàng cung cấp dịch vụ internet banking, 27 tổ chức cung cấp hơn 3,5 triệu tài khoản ví điện tử nhưng đến 2020, Việt Nam sẽ có 95% ngân hàng triển khai dịch vụ internet banking, mobile banking và 30% ngân hàng sẽ triển khai ngân hàng số.
Thứ ba, sự bùng nổ của thương mại điện tử và thị trường thiết bị số.
Xu hướng tấn công bằng mã độc sẽ tiếp diễn mạnh mẽ, thậm chí bùng nổ bởi thương mại điện tử và thị trường thiết bị số đang tăng lên nhanh chóng cùng với các dịch vụ tài chính số ngày càng được sử dụng rộng rãi. Hiện nay, hơn 60% người dân (khoảng 55 triệu người) dùng internet ở Việt Nam, có 58 triệu người dùng Facebook.
Theo hãng Ericsson dự báo đến năm 2018, tại Việt Nam tỷ lệ thuê bao smartphone sẽ tăng mạnh lên khoảng 70% và khoảng 10% tỷ lệ người dùng điện thoại sẽ dùng mạng 4G; đến năm 2021, số lượng thuê bao smartphone sẽ tăng gấp hơn 3 lần so với năm 2015 trong khi xét ở thời điểm cuối năm 2015, tỷ lệ thuê bao di động băng rộng đạt gần 40%.
Như vậy, nguy cơ dường như sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn. Theo Kaspersky và Symantec, Việt Nam được xếp đứng thứ 3 về số người dùng di động bị mã độc tấn công nhiều nhất trên thế giới; thứ 6 trên thế giới về số lượng địa chỉ IP trong nước được dùng trong các mạng máy tính ma tấn công nước khá và đứng thứ 12 trên thế giới về các hoạt động tấn công mạng.
Thứ tư, phát triển thanh toán không dùng tiền mặt.
Theo Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2545/QĐ-TTg ngày 30/12/2016, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2020, có 100% các siêu thị, trung tâm mua sắm và cơ sở phân phối hiện đại có POS; 50% cá nhân, hộ gia đình ở các thành phố lớn sử dụng phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt; toàn thị trường có trên 300.000 thiết bị chấp nhận thẻ POS.
Tuy nhiên, sự tiện lợi này lại tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho chủ thẻ, trong đó phổ biến nhất là thủ đoạn lắp đặt thiết bị tại máy ATM/POS để sao chép, trộm cắp dữ liệu, làm giả thẻ ngân hàng.

Kiến nghị giải pháp nhằm phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển mạnh của các dịch vụ ngân hàng điện tử cùng các thiết bị điện tử thông minh sẽ là những điều kiện thuận lợi để tội phạm công nghệ cao tấn công. Cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm công nghệ cao là cuộc chiến “không tiếng súng”, cuộc chiến của trí tuệ và công nghệ từ 3 bên: Nhà nước, ngân hàng và khách hàng. Từ đó tác giả kiến nghị một số giải pháp sau:
Phòng, chống tội phạm công nghệ cao từ các cơ quan quản lý nhà nước
Để phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng đòi hỏi sự quyết liệt, mạnh mẽ từ các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương thông qua các nhóm giải pháp sau:
Một là, kịp thời ban hành các chính sách, biện pháp cụ thể bảo đảm an ninh trật tự trong phát triển các lĩnh vực khoa học và công nghệ để phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao nói chung và trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng.
Hai là, hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực công nghệ cao thông qua các văn bản như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính… Cần phải tăng nặng chế tài hình sự và chế tài hành chính đối với nhóm vi phạm pháp luật về công nghệ cao.
Ba là, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sớm ban hành văn bản về phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng. Đồng thời, có sự phối hợp chặt chẽ với các bộ, ban, ngành khác nhằm phòng chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng.
Bốn là, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao nói chung và lĩnh vực ngân hàng nói riêng. Tập trung trao đổi thông tin tội phạm, nhận sự tài trợ các thiết bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại và đào tạo cán bộ trình độ cao từ các tổ chức quốc tế, phục vụ cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao.
Phòng, chống tội phạm công nghệ cao từ ngân hàng
Trong thời gian tới, các ngân hàng phải tiến hành các nhóm giải pháp sau:
Một là, triển khai áp dụng sớm và đồng bộ các biện pháp bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng điện tử với các công nghệ bảo mật tiên tiến như xác thực sinh trắc học, công nghệ chống tấn công, công nghệ phát hiện giao dịch gian lận, hệ thống bảo mật ba lớp… Bên cạnh đó, cần rà soát, kiểm tra thường xuyên tình hình bảo mật, an ninh để sớm phát hiện các lỗ hổng bảo mật, mã độc… có nguy cơ làm lộ, lọt thông tin khách hàng.
Hai là, triển khai áp dụng các biện pháp bảo đảm an toàn hoạt động thanh toán thẻ của máy ATM/POS như trang bị POS không dây có tính năng định vị qua GPS; kiểm tra, giám sát chặt chẽ các chủ thể thanh toán thẻ. Triển khai các biện pháp bảo vệ dữ liệu khách hàng và bảo đảm hoạt động liên tục của hệ thống thông tin trong ngân hàng.
Ba là, đào tạo nguồn nhân lực có nghiệp vụ trong lĩnh vực ngân hàng và lĩnh vực công nghệ cao nói riêng nhằm ứng phó khi bị nhóm tội phạm này xâm nhập. Ngoài ra, tăng cường trách nhiệm của từng cá nhân trong ngân hàng tham gia phòng ngừa, phát hiện kịp thời, tố giác tội phạm công nghệ cao.
Phòng, chống tội phạm công nghệ cao từ khách hàng
Trong hoạt động phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng không thể thiếu khách hàng, vì nếu Nhà nước và ngân hàng dù có nỗ lực bao nhiêu mà khách hàng không tuân thủ thì cũng không hạn chế được loại tội phạm trên. Vì vậy, khách hành cần có các nhóm giải pháp sau:
Cần tuân thủ các quy định pháp luật về lĩnh vực công nghệ cao theo quy định; tuân thủ quy định của ngân hàng khi tham gia vào các giao dịch liên quan đến ngân hàng. Từ đó, nếu có thiệt hại do tội phạm công nghệ cao gây ra thì sẽ xác định được trách nhiệm của các bên theo quy định pháp luật.
Tăng cường công tác tuyên truyền cho khách hàng nâng cao ý thức và trách nhiệm phòng chống tội phạm công nghệ cao; cảnh báo khách hàng cần cẩn trọng trong việc cung cấp thông tin cá nhân, mật khẩu khi thực hiện các giao dịch thanh toán hoặc thực hiện bất kỳ yêu cầu thay đổi thông tin trên mạng xã hội, website, email, điện thoại…
ThS. Trần Thế Hệ
Nguồn: Luật sư Việt Nam Online

Vai trò của Cơ quan công tố trong xử lý tội phạm về ma túy

Bất cứ một vụ án ma tuý của một quốc gia nào cũng đều có đóng góp quan trọng của Cơ quan công tố (Viện công tố/Viện kiểm sát). Mọi hoạt động của Cơ quan công tố đều phải tuân theo quy định của pháp luật.

1. Quy định của luật pháp quốc tế

Vai trò của Công tố viên trong điều tra tội phạm về ma túy được thể hiện rất rõ trong “Các hướng dẫn về vai trò của Công tố viên năm 1990”, được thông qua tại Đại hội Liên hợp quốc lần thứ 8 về Phòng ngừa tội phạm và cách xử lí tội phạm tại Havana, Cuba năm 1990. Các Công tố viên thể hiện vai trò chủ động trong vụ án, gồm tiến hành truy tố và nếu được ủy quyền bởi luật hay tuân theo thực tế nước sở tại trong việc điều tra, giám sát việc thực hiện quyết định của Tòa án và thực hiện các chức năng khác, là đại diện của lợi ích công chúng.
Hoạt động của Cơ quan công tố trong điều tra, truy tố tội phạm ma tuý được thể hiện cuốn Drug Law prosescution and judicial reference hand book (Sổ tay tham khảo về hoạt động tư pháp và truy tố tội phạm ma tuý), của Cơ quan phòng, chống ma tuý và tội phạm Liên hợp quốc (UNODC), năm 2003. Cuốn sổ tay là tài liệu nghiên cứu, tổng hợp và cung cấp hoạt động của những trường hợp truy tố hoặc hoạt động tư pháp của mỗi quốc gia thành viên đã tham gia 3 Công ước của Liên hợp quốc về phòng, chống và kiểm soát ma tuý (năm 1961, 1971, 1988). UNODC cung cấp những thông tin và kinh nghiệm thực tế cho mục đích nghiên cứu nhằm tăng cường sự hiểu biết cơ bản của sự cộng tác đấu tranh chống tội phạm về ma tuý trên toàn cầu. Mỗi quốc gia có Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) khác nhau, có thể theo những hệ thống pháp luật khác nhau, vấn đề xử lí tội phạm ma tuý chủ yếu bằng luật nội địa, song hoạt động xử lý tội phạm về ma tuý đều phải tuân theo các thủ tục của điều tra, truy tố và xét xử để xử lý tội phạm về ma tuý có hiệu quả. Cuốn sách đặc biệt chú ý đến luật phápvà sự hợp tác chống tội phạm ma tuý của 6 nước tiểu vùng sông Mê Kông, trong đó có Việt Nam. Giải quyết các vụ án ma tuý liên quan đến người nước ngoài, Cơ quan Công tố có vai trò đặc biệt quan trọng trong thực hiện các tương trợ tư pháp cũng như yêu cầu tương trợ tư pháp.
Điểm chung nhất của Cơ quan công tố theo pháp luật quốc tế và pháp luật mỗi nước là thay mặt cho nhà nước truy tố đối với người phạm tội về ma túy và là đầu mối tương trợ tư pháp trong giải quyết các vụ án ma túy có yếu tố nước ngoài.

2. Cơ quan công tố các nước Châu Á

Viện kiểm sát nhân dân Trung Quốc
Trung quốc là một quốc gia có hệ thống pháp luật về phòng, chống ma túy đầy đủ, toàn diện. Ngoài BLTTHS, Trung Quốc có Luật phòng, chống ma túy năm 2007, Nghị định về kiểm soát ma túy năm 1987, Nghị định về quản lý các tiền chất, hóa chất năm 2005…
Theo quy định của BLTTHS Trung Quốc, trong giai đoạn điều tra, VKSND kiểm sát thực hiện các hoạt động cụ thể là: kiểm sát việc khởi tố của Cơ quan điều tra, thẩm tra, phê chuẩn lệnh bắt giữ của Cơ quan điều tra. VKSND phải quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn việc bắt giam trong vòng 7 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu phê chuẩn việc bắt giam của Cơ quan điều tra. Nếu VKSND không phê chuẩn việc bắt thì khi nhận được thông báo đó Cơ quan điều tra phải thả ngay và thông báo cho VKSND biết. VKSND có chức năng: kiểm sát việc chấp hành pháp luật của Cơ quan điều tra, đảm bảo việc điều tra được thực hiện đúng pháp luật, khắc phục tình trạng bắt giữ trái phép, ép cung, bức cung, truy tố người phạm tội ra trước Toà án để xét xử.
VKSND cũng có quyền quyết định việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh bắt, lệnh tạm giam. Đối với trường hợp VKSND ra quyết định bắt tạm giam thì trong thời hạn 24 giờ sau khi bắt tạm giam Kiểm sát viên phải tiến hành thẩm vấn người bị bắt tạm giam. Theo Điều 117 BLTTHS Trung Quốc thì VKSND có thể kiểm tra hoặc phong toả tài khoản, đồ vật gửi giữ của nghi can theo qui định.
Ở giai đoạn điều tra Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát việc khởi tố của cơ quan Công an; phê chuẩn lệnh bắt giữ của cơ quan Công an; kiểm sát việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra của cơ quan điều tra, yêu cầu cơ quan Công an cung cấp chứng cứ cần thiết… bảo đảm cho hoạt động điều tra được thực hiện đúng pháp luật; khắc phục tình trạng bắt giữ trái phép, ép cung, bức cung, hãm hại, báo thù, khám xét trái phép, xâm phạm thân thể, quyền dân chủ của công dân.

Công pháp quốc tế
(Ảnh minh họa)

Chỉ đạo điều tra, truy tố của cơ quan Công tố Nhật Bản
Viện công tố Nhật Bản trong giải quyết án hình sự cũng như án ma tuý theo TTHS: có thẩm quyền tiến hành điều tra; là cơ quan duy nhất có quyền đề nghị Thẩm phán ra lệnh tạm giam; khởi tố, truy tố, tranh tụng tại Toà; giám sát công tác thi hành các bản. Theo BLTTHS, Luật về Viện Công tố và Luật Cảnh sát thì những vụ án do Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển đến, Công tố viên sẽ cân nhắc truy tố hay không truy tố hoặc điều tra bổ sung. Công tố viên có quyền chỉ huy, chỉ đạo đối với Điều tra viên(của Cảnh sát), yêu cầu xử lý kỷ luật Điều tra viên trong trường hợp Điều tra viên không tuân theo chỉ đạo của Công tố viên mà BLHS qui định. Điều 246 Bộ luật này qui định: khi Cảnh sát điều tra tội phạm, cần phải chuyển các vụ án tới Viện Công tố, trừ vụ án ít nghiêm trọng và các vụ án khác do Công tố viên chỉ định. Khi Cảnh sát bắt người để tạm giam, phải trình vụ việc cho Công tố viên trong vòng 48 giờ kể từ khi bị bắt. Nếu Công tố viên cho rằng việc giam giữ là cần thiết thì trong vòng 24 giờ kể từ khi nhận bị can phải yêu cầu Thẩm phán ra lệnh giam giữ bị can, nếu không phải thả ngay bị can. Nếu Công tố viên bắt một bị can, thì phải tuân thủ các thủ tục tương tự trong vòng 48 giờ kể từ khi bắt.
Công tố viên có quyền độc lập xét hỏi bị can hoặc những người tham gia tố tụng khác. Trường hợp một tội phạm nằm trong một số khu vực quản lý của Cảnh sát thì Công tố viên có thể chỉ huy thông thường đối với Cảnh sát trong khu vực quản lý để yêu cầu hợp tác, phối hợp điều tra. Tổng Công tố trưởng, Viện trưởng Viện Công tố có thể yêu cầu Uỷ ban An ninh Nhà nước hoặc Uỷ ban An ninh tỉnh, thành phố cảnh cáo, cách chức đối với Điều tra viên khi Điều tra viên không tuân thủ chỉ thị hoặc chỉ huy của Công tố viên mà không có lý do chính đáng (Điều 194).
Công tố viên có quyền: bắt giam bị can; khám xét và tịch biên, lưu giữ hồ sơ; kiểm tra đối tượng; kiểm soát việc giao nhận, thu chặn các thông tin liên lạc với tội phạm có tổ chức nghiêm trọng; hỏi đối tượng tình nghi và nhân chứng; đề nghị các cá nhân cung cấp thông tin; đề nghị tạm giam, thả đối tượng; lấy lời khai nhân chứng.
Cơ quan Công tố Thái Lan
Trong giai đoạn điều tra vụ án, Cảnh sát điều tra độc lập. Theo qui định của tố tụng hình sự Thái Lan thì Công tố viên chỉ tham gia vào hoạt động tố tụng sau khi Cảnh sát kết thúc việc điều tra và chuyển hồ sơ cho cơ quan Công tố.
Luật về Các biện pháp trấn áp người phạm tội liên quan đến ma túy ở Thái Lan (năm 1991) qui định về hoạt động của Công tố viên: “Sau khi Công tố viên đã ra lệnh truy tố và tài sản bị thu giữ hoặc bị niêm phong theo lệnh của Uỷ ban như qui định ở Điều 22 là tại sao tài sản có dính líu tới hành vi phạm tội liên quan đến ma túy, Công tố viên sẽ làm đơn đề nghị Tòa án ra lệnh tịch biên tài sản đó” (Điều 27). Công tố viên có quyền gửi đơn đề nghị lên Tòa án đề nghị ra lệnh tịch thu đối với mọi dụng cụ, thiết bị, phương tiện đối tượng phạm tội đã sử dụng để vận chuyển máy móc hoặc tài sản khác được sử dụng trong hành vi phạm tội liên quan đến ma túy, hoặc được sử dụng như các phương tiện bổ trợ cho sự phạm tội hoặc bị chiếm hữu để sử dụng trong việc phạm tội, sẽ bị tịch thu, bất kể người đó có bị Tòa án kết tội hay không (Điều 30). Công tố viên xem xét hồ sơ vụ án ma túy của Cảnh sát chuyển đến một cách độc lập, nếu thấy không có chứng cứ để truy tố bị can thì có thể Công tố viên sẽ không đưa vụ việc ra Tòa. Công tố viên có quyền quyết định việc không truy tố, nếu việc truy tố đó không phục vụ lợi ích công cộng.
Cơ quan công tố Vương quốc Campuchia
Luật về kiểm soát ma tuý của Campuchia năm 1994, tại Điều 67 qui định việc kiểm tra, khám xét và thu giữ tại những nơi sản xuất, vận chuyển, tàng trữ trái phép các loại ma tuý cần phải có sự cho phép bằng văn bản của Công tố viên hoặc Thẩm phán điều tra khi vụ án có liên quan đến Công tố viên và Thẩm phán điều tra đó.
Trong quá trình giải quyết vụ án ma tuý “Công tố viên hoặc Thẩm phán điều tra có thể: Tổ chức kiểm soát các tài khoản ngân hàng hoặc tài khoản khác được coi như tài khoản ngân hàng; Tổ chức kiểm soát và nghe lén đường dây điện thoại; Kiểm tra hệ thống máy tính; Yêu cầu cung cấp tất cả các giấy tờ cá nhân đáng tin cậy và các tài liệu ngân hàng, thương mạitài chính. Khi có đầy đủ bằng chứng chứng minh rằng những tài khoản, đường dây điện thoại hoặc hệ thống máy tính được sử dụng có thể được sử dụng bởi những người bị nghi là tội phạm.
Cơ quan Công tố Philippines
Bộ luật kiểm soát toàn diện các chất ma tuý nguy hiểm năm 2002 của Philippines qui định cụ thể một số hoạt động của Cơ quan Công tố:
Tại Phần 65. Trách nhiệm của Công tố viên trong quá trình tiến hành tố tụng qui định: “Công tố viên cấp tỉnh hoặc thành phố hoặc trợ lí của họ hoặc Kiểm sát viên cấp nhà nước có trách nhiệm chuẩn bị Cáo trạng trong quá trình xét xử”.
Phần 90, Chương XI thẩm quyền xét xử các vụ án ma tuý nguy hiểm, Công tố viên có thẩm quyền tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu: “Sẽ bổ nhiệm các Công tố viên đặc biệt chuyên thụ lí các vụ án liên quan đến các hành vi vi phạm Luật này. Hoạt động điều tra ban đầu đối với các vụ án bị khởi tố theo Luật này sẽ phải hoàn thành trong vòng 30 ngày kể từ khi khởi tố vụ án.” Khi đã có đủ chứng cứ buộc tội, Công tố viên đệ trình lên Toà án trong vòng 24 giờ kể từ thời điểm kết thúc điều tra.
Cơ quan công nước Cộng hoà Indonexia
Ngoài qui định của BLTTHS, Luật phòng, chống ma tuý của nước Cộng hoà Indonexia qui định về hoạt động của Văn phòng Chưởng lý như sau:
Khi tiến hành tiêu huỷ chất ma tuý, Cơ quan điều tra Cảnh sát Quốc gia sẽ tiến hành với sự tham gia của các quan chức Văn phòng Trưởng lý khu vực sẽ quyết định có sử dụng hiện vật bị thu giữ làm bằng chứng chứng minh trong vụ án xét xử không hoặc cho tiêu huỷ trong vòng không quá 7 ngày kể từ khi nhận được thông báo về việc thu giữ hiện vật từ Điều tra viên.
Tổng Chưởng lý yêu cầu và thủ tục về thực thi thẩm quyền sử dụng hiện vật (ma tuý) bị thu giữ làm bằng chứng chứng minh trong xét xử vụ án hoặc hiện vật là ma tuý đem tiêu huỷ. Điều 63 và Điều 64 của Luật này qui định việc điều tra, truy tố, xét xử tội phạm ma tuý trước Toà án sẽ được tiến hành theo qui định của pháp luật hiện hành, trừ trường hợp Luật này qui định khác. Các vụ án về ma tuý sẽ được ưu tiên đưa ra Toà án để xét xử và giải quyết trong thời gian ngắn nhất.
Mỗi quốc gia Châu Á có quy định khác nhau trong xử lý tội phạm về ma tuý, song nhìn chung các quốc gia đều coi đó là vấn đề trọng yếu của phòng, chống tội phạm, phải tăng cường hợp tác đấu tranh kiên quyết chống loại tội phạm này./.
Nguồn: Tạp chí Kiểm sát

Dấu vết đặc trưng trong điều tra tội phạm

Báo chí khi viết về những vụ trọng án đặc biệt nghiêm trọng thường dùng những lời mô tả thêm phần gắn mác như “Kẻ bóp cổ ở Boston”, “Sát thủ với những túi đựng rác”, “Kẻ mổ bụng ở Yorkshire”… để đặc tả về một kẻ giết người vẫn còn đang lẩn trốn trong bóng tối và căn cước thật vẫn chưa bị bại lộ.
 
Mục lục:

 
Truyền thông trong những trường hợp này, dẫu là vô tình, cũng đã mường tượng ra được cái cơ chế điều khiển tâm lý của hung thủ một cách vô thức. Đó chính là “signature” (tạm gọi là dị vết) của kẻ gây án.

Đâu là dị vết của tội phạm?

Chỉ có những nhà điều tra giàu kinh nghiệm mới có thể nhận ra đâu là mẫu số chung, đâu là những thay đổi có thể dự đoán được từ vụ án này đến vụ án khác của một kẻ giết người hàng loạt, trước cả khi xuất hiện các nạn nhân tiếp theo. Họ có thể nhận ra dị vết của hung thủ, kẻ đã hiện diện trong những vụ án trước đó.
Cái dị vết này, như một vết sẹo, đã hằn sâu bên trong của hung thủ, chính vì thế  một cách vô thức, hung thủ luôn tái tạo lại và lặp lại cái chữ ký đó trong mỗi vụ án mạng mà hắn đã thực hiện. Các nhà điều tra có kinh nghiệm sẽ biết phải tìm kiếm theo hướng nào và làm sao để có thể tìm thấy dị vết của một kẻ giết người và giải mã được thông điệp ẩn giấu trong đó. Đó chính là những chiếc chìa khóa giúp cho việc phá án.

Timothy Wilson Spencer, thủ phạm của 5 vụ cưỡng dâm và sau đó sát hại các nạn nhân ở Richmond, bang Virginia của Mỹ. Đó cũng là tên tội phạm đầu tiên ở Mỹ bị kết án tử hình dựa trên các chứng cứ thu thập được từ các xét nghiệm AND.

Có thể hiểu dị vết của những kẻ giết người hàng loạt giống như một dạng danh thiếp mà hung thủ đã vứt lại ở hiện trường của mỗi một vụ án. Thông thường đấy là một thứ gì đó rất khác lạ hay đặc biệt. Cái cách mà kẻ sát nhân hàng loạt đã hành động sẽ rất khác với những gì người ta có thể tìm thấy trong các vụ án khác. Mỗi khi chúng ta bắt gặp một dấu hiệu đặc biệt, hiếm gặp trong một vụ án mạng nào đó và một thời gian sau chúng ta lại bắt gặp lại dấu hiệu đó trong một vụ án khác, đó là khi chúng ta đang phải đối mặt với một kẻ giết người hàng loạt.
Ví dụ trường hợp một hung thủ đã đánh đập tàn nhẫn một nữ nạn nhân, tra tấn cô bằng một ống sắt tròn tống vào bộ phận sinh dục rồi để lại chiếc ống thép ở vùng kín trước khi giết nạn nhân. Khi đó điều tra viên phải xem rằng đó là một hành động hết sức khác thường. Nếu ở những vụ án mạng khác, chúng ta bắt gặp lại cùng một cách hành xử như vậy, dẫu có sự thay đổi ở một vài chi tiết, chắc chắn rằng những vụ án này có sự liên quan và có cùng một tác giả. Trong trường hợp này hung thủ đã để lại hiện trường một dị vết.
Những kẻ giết người hàng loạt như Albert DeSalvo luôn bỏ lại xác nạn nhân tại các địa điểm rất quái dị và ẩm ướt, váy bị vén cao và đôi chân gập lại. Kenneth Bianchi luôn đặt các xác chết tại các sườn đồi. Bible John luôn thắt cổ nạn nhân bằng những chiếc dây lưng. Lawrence Bittaker giết người bằng những chiếc kẹp đá. William Kemper thắt cổ các nạn nhân nữ bằng những chiếc áo phông mà họ mặc và vứt xác họ cạnh các xa lộ…
Một cách ngắn gọn, có thể xem rằng dị vết của những kẻ giết người hàng loạt là một hành động “thừa” của chúng. Nó không quá cần thiết trong việc bức hại nạn nhân, nhưng lại luôn hiện hữu. John Douglas, một chuyên gia của FBI đã mô tả dị vết của những kẻ giết người hàng loạt là việc “hiện thực hóa các ám ảnh bạo lực” của hung thủ. Hung thủ đã mơ tưởng tới những ám ảnh bạo lực này trong một thời gian dài, và những ẩn ức ấy đã phát triển thành một nhu cầu thực hiện cho được chúng trong thực tế. Phần lớn những kẻ giết người hàng loạt đã nuôi dưỡng những ám ảnh này trong vực thẳm đen tối của tâm hồn trong nhiều năm, rất lâu trước khi chúng trồi lên trên bề mặt và chuyển hóa thành những hành động sát nhân thực sự. Khi hung thủ ra tay giết người, một vài chi tiết trong các vụ án mạng sẽ phản ánh cái tôi của hắn hay ham muốn, các suy nghĩ, là những gì thuần túy cá nhân và độc nhất chỉ có ở hung thủ này.

Dị vết hay phương thức phạm tội?

Những nhà điều tra không phải lúc nào cũng dễ dàng nhận ra dị vết của một kẻ sát nhân. Những tội ác tàn bạo thường hướng vào các nạn nhân là nhóm đối tượng có nguy cơ cao (ví dụ như những gái làng chơi) và xác nạn nhân khi phát hiện ra thường đã bị phân hủy nên gần như không “khai thác được thông tin”. Những điều đó đã gây ra rất nhiều khó khăn cho các điều tra viên. Hơn thế nữa đa số mọi người thường nhầm và đánh đồng hai khái niệm: Dị vết của kẻ sát nhân với phương thức hoạt động tội phạm của chúng.
Phương thức hoạt động là cái cách mà một kẻ tội phạm hoạt động. Có những kẻ tội phạm chỉ hoạt động vào ban đêm. Có những kẻ khác thích ngồi rình trong ô tô để tìm kiếm con mồi. Lại có những kẻ luôn thâm nhập vào nhà qua lối cửa sổ hay thường đóng vai người gặp tai nạn để thu hút sự chú ý của những người khác. Phương thức phạm tội không thật sự đóng vai trò quan trọng trong việc truy tìm hung thủ bởi nó có thể thay đổi từ vụ  án này đến vụ án khác. Với những nhà điều tra thiếu kinh nghiệm, họ dễ dàng bị đánh lừa khi nghĩ rằng mình đang đối diện với những kẻ phạm tội khác nhau. Trong khi trên thực tế họ đang đối diện với một kẻ sát nhân duy nhất – một kẻ giết người hàng loạt.

Dị vết mà hung thủ Timothy Wilson Spencer để lại ở các hiện trường vụ án.
Dị vết mà hung thủ Timothy Wilson Spencer để lại ở các hiện trường vụ án.

Chẳng hạn như khi một kẻ cướp có vũ trang đột nhập vào một ngôi nhà và dùng súng đe dọa chủ nhà. Hắn ra lệnh cho người chồng nằm úp mặt trên sàn sau đó đặt một tách trà trên một chiếc đĩa và để trên lưng người chồng. Hắn hăm dọa: “Nếu tách trà rung rinh hay rơi xuống đất, vợ mày sẽ bị giết”, sau đó hắn lôi người phụ nữ vào một căn phòng khác và làm nhục cô ấy.
Trong một tình huống khác, một tên cướp khác cũng đột nhập vào một căn nhà, dùng vũ khí khống chế nữ chủ nhà, bắt cô ta phải gọi điện yêu cầu chồng mình quay trở về nhà càng nhanh càng tốt. Khi người chồng trở về, hắn trói anh ta vào chiếc ghế và bắt anh ta chứng kiến cảnh hắn làm nhục vợ mình.
Nếu như trong tình huống thứ nhất, tên cướp dùng tách trà như một phương thức hoạt động để kiểm soát người chồng thì trong tình huống thứ hai, tên cướp đã hành xử vượt ra ngoài phạm vi một vụ cướp – hiếp dâm thông thường, bằng hành động làm nhục người vợ và bắt người chồng chứng kiến, hắn đã thỏa mãn được các ẩn ức bên trong của mình. Những ẩn ức bên trong ấy đã thúc đẩy hắn phải tạo ra một dị vết tại hiện trường.
Một ví dụ khác, tại Paris, một tên cướp nhà băng đã khống chế và bắt các nữ nhân viên phải cởi bỏ quần áo trong lúc hắn tiến hành vụ cướp. Còn ở Marseille, một tên cướp nhà băng khác cũng dùng vũ khí khống chế và bắt các nữ nhân viên cởi bỏ quần áo, hơn thế nữa hắn còn bắt các nữ nhân viên này đứng uốn éo ở các tư thế gợi cảm để hắn chụp ảnh xong rồi mới cướp.
Như vậy, đối với tên cướp ngân hàng ở Paris, việc bắt các nữ nhân viên cởi đồ chỉ nhằm mục đích giúp hắn có thêm thời gian để tẩu thoát bởi vì các nữ nhân viên này có khuynh hướng mặc lại quần áo trước khi nghĩ đến chuyện gọi cho cảnh sát. Ngoài ra khi được cảnh sát thẩm vấn, các nữ nhân viên này sẽ chỉ có thể cung cấp các mô tả mơ hồ về thủ phạm vì trước đó họ chỉ bận tâm về tình trạng khỏa thân của mình và luôn tránh né giao tiếp, dù chỉ bằng ánh mắt với những người khác. Vì thế đây chỉ đơn thuần là một phương thức hành động của tên tội phạm.
Còn tên cướp ngân hàng ở Marseille thì đã tiến hành hàng loạt các hành động “không cần thiết” và không liên quan tới vụ cướp ngân hàng: chụp những bức ảnh các nữ nhân viên trong tình trạng khỏa thân và ở các tư thế kích dục. Hắn muốn để lại một dị vết ở hiện trường vụ án. Đó là nhằm để giải tỏa các ẩn ức tội phạm trong hắn mà việc cướp ngân hàng một cách đơn thuần chưa thể giải tỏa được.
Theo đánh giá của John Douglas, một chuyên gia tâm lý tội phạm của FBI thì “phương thức hoạt động” của một tội phạm là những biện pháp cần thiết mà những kẻ tội phạm này sử dụng để phạm tội và trên thực tế phương thức hoạt động thường xuyên thay đổi một khi những kẻ tội phạm tìm ra những phương thức mới hữu hiệu hơn. Ngược lại dị vết của một kẻ tội phạm, đặc biệt là với trường hợp những kẻ giết người hàng loạt, thường lại là những hành động không cần thiết trong việc phạm tội, nhưng về mặt tâm lý nó lại là yếu tố quan trọng nhất cho những tên sát nhân dạng này”.
Đa phần những kẻ giết người hàng loạt không thỏa mãn với việc  phạm tội ác một cách đơn giản. Chúng luôn muốn nhiều hơn thế nữa. Chúng cảm thấy cần có một dấu ấn thể hiện qua thông qua một dị vết để lại ở hiện trường, đó là một thôi thúc hoàn toàn vô thức nhằm thỏa mãn những ẩn ức được chứa chất ở con người bên trong của chúng. Điều quan trọng nhất và vô cùng có ích với các điều tra viên là những gì thuộc về cốt lõi của các dị vết này sẽ không bao giờ thay đổi. Có thể có những thay đổi về tiểu tiết, nhưng cái cốt lõi thì không, vì cái đó đã thuộc về bản chất sâu thẳm của kẻ giết người hàng loạt đó.

Tầm quan trọng trong việc tìm ra dị vết

Hiểu và nhận ra dị vết của tội phạm là một yếu tố cốt tử để bắt giữ chúng và đưa chúng ra xét xử trước pháp luật. Điều đó càng đặc biệt quan trọng trong trường hợp của những kẻ giết người hàng loạt. Vụ án của David Vasquez là một ví dụ điển hình minh chứng cho luận điểm này.
Năm 1984, Vasquez bị truy tố và buộc tội giết hại một người phụ nữ 34 tuổi tên là Carol Hamm, ở Arlington, bang Virginie. Người phụ nữ này sau khi bị cưỡng hiếp đã bị thắt cổ chết bằng một sợi dây thừng ngay tại nhà của cô. Tên sát nhân đã đặt xác cô nằm úp mặt xuống đất, hai tay bị trói quặt ra sau lưng. Hắn đã sử dụng rất nhiều nút thắt với cách chằng buộc rất phức tạp để buộc cổ tay nạn nhân nối liền với cổ. Xác nạn nhân được phơi bày lộ liễu nhằm gây ấn tượng mạnh với những ai chứng kiến. Kẻ sát nhân đã bỏ ra rất nhiều thời gian để tạo ra hiện trường vụ án.
Hắn đã chuẩn bị kỹ lưỡng để có thể khống chế dễ dàng nạn nhân. Hắn đã bắt cô phải “đi dạo” nhiều vòng trong căn nhà, từ phòng này sang phòng khác, ở khu toilet. Hắn đã bắt cô phải đánh răng. Tất cả những hành động này hoàn toàn không liên quan và không cần thiết, nhưng hung thủ lại cảm thấy cần phải làm như vậy từ một sự thôi thúc nội tâm của hắn. Đó là một thứ ham muốn bệnh hoạn đặc trưng.
Nhiều nhân chứng đã khẳng định đã nhìn thấy David Vasquez quanh quẩn ở địa điểm xảy ra án mạng và người đàn ông này cũng không có được chứng cứ ngoại phạm. David cũng có một chỉ số IQ rất thấp, tình trạng thường gặp ở những người trí tuệ chậm phát triển. Theo lời khuyên của luật sư, David đã nhận tội để có được án tù chung thân thay vì bị tử hình.
Ba năm sau, vào năm 1987, khi David Vasquez vẫn còn đang bị giam trong tù, cảnh sát đã phát hiện ra xác của một người phụ nữ 44 tuổi, Debby Davis trong ngôi nhà của mình. Cô cũng bị siết cổ cho đến chết bằng một sợi dây thừng sau khi đã bị cưỡng hiếp. Cách thức trói quặt tay nạn nhân, các nút thắt của sợi dây thừng đều giống hệt với vụ sát hại Carol Hamm vào năm 1984.
Cảnh sát Arlington đã yêu cầu NCAVC (Trung tâm Quốc gia về phân tích các tội phạm bạo hành) tiến hành một cuộc khảo sát về hai vụ án này và một chuỗi những vụ tấn công tình dục và giết người đã xảy ra từ 1984 đến 1987.
Căn cứ vào những dị vết của hung thủ đã để lại hiện trường, NCAVC đã kết luận những vụ án mạng này đều do một kẻ sát nhân duy nhất gây ra. Và cảnh sát cuối cùng cũng đã bắt được kẻ sát nhân, đó là Timothy Spencer, người đã gây ra tổng cộng 5 vụ cưỡng dâm và giết người.
Những chứng cứ đã cho phép khẳng định chắc chắn rằng người ra tay hạ sát Carol Hamm năm 1984 là Timothy Spencer. Ngay sau đó Tòa án bang Virginie đã tuyên bố David Vasquez vô tội và được trả lại tự do.

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát