Sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính
Hoàn thiện quy định về sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính.

Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính . Về cơ bản, quá trình này trải qua các bước (công đoạn) như: Phát hiện hành vi vi phạm hành chính; buộc chấm dứt hành vi vi phạm hành chính (đối với hành vi vi phạm hành chính đang được thực hiện, đang diễn ra); lập biên bản vi phạm hành chính; xác minh các tình tiết có liên quan của vụ việc vi phạm hành chính; giải trình; ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính; tổ chức thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (trong trường hợp đối tượng bị xử phạt không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính); trong quá trình xử phạt vi phạm hành chính, tùy từng vụ việc, cơ quan, người có thẩm quyền có thể phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính.

Mặc dù việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ như đã nêu trên nhưng trong thực tế, vì nhiều lý do khác nhau, việc ban hành các quyết định về xử phạt vi phạm hành chính vẫn không thể tránh khỏi có sai sót. Do vậy, tại khoản 3 Điều 18 Luật xử lý vi phạm hành chính (Luật XLVPHC) đã quy định về việc sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp có sai sót. Đây là một trong những quy định mới của Luật XLVPHC so với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính trước đây nhằm bảo đảm tính hợp pháp, hợp lý của quyết định về xử phạt vi phạm hành chính sau khi được ban hành, nâng cao hơn nữa trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền trong công tác xử phạt vi phạm hành chính, kịp thời khắc phục, sửa chữa những sai sót, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính và cá nhân, tổ chức khác có liên quan.
Cần lưu ý, khoản 3 Điều 18 Luật XLVPHC quy định về việc sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính trong trường hợp có sai sót, bao gồm cả các quyết định về xử phạt vi phạm hành chính và các quyết định về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Do vậy, việc nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện pháp luật về sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính cũng vẫn phải được đặt trong tổng thể vấn đề sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính trong trường hợp có sai sót. Điều này có nghĩa là, các giải pháp hoàn thiện pháp luật về sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong bài viết này cũng gắn liền với giải pháp hoàn thiện pháp luật về sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính trong trường hợp có sai sót.
Cụ thể hóa quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật XLVPHC, Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017) đã quy định chi tiết một số nội dung liên quan như: Căn cứ thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành mới các quyết định về xử phạt vi phạm hành chính; thời hạn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính; hiệu lực, thời hạn, thời hiệu thi hành của quyết định sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính; trách nhiệm và việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với người có thẩm quyền ban hành quyết định về xử phạt vi phạm hành chính có sai sót tại các điều 6a, 6b, 6c, 6d và 6đ.
Tuy nhiên, trên thực tế, việc áp dụng các quy định của Luật XLVPHC và Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) về sửa đổi, bổ sung, đính chính hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp có sai sót vẫn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cần được nghiên cứu tháo gỡ.

1. Về căn cứ thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành mới các quyết định về xử phạt vi phạm hành chính

Theo quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 6a Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được bổ sung theo khoản 8 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP), nếu quyết định về xử phạt vi phạm hành chính có sai sót về kỹ thuật soạn thảo thì tùy từng trường hợp, có thể được xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc đính chính: Nếu sai sót về kỹ thuật soạn thảo làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định thì phải sửa đổi, bổ sung; nếu sai sót về kỹ thuật soạn thảo không làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định thì chỉ cần thực hiện việc đính chính.
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 6a và điểm a khoản 2 Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được bổ sung theo khoản 8 và khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP), nếu quyết định về xử phạt vi phạm hành chính có sai sót về nội dung thì tùy từng trường hợp, có thể được xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ: Nếu sai sót về nội dung nhưng không làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định thì chỉ sửa đổi, bổ sung; nếu sai sót về nội dung làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định thì phải hủy bỏ.
Mặc dù Điều 6a và Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được bổ sung theo khoản 8 và khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) đã quy định các trường hợp sai sót khác nhau làm căn cứ để người có thẩm quyền, tùy từng trường hợp cụ thể có thể thực hiện việc đính chính hoặc sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ đối với quyết định về xử phạt vi phạm hành chính có sai sót. Tuy nhiên, khi triển khai thực hiện trong thực tế, đã nảy sinh một số vấn đề khó khăn, vướng mắc xuất phát từ quy định tại Điều 6a và Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được bổ sung theo khoản 8 và khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP), cụ thể là:

1.1. Về căn cứ sửa đổi, bổ sung quyết định về xử phạt vi phạm hành chính

Khoản 12 Điều 38 Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong giải quyết vụ án hành chính đó là: “Xem xét về tính hợp pháp của văn bảnhành chính, hành vi hành chính có liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện và đề nghị Chánh án Tòa án kiến nghị với cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét văn bản hành chính, hành vi hành chính đó theo quy định của pháp luật”.
Điểm h khoản 1 Điều 37 Luật tố tụng hành chính cũng quy định một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Tòa án trong giải quyết vụ án hành chính đó là: “Kiến nghị với cơ quan, cá nhân có văn bản hành chính, hành vi hành chính có liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản, chấm dứt hành vi đó nếu phát hiện có dấu hiệu trái với quy định của pháp luật”.
Điểm h khoản 2 Điều 31 Luật khiếu nại năm 2011 quy định quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính phải có nội dung sau đây: “Giữ nguyên, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại; giải quyết các vấn đề cụ thể trong nội dung khiếu nại”.
Điểm h khoản 2 Điều 40 Luật khiếu nại cũng quy định quyết định giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính phải có nội dung sau đây: “Kết luận nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ. Trường hợp khiếu nại là đúng hoặc đúng một phần thì yêu cầu người có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại sửa đổi, hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại. Trường hợp kết luận nội dung khiếu nại là sai toàn bộ thì yêu cầu người khiếu nại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan thực hiện nghiêm chỉnh quyết định hành chính, hành vi hành chính”.
Căn cứ các quy định pháp luật nêu trên, có thể thấy, quyết định giải quyết khiếu nại của người hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại được ban hành, trong đó có nội dung liên quan đến việc phải sửa đổi, bổ sung quyết định về xử phạt vi phạm hành chính hành chính và bản án, quyết định của Tòa án, trong đó có nội dung về việc phải sửa đổi, bổ sung quyết định về xử phạt vi phạm hành chính bị khởi kiện cũng là các căn cứ để người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thực hiện việc sửa đổi, bổ sung quyết định về xử phạt vi phạm hành chính có sai sót. Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 6a Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 8 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) lại không quy định các căn cứ này. Do vậy, để bảo đảm sự phù hợp với các quy định của Luật tố tụng hành chính, Luật khiếu nại, đồng thời thống nhất với cách quy định tại khoản 2 Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP)[1], chúng tôi cho rằng, cần bổ sung các căn cứ nêu trên vào khoản 1 Điều 6a Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được bổ sung theo khoản 8 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP). Theo đó, khoản 1 Điều 6a Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 8 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) có thể được sửa đổi như sau:
“1. Quyết định về xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có sai sót về kỹ thuật soạn thảo làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định;
b) Có sai sót về nội dung nhưng không làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định;
c) Có quyết định giải quyết khiếu nại của người hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại về việc sửa đổi, bổ sung quyết định về xử lý vi phạm hành chính;
d) Có kiến nghị của Tòa án về việc sửa đổi, bổ sung quyết định về xử lý vi phạm hành chính bị khởi kiện.”

1.2. Về căn cứ hủy bỏ quyết định về xử phạt vi phạm hành chính có sai sót

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) thì người đã ban hành quyết định về xử phạt vi phạm hành chính phải hủy bỏ toàn bộ nội dung quyết định khi “có vi phạm quy định pháp luật về thẩm quyền, thủ tục” xử phạt vi phạm hành chính.
Đây là trường hợp cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt áp dụng đúng các quy định của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính, cho nên, về mặt nội dung áp dụng pháp luật, quyết định về xử phạt vi phạm hành chính hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình ban hành quyết định về xử phạt vi phạm hành chính, cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt đã không thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Do vậy, người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định hủy bỏ quyết định về xử phạt vi phạm hành chính đã được ban hành, đồng thời, ban hành quyết định về xử phạt vi phạm hành chính mới theo thẩm quyền nhằm bảo đảm đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định, hạn chế đến mức thấp nhất nguy cơ khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định về xử phạt vi phạm hành chính.
Về mặt quy định pháp luật hiện hành là vậy, nhưng về mặt thực tiễn, chúng tôi cho rằng, quy định này chưa hoàn toàn phù hợp, gây lãng phí thời gian, phát sinh thủ tục. Bởi vì, quyết định về xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp này mặc dù có vi phạm về trình tự, thủ tục ban hành quyết định nhưng không làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định, không cần thiết phải hủy bỏ toàn bộ để rồi lại phải ban hành một quyết định mới.
Nên chăng, trong trường hợp này, nhà làm luật cần nghiên cứu phân tách 02 trường hợp, tương tự như việc xử lý đối với 02 trường hợp có sai sót về mặt kỹ thuật làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định và sai sót về mặt kỹ thuật không làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định theo quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 6a Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 8 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP), cụ thể là:
(i) Trường hợp thứ nhất, quyết định về xử phạt vi phạm hành chính có vi phạm về trình tự, thủ tục ban hành quyết định, nhưng không làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định (ví dụ, đáng lẽ vụ việc vi phạm đơn giản, rõ ràng, người có thẩm quyền phải tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính ngay khi phát hiện hành vi vi phạm nhưng lại để kéo dài đến vài ngày sau mới lập biên bản, vi phạm quy định về tính “kịp thời” của việc lập biên bản quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật XLVPHC) hoặc nếu có hủy bỏ toàn bộ để ban hành quyết định mới, thì cũng không thể khắc phục được sai sót về trình tự, thủ tục (ví dụ, khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ không thực hiện việc buộc đối tượng chấm dứt ngay hành vi vi phạm theo quy định tại Điều 55 Luật XLVPHC) thì không yêu cầu phải hủy bỏ toàn bộ quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
(ii) Trường hợp thứ hai, quyết định xử phạt vi phạm hành chính có vi phạm về trình tự, thủ tục ban hành quyết định, làm ảnh hưởng đến nội dung của quyết định thì mới yêu cầu phải hủy bỏ toàn bộ. Ví dụ, trường hợp vụ việc phải tiến hành định giá tang vật để làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt theo quy định tại Điều 60 Luật XLVPHC, nhưng người có thẩm quyền đã không tiến hành định giá hoặc có tiến hành việc định giá, nhưng không đúng theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định thì phải hủy bỏ toàn bộ quyết định xử phạt và tiến hành khắc phục sai sót về trình tự, thủ tục định giá tang vật vi phạm hành chính. Bởi vì, rất có thể, kết quả của việc tiến hành định giá (hoặc định giá lại) sẽ dẫn đến thay đổi về khung tiền phạt và thẩm quyền xử phạt.

1.3. Về căn cứ ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính

Điểm a khoản 3 Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) quy định việc người đã ban hành quyết định phải ban hành quyết định mới hoặc chuyển người có thẩm quyền ban hành quyết định mới (nếu có căn cứ để ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính) trong “các trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản 1, khoản 2 Điều này”. Khoản 2 Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) quy định về các trường hợp hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định. Quy định này dẫn đến cách hiểu rằng, sau khi quyết định về xử phạt vi phạm hành chính bị hủy bỏ một phần, người có thẩm quyền phải ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính.
Tương tự, điểm b khoản 3 Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) cũng quy định việc người đã ban hành quyết định phải ban hành quyết định mới hoặc chuyển người có thẩm quyền ban hành quyết định mới (nếu có căn cứ để ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính) trong trường hợp có bản án, quyết định của Tòa án về việc hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định xử phạt vi phạm hành chính bị khởi kiện[2]. Quy định này cũng dẫn đến cách hiểu rằng, khi có bản án, quyết định của Tòa án về việc hủy bỏ một phần quyết định về xử phạt vi phạm hành chính, thì sau khi quyết định xử phạt vi phạm hành chính bị hủy bỏ một phần, người có thẩm quyền phải ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính.
Chúng tôi thấy rằng, việc ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong các trường hợp này là không cần thiết và bất hợp lý, vì khi quyết định về xử phạt vi phạm hành chính bị hủy bỏ một phần thì chỉ phần nội dung quyết định bị hủy bỏ đó không còn hiệu lực thi hành, các nội dung khác của quyết định không bị hủy bỏ vẫn còn nguyên hiệu lực thi hành.
Để khắc phục bất cập trên đây, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) theo hướng sau: Chuyển điểm b khoản 3 lên thành điểm c khoản 2; tại khoản 3, khi viện dẫn đến các trường hợp hủy bỏ tại khoản 2, chỉ viện dẫn các trường hợp hủy bỏ toàn bộ (không viện dẫn toàn bộ khoản 2, vì nếu viện dẫn toàn bộ khoản 2 sẽ bao gồm cả trường hợp hủy bỏ một phần và hủy bỏ toàn bộ). Theo đó, khoản 2 và khoản 3 Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) sẽ được chỉnh sửa như sau:

2. Tùy thuộc vào tính chất, mức độ sai sót, người đã ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính phải hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có sai sót về nội dung làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định;
b) Có quyết định giải quyết khiếu nại của người hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại về việc phải hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định về xử lý vi phạm hành chính;
c) Có bản án, quyết định của Tòa án về việc hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định về xử lý vi phạm hành chính bị khởi kiện.
3. Trong các trường hợp sau đây, nếu có căn cứ để ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính thì người đã ban hành quyết định phải ban hành quyết định mới hoặc chuyển người có thẩm quyền ban hành quyết định mới:
a) Các trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này;
b) Các trường hợp quyết định về xử lý vi phạm hành chính phải hủy bỏ toàn bộ quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Về phạm vi xem xét để xử lý quyết định xử phạt vi phạm hành chính có sai sót
Phạm vi xem xét để xử lý quyết định xử phạt vi phạm hành chính có sai sót: Chỉ xem xét quyết định xử phạt vi phạm hành chính hay phải xem xét toàn bộ hồ sơ, quá trình ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính? Đây là vấn đề vướng mắc khiến cho người thực thi pháp luật khá lúng túng. Hiện nay có 02 quan điểm khác nhau về vấn đề này:
Thứ nhất, có quan điểm cho rằng, theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật XLVPHC thì: “Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót và phải kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới theo thẩm quyền”. Luật chỉ đề cập đến việc phát hiện “quyết định về xử lý vi phạm hành chính” có sai sót, không đề cập đến việc xem xét toàn bộ quá trình xử lý vi phạm hành chính xem có sai sót hay không. Do vậy, thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền chỉ cần xem xét quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã được ban hành xem có sai sót hay không để có biện pháp xử lý phù hợp[3].
Thứ hai, có quan điểm khác lại cho rằng, quyết định xử phạt vi phạm hành chính là kết quả của quá trình thực hiện xử phạt vi phạm hành chính, là hình thức biểu hiện của việc xử phạt vi phạm hành chính. Do vậy, thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền không chỉ xem xét quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã được ban hành mà cần phải xem xét toàn bộ hồ sơ vụ việc, cả quá trình xử phạt từ khi bắt đầu phát hiện hành vi vi phạm đến khi ban hành quyết định xử phạt xem có sai sót hay không để có biện pháp xử lý phù hợp.
Về vấn đề này, chúng tôi đồng tình với cách hiểu theo quan điểm thứ hai, vì quyết định xử phạt vi phạm hành chính là kết quả của cả quá trình giải quyết vụ việc vi phạm hành chính. Do vậy, để phát hiện ra những sai sót trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thủ trưởng cơ quan, đơn vị quản lý người có thẩm quyền xử phạt và người có thẩm quyền xử phạt cần kiểm tra, xem xét về việc tuân thủ pháp luật, việc bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính trên các phương diện: (i) trình tự, thủ tục ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và (ii) nội dung áp dụng quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. Đối với vấn đề trình tự, thủ tục, cần xem xét toàn bộ trình tự, thủ tục ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật XLVPHC và các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật, đặc biệt là các nghị định quy định chi tiết những vấn đề mà Luật giao Chính phủ quy định chi tiết như: Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP); Nghị định số 112/2013/NĐ-CP ngày 02/10/2013 quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chínhvà quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 17/2016/NĐ-CP ngày 17/3/2016); Nghị định số 165/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định việc quản lý, sử dụng và danh mục các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông và bảo vệ môi trường; Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính,… Đối với nội dung áp dụng quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính thì cần thiết phải rà soát, nghiên cứu, xem việc áp dụng các quy định về thẩm quyền xử phạt, về áp dụng chế tài xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính xảy ra trong thực tiễn, việc áp dụng hình thức, mức phạt, biện pháp khắc phục hậu quả có đúng quy định pháp luật không… Từ đó, mới có thể đánh giá một cách toàn diện, khách quan về diễn biến vụ việc vi phạm, đồng thời, kết luận chính xác về những sai sót (nếu có) trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

2. Về thẩm quyền thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính

Khoản 3 Điều 18 Luật XLVPHC quy định: “Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót và phải kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới theo thẩm quyền”.
Khoản 3 Điều 6a Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 8 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) quy định: “Khi phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót thuộc các trường hợp quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này, người đã ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính tự mình hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan, đơn vị của người đó có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung hoặc đính chính những nội dung sai sót trong quyết định”.
Khoản 1 và khoản 2 Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) quy định:
“1. Người đã ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính phải hủy bỏ toàn bộ nội dung quyết định… 
2. Tùy thuộc vào tính chất, mức độ sai sót, người đã ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính phải hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định…”.
Các quy định pháp luật nêu trên chưa thực sự rõ ràng, chưa có sự thống nhất, dẫn đến những cách hiểu khác nhau về các vấn đề như: Cụm từ “theo thẩm quyền” tại khoản 3 Điều 18 Luật XLVPHC được hiểu như thế nào (cụm từ này chỉ được gắn với cụm từ “ban hành quyết định mới” hay được gắn với cả cụm từ “sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới”); cách hiểu khác nhau đối với cụm từ “theo thẩm quyền” dẫn đến cách hiểu khác nhau về thẩm quyền thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính thuộc về ai (người có thẩm quyền đã ra quyết định về xử phạt vi phạm hành chính hay cấp trên của người này), cụ thể có 02 cách hiểu sau đây:
Cách hiểu thứ nhất, cần hiểu cụm từ “theo thẩm quyền” chỉ được gắn với cụm từ “ban hành quyết định mới”. Nếu hiểu cụm từ này chỉ được gắn với cụm từ “ban hành quyết định mới” thì thẩm quyền thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định về xử phạt vi phạm hành chính thuộc về cấp trên của người có thẩm quyền đã ra quyết định về xử phạt vi phạm hành chính, kể cả trong trường hợp họ không có thẩm quyền xử phạt; riêng việc ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính thì phải “theo thẩm quyền”, tức là, tùy từng trường hợp, họ được thực hiện nếu họ có thẩm quyền hoặc không được thực hiện nếu theo quy định pháp luật, họ không có thẩm quyền.
Cách hiểu thứ hai, cần hiểu cụm từ “theo thẩm quyền” không chỉ được gắn với cụm từ “ban hành quyết định mới” mà còn được gắn với các cụm từ “sửa đổi, bổ sung”, “hủy bỏ”. Bởi vì, khoản 3 Điều 18 Luật XLVPHC khi đề cập đến chủ thể ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót thì có đề cập 02 loại quyết định về xử lý vi phạm hành chính (do chính bản thân cấp trên đó ban hành hoặc do cấp dưới của họ ban hành); cụm từ “theo thẩm quyền” được hiểu là: Ai ban hành quyết định có sai sót thì người đó thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ (cấp trên ban hành quyết định có sai sót thì cấp trên thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ; cấp dưới ban hành quyết định có sai sót thì cấp dưới thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ); riêng đối với việc ban hành quyết định mới, nếu vẫn thuộc thẩm quyền của người hủy bỏ (người đã ban hành quyết định ban đầu có sai sót) thì thẩm quyền thuộc về họ, ngược lại, nếu không thuộc thẩm quyền của người hủy bỏ thì họ phải chuyển người có thẩm quyền (có thể là cấp trên hoặc cũng có thể là người có thẩm quyền thuộc lực lượng khác).
Theo chúng tôi, nếu hiểu và áp dụng theo cách hiểu thứ nhất thì chỉ xử lý được trường hợp cấp trên của người có thẩm quyền đã ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính (nói chung và quyết định về xử phạt vi phạm hành chính nói riêng) có sai sót cũng có thẩm quyền về xử lý vi phạm hành chính theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, sẽ không xử lý được trường hợp cấp trên của người có thẩm quyền đã ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót không có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính. Chẳng hạn một số chức danh như Bộ trưởng, Giám đốc Sở, đây là các chức danh không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nên không thể thực hiện được việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định về xử phạt vi phạm hành chính của cấp dưới (người không được trao thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thì không thể, không nên được trao thẩm quyền trực tiếp xử lý các quyết định đó, kể cả trong trường hợp chỉ sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, không ban hành mới).
Từ phân tích nêu trên, chúng tôi cho rằng, về tính thống nhất, phù hợp giữa các quy định về “sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới” của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) và Luật XLVPHC, nếu hiểu theo cách hiểu thứ hai nêu trên thì hoàn toàn thống nhất và phù hợp. Tuy nhiên, về tính minh bạch, cụ thể, rõ ràng, quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật XLVPHC nêu trên chưa đạt được, cần phải được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung theo hướng: Quy định rõ việc sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới quyết định về xử lý vi phạm hành chính (nói chung và quyết định về xử phạt vi phạm hành chính nói riêng) phải do chính người đã ban hành quyết định có sai sót trực tiếp thực hiện (trừ trường hợp thẩm quyền ban hành quyết định mới thuộc về người có thẩm quyền khác thì phải chuyển người có thẩm quyền), cấp trên của người đã ban hành quyết định có sai sót chỉ có quyền yêu cầu, đề nghị cấp dưới thực hiện.

3. Về trình tự, thủ tục thực hiện việc hủy bỏ, ban hành mới quyết định về xử phạt vi phạm hành chính

Hiện nay, theo quy định pháp luật hiện hành, để chấm dứt hiệu lực của quyết định về xử phạt vi phạm hành chính đã ban hành có sai sót và ban hành quyết định mới thay thế quyết định đã bị chấm dứt hiệu lực, phải trải qua 02 thủ tục, tương ứng với 02 thủ tục đó, người có thẩm quyền phải ban hành 02 loại quyết định, trước tiên là quyết định hủy bỏ quyết định về xử phạt vi phạm hành chính có sai sót, sau đó là quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính.
Chúng tôi cho rằng, việc ban hành 02 loại quyết định như vậy là không cần thiết, có thể nghiên cứu quy định trình tự, thủ tục đơn giản hơn. Theo đó, chỉ cần ban hành 01 loại quyết định: Quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính, trong đó có nội dung về việc thay thế cho quyết định đã ban hành mà có sai sót (có thể ghi nội dung này ngay tại Điều 2 của Mẫu quyết định số 02 – Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ban hành kèm theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP).

4. Về thời hạn, thời hiệu thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành mới các quyết định về xử phạt vi phạm hành chính

Điều 6c Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 10 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) quy định: “Thời hạn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính là 01 năm, kể từ ngày ra quyết định…”. Trong thực tiễn thi hành cũng nảy sinh một số vấn đề khó khăn, vướng mắc liên quan đến quy định này, cụ thể là:
Thứ nhất, thời hạn thực hiện việc ban hành mới quyết định xử phạt vi phạm hành chính có cần tuân theo quy định về thời hạn ban hành quyết định tại Điều 66 Luật XLVPHC[4] không? Tương tự, thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề có cần tuân theo quy định tại Điều 125 Luật XLVPHC[5] không?
Thứ hai, việc Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) chỉ quy định thời hạn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính (nói chung và quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính nói riêng) là 01 năm, kể từ khi ra quyết định mà không có quy định cụ thể trong bao lâu, kể từ ngày phát hiện ra quyết định về xử lý vi phạm hành chính sai sót, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính. Điều này đã khiến nhiều vụ việc bị kéo dài thời gian xử lý.
Đối với vấn đề thứ nhất, chúng tôi cho rằng, nếu thời hạn ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mới vẫn phải tuân theo quy định tại Điều 66 Luật XLVPHC thì rất nhiều trường hợp không thể thực hiện được, vì tính đến thời điểm phát hiện ra sai sót, hầu hết nhiều trường hợp đã quá 07 ngày (hoặc 30 ngày, hoặc 60 ngày, tùy từng vụ việc), kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Thời hạn ban hành mới quyết định xử phạt vi phạm hành chính được tính kể từ thời điểm ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính ban đầu đã có sai sót – tạm gọi là quyết định thứ nhất, trừ trường hợp sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mới đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính mới (sau khi đã hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính ban đầu) – tạm gọi là quyết định thứ hai, thì thời hạn 01 năm được tính kể từ ngày ra quyết định thứ hai. Thời hạn ban hành quyết định xử phạt vi phạm vi phạm hành chính quy định tại Điều 66 Luật XLVPHC chỉ áp dụng đối với quyết định thứ nhất. Việc ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (quyết định thứ hai trở đi) không áp dụng quy định về thời hạn quy định tại Điều 66 Luật XLVPHC. Tương tự, thời hạn ban hành quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề mới cũng không cần phải tuân theo quy định tại Điều 125 Luật XLVPHC. Tuy nhiên, vấn đề này cần phải được nghiên cứu, quy định cụ thể, rõ ràng trong Nghị định số 81/2013/NĐ-CP để có căn cứ áp dụng.
Đối với vấn đề thứ hai, chúng tôi cho rằng, việc định lượng để quy định một khoảng thời gian cụ thể trong bao lâu, kể từ khi phát hiện ra quyết định về xử lý vi phạm hành chính sai sót, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính là khó khả thi, vì các vụ việc vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước rất đa dạng, không thể quy định cứng nhắc một khoảng thời gian cụ thể. Chính phủ có thể nghiên cứu, bổ sung quy định về việc người có thẩm quyền phải “kịp thời” thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính khi phát hiện ra sai sót, tương tự như quy định về việc người có thẩm quyền phải kịp thời lập biên bản vi phạm hành chính khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính tại khoản 1 Điều 58 Luật XLVPHC. Bên cạnh việc quy định thời hạn thực hiện sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính như đã nêu trên (phải “kịp thời”), chúng tôi thiết nghĩ quy định về “thời hạn” tại Điều 6c Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 10 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) hiện hành cần được nghiên cứu, chỉnh sửa thành quy định về “thời hiệu thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính” (vẫn giữ nguyên thời hạn 01 năm) thì sẽ phù hợp hơn.

5. Việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã hết thời hiệu thi hành

Điều 74 Luật XLVPHC quy định về thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính:

1. Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, kể từ ngày ra quyết định, quá thời hạn này thì không thi hành quyết định đó nữa, trừ trường hợp quyết định xử phạt có hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thì vẫn phải tịch thu tang vật, phương tiện thuộc loại cấm lưu hành, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp cần thiết để bảo vệ môi trường, bảo đảm giao thông, xây dựng và an ninh trật tự, an toàn xã hội.
2. Trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt cố tình trốn tránh, trì hoãn thì thời hiệu nói trên được tính kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, trì hoãn.

Điều 6c Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo khoản 10 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) chỉ quy định một trường hợp không được thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính, đó là “trường hợp hết thời hiệu quy định tại điểm a khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 6
Luật xử lý vi phạm hành chính”, không có quy định cụ thể về việc quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã hết thời hiệu thi hành (01 năm, kể từ ngày ra quyết định có sai sót) thì có được thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính không. Do vậy, trên thực tế, cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng rất lúng túng.
Căn cứ quy định tại Điều 74 Luật XLVPHC nêu trên, chúng tôi thấy rằng, thời hiệu để cơ quan, tổ chức, cá nhân thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, kể từ ngày ra quyết định xử phạt. Nếu quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã hết thời hiệu thi hành thì không thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đó nữa, trừ trường hợp quyết định xử phạt có hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thì vẫn phải tịch thu tang vật, phương tiện thuộc loại cấm lưu hành, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp cần thiết để bảo vệ môi trường, bảo đảm giao thông, xây dựng và an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, về mặt nguyên tắc, nếu trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành đã hết thời hiệu thi hành thì cơ quan, người có thẩm quyền không thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới, vì việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới lúc này không còn có ý nghĩa. Tuy nhiên, trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính có hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện thuộc loại cấm lưu hành, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp cần thiết để bảo vệ môi trường, bảo đảm giao thông, xây dựng và an ninh trật tự, an toàn xã hội, thì cơ quan, người có thẩm quyền có thể xem xét thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới thay cho quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã ban hành trước đó có sai sót, nhưng chỉ liên quan đến nội dung về tịch thu tang vật, phương tiện thuộc loại cấm lưu hành, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thuộc trường hợp quy định tại Điều 74 Luật XLVPHC. Trường hợp người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xử lý vi phạm hành chính gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật XLVPHC.
Pháp luật cần có quy định cụ thể về 02 trường hợp nêu trên (trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính không có hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính có hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả) để cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có căn cứ áp dụng.
Quyết định về xử phạt vi phạm hành chính là một trong những loại quyết định hành chính thường gặp trong quản lý hành chính nhà nước. Trong quá trình ban hành, thực thi quyết định, không thể tránh khỏi những sai sót và việc xử lý những sai sót là không đơn giản, vấn đề là pháp luật phải xây dựng được cơ chế xử lý phù hợp, kịp thời khắc phục những sai sót đó, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời, bảo đảm và bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan. Hiện nay, pháp luật về ban hành quyết định hành chính chưa có những quy định cụ thể về vấn đề sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới. Do vậy, chúng tôi cho rằng, vấn đề sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới quyết định về xử phạt vi phạm hành chính cần được đặt trong tổng thể nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ban hành quyết định hành chính nói chung để có thể đi sâu nghiên cứu trong mối quan hệ biện chứng với các vấn đề khác có liên quan, từ đó mới có cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc để đề xuất đầy đủ những yêu cầu và nội dung điều chỉnh pháp lý đối với vấn đề này[6].
Từ những nội dung phân tích trên đây, trước mắt, để bảo đảm tính minh bạch, thống nhất, đồng bộ trong các quy định pháp luật về sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới quyết định về xử lý vi phạm hành chính (nói chung và quyết định về xử phạt vi phạm hành chính nói riêng), chúng tôi xin đề xuất, kiến nghị Quốc hội nghiên cứu quy định cụ thể, rõ ràng hơn quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật XLVPHC, tránh những cách hiểu và áp dụng khác nhau như đã nêu trong bài viết trên đây; đồng thời, Luật hóa (và nghiên cứu quy định cụ thể hơn) một số quy định của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) về vấn đề này. Bởi vì, đây là vấn đề rất lớn, thuộc thẩm quyền của Quốc hội, phải được quy định trong Luật XLVPHC. Hiện tại, Luật XLVPHC không có điều khoản nào giao Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều 18 của Luật. Việc Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung của khoản 3 Điều 18 Luật XLVPHC tại Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) chỉ là giải pháp tạm thời, nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong khi chưa có điều kiện để sửa đổi ngay Luật XLVPHC./.
ThS. Nguyễn Hoàng Việt – Cục QLXLVPHC&TDTHPL
TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, Cần quy định rõ cơ chế xử lý khi phát hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính có sai sót, truy cập ngày 26/7/2018, tại địa chỉ: http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=185. Lê Kim Chinh thực hiện 02/10/2015.
  2. Nguyễn Phước Thọ (2014), “Một số vấn đề về quy trình gia hạn, thu hồi, hủy bỏ quyết định hành chính”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Bộ Tư pháp), số chuyên đề 32 trang “Dự án Luật ban hành quyết định hành chính” tháng 12/2014.
 


[1] Khoản 2 Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được bổ sung theo khoản 9 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) được đề xuất chỉnh sửa, cụ thể xem tại điểm 1.3 mục 1 của bài viết.

[2] Điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính quy định một trong những thẩm quyền của Hội đồng xét xử là: “Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính trái pháp luật và quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan (nếu có); buộc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật; đồng thời kiến nghị cách thức xử lý đối với quyết định hành chính trái pháp luật đã bị hủy”.

[3] Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, Cần quy định rõ cơ chế xử lý khi phát hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính có sai sót, tại địa chỉ: http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=185, truy cập ngày 26/7/2018. Lê Kim Chinh thực hiện 02/10/2015.

[4] Điều 66 Luật XLVPHC quy định: “…phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình… thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản.
Trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình… thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày”.

[5] Điều 125 Luật XLVPHC quy định: “Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện… là 07 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày…
Đối với vụ việc thuộc trường hợp quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 66 của Luật này…thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn việc tạm giữ; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày”.

[6] Nguyễn Phước Thọ (2014), “Một số vấn đề về quy trình gia hạn, thu hồi, hủy bỏ quyết định hành chính”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Bộ Tư pháp), số chuyên đề 32 trang “Dự án Luật ban hành quyết định hành chính” tháng 12/2014.
Khái niệm, đặc điểm và các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính

Khái niệm vi phạm hành chính

Trong pháp luật về xử lý vi phạm hành chính ở nước ta, khái niệm “vi phạm hành chính” lần đầu tiên được định nghĩa một cách chính thức tại Điều 1 Pháp lệnhxử phạt vi phạm hành chính năm 1989 (Pháp lệnh năm 1989): “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bịxử phạt hành chính”.
Đến Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 (Pháp lệnh năm 1995), khái niệm “vi phạm hành chính” không được định nghĩa cụ thể mà được định nghĩa một cách gián tiếp, thông qua khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính” tại khoản 2 Điều 1: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (Pháp lệnh năm 2002) cũng định nghĩa “vi phạm hành chính” một cách cách gián tiếp, thông qua khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính” tại khoản 2 Điều 1: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.
Hiện nay, khái niệm “vi phạm hành chính” được thể hiện rõ tại khoản 1 Điều 2 Luật XLVPHC, theo đó: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”.

Đặc điểm của vi phạm hành chính

– Vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước.
– Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm hành chính thực hiện.
– Vi phạm hành chính phải bị xử lý hành chính theo quy định của pháp luật.

Các dấu hiệu pháp lý (yếu tố cấu thành) vi phạm hành chính

Có thể thấy, định nghĩa về vi phạm hành chính tại các Pháp lệnh năm 1989, 1995, 2002 và Luật XLVPHC năm 2012 tuy có sự khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều thống nhất về những dấu hiệu bản chất của loại vi phạm pháp luật này. Nghiên cứu khái niệm về vi phạm hành chính tại các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên, chúng ta có thể nhận ra các dấu hiệu pháp lý và yếu tố cấu thànhvi phạm hành chính, gồm: Mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể.

Mặt khách quan của vi phạm hành chính

Mặt khách quan của vi phạm hành chính là những biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của vi phạm hành chính, bao gồm các yếu tố:
Thứ nhất, là hành vi trái pháp luật hành chính. Hành vi trái pháp luật hành chính được thể hiện dưới dạng hành động (chủ thể thực hiện những hành vi bị pháp luật hành chính ngăn cấm) hoặc không hành động (chủ thể không thực hiện những hành vi mà pháp luật hành chính bắt buộc phải thực hiện). Nếu không có hành vi trái pháp luật hành chính của chủ thể thì không thể có cấu thành vi phạm hành chính. Cần tránh tình trạng áp dụng “nguyên tắc suy đoán” hoặc áp dụng “tương tự pháp luật” trong việc xác định vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức[2].
Thứ hai, là hậu quả do hành vi trái pháp luật hành chính gây ra cho xã hội (sự thiệt hại của xã hội). Hành vi trái pháp luật hành chính ở những mức độ khác nhau đều có tính nguy hiểm cho xã hội, nó có thể gây ra hoặc chứa đựng nguy cơ gây ra những thiệt hại về vật chất, tinh thần và những thiệt hại khác cho xã hội. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm hành chính được đánh giá, xác định thông qua mức độ thiệt hại trên thực tế hoặc nguy cơ gây ra thiệt hại cho xã hội mà hành vi đó gây ra.
Thứ ba, là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật hành chính với hậu quả (sự thiệt hại của xã hội) mà nó gây ra. Điều này thể hiện ở chỗ, sự thiệt hại cho xã hội trên thực tế là hệ quả tất yếu của hành vi trái pháp luật hành chính, do chính hành vi trái pháp luật hành chính gây ra. Như đã nêu tại mục thứ hai trên đây, hậu quả của vi phạm hành chính có thể là những thiệt hại thực tế hoặc nguy cơ gây ra thiệt hại cho xã hội. Học Luật Trong một số trường hợp, đối với một số vi phạm hành chính cụ thể, nhà làm luật quy định hành vi của chủ thể chỉ bị coi là vi phạm hành chính khi hành vi đó đã gây ra những thiệt hại trên thực tế. Trong những trường hợp này, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật hành chính với hậu quả (sự thiệt hại của xã hội) mà nó gây ra là điều hết sức cần thiết để khẳng định có vi phạm hành chính hay không. Ví dụ: Điểm b khoản 2 Điều 18 Nghị định số 104/2017/NĐ-CP ngày 14/9/2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống thiên tai; khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; đê điều quy định xử phạt hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông qua công trình thủy lợi, trong đó, hành vi “điều khiển phương tiện thủy nội địa qua công trình thủy lợi” chỉ bị coi là vi phạm hành chính khi nó gây hư hại cho công trình thủy lợi.
Thứ tư, là các yếu tố khác như: Thời gian thực hiện vi phạm hành chính; địa điểm thực hiện vi phạm hành chính; phương thức, thủ đoạn thực hiện vi phạm hành chính; công cụ, phương tiện dùng để thực hiện vi phạm hành chính… Ví dụ: Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đìnhquy định xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định về bảo đảm sự yên tĩnh chung, trong đó có hành vi dùng loa phóng thanh, chiêng, trống, còi, kèn hoặc các phương tiện khác để cổ động ở nơi công cộng mà không được phép của các cơ quan có thẩm quyền.
Trong các yếu tố nêu trên, thì hành vi trái pháp luật hành chính là dấu hiệu bắt buộc phải có trong mặt khách quan của vi phạm hành chính; các yếu tố còn lại có thể có hoặc có thể không, tùy thuộc vào từng loại vi phạm hành chính.

Mặt chủ quan của vi phạm hành chính

Mặt chủ quan của vi phạm hành chính là những biểu hiện tâm lý bên trong của chủ thể thực hiện hành vi, bao gồm các yếu tố:
Thứ nhất, là yếu tố lỗi của chủ thể vi phạm. Lỗi là trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi vi phạm của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra. Vi phạm hành chính phải là hành vi có lỗi, thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý.
Lỗi cố ý thể hiện ở chỗ chủ thể nhận thức được tính chất nguy hại của hành vi, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra nhưng vẫn cố tình thực hiện và mong muốn điều đó xảy ra hoặc tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Lỗi vô ý thể hiện ở chỗ chủ thể không nhận thức được tính chất nguy hại của hành vi mặc dù có thể hoặc cần phải nhận thức được hoặc nhận thức được nhưng cho rằng hậu quả không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được hậu quả xảy ra.
Thứ hai, là yếu tố mục đích. Mục đích là cái “mốc”, là kết quả cuối cùng trong suy nghĩ mà chủ thể vi phạm mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi vi phạm. Mục đích vi phạm cũng thể hiện tính chất nguy hiểm của hành vi.
Trong các yếu tố nêu trên, thì lỗi là dấu hiệu bắt buộc phải có trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính; yếu tố mục đích có thể có hoặc có thể không, tùy thuộc vào từng loại vi phạm hành chính. Trong một số trường hợp, đối với một số vi phạm hành chính cụ thể, pháp luật quy định dấu hiệu mục đích là dấu hiệu bắt buộc phải có, ví dụ: Đối với hành vi “hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài” chỉ bị coi là hành vi “vi phạm quy định về tổ chức và hoạt động của trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài” khi nhằm mục đích “để trục lợi” theo quy định tại khoản 6 Điều 29 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

Chủ thể vi phạm hành chính

Chủ thể vi phạm hành chính là cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm hành chính, nghĩa là theo quy định của pháp luật hành chính, họ phải chịu trách nhiệm đối với hành vi trái pháp luật của mình. Đối với cá nhân, họ phải là người đạt độ tuổi nhất định, có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Nếu không đủ căn cứ cho rằng chủ thể thực hiện hành vi trong tình trạng có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình thì có thể kết luận rằng: Không có vi phạm hành chính xảy ra. Khoản 5 Điều 11 Luật XLVPHC cũng quy định việc không truy cứu trách nhiệm hành chính trong trường hợp người thực hiện hành vi “không có năng lực trách nhiệm hành chính” hoặc “chưa đủ tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính”.
Chủ thể (đối tượng) bị xử phạt vi phạm hành chính là cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 10 Điều 2 và khoản 1
Điều 5 Luật XLVPHC:
Thứ nhất, là cá nhân, gồm:
(i) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính.
(ii) Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vi phạm hành chính thì bị xử lý như đối với công dân khác; trường hợp cần áp dụng hình thức phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn liên quan đến quốc phòng, an ninh thì người xử phạt đề nghị cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân có thẩm quyền xử lý.
(iii) Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
Thứ hai, là tổ chức, gồm: Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật. Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính được quy định cụ thể tại các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước[3].
Theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hiện hành, thì việc xác định chủ thể bị xử phạt vi phạm hành chính có một số điểm cần lưu ý:
Một là, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính khi có đủ các điều kiện sau đây[4]: Là pháp nhân theo quy định của pháp luật dân sự hoặc các tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật; hành vi vi phạm hành chính do người đại diện, người được giao nhiệm vụ nhân danh tổ chức hoặc người thực hiện hành vi theo sự chỉ đạo, điều hành, phân công, chấp thuận của tổ chức và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.
Hai là, trường hợp cán bộ, công chức, viên chức thực hiện hành vi vi phạm khi đang thi hành công vụ, nhiệm vụ và hành vi vi phạm đó thuộc công vụ, nhiệm vụ được giao theo văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản hành chính do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành, thì không bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức[5].
Ba là, cơ quan nhà nước thực hiện hành vi vi phạm thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao, thì không bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà bị xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan[6].

Khách thể vi phạm hành chính

Khách thể của vi phạm hành chính là những quan hệ xã hội được pháp luật hành chính bảo vệ nhưng bị vi phạm hành chính xâm hại, gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại. Khách thể chính là dấu hiệu để nhận biết: Vi phạm hành chính là hành vi xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước được pháp luật hành chính quy định và bảo vệ.

Thẩm quyền lập Biên bản vi phạm hành chính

Luật xử lý vi phạm hành chính (Luật XLVPHC) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/6/2012, các quy định về xử phạt vi phạm hành chính của Luật có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2013. Theo quy định của Luật, việc xử phạt vi phạm hành chính phải tuân theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ, bao gồm nhiều khâu (bước) khác nhau: Phát hiện hành vi vi phạm hành chính và buộc chấm dứt hành vi vi phạm, lập biên bản vi phạm hành chính; áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính; xem xét, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính; thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính… (trừ trường hợp xử phạt vi phạm hành chính theo thủ tục không lập biên bản hay còn gọi là thủ tục đơn giản, áp dụng đối với trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức[1]). Lập biên bản vi phạm hành chính là một trong những khâu trong quá trình xử phạt có lập biên bản, hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính. Có thể nói, đây là một trong những khâu quan trọng nhất của quá trình xem xét, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bởi vì, nếu không lập biên bản để ghi nhận, xác định hành vi vi phạm hành chính thì sẽ không có căn cứ để ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 68 Luật XLVPHC thì trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải có nội dung liên quan đến biên bản vi phạm hành chính:

1. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải bao gồm các nội dung chính sau đây:
… c) Biên bản vi phạm hành chính…

Kết quả hình ảnh cho lập Biên bản vi phạm hành chính
Theo mẫu quyết định số 02 – Quyết định xử phạt vi phạm hành chính (MQĐ 02) ban hành kèm theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính thì tại phần căn cứ ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải có biên bản vi phạm hành chính.
Việc lập biên bản vi phạm hành chính nếu không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng thẩm quyền pháp luật quy định sẽ dẫn đến hậu quả là quyết định xử phạt vi phạm hành chính được ban hành trái quy định pháp luật vì vi phạm trình tự, thủ tục. Đây cũng là một trong những sai sót thường gặp trong quá trình áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính[2].
Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích, làm rõ các nội dung pháp lý liên quan đến thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính nhằm bảo đảm tính hợp pháp của việc ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức liên quan. Trên cơ sở nghiên cứu, tác giả cũng chỉ ra một số bất cập trong các quy định pháp luật hiện hành, đồng thời, kiến nghị, đề xuất hướng xử lý nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp luật về vấn đề này.

1. Những người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính

1.1. Việc quy định các chức danh có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính

Điều 4 Luật XLVPHC quy định: “Căn cứ quy định của Luật này, Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước…”.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) thì người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính gồm: “người có thẩm quyền xử phạt, công chức, viên chức và người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đang thi hành công vụ, nhiệm vụ theo văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản hành chính do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành; người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu và những người được chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu giao nhiệm vụ lập biên bản”.
Theo quy định nêu trên thì người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính gồm 02 loại chủ thể sau đây:
Thứ nhất, là những người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính (các chức danh có thẩm quyền xử phạt được quy định tại các điều từ Điều 38 đến Điều 51 Luật XLVPHC).
Thứ hai, là những người không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nhưng được pháp luật trao quyền lập biên bản vi phạm hành chính, gồm: (i) Công chức, viên chức và người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đang thi hành công vụ, nhiệm vụ; (ii) người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu và những người được chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu giao nhiệm vụ lập biên bản.
Đoạn 2 khoản 1 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) cũng quy định: “Các chức danh có thẩm quyền lập biên bản được quy định cụ thể tại các nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước”. Quy định này được hiểu là, Chính phủ quy định cụ thể từng chức danh có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong các nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước, tuy nhiên, các chức danh này phải đáp ứng yêu cầu tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP): Phải là công chức, viên chức hoặc người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đang thi hành công vụ, nhiệm vụ. Việc quy định rõ chức danh có thẩm quyền lập biên bản có ý nghĩa rất quan trọng để tránh sự lạm dụng, tùy tiện của các lực lượng chức năng khi tham gia xử phạt vi phạm hành chính, góp phần bảo đảm trật tự, kỷ cương của quản lý nhà nước. Tuy nhiên, không giống như các chức danh có thẩm quyền xử phạt (tại các điều từ Điều 38 đến Điều 51), Luật XLVPHC không quy định liệt kê cụ thể các chức danh có thẩm quyền lập biên bản vì trong thực tiễn, lực lượng này rất đông đảo do xử phạt vi phạm hành chính diễn ra trong nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước khác nhau. Để bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với thực tiễn quản lý nhà nước, tại Điều 4 của Luật XLVPHC, Quốc hội giao Chính phủ quy định cụ thể thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước. Theo đó, nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước quy định cụ thể các chức danh có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính. Tuy nhiên, hiện nay, một số nghị định của Chính phủ[3] chưa có quy định liệt kê cụ thể các chức danh có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước dẫn đến khó khăn, vướng mắc trong việc xác định người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính[4], ví dụ như:
– Điều 101 Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện quy định: “Các chức danh nêu tại các điều 95, 96, 97, 98, 99 và 100 Nghị định này, công chức, viên chức đang thi hành công vụ trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện có quyền lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định”.
– Điều 94 Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế quy định:

Người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế bao gồm:
1. Người có thẩm quyền xử phạt.
2. Công chức, viên chức thuộc ngành y tế, bảo hiểm xã hội đang thi hành công vụ, nhiệm vụ được giao…

Trong thời gian tới đây, khi tiến hành sửa đổi, bổ sung, thay thế các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, Chính phủ cần quan tâm, chỉ đạo các bộ, ngành về vấn đề này:
Thứ nhất, yêu cầu các bộ, ngành được giao chủ trì xây dựng, trình Chính phủ ban hành các nghị định sửa đổi, bổ sung, thay thế nêu trên nghiên cứu, chỉnh sửa, bổ sung quy định cụ thể các chức danh có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tế xác định người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính.
Thứ hai, yêu cầu Bộ Tư pháp trong quá trình thẩm định, Văn phòng Chính phủ trong quá trình thẩm tra trước khi trình Chính phủ thông qua các nghị định này cần lưu ý vấn đề quy định cụ thể các chức danh có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước.

1.2. Việc lập biên bản vi phạm hành chính của một số chức danh cụ thể

a) Đối với chức danh Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành

Trong số các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại các điều từ Điều 38 đến Điều 51 Luật XLVPHC, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành là chức danh duy nhất chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định (trong thời hạn thanh tra). Hết thời hạn thanh tra theo quy định pháp luật thì chức danh này không còn tồn tại. Do vậy, thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính, xử phạt vi phạm hành chính cũng như các vấn đề liên quan đến thẩm quyền lập biên bản và xử phạt vi phạm hành chính của chức danh Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành có nét đặc thù riêng. Cụ thể, theo quy định tại khoản 3a Điều 5 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) thì: Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính thuộc phạm vi, nội dung cuộc thanh tra trong thời hạn thanh tra theo quy định của pháp luật về thanh tra. Trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính bị khiếu nại thì người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết hoặc chỉ đạo người đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính giải quyết theo quy định của pháp luật về thanh tra và khiếu nại.
Trong nhiều trường hợp thực tế, thông thường, sau khi tiến hành việc thanh tra, Đoàn thanh tra chuyên ngành có kết luận thanh tra, trong đó có kết luận chính thức về việc vi phạm hành chính thì Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành mới lập biên bản đối với vụ việc vi phạm hành chính[5], lúc này, thời hạn thanh tra đã hết. Một ví dụ cụ thể: Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của Sở Tư pháp tỉnh A thực hiện việc thanh tra hoạt động của tổ chức bán đấu giá tài sản. Thời hạn thanh tra là 10 ngày, kể từ ngày 01/8/2018. Tuy nhiên, đến ngày 22/8/2018, sau khi có kết luận thanh tra về hành vi vi phạm hành chính, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành mới lập biên bản vi phạm hành chính và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức bán đấu giá tài sản. Việc lập biên bản vi phạm hành chính và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng đoàn thanh tra trong trường hợp này là không đúng thẩm quyền pháp luật quy định, việc này lẽ ra phải được thực hiện trong vòng 10 ngày của thời hạn thanh tra, nếu ngoài thời hạn thanh tra thì Đoàn thanh tra chuyên ngành phải chuyển vụ việc cho người có thẩm quyền xử lý. Lúc này, người có thẩm quyền lập biên bản và xử phạt vi phạm hành chính cần ghi căn cứ “kết luận thanh tra” vào phần căn cứ lập biên bản vi phạm hành chính.

b) Đối với chức danh Trưởng đoàn kiểm tra liên ngành

Khoản 5 Điều 30 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định về thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trong việc “thành lập đoàn kiểm tra liên ngành để thực hiện kiểm tra liên ngành về tình hình thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong trường hợp quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều 21 của Nghị định này”. Tuy nhiên, Luật XLVPHC và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật không có quy định về việc Trưởng đoàn kiểm tra liên ngành được lập biên bản vi phạm hành chính. Do vậy, trên thực tế, trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện hành vi vi phạm hành chính thì đoàn kiểm tra liên ngành cần tham mưu cho người đã ra quyết định thành lập đoàn kiểm tra kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật.

c) Việc lập biên bản vi phạm hành chính của cấp phó của các chức danh có thẩm quyền xử phạt trong trường hợp được cấp trưởng giao quyền xử phạt vi phạm hành chính

Hiện nay, Luật XLVPHC không có quy định cụ thể về việc cấp phó của các chức danh có thẩm quyền xử phạt trong trường hợp được cấp trưởng giao quyền xử phạt vi phạm hành chính thì có được lập biên bản vi phạm hành chính hay không. Khoản 1 Điều 54 Luật XLVPHC chỉ quy định: Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có thể giao cho cấp phó thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính[6]; không quy định cụ thể việc được giao quyền xử phạt thì đương nhiên được giao quyền lập biên bản vi phạm hành chính. Do vậy, trong thực tế, cấp phó được cấp trưởng giao quyền xử phạt vi phạm hành chính rất bị động trong giải quyết công việc, đặc biệt là những trường hợp cấp phó được cấp trưởng giao quyền xử phạt thường xuyên.
Thiết nghĩ, vấn đề này cũng cần phải được lưu ý để sửa đổi, bổ sung trong quá trình xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC sắp tới nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nảy sinh trong thực tiễn[7].

2. Thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong trường hợp vụ việc có nhiều hành vi vi phạm thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước khác nhau

Theo quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật XLVPHC thì: “Khi phát hiện vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản…”.
Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP cũng quy định: Những người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính (gồm những người có thẩm quyền xử phạt và những người không có thẩm quyền xử phạt) chỉ có quyền “lập biên bản về những vi phạm thuộc phạm vi thi hành công vụ, nhiệm vụ được giao”. Ví dụ, người có thẩm quyền trong lĩnh vực an toàn thực phẩm đang thi hành công vụ, nhiệm vụ thì có quyền lập biên bản vi phạm trong lĩnh vực an toàn thực phẩm; người có thẩm quyền trong lĩnh vực đất đai thì có quyền lập biên bản về vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai… Quy định này nhằm khắc phục sự tuỳ tiện, lạm quyền của người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính khi thi hành công vụ, nhiệm vụ, đồng thời cũng hạn chế đến mức thấp nhất khả năng tranh chấp về thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính hoặc đùn đẩy trách nhiệm giữa các lực lượng chức năng trong việc lập biên bản vi phạm hành chính. Mặt khác, chỉ những người có trình độ chuyên môn thuộc lĩnh vực công tác, quản lý của mình mới có điều kiện phát hiện và lập biên bản về vi phạm thuộc lĩnh vực mình phụ trách[8].
Tuy nhiên, đoạn 1 khoản 2 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) lại quy định khác: “Người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính nhưng không có thẩm quyền xử phạt” chỉ có quyền lập biên bản về những vi phạm thuộc phạm vi thi hành công vụ, nhiệm vụ được giao. Quy định này dường như chỉ hạn chế quyền lập biên bản của người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính nhưng không có thẩm quyền xử phạt đối với những hành vi vi phạm hành chính không thuộc phạm vi thi hành công vụ, nhiệm vụ mà họ được giao và điều này dẫn đến cách hiểu rằng: Người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính đồng thời là các chức danh có thẩm quyền xử phạt sẽ đương nhiên được lập biên bản đối với tất cả các hành vi vi phạm hành chính, kể cả những hành vi vi phạm hành chính không thuộc phạm vi thi hành công vụ, nhiệm vụ mà họ được giao[9].
Về vấn đề này, theo tác giả, cần đặt quy định tại đoạn 1 khoản 2 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) trong mối liên hệ với với quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP). Toàn bộ khoản 2 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) quy định về trường hợp vụ việc vi phạm vừa có hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản, vừa có hành vi vi phạm không thuộc thẩm quyền xử phạt hoặc vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản (tức là chỉ đề cập đến thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính của các chức danh có thẩm quyền xử phạt đối với vụ việc có nhiều hành vi vi phạm hành chính, trong đó vừa có hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản, vừa có hành vi vi phạm không thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản; không đề cập thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính của các chức danh có thẩm quyền xử phạt đối với vụ việc có nhiều hành vi vi phạm hành chính mà trong đó không có hành vi vi phạm nào thuộc thẩm quyền xử phạt của họ). Hay nói cách khác, chỉ trong vụ việc vi phạm có nhiều hành vi vi phạm, trong đó vừa có hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền, vừa có hành vi vi phạm không thuộc thẩm quyền xử phạt của chức danh có thẩm quyền xử phạt thì chức danh có thẩm quyền xử phạt mới được thực hiện việc lập biên bản đối với tất cả các hành vi vi phạm hành chính trong vụ việc đó. Do vậy, không thể mặc nhiên thừa nhận, trong mọi vụ việc vi phạm thì các chức danh có thẩm quyền xử phạt được lập biên bản đối với tất cả các hành vi vi phạm hành chính, kể cả những hành vi vi phạm hành chính không thuộc phạm vi thi hành công vụ, nhiệm vụ mà họ được giao. Nếu trong vụ việc vi phạm không có bất kỳ hành vi vi phạm hành chính nào thuộc lĩnh vực quản lý của người có thẩm quyền lập biên bản phát hiện ra vụ việc thì người này không được lập biên bản vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm trong vụ việc đó, việc lập biên bản vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm phải do người có thẩm quyền lập biên bản được quy định tại nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước thực hiện.
Trước khi Nghị định số 97/2017/NĐ-CP được ban hành và có hiệu lực, đối với trường hợp vụ việc vi phạm trên thực tế khi được phát hiện có nhiều hành vi vi phạm hành chính thuộc các lĩnh vực quản lý khác nhau, người có thẩm quyền phát hiện ra vụ việc vi phạm thường rất lúng túng, không biết có được lập biên bản đối với tất cả các hành vi vi phạm không, hay chỉ lập biên bản về hành vi vi phạm thuộc phạm vi quản lý của mình? Ví dụ trường hợp Chiến sỹ Cảnh sát giao thông trong quá trình tiến hành tuần tra, kiểm soát giao thông phát hiện 01 xe ô tô chạy quá tốc độ quy định, khi dừng xe thì phát hiện trên xe chở số lượng lớn gỗ không có hồ sơ hợp pháp, không có dấu búa kiểm lâm theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, Chiến sỹ Cảnh sát giao thông phát hiện ra vụ việc vi phạm có được lập biên bản đối với tất cả các hành vi vi phạm (hành vi điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ và hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật) không, hay chỉ lập biên bản về hành vi vi phạm thuộc phạm vi quản lý của mình (hành vi điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ)?
Quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) nhằm xử lý những vụ việc vi phạm trên thực tế khi được phát hiện có thể bao gồm nhiều hành vi vi phạm hành chính thuộc các lĩnh vực quản lý khác nhau (trong đó có hành vi vi phạm thuộc lĩnh vực quản lý của người lập biên bản). Theo đó, người có thẩm quyền lập biên bản phải tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với tất cả các hành vi vi phạm liên quan đến vụ việc để bảo đảm nguyên tắc “mọi hành vi vi phạm phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời” (quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 Luật XLVPHC), sau đó, biên bản phải được chuyển ngay đến người có thẩm quyền xử phạt để tiến hành xử phạt theo quy định tại khoản 3 Điều 58 Luật XLVPHC. Tuy nhiên, thẩm quyền lập biên bản đối với tất cả hành vi vi phạm trong trường hợp này chỉ được pháp luật trao cho người có thẩm quyền lập biên bản đồng thời là người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính; khoản 2 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) không trao thẩm quyền này cho người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính nhưng không có thẩm quyền xử phạt. Do đó, khó khăn, vướng mắc liên quan đến xử lý những vụ việc vi phạm có nhiều hành vi vi phạm hành chính thuộc các lĩnh vực quản lý khác nhau vẫn chưa được giải quyết một cách triệt để.
Từ thực tế nêu trên, tác giả cho rằng, cần thiết phải nghiên cứu, sửa đổi quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) theo hướng: (i) Quy định rõ, tất cả những người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính đều chỉ có quyền lập biên bản về những vi phạm thuộc phạm vi thi hành công vụ, nhiệm vụ được giao (chứ không giới hạn chỉ người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính nhưng không có thẩm quyền xử phạt như quy định hiện hành); (ii) mở rộng phạm vi điều chỉnh của đoạn 2 khoản 2 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) bao gồm những người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính nói chung, cả người có thẩm quyền xử phạt và người không có thẩm quyền xử phạt đều được thực hiện việc lập biên bản vi phạm hành chính đối với tất cả các hành vi vi phạm trong một vụ việc mà họ phát hiện. Theo đó, khoản 2 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) có thể được sửa đổi như sau:

2. Người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính quy định tại khoản 1 Điều này chỉ có quyền lập biên bản về những vi phạm thuộc phạm vi thi hành công vụ, nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về việc lập biên bản.
Trường hợp vụ việc vi phạm vừa có hành vi vi phạm thuộc lĩnh vực quản lý của người lập biên bản, vừa có hành vi vi phạm không thuộc lĩnh vực quản lý hoặc thuộc lĩnh vực quản lý nhưng vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản, thì người đó vẫn phải tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với tất cả các hành vi vi phạm và chuyển ngay biên bản đến người có thẩm quyền xử phạt để tiến hành xử phạt theo quy định tại khoản 3 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính.

3. Việc xử lý đối với trường hợp biên bản vi phạm hành chính bị lập sai thẩm quyền

Trong thực tế, có trường hợp biên bản vi phạm hành chính đã được lập bởi người không có thẩm quyền theo quy định pháp luật. Vậy xử lý trường hợp này như thế nào? Người có thẩm quyền lập biên bản theo quy định pháp luật có thể lập biên bản khác không, nếu lập thì có vi phạm nguyên tắc “một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị lập biên bản và ra quyết định xử phạt một lần” quy định khoản 3 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP không?
Để giải quyết vấn đề này, tác giả cho rằng, người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính cần nghiên cứu kỹ quy định của Luật XLVPHC. Theo quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật XLVPHC thì: “Khi phát hiện vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản”. Điều này có nghĩa là, một người chỉ có quyền lập biên bản vi phạm hành chính nếu vi phạm đó “thuộc lĩnh vực quản lý của mình”, trừ trường hợp người lập biên bản đồng thời là người có thẩm quyền xử phạt thì được lập biên bản đối với tất cả hành vi vi phạm (trong đó có hành vi vi phạm thuộc lĩnh vực quản lý của người lập biên bản) trong cùng một vụ việc vi phạm được phát hiện như đã nêu tại mục 2 của bài viết.
Như vậy, nếu một chức danh có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong một hoặc một số lĩnh vực quản lý nhất định nhưng lại tiến hành lập biên bản đối với một hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý khác, không thuộc phạm vi lĩnh vực quản lý được giao thì về mặt nguyên tắc, biên bản đó không được coi là biên bản vi phạm hành chính, vì biên bản đó không do người có thẩm quyền lập theo quy định pháp luật. Trong trường hợp này, người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định pháp luật (quy định tại các nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản nhà nước) vẫn được quyền lập biên bản vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm (nếu vụ việc còn thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính) mà không vi phạm nguyên tắc “một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị lập biên bản và ra quyết định xử phạt một lần” quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP.
Có thể nói, biên bản vi phạm hành chính là một trong những căn cứ để ban hành quyết định xử phạt, là cơ sở quan trọng cho việc tiến hành xử phạt vi phạm hành chính. Việc lập biên bản vi phạm hành chính đòi hỏi phải đáp ứng các yêu cầu, điều kiện khác nhau do pháp luật quy định (về hình thức, trình tự, thủ tục, nội dung,…), trong đó có yêu cầu về việc đúng thẩm quyền. Quy định pháp luật hiện hành về vấn đề này mặc dù đã tương đối đầy đủ nhưng vẫn còn bộc lộ những khiếm khuyết nhất định, đòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Do vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, làm rõ những nội dung liên quan, đánh giá những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng để từ đó có cơ sở hoàn thiện pháp luật về vấn đề này là nhiệm vụ cần tiếp tục được đẩy mạnh trong thời gian tới./.
Nguyễn Hoàng Việt, Ths Luật học – CỤC QLXLVPHC&TDTHPL
TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
  2. Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính.
  3. Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính.
  4. Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế.
  5. Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện.
  6. Dự thảo Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam; hoạt động của tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam và hoạt động chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự do Bộ Ngoại giao chủ trì xây dựng gửi Bộ Tư pháp thẩm định, đăng trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp, truy cập ngày 09/9/2018, địa chỉ tại http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/chi-dao-dieu-hanh.aspx?ItemID=2414.
  7. Sách “Tìm hiểu pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính”, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2016.
  8. Báo cáo số 15/BC-BTP ngày 22/01/2016 về công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2015 của Bộ Tư pháp gửi Thủ tướng Chính phủ.
  9. Báo cáo số 09/BC-BTP ngày 08/01/2018 về tổng kết thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính của Bộ Tư pháp gửi Thủ tướng Chính phủ.
  10. Cổng Thông tin điện tử Sở Xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc, Một số vấn đề tồn tại, hạn chế trong công tác xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng, truy cập ngày 09/9/2018, tại địa chỉ: https://soxd.vinhphuc.gov.vn/noidung/tintuc/Lists/TinTrongNganh/View_Detail.aspx?ItemID=205, Nguyễn Bá Toàn thực hiện ngày 19/07/2017.
  11. Tài liệu “Hội thảo tăng cường cơ chế giám sát thi hành Luật XLVPHC” do Bộ Tư pháp tổ chức tại Hà Nội ngày 26/7/2018: Tham luận “Tổng quan thực trạng thực hiện các quy định của Luật XLVPHC và đề xuất, kiến nghị các giải pháp tăng cường cơ chế giám sát, nâng cao hiệu quả công tác thi hành Luật” của Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp.

[1] Xem Điều 56 Luật XLVPHC

[2] Cổng Thông tin điện tử Sở Xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc, Một số vấn đề tồn tại, hạn chế trong công tác xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng, truy cập ngày 09/9/2018, tại địa chỉ: https://soxd.vinhphuc.gov.vn/noidung/tintuc/Lists/TinTrongNganh/View_Detail.aspx?ItemID=205, Nguyễn Bá Toàn thực hiện ngày 19/07/2017
[3] Theo Báo cáo số 09/BC-BTP ngày 08/01/2018 về tổng kết thi hành Luật XLVPHC của Bộ Tư pháp gửi Thủ tướng Chính phủ, tính đến hết ngày 30/09/2017, Chính phủ đã ban hành tổng số 92 nghị định quy định chi tiết thi hành Luật XLVPHC (09 nghị định đã hết hiệu lực toàn bộ), trong đó có các nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước; theo báo cáo của Cục Quản lý xử lý vi  phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật thuộc Bộ Tư pháp tại “Hội thảo tăng cường cơ chế giám sát thi hành Luật XLVPHC” được tổ chức tại Hà Nội ngày 26/7/2018, tính đến hết ngày 30/6/2018, đã có khoảng gần 100 nghị định quy định chi tiết thi hành Luật XLVPHC được Chính phủ ban hành (Tham luận “Tổng quan thực trạng thực hiện các quy định của Luật XLVPHC và đề xuất, kiến nghị các giải pháp tăng cường cơ chế giám sát, nâng cao hiệu quả công tác thi hành Luật”)
[4] Phụ lục 10, Báo cáo số 15/BC-BTP ngày 22/01/2016 về công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2015 của Bộ Tư pháp gửi Thủ tướng Chính phủ
[5] Tại mục chú thích số (4) của mẫu biên bản vi phạm hành chính số 01 (MBB 01) cũng ghi rõ một trong những căn cứ của việc lập biên bản vi phạm hành chính là: Kết luận thanh tra
[6] Xem khoản 1 Điều 54 Luật XLVPHC
[7] Ngày 02/02/2018, Văn phòng Chính phủ có Công văn số 1239/VPCP-PL thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình, trong đó giao Bộ Tư pháp “khẩn trương lập đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính, trình Chính phủ xem xét, cho ý kiến và đề nghị bổ sung vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật”

[8] Xem: Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật, Tìm hiểu pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2016, tr.200.

[9] Xem khoản 2 Điều 15 dự thảo Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam; hoạt động của tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam và hoạt động chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự do Bộ Ngoại giao chủ trì xây dựng gửi Bộ Tư pháp thẩm định, đăng trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp, truy cập ngày 09/9/2018, tại địa chỉ: http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/chi-dao-dieu-hanh.aspx?ItemID=2414