Bàn về thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong trường hợp Tòa án là bị đơn trong vụ án dân sự

Bài viết phân tích, đánh giá quy định của pháp luật tố tụng dân sự về căn cứ chuyển đơn khởi kiện trong trường hợp vụ việc không thuộc thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ khi Tòa án là bị đơn trong vụ án dân sự, từ đó nêu ra thực trạng của pháp luật tố tụng dân sự, thực tiễn áp dụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.
Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là một trong những nguyên tắc hiến định [1]. Cụ thể hóa nguyên tắc hiến định này, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (TAND) năm 2014 [2] và Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 [3] đã dành riêng một điều luật để quy định về nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” và mọi hành vi của cá nhân, cơ quan, tổ chức can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong trường hợp khi Tòa án chính là cơ quan bị yêu cầu bồi thường thiệt hại và cũng chính là cơ quan giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại và tuyên buộc chính mình phải bồi thường hoặc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, không buộc mình phải bồi thường. Điều này không tránh khỏi sự “hoài nghi” của người yêu cầu bồi thường nói riêng và của cả xã hội nói chung về phán quyết của Tòa án khi “Tòa án lại xử chính mình” – người “vừa đá bóng, vừa thổi còi”. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và đề ra giải pháp hoàn thiện quy định về thẩm quyền của Tòa án trong trường hợp này là điều cần thiết.
1.Quy định của pháp luật
Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ là sự phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ việc dân sự giữa các Tòa án cùng cấp với nhau, được tiến hành trên cơ sở đảm bảo cho việc giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án được thuận lợi, nhanh chóng; tiết kiệm chi phí và tạo sự thuận lợi cho các đương sự tham gia tố tụng, tránh sự chồng chéo trong việc thực hiện thẩm quyền giữa các Tòa án cùng cấp.[4
Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ bao gồm: Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự và thẩm quyền giải quyết việc dân sự được quy định tại Điều 39 của BLTTDS năm 2015.
Đối với thẩm quyền giải quyết việc dân sự, do có sự khác nhau về đặc điểm, tính chất, quyền và lợi ích được bảo vệ của từng đối tượng người yêu cầu, người bị yêu cầu nên BLTTDS năm 2015 đã quy định cụ thể về Tòa án có thẩm quyền giải quyết đối với từng loại yêu cầu cụ thể.
Đối với thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự, tố tụng dân sự cũng đảm bảo nguyên tắc tự định đoạt của đương sự khi cho phép các bên đương sự có quyền thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc Tòa án nơi có trụ sở của nguyên đơn nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết. Tuy nhiên, sự thỏa thuận đó không được trái với quy định của BLTTDS về thẩm quyền theo cấp Tòa án. Đối với các tranh chấp có đối tượng [5] tranh chấp là bất động sản thì chỉ có Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.
Quy định về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự thường ưu tiên xác định là Tòa án nơi cư trú, làm việc, có trụ sở của bị đơn. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của từng lĩnh vực quan hệ pháp luật dân sự mà thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ không chỉ quy định trong BLTTDS mà còn được quy định cụ thể trong các luật chuyên ngành. Theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, Toà án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường là TAND cấp huyện nơi cá nhân bị thiệt hại cư trú, làm việc, nơi tổ chức bị thiệt hại đặt trụ sở, nơi thiệt hại xảy ra theo sự lựa chọn của người bị thiệt hại hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự [6].
Chính vì chủ thể đặc biệt của các loại án này nên quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 đã không thể tránh khỏi các trường hợp Tòa án nơi cá nhân bị thiệt hại cư trú, làm việc hoặc nơi tổ chức bị thiệt hại đặt trụ sở hoặc nơi thiệt hại xảy ra theo yêu cầu của người bị thiệt hại cũng chính là Tòa án bị yêu cầu bồi thường.
Ngày 18/9/2012, TANDTC, VKSNDTC và Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP về việc “Hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính”. Theo Thông tư này, trường hợp TAND cấp huyện là Tòa án có trách nhiệm bồi thường thì TAND cấp huyện đó báo cáo TAND cấp trên trực tiếp để TAND cấp trên lấy vụ án lên giải quyết theo thủ tục sơ thẩm. Hướng dẫn này đã phần nào hạn chế được việc Tòa án vừa là cơ quan xét xử vừa là bị đơn trong vụ án ở Tòa án cấp huyện. Tuy nhiên, hướng dẫn này chưa khắc phục được tình trạng tương tự như trên đối với Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao.
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 có hiệu lực vào ngày 01/7/2018 vẫn chưa khắc phục được hạn chế của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 như đã phân tích. TAND cấp huyện nơi cư trú, làm việc của người yêu cầu bồi thường hoặc nơi đặt trụ sở của bị đơn theo lựa chọn của người yêu cầu bồi thường là Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm yêu cầu bồi thường trong trường hợp bị đơn là các cơ quan theo quy định, trong đó bao gồm cơ quan tiến hành tố tụng cấp huyện. TAND cấp tỉnh nơi cư trú, làm việc của người yêu cầu bồi thường hoặc nơi đặt trụ sở của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại theo lựa chọn của người yêu cầu bồi thường là Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp huyện [7]. Như vậy, TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh vẫn có thể phải xét xử sơ thẩm, TAND cấp cao vẫn có thể phải xét xử phúc thẩm các vụ án yêu bồi thường thiệt hại mà chính mình là bị đơn.
Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới cũng có quy định về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng, điển hình như:
Ở Anh, mọi vụ kiện dân sự tiến hành chống lại Nhà nước sẽ do Tòa án cấp cao hoặc Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết. Tuy nhiên, có thể chuyển vụ kiện từ Tòa án cấp sơ thẩm lên Tòa án cấp cao hoặc chuyển vụ kiện từ Tòa án cấp cao xuống Tòa án cấp sơ thẩm nếu có đủ điều kiện. Riêng đối với việc chuyển vụ kiện từ Tòa án cấp cao xuống Tòa án cấp sơ thẩm sẽ chỉ được thực hiện với sự chấp thuận của Nhà nước.[8]
Ở Nhật Bản, việc đề nghị đền bù thiệt hại hình sự sẽ được đệ trình lên Toà án ra quyết định “vô tội”.[9]
Ở Hàn Quốc, để xem xét vụ việc có đơn yêu cầu đòi bồi thường kiện Nhà nước hoặc chính quyền địa phương, một Hội đồng Trung ương được thành lập ở Bộ Tư pháp, một Hội đồng Đặc biệt được thành lập ở Bộ Quốc phòng để xem xét đơn yêu cầu bồi thường đối với thiệt hại do các quân nhân hoặc công chức quốc phòng gây ra cho người khác. Hội đồng Trung ương và Hội đồng Đặc biệt thành lập một Hội đồng cấp Quận huyện theo các điều kiện được quy định tại Sắc luật của Tổng thống. Hội đồng Trung ương, Hội đồng Đặc biệt và Hội đồng cấp Quận huyện được bố trí chỗ làm việc theo quyết định của Bộ trưởng Tư pháp. Mỗi Hội đồng có Chủ tịch chịu trách nhiệm kiểm soát chung.[9]
Ở Trung Quốc, TAND trung cấp trở lên thành lập Hội đồng bồi thường, thành phần gồm ba đến bảy thẩm phán. Hội đồng bồi thường ra quyết định bồi thường, thực hiện nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số. Quyết định bồi thường của Hội đồng bồi thường là quyết định có hiệu lực pháp luật, buộc phải thực hiện.[10]
2. Thực tiễn áp dụng
Vụ án thứ nhất: Tranh chấp dân sự về bồi thường thiệt hại cho người bị kết án oan trong hoạt động tố tụng hình sự, giữa nguyên đơn bà Phan Thị Kim P với bị đơn TAND huyện T, tỉnh Đ.
Ngày 27/7/1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 652/QĐ-TTg về việc giao đất để xây dựng cơ sở hạ tầng khu dân cư và chợ mới thị tứ Trường Xuân (xã T, huyện T, tỉnh Đ) với diện tích thu hồi là 98.536m2. Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định số 478/QĐ-UB-CH phê duyệt chi tiết khu Trung tâm thương mại xã T, huyện T. Căn cứ vào hồ sơ kỹ thuật, mặc dù ranh giới quy hoạch còn cách đất của gia đình bà Phan Thị Kim P khoảng 55m, nhưng Ủy ban nhân dân huyện T vẫn cưỡng chế thu hồi diện tích 11.200m2, thửa số 18, tờ bản đồ số 11, tại xã TL (xã T) thuộc quyền sử dụng của cha bà là ông Phan Văn B. Bà P đã khiếu nại, phản đối thì bị Công an, Viện Kiểm sát huyện T khởi tố, bắt giam. Sau đó, TAND huyện T xét xử và xử phạt bà P 12 tháng tù giam về tội “Chống người thi hành công vụ”. Cho rằng mình bị oan nên bà P đã khiếu nại. Ngày 19/01/2013, Công an huyện T ban hành Quyết định đình chỉ điều tra bị can số 01. Tại Quyết định tái thẩm số 11/2015/DS-TT ngày 18/11/2015 của Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại Thành phố H đã xác định bà P không phạm tội. Vì vậy, bà P đã nộp đơn khởi kiện đến TAND huyện T yêu cầu TAND huyện T bồi thường thiệt hại do bị kết án oan với số tiền tổng cộng là 2.181.413.900 đồng.
Vụ án sau đó được TAND tỉnh Đ lấy lên để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2017/DS-ST ngày 13/3/2017, TAND tỉnh Đ đã quyết định: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim P về bồi thường thiệt hại cho người bị kết án oan trong hoạt động tố tụng hình sự. Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 23/7/2017, bà P đã kháng cáo lên TAND cấp cao tại Thành phố H. Ngày 06/11/2017, TAND cấp cao tại Thành phố H đã xét xử phúc thẩm và không chấp nhận kháng cáo của bà P. [11]
Vụ án thứ hai: Tranh chấp dân sự về bồi thường thiệt hại cho người bị kết án oan trong hoạt động tố tụng hình sự, giữa nguyên đơn bà Nguyễn Ánh M với bị đơn TAND tỉnh C.
Ngày 12/8/2005, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh C khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với bà Nguyễn Ánh M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 19/10/2007, TAND tỉnh C xét xử, tuyên phạt bà M 15 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiến đoạt tài sản”. Sau đó, Tòa phúc thẩm TANDTC tại Thành phố H xét xử phúc thẩm đã hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh C giải quyết theo thủ tục chung. Ngày 24/02/2010, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh C đình chỉ vụ án. Bà M khởi kiện đến TAND thành phố C, tỉnh C yêu cầu TAND tỉnh C bồi thường số tiền 1.596.000.000 đồng và xin lỗi công khai tại nơi cư trú. Ngày 28/3/2014, TAND thành phố C mở phiên tòa xét xử Tòa án cấp trên trực tiếp của mình với tư cách là bị đơn trong vụ án dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại và tuyên buộc TAND tỉnh C phải xin lỗi công khai tại nơi cư trú và bồi thường cho bà M số tiền 386.000.000 đồng. Không đồng ý với bản án sơ thẩm, bà M kháng cáo lên TAND tỉnh C. Ngày 27/8/2014, TAND tỉnh C đã xét xử phúc thẩm khi chính mình vừa là người phán quyết, vừa là bị đơn và đã không chấp nhận kháng cáo của bà M, giữ nguyên bản án sơ thẩm. [12]
3. Kiến nghị hoàn thiện
Một thực trạng đang diễn ra hiện nay đối với các vụ án dân sự về yêu cầu bồi thường thiệt hại trong đó chính Tòa án là cơ quan bị yêu cầu bồi thường – đó là Tòa án đã, đang và sắp phải tự xử chính mình.
Về mặt lý thuyết, Hội đồng xét xử xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nhưng thực tế, họ cũng chính là người đang công tác tại Tòa án bị yêu cầu bồi thường thiệt hại, họ có thể có mối quan hệ đồng nghiệp thân thiết với chính người hoặc cơ quan thi hành công vụ gây ra thiệt hại hoặc bị chi phối bởi sự lãnh đạo, chỉ đạo của người đứng đầu Tòa án bị yêu cầu bồi thường. Mặt khác, Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại lại tuyên buộc chính mình phải bồi thường hoặc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, không buộc mình phải bồi thường. Điều này không tránh khỏi tâm lý “hoài nghi” của người yêu cầu bồi thường nói riêng và của cả xã hội nói chung về phán quyết của Tòa án khi “Tòa án lại xử chính mình” như vụ án thứ hai nêu trên.
Theo quy định của Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 18/9/2012, nếu Tòa án cấp huyện có trách nhiệm bồi thường thì Tòa án cấp huyện phải báo cáo Tòa án cấp tỉnh để lấy vụ án đó lên giải quyết theo thủ tục sơ thẩm [13]. Đây là quy định tiến bộ, đảm bảo sự khách quan, vô tư của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án dân sự về yêu cầu bồi thường thiệt hại khi chính Tòa án cấp huyện là cơ quan bị yêu cầu bồi thường. Tuy nhiên, Thông tư này chỉ hướng dẫn đối với vụ án dân sự về yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật khi tiến hành các hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính. Yêu cầu bồi thường thiệt hại thuộc các trường hợp khác cũng có thể áp dụng tinh thần của Thông tư này như trường hợp vụ án thứ nhất đã nêu. Cho nên, nếu trường hợp Tòa án cấp tỉnh hoặc Tòa án cấp cao cũng chính là cơ quan bị yêu cầu thì chưa có hướng khắc phục. Vậy để đảm bảo sự vô tư, khách quan trong khi làm nhiệm vụ, tránh sự hoài nghi của chính người yêu cầu và xã hội, thì Tòa án cấp tỉnh hay Tòa án cấp cao sẽ phải báo cáo cho Tòa án cấp nào và Tòa án cấp nào sẽ có thẩm quyền lấy vụ án lên để giải quyết. Trong khi đó, theo quy định của Luật Tổ chức TAND năm 2014, TAND cấp cao không có thẩm quyền xét xử sơ thẩm [13].
Việc giao vụ án yêu cầu bồi thường mà Tòa án cấp cao là bị đơn cho chính Tòa án cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án cấp cao giải quyết cũng là một bất cập. Vì Tòa án cấp tỉnh cũng sẽ bị chi phối bởi Tòa án cấp trên trực tiếp chính là bị đơn trong vụ án. Do đó cũng có thể không đảm bảo tính khách quan khi đưa ra phán quyết.
Qua tham khảo các quy định của pháp luật một số nước trên thế giới, đối chiếu với tình hình thực tiễn ở Việt Nam hiện nay – trong giai đoạn tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả [14], tác giả kiến nghị trước hết nên xem xét quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự về yêu cầu bồi thường trong một số trường hợp đặc biệt theo hướng:
– Trường hợp Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết vụ án cũng chính là Tòa án có trách nhiệm bồi thường, thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện có văn bản báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh để ra quyết định giao cho một Tòa án nhân dân cấp huyện lân cận, thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh đó giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
– Trường hợp Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết vụ án cũng chính là Tòa án có trách nhiệm bồi thường, thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh có văn bản báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao để ra quyết định giao cho một Tòa án nhân dân cấp tỉnh lân cận, thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp cao đó giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
– Trường hợp Tòa án nhân dân cấp cao là Tòa án có trách nhiệm bồi thường, thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú của người yêu cầu bồi thường có văn bản báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để ra quyết định giao cho một Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp cao lân cận đó giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
Việc phân công một Tòa án khác có thẩm quyền giải quyết đối với các trường hợp nêu trên phải dựa trên nguyên tắc có lợi nhất cho người yêu cầu về khoảng cách địa lý.
Kết luận. Thiết nghĩ, pháp luật đều luôn hướng tới sự hoàn thiện để có thể theo kịp sự vận động không ngừng của xã hội và nhằm đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người dân, đáp ứng yêu cầu mà thực tiễn đặt ra. Tuy nhiên, cũng không thể tránh khỏi những điểm chưa hợp lý – gây nên sự hoài nghi của xã hội, người yêu cầu bồi thường thiệt hại – Tòa án đó vừa là bị đơn, đồng thời cũng vừa là Tòa án có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm hoặc Tòa án cấp trên trực tiếp vừa là bị đơn, đồng thời cũng vừa là Tòa án giải quyết phúc thẩm. Vì vậy, trước hết cần sớm hoàn thiện quy định về thẩm quyền giải quyết trong trường hợp Tòa án là bị đơn trong vụ án dân sự. Điều này tất yếu dẫn đến việc phải sửa đổi, bổ sung các văn bản luật có liên quan để đảm bảo sự thống nhất với nhau như: Luật Tổ chức TAND năm 2014 và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 về thẩm quyền của Tòa án đối với trường hợp đặc thù này. Và trong tương lai xa hơn, các nhà làm luật nước ta cũng nên xem xét hướng đến một mô hình, một thiết chế độc lập như ở Hàn Quốc sẽ đảm bảo được sự độc lập, vô tư, khách quan hơn khi giải quyết các vụ việc mà Tòa án là bị đơn trong vụ án dân sự về bồi thường thiệt hại./.
—-
1.Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013.
2.Điều 9 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.
3.Điều 12 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
4.Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr. 77.
5.Đối tượng: Là người, vật, hiện tượng mà con người nhằm vào trong suy nghĩ, hành động. (Xem: Viện ngôn ngữ học – Hoàng Phê chủ biên (2016), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 427).
6.Khoản 1 Điều 23 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009.
7.Điều 53 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.
8. Lê Thái Phương (2017), Tìm hiểu Luật bồi thường nhà nước của Vương quốc Anh, Trang thông tin về bồi thường nhà nước – Bộ Tư pháp: http://btnn.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=181 [Truy cập ngày 09/10/2019]
9.Điều 6 Luật đền bù hình sự Nhật Bản năm 1950. (http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=1237&TabIndex=3&TaiLieuID=2037 [Truy cập ngày 09/10/2019])
10.Điều 10 Luật bồi thường nhà nước Hàn Quốc năm 1967 được sửa đổi, bổ sung năm 2005. (Xem Trang thông tin điện tử Dự thảo online: http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=1237&TabIndex=3&TaiLieuID=2037 [Truy cập ngày 09/10/2019])
11.Điều 23 Luật Nhà nước bồi thường thiệt hại của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1994. (http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=1237&TabIndex=3&TaiLieuID=2040 [Truy cập ngày 09/10/2019])
12.Bản án số 260/2017/DS-PT ngày 06/11/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Tranh chấp dân sự về bồi thường thiệt hại cho người bị kết án oan trong hoạt động tố tụng hình sự”.
13.Duy Nhân (2014), Tòa xử chính mình: Làm sao khách quan?, Trang thông tin điện tử Báo Người lao động: https://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/toa-xu-chinh-minh-lam-sao-khach-quan-20140831100205242.htm [Truy cập ngày 09/10/2019]
14. Trong lĩnh vực hình sự, khi vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên thì Bộ luật Tố tụng hình sự giao quyền cho Tòa án cấp tỉnh là Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm (điểm c khoản 1 Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Tuy nhiên, trong lĩnh vực dân sự, khi vụ án mà Tòa án cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cấp cao là bị đơn, thì Tòa án đó lại là cơ quan xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm khi chính mình là bị đơn thì có vẻ chưa phù hợp như đã phân tích. Tuy nhiên, nếu vụ án mà bị cáo là Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán cao cấp hoặc Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (những người công tác tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp cao, tối cao và đồng thời họ còn có thể giữ các chức vụ lãnh đạo trong các cơ quan đó), thì việc giao cho Tòa án cấp tỉnh xét xử sơ thẩm, nếu nơi tội phạm được thực hiện đồng thời là nơi họ đã hoặc đang công tác trước khi thực hiện hành vi phạm tội là vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu thêm để hoàn thiện quy định về thẩm quyền xét xử trong tố tụng hình sự.
15.Điều 29 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.
16.Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương (Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu của Ban chấp hành Trung ương khóa XII).

ThS. ĐỖ THỊ NHUNG (Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, Bình Dương)

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở Tòa án cấp sơ thẩm

Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 quy định về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự với nhiều trường hợp khác nhau. Trên thực tế áp dụng điều luật này còn có những vướng mắc, tác giả đề xuất một số kiến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật, góp phần bảo đảm hiệu quả và tính đúng đắn trong đình chỉ giải quyết vụ án dân sựtại các Tòa án.

1. Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế

Căn cứ trên được áp dụng khi một trong các đường sự là cá nhân đang tham gia vào việc giải quyết vụ án đã chết mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cá nhân đó. Theo Điều 25 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 thì “quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”. Điều 74 BLTTDS năm 2015 quy định: “Đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền và nghĩa vụ tài sản của họ được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố tụng”.
Như vậy, chỉ trong trường hợp quyền và nghĩa vụ của đương sự đã chết là quyền và nghĩa vụ về tài sản thì người thừa kế sẽ tham gia tố tụng, còn đối với các quan hệ về nhân thân thì không có sự kế thừa về quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự, nên nếu trong vụ án tranh chấp về quyền nhân thân mà đương sự chết, do quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế thì Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Đối với vụ việc có nhiều quan hệ pháp luật vừa có quan hệ nhân thân, vừa có quan hệ tài sản cần giải quyết (ly hôn, chia tài sản của vợ chồng đồng thời giải quyết yêu cầu của chủ nợ đối với vợ chồng…) thì việc một trong các đương sự chết cũng không làm chấm dứt việc giải quyết các quan hệ tài sản. Do vậy, TANDTC cần ban hành hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng căn cứ tại điểm a khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 theo hướng trong những trường hợp này, Tòa án chỉ đình chỉ giải quyết yêu cầu đối với quan hệ nhân thân mà không đình chỉ việc giải quyết đối với quan hệ tài sản trong vụ án.
Ngoài ra, cũng giống như BLTTDS năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011), BLTTDS năm 2015 không quy định đối với trường hợp đương sự chết khi Tòa án đang giải quyết vụ án dân sự và quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo pháp luật quy định là được thừa kế nhưng không có người thừa kế. Theo Điều 622 BLDS năm 2015 thì trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước. Do đó, TANDTC cần ban hành hướng dẫn cụ thể cần hướng dẫn cụ thể về việc xử lý trong trường hợp tranh chấp về tài sản mà nguyên đơn chết mà không có người thừa kế.
Chúng tôi cho rằng, có thể hướng dẫn như sau: “Đối với vụ án tranh chấp về tài sản mà nguyên đơn chết nhưng không có người thừa kế tài sản thì Tòa án không đình chỉ giải quyết vụ án mà vẫn tiến hành giải quyết vụ án. Nếu Tòa án quyết định tài sản thuộc sở hữu, sử dụng của nguyên đơn thì tài sản này sẽ thuộc về Nhà nước quản lý”. Ngoài ra, cần hướng dẫn cụ thể theo hướng tranh chấp về một số quyền nhân thân của tác giả được pháp luật bảo hộ sau khi chết thì Tòa án không đình chỉ giải quyết vụ án.

2. Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản

Như đã phân tích ở trên, theo quy định của Luật Phá sản, sau khi Tòa án ra quyết định mở thủ tụcphá sản thì Tòa án cho phép doanh nghiệp, hợp tác xã tiến hành thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh. Nếu doanh nghiệp, hợp tác xã không phục hồi được hoạt động kinh doanh và không thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tiến hành thủ tục thanh lý tài sản. Trong trường hợp này, vụ án dân sự sẽ chấm dứt hoàn toàn nhưng trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã và phục hồi được hoạt động kinh doanh thì theo quy định tại Chương VII Luật Phá sản 2014, sau khi Tòa án ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì vụ án dân sự bị đình chỉ trước đó cần được tiếp tục giải quyết. Thực tiễn áp dụng cho thấy, trong trường hợp này đương sự có cần khởi kiện lại hay không cũng còn có ý kiến khác nhau.
Thiết nghĩ, trường hợp Toà án đã có quyết định mở thủ tục phá sản (điểm d khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015) đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó thì bản chất của vấn đề là Toà án có thẩm quyền về dân sự chỉ phải “tạm gián đoạn” việc giải quyết vụ án dân sự để chờ kết quả giải quyết của vụ phá sản (khả năng phục hồi hoạt động kinh doanh hay phải thanh lý tài sản, tuyên bố phá sản). Do vậy, cần sửa đổi quy định tại điểm d khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 hoặc hướng dẫn áp dụng theo hướng trong trường hợp này, Toà án có thẩm quyền về dân sự sẽ ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thay vì đình chỉ giải quyết vụ án dân sự như hiện nay. Sau khi có quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Toà án sẽ tiếp tục giải quyết vụ án nếu doanh nghiệp, hợp tác xã phục hồi được hoạt động kinh doanh. Nếu Toà án giải quyết yêu cầu phá sản đã tiến hành thủ tục thanh lý tài sản hoặc tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì Toà án có thẩm quyền về dân sự sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

3. Nguyên đơn không nộp tạm ứng chi phí định giá tài sản

Xét về thực chất thì việc thành lâp Hội đồng định giá tài sản hoặc trưng cầu giám định chỉ là một trong những biện pháp thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án. Do vậy, về phương diện lí luận nếu Tòa án vẫn có thể giải quyết vụ án từ các nguồn chứng cứ, tài liệu khác thì không nhất thiết phải đình chỉ giải quyết vụ án. Ngoài ra, quy định trên tuy có thể giải quyết được vướng mắc của thực tiễn nhưng dường như chưa đảm bảo quyền khởi kiện của đương sự, nhất là những đương sự không có điều kiện kinh tế để nộp những khoản tiền tạm ứng này. Nghiên cứu quy định tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS 2015 về quyền khởi kiện lại để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án cũng cho thấy không có cơ sở rõ ràng để khẳng định trong trường hợp nói trên đương sự có quyền khời kiện lại khi quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Đây là vấn đề cần được TANDTC hướng dẫn thêm để quyền tiếp cận công lí của nhân dân được bảo đảm.

4. Về hướng dẫn áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 217 BLTTDS năm 2015

Như đã phân tích phần nội dung trên về khoản 4 Điều 217 BLTTDS 2015: “Đối với vụ án được xét xửlại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm mà Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án thì Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có); trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì việc đình chỉ giải quyết vụ án phải có sự đồng ý của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.
Tuy nhiên, vướng mắc đặt ra khi áp dụng quy định này trên thực tế là nếu bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đồng ý đình chỉ giải quyết vụ án thì Tòa án sẽ giải quyết tình huống này như thế nào. Đây là một vấn đề cần được TANDTC xem xét hướng dẫn chi tiết thêm để đảm bảo việc thống nhất thực hiện trong thực tiễn.

5. Về giải quyết hậu quả pháp lý của việc thi hành án đối với trường hợp Tòa án xét xử lại vụ án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Theo quy định tại khoản 4 Điều 217 BLTTDS 2015 thì “Đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm mà Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án thì Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có)…”.
Tuy nhiên, việc giải quyết hậu quả này lại không hề đơn giản trên thực tế. Đây là quy định mới được thiết lập trong BLTTDS năm 2015 và hiện nay TANDTC cũng chưa có hướng dẫn cụ thể, dẫn tới việc thực thi trên thực tế gặp nhiều khó khăn. Do vậy, việc ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể, chi tiết về vấn đề này là cần thiết và cấp bách.
Khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án đã có hiệu lực và được thi hành đồng nghĩa những nội dung của quyết định trong bản án bị hủy trên sẽ không có giá trị pháp lý ràng buộc các bên phải thực hiện. Tuy nhiên, việc thi hành án đã có thể được thực thi trước đó. Quá trình giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm mà phát sinh căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án thì Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của phần đã được thi hành án theo bản án có hiệu lực trước đó. Thiết nghĩ, cần có hướng dẫn theo tinh thần của quy định tại khoản 2 Điều 136, khoản 3 Điều 135 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) về trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án đã xét xử vụ án và đình chỉ giải quyết vụ án mà phần tài sản trong bản án, quyết định bị hủy đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành xong thì việc giải quyết hậu quả của việc đã thi hành án được thực hiện như sau:
+ Trường hợp tài sản đã thi hành án là động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản còn nguyên trạng thì trong phần giải quyết hậu quả việc thi hành án của quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, Tòa án sẽ quyết định buộc bên đã được nhận tài sản theo bản án đã bị hủy phải trả lại tài sản cho bên đã giao theo quyết định của bản án có hiệu lực pháp luật bị hủy.
+ Trường hợp tài sản đã được chuyển dịch hợp pháp cho người thứ ba chiếm hữu ngay tình thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa hoặc tài sản thi hành án đã bị thay đổi hiện trạng thì Tòa án sẽ quyết định người đã giao tài sản ban đầu không được lấy lại tài sản nhưng được bên nhận tài sản bồi hoàn lại giá trị của tài sản.

6. Hậu quả pháp lý của đình chỉ giải quyết vụ án

Việc thiếu vắng quy định quyền khởi kiện lại đối với trường hợp này trong quy định về hậu quả của việc đình chỉ việc giải quyết vụ án tại Điều 218 là một “khiếm khuyết” của BLTTDS năm 2015, thiếu sự tương thích với các quy định về công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự tại các điều 2, 11 và 14 của BLDS 2015.
Do đó, về lâu dài cần bổ sung quy định quyền khởi kiện lại đối với trường hợp đình chỉ do nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác vào khoản 1 Điều 218 BLTTDS 2015 khi có điều kiện sửa đổi, bổ sung Bộ luật này.
Khoản 1 Điều 218 BLTTDS 2015 quy định: “1. Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.”. Điều này có nghĩa là khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 và trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Cần nhấn mạnh “trường hợp khác theo quy định của pháp luật” ở đây được hiểu bao gồm cả luật và văn bản quy phạm pháp luật dưới luật. Có thể thấy, đây là điều khoản “quét” mà các nhà làm luật dự phòng cho các trường hợp phát sinh được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác hoặc trường hợp liệt kê chưa đầy đủ.
Vì vậy, để khắc phục “khiếm khuyết” nêu trên của BLTTDS năm 2015, bảo đảm việc thống nhất áp dụng pháp luật thì giải pháp trước mắt là Hội đồng Thẩm phán TANDTC cần ban hành Nghị quyếthướng dẫn BLTTDS năm 2015 theo hướng đối với trường hợp đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự do nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của BLTTDS 2015 thì đương sự có quyền khởi kiện lại. Về lâu dài vấn đề này cần được quy định bổ sung trong BLTTDS khi có điều kiện tiến hành sửa đổi, bổ sung.

Giải quyết vụ án trong trường hợp không thực hiện được việc ủy thác

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin luận bàn về việc giải quyết vụ án trong trường hợp không thực hiện được việc ủy thác hoặc đã thực hiện việc ủy thác nhưng không nhận được kết quả trả lời; đồng thời, đưa ra kiến nghị, đề xuất nhằm bảo đảm áp dụng thống nhất quy định của BLTTDS 2015 về các vấn đề này.
Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015 có hiệu thi hành từ ngày 01/7/2016. Trong thực tiễn xét xử, việc triển khai thi hành Bộ luật này đã nảy sinh một sốvướng mắc, bất cập, trong đó phải kể đến việc giải quyết vụ án phải ủy thác thu thập chứng cứ, ủy thác tư pháp. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin luận bàn về việc giải quyết vụ án trong trường hợp không thực hiện được việc ủy thác hoặc đã thực hiện việc ủy thác nhưng không nhận được kết quả trả lời; đồng thời, đưa ra kiến nghị, đề xuất nhằm bảo đảm áp dụng thống nhất quy định của BLTTDS 2015 về các vấn đề này.

1. Quy định của BLTTDS 2015

Điều 105 BLTTDS 2015 quy định vể ủy thác thu thập chứng cứ như sau:

1. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có thể ra quyết định ủy thác để Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều này lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, thẩm định tại chỗ, tiến hành định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự.
2. Trong quyết định ủy thác phải ghi rõ tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, quan hệ tranh chấp và những công việc cụ thể ủy thác để thu thập chứng cứ.
3. Tòa án nhận được quyết định ủy thác có trách nhiệm thực hiện công việc cụ thể được ủy thác trong thời hạn01 tháng, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác và thông báo kết quả bằng văn bản cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác; trường hợp không thực hiện được việc ủy thác thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác.
4. Trường hợp việc thu thập chứng cứ phải tiến hành ở nước ngoài thì Tòa án làm thủ tục ủy thác thông qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này.
5. Trường hợp không thực hiện được việc ủy thác theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này hoặc đã thực hiện việc ủy thác nhưng không nhận được kết quả trả lời thì Tòa án giải quyết vụ án trên cơ sở chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ việc dân sự.

So sánh quy định về thu thập chứng cứ giữa BLTTDS 2004 và BLTTDS 2015, có thể thấy, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 105 BLTTDS 2015 hầu như giữ nguyên các quy định về thu thập chứng cứ tại Điều 93 BLTTDS 2004, chỉ sửa một số từ ngữ mang tính kỹ thuật. Với quy định của Điều 93 BLTTDS 2004 thì khi chưa có kết quả ủy thác thu thập chứng cứ thì Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án cho tới khi có kết quả ủy thác thu thập chứng cứ mới có thể kết thúc được vụ án. Đây là một trong những hạn chế, bất cập của BLTTDS 2004.
Nhằm khắc phục hạn chế, bất cập của BLTTDS 2004, BLTTDS 2015 quy định bổ sung khoản 5 Điều 105 – trường hợp không thực hiện được việc ủy thác theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 105 của BLTTDS hoặc đã thực hiện việc ủy thác nhưng không nhận được kết quả trả lời thì Tòa án giải quyết vụ án trên cơ sở chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án dân sự.
Tuy nhiên, tại điểm đ khoản 1 Điều 214 BLTTDS 2015 quy định một trong các căn cứ để Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là: “Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án”.
Đồng thời, Điều 216 BLTTDS 2015 quy định về quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự, cụ thể như sau:
“Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 214 của Bộ luật này không còn thì Tòa án phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự và gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp.
Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hết hiệu lực kể từ ngày ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự. Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án kể từ khi ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự”.
Với quy định tại Điều 216 BLTTDS 2015 thì Tòa án ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự khi lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án không còn, mà không quy định trực tiếp về việc ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án trong trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 105 BLTTDS 2015.

2. Vướng mắc và kiến nghị

Vấn đề đặt ra ở đây là đối với trường hợp vụ án Tòa án đã ra quyết định ủy thác thu thập chứng cứ, ủy thác tư pháp thì khi nào Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án? Khi nào thì Tòa án ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án trên cơ sở chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án? Điều này đã khiến không ít Tòa án lúng túng trong giải quyết các vụ án dân sự có ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ. Vì vậy, để bảo đảm thống nhất áp dụng pháp luật trong xét xử, thiết nghĩ rất cần có hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về các vấn đề này.
Chúng tôi nhất trí với quan điểm cho rằng để tránh tình trạng việc giải quyết vụ án kéo dài, đồng thời, bảo đảm sự linh hoạt cho Thẩm phán khi giải quyết vụ án, sau khi thụ lý vụ án, trong thời hạn chuẩn bị xét xử, nếu phát sinh một trong các căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự quy định tại Điều 214 BLTTDS 2015 thì trước khi ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, Thẩm phán phải thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 203 BLTTDS 2015; trường hợp vì lý do tạm đình chỉ mà không thực hiện được nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 2 Điều 203 BLTTDS 2015 thì Thẩm phán ra ngay quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án[1].
Như vậy, đối với trường hợp vụ án Tòa án đã ra quyết định ủy thác thu thập chứng cứ, ủy thác tư pháp thì áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 214 để tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Trường hợp không thực hiện được việc ủy thác theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 105 BLTTDS 2015 hoặc đã thực hiện việc ủy thác nhưng không nhận được kết quả trả lời thì việc nhận được thông báo của Tòa án nhận ủy thác quy định tại khoản 3 Điều 105 BLTTDS 2015 (đối với ủy thác thu thập chứng cứ cho Tòa án trong nước), nhận được thông báo của Bộ Tư pháp, cơ quan đại diện của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài quy định tại khoản 4 Điều 477 BLTTDS 2015 (đối với ủy thác tư pháp ra nước ngoài)[2] được “coi như” lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 214 BLTTDS 2015 không còn và lúc này Tòa án ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án.
Vì vậy, theo chúng tôi, trước mắt, có thể hướng dẫn như sau:
“Sau khi ra quyết định ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ, Thẩm phán phải thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 203 của BLTTDS, trường hợp vì lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án (ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hay lý do khác) mà không thực hiện được nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 2 Điều 203 của BLTTDS thì Thẩm phán áp dụng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 214 BLTTDS ra ngay quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản thông báo của Tòa án nhận ủy thác (đối với trường hợp ủy thác thu thập chứng cứ cho Tòa án trong nước quy định tại khoản 3 Điều 105 của BLTTDS), kể từ ngày nhận được văn bản thông báo của Bộ Tư pháp, của cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài quy định tại khoản 4 Điều 477 của BLTTDS (đối với trường hợp ủy thác tư pháp ra nước ngoài quy định tại khoản 4 Điều 105 của BLTTDS) mà không thực hiện được việc ủy thác hoặc đã thực hiện việc ủy thác nhưng không nhận được kết quả trả lời thì Thẩm phán phải ra ngay quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại Điều 216 BLTTDS và vụ án được giải quyết theo quy định tại khoản 5 Điều 105 của BLTTDS”.
Và về lâu dài, khi có điều kiện, vấn đề này cũng cần được luật hóa vào Điều 216 BLTTDS 2015.
[1] Ngọc Trâm, Về thời điểm ban hành quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đang trên Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử xem tại link: https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/ve-thoi-diem-ban-hanh-quyet-dinh-tam-dinh-chi-giai-quyet-vu-an-dan-su; truy cập ngày 25/6/2019.
[2] Khoản 4 Điều 477 BLTTDS 2015 quy định:
“Điều 477. Xử lý kết quả tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài và kết quả yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thu thập chứng cứ
Khi nhận được kết quả tống đạt và kết quả thu thập chứng cứ ở nước ngoài, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau:
…
4. Tòa án không nhận được văn bản thông báo về kết quả tống đạt cũng như lời khai, tài liệu, chứng cứ của đương sự ở nước ngoài và đến ngày mở phiên tòa đương sự ở nước ngoài không có mặt, không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ thì Tòa án hoãn phiên tòa. Ngay sau khi hoãn phiên tòa thì Tòa án có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp hoặc cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài thông báo về việc thực hiện tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài trong trường hợp Tòa án thực hiện việc tống đạt thông qua các cơ quan này theo một trong các phương thức quy định tại các điểm a, b và d khoản 1 Điều 474 của Bộ luật này.
Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được văn bản của Tòa án, cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài phải thông báo cho Tòa án về kết quả thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Bộ Tư pháp nhận được văn bản của Tòa án, Bộ Tư pháp phải có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài trả lời về kết quả thực hiện ủy thác tư pháp.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài gửi về thì Bộ Tư pháp phải trả lời cho Tòa án.
Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chuyển văn bản của Tòa án cho cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài mà không nhận được văn bản trả lời thì Bộ Tư pháp phải thông báo cho Tòa án biết để làm căn cứ giải quyết vụ án”.

KIM THÚY – BÍCH PHƯỢNG

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Giải quyết vụ án dân sự khi người bị kiện, người liên quan vắng mặt tại nơi cư trú

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS) có nhiều quy định mới, trong đó có quy định liên quan đến việc Tòa án xem xét, xử lý đơn khởi kiện, giải quyết vụ án dân sự mà người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có mặt tại nơi cư trú. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này và các quy định pháp luật về cư trú tại các Tòa án trong thời gian qua còn chưa có sự thống nhất. Trong phạm vi bài viết, tác giả xin nêu lên một số vướng mắc trong thực tiễn liên quan đến việc áp dụng quy định pháp luật giải quyết vụ án dân sự khi người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại nơi cư trú trong thời gian qua.
Việc xác định nơi cư trú của cá nhân trong trường hợp họ đăng ký thường trú hoặc tạm trú ở địa phương này nhưng lại đang sinh sống ở địa phương khác
Theo điểm e khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, Tòa án trả lại đơn khởi kiện (trong giai đoạn xử lý đơn khởi kiện) hoặc đình chỉ giải quyết vụ án (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử) trong trường hợp người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán, trong đó, có yêu cầu về việc sửa đổi, bổ sung nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, để xác định nơi cư trú của cá nhân phải dựa vào pháp luật cư trú. Tuy nhiên, hiện nay việc quy định về nơi cư trú của công dân tại các văn bản có sự khác nhau. Theo Điều 12 Luật cư trú năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2013 (Luật Cư trú), nơi cư trú của công dân được quy định như sau:

1. Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.
Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.
Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú.
Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú.
Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống.

Trong khi đó, Điều 40 BLDS năm 2015 lại quy định:

1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.
Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó đang sinh sống.
Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới.

Với các quy định trên, trong trường hợp một cá nhân đăng ký thường trú hoặc tạm trú ở địa phương này nhưng lại đang sinh sống ở địa phương khác thì nơi nào là nơi cư trú của cá nhân đó chưa có sự thống nhất trên thực tiễn.
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Theo Luật Cư trú, nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú này được xác định là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Trường hợp không xác định được nơi thường xuyên sinh sống, nơi thường trú hoặc nơi tạm trú thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống. Do đó, trong trường hợp này, nơi cư trú của cá nhân là nơi đăng ký thường trú hoặc tạm trú của cá nhân đó.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Quy định về nơi cư trú của cá nhân theo BLDS năm 2015 đã có sự thay đổi cơ bản so với Luật cư trú. Theo đó, nơi cư trú không còn dựa vào chỗ ở hợp pháp mà cá nhân thường xuyên sinh sống với 2 biểu hiện là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú, mà chỉ dựa vào nơi người đó thường xuyên sinh sống. Vì vậy, nơi nào mà cá nhân thường xuyên sinh sống là nơi cư trú của họ, bất kể họ có đăng ký thường trú hay đăng ký tạm trú hay không.
Tác giả thống nhất với quan điểm thứ hai.
Điều kiện để Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án vắng mặt người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong trường hợp họ vắng mặt tại nơi cư trú trước thời điểm người khởi kiện nộp đơn khởi kiện đến Tòa án, nhưng người khởi kiện không biết địa chỉ mới của họ
Điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 quy định:

Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện.
Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.
Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện.

Đồng thời, điểm g khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 quy định, Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án khi có một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 BLTTDS mà Tòa án đã thụ lý, trong đó có trường hợp được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015.
Với các quy định trên để thụ lý, giải quyết vụ án vắng mặt người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong trường hợp họ vắng mặt tại nơi cư trú trước thời điểm người khởi kiện nộp đơn khởi kiện, Tòa án phải làm rõ 2 điều kiện:
Một là, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan “không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được”.
Hai là, mục đích thay đổi nơi cư trú, trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là “che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện”.
Việc hiểu, áp dụng điều kiện thứ nhất không gặp khó khăn nhưng việc hiểu và thực hiện điều kiện thứ hai vẫn chưa có sự thống nhất trong thực tiễn.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, theo khoản 3 Điều 40 BLDS năm 2015, “một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới”. Cho nên, trong trường hợp một người có nghĩa vụ với người khác (thông qua hành vi pháp lý đơn phương hoặc giao dịch dân sự) mà bỏ đi nơi khác thì họ có nghĩa vụ thông báo nơi cư trú mới cho người có quyền. Chủ thể nào có nghĩa vụ với người khác mà bỏ địa phương, không thông báo địa chỉ mới thì xem như họ cố tình “che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện”. Trong trường hợp này, người khởi kiện có quyền lựa chọn nơi cư trú cuối cùng của bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo điểm a khoản 1 Điều 40 BLTTDS năm 2015 để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết.
Quan điểm thứ hai cho rằng, khoản 3 Điều 40 BLDS năm 2015 không quy định trong mọi trường hợp một cá nhân bỏ địa phương đi phải báo cho người khác biết nơi cư trú mới mà chỉ ràng buộc trong trường hợp “gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ”. Trong khi đó, mỗi cá nhân tham gia rất nhiều quan hệ xã hội. Bản thân họ rất khó biết là trong quan hệ nào họ có nghĩa vụ với chủ thể khác.
Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 40 BLDS năm 2015 quy định, khi thay đổi nơi cư trú, bên có nghĩa vụ phải thông báo cho bên có quyền biết nơi cư trú mới; còn điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 lại quy định bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú phải thông báo cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú. Cho nên, rất khó ràng buộc cá nhân khi thay đổi nơi cư trú phải thông báo theo các quy định này.
Với các phân tích trên đây, việc áp dụng quy định về nơi cư trú của cá nhân trong BLDS năm 2015 để giải quyết vụ án vắng mặt người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khi họ thay đổi nơi cư trú là chưa phù hợp.
Trong trường hợp này, Tòa án phải dựa vào các tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện cung cấp và Tòa án thu thập được để đánh giá mục đích của việc thay đổi nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Khi chứng minh được việc người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú nhằm “trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện” thì Tòa án mới được được giải quyết vắng mặt họ.
Tác giả thống nhất với quan điểm thứ hai.
Việc áp dụng thủ tục tống đạt văn bản tố tụng khi giải quyết vụ án dân sự vắng mặt người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
Việc áp dụng các quy định về tống đạt văn bản tố tụng để giải quyết vụ án vắng mặt người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chưa có sự thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trên thực tiễn.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, theo quy định về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng (sau đây được gọi chung là tống đạt văn bản tố tụng) tại Chương X BLTTDS năm 2015, việc tống đạt văn bản tố tụng thông thường được tiến hành lần lượt thông qua các bước tống đạt trực tiếp, tống đạt qua trung gian, niêm yết công khai và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Thủ tục tống đạt trước đó mà không đạt kết quả sẽ tiến hành thủ tục tiếp theo. Đồng thời, các văn bản tố tụng cần được tống đạt cho đương sự đều phải tiến hành qua thủ tục này, không có sự loại trừ. Vì vậy, khi ban hành văn bản tố tụng mà pháp luật quy định phải tống đạt cho người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải tiến hành theo đúng trình tự tống đạt do BLTTDS năm 2015 quy định.
Quan điểm thứ hai, cũng là quan điểm của tác giả, cho rằng, mặc dù BLTTDS năm 2015 quy định việc tống đạt văn bản tố tụng phải được tiến hành lần lượt thông qua các bước tống đạt trực tiếp, tống đạt qua trung gian, niêm yết công khai và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; thủ tục tống đạt trước đó mà không đạt kết quả sẽ tiến hành thủ tục tiếp theo. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này không nên cứng nhắc mà phải linh hoạt cho phù hợp với các quy định khác của BLTTDS năm 2015, trong đó có thời hạn chuẩn bị xét xử và tính chất của vụ án.
Theo đó, đối với các vụ án hôn nhân và gia đình mà chỉ có yêu cầu ly hôn, không có tranh chấp về tài sản hoặc các vụ án dân sự khác mà người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi phán quyết của Tòa án thì chỉ nên thực hiện thủ tục tống đạt đến bước niêm yết công khai mà không cần phải tiến hành thủ tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Đối với các trường hợp khác, Tòa án cần tiến hành thủ tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, việc thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng chỉ cần thực hiện đối với quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa để xét xử vắng mặt người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan mà không thực hiện đối với các văn bản tố tụng khác.
Về chi phí thực hiện thủ tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng
Theo khoản 3 Điều 180 BLTTDS năm 2015, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng phải được đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án, trên một trong các báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp. Với việc thực hiện thủ tục này sẽ phải tốn nhiều chi phí cho 01 lần thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với văn bản tố tụng. Tuy nhiên, do BLTTDS năm 2015 chưa quy định rõ nghĩa vụ chịu chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nên còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau đối với chủ thể chịu nghĩa vụ này.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, người khởi kiện phải chịu chi phí này. Bởi vì, việc thực hiện thủ tục này phục vụ cho việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Quan điểm thứ hai cho rằng, quy định về các chi phí tố tụng khác tại mục 2 Chương IX BLTTDS năm 2015 không quy định về loại chi phí này. Trong khi đó, theo các khoản 1, 2 Điều 180 BLTTDS năm 2015, việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng được thực hiện trong 03 trường hợp. Một là, khi pháp luật có quy định. Hai là, có căn cứ xác định là việc niêm yết công khai không bảo đảm cho người được tống đạt nhận được thông tin về văn bản cần được tống đạt. Ba là, có yêu cầu của các đương sự khác. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 180 BLTTDS năm 2015 còn quy định, đương sự chỉ phải chịu chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng này khi họ có yêu cầu. Như vậy, khi Tòa án tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng thuộc trường hợp 1 và trường hợp 2 thì Tòa án phải bỏ ra chi phí thực hiện.
Tác giả thống nhất với quan điểm thứ hai.
Nghĩa vụ cung cấp nơi cư trú của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong trường hợp Tòa án đưa họ vào tham gia tố tụng
Theo khoản 4 Điều 68 BLTTDS năm 2015, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự có thể tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận hoặc được Tòa án đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Trong trường hợp người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được đương sự khác đưa vào tham gia tố tụng thì đương sự có yêu cầu phải cung cấp nơi cư trú của chủ thể này theo quy định chung. Tuy nhiên, trong trường hợp không có đương sự nào yêu cầu đưa một người nào đó vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng Tòa án thấy cần thiết phải đưa họ vào tham gia tố tụng thì nghĩa vụ cung cấp nơi cư trú của chủ thể này còn có nhiều cách hiểu khác nhau.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, người có yêu cầu liên quan đến chủ thể này phải thực hiện cung cấp nơi cư trú. Đó có thể là nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Bởi vì, việc đưa một chủ thể nào đó vào tham gia tố tụng cũng nhằm mục đích giải quyết triệt để vụ án, đảm bảo quyền lợi của những chủ thể có liên quan đến yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập.
Quan điểm thứ hai, cũng là quan điểm của tác giả, cho rằng, Tòa án phải có trách nhiệm xác định nơi cư trú của chủ thể này. Bởi vì, Tòa án là cơ quan chủ động đưa chủ thể nào đó vào tham gia tố tụng nên không thể chuyển nghĩa vụ xác định nơi cư trú của chủ thể đó cho người có yêu cầu có liên quan đến chủ thể này. Hơn nữa, nếu buộc nghĩa vụ xác định nơi cư trú cho người có yêu cầu thì dễ dẫn đến trường hợp Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu của đương sự khi người có yêu cầu không cung cấp được nơi cư trú của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được đưa vào tham gia tố tụng.
Trên đây là những vướng mắc gặp phải khi áp dụng các quy định pháp luật giải quyết vụ án dân sự trong trường hợp bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại nơi cư trú trên thực tiễn. Mong nhận được nhiều ý kiến trao đổi của quý độc giả.
 
 

THÁI CHÍ BÌNH, Tòa án nhân dân TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)

Quy trình nghiên cứu hồ sơ các vụ án dân sự rút theo đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm

Từ kinh nghiệm từ thực tiễn công tác, tác giả đưa ra một quy trình nghiên cứu hồ sơ các vụ án dân sự rút theo đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm để bạn đọc tham khảo.
 
Từ thực tiễn giải quyết đơn, các vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong thời gian qua cho thấy, nếu xây dựng được quy trình nghiên cứu hồ sơ các vụ án rút theo đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm phù hợp với điều kiện cụ thể của từng đơn vị thì việc nghiên cứu hồ sơ trở nên đơn giản hơn, rút ngắn được thời gian nghiên cứu hồ sơ, đồng thời nâng cao được chất lượng giải quyết vụ án, giúp hạn chế các trường hợp hồ sơ trình Kiểm sát viên cao cấp thẩm định hoặc trình Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân cấp cao xin đường lối giải quyết vụ án bị trả về nghiên cứu lại.
Bước 1: Trước khi nghiên cứu hồ sơ chính, cần phải nghiên cứu đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của đương sự để tóm tắt được quan điểm của đương sự cho rằng Tòa án vi phạm về những vấn đề gì, đương sự căn cứ vào chứng cứ nào, những quy định nào của pháp luật để có quan điểm đó.
Bước 2: Nghiên cứu hồ sơ, đồng thời lập bản cứu ghi chú lại các tài liệu, nội dung quan trọng của vụ án: Cần nghiên cứu hồ sơ vụ án một cách kỹ lưỡng, thận trọng, khoa học. Đây là một yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng giải quyết vụ án, bởi lẽ, có nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án thì cán bộ nghiên cứu án mới có đủ điều kiện viện dẫn các căn cứ, chứng cứ và lời khai của đương sự, bị can, người làm chứng… khi trình bày quan điểm và đề xuất ý kiến với Kiểm sát viên phụ trách và lãnh đạo đơn vị. Tùy vào tính chất của từng hồ sơ vụ án phức tạp hay đơn giản, nhiều hành vi hay ít hành vi, nhiều đương sự hay không, có đồng phạm hay không… và căn cứ vào sở trường, năng khiếu của mình mà mỗi cán bộ có thể đề ra phương pháp nghiên cứu hồ sơ vụ án cho phù hợp.
Kinh nghiệm để nghiên cứu hồ sơ và lập bản cứu nhanh, ngắn gọn, dễ dàng đối chiếu các tài liệu khi đánh giá chứng cứ thì: Trước khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cán bộ cần tra cứu ở bảng kê mục lục tài liệu của Tòa án tại hồ sơ vụ án để tập hợp các bút lục theo nhóm cần nghiên cứu (ví dụ nhóm các lời khai của từng đương sự, nhóm các tài liệu cung cấp của các cơ quan chức năng…). Trên cơ sở các bút lục đã liệt kê theo nhóm giúp cho cán bộ nghiên cứu hồ sơ có sự liền mạch từ giai đoạn đầu đến giai đoạn kết thúc vụ án đối với từng đương sự, từng đối tượng; các thao tác này cũng giúp cho cán bộ tổng hợp chứng cứ của vụ án được nhanh chóng, đơn giản, linh hoạt, khoa học và tiết kiệm được thời gian hơn.
Thông thường đối với các vụ án có nội dung phức tạp, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên trong quá trình nghiên cứu hồ sơ đến đâu thì đồng thời phải lập bản trích cứu ghi chú lại các bút lục có nội dung quan trọng của vụ án; hoặc các tài liệu, lời khai… có thay đổi, có mâu thuẫn trong từng giai đoạn khai báo để thuận lợi cho quá trình tổng hợp chứng cứ khi lập báo cáo đề xuất giải quyết vụ án và để thuận lợi cho khâu thẩm định hồ sơ của Kiểm sát viên, của Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân cấp cao.
Bước 3: Nghiên cứu các bản án, quyết định của Tòa án và bản phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa có trong hồ sơ; phần này đặc biệt chú trọng bản án có hiệu lực pháp luật, đang có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Khi nghiên cứu các bản án cần chú ý việc đánh giá chứng cứ của Tòa án tại phần “xét thấy” để đối chiếu với các tài liệu đã nghiên cứu trong hồ sơ xem đánh giá chứng cứ đã đủ chưa, khách quan chưa và các điều luật Tòa án viện dẫn trong bản án để giải quyết vụ án đã đúng, đủ và có phù hợp hay không.
Đối với những vụ án có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, cần nghiên cứu quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa để tham khảo, đồng thời đây là cơ sở để tập hợp những điểm làm được, những điểm thiếu sót của Kiểm sát viên của Viện kiểm sát địa phương để kiến nghị, rút kinh nghiệm chung, nhằm nâng cao chất lượng kiểm sát của ngành và nâng cao hơn nữa mối quan hệ phối hợp nghiệp vụ giữa Viện kiểm sát nhân dân cấp cao với Viện kiểm sát nhân dân địa phương.
Bước 4: Lập hồ sơ kiểm sát và lập báo cáo đề xuất giải quyết vụ án.
+ Lập hồ sơ kiểm sát: Để thuận lợi cho việc nghiên cứu thẩm định hồ sơ của Kiểm sát viên và Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phụ trách đối với vụ án rút theo đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm; việc lập hồ sơ kiểm sát các vụ án cần lập theo nhóm lời khai, tài liệu… (ví dụ tập đơn khởi kiện và lời khai nguyên đơn; tập lời khai bị đơn, tập biên bản phiên tòa, tập giấy tờ hợp đồng…). Trong trường hợp cán bộ đề xuất kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm thì các tài liệu, chứng cứ để đề xuất giám đốc thẩm, tái thẩm nên đưa vào một tập riêng (tập chứng cứ đề xuất kháng nghị). Hồ sơ kiểm sát phải được đánh số tài liệu và lập bảng kê mục lục tài liệu trước khi trình Kiểm sát viên thẩm định.
+ Lập báo cáo đề xuất giải quyết vụ án: Khi lập cáo cáo đề xuất giải quyết vụ án, việc tóm tắt lời khai cũng như các tài liệu trong phần nội dung vụ án và các chứng cứ cán bộ đưa ra lập luận để xác định Tòa án xét xử đúng hay sai trong phần nhận xét đều phải ghi chú những tài liệu chứng cứ đó ở tại bút lục nào của hồ sơ vụ án. Các vấn đề đương sự nêu trong đơn khiếu nại có căn cứ để chấp nhận hay không.
Kiểm tra viên, Kiểm sát viên chính, Kiểm sát viên trung cấp và Kiểm sát viên sơ cấp (gọi tắt là cán bộ nghiên cứu hồ sơ) nghiên cứu hồ sơ, lập hồ sơ kiểm sát và lập báo cáo đề xuất quan điểm giải quyết đơn để Kiểm sát viên cao cấp được phân công phụ trách thẩm định. Sau khi có quan điểm của Kiểm sát viên phụ trách, hồ sơ được trình lên Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao. Khi đề xuất đường lối giải quyết vụ án, cán bộ nghiên cứu vụ án phải nêu rõ quan điểm có hay không có căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm; trường hợp đề nghị kháng nghị cần viện dẫn được căn cứ pháp luật áp dụng kèm theo.
 

Vũ Thị Xoan

VKSND cấp cao tại Hà Nội

(Nguồn: Tạp chí Kiểm sát số 05/2017).