Một số khó khăn và giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

Xâm hại tình dục trẻ em đang là vấn nạn trên toàn Việt Nam, hậu quả mà các em phải gánh chịu là những tổn thất về sức khỏe thể chất và tinh thần, làm giảm khả năng học tập, hòa nhập xã hội và thậm chí có thể hủy hoại các em, ảnh hưởng đến việc trở thành con người tốt, trở thành cha mẹ tốt trong tương lai. Nhằm hạn chếđến mức tối đa hậu quả của loại tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, cần có cách nhìn toàn diện về loại tội phạm này để từ đó áp dụng các biện pháp xử lý kịp thời, góp phần tạo hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng ngừa.

1. Khái quát chung về trẻ em và các hình thức xâm hại tình dục trẻ em.

“Trẻ em” được đề cập đến trong nhiều văn bản pháp lý khác nhau. Tuy nhiên theo Luật Trẻ em năm 2016, “trẻ em” được hiểu là người dưới 16 tuổi. Còn theo Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam thì: Trẻ em được hiểu là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn. Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về xác định độ tuổi trẻ em nhưng tựu chung lại có thể hiểu, trẻ em là người đang trong giai đoạn phát triển, chưa hoàn thiện về mặt sinh lý và tâm lý, dễ bị tổn thương do các tác động tiêu cực từ môi trường xã hội.
Luật Trẻ em năm 2016 quy định rõ cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình và các cá nhân có trách nhiệm thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm trẻ em được sống an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em… Mặc dù vậy, tình trạng phạm xâm hại tình dục trẻ em hiện nay đang diễn biến hết sức phức tạp với nhiều thủ đoạn mới. Có thể hiểu Xâm hại tình dục trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức.
Trẻ có thể bị xâm hại tình dục dưới nhiều hình thức khác nhau trong đó phổ biến là xâm hại bằng cách đụng chạm và không đụng chạm. Xâm hại tình dục trẻ em bằng cách đụng chạm bộc lộ qua một số hành vi như hôn hít hoặc ôm trẻ theo kiểu tình dục, sờ mó vào bộ phận sinh dục của trẻ, hoặc bắt trẻ sờ mó vào bộ phận sinh dục của người lớn hoặc của một đứa trẻ lớn hơn, ép trẻ thực hiện hành vi mại dâm… Xâm hại tình dục trẻ em bằng cách không đụng chạm là những hành vi như dùng lời nói hoặc tranh ảnh khiêu dâm để làm cho trẻ sốc, làm cho trẻ hưng phấn tình dục hoặc làm cho trẻ quen với tình dục, cho trẻ nghe hoặc nhìn những cảnh tình dục, bắt trẻ đứng ngồi theo tư thế gợi dục để chụp ảnh (khiêu dâm), hoặc cho trẻ xem sách báo khiêu dâm…

2. Một số khó khăn khi giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em.

Nhận diện loại tội phạm và các hình thức thực hiện tội phạm xâm hại tình dục trẻ em là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm, góp phần ngăn chặn, phòng ngừa chung. Bộ luật hình sự năm 2015 quy định 5 điều về xâm hại tình dục trẻ em gồm: Điều 142. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi; Điều 144. Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; Điều 145. Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; Điều 146. Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi; Điều 147. Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm. Trong đó quy định các hành vi xâm hại tình dục trẻ em gồm: Hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, quan hệ tình dục khác, dâm ô và sử dụng trẻ em vào mục đích khiêu dâm. Tuy nhiên, các khái niệm “quan hệ tình dục khác”, “dâm ô”, “khiêu dâm” đến nay Tòa án nhân dân tối cao vẫn đang thực hiện dự thảo hướng dẫn chưa có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, khi xảy ra vụ việc cụ thể các cơ quan tố tụng không thống nhất được cách hiểu dẫn đến việc áp dụng pháp luật còn nhiều lúng túng. Ngoài ra, quá trình giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em các cơ quan tố tụng còn gặp nhiều khó khăn:
Thứ nhất, trong hoạt động thu thập chứng cứ, chứng minh.
Thực trạng giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em hiện nay cho thấy việc phát hiện, thu thập tài liệu chứng cứ ban đầu như các dấu vết, mẫu tinh dịch, mẫu AND của đối tượng gây án để lại trên người và quần áo của nạn nhân, hoặc ở hiện trường còn gặp nhiều khó khăn bởi có nhiều trường hợp trẻ em bị xâm hại tình dục, khi gia đình biết đã lưỡng lự trong cách giải quyết dẫn đến khai báo muộn, không biết cách thu giữ vật chứng cần thiết để giao nộp cho cơ quan chức năng nên vô hình chung đã tạo điều kiện để người thực hiện hành vi phạm tội có đủ thời gian xóa hết dấu vết. Do đó, việc thu thập chứng cứ đầy đủ, chính xác gặp nhiều khó khăn (vùng kín bị hóa sẹo, không thu được tinh dịch…) nên rất khó để xác định người bị hại có bị hiếp dâm hay không và ai là người thực hiện hành vi. Trong khi đó yêu cầu của việc thu thập mẫu tinh dịch, mẫu ADN để lại trên người và quần áo của nạn nhân, hoặc ở hiện trường và giám định pháp y cần phải tiền hành nhanh chóng, kịp thời nhưng theo quy trình giải quyết tin báo thì khi cơ quan điều tra sau tiếp nhận tin báo về tội phạm, phải phân loại và tổ chức lấy lời khai ban đầu, xác minh, làm thủ tục giới thiệu đến cơ quan chuyên môn thăm khám, lấy mẫu, giám định,… quy trình này mất trên dưới 1 tuần, có trường hợp còn kéo dài hơn. Vì vậy, thời gian càng kéo dài, việc thu thập dấu vết tội phạm, chứng cứ chứng minh thủ phạm càng khó khăn hơn.
Do có tính đặc thù như đối tượng bị xâm hại đang trong giai đoạn phát triển, chưa hoàn thiện về mặt sinh lý và tâm lý, cần được quan tâm bảo vệ đặc biệt; các dấu vết của loại tội phạm này thường nhanh chóng bị mất. Vì thế, cơ quan có thẩm quyền cần chủ động phối hợp với các cơ quan chuyên môn xây dựng quy trình giải quyết theo hướng khi tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm về xâm hại tình dục trẻ em, Cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện ngay một số hoạt động như:
Một là, kịp thời thu giữ dấu vết vật chất đặc biệt là lông, tóc, sợi, dịch, máu, quần áo, công cụ trong các vụ án xâm hại tình dục trẻ em.
Hai là, phối hợp với Bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý, bác sĩ chuyên khoa phụ sản, cán bộ đã được đào tạo chuyên môn về quản lý, chăm sóc, giáo dục trẻ em để xử lý thông tin ban đầu, thăm khám, thu thập dấu vết, vật chứng có liên quan trên thân thể nạn nhân để tiến hành giám định pháp y trong thời gian nhanh nhất nhằm kết luận có hay không dấu hiệu xâm hại tình dục.
Ba là, công tác khám nghiệm hiện trường phải kịp thời, tỉ mỉ, toàn diện để đánh giá lời khai của bị hại có căn cứ hay không, để làm căn cứ để đấu tranh với bị can vì đây là những chứng cứ quan trọng để truy nguyên đối tượng.
Thứ hai, kỹ năng của cán bộ trực tiếp xử lý, giải quyết vụ việc.
Khi giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em cơ quan tiến hành tố tụng cần phải làm rõ các đặc điểm riêng biệt như: độ tuổi, đặc điểm tính cách của nạn nhân, hoàn cảnh gia đình. Căn cứ vào đặc điểm của từng em để có những biện pháp tác động cụ thể, kịp thời. Ví dụ trong trường hợp các em do chưa nhận thức đầy đủ đã đồng tình hoặc chủ động trong quan hệ tình dục, khi người lớn phát hiện không động viên, nâng đỡ mà dùng bạo lực với các em, dẫn đến các em sẽ khai báo không đúng sự thật. Hoặc khi trẻ em bị xâm hại nhưng do bị đe dọa nên sợ không dám nói ra sự thật,… Những trường hợp này cần có biện pháp phối hợp với gia đình động viên, tôn trọng trẻ và có biện pháp chia sẻ để các em hiểu, yên tâm trình bày nội dung sự việc một cách trung thực nhất.
Tuy nhiên, cán bộ giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em còn chưa được đào tạo về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi, nên khi tiến hành lấy lời khai trẻ em đã dùng những từ ngữ mang tính chất chuyên môn hoặc các câu hỏi áp dụng như người lớn khiến trẻ em không biết trả lời hoặc trả lời không chính xác. Vì thế, khi tiến hành lấy lời khai trong trường hợp này cần phải mời chuyên gia tâm lý tham gia cùng. Trong trường hợp không mời được thì khi tiếp cận trẻ em cần quan sát thái độ, cử chỉ, hành động của các em. Khi hỏi trẻ em cần hỏi những câu rõ ý để trẻ em trả lời đúng, cần sử dụng từ ngữ đơn giản, dễ hiểu mà ở nhà ông bà, bố mẹ hay dùng để trao đổi với trẻ.
Cần chú ý, những trẻ bị xâm hại thường có những biểu hiện như: Nép và bám chặt vào cha mẹ, không dám nhìn người lạ, òa khóc khi gặp người lạ, trên người có dấu vết,… Khi lấy lời khai người nhà nạn nhân cần hỏi gia đình xem khi đêm ngủ các em có biểu hiện giật mình và tự nhiên khóc thét lên, ngại tắm, sợ cởi quần áo khi tắm, sợ bị người khác chạm vào người, không thích đến chỗ đông người, không thích ở một mình, thay đổi tính nết. Tự nhiên có tiền hoặc quà, phát ngôn những từ mới, vẽ hình ảnh bất thường về tình dục, có hành vi tình dục không phù hợp,… để có phương pháp tiếp cận trẻ phù hợp khi lấy lời khai của các em.
Thứ ba, từ chính người bị hại hoặc gia định người bị hại.
Trong nhiều vụ án mặc dù tại cơ quan điều tra và trong hồ sơ vụ án đã thể hiện quan điểm rõ ràng và khẳng định hành vi của bị cáo đã xâm hại tình dục đối với trẻ em. Nhưng do trong quá trình chờ xét xử, giữa gia đình bị cáo và gia đình người bị hại đã thỏa thuận, thống nhất với nhau và thậm chí do sự tác động nào đó (có thể do bị đe dọa hoặc hứa hẹn) nên tại phiên tòa người bị hại lại thay đổi lời khai, phủ nhận lời khai trước đó và một mực bảo vệ bị cáo, cho rằng bị cáo không thực hiện hành vi xâm hại tình dục đối với họ như trong hồ sơ vụ án đã thể hiện,…qua đó đã gây nhiều khó khăn cho Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án đó.
Trong các vụ án xâm hại tình dục đối với trẻ em, người bị hại và gia đình của người bị hại thường có tâm lý e ngại, lo sợ ảnh hưởng đến danh dự, cuộc sống gia đình nên khi xảy ra vụ việc, họ thường không trình báo với cơ quan có thẩm quyền mà giấu diếm, bỏ qua hoặc tự thỏa thuận với người có hành vi phạm tội và gia đình của người phạm tội gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử. Trong quá trình giải quyết vụ án, do thời gian xảy ra đã lâu, sự hợp tác không chặt chẽ của người phạm tội, người bị hại nên việc giám định của cơ quan có thẩm quyền gặp khó khăn, cũng ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án.
Cũng có trường hợp khi biết sự việc thì phía gia đình bị hại và gia đình bị cáo tự thỏa thuận với nhau về việc bồi thường, sau đó do không thống nhất được mức bồi thường nên bị hại mới tố cáo hành vi của người phạm tội, nhưng việc khai báo sau đó không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án nên việc điều tra và nhận định các chứng cứ gặp nhiều khó khăn, kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em và công tác đấu tranh phòng ngừa.

Để nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án xâm hại tình dục nói chung và xâm hại tình dục trẻ em nói riêng các thì cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện đồng bộ các việc sau:
Thứ nhất, cần có văn bản hướng dẫn, giải thích thống nhất về các khái niệm còn đang mâu thuẫn nhằm đảm bảo cách hiểu thống nhất và vận dụng đồng bộ trong thực tế. Ví dụ: như khái niệm “hành vi quan hệ tình dục khác” là hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục của mình với người khác dưới những hình thức nhất định.
Khái niệm “hành vi dâm ô” là có hành vi bỉ ổi đối với người khác, tuy không phải là hành vi giao cấu nhưng cũng nhằm thoả mãn tình dục của mình hoặc khêu gợi bản năng tình dục của người đó. Hoặc khái niệm về hành vi dâm ô đối với trẻ em là hành vi của người phạm tội, như sờ, bóp… vào những bộ phận kích thích tình dục của trẻ em hoặc buộc trẻ em phải có hành vi như sờ, bóp … vào những bộ phận kích thích tình dục của người đó hoặc của người khác, nhưng không có việc giao cấu với trẻ em.
Khái niệm “hành vi khiêu dâm” là hành vi dùng cử chỉ, hành động, hình ảnh, âm thanh gây kích thích ham muốn tình dục của người khác. Các hình thức của khiêu dâm bao gồm: mô tả bộ phận sinh dục, khoả thân, mô tả khoả thân hoặc không khoả thân nhưng kích thích tình dục, mô tả nhu cầu tình dục, thủ dâm dưới mọi hình thức.
Thứ hai, cần sớm có kế hoạch đào tạo về trình độ tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi cho cán bộ điều tra, kiểm sát viên, thẩm phán để giải quyết các vụ án có liên quan đến người chưa thành niên trong đó có nhóm tội xâm phạm tình dục trẻ em; thường xuyên tổ chức việc trao đổi, rút kinh nghiệm trong công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án về xâm hại tình trẻ trong liên ngành tư pháp. Đồng thời, quan tâm sắp xếp các cán bộ theo hướng chuyên sâu, có tính ổn định theo từng lĩnh vực công tác.
Thứ ba, liên ngành các cấp cần chủ động xây dựng Quy chế phối hợp với các cơ quan, đơn vị hữu quan, trong công tác giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em như chủ động phối hợp để xác minh, điều tra, xử lý từng trường hợp trẻ em bị xâm hại, trong đó quy định rõ các thủ tục, quy trình và trách nhiệm phòng ngừa, phát hiện, tố giác, trợ giúp và giải quyết các trường hợp trẻ em bị xâm hại của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, nhà trường, gia đình, cá nhân và trẻ em.
Đối với công tác đấu tranh phòng ngừa loại tội phạm xâm hại tình dục trẻ em cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:
Một là, đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật về giới, về tình dục, về quyền của phụ nữ và trẻ em một cách sâu rộng, có trọng tâm, trọng điểm để các nạn nhân, gia đình nạn nhân hiểu và nhận thức đầy đủ quyền của mình để đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em. Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật này phải có kế hoạch, chương trình cụ thể, trong đó chú trọng đến việc lồng ghép nội dung truyền thông vào trong sinh hoạt của thôn, ấp, tổ dân phố; trong sinh hoạt ngoại khóa của các cấp học và sinh hoạt chuyên đề của các tổ chức, đoàn thể các cấp… Đặc biệt là việc quan tâm quản lý, chăm sóc, giáo dục trẻ em, nhất là những em có hoàn cảnh đặc biệt, có nhiều khả năng bị xâm hại.
Hai là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống bảo vệ trẻ em bằng các biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức cảnh giác, phát hiện sớm, tự phòng ngừa các hoạt động xâm hại tình dục và hỗ trợ tư vấn pháp lý khi cần thiết. Khi bị xâm hại tình dục, nạn nhân và gia đình phải trình báo ngay cho cơ quan Công an để được hỗ trợ tư vấn, giải quyết, tránh để lọt tội phạm…
Ba là, nâng cao vai trò, trách nhiệm của cha mẹ và người thân để tránh những sự việc đau lòng do tội phạm xâm hại tình dục gây nên, cha mẹ cần thường xuyên quan tâm, chia sẻ với con em mình để nhận thấy những thay đổi tâm, sinh lý cần thiết. Bên cạnh đó, do khả năng nhận thức và tự bảo vệ của trẻ em còn nhiều hạn chế nên các em có nguy cơ bị lạm dụng, xâm hại tình dục cao. Vì vậy, cha mẹ cũng cần phải trang bi cho con cái biết cách thức phòng vệ trước những đối tượng có ý định thực hiện hành vi đồi bại.
Bốn là, chủ động xác minh, nắm tình hình, diễn biến hoạt động của tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, có kế hoạch phòng ngừa, ngăn chặn và quản lý chặt chẽ số lượng thanh thiếu niên chậm tiến, có tiền án, tiền sự, các băng nhóm trên địa bàn là những đối tượng có nguy cơ phạm tội xâm hại tình dục. Đồng thời, nâng cao hiệu quả công tác điều tra, xử lý tội phạm xâm hại tình dục trẻ em kết hợp với công tác đấu tranh, phòng ngừa vi phạm pháp luật trong thanh thiếu niên, học sinh và vận độngnhân dân tố giác kịp thời các hành vi xâm hại tình dục trẻ em. Đối với người phạm tội cần xử lý nghiêm minh, kịp thời đúng pháp luật, kiên quyết đấu tranh không để lọt tội phạm. Tổ chức tốt các phiên tòa lưu động đối với các vụ án xâm hại tình dục trẻ em nhưng phải đảm bảo thuần phong mỹ tục.
Có thể nói công tác đấu tranh phòng chống xâm hại tình dục trẻ em không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng mà thuộc về mọi gia đình, nhà trường và toàn xã hội./.

Bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi

Đây là nguyên tắc vừa được TANDTC quán triệt trong toàn hệ thống, trong giải quyết các vụ ánxâm hại tình dục và bạo hành trẻ em đang diễn ra rất phức tạp và nghiêm trọng hiện nay.
Nhận thức về xâm hại tình dục và bạo hành trẻ em
Trẻ em bị xâm hại tình dục là một trong những nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt được quy định trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 và là đối tượng cần sự bảo vệ của toàn xã hội. Luật cũng quy định, mọi hành vi xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em đều bị xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Hiện nay,  xâm hại tình dục trẻ em ngày càng diễn biến phức tạp cả về quy mô và cách thức thực hiện, hậu quả mà các em phải gánh chịu có thể có những tổn thất về sức khỏe thể chất và tinh thần, làm giảm khả năng học tập, hòa nhập xã hội và thậm chí có thể hủy hoại các em, ảnh hưởng đến việc trở thành con người tốt, trở thành cha mẹ tốt trong tương lai. Trong nhiều năm qua, Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp để phòng chống, giảm thiểu và nhằm đẩy lùi hiện tượng xâm hại tình dục trẻ em. Tuy nhiên công tác bảo vệ trẻ em hiện nay còn gặp phải những rào cản, khó khăn như: Khâu phát hiện và báo cáo số vụ xâm hại trẻ em còn chưa kịp thời, Luật pháp về bảo vệ trẻ em còn nhiều khoảng trống, thiếu cụ thể, mô hình trợ giúp thiếu tính chuyên nghiệp. Vì vậy, vấn đề trẻ em bị xâm hại tình dục cần phải huy động sự tham gia của toàn xã hội.
Một trong những trở ngại rất lớn hiện nay chính là nhận thức chưa thống nhất, chưa minh bạch về lạm dụng, xâm hại, ngược đãi trẻ em của chính các cơ quan bảo vệ pháp luật, của nhà trường, gia đình và dư luận xã hội, mà vụ nguyên Phó Viện trưởng VKSND Tp Đà Nẵng Nguyễn Hữu Linh có dấu hiệu dâm ô với một bé gái được camera trong thang máy ghi lại, nhưng sau 10 ngày bị phát hiện nhưng chưa khởi tố là một vụ việc điển hình. Trong vụ việc cụ thể này, khái niệm “dâm ô” chưa được nhận thức thống nhất, có sự khác biệt lớn giữa dư luận xã hội và cơ quan tiến hành tố tụng địa phương.
Định nghĩa về lạm dụng (xâm hại/ ngược đãi) trẻ em của Tổ chức y tế thế giới là “Tất cả các hình thứcngược đãi về tình cảm hoặc thân thể, lạm dụng tình dục, sao nhãng hoặc đối xử lơ đãng hoặc khai thác vì mục đích thương mại hoặc khai thác dẫn đến tổn hại hoặc có nguy cơ dẫn đến tổn hại tới sức khỏe, sự sống còn, sự phát triển hoặc nhân phẩm của trẻ trong bối cảnh có liên quan đến trách nhiệm, sự tin cậy hoặc quyền lực”. Xâm hại trẻ em hay ngược đãi trẻ em là tất cả những hình thức đối xử tồi tệ về tình cảm hay thể chất, xâm hại tình dục, sao nhãng, đối xử không đúng mức hoặc bóc lột vì mục đích thương mại hay các mục đích khác gây ra tổn hại thực tế hay tiềm ẩn đối với sự phát triển, sự sống còn, sức khỏe hay nhân phẩm của trẻ khi xét về trách nhiệm, lòng tin hay quyền hành.
Theo Liên Hiệp Quốc thì xâm hại trẻ em hay ngược đãi là tất cả các hình thức đối xử tồi tệ về mặt tình cảm hay thể chất, xâm hại tình dục hay các mục đích khác gây ra tổn hại thực tế hay tiềm ẩn đối với sự phát triển, sự sống còn, sức khỏe hay nhân phẩm của trẻ khi xét về trách nhiệm, lòng tin hay quyền hành.
Trên khắp thế giới, có bốn hình thức xâm hại được thừa nhận bao gồm: Xâm hại thể xác, xâm hại tình dục, xâm hại tâm lý/tình cảm và xao nhãng. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia khác nhau, do những đặc trưng về lịch sử, chính trị, văn hóa và xã hội có những cách phân chia phù hợp hơn. Tại Việt Nam có các hình thức xâm hại phổ biến là Xâm hại (trừng phạt) thân thể, Xâm hại tâm lý/tình cảm, Xâm hại tình dục, Chứng kiến bạo lực gia đình, Xao nhãng, Buôn bán trẻ em, Lao động trẻ em.
Thực tiễn đời sống xã hội Việt Nam hiện  nay, nổi bật lên hiện tượng xâm hại tình dục và bạo hành trẻ em. Trong một tọa đàm với chủ đề “Ngăn ngừa bạo lực học đường để trẻ em không đơn độc” ngày 8/4/2019, với sự tham gia của đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo, đại diện Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, đại diện TƯ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, hiệu trưởng một số trường học và chuyên gia tâm lý học đường, Đại tá Phạm Mạnh Thường – Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát hình sự đại diện cơ quan hành pháp cho biết: Theo thống kê của ngành Công an, riêng về bạo lực học đường xảy ra trong quý 1 năm 2019 là 310 vụ.
Thiếu tá Lê Hoàng Việt Lâm (Trường ĐH An ninh nhân dân, Bộ Công an) cũng cho hay, bạo lực học đường, xâm hại tình dục trẻ em diễn ra với tần suất liên tục, với các hành vi ngày càng tàn bạo, dã man. Việc xử lý của các cơ quan chức năng chưa thực sự rốt ráo, một số quy định của pháp luật còn thiếu chặt chẽ nên khi áp dụng pháp luật để xử lý đã gây ra một “phản ứng ngược” từ cộng đồng.
Theo thống kê từ Bộ Công an, năm 2018 có 1.547 vụ xâm hại trẻ em được phát hiện với 1.669 đối tượng, xâm hại 1.579 em, giảm 2,8% so với năm 2017. Trong đó, số vụ án xâm hại tình dục trẻ em là 1.269 vụ (chiếm 82% so với tổng số vụ xâm hại trẻ em) với 1.233 đối tượng, xâm hại 1.141 em.
Phân tích theo tội danh, Bộ Công an cho biết, đã xảy ra 425 vụ hiếp dâm trẻ em, 606 vụ giao cấu với trẻ em, 232 vụ dâm ô với trẻ em và 271 vụ là tội phạm khác.
Kết quả xử lý hình sự 1.255 vụ (chiếm 81%) với 1.360 đối tượng (chiếm 81%); Xử lý hành chính 112 vụ (chiếm 7,2%) với 162 đối tượng (chiếm 9,7%).
Đáng chú ý, số vụ án xâm hại trẻ em xảy ra tại Hà Nội là 88 vụ, nhiều nhất trong cả nước. Số vụ án xảy ra ở các tỉnh thành còn lại gồm: TPHCM 77 vụ, Đắk Lắk 52 vụ, Tây Ninh 51 vụ, Đồng Nai 46 vụ…
Tình trạng tội phạm xâm hại tình dục trẻ em có diễn biến hết sức phức tạp; xảy ra nhiều vụ như cha hiếp con, thầy giáo dâm ô với học sinh, … nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng như hiếp rồi giết trẻ em, xâm hại nhiều lần dẫn đến nạn nhân có thai hoặc phải tự tử. Tuy nhiên, việc phát hiện, xác minh, khởi tố điều tra, xét xử loại tội phạm này còn gặp rất nhiều khó khăn.
Đôn đốc trong hệ thống Tòa án
Trong việc giải quyết các vụ án xâm hại trẻ em, một vướng mắc lớn của hệ thống Tòa án là nhận thức về các quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, các đạo luật có liên quan và các hướng dẫn thi hành trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử.
Do đó, TANDTC đã có Công văn số 68/TANDTC-PC ngày 8/ 4 /2019 gửi Chánh án Tòa án nhân dân các cấp, Chánh án Tòa án Quân sự các cấp, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao, nhằm kịp thời phòng ngừa, đấu tranh với loại tội phạm này, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em, người chưa thành niên. Tòa án nhân dân tối cao đã yêu cầu Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án Quân sự các cấp, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình quán triệt và thực hiện các nội dung sau đây:
Trong quá trình thụ lý giải quyết các vụ án xâm hại tình dục, bạo hành trẻ em cần quán triệt, thực hiện nghiêm túc các đạo luật mới được Quốc hội thông qua như Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, các đạo luật có liên quan và các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, liên ngành Trung ương; xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, các hình phạt và biện pháp tư pháp việc áp dụng bảo đảm nghiêm khắc.
Ngay khi tiếp nhận hồ sơ vụ án cần thụ lý giải quyết theo đúng quy định tại Thông tư số 02/ 2018/TT-TANDTC ngày 21/ 9 /2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Trong quá trình xét xử cần bảo đảm các quyền của trẻ em, người chưa thành niên trên cơ sở nguyên tắc “bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi”.
Chủ động phối hợp với cơ quan Công an và Viện kiểm sát cùng cấp ngay từ giai đoạn điều tra để kịp thời nắm bắt diễn biến của vụ án, từ đó lên kế hoạch đưa vụ án ra xét xử bảo đảm kịp thời và đúng thời hạn luật định.
Báo cáo Tòa án nhân dân tối cao thông qua Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học về những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện các quy định mới của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan, cũng như những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thụ lý, giải quyết các vụ án xâm hại tình dục và bạo hành trẻ em để Tòa án nhân dân tối cao kịp thời phối hợp với liên ngành Trung ương hướng dẫn, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết.
Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án Quân sự các cấp, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao tổ chức triển khai, quán triệt thực hiện nghiêm túc trong cơ quan đơn vị mình.
**
Có thể nói, chưa khi nào vấn đề phòng chống, ngăn chặn, xử lý tội phạm xâm hại tình dục và bạo hành trẻ em được quan tâm như hiện nay. Với sự phát triển của công nghệ thông tin, ý thức của người dân cũng như toàn xã hội về loại tội phạm này đã có thay đổi, không ngại ngùng, che giấu như trước đây nên nhiều vụ xâm hại trẻ em được phát hiện, đưa ra ánh sáng. Do đó, các cơ quan có liên quan, đặc biệt là các cơ quan bảo vệ pháp luật phải có những biện pháp kịp thời đáp ứng sự thay đổi đó, có những hướng dẫn phù hợp với thực trạng phức tạp của loại tội phạm này để xử lý đúng pháp luật, nghiêm minh và nhanh chóng để bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em, của người chưa thành niên.

ThS. CAO THANH LOAN

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Kinh nghiệm của Kiểm sát viên qua giải quyết vụ án hiếp dâm trẻ em

Trong thời gian gần đây, tội phạm xâm hại tình dụcđối với trẻ em diễn biến phức tạp, việc phát hiện, xử lý loại tội phạm này gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập chứng cứ. Từ công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiểm sát điều tra vụ án hiếp dâm trẻ em xảy ra tại huyện Lục Nam, Kiểm sát viên chia sẻ kinh nghiệm với các đồng nghiệp.
Nội dung vụ án: Khoảng 11 giờ 08/3/2018, Đỗ Văn M, sinh năm 1988 trú tại thôn T, xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang lợi dụng gia đình cháu Nguyễn Thị H, sinh năm 2004 ở thôn N, xã T, huyện Lục Nam đi vắng, chỉ có mình cháu H ở nhà, M đã dụ dỗ, đưa cháu H đến đồi cây bạch đàn ở gần đó rồi dùng dao đe dọa, khống chế cháu H mục đích để hiếp dâm. Do sợ hãi và không thể tự vệ được nên cháu H phải để cho M giao cấu. Sau khi bị xâm hại, cháu H đã kể với bố, mẹ nên gia đình cháu H làm đơn trình báo.
Sau khi tiếp nhận, thụ lý giải quyết tố giác của gia đình người bị hại, Cơ quan điều tra phối hợp cùng Viện kiểm sát kịp thời tiến hành lấy lời khai người bị hại, khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ việc nhưng chứng cứ thu thập được rất ít, không thu giữ được bất cứ dấu vết, vật chứng gì tại hiện trường để truy nguyên đối tượng. Mặt khác, khi thực hiện tội phạm thì đối tượng gây án đội mũ, đeo khẩu trang nên người bị hại không nhận dạng được.
Xác định phải nhanh chóng làm rõ, tạo niềm tin cho nhân dân, Kiểm sát viên đã chủ động bàn với Điều tra viên tiến hành thu giữ ngay mẫu chất dịch trong bộ phận sinh dục của người bị hại để giám định. Vì đây là chứng cứ vật chất quan trọng nhất trong các vụ án xâm hại tình dục; đề nghị Điều tra viên tập trung rà soát các đối tượng trên địa bàn có cùng đặc điểm như chiều cao, giọng nói, độ tuổi và đặc biệt là các đối tượng có biểu hiện phạm tội về tình dục.
Ngày 04/4/2018, Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc trên. Quá trình điều tra tưởng như rơi vào bế tắc khi 3 tháng trôi qua vẫn không có thêm manh mối nào có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án. Kiểm sát viên đã phối hợp với Điều tra viên lấy lời khai thật tỉ mỉ cháu H để gợi nhớ những chi tiết mà có thể do tâm lý e ngại và hoảng loạn nên chưa khai hết. Bằng lời khai của bị hại và thông tin thu thập được, Cơ quan điều tra xác định nhiều khả năng đối tượng là người quen và thường xuyên ra vào nhà bị hại (do đối tượng biết được mẹ của bị hại đi làm công ty và bị hại có 1 người anh trai). Cơ quan điều tra thấy nổi lên đối tượng Đỗ Văn M có nhiều biểu hiện nghi vấn như hay cờ bạc và khi thua bạc thì thích giải đen, sau khi xảy ra vụ án M thường xuyên vắng mặt tại địa phương, đặc biệt M có thửa ruộng ở gần nhà cháu H, thường xuyên vào nhà cháu H hút thuốc lào. Cơ quan điều tra đã triệu tập lấy lời khai, nhưng M không thừa nhận.
Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên thu mẫu tóc và niêm mạc của Đỗ Văn M để giám định AND và kết quả là trùng với mẫu AND thu được trong bộ phận sinh dục của cháu H. Lúc này, M vẫn ngoan cố không thừa nhận hành vi phạm tội. Kiểm sát viên cùng Điều tra viên nghiên cứu kỹ hồ sơ, rà soát, đánh giá chứng cứ và thống nhất quan điểm là có căn cứ để khởi tố bị can đối với M về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
Trên cơ sở báo cáo, đề xuất của Điều tra viên và Kiểm sát viên, lãnh đạo Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã thống nhất khởi tố bị can, ra lệnh bắt tạm giam đối với M để điều tra và được Viện kiểm sát phê chuẩn.
Sau khi bị khởi tố và trước các chứng cứ không thể chối cãi, cuối cùng Đỗ Văn M đã thừa nhận hành vi phạm tội. Ngày 04/01/2019, Đỗ Văn Mạnh bị Tòa án xử phạt 8 năm tù về tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi.
Từ thực tiễn giải quyết vụ án trên, Kiểm sát viên rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
– Kiểm sát viên phải bám sát quá trình xác minh, thu thập tài liệu, vật chứng, lấy lời khai của các đối tượng ngay từ đầu; đề ra yêu cầu xác minh, yêu cầu điều tra kịp thời và đảm bảo chất lượng.
– Kịp thời yêu cầu cơ quan điều tra thu giữ dấu vết vật chất đặc biệt là lông, tóc, sợi, dịch, máu, quần áo, công cụ trong các vụ án xâm hại tình dục vì đây là những chứng cứ quan trọng để truy nguyên đối tượng.
– Công tác khám nghiệm hiện trường phải kịp thời, tỉ mỉ, toàn diện để đánh giá lời khai của bị hại có căn cứ hay không, sau đó là căn cứ để đấu tranh với bị can; thu giữ mẫu vật liên quan vụ án để giám định.
– Lãnh đạo phải luôn quan tâm sát sao đối với vụ việc, kịp thời chỉ đạo Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và suốt quá trình điều tra vụ án.
– Quá trình hỏi cung, lời khai đối tượng khi chứng cứ chưa rõ phải rất tỷ mỷ, làm rõ những bất minh trong lời khai của đối tượng.
– Kiểm sát viên phải thực sự trách nhiệm, luôn bám sát các hoạt động điều tra, phối hợp chặt chẽ với Điều tra thực hiện các biện pháp điều tra, thu thập chứng cứ đảm bảo theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự./.

Nguyễn Tuấn Hải

VKSND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát

Các tình tiết cụ thể định khung cho tội mua bán người dưới 16 tuổi

Mua bán người dưới 16 tuổi hay mua bán trẻ em được thể hiện qua hành vi mua đứa trẻ của người khác nhằm để bán thu lợi hoặc bán đứa trẻ sau khi mua hoặc sau khi bắt trộm để thu lợi. Việc mua, bán trẻ em có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên dù dưới bất kỳ hình thức nào thì người có một trong các hành vi nêu trên vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi thực hiện đó.

Trẻ em là người bị hại trong trường hợp này, đồng thời cũng là người chưa đủ 16 tuổi. Tội phạm hoàn thành kể từ khi người phạm tội có hành vi nhằm vào việc mua, bán trẻ em. Nếu hậu quả việc mua bán trẻ em chưa xảy ra thì được cọi là phạm tội chưa đạt.
Mức hình phạt của các tội này được chia thành hai khung, cụ thể:

  • Khung một có mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm;
  • Khung hai có mức phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân;

Hình phạt bổ sung phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
Nghị quyết 02/2019/NQ-HĐTP có hiệu lực thi hành từ ngày 15/3/2019 sắp tới sẽ cụ thể hóa việc áp dụng khung hình phạt bằng các tình tiết như sau:

  • Có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ và phân công, sắp đặt vai trò của những người cùng thực hiện tội phạm;
  • Vì động cơ đê hèn là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội để trả thù; phạm tội để trốn tránh trách nhiệm của bản thân; phạm tội đối với người mà mình mang ơn hoặc những hành vi phạm tội khác thể hiện sự bội bạc, phản trắc;
  • Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trường hợp người phạm tội đã hoặc đang đưa nạn nhân ra khỏi biên giới quốc gia trên đất liền, trên biển, trên không và trong lòng đất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cũng được coi là đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nếu đã thực hiện thủ tục xuất cảnh đối với nạn nhân;
  • Phạm tội 02 lần trở lên là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội mua bán người hoặc mua bán người dưới 16 tuổi từ 02 lần trở lên nhưng đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
  • Có tính chất chuyên nghiệp là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi mua bán người hoặc mua bán người dưới 16 tuổi từ 05 lần trở lên (không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích) và người phạm tội lấy khoản lợi bất chính thu được từ việc mua bán người hoặc mua bán người dưới 16 tuổi làm nguồn sống chính;
  • Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân là trường hợp người phạm tội mua bán người hoặc mua bán người dưới 16 tuổi, sau đó đã lấy đi bộ phận cơ thể của nạn nhân.