Về kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Quy chế số 03 về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố quy định cụ thể kiểm sát việc ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện phát sinh cách hiểu chưa thống nhất về một số nội dung.
Ngày 29/12/2017, VKSND tối cao có quyết định số: 03/QĐ-VKSTC về việc ban hành Quy chế tạm thời về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố (gọi tắt là Quy chế tạm thời số 03) để áp dụng thống nhất chung trong toàn ngành. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả  trao đổi thêm một số ý kiến về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự như sau.
Về vị trí của hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự
– Quan điểm thứ nhất cho rằng, thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự là hoạt động được thực hiện trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Bởi lẽ, ngay từ tên gọi, theo bố cục lập pháp, hoạt động này được quy định tại Phần II (Khởi tố, điều tra vụ án hình sự) của BLTTHS năm 2015 và Chương II (thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can) của Quy chế tạm thời số 03. Rõ hơn nữa, khoản 2 Điều 14 Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2014 cũng quy định trong nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự có hoạt động hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án trái pháp luật. Vì quyết định không khởi tố vụ án hình sự có vị trí tương tự như quyết định khởi tố vụ án hình sự (chỉ khác nhau ở hậu quả pháp lý đối lập) nên hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát đối với hai loại quyết định này cũng tương tự nhau, đều được thực hiện trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
– Quan điểm thứ hai cho rằng, thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự là hoạt động được thực hiện trong giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Bởi lẽ, Điều 147 BLTTHS 2015 quy định về thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố như sau:
“Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định:
a) Quyết định khởi tố vụ án hình sự;
b) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;
c) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.”
Theo đó, quyết định khởi tố vụ án hình sự; quyết định không khởi tố vụ án hình sự và quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố chính là các kết quả của quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Trong đó, quyết định khởi tố vụ án hình sự có vị trí đặc biệt, được coi như “bản lề” của 2 giai đoạn tố tụng khác nhau vì nó đóng lại giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và mở ra quá trình điều tra. Tuy nhiên, quyết định không khởi tố vụ án hình sự lại không có tính chất như vậy, nó chỉ đơn thuần là kết quả cuối cùng, đóng lại quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Nên cũng cần đánh giá, về bản chất, hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự phải thuộc giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Việc quy định theo kết cấu các văn bản pháp luật đã trích dẫn như quan điểm thứ nhất là để thuận lợi cho quá trình thực hiện, thể hiện tính liên tục giữa 2 giai đoạn: Giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và điều tra mà không có ý nghĩa xác định hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự được tiến hành trong giai đoạn điều tra.
Về nội dung của hoạt động này, Điều 13 Quy chế tạm thời số 03 quy định:
“1. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được quyết định không khởi tố vụ án hình sự và các tài liệu có liên quan của Cơ quan có thẩm quyền điều tra, Kiểm sát viên phải kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định đó và báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện giải quyết như sau:
a) Nếu thấy ch­ưa đủ căn cứ thì có văn bản yêu cầu cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ;
b) Nếu thấy không có căn cứ thì yêu cầu cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hủy bỏ quyết định đó và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu cơ quan đó không thực hiện thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại  điểm a Khoản 3 Điều 153, Khoản 6 Điều 159 Bộ luật Tố tụng hình sự và gửi cho Cơ quan có thẩm quyền điều tra để tiến hành điều tra;
c) Nếu thấy đủ căn cứ thì thông báo bằng văn bản cho cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự”.
Theo đó, những nội dung cần làm để thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự đã được quy định rất cụ thể. Tuy nhiên, với trường hợp xử lý khi quyết định không khởi tố vụ án hình sự ch­ưa đủ căn cứ, hiện nay vẫn còn một số ý kiến trái chiều như sau.
Về thời hạn: Điểm a, khoản 1 Điều 13 Quy chế tạm thời số 03 chỉ quy định trong thời hạn 03 ngày, kể từ khi nhận được quyết định không khởi tố vụ án hình sự và các tài liệu có liên quan của Cơ quan có thẩm quyền điều tra, Kiểm sát viên phải kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định đó. Nếu thấy ch­ưa đủ căn cứ thì báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện có văn bản yêu cầu cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ.
Quy định như vậy sẽ dẫn tới 2 cách hiểu khác nhau:
– Quan điểm thứ nhất cho rằng, trong trường hợp này, Cơ quan được yêu cầu chỉ được bổ sung tài liệu chứng cứ trong thời gian 3 ngày kể từ khi giao quyết định không khởi tố vụ án hình sự cho Viện kiểm sát. Nếu theo phương án này, thời hạn bổ sung tài liệu chứng cứ là quá ít. Cá biệt, nếu Kiểm sát viên nghiên cứu mất phần lớn thời gian (ví dụ như 2 ngày) thì kể từ khi nhận được yêu cầu, Cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự chỉ còn rất ít thời gian để bổ sung tài liệu, chứng cứ (1 ngày). Nếu như vậy thì việc thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát là không khả thi.
– Quan điểm thứ hai cho rằng, 3 ngày là thời hạn để Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định đó và báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện phương án giải quyết là: yêu cầu cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ. Cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự sẽ bổ sung tài liệu, chứng cứ ngoài thời hạn 3 ngày này. Theo quan điểm thứ hai, cũng có 2 cách hiểu về tính thời hạn bổ sung tài liệu, chứng cứ khác nhau. Thứ nhất, thời hạn này không bị hạn chế, chỉ kết thúc khi cơ quan này bổ sung xong tài liệu, chứng cứ, đủ làm căn cứ để quyết định giữ nguyên quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc hủy bỏ quyết định đó. Thứ hai, thời hạn bổ sung tài liệu, chứng cứ không thể vượt quá thời hạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Nếu hết thời hạn trên, các tài liệu, chứng cứ bổ sung được không đủ để làm căn cứ khởi tố vụ án, cũng không thuộc trường hợp tạm đình chỉ thì theo nguyên tắc trách nhiệm chứng minh thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng và nguyên tắc suy đoán vô tội, cần phải giữ nguyên Quyết định không khởi tố vụ án.
Về trình tự, thủ tục thu thập và giá trị chứng minh của những tài liệu, chứng cứ được bổ sung: Theo quy định tại Điều 13 Quy chế, sau khi khởi tố vụ án, nếu chưa thấy đủ căn cứ, Viện kiểm sát có thể yêu cầu cơ quan đã ra quyết định bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ. Như đã phân tích ở trên, tuy Quyết định khởi tố vụ án hình sự đã khép lại quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm nhưng lại mở ra giai đoạn điều tra, nên mọi hoạt động tố tụng tiếp theo, trong đó có cả việc bổ sung tài liệu, chứng cứ (nếu có) sẽ được diễn ra và tuân theo các trình tự, thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra. Vì vậy, những tài liệu, chứng cứ này hoàn toàn hợp pháp và đầy đủ giá trị để Viện kiểm sát làm căn cứ đánh giá, xem xét có phải hủy Quyết định khởi tố vụ án hay không.
Về trường hợp tạm đình chỉ việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, Điều 148 BLTTHS 2015 cũng quy định “Trường hợp tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì việc giám định, định giá tài sản hoặc tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả.” Theo đó, tuy việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm đã tạm dừng nhưng một số hoạt động tố tụng vẫn được phép tiến hành (giám định, định giá tài sản hoặc tương trợ tư pháp) nên tài liệu, chứng cứ được thu thập theo trình tự này cũng hoàn toàn hợp pháp. Đối với trường hợp Quyết định không khởi tố vụ án thì lại có sự khác biệt. Về nguyên tắc, khi đã có Quyết định không khởi tố vụ án, nghĩa là đã khép lại quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, theo đó, mọi hoạt động tố tụng liên quan đến việc thu thập tài liệu, xác minh, làm rõ nguồn tin cũng phải chấm dứt. Do đó, vấn đề đặt ra là, sau khi đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình, tất cả những hoạt động thu thập tài liệu, chứng cứ sẽ tuân theo trình tự thủ tục tố tụng nào và có giá trị chứng minh hay không? Đây là “khoảng trống” chưa được quy phạm pháp luật nào điều chỉnh.
Theo quan điểm của cá nhân tôi, BLTTHS 2015 đã quy định rất chặt chẽ về thủ tục tố tụng (Điều 87: “Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật quy định này thì không có giá trị pháp lý…”). Cũng không có Điều nào trong Bộ luật này quy định về thủ tục bổ sung tài liệu, chứng cứ cho Quyết định Không khởi tố vụ án hình sự chưa có đủ căn cứ. Do đó, cần đặc biệt thận trọng. Dù là “mạnh tay” nhưng trong trường hợp này, khi Quyết định Không khởi tố vụ án hình sự chưa có đủ căn cứ, Viện kiểm sát nên yêu cầu cơ quan đã ban hành Quyết định này phải hủy bỏ hoặc tự mình hủy bỏ để trở lại xác minh, làm rõ theo thủ tục chung. Có như vậy, mới đảm bảo trình tự, thủ tục tố tụng và theo đó, bảo đảm giá trị chứng minh của tất cả những tài liệu, chứng cứ thu thập được.
Trường hợp thấy Quyết định không khởi tố vụ án ch­ưa đủ căn cứ, Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ là quy định không mới, hoàn toàn được kế thừa từ Quy chế kiểm sát điều tra năm 2008 của ngành Kiểm sát. Tuy nhiên, với những thay đổi lớn của BLHS 2015, BTTHS 2015 với những yêu cầu vô cùng khắt khe về trình tự, thủ tục tố tụng, nên chăng, cần đặt ra thêm giải pháp hợp lý hơn cho vấn đề này để đảm bảo tính hợp pháp, giá trị chứng minh của tài liệu, chứng cứ, đảm bảo cơ sở vững chắc cho các hoạt động và quyết định tố tụng.
Từ góc độ nghiên cứu, đối chiếu đồng thời nhiều quy định mới của các đạo luật và văn bản liên quan, nhằm tìm ra cách hiểu chính xác và thống nhất để áp dụng pháp luật, tôi mạnh dạn đưa ra quan điểm cá nhân về trường hợp nêu trên, rất mong nhận được sự quan tâm cũng như ý kiến trao đổi của các đồng nghiệp và bạn đọc.
 

Nguồn: Tạp chí kiểm sát (kiemsat.vn)

Về xem xét quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực của Viện kiểm sát
Việc quy định về xem xét quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật của Viện kiểm sát đã tháo gỡ “nút thắt” cuối cùng của trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền VKS khi cần thiết, giúp người khiếu nại nhận thức đúng quy định của pháp luật về nội dung khiếu nại và khắc phục sai sót, vi phạm trong quá trình tiến hành tố tụng.
Quy chế số 51/QĐ-VKSTC ngày 02/02/2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao quy định về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo trong hoạt động tư pháp (Quy chế số 51) đã quy định cụ thể về cơ chế kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật. Đây là điểm mới rất quan trọng, là “thủ tục đặc biệt” của Viện kiểm sát trong công tác giải quyết khiếu nại về tư pháp thuộc thẩm quyền.
Quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật cần được hiểu là bao gồm cả quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng (được ghi trong quyết định giải quyết) và quyết định giải quyết lần đầu nhưng không có khiếu nại tiếp theo trong thời hạn luật định. Trong đó, có thể xác định quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng là thủ tục đóng của trình tự giải quyết khiếu nại mà theo quy định của pháp luật, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan chịu trách nhiệm thi hành; và đến nay chỉ còn được sử dụng trong các đạo luật về tư pháp.
Mặc dù vậy, xuất phát từ thực tiễn, rất nhiều quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn có sai sót, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người liên quan. Do vậy, quá trình xây dựng Quy chế số 51, đơn vị chức năng của VKSND tối cao đã xem xét xây dựng quy định này để thực hiện trong ngành, không chỉ nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong quan hệ pháp luật khiếu nại, tố cáo về tư pháp thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát mà còn có ý nghĩa đảm bảo hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát được đúng pháp luật, kịp thời khắc phục hậu quả sai sót, nếu có. Vì vậy, xem xét quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực có thể được coi là thủ tục đặc biệt của Viện kiểm sát trong công tác giải quyết khiếu nại về tư pháp thuộc thẩm quyền. Tuy nhiên, cần nhận thức rằng, đây không phải là trình tự giải quyết khiếu nại tiếp theo của giải quyết khiếu nại cuối cùng mà là hai thủ tục khác biệt, do có nét tương đồng nhất định, cho nên, để tránh nhầm lẫn trong nhận thức cũng như thực tiễn, cần xác định sự tương đồng và khác biệt giữa chúng.
Xét về mặt tương đồng, hai thủ tục này đều là việc xem xét lại toàn bộ quá trình hoạt động tư pháp hoặc gồm cả việc giải quyết khiếu nại trước đó nhưng đương sự không chấp nhận kết quả và khiếu nại tiếp. Đồng thời, các loại việc này có thể phát sinh ở bất cứ hoạt động tư pháp nào, song trong thực tiễn, chủ yếu ở lĩnh vực hình sự, nhất là hoạt động điều tra, truy tố và việc xem xét, giải quyết đều được thực hiện theo trình tự, thủ tục như: Làm việc trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người liên quan, xác minh, thu thập tài liệu, tiến hành đối chất; thực hiện lại các hoạt động tố tụng khác, nếu cần thiết…
Tuy nhiên, đặc trưng riêng rất căn bản, yếu tố làm nên sự khác biệt về tên gọi giữa hai thủ tục này là tính bắt buộc về trách nhiệm xem xét, giải quyết, cụ thể:
Đối với giải quyết khiếu nại, theo quy định của các bộ luật và luật về tư pháp, khi chưa có quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng mà đương sự có đơn khiếu nại thì đồng thời phát sinh trách nhiệm xem xét, thụ lý, giải quyết của cơ quan có thẩm quyền. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không quy định thời hiệu khiếu nại tiếp theo (lần hai), cho nên, sau khi nhận quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu về quyết định, hành vi tố tụng, nếu đương sự khiếu nại tiếp thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết; trừ khiếu nại thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân, các khiếu nại khác trong tố tụng hình sự đều do Viện kiểm sát giải quyết cuối cùng. Song Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định rõ về thời hiệu khiếu nại lần hai (Điều 474, 476), theo đó, sau khi nhận được quyết định giải quyết lần đầu, trong thời hạn 03 ngày, đương sự có quyền khiếu nại tiếp và cơ quan có thẩm quyền phải xem xét để thụ lý, giải quyết. Sau thời hạn này mà đương sự mới gửi đơn thì thuộc trường hợp không đủ điều kiện thụ lý để giải quyết khiếu nại; nếu quyết định giải quyết khiếu nại đó do VKSND ban hành, có thể được xem xét theo thủ tục “xem xét quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật” khi đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 14 Quy chế số 51.
Đối với việc xem xét quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật, đây là thủ tục đặc biệt trong quy trình giải quyết khiếu nại của Viện kiểm sát, không bị ràng buộc bởi thời hiệu gửi đơn, nhưng phải đáp ứng các điều kiện được quy định tại Điều 14 Quy chế số 51, đó là: “Đơn bức xúc, kéo dài; đơn về những vụ việc có dấu hiệu oan, sai; đơn có sự chỉ đạo xem xét của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; đơn được các cơ quan báo chí và dư luận quan tâm; đơn có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị ở trung ương hoặc địa phương”. Kết quả việc xem xét này là việc Viện kiểm sát ban hành Kết luận kiểm tra, trong đó, có thể giữ nguyên hoặc hủy quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định tố tụng trước đó (nếu là quyết định); khẳng định sự đúng, sai (nếu đối tượng khiếu nại hành vi). Trên cơ sở kết quả kiểm tra, việc xử lý vụ việc sẽ thuộc một trong các trường hợp sau:
– Trường hợp thứ nhất, qua kiểm tra thấy việc giải quyết khiếu nại đã khách quan, đúng pháp luật, đảm bảo tính chặt chẽ thì trong nội dung Kết luận nêu rõ nội dung, nhận xét, đánh giá và khẳng định rõ tính đúng đắn, thuyết phục của quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.
– Trường hợp thứ hai, quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật tuy đã đúng quan điểm, đường lối nhưng thiếu chặt chẽ và tính thuyết phục thì cùng với việc nêu rõ nội dung, đưa ra tài liệu chứng cứ chứng minh, bản Kết luận phải đánh giá, chỉ rõ những thiếu sót đó. Một mặt, để đương sự thấy rõ bản chất của việc giải quyết là đúng, mà chỉ sai về cách lập luận và thiếu thuyết phục; mặt khác, giúp Viện kiểm sát đã ban hành quyết định giải quyết thấy được hạn chế, thiếu sót để khắc phục, sửa chữa, rút kinh nghiệm. Sau kết luận, Viện kiểm sát đã kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật có thể ban hành văn bản rút kinh nghiệm đối với Viện kiểm sát cấp dưới.
– Trường hợp thứ ba, qua kiểm tra phát hiện quyết định, hành vi tố tụng có vi phạm nghiêm trọng (quan điểm, nội dung; thẩm quyền, trình tự, thủ tục hoặc cả hai) mà quá trình giải quyết khiếu nại không hủy bỏ, khắc phục; hoặc chính quyết định giải quyết khiếu nại có vi phạm, sai sót nghiêm trọng thì Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm tra phải hủy bỏ quyết định giải quyết khiếu nại đã được kiểm tra. Trong trường hợp này, theo quy định tại Điều 7 Luật tổ chức VKSND năm 2014 và Điều 41 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, Viện trưởng VKSND cấp trên có quyền hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của VKSND cấp dưới. Tuy các điều luật này không quy định rõ về thẩm quyền hủy bỏ, nhưng để phù hợp với quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại tại Chương XXXIII Bộ luật Tố tụng hình sự, VKSND cấp trên chỉ nên hủy quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định tố tụng vi phạm của VKS cấp dưới trực tiếp, trừ trường hợp đặc biệt. Đồng thời, xác định rõ sai sót, vi phạm từ quyết định, hành vi nào thì hủy, bác bỏ để cơ quan đã ban hành, thực hiện khắc phục vi phạm từ hoạt động đó.
Có thể thấy rằng, việc quy định và thực hiện xem xét quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật của Viện kiểm sát có ý nghĩa tháo gỡ “nút thắt” cuối cùng của trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền Viện kiểm sát khi cần thiết, nhằm giải thích, giúp người khiếu nại nhận thức đúng quy định của pháp luật về nội dung khiếu nại và sự phù hợp thực tiễn của vấn đề; mặt khác, giải quyết, khắc phục sai sót, vi phạm trong quá trình tiến hành tố tụng hoặc các hoạt động tư pháp khác và giải quyết khiếu nại của Viện kiểm sát có thẩm quyền. Qua hai năm thực hiện Quy chế số 51 về kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật tại VKSND tối cao (Vụ 12), nhiều vụ việc được VKSND cấp tỉnh ra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật có sai sót, vi phạm phải hủy hoặc rút kinh nghiệm. Vì vậy, đây là hoạt động nghiệp vụ hữu hiệu của Viện kiểm sát nhân dân nhằm giảm thiểu khiếu kiện về tư pháp, thể hiện sự cầu thị của người thi hành công vụ thuộc Viện kiểm sát, đem lại lòng tin của nhân dân với ngành mà các Viện kiểm sát cần tích cực thực hiện./.

 

Nguồn: Tạp chí kiểm sát (kiemsat.vn)

Phân biệt Bản luận tội và Bản cáo trạng của Viện kiểm sát

Trong pháp luật tố tụng hình sự, Viện kiểm sát (VKS) là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật – đây được xem là một trong những nguyên tắc cơ bản được ghi nhận tại Điều 20 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
 
Theo đó, VKS có quyền quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Bởi vậy, khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, VKS có nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện “Luận tội” và sẽ do Kiểm sát viên trực tiếp tiến hành tại phiên tòa (điểm c khoản 1 Điều 266 Bộ luật tố tụng hình sự 2015).
Tuy nhiên, chắc hẳn nhiều người có thắc mắc rằng: “Bản cáo trạng” của VKS có phải là “Bản luận tội” không? Và câu trả lời cho câu hỏi trên là: “KHÔNG”. Thực tế đây là hai vấn đề thuộc về quyền hạn của VKS nhưng chúng lại được tiến hành vào những thời điểm khác nhau trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Hơn nữa, xét về bản chất, nội dung của “Bản cáo trạng” và “Bản luận tội” không phải cùng là một. Ngoài ra, hai vấn đề này cũng mang những ý nghĩa riêng biệt nhất định. Dưới đây là bảng so sánh về sự khác biệt giữa “Bản cáo trạng” và Bản luận tội” của VKS để từ đó giúp mọi người có nhìn nhận rõ ràng, chính xác:
 

TIÊU CHÍ BẢN CÁO TRẠNG BẢN LUẬN TỘI
Hình thức Văn bản pháp lý – một loại văn bản tố tụng được ghi nhận tại Điều 132 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Lời trình bày luận tội tại phiên tòa.
Thời điểm tiến hành Trước khi tiến hành xét hỏi,Kiểm sát viên công bố bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung (nếu có). Ý kiến bổ sung không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo. Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày luận tội. 
=>> Như vậy, sau khi Kiểm sát viên đã công bố bản cáo trạng vào thời điểm giai đoạn bắt đầu việc tranh tụng tại phiên tòa và trải qua quá trình xét hỏi xong thì sau đó Kiểm sát viên mới tiến hành trình bày lời luận tội.

Nội dung

– Bản cáo trạng ghi rõ:+Diễn biến hành vi phạm tội; +Những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị can, thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;
+Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;
+ Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị can; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý vật chứng;
+Nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội và tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
– Phần kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều, khoản, điểm của Bộ luật hình sự được áp dụng.
– Bản cáo trạng phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra cáo trạng; họ tên, chức vụ và chữ ký của người ra bản cáo trạng.

– Nội dung luận tội phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ:+Những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án;
+Tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự, +Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự;
+Mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp;
+Nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
– Luận tội của Kiểm sát viên phảicăn cứvào: những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.
– Đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng.
– Kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.
Ý nghĩa Là văn bản pháp lý thể hiện quan điểm của VKS về vụ án hình sự trên cơ sở kết quả hoạt động điều tra và ra quyết định truy tố bị can ra trước toà án để xét xử.Nói cách khác, bản cáo trạng là văn bản pháp lý kết thúc giai đoạn điều tra và mở đầu một giai đoạn tố tụng mới, đó là giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự.
=>VKS quyết định truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng.
Bản luận tội không những là căn cứ để bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác đưa ra ý kiến, quan điểm của mình về toàn bộ vụ án mà VKS đã truy tố trước Tòa ántrên cơ sở hoạt động tranh tụng tại phiên tòa.=> Bản luận tội của VKS là cơ sở để Tòa án xem xét, quyết định việc đưa ra phán quyết của mình đối với người phạm tội và toàn bộ vụ án theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định.
=>> Như vậy, bản luận tội của VKS phải “căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra và ý kiến của người tham gia tố tụng tại phiên tòa”, bởi vậy nó đảm bảo được tính khác quan, chính xác, đầy đủ hơn so với bản cáo trạng trước đó.  Do đó, bản luận tội mang ý nghĩa quyết định hơn trong việc Tòa án đưa ra phán quyết đối với người phạm tội, đảm bảo nguyên tắc xét xử “đúng người, đúng tội” trong tố tụng hình sự.

 

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)