Tổng hợp các quy định về lãi suất cho vay ngắn hạn

Từ năm 2012 đến nay, quy định về mức lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các khoản cho vay nhằm đáp ứng các nhu cầu vốn: Phục vụ lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn; thực hiện phương án, dự án sản xuất – kinh doanh hàng xuất khẩu; phục vụ sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có sự thay đổi, cụ thể:
– Từ ngày 08/5/2012 là ngày Thông tư số: 14/2012/TT-NHNN ngày 04/5/2012 của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực thi hành thì lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam tối đa bằng (=) lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định cộng (+) 3%/năm.
– Theo Thông tư số: 08/2017/TT-NHNN ngày 10/4/2012 của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực thi hành có hiệu lực từ ngày 11/4/2012 thì lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên là 12%/năm. Theo Thông tư số: 17/2012/TT-NHNN ngày 25/5/2012 của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực thi hành từ ngày 28/5/2012 thì lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên là 11%/năm.
– Từ ngày 11/6/2012 là ngày Thông tư số 20/2012/TT-NHNN ngày 08/6/2012 của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực thi hành thì lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam tối đa là 13%/năm;
– Từ ngày 24/12/2012 là ngày Thông tư số: 33/2012/TT-NHNN ngày 21/12/2012 của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực thi hành thì lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam tối đa là 12%/năm;
– Từ ngày 26/3/2013 là ngày Thông tư số: 09/2013/TT-NHNN ngày 25/3/2013 của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực thi hành thì lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam tối đa là 11%/năm;
– Từ ngày 13/5/2013 là ngày Thông tư số: 10/2013/TT-NHNN ngày 10/5/2013 của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực thi hành thì lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam tối đa là 10%/năm;
– Từ ngày 28/6/2013 là ngày Thông tư số: 16/2013/TT-NHNN ngày 27/6/2013 của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực thi hành thì lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam tối đa là 9%/năm
– Từ ngày 28/6/2013 là ngày Thông tư  số: 08/2014/TT-NHNN ngày 17/3/2014 của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực thi hành thì lãi suất tối đa do Ngân hàng Nhà nước quyết định. Theo Quyết định số: 499/QĐ-NHNN ngày 17/3/2014 của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực thi hành có hiệu lực ngày 18/3/2014 thì lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa 8%. Theo Quyết định số: 2174/QĐ-NHNN ngày 28/10/2014 của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực thi hành từ ngày 29/10/2014 thì lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa 7%.
– Từ ngày 15/3/2017 là ngày Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực thi hành thì Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam nhưng không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định trong từng thời kỳ. Theo Quyết định số: 277/QĐ-NHNN ngày 03/3/2017 của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực thi hành từ ngày 15/3/2017 thì Tổ chức tín dụng (trừ Quỹ Tín dụng nhân dân và Tổ chức tài chính vi mô) áp dụng mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam là 7%/năm. Theo Quyết định số: 1425/QĐ-NHNN ngày 07/7/2017 của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực thi hành ngày 10/7/2017 thì lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa 6,5%.
Như vậy, lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam tối đa theo từng mốc thời gian được thống kê lại như sau:
Từ ngày 08/5/2012 đến trước ngày 28/5/2012: 15%/năm.

  • Từ ngày 28/5/2012 đến trước ngày 11/6/2012: 14%/năm.
  • Từ ngày 11/6/2012 đến trước ngày 24/12/2012: 13%/năm.
  • Từ ngày 24/12/2012 đến trước ngày 26/3/2013: 12%/năm.
  • Từ ngày 26/3/2013 đến trước ngày 13/5/2012: 11%/năm.
  • Từ ngày 13/5/2013 đến trước ngày 28/6/2013: 10%/năm.
  • Từ ngày 28/6/2013 đến trước ngày 18/3/2014: 9%/năm.
  • Từ ngày 18/3/2014 đến trước ngày 29/10/2014: 8%/năm.
  • Từ ngày 29/10/2014 đến trước ngày 10/7/2017: 7%/năm.
  • Từ ngày 10/7/2017 đến nay: 6.5%/năm.

Đây là những quy định riêng về lãi suất cho vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế.
 

Nguồn: Tạp chí kiểm sát (kiemsat.vn)

Người gây thiệt hại về sức khỏe phải bồi thường viện phí đã được BHYT chi trả

Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm và việc cơ quan bảo hiểm thanh toán nghĩa vụ bảo hiểm là hai quan hệ pháp luật độc lập. Việc các cơ quan tố tụng không đưa cơ quan bảo hiểm y tế vào tham gia tố tụng là đúng.
 

Người gây thiệt hại về sức khỏe phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với các khoản chi phí đã được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán và cơ quan bảo hiểm không tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

 
Qua nghiên cứu bài viết: “Có phải bồi thường tiền viện phí đã được bảo hiểm chi trả cho người bị hại” của tác giả: Ngô Xuân Minh, đăng tải trên trang thông tin điện tử ngành Kiểm sát nhân dân ngày 26/6/2018, tôi có các quan điểm trao đổi như sau:
Tình huống thực tế tác giả dẫn chứng là một trong những trường hợp điển hình trong việc giải quyết các vụ việc có tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, để có cơ sở xác định việc người gây thiệt hại có phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với các khoản chi phí hợp lý cho việc chữa trị cho bị hại đã được cơ quan bảo hiểm y tế chi trả hay không và có cần đưa cơ quan bảo hiểm y tế vào tham gia tố tụng hay không thì trước hết, chúng ta cần xác định quy phạm pháp luật nào điều chỉnh quan hệ pháp luật đang phát sinh.
Thứ nhất, chi phí cho việc cứu chữa, điều trị tại bệnh viện (viện phí) là một trong những thiệt hại về sức khỏe mà người bị hại phải gánh chịu do hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại gây nên. Quan hệ pháp luật ở đây chính là quan hệ về việc bồi thường thiệt hại, được pháp luật dân sự điều chỉnh bởi các quy phạm về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Và theo quy định của pháp luật dân sự thì bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trách nhiệm pháp lý buộc người gây thiệt hại phải gánh chịu.
Thứ hai, việc cơ quan bảo hiểm thanh toán khoản viện phí cho bị hại xuất phát từ quan hệ hợp đồng dịch vụ bảo hiểm giữa người bị hại và cơ quan bảo hiểm xác lập, được điều chỉnh bởi luật bảo hiểm y tế. Hay nói cách khác, việc cơ quan bảo hiểm y tế chi trả viện phí cho người bị hại là trách nhiệm độc lập trong quan hệ bảo hiểm y tế giữa người bị hại (người tham gia bảo hiểm y tế) và cơ quan bảo hiểm y tế khi có phát sinh sự kiện bảo hiểm không liên quan đến quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Như vậy, từ những phân tích như trên, chúng ta thấy rằng giữa quan hệ bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm và việc cơ quan bảo hiểm thanh toán nghĩa vụ bảo hiểm là hai quan hệ pháp luật độc lập, được điều chỉnh bởi các ngành luật độc lập. Do đó, trong trường hợp tác giả viện dẫn thì người gây thiệt hại (bị can) phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với các khoản viện phí mà cơ quan bảo hiểm y tế đã thanh toán đồng thời việc các cơ quan tố tụng không đưa cơ quan bảo hiểm y tế vào tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
 

Nguồn: Tạp chí tòa án (tapchitoaan.vn)

Công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án trong lĩnh vực thương mại

Hòa giải là một trong các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại lựa chọn bên cạnh các phương thức giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, trọng tài và Tòa án.
Hòa giải mang tính chất tự nguyện, đề cao sự tự do thỏa thuận mà các bên tranh chấp có thể lựa chọn ngoài Tòa án; một phương thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba độc lập do các bên tranh chấp cùng chấp nhận hay chỉ định làm vai trò trung gian để hỗ trợ cho các bên nhằm tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết tranh chấp. Việc quyết định giải quyết theo điều kiện, thủ tục nào hoàn toàn do các bên tranh chấp quyết định và hòa giải viên không có thẩm quyền ra quyết định buộc các bên phải tuân theo.
Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách Tư pháp đã chỉ rõ “Khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó”. Chính vì vậy, BLTTDS năm 2015 đã bổ sung một chương mới về “Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án” (Chương XXXIII BLTTDS, từ Điều 416 đến Điều 419) để tạo cơ sở pháp lý cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải.
Ngày 24/02/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/7/2017. Nghị định bao gồm 6 chương và 44 điều, cụ thể: Những quy định chung về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, phạm vi giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại; Hòa giải viên thương mại; Trình tự, thủ tục hòa giải thương mại; Tổ chức hòa giải thương mại quy định về tổ chức hòa giải thương mại, Trung tâm hòa giải thương mại, tên của Trung tâm hòa giải thương mại, chi nhánh, văn phòng đại diện của Trung tâm hòa giải thương mại, thủ tục thành lập Trung tâm hòa giải thương mại; Hoạt động của tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài tại Việt Nam…
1.Nhận và thụ lý đơn
Theo Điều 191, Điều 363 BLTTDS năm 2015.
Khi nhận đơn yêu cầu, Tòa án có trách nhiệm ghi vào sổ nhận đơn và:
+ Cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người yêu cầu nếu nộp trực tiếp;
+ Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người yêu cầu nếu nhận đơn qua dịch vụ bưu chính. Trường hợp nhận đơn yêu cầu bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người yêu cầu qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
– Đơn yêu cầu sẽ được chấp nhận nếu tuân thủ các yêu cầu:
Chủ thể yêu cầu: Người tham gia hòa giải hoặc người đại diện hợp pháp của họ có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì có quyền yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án trong lĩnh vực thương mại.
Đơn yêu cầu: Thỏa thuận hòa giải thành sẽ được Tòa án công nhận để thực thi như bản án của Tòa án trên cơ sở yêu cầu bằng văn bản của một hoặc các bên tham gia thỏa thuận đó có chứa các nội dung:
+) Ngày, tháng, năm làm đơn;
+) Tên Tòa án có thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu;
+) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người yêu cầu;
+) Tên, địa chỉ của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự đó (nếu có);
+) Các thông tin khác mà người yêu cầu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết yêu cầu của mình;
+) Chữ ký hoặc điểm chỉ nếu người yêu cầu là cá nhân, chữ ký của người đại diện hợp pháp và dấu nếu người nộp đơn là cơ quan, tổ chức trong phần cuối đơn. Trường hợp tổ chức yêu cầu là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu được thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014.
+) Tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức đã tiến hành hòa giải;
+) Nội dung, thỏa thuận hòa giải thành yêu cầu Tòa án công nhận.
Văn bản kết quả hòa giải thành ngoài tòa án được yêu cầu công nhận phải được gửi kèm với đơn yêu cầu.
+ Thời hạn: Người yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành phải gửi đơn đến Tòa án trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày các bên đạt được thỏa thuận hòa giải thành (khoản 1 Điều 418 BLTTDS).
Thẩm quyền giải quyết:
+) Thẩm quyền theo cấp: Theo khoản 6 Điều 31 (Các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật), điểm c khoản 2 Điều 35 BLTTDS năm 2015 thì thẩm quyền công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án trong lĩnh vực thương mại thuộc TAND cấp huyện; nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 35 BLTTDS năm 2015 thì thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh (có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác Tư pháp..)
+) Thẩm quyền theo lãnh thổ: Theo điểm s khoản 2 Điều 39 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi người có yêu cầu cư trú, làm việc. (nếu là cá nhân thì quy định như vậy; nhưng nếu là cơ quan, tổ chức yêu cầu và nơi có tài sản của người bị yêu cầu giải quyết thì sao? Vấn đề này luật không quy định. Chúng tôi cho rằng cần quy định Tòa án nơi có trụ sở chính của người yêu cầu là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản của người bị yêu cầu giải quyết cũng có thẩm quyền giải quyết mới đầy đủ. Theo điểm a khoản 2 Điều 40 BLTTDS năm 2015 thì người yêu cầu có quyền lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết chỉ quy định những trường hợp tại Điều 27 BLTTDS năm 2015.  Khoản 7 Điều 27 BLTTDS năm 2015 quy định những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là “Yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án”; nhưng Điều 31 quy định về những yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết cuả Tòa án lại không có yêu cầu này nên cần coi “Yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án trong lĩnh vực kinh doanh thương mại” thuộc khoản 6 “Yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại…”).
Theo Điều 18 Nghị định số 22/NĐ-CP nêu trên thì Tổ chức hòa giải thương mại gồm:
(1) Trung tâm hòa giải thương mại được thành lập và hoạt động theo nghị định này;
(2) Trung tâm trọng tài được thành lập và hoạt động theo pháp luật về trọng tài thương mại ..
Trường hợp này theo khoản 2 Điều 31, điểm c khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38, điểm o khoản 2 Điều 39 BLTTDS năm 2015 và Điều 7 Luật TTTM thì thuộc thẩm quyền TAND cấp tỉnh
– Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn yêu cầu.
– Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn yêu cầu và có một trong các quyết định sau đây:
+ Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu nếu đơn yêu cầu chưa ghi đầy đủ nội dung theo quy định (nêu ở trên); thời hạn yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu là 07 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Thẩm phán thông báo bằng văn bản nội dung yêu cầu sửa đổi, bổ sung và ấn định thời hạn sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu không quá 01 tháng, trường hợp đặc biệt có thể ra hạn nhưng không quá 15 ngày; thời hạn sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu không tính vào thời hiệu khởi kiện.
+ Tiến hành thủ tục thụ lý vụ việc khi đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo đã đủ điều kiện thụ lý, và Thẩm phán thực hiện như sau:
(i) Thông báo cho người yêu cầu về việc nộp lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo nộp lệ phí, trừ trường hợp người đó được miễn hoặc không phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí;
(ii) Tòa án thụ lý đơn yêu cầu khi người yêu cầu nộp cho Tòa án biên lai thu tiền lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự;
(iii) Thụ lý việc dân sự kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu nếu người yêu cầu được miễn hoặc không phải nộp lệ phí.
+ Chuyển đơn yêu cầu cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;
+ Trả lại đơn yêu cầu bằng văn bản và nêu rõ lý do trả lại trong những trường hợp sau đây:
(i) Người yêu cầu không có quyền yêu cầu hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;
(ii) Sự việc người yêu cầu yêu cầu đã được Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết;
(iii) Yêu cầu không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;
(iv) Người yêu cầu không nộp lệ phí trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo nộp lệ phí, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp lệ phí hoặc chậm nộp vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;
(v) Hết thời hạn sửa đổi, bổ sung mà người yêu cầu không sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu thì Thẩm phán trả lại đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho họ.
(vi) Người yêu cầu rút đơn yêu cầu;
– Kết quả xử lý đơn của Thẩm phán quy định sau khi được phân công phải được ghi chú vào sổ nhận đơn và thông báo cho người yêu cầu qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
– Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tới vụ việc và Viện kiểm sát cùng cấp về việc thụ lý đơn yêu cầu (khoản 1 Điều 365 BLTTDS). Văn bản thông báo phải có các nội dung chính sau đây:
+ Ngày, tháng, năm làm văn bản thông báo;
+ Tên, địa chỉ Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu;
+ Tên, địa chỉ của đương sự;
+ Những vấn đề cụ thể đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết;
+ Danh mục tài liệu, chứng cứ đương sự nộp kèm theo đơn yêu cầu;
+ Thời hạn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có ý kiến bằng văn bản nộp cho Tòa án đối với yêu cầu của người yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có);
+ Hậu quả pháp lý của việc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu giải quyết việc dân sự.
 2.Giải quyết khiếu nại về việc thụ lý
Đối với trường hợp trả lại đơn, theo quy định tại Điều 194, khoản 3 Điều 364 BLTTDS thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện, người yêu cầu có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Tòa án đã trả lại đơn yêu cầu.
Ngay sau khi nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn yêu cầu, Chánh án Tòa án phải phân công một Thẩm phán khác xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị. Phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có khiếu nại; trường hợp đương sự vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc trả lại đơn yêu cầu, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và đương sự có khiếu nại tại phiên họp, Thẩm phán phải ra một trong các quyết định sau đây:
+ Giữ nguyên việc trả lại đơn yêu cầu và thông báo cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp;
+ Nhận lại đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ việc.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định trả lời khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn yêu cầu của Thẩm phán, người yêu cầu có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp xem xét, giải quyết.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn yêu cầu, Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp phải ra một trong các quyết định sau đây:
+ Giữ nguyên việc trả lại đơn yêu cầu;
+ Yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm nhận lại đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.
Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp có hiệu lực thi hành và được gửi ngay cho người yêu cầu, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát đã kiến nghị và Tòa án đã ra quyết định trả lại đơn yêu cầu.
Trường hợp có căn cứ xác định quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp quy định tại khoản 6 Điều 194 BLTTDS năm 2015 có vi phạm pháp luật thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định, đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao nếu quyết định bị khiếu nại, kiến nghị là của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với quyết định bị khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại của đương sự, kiến nghị của Viện kiểm sát thì Chánh án phải giải quyết. Quyết định của Chánh án là quyết định cuối cùng.
3.Chuẩn bị xét đơn yêu cầu
Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 15 ngày, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Thẩm phán được phân công xét đơn có thể:
+ Yêu cầu đương sự tham gia hòa giải và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày ý kiến về yêu cầu của người nộp đơn yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành hoặc/và làm rõ nội dung yêu cầu;
+ Yêu cầu các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền tiến hành hòa giải cung cấp cho Tòa án các tài liệu làm cơ sở cho việc xem xét đơn yêu cầu của đương sự liên quan (khoản 3 Điều 419 BLTTDS).
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không được can thiệp vào nội dung của thỏa thuận hòa giải thành. Yêu cầu làm rõ nội dung (nếu có) chỉ tập trung vào việc xem xét xem nội dung của thỏa thuận hòa giải thành này có hoàn toàn tự nguyện hay không, có trái pháp luật không, có trái đạo đức xã hội không hay có trốn tránh nghĩa vụ đối với nhà nước hoặc bên thứ ba không. Ngoài ra, yêu cầu bổ sung giấy tờ hoặc tài liệu liên quan đến việc hòa giải cần hạn chế để đảm bảo tính bảo mật của hòa giải.
Hết thời hạn chuẩn bị xét đơn (15 ngày), Tòa án ban hành quyết định mở phiên họp xét đơn yêu cầu. Phiên họp phải được mở trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Quyết định mở phiên họp được gửi cho người yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, Viện kiểm sát cùng cấp và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
– Những người tham gia phiên họp giải quyết yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án gồm:
+ Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp (nếu vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp).
+ Người yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ phải tham gia phiên họp theo giấy triệu tập của Tòa án.
(i) Người yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất thì Tòa án hoãn phiên họp, trừ trường hợp người yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt họ.
(ii) Người yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự; trong trường hợp này, quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự đó theo thủ tục do Bộ luật này quy định vẫn được bảo đảm.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể triệu tập người làm chứng, người giám định, người phiên dịch tham gia phiên họp; nếu có người vắng mặt thì Tòa án quyết định hoãn phiên họp hoặc vẫn tiến hành phiên họp.
– Việc thay đổi người tiến hành tố tụng khi giải quyết yêu cầu
Trước khi mở phiên họp, việc thay đổi Thẩm phán, Thư ký phiên họp do Chánh án của Tòa án đang giải quyết việc dân sự đó quyết định; nếu Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án của Tòa án đang giải quyết việc dân sự đó thì việc thay đổi do Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp quyết định; việc thay đổi Kiểm sát viên do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định, nếu Kiểm sát viên bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định
+ Tại phiên họp giải quyết yêu cầu, việc thay đổi Thẩm phán, Thư ký phiên họp do Chánh án của Tòa án đang giải quyết yêu cầu đó quyết định; nếu Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án của Tòa án đang giải quyết yêu cầu đó thì việc thay đổi do Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp quyết định;
4.Xét đơn yêu cầu
Thủ tục xét đơn yêu cầu thực hiện theo quy định tại Điều 369 BLTTDS
Thỏa thuận hòa giải thành sẽ được Thẩm phán ban hành Quyết định công nhận nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 417 BLTTDS, cụ thể:
+ Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.
+ Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận hòa giải. Trường hợp nội dung thỏa thuận hòa giải thành liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người thứ ba thì phải được người thứ ba đồng ý.
+ Một hoặc cả hai bên có đơn yêu cầu Tòa án công nhận.
+ Nội dung thỏa thuận hòa giải thành của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba.
Tòa án có thể từ chối công nhận nếu các điều kiện này không được thỏa mãn đầy đủ.
– Quyết định công nhận thỏa thuận hòa giải thành ngoài Tòa án phải có các nội dung sau (Điều 370 BLTTDS):
+ Ngày, tháng, năm ra quyết định;
+ Tên Tòa án ra quyết định;
+ Họ, tên của Thẩm phán, Kiểm sát viên, Thư ký phiên họp;
+ Tên, địa chỉ của người yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành;
+ Yêu cầu cụ thể của người làm đơn;
+ Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
+ Nhận định của Tòa án và những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu;
+ Căn cứ pháp luật để giải quyết đơn yêu cầu;
+ Quyết định của Tòa án;
+ Lệ phí phải nộp.
– Quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải thành có hiệu lực ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (khoản 8 Điều 419 BLTTDS năm 2015).
5.Thi hành thỏa thuận hòa giải thành đã được công nhận
Quyết định công nhận hòa giải thành ngoài Tòa án được công nhận sẽ được thi hành như bản án của Tòa án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự (khoản 9 Điều 419 BLTTDS).
Việc không công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án không làm ảnh hưởng đến nội dung và giá trị pháp lý của kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án. Thỏa thuận vẫn có hiệu lực ràng buộc đối với các bên tham gia thỏa thuận (đoạn 2 khoản 6 Điều 419 BLTTDS).
 

Nguồn: Tạp chí tòa án (tapchitoaan.vn)

Khái niệm giao dịch dân sự có điều kiện theo quy định của BLDS 2015

Giao dịch dân sự là một trong những nội dung quan trọng được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong bài viết này, tác giả chủ yếu tập trung nêu và phân tích các quan điểm liên quan tới giao dịch dân sự nói chung, giao dịch dân sự có điều kiện nói riêng được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và có sự so sánh, đối chiếu với pháp luật của một số quốc gia.

1. Khái niệm giao dịch dân sự

Trong giai đoạn trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực đã có nhiều bài viết bày tỏ quan điểm về việc sử dụng thuật ngữ “giao dịch dân sự”  trong Bộ luật Dân sự năm 2015:
Quan điểm thứ nhất: Không cần thay đổi vì thuật ngữ “giao dịch dân sự” được sử dụng tại Việt Nam từ thời kỳ đầu ban hành Bộ luật Dân sự năm 1995 và người dân cũng đã quen thuộc với việc sử dụng nó. Quan điểm này được sự đồng tình của PGS.TS. Đỗ Văn Đại[1], theo đó, ông cho rằng, không cần thiết phải thay đổi thuật ngữ giao dịch dân sự bởi bản chất của giao dịch dân sự và “hành vi pháp lý” là tương tự nhau, nhưng với người Việt Nam thì việc sử dụng thuật ngữ giao dịch dân sự đã gắn bó với thói quen từ 20 năm nay (từ Bộ luật Dân sự năm 1995).
Quan điểm thứ hai: Nên sử dụng thuật ngữ “hành vi pháp lý” để phù hợp với xu thế chung của thế giới. Đồng tình với quan điểm này có bà Bùi Thị Thanh Hằng với dẫn chứng rằng, việc sử dụng thuật ngữ “giao dịch” không bao trùm được nội hàm được ghi nhận tại Điều 121 Bộ luật Dân sự năm 2015; bên cạnh đó, nên sử dụng những thuật ngữ “hành vi pháp lý” vì có sự tương thích với thế giới để từ đó có cách hiểu tương đồng với các thuật ngữ luật, bởi thuật ngữ “hành vi pháp lý” có bản chất không khác với thuật ngữ “giao dịch dân sự”. Minh chứng cho quan điểm này là một số quốc gia đã ghi nhận việc sử dụng thuật ngữ “hành vi pháp lý”. Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan quy định tại Điều 112: “Những hành vi pháp lý là những hành vi tự nguyện, đúng pháp luật mà mục đích trực tiếp của những hành vi đó là thiết lập những quan hệ pháp lý giữa những thể nhân, pháp nhân nhằm thành lập, thay đổi, chuyển nhượng, bảo vệ hoặc chấm dứt các quyền”. Bộ luật Dân sự Nhật Bản quy định khái quát về hành vi pháp lý là như thế nào nhưng đã sử dụng thuật ngữ “a juristic act” để thể hiện những giao dịch giữa các cá nhân, pháp nhân với nhau[2].
Quan điểm thứ ba: Cần bỏ từ “dân sự” ra khỏi “giao dịch dân sự” vì việc sử dụng thuật ngữ này không có trên thế giới mà chỉ có ở Việt Nam, có thể chuyển đổi thành “giao dịch” hoặc “giao dịch pháp lý” để bao quát được cả những giao dịch thương mại, chứ việc sử dụng như hiện nay sẽ bị giới hạn là chỉ dành cho phạm vi dân sự. Tuy nhiên, cũng có nhận định cho rằng, thương mại là một bộ phận của dân sự, nhưng điều này cần xem xét vì việc quy định hai văn bản khác nhau: Bộ luật Dân sự năm 2015 điều chỉnh những quan hệ dân sự và Luật Thương mại năm 2005 điều chỉnh những quan hệ thương mại. Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật khác như Luật Đầu tư năm 2014 cũng điều chỉnh quan hệ thương mại nhưng lại thuộc văn bản chuyên ngành. Ủng hộ cho quan điểm này là PGS.TS. Ngô Huy Cương: Việc sử dụng thuật ngữ “giao dịch dân sự” trong Bộ luật Dân sự là không chính xác bởi lẽ người ta thường sử dụng thuật ngữ “giao dịch dân sự” hay “hành vi dân sự” để phân biệt với “giao dịch thương mại” hay “hành vi thương mại”, trong khi đó Bộ luật Dân sự áp dụng cho cả quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động[3]. Ngoài ra, Bộ luật Dân sự Georgia quy định tại Điều 50: “Giao dịch là một tuyên bố đơn phương, song phương hoặc đa phương về ý định nhằm tạo lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp lý”. Quy định này của Geogia cho thấy giao dịch bao quát được cả những giao dịch dân sự nói chung và những giao dịch thương mại nói riêng.
Tác giả bài viết cho rằng, nên bỏ từ “dân sự” ra khỏi “giao dịch dân sự”, tức chỉ gọi là “giao dịch” như quan điểm của PGS.TS. Ngô Huy Cương. Theo tác giả, thuật ngữ giao dịch đã quen thuộc với người dân Việt Nam, do đó, nếu sử dụng hành vi pháp lý sẽ dẫn đến cách hiểu khác nhau của người dân, trong khi việc ban hành các văn bản pháp luật cũng phải dựa trên tình hình xã hội, phong tục, tập quán của quốc gia mình. Vì vậy, trong Bộ luật Dân sự có thể sử dụng thuật ngữ “giao dịch” hoặc “giao dịch pháp lý”.

2. Khái niệm về giao dịch dân sự có điều kiện

Ở mỗi nước lại có quy định khác nhau về giao dịch dân sự có điều kiện. Nhật Bản thì quy định là “hành vi pháp lý với điều kiện”. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự Nhật Bản không đề cập tới “hành vi pháp lý với điều kiện” được hiểu như thế nào mà đưa ra cách hiểu hành vi pháp lý với điều kiện khẳng định và phủ định. Cụ thể, Điều 127 Bộ luật Dân sự Nhật Bản quy định: “Hành vi pháp lý với điều kiện khẳng định trở nên có hiệu lực chỉ khi điều kiện đó được hoàn toàn thực hiện. Hành vi pháp lý với điều kiện phủ định chấm dứt hiệu lực chỉ khi điều kiện này hoàn toàn thực hiện. Nếu các bên thể hiện ý chí rằng hiệu lực của việc thực hiện điều kiện có giá trị hồi tố thì ý chí này được chiếm ưu thế”. Bộ luật Dân sự Thái Lan thì quy định là hành vi pháp lý có điều kiện thông qua việc xác định một điều khoản quy định sự phụ thuộc vào hiệu lực của một hành vi pháp lý vào một sự kiện chưa rõ trong tương lai, được coi là một điều kiện[4]. Do vậy, có thể thấy Bộ luật Dân sự Thái Lan đưa ra một điều kiện hành vi pháp lý và điều khoản xác định hiệu lực của hành vi pháp lý phụ thuộc vào một điều kiện. Bộ luật Dân sự Thái Lan cũng phân loại hành vi pháp lý có điều kiện xảy ra trước, hành vi pháp lý có điều kiện xảy ra sau và hiệu lực của hồi tố. Bộ luật Dân sự Đức thì không quy định cụ thể giao dịch pháp lý có điều kiện mà quy định những điều kiện làm phát sinh quyền và điều kiện làm chấm dứt quyền. Cụ thể, Điều 158 quy định: “Nếu một giao dịch pháp lý được thiết lập tùy thuộc vào một điều kiện làm phát sinh quyền, khi điều kiện đó được thỏa mãn, giao dịch pháp lý đó sẽ phát sinh hiệu lực. Nếu một giao dịch pháp lý được thiết lập tủy thuộc vào điều kiện làm chấm dứt quyền, khi điều kiện đó được đáp ứng thì hiệu lực của giao dịch pháp lý đó sẽ chấm dứt, vào thời điểm này tình trạng pháp lý trước đây sẽ được hồi tố”[5].
Điểm giống của những hệ thống văn bản pháp luật của Nhật Bản, Thái Lan và Đức là không đưa ra khái niệm giao dịch (hành vi) pháp lý có điều kiện, mà chủ yếu tập trung vào việc xác định điều kiện làm ảnh hưởng tới hiệu lực của một giao dịch (hành vi) pháp lý có điều kiện. Việc phân loại giao dịch (hành vi) pháp lý giữa các quốc gia này tuy có cách quy định từ ngữ khác nhau như điều kiện xảy ra trước, điều kiện xảy ra sau hoặc điều kiện làm phát sinh quyền, điều kiện làm chấm dứt quyền hoặc điều kiện khẳng định, điều kiện phủ định, nhưng nhìn chung, giao dịch (hành vi) pháp lý có điều kiện phân loại thành giao dịch (hành vi) pháp lý có điều kiện phát sinh và giao dịch (hành vi) pháp lý có điều kiện hủy bỏ.
Hiện nay, tại Việt Nam, tác giả chưa tìm thấy công trình nghiên cứu nào đi sâu phân tích quy định liên quan tới giao dịch dân sự có điều kiện được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Tác giả nhận thấy rằng tên gọi của Điều 120 chưa phù hợp với nội dung được đề cập trong điều khoản này. Bởi tên gọi của Điều 120 là giao dịch dân sự có điều kiện, nhưng nội dung bên trong của điều khoản thì không đưa ra khái niệm về giao dịch dân sự có điều kiện mà chỉ nêu những nội dung liên quan tới điều kiện được các bên thỏa thuận thêm trong giao dịch dân sự. Khoản 1 Điều 120 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhằm hướng tới việc xác lập điều kiện trong giao dịch dân sự có điều kiện là dựa trên sự thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ và khi điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ đó xảy ra thì giao dịch dân sự phát sinh hoặc hủy bỏ; khoản 2 là hướng tới nguyên tắc nhằm đảm bảo tính khách quan của điều kiện được áp dụng trong giao dịch dân sự có điều kiện. Thêm nữa, nhìn lại hệ thống các điều kiện quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam về giao dịch dân sự có điều kiện gồm Điều 120 về giao dịch dân sự có điều kiện, Điều 284 về thực hiện nghĩa vụ có điều kiện, Điều 402 về phân loại hợp đồng dân sự và trong đó có đưa ra khái niệm về hợp đồng dân sự có điều kiện cho thấy có một số bất hợp lý: (i) Bộ luật Dân sự không đưa ra khái niệm về giao dịch dân sự có điều kiện mà chỉ đề cập tới hợp đồng dân sự có điều kiện mặc dù hợp đồng dân sự có điều kiện là một hình thức của giao dịch dân sự có điều kiện, tức là vấn đề chung không được khái quát mà chỉ khái quát một hình thức cụ thể; (ii) Điều khoản quy định về việc xác lập điều kiện trong giao dịch dân sự có điều kiện là dựa trên sự thỏa thuận, bởi cả ba điều luật đã nêu đều đề cập tới sự thỏa thuận điều kiện của các bên. Do đó, điều này sẽ trở nên bất hợp lý đối với hành vi pháp lý đơn phương có điều kiện, đặc biệt đối với di chúc có điều kiện. Bởi bản chất của hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch trong đó thể hiện ý chí của một bên nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Thông thường, hành vi pháp lý đơn phương được xác lập theo ý chí của một bên chủ thể duy nhất (lập di chúc, từ chối hưởng thừa kế). Trong nhiều trường hợp, hành vi pháp lý đơn phương chỉ phát sinh hậu quả pháp lý khi có người khác đáp ứng được những điều kiện nhất định do người xác lập giao dịch đưa ra. Nếu hành vi pháp lý đơn phương có điều kiện là một hình thức của giao dịch dân sự có điều kiện thì Điều 120 Bộ luật Dân sự năm 2015 có thể dẫn tới cách hiểu là đối với hành vi pháp lý đơn phương có điều kiện thì điều khoản quy định về điều kiện làm phát sinh, hủy bỏ hành vi pháp lý đơn phương đó phải do các bên thỏa thuận. Vậy câu hỏi đặt ra là, trong trường hợp xác định đối với di chúc có điều kiện thì cách hiểu được đề cập ở trên sẽ không có giá trị pháp lý.
Chính vì vậy, quy định liên quan tới giao dịch dân sự có điều kiện trong Bộ luật Dân sự năm 2015 cần được chỉnh sửa sao cho phù hợp với quy định chung liên quan tới các giao dịch trên thực tiễn. Theo tác giả, thứ nhất, việc quy định tại Điều 120 về giao dịch dân sự có điều kiện cần quy định chi tiết hơn và mang tính chất khái quát chung hơn nhằm phù hợp với vị trí của giao dịch dân sự nói chung và giao dịch dân sự có điều kiện nói riêng trong Bộ luật Dân sự. Thứ hai, nhìn lại các quy định của Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Thái Lan và Đức, tác giả nhận thấy rằng từ “thỏa thuận” cần được loại bỏ khỏi nội dung Điều 120. Ngoài ra, việc quy định về giao dịch dân sự có điều kiện có thể xây dựng theo hai cách: Cách 1, quy định chi tiết từng giao dịch dân sự có điều kiện phát sinh, giao dịch dân sự có điều kiện hủy bỏ như hầu hết được xây dựng trong Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Thái Lan và Đức; cách 2, xây dựng một khái niệm chung nhất về giao dịch dân sự có điều kiện và xác định điều kiện được áp dụng trong giao dịch dân sự có điều kiện. Quan điểm của tác giả là đồng tình với cách thứ hai hơn, cụ thể như sau:
“1. Nếu một giao dịch dân sự được thiết lập tùy thuộc vào một điều kiện thì khi điều kiện đó được thỏa mãn, giao dịch dân sự đó sẽ phát sinh hiệu lực hoặc chấm dứt hiệu lực.
2. Sự kiện được coi là điều kiện của giao dịch do chính người xác lập giao dịch định ra hoặc trong hợp đồng thì điều kiện đó do chính các bên thỏa thuận. Nó phải là sự kiện thuộc về tương lai. Sự kiện đó xảy ra hay không xảy ra không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các chủ thể trong giao dịch.
3. Trường hợp điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự không thể xảy ra được do hành vi cố ý cản trở trực tiếp hoặc gián tiếp của một bên thì coi như điều kiện đó đã xảy ra; trường hợp có sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của một bên cố ý thúc đẩy cho điều kiện xảy ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra.
4. Nếu theo nội dung của giao dịch dân sự có điều kiện mà các bên thể hiện ý chí rằng hiệu lực của việc thực hiện điều kiện có giá trị hồi tố thì ý chí này được chiếm ưu thế ”.
 

ThS. Phùng Bích Ngọc
Trường Đại học Thương mại

 
Tài liệu tham khảo

[1] PGS.TS. Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Hồng Đức, năm 2016.
[2] Bùi Thị Thanh Hằng và Nguyễn Thị Anh Thư, Chế định giao dịch dân sự và vấn đề sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự năm 2005, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học, Tập 30, số 1 (2014) 23-30.
[3] PGS.TS. Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật Hợp đồng (phần chung), Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2013, trang 57.
[4] Điều 144 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan, Các quyển I – VI – Hà Nội, Nxb. Chính trị quốc gia, 1995.
[5] Bộ luật Dân sự Đức, chế định nghĩa vụ, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Lao động, 2014.

Một số bất cập về công tác chứng thực hợp đồng, giao dịch theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP

Thứ nhất, theo quy định tại Điều 35 của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (Nghị định số 23/2015/NĐ-CP) thì người yêu cầu chứng thực phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; người thực hiện chứng thực chịu trách nhiệm thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch và với quy định như trên nên dẫn đến việc quy định về thành phần hồ sơ chứng thực hợp đồng rất đơn giản.Tuy nhiên, cùng với xác nhận năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch…, thì phải xem xét đến nội dung của hợp đồng giao dịch, đặc biệt đối với hợp đồng, giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất. Để xác định hợp đồng, giao dịch có đúng quy định hay không thì bắt buộc cơ quan thực hiện chứng thực phải yêu cầu các bên thực hiện hợp đồng, giao dịch bổ sung thêm các loại giấy tờ có liên quan như: Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, Giấy chứng tử, Giấy khai sinh, giấy tờ chứng minh mối quan hệ của những người được hưởng di sản…Nhưng yêu cầu này là không đúng quy định trong Nghị định 23/2015/NĐ-CP và thủ tục hành chính đã công bố công khai.
Thứ hai, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 10 Thông tư số 15/2014/TT- BCA của Bộ Công an quy định Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải được công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã/phường/thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực» quy định này thời gian qua, đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện chuyển quyền sở hữu xe của cá nhân. Quy định này vẫn còn hiệu lực, do vậy hiện nay người dân khi liên hệ đến cơ quan Công an làm thủ tục đăng ký sang tên thì được hướng dẫn làm Giấy bán, cho, tặng, xe của cá nhân theo mẫu, sau đó được hướng dẫn về UBND xã/phường/thị trấn chứng thực đối với chữ ký của người bán, cho, tặng, cho xe theo quy định của pháp luật về chứng thực. Tuy nhiên, tại khoản 4 Điều 24 của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP quy định « Giấy tờ, văn bản có nội dung là hợp đồng, giao dịch, trừ các trường hợp quy định tại Điểm d khoản 4 Điều 24 của Nghị định này hoặc trường hợp pháp luật có quy định khác ». Tại điểm d khoản 4 Điều 24 của Nghị định quy định : « Chứng thực chữ ký trong Giấy ủy quyền đối với trường hợp ủy quyền không có thù lao, không có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền và không liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng bất động sản ».Chính vì vậy, Giấy bán, tặng, cho xe của cá nhân thực chất là hợp đồng mua bán, vì vậy, cần phải lập thành hợp đồng, phải được công chứng, chứng thực theo quy định của Luật Công chứng và Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.
Thứ ba, chứng thực chữ ký: Khoản 3 Điều 25 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP  quy định: “Không được chứng thực chữ ký nếu giấy tờ, văn bản mà người yêu cầu chứng thực ký vào có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuyên truyền, kích động chiến tranh, chống chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xuyên tạc lịch sử dân tộc Việt Nam; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, tổ chức; vi phạm quyền công dân”. Quy định này sẽ không phát sinh vướng mắc, nếu giấy tờ, văn bản mà người yêu cầu chứng thực sẽ ký và được lập bằng tiếng Việt. Tuy nhiên, nếu giấy tờ, văn bản đó được lập bằng tiếng nước ngoài (nhất là những thứ tiếng không thông dụng như tiếng Ả rập, Ấn Độ, Phần Lan, Hà Lan…) thì người thực hiện chứng thực khó có thể hiểu được nội dung của giấy tờ, văn bản đó để giải quyết hay từ chối chứng thực. Do đó, người dân lại phải dịch sang tiếng Việt trước khi yêu cầu chứng thực chữ ký và cơ quan thực hiện chứng thực khi có bản dịch thì mới dám tự tin để chứng thực chữ ký đối với các loại văn bản giấy tờ được lập bằng tiếng nước ngoài, dẫn đến tốn kém và phiền hà cho người có yêu cầu chứng thực chữ ký và pháp luật cũng không có quy định phải dịch ra tiếng Việt.
Thứ tư, một số quy định tại Nghị định số 23/2015/NĐ-CP chưa cụ thể, gây khó khăn cho công chức khi thực hiện chứng thực, đó là không quy định thời gian niêm yết, dẫn đến địa phương còn lúng túng đối với trường hợp yêu cầu chứng thực văn bản khai nhận di sản thừa kế, văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Trong khi đó, các văn bản hướng dẫn công tác chứng thực trước đây như Nghị định 75/2000/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT- BTP-BTNMT lại quy định khá cụ thể về thủ tục; bên cạnh đó, Luật Công chứng năm 2014 cũng  quy định đối với loại việc này phải có niêm yết trong thời gian 15 ngày…).
Thư năm, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP nêu thẩm quyền của Phòng Tư pháp là “chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản là động sản” nhưng trong Nghị định này lại không có mẫu hợp đồng nên khi áp dụng giữa các cơ quan không thống nhất về mẫu gây khó khăn cho công dân.
Thứ sáu, việcchứng thực chữ ký người dịch, một số địa phương, nơi chưa có đội ngũ người dịch có trình độ, nên chất lượng bản dịch chưa được bảo đảm, ảnh hưởng đến lợi ích của người dân khi có yêu cầu. Để thực hiện chứng thực chữ ký người dịch, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP giao các Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện kiểm tra tiêu chuẩn, điều kiện của cộng tác viên dịch thuật và ký hợp đồng cộng tác viên với người dịch. Nhưng thời gian qua, nhiều Phòng Tư pháp không thể thực hiện được do không có đội ngũ cộng tác viên dịch thuật đáp ứng được yêu cầu.
Thứ bảy, tính an toàn pháp lý của các hợp đồng, giao dịch liên quan đến đất đai, nhà ở được chứng thực tại UBND cấp xã: theo quy định tại khoản 2 Điều 5 của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thì 2. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) có thẩm quyền và trách nhiệm:d) Chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai;đ) Chứng thực hợp đồng, giao dịch về nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở;…”. Nếu người yêu cầu chứng thực/công chứng các hợp đồng, giao dịch liên quan đến đất đai, nhà ở trung thực thì không xảy ra vấn đề gì. Tuy nhiên, người yêu cầu chứng thực/công chứng có hành vi gian dối: ví dụtại khoảng thời gian 1-2 ngày, cùng một đối tượng của hợp đồng, giao dịch, người yêu cầu chứng thực vừa đến UBND cấp xã yêu cầu chứng thực, vừa đến Phòng Công chứng/Văn phòng công chứng (Tổ chức hành nghề công chứng) yêu cầu công chứng, trong trường hợp này thì sẽ xảy ra tình trạng người thực hiện chứng thực không thể biết được hợp đồng, giao dịch này đã được công chứng tại các Tổ chức hành nghề công chứng (các Tổ chức hành nghề công chứng có thể tra cứu ngăn chặn vì hiện nay đa số các địa phương đều có cơ sở dữ liệu công chứng, còn UBND cấp xã thì chưa có cơ sở dữ liệu). Như vậy, hợp đồng, giao dịch có thể xảy ra tranh chấp, ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch ngay tình.
 

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp

Thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo BLTTDS 2015

Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu hội nhập và thực hiện cam kết quốc tế về hoàn thiện thủ tục giải quyết các vụ việc có yếu tố nước ngoài, BLTTDS 2015 đã có nhiều quy định về thủ tục giải quyết các yêu cầu, tranh chấp có yếu tố nước ngoài.
 
1. Những điểm mới
1.1. Các quy định về giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài cũng đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm khắc phục những bất cập hiện nay về trình tự, thủ tục giải quyết đơn yêu cầu; về chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu; về thời hạn yêu cầu… Theo đó, bên cạnh việc có quyền nộp đơn yêu cầu yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, người có quyền, lợi ích liên quan còn có quyền nộp đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam và yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
Đồng thời, thời hiệu nộp đơn yêu cầu cũng có những sửa đổi cơ bản theo hướng thời hiệu yêu cầu được quy định dài hơn là 03 năm đối với yêu cầu không công nhận, yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài; Thời hiệu yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam là 06 tháng, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật.
1.2. Sửa đổi, bổ sung các quy định về quyền, nghĩa vụ tố tụng, năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước ngoài và tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam, Nhà nước nước ngoài.
1.3. Để kịp thời khắc phục tình trạng có sai sót trong các bản án, quyết định của Tòa án khi xem xét, giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành hay không công nhận bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài và phán quyết của Trọng tài nước ngoài, BLTTDS 2015 bổ sung quy định về việc cho phép xem lại các quyết định đó của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
1.4. Sửa đổi quy định về thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo hướng quy định đầy đủ, cụ thể hơn, đảm bảo đáp ứng được yêu cầu hội nhập của đất nước, phù hợp với cam kết của Việt Nam và thông lệ quốc tế.
1.5. Thay đổi căn bản thủ tục thông báo, tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài nhằm đa dạng hóa các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài nhằm đảm bảo hiệu quả và rút ngắn thời gian của việc tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài. Theo đó bên cạnh phương thức tống đạt, thông báo truyền thống được quy định tại điều ước quốc tế và thông qua con đường ngoại giao trước đây, BLTTDS 2015 bổ sung thêm các phương thức tống đạt mới như: Tống đạt theo đường dịch vụ bưu chính, tống đạt qua văn phòng đại diện, chi nhánh của họ tại Việt Nam, trường hợp thực hiện các phương thức tống đạt không có kết quả thì Tòa án tiến hành niêm yết công khai và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), Cổng thông tin điện tử của cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài.
1.6. Bổ sung quy định mới về việc người khởi kiện, người yêu cầu có quyền yêu cầu Tòa án đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác định địa chỉ của đương sự trong trường hợp không xác định được địa chỉ của đương sự ở nước ngoài thì có thể yêu cầu Tòa án Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, tuyên bố đương sự mất tích hoặc đã chết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật nước ngoài hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Bổ sung quy định về thu thập chứng cứ ở nước ngoài.
1.7. Quy định mới, đặc thù về thủ tục thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa, thời hạn mở phiên tòa, phiên họp hòa giải  đối với vụ việc có yếu tố nước ngoài; về thời hạn kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án xét xử vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài; về xử lý kết quả tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài và kết quả yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thu thập chứng cứ; về tống đạt, thông báo văn bản tố tụng và xử lý kết quả tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm cho đương sự ở nước ngoài; về xác định và cung cấp pháp luật nước ngoài để Tòa án áp dụng trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.
 2. Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài
2.1. Quy định cụ thể những bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam (Điều 423, Điều 431)
Thay vì định nghĩa bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài trong BLTTDS 2004, BLTTDS 2015 quy định cụ thể bản án, quyết định của Tòa án được xem xét công nhận và cho thi hành ở Việt Nam, bao gồm: Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài được quy định tại điều ước quốc tế mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại; bản án, quyết định dân sự khác của Tòa án nước ngoài được pháp luật Việt Nam quy định công nhận và cho thi hành.
Bên cạnh đó, BLTTDS 2015 cũng bổ sung thêm Quyết định về nhân thân, hôn nhân và gia đình của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài (không phải là Tòa án) cũng được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam như bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài. Quy định bổ sung này là phù hợp với thực tiễn vì hiện nay ở một số quốc gia trên thế giới, một số quan hệ nhân thân, hôn nhân và gia đình không do Tòa án giải quyết.
Đồng thời, nhằm bảo đảm sự tương thích, thống nhất của hệ thống pháp luật và phù hợp với các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, BLTTDS 2015 cũng quy định bổ sung một cách cụ thể những bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài đương nhiên được công nhận tại Việt Nam (Điều 431), bao gồm: Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam được quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; Bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài, quyết định về hôn nhân và gia đình của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam.
2.2. Quy định cụ thể Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam (Điều 424) 
BLTTDS 2015 cũng không định nghĩa phán quyết của Trọng tài nước ngoài mà quy định cụ thể phán quyết của Trọng tài nước ngoài được xem xét công nhận và cho thi hành ở Việt Nam gồm: (a) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài; (b) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này (nước đó và Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài) trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại;
BLTTDS 2015 quy định điều kiện phán quyết của Trọng tài nước ngoài được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phải là phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt tố tụng trọng tài và có hiệu lực thi hành; quy định Trọng tài nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài được xác định theo quy định của Luật Trọng tài thương mại của Việt Nam.
2.3. Quy định cụ thể quyền yêu cầu công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài (Điều 425)
BLTTDS 2015 quy định quyền yêu cầu công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài, theo đó: Người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài, nếu cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc cơ quan, tổ chức phải thi hành có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài có tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu.
So với BLTTDS 2004, BLTTDS 2015 bổ sung thêm chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài đó là: Người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài.
Đương sự, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
2.4. Quy định về bảo đảm quyền kháng cáo, kháng nghị (Điều 426) và bảo đảm hiệu lực quyết định của Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài (Điều 427)
Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) cấp tỉnh, VKSND cấp cao có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài để yêu cầu Tòa án nhân dân (TAND) cấp cao xét lại theo thủ tục phúc thẩm.
Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam có hiệu lực pháp luật như bản án, quyết định dân sự của Tòa án Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật và được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không được Tòa án Việt Nam công nhận thì không có hiệu lực pháp luật tại Việt Nam, trừ trường hợp đương nhiên được công nhận quy định tại Điều 431(Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam được quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; Bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài, quyết định về hôn nhân và gia đình của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam.)
Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam có hiệu lực pháp luật như quyết định của Tòa án Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật và được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự.
Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi quyết định của Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài đó có hiệu lực pháp luật.
2.5. Quy định về việc gửi quyết định của Tòa án về công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài (Điều 428)
Theo quy định này, Tòa án có trách nhiệm chuyển giao trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc thông qua Bộ Tư pháp quyết định của Tòa án cho người được thi hành, người phải thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài hoặc người đại diện hợp pháp của họ, VKS cùng cấp và cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của Bộ luật này.
2.6.  Quy định về việc bảo đảm quyền chuyển tiền, tài sản thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài (Điều 429)
Nhà nước Việt Nam bảo đảm việc chuyển tiền, tài sản thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành từ Việt Nam ra nước ngoài. Việc chuyển tiền, tài sản này được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam.
2.7. Quy định về Lệ phí, chi phí xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài (Điều 430)
Nhằm bảo đảm sự tương thích giữa BLTTDS và Luật tương trợ tư pháp thì ngoài việc quy định người yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật Việt Nam, BLTTDS 2015 còn bổ sung thêm quy định mới về chi phí tống đạt ra nước ngoài. Theo đó, người yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài phải chịu chi phí tống đạt ra nước ngoài văn bản tố tụng của Tòa án Việt Nam liên quan đến yêu cầu của họ.
 

Nguồn: Tạp chí tòa án (tapchitoaan.vn)

Thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài

Thủ tục xem xét đơn yêu cầu, bài trước đã làm rõ nội dung công đoạn Chuẩn bị xét đơn yêu cầu. Theo đó, thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu không được quá 02 tháng kể từ ngày thụ lý và có thể gia hạn nhưng không quá 02 tháng nếu cần thiết để người được thi hành làm rõ những thông tin chưa rõ trong đơn (khoản 1 Điều 457 BLTTDS). Sau phần chuẩn bị là đến nội dung Phiên họp xét đơn yêu cầu.
3.2. Phiên họp xét đơn yêu cầu (Điều 458 BLTTDS)
– Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm 3 Thẩm phán, một Thẩm phán do Chánh án phân công làm chủ tọa;
– Kiểm sát viên VKS cùng cấp phải tham gia phiên họp, nếu vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành họp;
– Người được thi hành án, người phải thi hành án hoặc người đại diện hợp pháp của họ phải có mặt.
+ Hoãn phiên họp nếu họ vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng;
+ Vẫn tiến hành họp khi: họ có đơn xin vắng mặt, người phải thi hành án hoặc người đại diện hợp pháp của họ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt;
+ Đình chỉ khi người được thi hành án hoặc người đại diện hợp pháp của họ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt, hoặc khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 457 BLTTDS.
a) Thay đổi người tiến hành tố tụng.
– Bộ luật TTDS không quy định người tiến hành tố tụng có bị thay đổi không trong quá trình giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài, nhưng nếu có căn cứ cho rằng họ không vô tư khách quan, công bằng có thể làm ảnh hưởng đến quyết định của Tòa án gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên thì theo đề nghị của đương sự, Tòa án căn cứ vào Điều 16 và khoản 3 Điều 52 BLTTDS để chấp nhận yêu cầu thay đổi này.
+ Trước khi mở phiên họp, việc thay đổi Thẩm phán, Thư ký do Chánh án quyết định; nếu Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án thì việc thay đổi do Chánh án Tòa án cấp trên một cấp quyết định; việc thay đổi Kiểm sát viên do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định;
+ Tại phiên họp, việc thay đổi do Hội đồng giải quyết yêu cầu quyết định; nếu phải thay đổi Kiểm sát viên thì Hội đồng xét đơn hoãn phiên họp và thông báo cho Viện kiêm sát.
b) Thủ tục tiến hành phiên họp
– Phiên họp được tiến hành theo trình tự sau đây:
+ Thư ký phiên họp báo cáo Hội đồng giải quyết yêu cầu về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp;
+ Thẩm phán khai mạc phiên họp, kiểm tra về sự có mặt, vắng mặt của những người được triệu tập tham gia phiên họp và căn cước của họ, giải thích quyền và nghĩa vụ của người tham gia phiên họp;
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu trình bày về những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết, lý do, mục đích và căn cứ của việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự đó;
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày ý kiến về những vấn đề có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc giải quyết việc dân sự;
+ Người làm chứng trình bày ý kiến; người giám định trình bày kết luận giám định, giải thích những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu thuẫn (nếu có);
+ Thẩm phán giải quyết yêu cầu công bố lời khai, tài liệu, chứng cứ của người được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp vắng mặt và xem xét tài liệu, chứng cứ;
+ Kiểm sát viên phát biểu ý kiến và gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ việc dân sự ngay sau khi kết thúc phiên họp;
+ Thẩm quyền Hội đồng quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài hoặc không công nhận phán quyết của trọng tài nước ngoài theo đa số.
3.3. Những trường hợp không công nhận cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam.
 Trên cơ sở các quy định của Điều V Công ước 1958, Việt Nam đã nội luật hóa những quy định này tại Điều 459 BLTTDS năm 2015, cụ thể:
”1. Tòa án không công nhận phán quyết của Trọng tài nước ngoài khi xét thấy chứng cứ do bên phải thi hành cung cấp cho Tòa án để phản đối yêu cầu công nhận là có căn cứ, hợp pháp và phán quyết trọng tài thuộc một trong các trường hợp sau đây: 
a) Các bên ký kết thỏa thuận trọng tài không có năng lực để ký kết thỏa thuận đó theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên; 
b) Thỏa thuận trọng tài không có giá trị pháp lý theo pháp luật của nước mà các bên đã chọn để áp dụng hoặc theo pháp luật của nước nơi phán quyết đã được tuyên, nếu các bên không chọn pháp luật áp dụng cho thỏa thuận đó; 
c) Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thi hành không được thông báo kịp thời và hợp thức về việc chỉ định Trọng tài viên, về thủ tục giải quyết vụ tranh chấp tại Trọng tài nước ngoài hoặc vì nguyên nhân chính đáng khác mà không thể thực hiện được quyền tố tụng của mình; 
d) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được tuyên về một vụ tranh chấp không được các bên yêu cầu giải quyết hoặc vượt quá yêu cầu của các bên ký kết thỏa thuận trọng tài. Trường hợp có thể tách được phần quyết định về vấn đề đã được yêu cầu và phần quyết định về vấn đề không được yêu cầu giải quyết tại Trọng tài nước ngoài thì phần quyết định về vấn đề được yêu cầu giải quyết có thể được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
đ) Thành phần của Trọng tài nước ngoài, thủ tục giải quyết tranh chấp của Trọng tài nước ngoài không phù hợp với thỏa thuận trọng tài hoặc với pháp luật của nước nơi phán quyết của Trọng tài nước ngoài đã được tuyên, nếu thỏa thuận trọng tài không quy định về các vấn đề đó; 
e) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài chưa có hiệu lực bắt buộc đối với các bên; 
g) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài bị cơ quan có thẩm quyền của nước nơi phán quyết đã được tuyên hoặc của nước có pháp luật đã được áp dụng hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành”.
Ngoài ra, Tòa án Việt Nam cũng không công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài khi xét thấy:
+ Theo khoản 2 Điều V Công ước 1958 thì: Cơ quan có thẩm quyền của nước, nơi việc công nhận và thi hành đó được yêu cầu cho rằng:
Đối tượng của vụ tranh chấp không thể giải quyết được bằng trọng tài theo luật pháp của nước đó; hoặc
Việc công nhận và thi hành quyết định sẽ trái với trật tự công cộng của nước đó”.
+ Theo khoản 2 Điều 459 BLTTDS năm 2015 thì nếu Tòa án Việt Nam xét thấy:
”a) Theo pháp luật Việt Nam, vụ tranh chấp không được giải quyết theo thể thức trọng tài”
Nội dung tranh chấp giữa các bên không thể giải quyết bằng trọng tài hoặc “không được trọng tài” theo quy định của nước nơi thực thi phán quyết. Căn cứ này giống như căn cứ hủy phán quyết trọng tài. Mặt khác, một tranh chấp có thể được coi là không thể trọng tài nếu nó thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam theo Điều 470 BLTTDS.
”b) Việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”
Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” là phán quyết vi phạm các nguyên tắc xử sự cơ bản có hiệu lực bao trùm đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật Việt Nam.
– Khi xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành, Hội đồng không được xét xử lại tranh chấp đã được Trọng tài nước ngoài ra phán quyết. Tòa án chỉ được kiểm tra, đối chiếu phán quyết của Trọng tài nước ngoài, giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu với các quy định tại Chương XXXV và Chương XXXVII của Bộ luật này, các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để làm cơ sở cho việc ra quyết định công nhận hoặc không công nhận phán quyết đó. Hội đồng xét đơn yêu cầu phải đánh giá chứng cứ do các bên xuất trình một cách cẩn trọng, kỹ lưỡng và vô tư. Một số quyết định có sai sót thường thấy trong việc không công nhận phán quyết của trọng tài nước ngoài cần được khắc phục, như:
+ Hội đồng xét đơn không yêu cầu các bên liên quan cung cấp đầy đủ tài liệu;
+ Hội đồng không kiểm tra và thu thập thêm chứng cứ để làm rõ các vấn đề mà các bên còn có ý kiến khác nhau;
+ Hội đồng xét đơn không xem xét và đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.
Ví dụ: Trong một vụ án, Tòa án đã không yêu cầu người phải thi hành cung cấp đầy đủ chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình rằng thỏa thuận trọng tài là vô hiệu. Thay vào đó, Tòa án chuyển nghĩa vụ chứng minh này cho người được thi hành và buộc họ phải chứng minh rằng thỏa thuận trọng tài là vô hiệu vì Giám đốc công ty đồng thời là người đại diện theo pháp luật của công ty biết được việc ký hợp đồng của Phó Giám đốc và không phản đối việc này. Tòa án cũng từ chối việc xem xét các lập luận của người được thi hành rằng “theo Nghị quyết số 04/2003/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC thì hợp đồng kinh tế không bị coi là vô hiệu khi Giám đốc công ty biết được việc ký hợp đồng và không phản đối, và Tòa án không được xem xét lại vấn đề đã được Hội đồng trọng tài giải quyết.”
Trong trường hợp này: Người phải thi hành có nghĩa vụ cung cấp các tài liệu khác như điều lệ công ty (để chứng minh rằng Phó Giám đốc cần phải được Giám đốc ủy quyền mới được ký hợp đồng) hoặc báo cáo tháng, bảng cân đối tài chính (để chứng minh rằng Giám đốc không biết về việc thực hiện hợp đồng). Việc xem xét các lập luận của người được thi hành liên quan đến Nghị quyết số 04/2003/NQ-HĐTP không có nghĩa là Tòa án xem xét lại vụ việc và không phải là việc xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài.
3.4.Tống đạt quyết định của Tòa án (Điều 428, Điều 460 và Điều 474 BLTTDS)
– Nếu Tòa án quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc giải quyết đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài theo khoản 2 Điều 457 và khoản 3 Điều 457 BLTTDS thì trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày ban hành quyết định Tòa án phải gửi quyết định đó cho:
+ Các bên liên quan (người được thi hành, người phải thi hành, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) hoặc đại diện hợp pháp của họ;
+ Bộ Tư pháp;
+ Viện kiểm sát cùng cấp.
– Nếu Tòa án quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài, thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ban hành quyết định Tòa án phải gửi quyết định đó cho:
+ Các bên liên quan hoặc đại diện hợp pháp của họ;
+ Bộ Tư pháp;
+ Viện kiểm sát cùng cấp.
– Nếu các bên liên quan cư trú ở nước ngoài không có đại diện tại Việt Nam và Tòa án đã ban hành quyết định vắng mặt họ theo quy định tại khoản 3 Điều 458 BLTTDS, Tòa án phải gửi quyết định đó cho họ bằng bưu điện hoặc thông qua Bộ Tư pháp theo quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
– Theo Điều 474 BLTTDS, thông báo có thể tống đạt theo các phương thức sau:
+ Theo phương thức được quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
+ Theo đường ngoại giao đối với đương sự cư trú ở nước mà nước đó và Cộng hòa XHCN Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế;
+ Theo đường dịch vụ bưu chính đến địa chỉ của đương sự đang cư trú ở nước ngoài với điều kiện pháp luật nước đó đồng ý với phương thức tống đạt này;
Theo đường dịch vụ bưu chính đến cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài để tống đạt cho đương sự là công dân Việt Nam ở nước ngoài;
Đối với cơ quan, tổ chức nước ngoài có văn phòng đại diện, chi nhánh tại Việt Nam thì việc tống đạt có thể được thực hiện qua văn phòng đại diện, chi nhánh của họ tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật này;
Theo đường dịch vụ bưu chính cho người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam của đương sự ở nước ngoài.
Trường hợp các phương thức tống đạt nêu trên thực hiện không có kết quả thì Tòa án tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, Tòa án đang giải quyết vụ việc hoặc tại nơi cư trú cuối cùng của đương sự tại Việt Nam trong thời hạn 01 tháng và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), Cổng thông tin điện tử của cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể thông báo qua kênh dành cho người nước ngoài của Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp.
4.Thủ tục kháng cáo, kháng nghị (Điều 461 BLTTDS.
4.1. Thời hạn và quyền kháng cáo, kháng nghị. 
Quyền kháng cáo, kháng nghị
Kháng cáo/kháng nghị phải được gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm. Sau khi nhận được kháng cáo/kháng nghị do Tòa án cấp sơ thẩm chuyển tới, Tòa án nhân dân cấp cao sẽ xem xét tính hợp pháp của kháng cáo và quyết định thụ lý. Cụ thể, Tòa án xem xét các vấn đề sau:
+ Người kháng cáo có phải là đương sự hoặc đại diện theo pháp luật, đại diện theo ủy quyền của đương sự không;
+ Người có thẩm quyền kháng nghị là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao.
4.1.Thời hạn kháng cáo, kháng nghị
+ Đối với các đương sự và đại diện của họ, thời hạn nộp đơn kháng cáo đối với quyết định sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày Tòa án ban hành quyết định (nếu họ có mặt tại phiên họp) hoặc kể từ ngày nhận được quyết định (nếu họ vắng mặt tại phiên họp).
Trong trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho đương sự hoặc người đại diện của họ không thể kháng cáo được trong thời hạn đó thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không được tính vào thời hạn kháng cáo (khoản 1 Điều 461 BLTTDS).
Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh là 07 ngày và thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là 10 ngày kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được quyết định (khoản 2 Điều 461 BLTTDS).Đơn kháng cáo phải nêu rõ lý do kháng cáo cũng như các yêu cầu kháng cáo.
Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày thụ lý, Tòa án nhân dân cấp cao chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp để Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ.
4.2 Xét kháng cáo, kháng nghị
– Thành phần Hội đồng xét kháng cáo, kháng nghị gồm 3 Thẩm phán, trong đó một Thẩm phán làm chủ tọa theo sự phân công của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao.
– Thời hạn chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị là 01 tháng kể từ ngày nhận được hồ sơ; trường hợp cần phải giải thích theo quy định tại khoản 1 Điều 457 BLTTDS 2015, thì thời hạn này được kéo dài nhưng không quá 02 tháng (khoản 1 Điều 462.
Trong thời hạn chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị, Tòa án không được xem xét các nội dung khác không bị kháng cáo, kháng nghị. Tòa án có thể yêu cầu người nộp đơn giải thích những thông tin chưa rõ trong đơn kháng cáo. Trong trường hợp này, thời hạn chuẩn bị xét kháng cáo sẽ được kéo dài nhưng không quá 2 tháng (khoản 1 Điều 457 BLTTDS). Tòa án không được tự mình thu thập chứng cứ mà chỉ kiểm tra, đối chiếu quyết định sơ thẩm, phán quyết của trọng tài nước ngoài và các giấy tờ, tài liệu kèm theo cũng như chứng cứ do các đương sự cung cấp với các quy định có liên quan.
Tòa án không mời người làm chứng hoặc bên thứ ba tới phiên họp phúc thẩm.
4.3. Phiên họp phúc thẩm
Phiên họp phúc thẩm được tiến hành tương tự như phiên họp giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Tòa án cấp sơ thẩm (khoản 2 Điều 462 BLTTDS).
Thẩm quyền của Hội đồng phúc thẩm: Theo quy định tại khoản 3 Điều 462 BLTTDS, sau khi xem xét tất cả các quy định của pháp luật và các tài liệu liên quan, Hội đồng xét kháng cáo, kháng nghị ban hành một trong các quyết định sau:
+ Giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
+ Sửa một phần hoặc toàn bộ quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
+ Tạm đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị;
+ Đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị (khoản 4 Điều 462 BLTTDS);
+ Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm (khoản 5 Điều 462 BLTTDS);
+ Hủy quyết định sơ thẩm và đình chỉ giải quyết đơn yêu cầu khi có căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 457 BLTTDS.
– Hội đồng xét kháng cáo, kháng nghị ban hành quyết định đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị (khoản 4 Điều 462 BLTTDS) nếu:
+ Đương sự kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị;
+ Đương sự kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt và không có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt;
+ Trường hợp đương sự kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị trước khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định mở phiên họp xét kháng cáo, kháng nghị thì Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên họp ra quyết định đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị. Trường hợp đương sự kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định mở phiên họp xét kháng cáo, kháng nghị thì Hội đồng xét kháng cáo, kháng nghị ra quyết định đình chỉ giải quyết xét kháng cáo, kháng nghị;
Trong trường hợp nêu trên, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét kháng cáo, kháng nghị.
– Hội đồng xét kháng cáo, kháng nghị ban hành quyết định hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm (khoản 5 Điều 462 BLTTDS) nếu:
+ Việc chứng minh của đương sự phản đối việc công nhận phán quyết của Trọng tài nước ngoài hoặc căn cứ để Tòa án cấp sơ thẩm ra quyết định công nhận hoặc không công nhận phán quyết của Trọng tài nước ngoài không đúng quy định tại Chương XXXV và Chương XXXVII của BLTTDS, các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
+ Thành phần của Hội đồng xét đơn của Tòa án cấp sơ thẩm không đúng quy định tại Chương XXXVII của BLTTDS hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Hội đồng xét kháng cáo, kháng nghị ban hành quyết định hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và đình chỉ việc xét đơn yêu cầu khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 457 BLTTDS (xem điểm e khoản 3 Điều 462 BLTTDS).
Quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định (khoản 6 Điều 462 BLTTDS).
 

Nguồn: Tạp chí tòa án (tapchitoaan.vn)

Bàn về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình qua các thời kỳ. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất sửa đổi pháp luật đất đai theo hướng từng bước xóa bỏ việc cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình.

 
Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước là chủ thể đại diện duy nhất và tuyệt đối của quyền sở hữu đất. Trong đó, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất[1]. Hiện nay, các chủ thể có thể được Nhà nước trao quyền sử dụng đất gồm: Tổ chức trong nước; hộ gia đình, cá nhân trong nước; cộng đồng dân cư; cơ sở tôn giáo; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài[2]Trong các chủ thể trên, việc xác định quyền và tư cách để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình hiện nay đang tồn tại nhiều điểm bất cập, vướng mắc, gây ra không ít các tranh chấp, khiếu kiện trong thời gian qua.
Ngay từ khi văn bản Luật Đất đai đầu tiên của Việt Nam ra đời vào năm 1987, “hộ nông dân” đã được xác định là một trong những đối tượng được Nhà nước giao quyền sử dụng đất. Đến Luật Đất đai năm 1993, văn bản này càng khẳng định rõ hơn quyền sử dụng đất của hộ gia đình thông qua quy định tại Điều 20: “Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”. Như vậy, từ khái niệm “hộ nông dân”, nay chủ thể đã đổi tên thành “hộ gia đình” được Nhà nước giao đất. Mười năm sau, Luật Đất đai năm 2003 vẫn tiếp tục ghi nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình với quy định: “Hộ gia đình, cá nhân trong nước (sau đây gọi chung là hộ gia đình, cá nhân) được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất” (khoản 2 Điều 9). Gần đây nhất, Luật Đất đai năm 2013 cũng tiếp nối quy định về việc trao quyền sử dụng đất cho hộ gia đình và mở rộng thêm một số chủ thể khác như cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo… Như vậy có thể khẳng định, chủ thể sử dụng đất là hộ gia đình đã được Nhà nước ghi nhận trong suốt quá trình xây dựng và phát triển pháp luật đất đai tại Việt Nam. Cho đến nay, mặc dù khái niệm chủ thể sử dụng đất là hộ gia đình đã tồn tại ở nước ta 25 năm (từ Luật Đất đai năm 1993 tới nay) thì địa vị pháp lý của hộ gia đình theo quy định của pháp luật và thực tiễn vẫn còn chưa thống nhất, cần hướng dẫn cụ thể, chi tiết hoặc có những sửa đổi pháp lý phù hợp thực tế, đảm bảo quyền lợi của mỗi thành viên trong hộ đối với quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình.
Trước đây, Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này”. Tuy nhiên, đến Bộ luật Dân sự năm 2015, định nghĩa hộ gia đình đã không còn tồn tại, thay vào đó là quy định việc xác định chủ thể của quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình. Theo đó, việc xác định chủ thể của quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng đất được thực hiện theo quy định của Luật Đất đai. Như vậy, Bộ luật Dân sự hiện nay đã trao toàn bộ quyền xác định tư cách pháp lý của hộ gia đình trong các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất cho Luật Đất đai. Dẫn chiếu tới luật này, tại khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất. Với quy định trên thì có thể hiểu, để được xác định tư cách thành viên trong hộ gia đình và có chung quyền sử dụng đất thì các thành viên của hộ cần thỏa mãn đủ 02 dấu hiệu nhận biết là: (i) Thành viên phải có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và (ii) Thành viên phải đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng quy định như Luật Đất đai năm 2013 cũng chưa rõ ràng. Quy định này thực sự sẽ gây vướng mắc trong quá trình xác định các thành viên của hộ gia đình có quyền sử dụng đất bởi thời điểm để xác định tư cách thành viên có quyền sử dụng đất là thời điểm hộ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay thời điểm hộ được Nhà nước giao đất, cho thuê đất…[3]
Mặt khác, nếu quan niệm quyền sử dụng đất là tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình thì về nguyên tắc, tài sản thuộc sở hữu chung phải được đăng ký quyền sở hữu/quyền sử dụng cho tất cả các đồng chủ sở hữu chung, trừ trường hợp các thành viên có thỏa thuận khác. Trên thực tế, do trước đây pháp luật về đất đai hướng dẫn chỉ ghi đại diện của hộ gia đình sử dụng đất trên giấy chứng nhận, cụ thể, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình chỉ ghi nhận thông tin (họ tên, năm sinh) của chủ hộ gia đình; nếu chủ hộ gia đình có vợ hoặc chồng cùng có quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì ghi cả họ tên, năm sinh của người vợ hoặc chồng đó[4]; còn các thành viên khác trong hộ gia đình thì không được đề cập đến. Vậy nên, khi hộ gia đình thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất, Nhà nước thường gặp khó khăn trong việc bảo hộ quyền sử dụng đất hợp pháp của các thành viên hộ gia đình do quyền sử dụng đất của từng thành viên trong hộ gia đình không được xác lập cụ thể; phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp về quyền sử dụng đất của các thành viên trong hộ gia đình khi thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất, trong khi việc giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp lại rất khó khăn do thiếu cơ sở pháp lý và thường kéo dài. Để giải quyết bất cập này, ngày 29/9/2017 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT quy định việc ghi tên các thành viên có chung quyền sử dụng đất vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) hộ gia đình, trong đó đưa ra quy định mới về việc bổ sung tên các thành viên trong gia đình trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở (gọi chung là giấy chứng nhận). Theo đó, căn cứ vào khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai 2013 và khoản 5 Điều 6 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất mà những người trong hộ gia đình có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung trong hộ gia đình và có quyền sử dụng đất chung thì giấy chứng nhận được cấp cho hộ gia đình và những người đó được ghi tên trên giấy chứng nhận. Cụ thể, đối với hộ gia đình sử dụng đất thì ghi “hộ gia đình, gồm ông” (hoặc “hộ gia đình, gồm bà”), sau đó ghi họ tên, năm sinh, tên và số giấy tờ nhân thân của chủ hộ gia đình; địa chỉ thường trú của hộ gia đình. Dòng tiếp theo ghi: “Cùng sử dụng đất, cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất (hoặc cùng sử dụng đất hoặc cùng sở hữu tài sản) với… (ghi lần lượt họ tên, năm sinh, tên và số giấy tờ nhân thân của những thành viên còn lại trong hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất)”. Như vậy, nếu nhà, đất đó là tài sản riêng của cá nhân hoặc là tài sản chung của cá nhân với vợ/chồng của mình thì giấy chứng nhận không ghi tên những người khác trong gia đình (như cha, mẹ, anh, chị, em, các con). Cha, mẹ, anh, chị, em, các con ở trong gia đình chỉ được ghi tên trên giấy chứng nhận khi họ có quyền sử dụng đất chung. Theo Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT, để trở thành thành viên hộ gia đình sử dụng đất phải đảm bảo ba yếu tố: (i) Là những người trong hộ gia đình có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình; (ii) Đang sống chung trong hộ gia đình; (iii) Có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất. Như vậy, về cơ bản các yếu tố này vẫn đồng nhất với hai dấu hiệu để xác định tư cách thành viên hộ gia đình sử dụng đất quy định tại khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013.
Có thể thấy, việc ban hành Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường nhằm đảm bảo việc quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai được minh bạch hơn, rõ ràng hơn, từ đó nhằm hạn chế những tranh chấp phát sinh trong các giao dịch về quyền sử dụng đất của hộ gia đình. Tuy nhiên, quy định bổ sung tên của tất cả các thành viên trong hộ gia đình vào trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như quy định của Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT thì có thể phát sinh ra nhiều vấn đề phức tạp khác.
Thứ nhất, đất đai là một loại tài sản đặc biệt, Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho người dân và người có quyền sử dụng đất được quyền chuyển nhượng và thực hiện các quyền khác trên đất theo quy định của pháp luật. Yêu cầu viết tên các thành viên trong gia đình vào sổ đỏ sẽ làm phát sinh những rắc rối trong việc xác định ai là chủ sở hữu thực sự của tài sản này. Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, quyền sử dụng đất của hộ gia đình thuộc hình thức sở hữu chung theo phần và việc xác định phần giá trị sử dụng của từng thành viên đối với đất chung sẽ dựa theo nguồn gốc tài sản, công sức đóng góp, tạo lập tài sản của mỗi thành viên trong hộ gia đình đó. Tuy nhiên trong thực tế, việc xác định công sức đóng góp của các thành viên trong hộ gia đình là rất khó khăn. Đặc biệt, trường hợp vợ chồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất khi đã có con chung và con dưới 18 tuổi, còn sống phụ thuộc vào bố mẹ, vậy xác định sự đóng góp của người con đối với quyền sử dụng đất của hộ gia đình trong tình huống này như thế nào? Theo quy định của pháp luật trong trường hợp này, người con cũng là một thành viên của hộ gia đình, là đồng sở hữu chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình. Trường hợp không xác định được phần giá trị tài sản thuộc quyền sử dụng của mỗi thành viên thì điều này lại mâu thuẫn với quy định của Bộ luật Dân sự khi xác định quyền sử dụng đất của hộ gia đình là tài sản thuộc sở hữu chung theo phần chứ không phải sở hữu chung hợp nhất để tất cả các thành viên có phần bằng nhau và quyền quyết định ngang nhau đối với tài sản chung đó.
Thứ hai, quy định ghi tên các thành viên hộ gia đình trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ gây khó khăn cho các bên trong quan hệ pháp luật liên quan đến quyền sử dụng đất. Khi hộ gia đình tiến hành các thủ tục pháp lý để thay đổi thông tin hoặc thực hiện quyền dân sự liên quan đến chuyển giao quyền sử dụng thì bắt buộc phải có xác nhận và có chữ ký của tất cả các thành viên có tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giả sử, thời điểm đó các thành viên trong gia đình đang xung đột thì mỗi thành viên sẽ rất khó để quyết định thực hiện quyền dân sự của mình đối với tài sản chung của hộ gia đình.
Thứ ba, theo Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình phải ghi đầy đủ thông tin theo giấy tờ nhân thân của từng thành viên trong hộ. Thông tin theo giấy tờ đó bao gồm cả mã số định danh cá nhân (được cấp vào thời điểm sinh ra) hoặc là số chứng minh nhân dân, số căn cước công dân trên thực tế. Tuy nhiên, một khó khăn chung trong công tác quản lý hành chính tại nước ta nhiều năm qua là các giấy tờ hành chính chưa được cấp đồng bộ, triệt để trong cả nước. Cụ thể, việc triển khai cấp mã số định danh cá nhân mới được thực hiện trong thời gian gần đây cho trẻ sơ sinh, còn căn cước công dân thì chỉ được cấp khi công dân đủ 14 tuổi. Như vậy, yêu cầu ghi thông tin nhân thân của từng thành viên trong hộ gia đình trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình sẽ gặp khó khăn nếu những thành viên hộ gia đình không có mã số định danh cá nhân, đồng thời cũng chưa đủ tuổi làm căn cước công dân. Trường hợp này, giấy chứng nhận quyền sử dụng sẽ ghi thông tin thành viên hộ gia đình như thế nào?
Chính vì những bất cập và khó khăn trên, ngày 04/12/2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 53/2017/TT-BTNMT quy định ngưng hiệu lực thi hành khoản 5 Điều 6 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT để các cơ quan chức năng và người dân có thời gian nghiên cứu thêm về quy định mới trong việc ghi tên thành viên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình. Tuy nhiên, bàn về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình hay ghi tên ai trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cần khẳng định rõ quan điểm: Đối với tài sản chung của hộ gia đình, chỉ những thành viên có công sức đóng góp, tạo lập tài sản thì mới được ghi tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu/sử dụng tài sản đó. Việc bổ sung tên các thành viên khác trong hộ trên giấy chứng nhận tuy giúp xác định tư cách chủ thể rõ ràng, minh bạch hơn nhưng mặt khác cũng làm phát sinh thêm các rắc rối về thủ tục hành chính, đồng thời làm hạn chế quyền sử dụng đất của những người chủ sở hữu có đóng góp chính trong việc gây dựng tài sản (chủ hộ). Tuy vậy, nếu chỉ ghi tên chủ hộ trên giấy chứng nhận như quy định trước đây thì cũng không thể đảm bảo quyền lợi pháp lý của các chủ sở hữu chung còn lại, từ đó sẽ phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp về quyền sử dụng đất của các thành viên trong hộ gia đình khi thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất.
Trước đây, do đặc điểm và hoàn cảnh lịch sử nên trong một số thời điểm nhất định, Nhà nước đã quy định giao đất cho hộ gia đình để lao động và sinh sống. Điển hình như giai đoạn khi mô hình hợp tác xã sản xuất nông nghiệp tan rã, Nhà nước đã giao khoán đất cho hộ gia đình xã viên và một số đối tượng khác theo bình quân nhân khẩu[5], trên cơ sở đó công nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình. Ngoài ra, có giai đoạn ở nước ta, một số địa phương có chính sách giãn dân nên các địa phương cũng giao đất ở cho hộ gia đình theo nhân khẩu[6]. Tại thời điểm hiện nay, những chính sách này đã hết hiệu lực và hộ gia đình cũng không còn là chủ thể sử dụng đất phổ biến được Nhà nước giao đất, cho thuê đất như trước đây.  Vì vậy, nên sửa đổi quy định của Luật Đất đai năm 2013 theo hướng xóa bỏ dần tư cách chủ thể được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình là thực sự cần thiết, từ đó sẽ góp phần giảm thiểu phát sinh các tranh chấp phức tạp trong hoạt động công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở nước ta. Tuy nhiên, để giải quyết hệ quả của việc một số hộ gia đình trước đây đã từng được Nhà nước giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, Nhà nước cần có điều luật chuyển tiếp để vẫn công nhận những trường hợp trên. Theo đó, những thành viên của hộ có tên trên quyết định giao đất trước đây thì được quyền có tên trong giấy chứng nhận cấp cho hộ gia đình. Đối với các trường hợp cấp mới kể từ khi Luật Đất đai năm 2013 được sửa đổi, không nên dùng khái niệm là hộ gia đình đứng ra nhận chuyển quyền sử dụng đất nữa. Khi đó, nếu là tài sản chung của hai vợ chồng thì cấp giấy cho hai vợ chồng, nếu là tài sản cá nhân thì cấp cho cá nhân. Sửa đổi này giúp đơn giản, minh bạch hóa thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời cũng giảm thiểu các tranh chấp đất đai của các thành viên hộ gia đình.

ThS. Lưu Thị Tuyết
Học viện Chính sách và Phát triển

Các dạng tranh chấp đất đai phổ biến hiện nay

Các dạng tranh chấp đất đai hiện nay rất đa dạng, phong phú, nhiều khi đan xen lẫn nhau. Tranh chấp đất đai có thể được chia làm hai loại lớn, đó là các tranh chấp mà trong đó cần xác định ai là người có quyền sử dụng hợp pháp đất đang tranh chấp và tranh chấp đất đai trong đó người sử dụng đất đã sử dụng đất hợp pháp, tranh chấp chỉ phát sinh trong quá trình người đó thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

 

1. Tranh chấp để xác định ai là người có quyền sử dụng đất hợp pháp 

Trong dạng này có sự tranh chấp giữa các bên về quyền quản lý, quyền sử dụng một diện tích đất đai nào đó hoặc một phần trong diện tích đó. Việc xác định ai là người có quyền sử dụng hợp pháp đất tranh chấp là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Có thể có dạng như sau:

– Tranh chấp về quyền sử dụng đất có liên quan đến tranh chấp về địa giới hành chính. Loại tranh chấp này thường xảy ra giữa người ở hai tỉnh, hai huyện, hai xã với nhau, tập trung ở những nơi có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa, những vị trí dọc theo triền sông lớn, những vùng có địa giới không rõ ràng, không có mốc giới nhưng là vị trí quan trọng, ở những nơi có nguồn lâm, thổ sản quý. Cùng với việc chia tách các đơn vị hành chính tỉnh, huyện, xã thì tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính tương đối nhiều.

– Tranh chấp đòi lại đất, đòi lại tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất: Thực chất đây là dạng tranh chấp đòi lại đất, đòi lại tài sản gắn liền với đất có nguồn gốc trước đây thuộc quyền sở hữu của họ hoặc người thân của họ mà do nhiều nguyên nhân khác nhau họ không còn quản lý, sử dụng nữa. Bây giờ những người này đòi lại người đang quản lý, sử dụng dẫn đến tranh chấp. Trong dạng tranh chấp này có các loại sau:

+ Đòi lại đất, tài sản của họ, của người thân trong các giai đoạn khác nhau trước đây qua các cuộc điều chỉnh đã chia, cấp cho người khác: Sau cải cách ruộng đất, nông nghiệp, nông thôn bước vào thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp. Đặc biệt từ năm 1958, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp theo mô hình sản xuất tập thể, quản lý tập trung. Ruộng đất và các tư liệu sản xuất của nông dân được tập trung vào hợp tác xã. Đến khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 10/TW năm 1988, đất đai được phân chia đến hộ gia đình, cá nhân để sản xuất. Do việc phân chia đất đai không hợp lý một số cán bộ xã, huyện đã làm sai như chia đất sản xuất cho những người không phải là nông dân để rồi những người này đem bán, cho thuê, trong khi đó nông dân không có đất sản xuất, một số hộ trước khi vào tập đoàn, hợp tác xã có đất, đến khi giải thể họ không có đất để canh tác. Một số hộ thực hiện chính sách “nhường cơm sẻ áo” của Nhà nước trong những năm 1981 – 1986 đã nhường đất cho những người khác sử dụng, nay đòi lại… ở miền Nam, Nhà nước thực hiện chính sách cải tạo công thương nghiệp, quốc hữu hóa đất đai, nhà cửa, tư liệu sản xuất của địa chủ, tư bản và tay sai chế độ cũ hoặc giao nhà cửa, đất đai cho người khác sử dụng, đến nay, do có sự hiểu lầm về chính sách họ cũng đòi lại những người đang quản lý, sử dụng. Ngoài ra, một số người bỏ đi nơi khác hoặc ra nước ngoài sinh sống, nay trở về đòi lại đất đai, tài sản trước đây đã được giao cho người khác quản lý, sử dụng.

+ Tranh chấp giữa những người làm nghề thủ công, nay thất nghiệp trở về đòi lại ruộng của những người làm nông nghiệp: Những người làm nghề thủ công trước đây đã được phân ruộng để sản xuất, để ở, sau đó họ không sản xuất nông nghiệp nữa hoặc chuyển đi nơi khác để làm nghề, đến nay họ trở về đòi lại đất để sản xuất, để ở.

+ Tranh chấp đòi lại đất, tài sản của nhà thờ, các dòng tu, chùa chiền, miếu mạo, nhà thờ họ. Dạng tranh chấp này thường xảy ra như sau: Trước đây do hoàn cảnh lịch sử, chính quyền địa phương đã mượn đất của các cơ sở nói trên để sử dụng hoặc tịch thu một số cơ sở để làm trụ sở cơ quan, trường học…, đến nay, các cơ sở đó đòi lại nhưng Nhà nước không trả lại được nên dẫn đến khiếu kiện của các cơ sở đó. Ngoài ra, trong những trường hợp nói trên, một số người được các nhà thờ, dòng tu, chùa chiền, nhà thờ họ cho đất để ở họ đã xây dựng nhà kiên cố hoặc lấn chiếm thêm đất của các cơ sở nói trên dẫn đến việc các cơ sở nói trên đòi lại đất, nhà.

+ Tranh chấp đòi lại nhà, đất cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ: Dạng tranh chấp này phát sinh do việc một bên cho bên kia mượn đất, thuê đất, cho ở nhờ. Có vụ cho mượn, thuê gần đây, có vụ cho mượn, thuê cách đây vài chục năm (nhất là ở miền Nam). Nhiều trường hợp không làm hợp đồng, chỉ giao kết bằng miệng dẫn đến khi bên cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ hoặc là hết hạn hợp đồng hoặc đòi lại, bên mượn, thuê, ở nhờ đã xây dựng nhà kiên cố, một số có tên trong sổ địa chính hoặc được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì việc tranh chấp càng trở nên phức tạp, dẫn đến việc công dân khiếu kiện các cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

– Tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn: Đây là trường hợp tranh chấp đất hoặc tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn. Đất tranh chấp có thể là đất nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc đất để ở; có thể là giữa vợ chồng với nhau hoặc giữa một bên ly hôn với hộ gia đình vợ hoặc chồng hoặc có thể xảy ra khi bố mẹ cho con đất, đến khi con ly hôn thì cha mẹ đòi lại…

– Tranh chấp về quyền thừa kế quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất: Đây là dạng tranh chấp do người có quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất chết mà không để lại di chúc hoặc để lại di chúc không phù hợp với quy định của pháp luật và những người hưởng thừa kế không thỏa thuận được với nhau về phân chia thừa kế hoặc thiếu hiểu biết về pháp luật dẫn đến tranh chấp.

– Tranh chấp giữa những người sử dụng với nhau về ranh giới giữa các vùng đất được phép sử dụng và quản lý: Đây là tranh chấp về ranh giới. Loại tranh chấp này thường do một bên tự ý thay đổi ranh giới hoặc hai bên không xác định được với nhau về ranh giới, một số trường hợp chiếm luôn diện tích đất của người khác. Những trường hợp tranh chấp này xảy ra thường do ranh giới đất giữa những người sử dụng đất liền kề không rõ ràng, đất này thường sang nhượng nhiều lần, bàn giao không rõ ràng. Ngoài ra, việc tranh chấp ranh giới xảy ra nhiều khi do lỗi của các cơ quan nhà nước, đó là khi cấp đất, cơ quan cấp đất có ghi diện tích, nhưng không đo đạc cụ thể khi giao đất chỉ căn cứ vào giấy cấp đất và đơn kê khai diện tích của đương sự. Sau này khi đương sự đo lại thấy diện tích đất ít hơn so với quyết định cấp đất cũng như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phần diện tích chồng lên nhau. Do đó cũng gây nên tranh chấp giữa các hộ liền kề nhau. Khi giải quyết tranh chấp, các cơ quan có thẩm quyền phải xác định phần đất tranh chấp đó là thuộc quyền sử dụng của ai.

– Tranh chấp giữa đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới với đồng bào dân tộc sở tại: Đây là dạng tranh chấp thường xảy ra ở vùng Tây Nguyên. Việc di dân, đặc biệt là di dân tự do khi đến nơi ở mới không phải lúc nào chính quyền sở tại cũng cấp đất cho người dân di cư, dẫn đến việc người mới đến phá rừng, lấn chiếm đất đai dẫn đến tranh chấp với đồng bào dân tộc sở tại.

– Tranh chấp giữa các nông trường, lâm trường và các tổ chức sử dụng đất khác với nhân dân địa phương: Do cơ chế trước đây nên dẫn đến tình trạng các nông trường, lâm trường, các đơn vị quân đội bao chiếm một lượng lớn đất đai, không sử dụng hết để đất bỏ hoang hoặc cho người dân sử dụng theo hình thức phát canh, thu tô. Mặt khác, nhiều nông trường, lâm trường, các đơn vị quân đội quản lý đất đai lỏng lẻo dẫn đến tình trạng người dân chiếm đất để sử dụng. Do đó cũng dẫn đến tranh chấp đất đai.

 

2. Tranh chấp phát sinh trong quá trình người sử dụng đất hợp pháp thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình 

Trong các dạng tranh chấp này thì người đang sử dụng đất đã sử dụng hợp pháp đất, không có ai tranh chấp. Tuy nhiên, khi sử dụng quyền và nghĩa vụ sử dụng đất của mình như thực hiện các giao dịch về dân sự hoặc do chủ trương, chính sách của Nhà nước như giải tỏa, trưng dụng, trưng mua hoặc do người khác gây thiệt hại, hoặc bị hạn chế về quyền và nghĩa vụ sử dụng đất của mình mà dẫn đến tranh chấp. Có các dạng tranh chấp sau:

– Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất.

– Tranh chấp do người khác gây thiệt hại hoặc hạn chế quyền và nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất.

– Tranh chấp về mục đích sử dụng, đặc biệt là tranh chấp về đất nông nghiệp với đất lâm nghiệp, giữa đất trồng lúa với đất nuôi tôm, giữa đất trồng cao su với đất trồng cà phê, giữa đất nông nghiệp với đất thổ cư trong quá trình phân bố và quy hoạch sử dụng. Trong thực tế trường hợp tranh chấp này xảy ra như sau: Do mục đích sử dụng đất nên Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng để giao cho người khác sử dụng với mục đích khác, dẫn đến người đang sử dụng đất khiếu kiện việc chuyển mục đích sử dụng đất hay khiếu kiện việc thu hồi hoặc khiếu kiện người được giao đất sử dụng với mục đích khác. Mặt khác, người được Nhà nước giao đất chuyển mục đích sử dụng khiếu kiện người đang sử dụng đất phải giao đất cho mình theo quyết định giao đất.

– Tranh chấp về giải toả mặt bằng phục vụ các công trình công cộng, lợi ích quốc gia và mức đền bù khi thực hiện giải tỏa. Trong tranh chấp loại này chủ yếu là khiếu kiện về giá đất đền bù, diện tích đất được đền bù, giá cả đất tái định cư và đền bù không đúng người, giải tỏa quá mức quy định để chừa đất cấp cho các đối tượng khác. Trong tình hình hiện nay, việc quy hoạch mở mang đường sá, đô thị quá lớn đẫn đến việc tranh chấp loại này rất gay gắt, phức tạp và có nhiều người, tập thể đồng loạt khiếu kiện.

Theo http://baophapluat.vn

Quyền công tố của VKSND cấp cao

VKSND cấp cao là một cấp kiểm sát mới theo quy định của Luật Tổ chức VKSND năm 2014; được tổ chức theo thẩm quyền xét xử của Tòa án, không phụ thuộc vào phân cấp đơn vị hành chính. Bài viết đề cập đến quyền công tố của VKSND cấp cao.
 
Luật Tổ chức VKSND năm 2014 qui định thành lập hệ thống Viện kiểm sát nhân dân gồm: VKSND tối cao, VKSND cấp cao, VKSND cấp tỉnh và VKSND cấp huyện, VKS quân sự các cấp (Điều 40).
Do nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND cấp cao gắn liền với thẩm quyền xét xử của TAND cấp cao nên VKSND cấp cao được tổ chức tương ứng với TAND cấp cao về số lượng và địa hạt tư pháp. Hiện tại, có ba VKSND cấp cao được thành lập tại ba khu vực, đặt trụ sở tại Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh.
Khoản 2 Điều 41 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 qui định nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND cấp cao: “Viện kiểm sát nhân dân cấp cao thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp cao”. Đối chiếu với Điều 29 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (TAND) năm 2014 qui định thẩm quyền của TAND bao gồm: (1) Phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của TAND cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị; (2) Giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh, TAND cấp huyện và tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị.
Như vậy, khi đi vào hoạt động VKSND cấp cao vừa thực hiện công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm như hiện nay, vừa đảm nhận toàn bộ nhiệm vụ công tác kiểm sát giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của các VKSND cấp tỉnh và phần lớn nhiệm vụ công tác kiểm sát giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm từ Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự, Vụ kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình, Vụ kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật thuộc VKSND tối cao.
Ngoài ra, VKSND cấp cao còn thực hiện nhiệm vụ: “Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động nghiệp vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử của VKSND cấp tỉnh, VKSND cấp huyện”. Chúng tôi cho rằng, lượng công việc sẽ tăng lên nhiều so với công việc của các Viện phúc thẩm hiện nay. Trong phạm vi bài viết này chủ yếu đưa ra những trao đổi xung quanh quyền công tố của VKSND cấp cao
1. Quyền công tố của VKSND cấp cao trong việc giải quyết vụ án hình sự theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm
Căn cứ vào các qui định tại Điều 3, Điều 41 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 và Điều 29 Luật Tổ chức TAND năm 2014, có thể xác định VKSND cấp cao có chức năng thực hành quyền công tố trong việc giải quyết vụ án hình sự theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm như sau:
Thứ nhất, thực hành quyền công tố đối với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp cao, gồm có:
– Thực hành quyền công tố việc giải quyết theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị;
– Thực hành quyền công tố việc giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện và tương đương; TAND cấp tỉnh bị kháng nghị;
– Thực hành quyền công tố trong hoạt động tương trợ tư pháp do TAND cấp cao thực hiện.
Thứ hai, giải quyết kiến nghị, đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện và tương đương, TAND cấp tỉnh đã được VKSND cấp tỉnh, VKSND tối cao thụ lý mà chưa được giải quyết (về thẩm quyền này sẽ được chúng tôi phân tích riêng tại mục 2)
Thứ ba, Viện trưởng VKSND cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh; kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện và tương đương; TAND cấp tỉnh trong phạm vi lãnh thổ thuộc thẩm quyền.
Theo qui định tại các khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 2 của Nghị quyết số 82/2014/QH13 của Quốc hội về việc thi hành Luật Tổ chức VKSND thì kể từ ngày 01/6/2015, VKSND tối cao sẽ chuyển giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố trong hoạt động xét xử phúc thẩm cho VKSND cấp cao; VKSND cấp tỉnh sẽ chuyển giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố trong xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm cho VKSND cấp cao để VKSND cấp cao bắt đầu thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của một cấp kiểm sát mới, độc lập trong hệ thống VKSND. Đối với vác vụ án, vụ việc đã phát sinh trước ngày thành lập VKSND cấp cao do VKSND tối cao và cấp tỉnh chuyển giao thì VKSND cấp cao tiếp nhận để giải quyết trong các trường hợp cụ thể sau đây:
– Bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh đã có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm mà chưa được giải quyết thì VKSND cấp cao thực hành quyền công tố việc giải quyết theo thủ tục phúc thẩm tại TAND cấp cao;
– Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện và tương đương; TAND cấp tỉnh đã có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm mà chưa được giải quyết thì VKSND cấp cao thực hành quyền công tố việc giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại TAND cấp cao;
– Kiến nghị, đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện và tương đương, TAND cấp tỉnh đã được VKSND cấp tỉnh, VKSND tối cao thụ lý mà chưa được giải quyết thì VKSND cấp cao trực tiếp giải quyết. Viện trưởng VKSND cấp cao thực hiện quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm nếu có căn cứ pháp luật qui định.
Như vậy, theo qui định của Nghị quyết số 82/2014/QH13 (nêu trên) thì nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND cấp cao theo Luật Tổ chức VKSND năm 2014 sẽ được thực hiện ngay từ thời điểm Luật Tổ chức VKSND năm 2014 có hiệu lực thi hành mà không cần chờ Quốc hội sửa đổi, bổ sung các đạo luật về tố tụng hình sự, dân sự, hành chính. Việc thực hành quyền công tố hoạt động xét xử vụ án hình sự của VKSND cấp cao ở những khía cạnh khác được thực hiện theo trình tự, thủ tục do các đạo luật về tố tụng hiện hành qui định.
2. Giải quyết kiến nghị, đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện và tương đương, TAND cấp tỉnh đã được VKSND cấp tỉnh, VKSND tối cao thụ lý mà chưa được giải quyết
Hiện tại theo phân cấp, VKSND tối cao có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh và các Tòa phúc thẩm, các Tòa chuyên trách của TAND tối cao; VKSND cấp tỉnh có thẩm quyền kháng nghị các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện. Việc tiếp nhận, phân loại xử lý, quản lý đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm do đơn vị khiếu tố VKSND cấp tỉnh và VKSND tối cao thực hiện. Đơn vị khiếu tố có nhiệm vụ nghiên cứu phân loại, kiểm tra điều kiện thụ lý. Nếu đơn đủ điều kiện thụ lý thì cấp giấy xác nhận đơn (trong tố tụng dân sự và hành chính) và chuyển đến các đơn vị nghiệp vụ để giải quyết; nếu đơn không đủ điều kiện thụ lý thì trả lại đơn và giải quyết khiếu nại đối với việc trả lại đơn (nếu có); nếu đơn chưa đủ điều kiện thụ lý thì hướng dẫn đương sự cung cấp tài liệu bổ sung; đối với đơn không thuộc cấp mình thì chuyển đến VKS có thẩm quyền giải quyết.
Đến nay, VKSND cấp cao có thẩm quyền giải quyết đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện, cấp tỉnh. Do vậy, việc tiếp nhận xử lý, quản lý các loại đơn này sẽ thuộc trách nhiệm của VKSND cấp cao. Trước mắt, để VKSND cấp cao thực hiện tốt nghiệm vụ này, VKSND tối cao và VKSND cấp tỉnh cần thực hiện việc chuyển giao toàn bộ đơn đã tiếp nhận, thụ lý thuộc thẩm quyền cho VKSND cấp cao. Tuy nhiên, do Luật Tổ chức VKSND mới có hiệu lực từ ngày 01/6/2015 nên phần lớn người dân chưa biết đến sự thay đổi thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của VKSND cấp cao, nên có thể trong thời gian tới, đơn vẫn sẽ tập trung gửi đến VKSND tối cao, VKSND cấp tỉnh và số lượng đơn tiếp nhận chưa có thay đổi đáng kể. Để đảm bảo xem xét giải quyết của VKSND cấp cao và hạn chế sự vòng vo trong công tác tiếp nhận, chuyển đơn, VKSND tối cao cần thiết phải qui định cụ thể về qui trình xử lý và sự phối hợp giữa VKSND tối cao, VKSND cấp tỉnh với VKSND cấp cao theo hướng: Khi nhận được đơn thuộc thẩm quyền của VKSND cấp cao, đơn vị khiếu tố của VKSND tối cao và VKSND cấp tỉnh cần lập danh sách rồi chuyển đến VKSND cấp cao để thực hiện việc xử lý, thụ lý, giải quyết và quản lý nhà nước trong phạm vi thẩm quyền. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có trách nhiệm kiểm tra điều kiện thụ lý, cấp giấy xác nhận đơn theo qui định của pháp luật và thực hiện trình tự, thủ tục giải quyết, quản lý nhà nước về việc giải quyết loại đơn này.

Đỗ Dương Toàn

Viện trưởng VKSND quận Hoàn Kiếm, Tp.Hà Nội.

Tạp chí Kiểm sát số 21/2015.