Bàn về quyền bào chữa trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015

Khoản 4, Ðiều 31, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điểu tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một quyền hiến định được tất cả các bản Hiến pháp của nước ta ghi nhận và được cụ thể hóa trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Vì vậy, việc bảo đảm các quyền này được thực thi một cách đầy đủ là yêu cầu tất yếu trong quá trình cải cách tư pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

Bào chữa là một trong những quyền cơ bản của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được ghi nhận trong Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS). Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện các quyền này còn rất nhiều hạn chế. Việc quy định như trong BLTTHS 2015 là bước “đột phá” để tháo gỡ những bất cập sau những năm thi hành BLTTHS 2003, đặc biệt là các cơ chế để bảo đảm quyền của những người tham gia tố tụng, nhất là bảo đảm quyền bào chữa của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Qua thực tiễn hành nghề và nghiên cứu BLTTHS 2015 về bảo đảm quyền bào chữa, chúng tôi có một số bình luận, nhận xét sau đây.

 

1. Quyền bào chữa được hiểu như thế nào?

Trong khoa học pháp luật tố tụng hình sự, khái niệm quyền bào chữa, bảo đảm quyền bào chữa còn có những ý kiến khác nhau về đối tượng có quyền bào chữa, nội dung, giới hạn, phạm vi, mục đích và bản chất của quyền bào chữa. Các học giả nước ngoài có ý kiến: “Quyền bào chữa là tổng hòa các hành vi tố tụng hướng tới bãi bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc nhằm làm giảm nhẹ trách nhiệm của bị can”[1]“Bào chữa trong tố tụng hình sự không chỉ là tổng hoà các hành vi tố tụng hướng tới việc bác bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm mà còn là tổng hoà các mối quan hệ tố tụng nhằm tới mục đích làm cho tình trạng của người bị buộc tội tốt hơn và bảo đảm các quyền và lợi ích của người đó trong vụ án”[2]. Cũng theo xu hướng này, có ý kiến cho rằng: “Trong tố tụng hình sự, bị can, người bị tình nghi cũng như những công dân khác, trong đó có cả người bị hại đều cần có sự bảo vệ các lợi ích có thể bị xâm phạm”[3].

Theo các ý kiến trên, có thể khái quát:

  • Thứ nhất: Quyền bào chữa hướng tới ba mục đích: a) Bãi bỏ sự buộc tội; b) Làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; c) Bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của bị can kể cả khi các quyền và lợi ích ấy không trực tiếp liên quan tới việc làm giảm nhẹ trách nhiệm của bị can trong vụ án;
  • Thứ hai: Đối tượng của quyền bào chữa có thể là: a) chỉ là bị can; b) chỉ là bị cáo; c) vừa là bị can vừa là bị cáo; d) người bị nghi thực hiện tội phạm; e) những công dân khác trong đó có cả người bị hại; f) người bị truy cứu trách nhiệm hình sự (người đang bị điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án).
  • Thứ ba: Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Bào chữa là dùng lý lẽ và chứng cứ để bênh vực cho đương sự nào đó thuộc vụ án hình sự hay dân sự trước toà án hoặc cho một việc làm đang bị lên án”[4]còn “Tự bào chữa là tự mình thực hiện…”[5].
  • Thứ tư:“Quyền bào chữa là tất cả các quyền mà pháp luật quy định để chống lại sự buộc tội”[6]Quyền bào chữa là tổng hợp các hành vi tố tụng của bị can, bị cáo trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước các cơ quan tiến hành tố tụng”[7]“Quyền bào chữa là tổng hợp các quyền tố tụng tạo khả năng cho bị can, bị cáo bào chữa về hành vi do mình thực hiện đã bị buộc tội và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp khác”[8]“Trong tố tụng hình sự, quyền bào chữa chỉ xuất hiện ở chỗ mà ở đó có sự buộc tội và quyền bào chữa thuộc về người nào khi người đó bị buộc tội”;“Buộc tội trong tố tụng hình sự là hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng nhằm xác định trách nhiệm hình sự đối với người bị buộc tội trên cơ sở các chứng cứ về vụ án hình sự đã xác định được tại thời điểm đó. Do giá trị pháp lý của các chứng cứ khác nhau nên giá trị của sự buộc tội cũng khác nhau trong mỗi giai đoạn và tất yếu hậu quả pháp lý của sự buộc tội của mỗi cơ quan tiến hành tố tụng cũng khác nhau. Hậu quả pháp lý của sự buộc tội do cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can là bị can đó bị điều tra về hình sự và bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự. Hậu quả pháp lý của sự buộc tội của Viện kiểm sát bằng cáo trạng là bị can được chuyển sang Toà án và có thể trở thành bị cáo để xét xử tại phiên toà. Hậu quả pháp lý của sự buộc tội của Toà án bằng bản án kết tội là bị cáo trở thành người bị kết án và phải chịu hình phạt hoặc các biện pháp khác thay thế cho hình phạt. Sự buộc tội này còn tồn tại cho đến khi người bị kết án chấp hành xong hình phạt hoặc được áp dụng các biện pháp miễn chấp hành hình phạt hoặc được đại xá”; “Sự buộc tội đôi khi xuất hiện cả khi chưa có quyết định khởi tố bị can trong trường hợp có người bị tạm giữ và kết thúc khi tố tụng hình sự kết thúc”[9].

Tổng hợp các ý kiến trên thì quyền bào chữa được xác định:

– Hành vi thực hiện quyền (tự) bào chữa là hành động chứ không phải là không hành động; Quyền (tự) bào chữa chỉ thuộc về người nào đó khi người đó bị buộc tội

– Người bị bắt, khám xét khẩn cấp, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án và về người bào chữa; Giới hạn của sự buộc tội và quyền (tự) bào chữa: Sự buộc tội và quyền (tự) bào chữa xuất hiện sớm nhất khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bắt, khám xét khẩn cấp. Sự buộc tội kết thúc chậm nhất, khi Kiểm sát viên đối đáp xong với bị cáo, người bào chữa tại phiên toà trong phần tranh luận. Còn sự (tự) bào chữa kết thúc chậm nhất khi người bị kết án trình bày tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình tại phiên tòa giám đốc thẩm hoặc những tình tiết mới không có tội làm thay đổi cơ bản nội dung của vụ án; Bản chất của tự bào chữa là bảo vệ mình khỏi sự buộc tội, kết tội một cách oan, sai của các cơ quan có thẩm quyền tố tụng hình sự bằng cách đưa ra những lý lẽ, chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Từ đó, có khái niệm khoa học: Quyền bào chữa là tổng hợp các quyền của người bị bắt, khám xét khẩn cấp, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người bào chữa nhằm bảo vệ đương sự khỏi sự buộc tội, kết tội oan, sai của cơ quan có thẩm quyền tố tụng hình sự bằng hành động đưa ra những lý lẽ, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

 

2. Những điểm mới về quyền bào chữa trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên ghi nhận nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử. Tại khoản 5, Ðiều 103 Hiến pháp quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo’”. Quy định này là nền tảng pháp lý cơ bản để nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa và đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo được thực thi trên thực tế. Ðồng thời đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ với Viện kiểm sát nhân dân, hướng tới nền tố tụng tranh tụng công khai, bình đẳng, hướng tới giải quyết vụ án khách quan, đúng sự thật, toàn diện và triệt để.

Trên nền tảng nguyên tắc Hiến định, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS năm 2015) đã bổ sung nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” (Điều 26). Đây là quy định mới, căn cứ pháp lý quan trọng để đảm bảo quyền bào chữa nói riêng và quyền công dân, quyền con người nói chung theo Hiến định, thể hiện cụ thể ở các nội dung sau: “Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến Tòa án để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp. Phiên tòa xét xử vụ án hình sự phải có mặt đầy đủ những người theo quy định của Bộ luật này, trường hợp vắng mặt phải vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc trường hợp khác do Bộ luật này quy định. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án. Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa. Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa”. Như vậy có thể thấy BLTTHS năm 2015 đã quy định rõ mối quan hệ, vị trí giữa những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án là bình đẳng, đây là tiền đề quan trọng để các chủ thể thực hiện hoạt động tranh tụng bảo vệ quan điểm, quyền lợi của mình khi tham gia tố tụng. Chỉ trên cơ sở bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ thì hoạt động tranh tụng mới đảm bảo chất lượng, hiệu quả và thực thi.

BLTTHS 2015 đã dành một mục lớn để quy định về hoạt động tranh tụng tại phiên tòa (mục 5, chương XXI – Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa). Trong đó, quy định cụ thể từ trình tự phát biểu tranh luận, đến phần đối đáp giữa người tham gia tố tụng (người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác) với kiểm sát viên giữ quyền công tố, quy định cho phép bị cáo được nói lời sau cùng để tự bào chữa; trong chương này luật cũng quy định Hội đồng xét xử không được hạn chế thời gian đối đáp, tranh luận giữa các bên.

Việc tôn trọng và thực hiện đúng các quy định của pháp luật về quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong đó có quyền của người bào chữa từ phía Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án là một đảm bảo quan trọng cho việc thực hiện quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Ðặc biệt việc thực hiện và bảo đảm tốt quy định về tranh tụng tại phiên tòa, kết quả tranh tụng là cơ sở để ra phán quyết là một biện pháp bảo đảm quan trọng không thể thiếu, là yêu cầu tất yếu của quá trình cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền con người nói chung và quyền bảo chữa nói riêng trong tố tụng hình sự.

BLTTHS năm 2015 thể hiện bước tiến bộ trong quy định về quyền bào chữa. Đối với BLTTHS năm 2003, quyền bào chữa xuất hiện sớm nhất kể từ thời điểm một người bị tạm giữ (Điều 48). Còn BLTTHS năm 2015, thì quyền bào chữa của người bị buộc tội xuất hiện sớm hơn đó là kể từ thời điểm một người bị bắt (Điều 58 và Điều 74). Quy định này giúp phía bị “buộc tội” được bình đẳng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi một người bị bắt, sự xuất hiện của người bào chữa giúp họ ổn định tâm lý, kịp thời bảo vệ quyền lợi chính đáng, góp phần giúp cơ quan có thẩm quyền xử lý vụ án chính xác, tránh những sai sót có thể xảy ra. BLTTHS 2015 đã mở ra và ghi nhận việc đảm bảo quyền bào chữa cho người bị bắt được đảm bảo quyền bào chữa của mình nhưng trên thực tế, việc áp dụng quy định này gặp khó khăn nhất định. Thực tiễn hành nghề cho thấy, người bị bắt rất mong muốn được mời Luật sư để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Nhưng việc để liên lạc với Luật sư đã rất khó khăn, thậm chí khi người nhà, người thân thích của người bị bắt đến gặp Luật sư đề nghị Luật sư tham gia bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị bắt, Luật sư thực hiện các thủ tục để gặp và làm việc thì bị cơ quan điều tra từ chối. Rõ ràng, BLTTHS 2015 đã mở rộng quyền của người bị bắt để đảm bảo quyền bào chữa cho chính họ, tuy nhiên, chưa có cơ chế đảm bảo cho việc thực hiện này, vì vậy trên thực tế còn gặp rất những áp dụng tùy nghi, cảm tính.

Với quy định tại điểm i, khoản 2, điều 60, BLTTHS 2015, bị can có quyền: “Đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu”. Quy định này là điểm mới quan trọng đảm bảo quyền cơ bản của bị can, bị cáo, là sự ghi nhận về mặt pháp lý để bị can, bị cáo thực hiện các quyền của mình một cách bình đẳng. Tuy nhiên, thực tiễn hành nghề, chúng tôi thấy rằng, việc bị can, bị cáo được trình bày một cách bình đẳng diễn biến, các tình tiết khách quan của vụ án đã là điều rất khó khăn, có những vụ án, bị can, bị cáo được định hướng sẵn để có thể trả lời. Điều này xuất phát từ tâm lý hoang mang, lo sợ khi bị tạm giam, tạm giữ, nhưng một phần cũng xuất phát từ những hạn chế của các điều tra viên. Khi tham gia hỏi cung các bị cáo, Luật sư mang giấy trắng, bút viết để có thể ghi chép lại lời khai cũng bị điều tra viên xét hỏi, vậy, cơ chế nào để đảm bảo cho các bị can, bị cáo thực hiện quyền “đọc, ghi chép bản sao tài liệu…khi có yêu cầu”, thậm chí, Luật sư xin được sao chụp các bút lục, lời khai trong quá trình điều tra nhưng cũng gặp không ít những khó khăn. Chúng tôi cho rằng, quy định này chưa thực sự được áp dụng được trong thực tiễn hoặc nếu được áp dụng thì cơ chế nào sẽ đảm bảo việc các bị can, bị cáo được thực hiện điều này.

Theo quy định tại điều 305, BLTTHS 2015 quy định: Chủ tọa phiên tòa phải hỏi kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng xem ai có yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét hay không”. Quy định này nhằm bảo đảm sự bình đẳng trước Tòa án giữa đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng trong việc giải quyết các yêu cầu, cung cấp nguồn chứng cứ cũng như đưa ra chứng cứ trực tiếp. Tuy nhiên, yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét chỉ được giải quyết tại thủ tục bắt đầu phiên tòa nhưng lại không được quy định trong phần thủ tục tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy, trong quá trình xét xử, sau khi kết thúc phần thủ tục tại phiên tòa mà người tham gia tố tụng muốn yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét thì lại không có căn cứ để hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu. Trong một số trường hợp, hội đồng xét xử cũng xem xét và quyết định tạm dừng phiên tòa để thẩm tra, xem xét vật chứng hoặc xem xét yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng có phù hợp và cần thiết hay không? Điều này không những gây ra sự lãng phí về thời gian mà còn gây tâm lý không ổn định, bức xúc cho những người tham gia tố tụng. Thực tiễn xét xử cho thấy, trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, khi phát hiện ra một số tình tiết mới (theo lời khai của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa), Luật sư có kiến nghị đề xuất để triệu tập người làm chứng hoặc yêu cầu xem xét vật chứng mới nhưng hầu hết các trường hợp Luật sư yêu cầu đều bị Hội đồng xét xử từ chối vì thấy rằng không cần thiết. Điều này không những ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và làm sáng tỏ bản chất của vụ án mà còn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc “gỡ tội”, đến kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Vì vậy, yêu cầu đặt ra ở đây là cần quy định như thế nào để Hội đồng xét xử sẽ chấp nhận yêu cầu của những người tham gia tố tụng và tiếp tục giải quyết vụ án, hay chỉ dừng lại ở quy định “bỏ lửng” khiến cho quyền bào chữa của bị cáo bị hạn chế?

Theo quy định hiện hành, thì việc xét hỏi tại phiên tòa được thực hiện chủ yếu bởi hội đồng xét xử. Việc xét hỏi nhằm làm rõ những tình tiết dùng làm chứng cứ để truy tố bị cáo lại không phải là nhiệm vụ chính của Viện kiểm sát mà phụ thuộc vào hội đồng xét xử. Quy định như trên là chưa hợp lý, vì Viện kiểm sát thực hiện chức năng buộc tội nên kiểm sát viên phải thực hiện việc xét hỏi để bảo vệ sự buộc tội đó, người bào chữa thực hiện chức năng gỡ tội, nên họ được thực hiện việc xét hỏi để bào chữa cho bị cáo. Trong khi đó, Tòa án đóng vai trò “trung gian”, chỉ xét xử và ra phán quyết thông qua đánh giá khách quan và căn cứ vào quá trình tranh tụng tại phiên tòa. Vì vậy, trách nhiệm xác định các tình tiết buộc tội thuộc về Viện kiểm sát; trách nhiệm xác định các tình tiết gỡ tội thuộc về người bào chữa bị cáo; trách nhiệm xác định đầy đủ, khách quan các tình tiết buộc tội cũng như gỡ tội thuộc về Tòa án. Cho nên, khi tiến hành thủ tục xét hỏi, hội đồng xét xử chỉ lắng nghe và chủ tọa phiên tòa chỉ giữ quyền điều hành phiên tòa, quyết định cho ai hỏi ai, duy trì thời gian hỏi và có quyền cắt các ý kiến các câu hỏi không đúng trọng tâm. Hội đồng xét xử không được có những lời lẽ khẳng định hay phủ định bất cứ một vấn đề nào mà các bên tham gia tranh tụng nêu ra, cũng như không được đánh giá, nhận xét đúng sai ngay tại phiên tòa. Bởi lẽ, chức năng của Tòa án là xét xử thông qua việc xét hỏi, nghe các bên tranh luận, hội đồng xét xử sẽ đưa ra phán quyết bằng bản án nêu rõ hành vi của bị cáo có phạm tội hay không phạm tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác. Việc hội đồng xét xử thể hiện quan điểm ngay tại phiên tòa sẽ ảnh hưởng đến việc tranh tụng giữa các bên, làm giảm hiệu quả tranh luận. Thực tiễn xét xử cho thấy, Hội đồng xét xử tập trung làm rõ các tình tiết có trong hồ sơ vụ án, sau đó, sẽ hỏi Kiểm sát viên và các luật sư có cần hỏi thêm gì không? Sau đó hội đồng xét xử sẽ điều hành và tiếp tục phiên tòa. Có những vụ án, hội đồng xét xử đã hỏi hết, kiểm sát viên thậm chí không hỏi thêm câu gì để làm rõ việc buộc tội của mình có đúng, có căn cứ hay không? Như vậy, quy định này, chúng tôi cho rằng chưa thực sự hợp lý để đảm bảo nguyên tắc tranh tụng và đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo. Với vai trò là “trung gian”, chúng tôi cho rằng, cần quy định để Kiểm sát viên, người bào chữa thực hiện chức năng “buộc tội”, “gỡ tội” một cách khách quan và toàn diện hơn nữa.

Rất quan trọng và liên quan đến quyền bào chữa, “Quyền im lặng” của người bị tạm giữ, tạm giam là “quyền con người” nhằm thể hiện sự đối xử công bằng giữa điều tra viên, các cơ quan tiến hành tố tụng có nhiều phương tiện, biện pháp đối với người bị tạm giữ, tạm giam. Khái niệm “quyền im lặng” được hiểu là: “Quyền không có một hành động gì trước sự việc đáng lẽ phải có thái độ, phải có phản ứng”. Im lặng không chỉ không nói, không lên tiếng mà còn không hành động gì. BLTTHS 2015 mặc dù chưa trực tiếp quy định quyền im lặng nhưng đã ghi nhận quyền này thông qua một số quy định tại điểm e, khoản 1, điều 58, điểm c, khoản 2, điều 59, điểm d, khoản 1, điều 60, điểm h, khoản 2, điều 61. Theo đó, các điều khoản này lần lượt ghi nhận: người bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị tạm giữ, bị can và bị cáo đều có quyền trình bày ý kiến, trình bày lời khai, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội. Như vậy, có thể hiểu người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự chủ về việc khai báo. Những gì bất lợi, họ có thể không buộc phải khai báo cũng như không buộc phải nhận mình có tội trước cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Thậm chí, ngay tại phiên tòa, bị cáo cũng được đảm bảo thực hiện quyền này. Một số vụ án xét xử gần đây đã thể hiện “Quyền im lặng” một cách hiệu quả. Tuy nhiên, thực tiễn hành nghề cho thấy, người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo hầu như không được phổ biến quyền này và không được sử dụng quyền im lặng.

3. Một số kiến nghị, đề xuất

BLTTHS năm 2015 đã chuyển hóa tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người. Ngày 01/01/2017, BLTTHS năm 2015 sẽ có hiệu lực, những quy định mới về quyền bào chữa như đã đề cập là bước tiến dài làm cơ sở cho việc thực hiện công cuộc cải cách tư pháp, đảm bảo quyền con người, quyền công dân. Chúng tôi xin đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện BLTTHS liên quan đến quyền bào chữa.

Thứ nhất, đối với việc ghi nhận đảm bảo quyền bào chữa cho người bị bắt, cần bổ sung, mở rộng thêm điều kiện để được mời hoặc nhờ người bào chữa hoặc quy định bổ sung cơ chế bảo đảm cho người bị bắt thực hiện quyền này.

Thứ hai, đối với quy định triệu tập người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét, cần quy định đầy đủ hơn trong suốt quá trình diễn ra xét xử. Ở đây, mới chỉ dừng lại ở việc thủ tục bắt đầu phiên tòa, vì vậy, cần bổ sung theo hướng trong suốt quá trình xét xử tại phiên tòa, nếu lời khai của bị cáo mâu thuẫn, có xuất hiện một số tình tiết mới chưa thể hiện trong hồ sơ vụ án, thì cả bên buộc tội và bên gỡ tội có quyền đề nghị triệu tập thêm người làm chứng hoặc đưa ra vật chứng để xem xét toàn diện và khách quan hơn. Các yêu cầu liên quan đến triệu tập thêm người làm chứng, yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét có ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án.

Thứ ba, trình tự xét hỏi quy định tại Điều 307 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần sửa đổi theo hướng: Kiểm sát viên xét hỏi trước, tiếp theo là người bào chữa, người bảo vệ quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tiến hành xét hỏi. Kiểm sát viên hỏi về các tình tiết liên quan đến việc buộc tội; người bào chữa hỏi về các tình tiết liên quan đến việc gỡ tội; người bảo vệ quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án mà mình bảo vệ. Nếu thấy tình tiết có mâu thuẫn thì hội đồng xét xử có quyền trực tiếp xét hỏi để làm rõ mâu thuẫn giữa các tình tiết.
Thứ tư, nghiên cứu và ban hành các văn bản pháp luật nhằm thực hiện các quy định về chỉ định người bào chữa, ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc hỏi cung bị can, sao chép, số hóa tài liệu trong hồ sơ vụ án hình sự, giám định tư pháp và hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
Thứ năm, bổ sung quy định khi phát hiện quá trình khởi tố, điều tra, truy tố không bảo đảm quyền bào chữa của người bị bắt, bị tạm giữa, bị can thì Tòa án không mở phiên tòa, trả hồ sơ để Viện kiểm sát khắc phục vi phạm (Điều 280, BLTTHS).
Thứ sáu, quy định cụ thể trách nhiệm của Chủ tọa phiên tòa phải bảo đảm quyền của bị cáo và người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp với Kiểm sát viên về những chứng cứ của vụ án.
Thứ bảy, cần bổ sung quy định trách nhiệm của hội đồng xét xử phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác để đánh giá khách quan, toàn diện sự thật của vụ án. Trường hợp không chấp nhận ý kiến của những người tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do và được ghi trong bản án.
 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Ngọc Anh (2006), Sổ tay pháp luật của điều tra viên, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
  2. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  3. Dương Thanh Biểu (2007), Tranh luận tại phiên Tòa sơ thẩm, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
  4. Đề án bảo vệ quyền lợi luật sư Việt Nam của Liên đoàn Luật sư Việt Nam.
  5. Trần Văn Độ, “Hoàn thiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”, tài liệu hội thảo quốc tế “Quyền con người trong tố tụng hình sự”do Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức, Thành phố Hồ Chí Minh tháng 10/2010.
  6. Phạm Hồng Hải (1999), Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
  7. Phan Trung Hoài (2012), Hành nghề luật sư trong vụ án hình sự, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
 


 

*TrưởngBan Đàotạo– Bồidưỡng, Đoànluậtsư tỉnhNghệAn

[1]M.XXtrôgôvích: “GiáotrìnhLuậttốtụnghìnhsựXô Viết”, tập 1, NxbKhoahọcM-1968, tr.196.

[2]Ph.NPhatkulin: “Buộctộivà bàochữatrongvụ ánhìnhsự”, Nxb ĐạihọcTổnghợpCadanC-1976, tr.112 (TiếngNga).

[3]Ph.NPhatkulin: “Buộctộivà bàochữatrongvụ ánhìnhsự”, Nxb ĐạihọcTổnghợpCadanC-1976, tr.111(TiếngNga).

[4]Từ điểnTiếngViệtNxb Đà Nẵng-2006, tr.38.

[5]Từ điểnTiếngViệtNxb Đà Nẵng-2006, tr.151.

[6]PhanThanhMai, “GiáotrìnhLuậttốtụnghìnhsự”, NxbTư phápHN-2006, tr.49.

[7]NguyễnNgọcChí, “GiáotrìnhLuậttốtụnghìnhsự”, Nxb ĐạihọcQuốcgiaHN-2001, tr.59

[8]Võ KhánhVinh, “GiáotrìnhLuậttốtụnghìnhsự”, NxbCôngannhândânHN-2002, tr.71.

[9]PhạmHồngHải, “Bảo đảmquyềnbàochữacủangườibịbuộctội”, NxbCôngannhândânHN-1999, tr.26, 27.

 

Tác giả: TS. Luật sư Nguyễn Trọng Hải * gửi đăng Bài Hội thảo “Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng”. Địa điểm: Hội trường A, nhà A1 Trường Đại học Vinh, thứ 7, ngày 16/12/2017.

Căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự

Căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự chính là sự kiện pháp lý.
 

Khái niệm sự kiện pháp lý

Các sự kiện pháp lý là những sự kiện xảy ra trong đời sống thực tế mà đã được pháp luật dự liệu các hậu quả pháp lý nhất định (có thể làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sư
Một sự kiện thực tế có thể làm phát sinh thay đổi, chấm dứt nhiều quan hệ pháp luật dân sự. Ví dụ như: A đâm chết B, hành vi trái pháp luật của A làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, làm phát sinh quan hệ thừa kế….
 

Phân loại sự kiện pháp lý

Các sự kiện pháp lý được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí.
* Dựa vào hậu quả pháp lý có thể phân chia sự kiện pháp lý thành sự kiện làm phát sinh, sự kiện làm thay đổi và sự kiện làm chấm dứt.quan hệ pháp luật dân sự.
+ Sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật dân sự: là những sự kiện thực tế do pháp luật quy định mà khi xuất hiện những sự kiện đó thì làm phát sinh quan hệ pháp luật dân sự. Ví dụ: A điều khiển xe ô tô gây tai nạn làm cho B bị thương. Hành vi gây tai nạn đó làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của A đối với B.
+ Sự kiện pháp lý làm thay đổi quan hệ pháp luật dân sự: là những sự kiện thực tế do pháp luật quy định mà khi xuất hiện những sự kiện đó thì làm thay đổi quan hệ pháp luật dân sự. Ví dụ: A ký hợp đồng thuê nhà ở với thời hạn 2 năm với giá 1 triệu đồng. 1 năm sau, A và B thỏa thuận lại hợp đồng thuê nhà với giá 1 triệu rưỡi và thời gian thuê thành 3 năm. Sự thỏa thuận lại giữa A và B là sự kiện pháp lý làm thay đổi quan hệ pháp luật dân sự.
+ Sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự: là những sự kiện thực tế do pháp luật quy định mà khi xuất hiện những sự kiện đó thì làm chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự.
* Dựa trên nguồn gốc phát sinh sự kiện pháp lý sự kiện pháp lý được phân thành 4 loại: hành vi pháp lý, xử sự pháp lý, sự biến pháp lý và thời hạn. Đây là cách phân loại được áp dụng phổ biến nhất.
+ Hành vi pháp lý là hành vi có ý thức của con người và được pháp luật quy định hậu quả pháp lý. Hành vi pháp lý được chia thành hai loại..:

  • Hành vi pháp lý hợp pháp: hành vi có ý thức của con người, diễn ra phù hợp với quy định của pháp luật và được pháp luật quy định hậu quả pháp lý. Ví dụ như hành vi thỏa thuận của các chủ thể trong hợp đồng làm phát sinh quan hệ pháp luật dân sự.
  • Hành vi pháp lý bất hợp pháp: hành vi có ý thức của con người, diễn ra trái với quy định của pháp luật và được pháp luật quy định hậu quả pháp lý. Ví dụ như hành vi gây thiệt hại tới sức khỏe của cá nhân khác làm phát sinh quan hệ pháp luật dân sự bồi thường thiệt hại.

+ Xử sự pháp lý được thực hiện bởi hành vi của con người nhưng hành vi đó hướng tới một mục đích nhất định, tuy nhiên theo quy định của pháp luật thì có hậu quả pháp lý phát sinh. Hậu quả pháp lý này không nằm trong ý thức của chủ thể. Ví dụ như: việc được lợi không có căn cứ pháp luật của chủ thể.
+ Sự biến pháp lý: sự xuất hiện và diễn biến của sự vật hiện tượng không phụ thuộc vào ý thức của con người như mưa, bão, lũ, động đất, sóng thần…
+ Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác. Sau thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý nhất định. Ví dụ: người bắt được gia súc đi lạc, sau khi đã thông báo công khai 6 tháng mà không ai nhân lại thì người đó có quyền sở hữu gia súc đó.

Vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp

Hiện nay, sự giao lưu giữa các nước trên thế giới ngày càng mở rộng theo xu hướng khu vực hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới. Tình hình này khiến cho các nước không chỉ bó hẹp hoạt động kinh tế của mình trong phạm vi quốc gia mà còn phải tham gia vào các hoạt động kinh tế toàn cầu hoặc khu vực nhằm tận dụng mọi thế so sánh. Khoảng thời gian gần đây, báo chí đã đề cập đến nhiều các vụ tranh chấp kinh doanh có tính chất phức tạp như: vụ kiện thương hiệu cà phê Trung Nguyên,vụ kiện chống bán phá giá cá tra tại Mỹ năm 2002, vụ kiện tôm nước ấm đông lạnh năm 2010,… mà sự thua thiệt thường nghiêng về phía doanh nghiệp không am hiểu pháp luật và thông lệ quốc tế. Chính sự giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng và phức tạp thì càng đòi hỏi phải có kiến thức pháp luật thích hợp để tham gia vào các mối quan hệ đó. Bởi vậy, bên cạnh cơ chế của nhà nước, luật sư với vai trò là những người có phẩm chất, năng lực, nắm vững và vận dụng thích ứng các quy định pháp luật đóng vai trò tối quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp.

1. Khái niệm luật sư.
Tại Việt Nam, Luật Luật sư được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 22/6/2006, trong đó Điều 2 quy định: “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức…”. Hành nghề luật sư là việc luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý bao gồm tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và làm các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

2.Vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp.

2.1. Vai trò của luật sư

Về cơ chế pháp lý, luật sư Việt Nam ra đời từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập năm 1945. Nghề luật sư chỉ được biết đến là một nghề từ năm 1987 khi Pháp lệnh tổ chức luật sư được ban hành. Với quyết định số 149/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 10/10 là ngày truyền thống Luật sư Việt Nam, nghề luật sư chính thức được tôn vinh là một nghề có bề dày truyền thống, cần được củng cố và giữ gìn. Trong nội dung các Pháp lệnh Luật sư năm 1987, năm 2001 và Luật Luật sư năm 2006 đều có các qui định khuyến khích các luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư gắn bó với doanh nghiệp, trợ giúp pháp lý cho doanh nghiệp để doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả và đúng pháp luật. Ngày 28/05/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 66/2008/NĐ-CP về Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp . Nổi bật trong thời kỳ hội nhập là Quyết định số 123/QĐ-TTg ngày 18/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển đội ngũ luật sư Việt Nam phục vụ hội nhập quốc tế. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật luật sư 2012 một lần nữa ghi nhận luật sư có thể giúp đỡ doanh nghiệp một cách toàn diện, trong tất cả các khâu hoạt động, ở mọi giai đoạn, thông qua các nghiệp vụ về tư vấn, dịch vụ pháp lý, đại diện và tham gia tố tụng.

Về phía các doanh nghiệp, hoạt động thương mại có liên quan trực tiếp đến nền kinh tế và sự thịnh vượng của quốc gia. Ở góc độ quốc gia, mối quan hệ giữa các cá nhân, tổ chức kinh doanh không chỉ thể hiện ở hoạt động trao đổi mua bán hàng hóa mà còn biểu hiện trong các giao dịch đa dạng, liên quan chặt chẽ đến hoạt động mua bán đó như giao nhận, chuyên chở hàng hóa, môi giới kí hợp đồng, bảo hiểm quốc tế, tài trợ tài chính ngắn hạn,…Ở góc độ quốc tế, quá trình tự do thương mại toàn cầu mở ra những cơ hội mới cho các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển khi tham gia vào các giao dịch quốc tế nhằm xuất khẩu hàng hóa , dịch vụ, vốn và nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, vốn cần thiết cho nước mình. Tại Việt Nam, một trong những mục tiêu của quá trình đổi mới, hội nhập, xây dựng Nhà nước pháp quyền là làm cho “dân giàu, nước mạnh” và trong quá trình này vai trò của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cơ sở sản xuất rất to lớn và quan trọng. Có thể nói, tất cả đường lối, chính sách đối nội cũng như đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta đều nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển nền kinh tế của đất nước.

Môi trường và cơ chế pháp luật ngày càng đầy đủ tạo ra những cơ sở pháp lý cần thiết để giới luật sư và giới doanh nhân cùng bắt tay thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. So với các chủ thể tham gia hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thì luật sư là đội ngũ được trang bị đầy đủ các kiến thức về pháp luật nói chung và pháp luật về doanh nghiệp nói riêng, ngoài ra đa số luật sư đều đã qua đào tạo nghề nên có nhiều kỹ năng trong việc tư vấn pháp luật. Luật sư cũng là đội ngũ tiên phong, thường xuyên theo kịp với các văn bản pháp luật mới ban hành. Vì vậy, nếu luật sư tham gia hỗ trợ pháp lý cho các doanh nghiệp sẽ đem lại hiệu quả cao, đáp ứng được phần lớn nhu cầu pháp lý của các doanh nghiệp hiện nay.

2.2. Hình thức hỗ trợ

Luật sư có thể tham gia hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp dưới rất nhiều hình thức khác nhau: tự mình tham gia; thông qua tổ chức xã hội nghề nghiệp (văn phòng luật sư, công ty luật); tham gia với tư cách thành viên của Đoàn luật sư; tham gia với tư cách chuyên gia do Hiệp hội doanh nghiệp hoặc Sở Tư pháp mời tại các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, các buổi hội thảo, tọa đàm. Cụ thể:

Một là, tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho doanh nghiệp. Cách thức hỗ trợ pháp lý này thường được các luật sư thực hiện thông qua việc phối hợp cùng với các tổ chức, như: Hiệp hội doanh nghiệp tại các tỉnh; Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ; các hiệp hội có tính chất chuyên ngành, theo lĩnh vực hoạt động (Hiệp hội da giầy, Hiệp hội dệt may,…); hoặc Sở Tư pháp tại các địa phương.

Hai là, giải đáp pháp luật cho doanh nghiệpĐây là cách thức tư vấn pháp luật tại chỗ hoặc bằng văn bản, qua điện thoại, qua mạng internet. Cách thức hỗ trợ pháp lý này có thể kết hợp với các buổi tuyên truyền, phổ biến pháp luật tại doanh nghiệp.

Ba là, hướng dẫn, đưa ra ý kiến tư vấn, giúp doanh nghiệp soạn thảo các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ. Đây là một trong những cách thức được nhiều doanh nghiệp quan tâm, bởi thông thường chỉ khi có vấn đề phát sinh liên quan đến pháp lý thì doanh nghiệp mới cần ý kiến tư vấn của luật sư.
Bốn là, tư vấn cho doanh nghiệp trong việc áp dụng đúng pháp luật.Luật sư có thể tiến hành tư vấn cho doanh nghiệp trong việc áp dụng đúng pháp luật như: tư vấn trực tiếp, tư vấn qua điện thoại, tư vấn bằng văn bản, tư vấn trực tuyến qua mạng internet,…

Năm là, cung cấp thông tin pháp lý liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cách thức này thường được luật sư thực hiện thông qua các tổ chức hành nghề luật sư của mình (văn phòng luật sư hoặc công ty luật) bằng việc đăng tải các văn bản pháp lý trên trang web của tổ chức hành nghề luật sư.

Sáu là, tham gia tranh tụng tại Tòa án hoặc thương lượng hòa giải tại cơ quan trọng tài. Luật sư với vai trò là người đại diện cho doanh nghiệp nếu có những tranh chấp không tự giải quyết được cần phải đưa ra cơ quan trọng tài hoặc Tòa án. Người đứng đầu doanh nghiệp có thể trở thành bị can, bị cáo trong vụ án hình sự nếu thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật hình sự như: trốn thuế; cố ý làm trái các qui định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng; vi phạm các qui định về quản lý và sử dụng đất đai;…Lúc này, luật sư chính là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tốt nhất cho doanh nghiệp.

2.3. Nội dung hỗ trợ

Các doanh nghiệp khác nhau có nhu cầu hỗ trợ pháp lý với những nội dung khác nhau, cụ thể:

Thứ nhất, đối với doanh nghiệp khi mới thành lập, các chủ doanh nghiệp cần được hỗ trợ để lựa chọn được loại hình kinh doanh phù hợp với khả năng, năng lực tài chính và nhu cầu của thị trường. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng cần tư vấn hỗ trợ về thủ tục thành lập doanh nghiệp, thủ tục đăng ký kinh doanh,…

Thứ hai, đối với doanh nghiệp đang hoạt động, các chủ doanh nghiệp cần được hỗ trợ để tư vấn về quản trị, điều hành doanh nghiệp, tư vấn giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, tư vấn về chia tách, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp. Nội dung cần hỗ trợ cụ thể liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: đàm phán, soạn thảo, giao kết và thực hiện hợp đồng; pháp luật về cạnh tranh; pháp luật về hải quan, phí, lệ phí; pháp luật về môi trường; pháp luật về đất đai và kinh doanh bất động sản; pháp luật về thương mại quốc tế; pháp luật về đầu tư; pháp luật về đấu thầu, xây dựng; pháp luật về lao động; pháp luật về tài chính doanh nghiệp; pháp luật về tín dụng;…

Thứ ba, đối với doanh nghiệp đang trong quá trình giải thể, phá sản. Các doanh nghiệp này rất cần được hỗ trợ pháp lý về: quy trình, thủ tục giải thể, phá sản; các nghĩa vụ pháp lý mà doanh nghiệp phải thực hiện khi giải thể, phá sản; các chủ doanh nghiệp cũng cần biết rõ về quyền đòi nợ của chủ nợ khi doanh nghiệp phá sản; các khoản thuế phải nộp trong trường hợp doanh nghiệp bị giải thể, phá sản;…

3. Thực trạng và kiến nghị

3.1. Thực trạng
Những năm qua, luật sư ở các địa phương đã tham gia bào chữa, bảo vệ, tư vấn, dịch vụ pháp lý, đại diện ngoài tố tụng. Các luật sư đã phối hợp với các Sở, ban, ngành của tỉnh thực hiện tốt các chương trình tuyên truyển giáo dục pháp luật của Sở Tư pháp, thực hiện nhiều chương trình giải đáp pháp luật trên Đài Phát thanh và Truyền hình của địa phương, tham gia đóng góp ý kiến cho các dự án luật theo yêu cầu của Đoàn Đại biểu Quốc hội… Bên cạnh những thuận lợi kể trên, cũng có không ít những khó khăn mà luật sư gặp phải khi thực hiện hoạt động hỗ trợ pháp lý, cụ thể: số luật sư còn hạn chế  là (0,66 luật sư/1 khu công nghiệp và cụm công nghiệp); lượng luật sư chuyên tư vấn cho doanh nghiệp có kiến thức chuyên môn về pháp luật doanh nghiệp, thực sự giỏi và có kinh nghiệm trong lĩnh vực này không phải nhiều; chất lượng luật sư vẫn chưa đồng đều, còn hạn chế về trình độ ngoại ngữ, trình độ am hiểu về thương mại Quốc tế và kỹ năng tư vấn, giải quyết tranh chấp thương mại Quốc tế trong khi nhu cầu cần hỗ trợ của các doanh nghiệp lại là rất lớn; hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp không phải là yêu cầu bắt buộc đối với các luật sư, cho nên nhiều luật sư không muốn tham gia vì số tiền hỗ trợ không đáng kể. Ngoài ra, tuy hiện nay điều kiện để chủ doanh nghiệp tiếp cận thông tin pháp lý, cũng như việc cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật mới đã dễ dàng hơn rất nhiều nhưng sự biến động, thay đổi của các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp cũng khiến cho nhu cầu cần được hỗ trợ pháp lý của các doanh nghiệp ngày càng trở nên bức thiết hơn.

3.2. Kiến nghị

Ở các nước phát triển, nhận sự trợ giúp pháp lý từ phía luật sư đã trở thành nhu cầu không thể thiếu của cả cá nhân và pháp nhân. Nhiều gia đình có luật sư riêng và hầu hết các doanh nghiệp đều tuyển luật sư tới làm việc cho mình hoặc ký hợp đồng với các luật sư hoặc tổ chức hành nghề luật sư trợ giúp pháp lý cho doanh nghiệp. Do vậy, ở các nước phát triển trao đổi với doanh nghiệp, người ta thường thấy ý kiến doanh nghiệp là: tôi hỏi luật sư của tôi đã. Trong khi đó, ở Việt Nam, nhiều luật sư không hiểu các doanh nghiệp đang cần gì ở mình cũng như phần lớn các doanh nghiệp chưa hiểu nghề luật sư; các luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư có thể giúp được gì cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Để thay đổi trong nhận thức làm thay đổi trong hành động, cần làm tốt một số nội dung sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động luật sư. Nhà nước hoàn thiện thể chế về luật sư hành nghề luật sư và triển khai có hiệu quả các văn bản pháp luật hiện hành về luật sư và hành nghề luật sư .

Thứ haiđổi mới nội dung, phương thức quản lý luật sư của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư. Đổi mới phương thức quản lý nhà nước về luật sư, nhanh chóng tin học hóa quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư bằng việc xây dựng phần mềm quản lý và trang web về luật sư và hành nghề luật sư trong cả nước. Phân định rõ nội dung quản lý nhà nước và phân cấp mạnh mẽ cho cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương trong việc quản lý về luật sư.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật bằng nhiều biện pháp: đổi mới hình thức, phương pháp; quan tâm bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng; thường xuyên đánh giá hiệu quả công tác;….nhằm tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục và động viên quần chúng nhân dân nói chung cũng như doanh nghiệp nói riêng chấp hành Hiến pháp và pháp luật, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thứ tư, Nhà nước và Liên đoàn Luật sư Việt Nam cần tích cực tổ chức các cuộc giao lưu, tuyên truyền, tập huấn, các hội thảo khoa học với sự tham gia của giới luật sư và giới doanh nhân ở các vùng, miền, các ngành khác nhau, vừa phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, vừa đáp ứng nguyện vọng của các luật sư và doanh nhân.

Tóm lại, luật sư với năng lực và trình độ, hiểu biết của mình về pháp luật sẽ là một trong những nhân tố tích cực giúp các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và những doanh nghiệp đóng trên địa bàn từng địa phương nói riêng thấu hiểu được tầm quan trọng của luật pháp, cũng như vai trò của việc tư vấn pháp luật trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc nắm được pháp luật sẽ tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào một sân chơi bình đẳng với tính cạnh tranh khốc liệt của thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, nơi mà các doanh nghiệp trong và ngoài nước được thỏa sức thể hiện năng lực, chứng tỏ vị thế của từng doanh nghiệp trên thương trường. Luật sư và doanh nghiệp, họ cần nhau như tất yếu trong  nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vì  mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

 

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp

Giá trị pháp lý của bản kết luận giám định
Theo quy định của pháp luật hiện hành, kết luận giám định chỉ trở thành chứng cứ chứng minh trước tòa khi kết luận đó phát sinh từ hoạt động giám định tư pháp. Đối với những kết luận giám định phát sinh không từ hoạt động giám định tư pháp, mặc dù đều do cùng một cơ quan giám định thực hiện, sẽ không trở thành chứng cứ chứng minh trước tòa. Phải chăng đã có sự phân biệt không thỏa đáng của pháp luật về vấn đề này?!
Theo quy định của Luật Giám định tư pháp năm 2012: “Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của Luật này”. Theo như quy định của Luật Giám định tư pháp năm 2012, một hoạt động giám định sẽ là hoạt động giám định tư pháp khi hội tụ đầy đủ ba điều kiện sau: (i) Chủ thể tiến hành hoạt động giám định phải là giám định viên tư pháp trong các tổ chức giám định hoặc người giám định tư pháp theo vụ việc đã được cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm; (ii) Đối tượng cần giám định phải có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, có liên quan đến giải quyết vụ án hình sự, vụ việc dân sự, vụ án hành chính do cơ quan tiến hành tố tụng đang giải quyết; (iii) Chủ thể trưng cầu giám định phải là cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc chủ thể yêu cầu giám định là cá nhân trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ chối bằng văn bản về việc yêu cầu giám định của họ.
Như vậy, nếu một hoạt động giám định nào đó chỉ thiếu một trong ba điều kiện nêu trên thì hoạt động giám định đó không phải là hoạt động giám định tư pháp.
Trong cùng một cơ quan tiến hành giám định, việc xác định một hoạt động giám định có phải là hoạt động giám đinh tư pháp hay không có ý nghĩa rất quan trọng.
Vì chỉ có kết luận giám định phát sinh trong hoạt động giám định tư pháp mới trở thành nguồn chứng cứ để sử dụng trước tòa. Còn đối với những kết luận giám định không phát sinh trong hoạt động giám định tư pháp thì không có giá trị sử dụng là chứng cứ để chứng minh trước tòa, mà chỉ có giá trị tham khảo. Vậy, vấn đề đặt ra là trong cùng một cơ quan tiến hành giám định thì có gì khác biệt giữa hoạt động giám định tư pháp và hoạt động không phải là hoạt động giám định tư pháp.
Điểm khác biệt duy nhất là ở điều kiện thứ ba, khi cơ quan tiến hành giám định tiếp nhận yêu cầu giám định của các cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là cơ quan tiến hành tố tụng hoặc người tiến hành tố tụng thì hoạt động giám định đó không phải là hoạt động giám định tư pháp, mặc dù hoạt động đó vẫn do giám định viên thực hiện theo cùng một quy trình giám định với những trang thiết bị kỹ thuật không có gì khác so với hoạt động giám định tư pháp.
Theo quy định tại Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29/07/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giám định tư pháp năm 2012 (sau đây gọi tắt là Nghị định số 85/2013/NĐ-CP), thì hoạt động đó được gọi là “dịch vụ giám định ngoài tố tụng”. Cụ thể, tại khoản 1, Điều 2 của Nghị định số 85/2013/NĐ-CP có quy định: “Tổ chức giám định tư pháp công lập thực hiện giám định tư pháp theo trưng cầu của người trưng cầu giám định, yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của Luật Giám định tư pháp năm 2012 và thực hiện dịch vụ giám định ngoài tố tụng theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức”.
Như vậy, giá trị pháp lý đối với bản kết luận giám định do cùng một tổ chức giám định thực hiện có sự khác nhau. Nếu bản kết luận giám định là sản phẩm của hoạt động giám định tư pháp thì kết luận đó gọi là kết luận giám định tư pháp và có giá trị sử dụng làm chứng cứ chứng minh trước tòa. Nếu kết luận giám định là sản phẩm của hoạt động dịch vụ giám định ngoài tố tụng thì kết luận đó không phải là kết luận giám định tư pháp, không có giá trị sử dụng làm chứng cứ chứng minh trước tòa mà chỉ có giá trị tham khảo.
Tuy nhiên, giá trị khoa học của bản kết luận giám định có sự khác biệt so với giá trị pháp lý của bản kết luận giám định. Giá trị khoa học của bản kết luận giám định theo trình tự thủ tục giám định trong tố tụng hoặc giám định ngoài tố tụng là như nhau, giữa chúng không có sự khác biệt. Vì trình độ chuyên môn của giám định viên và trình độ hiện đại của trang thiết bị kỹ thuật là những yếu tố quyết định giá trị khoa học của kết luận giám định. Giá trị khoa học của kết luận giám định không phụ thuộc vào chủ thể nào trưng cầu, yêu cầu giám định. Một tổ chức giám định được thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, thì luôn luôn gây dựng uy tín và tự chịu hậu quả trách nhiệm pháp lý về kết luận giám định của mình, do đó giá trị khoa học của bản kết luận giám định luôn được đảm bảo, hoàn toàn không phụ thuộc vào chủ thể yêu cầu giám định là ai.
Sự chưa trùng khớp giữa giá trị pháp lý và giá trị khoa học của bản kết luận giám định trong hoạt động giám định hiện nay đã gây ra sự lãng phí xã hội rất lớn. Cùng một đối tượng giám định, do cùng một tổ chức giám định thực hiện nhưng kết luận giám định về đối tượng đó lại có giá trị pháp lý khác nhau khi chủ thể yêu cầu giám định khác nhau. Quy định trên dẫn đến tình trạng cơ quan tiến hành tố tụng không sử dụng kết luận giám định trước đó khi các tổ chức, cá nhân yêu cầu giám định ngoài tố tụng. Khi thụ lý vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng lại tiếp tục ra quyết định trưng cầu giám định về cùng một đối tượng đã được tổ chức, cá nhân giám định trước đó, mặc dù vẫn biết trước kết quả giám định không có gì thay đổi. Sự lãng phí, tốn kém này do chính quy định của pháp luật giám định tư pháp hiện nay gây ra.
Chúng ta đang từng bước xây dựng một nền tư pháp hiện đại, ở đó mọi chủ thể, không phân biệt địa vị pháp lý, đều bình đẳng về việc đưa ra chứng cứ để chứng minh trước tòa. Hiện nay, việc phân biệt giá trị pháp lý của bản kết luận giám định do yếu tố chủ thể yêu cầu giám định quyết định là thực sự chưa thỏa đáng, gây lãng phí lớn cho xã hội, chưa phù hợp với định hướng xây dựng một nền tư pháp hiện đại. Vì vậy, thiết nghĩ cần phải sửa đổi quy định của pháp luật hiện hành để mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền yêu cầu giám định. Các kết luận giám định của cùng một tổ chức giám định đều có giá trị pháp lý như nhau, không phân biệt vấn đề được kết luận do cơ quan, tổ chức, cá nhân nào yêu cầu.
Để tiến tới một nền tư pháp hiện đại, công bằng và tiến bộ, thiết nghĩ cần phải sửa đổi những quy định của pháp luật hiện hành về giám định tư pháp. Trước tiên là, sửa đổi Luật Giám định tư pháp năm 2012 theo hướng cụ thể như sau: Sửa đổi khoản 1 Điều 2 Luật Giám định tư pháp năm 2012: “Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề theo yêu cầu của người trưng cầu giám định”.
Nếu khái niệm giám định tư pháp được sửa đổi như trên sẽ khắc phục triệt để những hạn chế gây lãng phí xã hội trong hoạt động giám định tư pháp hiện nay. Tức là, một hoạt động được coi là giám định tư pháp sẽ không còn phụ thuộc vào chủ thể yêu cầu giám định là ai và không bị bó hẹp trong phạm vi chỉ phục vụ cho hoạt động tố tụng. Mọi pháp nhân, cá nhân đều có quyền sử dụng kết luận giám định để giải quyết những vụ việc có liên quan, những vụ việc chưa cần thiết phải đưa vào vòng tố tụng.
Đồng thời, cần sửa đổi khoản 2 Điều 2 Luật Giám định tư pháp năm 2012 theo hướng:“Người trưng cầu giám định bao gồm cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, pháp nhân và cá nhân”. Cần bổ sung pháp nhân và cá nhân có quyền trưng cầu giám định. Tức là, việc trưng cầu giám định sẽ không bị hạn chế đối tượng. Ngoài cơ quan tố tụng ra, mọi pháp nhân, cá nhân đều có quyền trưng cầu giám định để sử dụng kết luận giám định nhằm giải quyết những vụ việc có liên quan khi vụ việc đó chưa đưa vào vòng tố tụng. Nếu vụ việc được đưa vào vòng tố tụng thì cơ quan tiến hành tổ tụng có thể sử dụng kết luận giám định đó để giải quyết vụ án hoặc có thể trưng cầu giám định lại nếu thấy việc trưng cầu giám định trước đó chưa khách quan. Việc mở rộng đối tượng được quyền trưng cầu giám định là rất cần thiết, phù hợp với nền tư pháp hiện đại, ở đó mọi người đều có quyền bình đẳng về đưa ra chứng cứ để chứng minh. Nếu mở rộng diện đối tượng trưng cầu giám định như trên sẽ không còn phân biệt thủ tục giữa “trưng cầu giám định” và “yêu cầu giám định” như hiện nay. Việc xóa bỏ gianh giới, không phân biệt giám định trong tố tụng và giám định ngoài tố tụng có ý nghĩa rất lớn. Khi đó, mọi kết luận giám định của tổ chức giám định tư pháp đều có giá trị pháp lý như nhau, không phân biệt chủ thể yêu cầu giám định là ai.
Giá trị cốt lõi của bản kết luận giám định là giá trị khoa học của bản kết luận đó. Khi có sự tương đồng giữa giá trị khoa học và giá trị pháp lý của bản kết luận giám định thì những rào cản liên quan đến hoạt động giám định sẽ được gỡ bỏ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền ngang nhau khi đưa ra chứng cứ chứng minh trước tòa thông qua bản kết luận giám định. Sửa đổi pháp luật về giám định theo hướng như trên mới thực sự góp phần hướng đến xây dựng một nền tư pháp hiện đại, phù hợp với xu hướng phát triển chung của nền tư pháp nhân loại tiến bộ.
Theo Tạp chí Dân chủ – Pháp luật