Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

Lĩnh vực quản lý đất đai là một lĩnh vực rất rộng nhưng chỉ những nội dung nào khi cơ quan quản lý nhà nước về đất đai ban hành các quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính đối với người sử dụng đất đai mà người sử dụng đất không đồng ý, và đã khiếu nại, khởi kiện đúng thủ tục pháp luật quy định thì Tòa án mới có thẩm quyền thụ lý, giải quyết.
 
Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai.
Hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của Luật Đất đai.
Quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai bao gồm nhiều loại khác nhau được các cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành, thực hiện theo quy định của Luật Đất đai.
Đối với các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính có các nội dung liên quan đến lĩnh vực quản lý đất đai sau đây, nếu việc khiếu kiện được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, đều thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND theo thủ tục tố tụng hành chính:
Quyết định hành chính trong quản lý đất đai, bao gồm:
– Quyết định hành chính về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.
– Quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư;
– Cấp hoặc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
– Quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất.
Hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu kiện là hành vi của cán bộ, công chức nhà nước khi giải quyết công việc thuộc phạm vi quy định tại những trường hợp trên.
Khi khiếu kiện hành chính liên quan đến các quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý nhà nước về đất đai cần tiến hành xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính đó. Để giải quyết vấn đề này, cần chú ý vào những vấn đề trọng tâm sau đây:
 
1. Đối với quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất:
Theo quy định tại Điều 31 Luật Đất đai năm 2003 thì căn cứ để giao đất, cho thuê đất bao gồm:
– Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
– Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất.
– Về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất: Luật Đất đai 2003 đã có những sửa đổi, bổ sung nhằm cải cách thủ tục hành chính và phân cấp nhiều hơn nữa cho Ủy ban nhân dân địa phương trong việc giao đất mà ở đó Chính phủ không thực hiện việc giao đất, cho thuê đất như quy định của Luật Đất đai năm 1993 mà phân cấp thẩm quyền này cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện để các địa phương chủ động trong việc giao đất, cho thuê đất; bổ sung quy định để Ủy ban nhân dân cấp xã cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn. Ngoài ra, đối với đối tượng được giao đất thì không chỉ có tổ chức, hộ gia đình, cá nhân như trước đây mà còn bao gồm cả cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và tùy thuộc vào từng đối tượng giao đất Luật Đất đai 2003 quy định cụ thể cơ quan nào có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất cho đối tượng đó (Điều 37 Luật Đất đai 2003). Cụ thể là:
+ Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với cơ sở tôn giáo, giao đất, cho thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài; cho thuê đất đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài.
+ Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân; giao đất đối với cộng đồng dân cư.
+ Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.
Như vậy, theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 thì khi xác định cơ quan nào (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hay Ủy ban nhân dân cấp huyện…) có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất chỉ cần căn cứ vào đối tượng được giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất để xác định. Trong khi đó, theo quy định của Luật Đất đai năm 1993 thì khi xác định cơ quan nào (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hay Ủy ban nhân dân cấp huyện…) có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, phải căn cứ vào đối tượng được giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và căn cứ vào loại đất để xác định.
 
2. Quyết định thu hồi đất:
* Về căn cứ thu hồi: Theo quy định tại Luật Đất đai 2003, Nhà nước thu hồi đất trong những trường hợp sau đây:
– Nhà nước sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế;
– Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất;
– Sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả;
– Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;
– Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;
– Đất bị lấn, chiếm trong các trường hợp: đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm; đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;
– Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;
– Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;
– Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước;
– Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết hạn;
– Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong mười hai tháng liền, đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong mười tám tháng liền; đất trồng rừng không được sử dụng trong hai mươi bốn tháng liền.
– Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn hai mươi bốn tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao trên thực địa mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép.
 
 * Về thẩm quyền thu hồi:
Tại Điều 44 Luật Đất đai năm 2003 quy định thẩm quyền thu hồi đất của Ủy ban nhân dân như sau:
1. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này;
2. Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh khi thực hiện việc thu hồi đất theo thẩm quyền của mình thì không được ủy quyền.
 
3. Về yêu cầu bồi thường thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất:
Khiếu kiện về quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến thu hồi đất thường gắn liền với yêu cầu bồi thường thiệt hại, đền bù khi bị thu hồi đất. Để đảm bảo khả năng thành công khi khiếu kiện cần căn cứ vào Luật Đất đai 2003 để tìm lời giải đáp cho yêu cầu này; Luật đã quy định một cách rõ ràng và cụ thể về những trường hợp nào thì thu hồi đất được bồi thường thiệt hại để phân biệt với những trường hợp không được bồi thường khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Cụ thể:
– Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm thu hồi.
– Trường hợp không có khu tái định cư thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền và được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước đối với khu vực đô thị; bồi thường bằng đất ở đối với khu vực nông thôn, trường hợp giá trị quyền sử dụng đất ở bị thu hồi lớn hơn đất ở được bồi thường thì người bị thu hồi đất được bồi thường đối với phần chênh lệch đó.
– Trường hợp thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất mà không có đất để bồi thường cho việc tiếp tục sản xuất thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền, người bị thu hồi đất còn được Nhà nước hỗ trợ để ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi ngành nghề, bố trí việc làm mới.
– Trường hợp người sử dụng đất được nhà nước bồi thường khi thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi giá trị nghĩa vụ tài chính chưa thực hiện trong giá trị bồi thường, hỗ trợ.
Khi khiếu kiện cần khai thác tốt những quy định này của pháp luật làm cơ sở để xem xét, đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến thu hồi đất khi cho rằng việc thu hồi đất nhưng không được đền bù hoặc không đúng với quy định của pháp luật.
 
4. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải do cơ quan có thẩm quyền phát hành. Luật Đất đai 2003 quy định: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành được cấp cho người sử dụng đất theo một mẫu thống nhất trong cả nước đối với mọi loại đất. Trường hợp có tài sản gắn liền với đất thì tài sản đó được ghi nhận trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều này khắc phục được tình trạng cùng tồn tại nhiều loại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khác nhau qua mỗi kỳ thực hiện chính sách quản lý đất đai của Nhà nước, gây khó khăn cho việc quản lý đất đai, cấp trùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhiều người, nhiều đối tượng khác nhau, gây khiếu nại kéo dài, giải quyết khiếu nại phức tạp. Trường hợp người sử dụng đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị thì không phải đổi giấy chứng nhận đó sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của luật mới.
– Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Luật Đất đai năm 2003 quy định UBND cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài; Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở.
Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không được ủy quyền cho cơ quan quản lý cấp dưới mà chỉ được ủy quyền cho cơ quan quản lý đất đai cùng cấp. Trong trường hợp ủy quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phải tuân thủ những điều kiện được ủy quyền theo quy định của Chính phủ.
– Điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tại khoản 1 Điều 2 Luật Đất đai năm 1993 mới chỉ quy định: “Người sử dụng đất ổn định, được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Do quy định không rõ ràng, cụ thể lại không có văn bản hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên có nhiều cách hiểu khác nhau dẫn đến việc áp dụng quy định này trong thực tiễn gặp rất nhiều khó khăn. Để khắc phục bất cập này, tại khoản 2 Điều 3 của Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ và tại khoản 3 Điều 1 của Nghị định số 79/2001/NĐ-CP ngày 01/11/2001 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 17/1999/NĐ-CP về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất đã quy định một số điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Luật Đất đai 2003 ngoài các điều kiện quy định trên còn quy định bổ sung nhiều điều kiện khác và các điều kiện đó được quy định cụ thể, chi tiết hơn tại Điều 50 và Điều 51. Cụ thể là:
Đối với hộ gia đình, cá nhân:
– Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:
+ Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;
+ Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;
+ Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
+ Giấy tờ về thanh lý, hòa giải nhà ở gắn liền với đất theo quy định của pháp luật;
+ Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.
– Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định như trên mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
– Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn ở miền núi, hải đảo, nay được Ủy ban nhân dân xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
– Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định trên nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
– Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
– Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định như trên nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật Đất đai này có hiệu lực thi hành, nay được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ.
– Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
Đối với cộng đồng dân cư:
– Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có các công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
+ Có đơn đề nghị xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
+ Được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất xác nhận là đất sử dụng cho cộng đồng và không có tranh chấp.
Đối với các tổ chức:
– Tổ chức đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả.
– Phần diện tích đất mà tổ chức đang sử dụng nhưng không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được giải quyết như sau:
+ Nhà nước thu hồi phần diện tích đất không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, sử dụng không hiệu quả;
+ Tổ chức phải bàn giao phần diện tích đã sử dụng làm đất ở cho Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh để quản lý; trường hợp doanh nghiệp nhà nước sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối đã được Nhà nước giao đất mà doanh nghiệp đó cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng một phần quỹ đất làm đất ở thì phải bố trí lại diện tích đất ở thành khu dân cứ trình Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có đất xét duyệt trước khi bàn giao cho địa phương quản lý.
– Đối với tổ chức kinh tế lựa chọn hình thức thuê đất thì cơ quan quản lý đất đai của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương làm thủ tục ký hợp đồng thuê đất trước khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đối với các cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
– Cơ sở tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động;
– Có đề nghị bằng văn bản của tổ chức tôn giáo có cơ sở tôn giáo đó;
– Có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất về nhu cầu sử dụng đất của cơ sở tôn giáo đó.
Tóm lại, khi khiếu kiện hành chính có liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai, đặc biệt là các khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc giao đất, thu hồi đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cần phải nắm vững các quy định của pháp luật đất đai như quy định về thẩm quyền, căn cứ, điều kiện giao đất, thu hồi đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để tư vấn cho khách hàng có hiệu quả.
 
5. Đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
– Thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Khi phát hiện nội dung ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sai sót thì Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm đính chính đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp; Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm đính chính đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp.
– Về căn cứ thu hồi đất: Việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp được thực hiện trong các trường hợp sau:
+ Thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; sạt lở tự nhiên đối với cả thửa đất; có thay đổi ranh giới thửa đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
+ Thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp thu hồi đất theo quy định tại Điều 38 của Luật Đất đai;
+ Trường hợp không thu hồi được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thông báo cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất;
+ Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền cấp giấy của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền cấp giấy của Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đối với trường hợp quy định tại khoản a và điểm b khoản này.
 
Cần lưu ý, ngoài những trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định ở trên, việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho người đang sử dụng đất ổn định được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân đã được thi hành.

Hồ sơ và trả kết quả thực hiện thủ tục hành chính về đất đai

Theo quy định tại Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của Luật Đất đai số 45/2013/QH13 thì trách nhiệm quy định hồ sơ, thời gian thực hiện và trình tự, thủ tục hành chính về đất đai được quy định tại Điều 62 như sau:
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định cụ thể về mẫu hồ sơ, thành phần hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính về đất đai quy định tại Nghị định này.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể cơ quan tiếp nhận, giải quyết thủ tục; thời gian các bước thực hiện thủ tục của từng cơ quan, đơn vị có liên quan và việc giải quyết liên thông giữa các cơ quan có liên quan theo cơ chế một cửa cho phù hợp với điều kiện cụ thể tại địa phương nhưng không quá tổng thời gian quy định cho từng loại thủ tục quy định tại Nghị định này.
 
Điều 60 Nghị định quy định cụ thể về việc nộp hồ sơ và trả kết quả thực hiện thủ tục hành chính về đất đai
1. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất được quy định như sau:
a) Sở Tài nguyên và Môi trường tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả đối với trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 59 của Luật Đất đai;
b) Phòng Tài nguyên và Môi trường tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả đối với trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 59 của Luật Đất đai.
 
2. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục đăng ký đất đai, tài sản khác gắn liền với đất; cấp, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận là Văn phòng đăng ký đất đai. Nơi chưa thành lập Văn phòng đăng ký đất đai thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh tiếp nhận hồ sơ đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện tiếp nhận hồ sơ đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư có nhu cầu nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả. Trường hợp đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất; cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Ủy ban nhân dân cấp xã phải chuyển hồ sơ đến Văn phòng đăng ký đất đai.
 
3. Địa phương đã tổ chức bộ phận một cửa để thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thực hiện thủ tục hành chính theo quy định của Chính phủ thì các cơ quan quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thông qua bộ phận một cửa theo Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
 
4. Ban Quản lý khu công nghệ cao, khu kinh tế; Cảng vụ hàng không là đầu mối nhận hồ sơ và trả kết quả thực hiện thủ tục hành chính về đất đai tại khu công nghệ cao, khu kinh tế; cảng hàng không, sân bay.
 
5. Việc trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính được thực hiện như sau:
a) Kết quả giải quyết thủ tục hành chính phải trả cho người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả giải quyết, trừ trường hợp quy định tại Điểm b Khoản này;
b) Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ tài chính liên quan đến thủ tục hành chính thì việc trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được thực hiện sau khi người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nộp chứng từ hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định; trường hợp thuê đất trả tiền hàng năm thì trả kết quả sau khi người sử dụng đất đã ký hợp đồng thuê đất; trường hợp được miễn nghĩa vụ tài chính liên quan đến thủ tục hành chính thì trả kết quả sau khi nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định được miễn nghĩa vụ tài chính;
c) Trường hợp hồ sơ không đủ điều kiện giải quyết thì cơ quan nhận hồ sơ có trách nhiệm trả lại hồ sơ và thông báo rõ lý do không đủ điều kiện giải quyết.”

Chủ thể của thủ tục hành chính

Thủ tục hành chính có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và đời sống nhân dân. Thông qua thủ tục hành chính, các cá nhân, tổ chức thực hiện được quyền lợi, nghĩa vụ của mình và đồng thời, các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước.
 
Căn cứ vào dấu hiệu quyền lực, chủ thể của thủ tục hành chính gồm chủ thể thực hiện thủ tục hành chính và chủ thể tham gia thủ tục hành chính.
Chủ thể thực hiện thủ tục hành chính: Là chủ thể sử dụng quyền lực nhà nước, nhân danh Nhà nước tiến hành các thủ tục hành chính, bao gồm các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước, tổ chức nhà nước, cá nhân được Nhà nước trao quyền quản lí trong trường hợp cụ thể do pháp luật quy định.
Chủ thể tham gia thủ tục hành chính: Là chủ thể phục tùng quyền lực nhà nước khi tham gia vào thủ tục hành chính, bao gồm các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước, các tổ chức và cá nhân. Chủ thể tham gia thủ tục hành chính có thể bằng hành vi của mình làm xuất hiện thủ tục hành chính, góp phần làm cho thủ tục hành chính được tiến hành nhanh chóng, thuận lợi nhưng các chủ thể này không thể tự mình thực hiện thủ tục hành chính vì thủ tục hành chính phải do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện.
Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan có chức năng quản lí hành chính nhà nước nên trong hầu hết các hoạt động của mình cơ quan hành chính nhà nước nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện hoạt động quản lí. Những hoạt động này được thực hiện theo thủ tục hành chính vì vậy khi đó cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể thực hiện thủ tục hành chính. Chẳng hạn, là cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật thực hiện thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thiết lập trật tự quản lý trong các lĩnh vực xã hội. Trong nhiều trường hợp, những thủ tục hành chính này được cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp thực hiện. Cán bộ, công chức khi đó là chủ thể thực hiện thủ tục hành chính. Trong một số trường hợp, cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức của cơ quan hành chính nhà nước cũng là chủ thể tham gia thủ tục hành chính. Chẳng hạn, là chủ thể tham gia thủ tục thanh tra, kiểm tra khi là đối tượng thanh tra, kiểm tra; là chủ thể tham gia thủ tục khiếu nại khi hành vi hành chính, quyết định hành chính của họ bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khiếu nại lên cấp trên.
Cơ quan quyền lực nhà nước, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân mặc dù không có chức năng quản lí hành chính nhà nước nhưng để hoạt động một cách bình thường các cơ quan đó phải tiến hành nhiều hoạt động quản lí nội bộ. Các hoạt động này tuân theo thủ tục hành chính trong đó các chủ thể trên và các các bộ, công chức trong các cơ quan này là chủ thể thực hiện thủ tục hành chính. Ngoài ra, các cơ quan đó còn có quyền quản lí hành chính nhà nước trong trường hợp cụ thể như Thẩm phán chủ tọa phiên tòa là chủ thể thực hiện thủ tục xử phạt vi phạm hành chính khi xử phạt người có hành vi cản trở, gây rối trật tự tại phiên tòa. Khi đó thẩm phán chủ tọa phiên tòa là chủ thể thực hiện thủ tục hành chính. Các chủ thể trên có thể là chủ thể tham gia thủ tục hành chính  như tham gia thủ tục cấp phép khi xin cấp phép xây dựng, giấy phép lưu hành phương tiện vận tải của cơ quan.
Tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế hầu hết là chủ thể tham gia thủ tục hành chính.  Ví dụ, tham gia thủ tục xin phép thành lập, xin phép tiến hành một số hoạt động như hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hay khi bị xử phạt vi phạm hành chính. Ngoại lệ, một số tổ chức là chủ thể thực hiện thủ tục hành chính trong một số trường hợp mà pháp luật quy định như các tổ chức chính trị – xã hội được thực hiện thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật khi phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản liên tịch.
Cá nhân bao gồm công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch thường là chủ thể tham gia thủ tục hành chính như thủ tục đăng ký sở hữu xe, đăng ký giấy khai sinh. Nhưng cá nhân cũng có thể là chủ thể thực hiện thủ tục hành chính như người chỉ huy tàu bay, tàu biển được thực hiện thủ tục tạm giữ người có hành vi vi phạm hành chính trên tàu bay, tàu biển khi các phương tiện đó đã rời khỏi sân bay, bến cảng.
 
Sự phân chia thành chủ thể thực hiện thủ tục hành chính và chủ thể tham gia thủ tục hành chính chỉ mang tính chất tương đối bởi khi xem xét trong mỗi thủ tục hành chính cụ thể thì chủ thể đó sẽ có tư cách khác nhau dựa theo quy định của pháp luật. Cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức của cơ quan hành chính nhà nước; cơ quan quyền lực nhà nước, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân; tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế; cá nhân tùy trường hợp có thể là chủ thể thực hiện thủ tục hành chính hoặc là chủ thể tham gia thủ tục hành chính.

Thủ tục thành lập chi nhánh công ty

Bạn muốn mở rộng kinh doanh, phát triển thương hiệu của mình? Thành lập chi nhánh công ty là công việc được nhiều doanh nghiệp lựa chọn. Bởi mở rộng mạng lưới kinh doanh là một trong những nhu cầu thường thấy của doanh nghiệp để phù hợp hơn với tình hình kinh doanh của thị trường, khách hàng và chính bản thân doanh nghiệp. Thấu hiểu được nhu cầu thiết thực đó,  sau đây Văn phòng luật sư Hoàng Hưng cung cấp dịch vụ tư vấn làm thủ tục thành lập chi nhánh uy tín tại Hà Nội.
 

Xem thêm: Một số lưu ý trước khi thành lập công ty cổ phần

 

1. Hồ sơ thành lập chi nhánh công ty:

– Thông báo thành lập chi nhánh của doanh nghiệp
– Quyết định của Hội đồng thành viên (đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên, chủ tịch công ty (đối với công ty TNHH 1 thành viên) hoặc của Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần, của các thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh về việc thành lập chi nhánh của doanh nghiệp
– Biên bản họp về việc thành lập chi nhánh
– Quyết định bổ nhiệm người đứng đầu chi nhánh
– Chứng minh nhân dân (hộ chiếu) của người đứng đầu chi nhánh
– Đối với chi nhánh kinh doanh ngành nghề phải có chứng chỉ hành nghề: Chứng chỉ hành nghề của người đứng đầu chi nhánh hoặc của cá nhân khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành
– Điều lệ công ty
– Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) – bản sao hợp lệ
Số lượng bộ hồ sơ: 01
 

2. Thủ tục thành lập chi nhánh công ty

  • Bước 1: Doanh nghiệp chuẩn bị hồ sơ đầy đủ theo quy định.
  • Bước 2: Sau khi đầy đủ hồ sơ quý khách sẽ đến nộp hồ sơ tại Phòng Đăng ký kinh doanh
  • Bước 3: Phòng Đăng ký kinh doanh kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ, trả Giấy biên nhận và giải quyết hồ sơ của doanh nghiệp.

Sau khi nhận được hồ sơ hợp lệ của doanh nghiệp, Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nhập thông tin vào Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia để yêu cầu mã số chi nhánh, sau đó cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh.
Trong trường hợp doanh nghiệp lập chi nhánh tại tỉnh, thành phố khác nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính thì trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản tới Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính để bổ sung vào hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và được cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
 
Trên đây là thông tin về thủ tục thành lập chi nhánh. Mọi thông tin, khó khăn, vướng mắc Quý khách hàng vui lòng liên hệ với Văn phòng luật sư Hoàng Hưng để được tư vấn và hỗ trợ chi tiết.

Một số lưu ý trước khi thành lập công ty cổ phần

Việc thành lập công ty Cổ phần là một quá trình phức tạp, mất khá nhiều thời gian và công sức. Bởi vậy bạn nên tìm hiểu kĩ về các vấn đề pháp lí liên quan đến thành lập công ty. Và để dễ dàng cho việc tiếp cận thì Văn phòng luật sư Hoàng Hưng xin lưu ý cho bạn một số vấn đề trước  khi thành lập công ty cổ phần như sau:
 

Một số lưu ý trước khi thành lập công ty cổ phần

1. Bạn cần xác định được ngành nghề kinh doanh là gì?
Đó là việc làm quan trọng không thể bỏ qua, vì ngoài thủ tục đăng kí kinh doanh thông thường thì một số ngành nghề đòi hỏi phải có chứng chỉ hành nghề, phải đáp ứng một số điều kiện đặc thù nhất định mà luật định. Hiện nay pháp luật quy định 3 loại ngành nghề kinh doanh chính mà đòi hỏi nhà đầu tư phải thỏa mãn thêm một số yêu cầu với việc kinh doanh, đó là:

  • Các ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Với các ngành, nghề hoạt động kinh doanh có điều kiện thì tùy từng ngành, nghề kinh doanh mà công ty sẽ được yêu cầu như: Xin giấy phép kinh doanhdo cơ quan có thẩm quyền cấp cho ngành kinh doanh đó hay phải đáp ứng các quy định về tiêu chuẩn vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm; quy định về phòng cháy, chữa cháy, trật tự xã hộị….

  • Các ngành nghề kinh doanh có vốn pháp định:

Đối với từng ngành nghề cụ thể cần quy định rõ mức vốn pháp định để thành lập doanh nghiệp. Mức vốn pháp định được xác định theo từng ngành nghề, kinh doanh cụ thể, không áp dụng cho từng loại hình doanh nghiệp và được thông qua bởi các văn bản dưới luật do cơ quan nhà nước ban hành.

  • Các ngành nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề

Tùy theo ngành nghề kinh doanh mà chủ sở hữu hay người quản lí công ty cần có chứng chỉ hành nghề. Do đó, việc xác định ngành nghề kinh doanh là rất quan trọng cho các nhà đầu tư. Nhà đầu tư phải chắc chắn rằng mình có thể thỏa mãn các điều kiện pháp lý để có thể xin được giấy chứng nhận đăng ký kinh.
2. Xác định nguồn vốn điều lệ
Các nhà đầu tư cũng cần xác định rõ loại tài sản nào mà nhà đầu tư sẽ dùng để góp vốn thành lập công ty. Riêng đối với tài sản góp vốn không phải là tiền Việt Nam đồng, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng thì cần phải được các chuyên gia, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp để xác định giá, làm cơ sở cho việc góp vốn và hạch toán kế toán, thuế, báo cáo tài chính của công ty.
Các nhà đầu tư cần trao đổi để thống nhất phương thức và tổ chức định giá trước khi thành lập công ty và có thể đưa vào trong hợp đồng hoặc thảo thuận thành lập công ty. Việc này nhằm tránh được mâu thuẫn khi có tranh chấp xảy ra.
Doanh nghiệp được tự đưa ra mức vốn điều lệ. Tuy nhiên, không nên đưa ra mức thực tế không có thật bởi nếu bị phát hiện thì doanh nghiệp sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Pháp Luật.
3. Đặt tên cho công ty
Tên công ty là thương hiệu riêng có thể mang đến thành công hay thất bại cho công ty. Hiện tại luật pháp cho phép đặt tên cho công ty có thể là tên tiếng Việt, tên tiếng nước ngoài (nếu có), tên viết tắt.
Tên tiếng Việt của công ty cổ phần bao gồm hai thành tố là “loại hình doanh nghiệp” và “tên riêng”
Khi đặt tên công ty cần kiểm tra tên công ty đã tồn tại hay chưa? Tên công ty không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với công ty khác đã đăng ký trên cùng địa bản tỉnh, thành phố.
4. Cần xác định địa điểm kinh doanh của công ty
Địa điểm kinh doanh của công ty bao gồm địa điểm trụ sở chính của công ty thành lập và cả địa điểm của các cơ sở kinh doanh của công ty.
Trụ sở chính của doanh nghiệp là địa điểm liên lạc, giao dịch của doanh nghiệp; phải ở trên lãnh thổ Việt Nam, có địa chỉ được xác định gồm số nhà, tên phố hoặc Tên xóm, phường, thị trấn, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; số điện thoại, số fax và thư điện tử (nếu có).
Trong trường hợp nơi đặt trụ sở chưa có số nhà hoặc chưa có tên đường thì phải có xác nhận của địa phương là địa chỉ đó chưa có số nhà, tên đường nộp kèm theo hồ sơ đăng ký kinh doanh.
5. Hợp đồng hoặc thỏa thuận thành lập công ty cổ phần
Hợp đồng hoặc thỏa thuận thành lập công ty là hết sức quan trọng và cần thiết đối với công ty  cổ phần do có  nhiều nhà đầu tư tham gia. Tuy nhiên, ngay cả với những trường hợp hồ sơ đăng ký kinh doanh không có yêu cầu thì các nhà đầu tư cũng nên lập hợp đồng hoặc thỏa thuận thành lập công ty để có thể xác định quyền và nghĩa vụ của từng nhà đầu tư, tránh những tranh chấp không đáng có sau này.
Hợp đồng hoặc thỏa thuận này sẽ bao gồm những quyền và nghĩa vụ của từng bên trong quá trình chuẩn bị thành lập công ty cho đến khi bắt đầu tiến hành đăng ký kinh doanh và ở giai đoạn công ty mới thành lập, xử lý các trường hợp công ty không thể thành lập được.
 

Một số lưu ý sau khi thành lập công ty cổ phần: 

1. Công bố nội dung đăng ký kinh doanh
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thành lập công ty cổ phần, doanh nghiệp phải thông báo công khai nội dung đăng ký kinh doanh trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia.
Nội dung công bố bao gồm các nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và các thông tin về:

  • Ngành, nghề kinh doanh;
  • Danh sách cổ đông sáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài.

2.  Khắc dấu và đăng ký mẫu dấu
Doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu. Trước khi sử dụng, doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
3. Đăng ký mã số thuế
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải liên hệ Cục thuế cấp tỉnh xin mẫu hồ sơ đăng ký mã số thuế, làm hồ sơ và nộp tại Cục thuế.
Nếu doanh nghiệp không đăng ký mã số thuế trong thời hạn 1 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì được cơ quan đăng ký kinh doanh có quyền thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
4. Đăng ký mã số xuất nhập khẩu
Trong trường hợp doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu phải đăng ký mã số xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan cấp tỉnh nơi doanh nghiệp có trụ sở chính.
Hồ sơ đăng ký gồm: Giấy chứng nhận đăng ký mã số thuế; Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Tờ khai đăng ký mã số xuất nhập khẩu. Trong thời hạn tối đa 3 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan hải quan nhận đủ giấy tờ hợp lệ, doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký mã số xuất nhập khẩu.
5. Gắn tên doanh nghiệp
Doanh nghiệp phải gắn tên doanh nghiệp tại trụ sở chính và tại chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh.
6. Thông báo thời gian mở cửa
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải thông báo thời gian mở cửa tại trụ sở chính với cơ quan đăng ký kinh doanh.
7. Giấy phép con
Đối với những ngành nghề kinh doanh mà pháp luật quy định phải có giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh,… doanh nghiệp phải xin phép và chỉ được hoạt động sau khi được cơ quan có thẩm quyền cấp phép.
8. Thực hiện góp vốn theo cam kết
Các cổ đông sáng lập có nghĩa vụ thanh toán đủ số cổ phần cam kết mua trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
9. Sổ đăng ký cổ đông
Doanh nghiệp phải lập và lưu giữ sổ đăng ký cổ đông.
10. Thông báo về tiến độ góp vốn
Công ty cổ phần phải thông báo việc góp vốn cổ phần đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
11. Thành lập Ban kiểm soát
Công ty cổ phần có trên 11 cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát.
Hi vọng với những lưu ý khi thành lập công ty cổ phần mà Văn phòng luật sư Hoàng Hưng nêu trên, Quý Khách sẽ có sự chuẩn bị kĩ lưỡng giúp cho việc tiến hành đăng ký kinh doanh được thuận lợi hơn và tránh sự từ chối hoặc yêu cầu bổ sung và chỉnh sửa từ cơ quan đăng ký kinh doanh, tiết kiệm được thời gian, công sức và tiền bạc để công ty có thể nhanh chóng đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Các quy định về việc phân chia tài sản khi ly hôn

Văn phòng luật sư Hoàng hưng nêu một số quy định cần nắm rõ về việc phân chia tài sản khi ly hôn
 
Thứ nhất, là về nguyên tắc phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn, so với luật cũ, Luật hôn nhân và gia đình 2014, bổ sung một nguyên tắc rất quan trong trong việc phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn là tính đến việc xét lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng.
 

Thứ hai, quy định mới về giải quyết quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn

Vấn đề này được quy định tại Điều 60 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Theo đó, trừ trường hợp giữa vợ chồng với người thứ ba có thỏa thuận khác, thì sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực . Trường hợp tranh chấp liên quan đến trách nhiệm liên đới của vợ chồng theo Điều 27, về các nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng theo Điều 37, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng theo Điều 45 thì giải quyết theo Bộ luật dân sự.

Thứ ba, quy định mới về quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn.

Đây là một trong những điểm mới nổi bật của Luật hôn nhân và gia đình 2014 . Quyền lưu cư được hiểu một cách đơn giản có nghĩa là tiếp tục được ở, cư trú. Quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn có nội dung là: Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng đưa vào sử dụng trong hôn nhân thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; Trong trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì có quyền lưu cư trong 6 tháng kể từ ngày chấm dứt hôn nhân, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Thứ tư, quy định mới về chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh. Theo Điều 64 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì nếu vợ, hoặc chồng đang thực hiện kinh doanh có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, thì khi chia tài sản khi ly hôn, có quyền được nhận tài sản đó  và thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng. Trừ trường hợp pháp luật kinh doanh có quy định khác.Có thể nói, việc phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn là một trong những vấn đề rất được quan tâm, đây là một trong vấn đề hay dẫn đến tranh chấp giữa các bên trong quá trình ly hôn, vì thế việc bổ sung và quy định mới các quy định về xác định, phân chia tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn có ý nghĩa quan trọng, góp phần hạn chế tranh chấp, bảo đảm quyền và lợi ích của các bên đương sự và bên có liên quan.

Trân trọng!

Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

Hòa giải (conciliation) là một phương thức giải quyết tranh chấp lao động được nhiều nước trên thế giới sử dụng một cách hiệu quả. Hòa giải giải quyết tranh chấp lao động có thể do các chủ thể khác nhau thực hiện.
Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012, hòa giải giải quyết tranh chấp lao động do hòa giải viên lao động, Hội đồng trọng tài lao động và tòa án nhân dân thực hiện ở các giai đoạn giải quyết khác nhau. Nhìn chung, trong quy trình giải quyết các tranh chấp lao động (bao gồm cả tranh chấp lao động cá nhân, tranh chấp lao động tập thể về quyền và tranh chấp lao động tập thể về lợi ích) đều phải trải qua thủ tục hòa giải, vì lợi ích của hòa giải mang lại cho các bên tranh chấp và cho xã hội.
Điều 201 Bộ luật Lao động quy định về trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động.
–  Về nguyên tắc chung, việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết. Tuy nhiên, đối với một số tranh chấp lao động cá nhân do cần được giải quyết một cách dứt điểm càng nhanh càng tốt, có thể bỏ qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động, bao gồm:
+ Tranh chấp lao động cá nhân về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt họp đồng lao động.
+ Tranh chấp lao động cá nhân về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động.
+ Tranh chấp lao động cá nhân giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động.
+ Tranh chấp lao động cá nhân về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.
+ Tranh chấp lao động cá nhân về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Cần lưu ý khi áp dụng quy định tại Khoản 1 Điều 201 Bộ luật Lao động năm 2012 là đối với các tranh chấp lao động cá nhân nêu trên, trước khi lựa chọn toà án giải quyết thì các bên tranh chấp vẫn có quyền yêu cầu hòa giải viên lao động tiến hành hòa giải.
– Đối với các tranh chấp lao động cá nhân không thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 201 và các tranh chấp lao động cá nhân quy định tại Khoản 1 Điều 201 Bộ luật Lao động, khi các bên có yêu cầu hòa giải viên lao động giải quyết thì hòa giải viên lao động (được Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội phân công) có trách nhiệm hòa giải trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải. Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động giải quyết được thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 202 Bộ luật Lao động.
Theo pháp luật cũng như yêu cầu thực tiễn của việc giải quyết tranh chấp lao động qua hoà giải, 05 ngày làm việc là khoảng thời gian hòa giải viên lao động phải thu thập tài liệu, chứng cứ, nghiên cứu hồ sơ, chuẩn bị phương án hòa giải và chuẩn bị các điều kiện khác để tổ chức phiên họp hòa giải chính thức giữa các bên. Tuy nhiên, Bộ luật không quy định cụ thể về các vấn đề: liệu hòa giải viên lao động có quyền gặp gỡ các bên tranh chấp trước khi mở phiên họp hòa giải hay không? Có được xin ý kiến chỉ đạo của Trưởng Phòng Lao động — Thương binh và Xã hội khi xây dựng phương án hòa giải hay không?… Vì vậy, có thể cho rằng, nếu đây là những việc cần thiết cho việc giải quyết tranh chấp lao động và pháp luật không có quy định cấm thì hòa giải viên lao động vẫn nên và có quyền thực hiện.
– Hòa giải viên lao động phải tổ chức và kết thúc phiên họp hòa giải tranh chấp lao động trong thời gian nói trên. Phiên họp hoà giải phải có mặt hai bên tranh chấp hoặc đại diện theo ủy quyền của họ. Trường hợp một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành.
Quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động. Vì vậy, trước hết hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn để các bên tự thương lượng. Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành. Chỉ khi các bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động mới đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét, quyết định. Neu hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành. Nếu hai bên không chấp nhận phương án hoà giải thì hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải không thành.

Tư vấn giành quyền nuôi con khi ly hôn

Thưa luật sư, tôi và chồng kết hôn tại Hải Dương, hiện tại chồng tôi đang sống ở Hải Phòng và tôi sống ở Hà Nội. Chúng tôi có một con gái được 23 tháng, tôi đang làm công nhân tại một xưởng may. Vậy bây giờ muốn ly hôn thì tôi phải nộp đơn xin ly hôn ở đâu? Và tôi có thể được nuôi con hay không nếu như chồng tôi nhất định đòi giành nuôi con.

 
Trả lời: Cám ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho đội ngũ luật sư Văn phòng luật sư Hoàng Hưng. Sau khi đã nghiên cứu trường hợp của bạn, chúng tôi xin đưa ra quan điểm và tư vấn cho bạn như sau:
 
Thứ nhất, về tòa án có thẩm quyền giải quyết ly hôn
Căn cứ khoản 1, điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về thẩm quyền theo lãnh thổ:
 

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.

 
Về thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu tại khoản 1, điều 40, BLTTDS 2015:
 

1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:
a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;
b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;
c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;
d) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;
đ) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;
e) Nếu tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi người sử dụng lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú, làm việc giải quyết;
g) Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;
h) Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;
i) Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có một trong các bất động sản giải quyết.

 
Như vậy, nếu bạn ly hôn thuận tình bạn có quyền thỏa thuận với chồng để lựa chọn tòa án giải quyết (Tòa án nơi vợ hoặc chồng đang cư trú hoặc tòa án nơi hai vợ/chồng đang sinh sống). Tức bạn có thể thỏa thuận lựa chọn Tòa án nơi đăng ký thường trú của một trong hai bên hoặc tòa án nơi hai vợ chồng bạn hiện đang sinh sống. Nếu ly hôn đơn phương theo luật tố tụng dân sự bạn phải nộp đơn xin ly hôn tại nơi bị đơn có hộ khẩu thường trú hoặc nơi cuối cùng bị đơn lưu trú trong thời hạn 06 tháng gần nhất (Tức ở nơi chồng bạn đăng ký thường trú hoặc tại Hải Phòng nếu hai đã đăng ký tạm trú tại đây).
 
Thứ hai, vấn đề giành quyền nuôi con
Theo khoản 3 điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Trường hợp con chung của hai bạn được 23 tháng tuổi như vậy người vợ có lợi thế hơn khi giành quyền nuôi con. Nhưng, bạn vẫn cần chứng minh rằng bạn có đủ các điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Thủ tục ly hôn thuận tình trong hôn nhân gia đình

Ly hôn thuận tình là trường hợp ly hôn theo yêu cầu của cả hai vợ chồng khi đã thỏa thuận được tất cả những vấn đề quan hệ vợ chồng, quyền nuôi con,chia tài sản. Tòa án sẽ thực hiện theo thủ tục thuận tình ly hôn và ra quyết định công nhận ly hôn thuận tình.

 

Xem thêm: Thủ tục ly hôn đơn phương

 

Quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì :

Trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn,nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận ly hôn thuận tình , nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn

Theo đó, điều kiện để yêu cầu công nhận ly hôn thuận tình là vào thời điểm viết đơn, ký đơn, gửi đơn, vợ chồng cùng tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc :

  • Đồng ý chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa hai bên.
  • Quyền trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng .
  • Tài sản chung và nợ chung.

Bên cạnh đó, nội dung thỏa thuận của vợ chồng cũng được xem xét sao cho bảo đảm được quyền lợi chính đáng của người vợ và người con khi ly hôn.Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu xin ly hôn thì Toà án vẫn phải tiến hành hoà giải. trường hợp Toà án hoà giải không thành thì Toà án lập biên bản về việc tự nguyện ly hôn và hoà giải đoàn tụ không thành.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản nếu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng không có sự thay đổi ý kiến cũng như Viện Kiểm sát không có phản đối sự thoả thuận đó, thì Toà án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không phải mở phiên toà khi có đầy đủ các điều kiện sau đây :

  • Hai bên thật sự tự nguyện ly hôn
  • Hai bên đã thoả thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con
  • Sự thoả thuận của hai bên về tài sản và con trong từng trường hợp cụ thể này là bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con.

Quyết định công nhận ly hôn thuận tình có hiệu lực pháp luật ngay, các bên không có quyền kháng cáo, Viện Kiểm sát không có quyền kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.

Thẩm quyền giải quyết thuận tình ly hôn

Vợ và chồng ly hôn đồng thuận với nhau thì hai bên có quyền lựa chon nộp đơn ở Tòa án nhân dân cấp huyện/cấp tỉnh nơi vợ hoặc chồng đang cư trú.

Về thẩm quyền của tòa án được quy định tại Bộ Luật tố tụng dân sự như sau:

  • Thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Là tất cả các yêu cầu về đồng thuận ly hôn, về hôn nhân và gia đình.Trừ những vụ việc thuộc thẩm quyền tòa án cấp tỉnh

  • Thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để giải quyết.

Hồ sơ yêu cầu thuận tình ly hôn :

  • Đơn xin ly hôn thuận tình .
  • Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính).
  • CMND và hộ khẩu (bản sao y chứng thực).
  • Giấy khai sinh các con (bản sao).
  • Các giấy tờ khác chứng minh sở hữu tài sản

Các bước tiến hành thủ tục đồng thuận ly hôn :

  • Bước 1: Nộp hồ sơ yêu cầu về việc xin ly hôn tại TAND có thẩm quyền.
  • Bước 2: Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ, Tòa án kiểm tra đơn và thông báo nộp tiền tạm ứng án phí.
  • Bước 3: Nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án.
  • Bước 4: Tòa án sẽ triệu tập và tiến hành thủ tục theo quy định pháp luật để xem xét ra Quyết định công nhận ly hôn.

Thời gian giải quyết thủ tục ly hôn thuận tình :

  • Thời gian từ 2 tháng đến 03  tháng.
  • Thời gian làm thủ tục ly hôn thuận tình nhanh là 30 ngày.

Lưu ý khi thực hiện thủ tục ly hôn đồng thuận :

  • Cần xác định là đã thống nhất tất cả các vấn đề quyền nuôi con, cấp dưỡng, chia tài sản
  • Có thể làm theo hai cách quy trình: quy trình yêu cầu Tòa giải quyết việc dân sự hoặc quy trình Tòa giải quyết vụ án dân sự.

Thủ tục ly hôn đơn phương

Ly hôn đơn phương là chỉ có một bên vợ hoặc chồng đồng ý ly hôn, tự nguyện ký vào Đơn xin ly hôn. Đơn xin ly hôn phải có xác nhận của UBND cấp phường về nguyên nhân ly hôn, mâu thuẫn vợ chồng. Trước khi xác nhận, tổ hòa giải ở cấp phường sẽ tiến hành hòa giải 3 lần.
 

Xem thêm: Thủ tục ly hôn thuận tình trong hôn nhân gia đình

 
Theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, tòa án khi tiếp nhận đơn xin ly hôn đơn phương sẽ tiến hành hòa giải tại tòa. Nếu hòa giải không thành, tòa án sẽ tiến hành thủ tục ly hôn theo quy định của pháp luật. Căn cứ chính để tòa giải quyết cho ly hôn đơn phương là: tình trạng hôn nhân trầm trọng, không thể kéo dài.
 

1.Hồ sơ, thủ tục ly hôn đơn phương được quy định như sau:

– Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);
– Chứng minh nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);
– Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực);
– Sổ hộ khẩu gia đình (bản sao có chứng thực);
– Đơn xin ly hôn (Theo mẫu) .
2.Nơi nộp hồ sơ :  Tòa án nhân dân quận, huyện nơi thường trú của người ký đơn xin ly hôn.

3.Thời gian giải quyết ly hôn:

Trường hợp vợ hoặc chồng xin ly hôn đơn phương, theo quy định của Điều 179 thì thời gian chuẩn bị xét xử vụ án ly hôn tối đa là 04 tháng, nếu vụ án có tính chất phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì được gia hạn nhưng không quá 02 tháng. Trong thời hạn 01 tháng kế từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trong trường hợp có lý do chính đáng, thời hạn này là 02 tháng. Trong thực tế, thời gian giải quyết vụ án ly hôn có thể ngắn hơn hoặc kéo dài hơn thời gian mà luật qui định tùy thuộc vào tính chất của từng vụ án .
 

4.Vấn đề nuôi con sau ly hôn:

Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về nguyên tắc, con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác. Nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
 Bạn thể xem thêm về bài viêt :  Giành quyền nuôi con khi ly hôn
 

5.Vấn đề phân chia tài sản khi ly hôn:

Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.
Việc chia tài sản chung khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết. Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:
a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.
Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.