Một người có thể bị áp dụng hai biện pháp ngăn chặn?

Để kịp thời ngăn chặn tội phạm và phòng ngừa khi người phạm tội có dấu hiệu sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc để đảm bảo thi hành án thì Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đã quy định các biện pháp ngăn chặn cho phép người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng 08 biện pháp ngăn chặn: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp; bắt; tạm giữ; tạm giam; bảo lĩnh; đặt tiền để bảo đảm; cấm đi khỏi nơi cư trú; tạm hoãn xuất cảnh.
 

Trong thực tiễn từ trước đến nay, các cơ quan tiến hành tố tụng thường chỉ  áp dụng một trong số các biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự, mà không đồng thời áp dụng hai biện pháp ngăn chặn đối với một người. Nhiều ý kiến cho rằng, một người phạm tội không thể bị áp dụng cùng lúc hai biện pháp ngăn chặn. Ví dụ như: không thể vừa áp dụng biện pháp tạm giữ, vừa áp dụng biện pháp tạm giam, hoặc vừa áp dụng biện pháp tạm giam, vừa áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Tuy nhiên, kể từ khi Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 có hiệu lực thi hành đến nay đã phát sinh một số vấn đề cần phải được hướng dẫn. Trong đó có việc áp dụng hai biện pháp ngăn chặn cùng một lúc đối với một người phạm tội. Trường hợp sau đây là một ví dụ:
 

Ngày 12/9/2017, Lê Thị T, trú tại tỉnh KG đã cùng Đoàn Thanh H trú tại tỉnh ĐL mua bán và vận chuyển trái phép 28,129m3 gỗ từ nhóm III đến nhóm VIII của ông Đoàn Văn L. Khi vận chuyển đến địa phận huyện E, tỉnh ĐL thì bị lực lượng Công an tỉnh phát hiện, kiểm tra, thu giữ và chuyển cho Công an huyện E xử lý. Ngày 26/02/2018, Cơ quan CSĐT Công an huyện E ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, theo quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 1999.
Ngày 16/3/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E ra Quyết định khởi tố bị can đối với Lê Thị T và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cùng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh. Cơ quan CSĐT Công an huyện E đã có văn bản đề nghị VKSND huyện E phê chuẩn Quyết định khởi tố bị can và thông báo về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn cho VKSND huyện E.

 
Trong vụ án này, Lê Thị T phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, mặc dù không cư trú tại địa phương nhưng Lê Thị T có nơi cư trú rõ ràng tại tỉnh xã CD, huyện PG, tỉnh KG và không thuộc các trường hợp bị áp dụng biện pháp tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Cơ quan CSĐT Công an huyện E đã ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với T.
Lý giải cho việc áp dụng cùng lúc hai biện pháp ngăn chặn đối với một người phạm tội là vì Lê Thị T không cư trú tại địa phương nên để đảm bảo công tác điều tra CQĐT đã ra Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với T, hạn chế tự do đi lại đối với T và thuận tiện trong quá trình làm việc với T. Bên cạnh đó, để phòng ngừa việc T vi phạm Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bỏ trốn, xuất cảnh ra nước ngoài thì cần phải áp dụng thêm biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với T, vì tỉnh KG là tỉnh có đường biên giới trên đất liền và trên biển giáp với quốc gia khác nên việc xuất cảnh ra nước ngoài là không khó, hơn nữa huyện E, tỉnh ĐL và huyện PQ, tỉnh KG có khoảng cách địa lý rất xa nên việc quản lý, giám sát đối tượng rất khó khăn.
Từ vụ án trên có thể thấy một số bất cập trong quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 như sau:
Thứ nhất, là về căn cứ tạm giam, theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì để xác định như thế nào là không có nơi cư trú rõ ràng đến nay vẫn chưa có hướng dẫn, mà theo Luật cư trú thì nơi cư trú của Công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống, là nơi công dân thường trú hoặc tạm trú. Vì vậy, như trường hợp trên thì Lê Thị T hoàn toàn có nơi cư trú hợp pháp. Nhưng nơi cư trú hợp pháp và nơi cư trú rõ ràng khác nhau như thế nào thì chưa có hướng dẫn và cũng không thể coi việc bị can không cư trú tại địa phương là không có nơi cư trú rõ ràng.
Thứ hai, là về việc áp dụng cùng lúc hai biện pháp ngăn chặn đối với một người thực hiện hành vi phạm tội. Xét các lý giải của Cơ quan CSĐT Công an huyện E trong trường hợp trên thì rõ ràng việc áp dụng hai biện pháp ngăn chặn đối với Lê Thị T là hoàn toàn không thừa và nhằm mục đích phòng ngừa để đảm bảo cho công tác điều tra, cũng không làm xấu hơn đến tình trạng của bị can. Tuy nhiên, không có quy định nào của pháp luật đề cập đến vấn đề này, và người có thẩm quyền có được thực hiện khi luật không quy định hay chỉ được thực hiện những gì pháp luật cho phép?. Điều 109 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định “…cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp…” Có thể thấy Luật không quy định “có thể áp dụng một trong số các biện pháp…” nhưng cũng không quy định “có thể áp dụng các biện pháp…” và hiện nay cũng không có văn bản nào hướng dẫn về việc này.
Thứ ba, về biện pháp tạm hoãn xuất cảnh, đây là một biện pháp ngăn chặn hoàn toàn mới được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Tuy nhiên, khái niệm về tạm hoãn xuất cảnh lại chưa cụ thể. Hiện nay, chỉ mới có Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam là giải thích về thuật ngữ “tạm hoãn xuất cảnh” nhưng đối tượng áp dụng thì lại chỉ là người nước ngoài tại Việt Nam, còn tạm hoãn xuất cảnh đối với người Việt Nam trong nước thì chưa có văn bản nào quy định.
Một vấn đề nữa là biện pháp tạm hoãn xuất cảnh là biện pháp hạn chế quyền tự do đi lại của người phạm tội ra khỏi biên giới lãnh thổ Việt Nam chứ không hạn chế quyền tự do đi lại trong nước, vì vậy nếu chỉ áp dụng một biện pháp ngăn chặn này đối với người phạm tội thì sẽ có lúc dẫn đến khó khăn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Nên theo ý kiến tác giả thì cần có hướng dẫn về biện pháp này theo hướng tạm hoãn xuất cảnh là biện pháp ngăn chặn được áp dụng kèm theo các biện pháp ngăn chặn khác gồm: bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú.
 

Nguồn: Tạp chí kiểm sát (kiemsat.vn)

"Con đã thành niên mà không có khả năng lao động" hiểu thế nào cho đúng?

Bài viết này đánh giá và phân tích các khái niệm tương tự pháp luật nhằm làm rõ hơn trường hợp “con đã thành niên mà không có khả năng lao động”, trên cơ sở đó, khuyến nghị trong quá trình kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án liên quan đến phần di sản của những người không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
 
Phần di sản dành cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc lần đầu tiên được quy định trong Thông tư số 81/1981/TT-TANDTC ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế (Thông tư số 81). Theo Thông tư này, nếu bằng di chúc, người có di sản định đoạt, vì lợi ích của người khác, một phần tài sản lớn hơn giá trị của di sản trừ đi giá trị các “phần tài sản cho những người thừa kế bắt buộc” thì các phần di sản được hưởng theo di chúc sẽ bị cắt giảm theo yêu cầu của những người này. Những “người thừa kế bắt buộc” bao gồm vợ, chồng; con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, bố mẹ già và túng thiếu. Phần này được ấn định bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật.
Kế thừa các quy định tại Thông tư số 81, Pháp lệnh thừa kế năm 1990 bổ sung: 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật được tính bằng cách giả định toàn bộ di sản được chia theo pháp luật (Điều 20). Pháp lệnh cũng thay cụm từ “phần tài sản cho những người thừa kế bắt buộc” thành “những người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc”.
 

Quy định này được kế thừa tại Điều 672 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995; Điều 669 BLDS năm 2005 và Điều 664 BLDS năm 2015. Cụ thể, khoản 1 Điều 644 BLDS năm 2015 quy định:
“Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động

 
Mục đích của quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của cha, mẹ, vợ, chồng, con của người để lại di sản trước những quyết định bất lợi đối với họ. Đây đều là những người có mối quan hệ thân thiết, gần gũi nhất với người để lại di sản. Cả trên phương diện pháp lý cũng như đạo lý đều quy định rằng: Việc chăm sóc, nuôi dưỡng những người này là bổn phận của người để lại di sản. Bổn phận ấy không chỉ được thực hiện khi người để lại di sản còn sống, mà ngay cả khi họ chết đi thì bổn phận ấy sẽ vẫn tiếp tục được thực hiện bằng việc người để lại di sản để lại một phần tài sản của mình cho cha, mẹ, vợ, chồng, con cái của họ.
Nếu những người này vì một lý do nào đó mà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ bổn phận của mình thì pháp luật – bằng những quy định của mình – sẽ ấn định cho những người có quan hệ gần gũi với người này luôn được hưởng một phần di sản từ khối di sản của người đó để lại. Đó chính là phần di sản thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Phần di sản dành cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là một phần di sản được trích ra từ khối tài sản của người chết để lại sau khi đã thanh toán xong các nghĩa vụ về tài sản.
Mặc dù đã ra đời và tồn tại gần 40 năm song vẫn chưa có văn bản nào hướng dẫn áp dụng trực tiếp quy phạm “con đã thành niên mà không có khả năng lao động”, do đó, dẫn đến nhiều ý kiến trái chiều xung quanh việc xác định thế nào là “con đã thành niên mà không có khả năng lao động”.
Có ý kiến cho rằng, vì chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng trực tiếp quy phạm “con đã thành niên mà không có khả năng lao động” nên chúng ta có thể áp dụng tương tự pháp luật, cụ thể tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, có quy định về bồi thường thiệt hại trong trường hợp “mất khả năng lao động” theo đó, “người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên…”. Do vậy, nếu như người thành niên, mà thường xuyên cần phải có người chăm sóc và rơi vào những trường hợp như Nghị quyết số 03/2006 đã liệt kê ở trên thì mới xác định họ “không còn khả năng lao động”.
Ý kiến khác lại cho rằng, ngoài Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, còn có một văn bản khác cũng điều chỉnh tương tự, đó chính là Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành 1 số điểm của Luật thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/09/2008 của Chính Phủ quy định  chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân có quy định về khái niệm “người tàn tật không có khả năng lao động”. Cụ thể tại Mục 3.1.6 của Thông tư số 84 có khái niệm người tàn tật không có khả năng lao động để xét giảm trừ gia cảnh về thuế thu nhập như sau:
“Người tàn tật, không có khả năng lao động là người bị tàn tật, giảm thiểu chức năng không thể trực tiếp sản xuất, kinh doanh hoặc người bị khuyết tật bẩm sinh không có khả năng tự phục vụ bản thân được cơ quan y tế từ cấp huyện trở lên xác nhận hoặc tự bản thân khai có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về mức độ tàn tật không có khả năng lao động.
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người phụ thuộc đang sống xác nhận những biều hiện cụ thể về sự tàn tật của người phụ thuộc đang sống xác nhận những biểu hiện cụ thể về sự tàn tật của người phụ thuộc. Ví dụ: Xác nhận người phụ thuộc bị cụt tay, cụt chân, mù mắt, mắc bệnh thiểu năng trí tuệ, bị di chứng chất độc màu da cam…
Trường hợp người phụ thuộc mắc bệnh mà không có khả năng lao động (như bệnh AIDS, ung thư, suy thận mãn…) có bệnh án của cơ quan y tế từ cấp huyện trở lên thì chỉ cần bản sao bệnh án mà không cần phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã”.
Tuy nhiên, khái niệm này chỉ nhằm phân biệt về người tàn tật không có khả năng lao động với người tàn tật nhưng vẫn có khả năng lao động. Theo tác giả, việc viện dẫn cả hai văn bản quy phạm pháp luật nêu trên (Nghị quyết số 03 và Thông tư số 84 là chưa chính xác và không hợp lý).
Do vậy, trong quá trình kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án liên quan đến phần di sản của những người không phụ thuộc vào nội dung di chúc, Kiểm sát viên cần phải hết sức thận trọng, đánh giá toàn diện, khách quan mối quan hệ giữa người để lại di sản với người thụ hưởng; giá trị đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và chuẩn mực đạo lý của xã hội nhằm làm rõ và phân biệt trường hợp nào “con đã thành niên mà không có khả năng lao động” để đánh giá chính xác có cho hay không cho hưởng 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật, làm căn cứ cho việc kiến nghị, kháng nghị các bản án, quyết định của Tòa án một cách chính xác, toàn diện, hợp lý, hợp tình./.
 

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Những trường hợp Viện kiểm sát quyết định trả tự do ngay cho người bị tạm giữ, tạm giam

Ngày 12/12/2017, VKSND tối cao đã ban hành Quy chế công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự (ban hành kèm theo Quyết định số: 501/QĐ-VKSTC ngày 12/12/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao).
 
Theo quy định của Quy chế 501 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) thì Viện kiểm sát có trách nhiệm áp dụng mọi phương thức kiểm sát theo quy định của pháp luật để phát hiện và xử lý kịp thời vi phạm pháp luật theo thẩm quyền trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự.

Cụ thể, khi tiến hành kiểm sát tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, nếu phát hiện người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù thuộc một trong những trường hợp sau đây mà đang bị giam, giữ thì Viện trưởng Viện kiểm sát ra quyết định trả tự do ngay cho họ, đó là:
– Viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; người bị tạm giữ không có quyết định của cơ quan và người có thẩm quyền; người đã được Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định tạm giữ, người bị tạm giữ đã có quyết định trả tự do; người mà Viện kiểm sát không phê chuẩn gia hạn tạm giữ;
– Người bị tạm giam nhưng không có lệnh, lệnh không có phê chuẩn của Viện kiểm sát (đối với những trường hợp luật quy định phải có phê chuẩn của Viện kiểm sát); người đã được Viện kiểm sát quyết định không gia hạn tạm giam; người đã có quyết định huỷ bỏ việc tạm giam; người đã có quyết định trả tự do hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác; người đã có quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án mà không bị giam giữ về hành vi phạm tội khác; người đã được Tòa án xét xử và quyết định trả tự do; tuyên không phạm tội, được miễn trách nhiệm hình sự; miễn hình phạt, hình phạt không phải là tù giam, thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời gian đã bị tạm giam;
– Người đã chấp hành xong thời hạn phạt tù ghi trong bản án nếu họ không bị tạm giam về một hành vi phạm tội khác; người đã có quyết định giảm hết thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại; người đã có quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện; người đã có quyết định đặc xá của Chủ tịch nước; người đã có quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù; người đã có quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án; người đã có quyết định miễn chấp hành án phạt tù; người bị bắt thi hành bản án đã hết thời hiệu theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Như vậy, khi phát hiện việc giam, giữ người thuộc trường hợp nêu trên, Viện kiểm sát phải tiến hành lập biên bản vi phạm về việc giam, giữ không có căn cứ và trái pháp luật; ra quyết định trả tự do ngay cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù theo quy định của Luật Tổ chức VKSND, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam hoặc Luật thi hành án hình sự, đồng thời báo cáo về VKSND tối cao để quản lý, chỉ đạo thống nhất. Bên cạnh đó, nếu nhận thấy cơ quan đang thụ lý vụ án, cơ sở giam giữ, cơ quan khác có liên quan có vi phạm thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm có thể kháng nghị hoặc kiến nghị để yêu cầu khắc phục.

Nguồn: Tạp chí kiểm sát (kiemsat.vn)

Một vài ý kiến góp ý hoàn thiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở

Ngày 20 tháng 6 năm 2013, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật hòa giải ở cơ sở tại kỳ họp thứ 3. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014. Sau khi Luật được ban hành, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật sau: Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hòa giải ở cơ sở; Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT-CP-UBMTTQVN ngày 18/11/2014 của Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở; Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 30/7/2014 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Tuy nhiên, để triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, có một số văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành như Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015… trong đó có những quy định liên quan đến hoạt động hòa giải ở cơ sở, tạo ra sự chưa thống nhất, đồng bộ với một số nội dung đã được quy định trong Luật hòa giải ở cơ sở và các văn bản hướng dẫn thi hành hoặc đặt ra những vấn đề mới cần nghiên cứu. Cụ thể như sau:
1. Quy định về phạm vi hòa giải ở cơ sở (Điều 3 Luật hòa giải ở cơ sở; Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP)
Theo quy định của pháp luật, hoạt động hoà giải ở cơ sở không phải do cơ quan nhà nước hay tổ chức chuyên môn nghề nghiệp thực hiện mà do các hòa giải viên của tổ hoà giải thực hiện. Trong đó, tổ hoà giải là tổ chức tự quản của nhân dân được thành lập ở cơ sở[1] để hoạt động hòa giải theo quy định của Luật hòa giải ở cơ sở. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi vụ việc xảy ra ở địa bàn thôn, tổ dân phố đều có thể được tiến hành hoà giải mà có những giới hạn cụ thể hay phạm vi hòa giải được pháp luật quy định.
Trên cơ sở tiếp tục kế thừa quy định tại Điều 127 Hiến pháp năm 1992, các chế định của Pháp lệnh năm 1998 còn phù hợp và đúng hướng nhưng có sửa đổi, bổ sung, loại bỏ và hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu mới của đất nước; tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động hòa giải khi lượng hóa thế nào thì được coi là “vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ”, đồng thời bảo đảm cho hoạt động hòa giải tiếp tục phát triển ổn định và bền vững, không làm xáo trộn về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, thay vì quy định phạm vi hòa giải ở cơ sở theo hướng liệt kê gồm các trường hợp được hòa giải và các trường hợp không được hòa giải như trong Pháp lệnh năm 1998,
Điều 3 Luật hòa giải ở cơ sở quy định về phạm vi hòa giải theo hướng loại trừ, chỉ quy định về các trường hợp không được hòa giải ở cơ sở.
Theo Điều 3 Luật Hòa giải ở cơ sở,việc hòa giải ở cơ sở được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật, trừ các trường hợp sau đây: mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình, giao dịch dân sự mà theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự không được hòa giải; vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính; mâu thuẫn, tranh chấp khác không được hòa giải ở cơ sở theo quy định pháp luật.
Tuy nhiên, tại Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP lại quy định hướng dẫn Điều 3 của Luật hòa giải ở cơ sở theo hướng phân định thành những mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật được tiến hành hòa giải và những mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật không được tiến hành hòa giải. Theo đó:
Các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật được tiến hành hòa giải, gồm:
– Mâu thuẫn giữa các bên (do khác nhau về quan niệm sống, lối sống, tính tình không hợp hoặc mâu thuẫn trong việc sử dụng lối đi qua nhà, lối đi chung, sử dụng điện, nước sinh hoạt, công trình phụ, giờ giấc sinh hoạt, gây mất vệ sinh chung hoặc các lý do khác);
– Tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự như tranh chấp về quyền sở hữu, nghĩa vụ dân sự, hợp đồng dân sự, thừa kế, quyền sử dụng đất;
– Tranh chấp phát sinh từ quan hệ hôn nhân và gia đình như tranh chấp phát sinh từ quan hệ giữa vợ, chồng; quan hệ giữa cha, mẹ và con; quan hệ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa anh, chị, em và giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; ly hôn.
Cũng giống như quy định trong Pháp lệnh năm 1998, riêng đối với việc ly hôn, hoà giải viênkhông được phép giải quyết, phân xử việc ly hôn: cho vợ, chồng ly hôn hay ép buộc họ không được ly hôn mà chỉ được thực hiện việc hoà giải, giúp hai vợ, chồng tự hàn gắn tình cảm, giữ gìn hạnh phúc gia đình.
– Vi phạm pháp luật mà theo quy định của pháp luật những việc vi phạm đó chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính.
– Vi phạm pháp luật hình sự trong các trường hợp sau đây thì hòa giải viên có thể tiến hành hòa giải:
+ Trường hợp không bị khởi tố vụ án theo quy định tại Điều 107 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003[2]và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Theo đó, hòa giải viên được tiến hành hòa giải đối với vi phạm pháp luật hình sự mà không bị khởi tố vụ án do có một trong các căn cứ sau:
(1) Không có sự việc phạm tội;
(2) Hành vi không cấu thành tội phạm;
(3) Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
(4) Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
(5) Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
(6) Tội phạm đã được đại xá;
(7) Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;
(8) Tội phạm quy định tại tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.
+ Vụ án đã được khởi tố, nhưng sau đó có quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng về đình chỉ điều tra theo quy định tại khoản 2 Điều 164 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003[3] hoặc đình chỉ vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 169 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003[4] và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
– Vi phạm pháp luật bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định tại Nghị định số 111/2013/NĐ-CP[5] của Chính phủ ngày 30/9/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc có đủ điều kiện để áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại
Chương II Phần thứ năm của Luật xử lý vi phạm hành chính;
– Những vụ, việc khác mà pháp luật không cấm.
Các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật không hòa giải gồm:
– Mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng (Ví dụ: Các mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm, lấn chiếm đất công, tranh chấp về sử dụng trái phép công trình công cộng…)
– Vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đìnhmà theo quy định của pháp luật phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết (ví dụ: chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền hủy kết hôn trái pháp luật nênhòa giải viên không được hòa giải để các bên tự giải quyết, duy trì quan hệ hôn nhân và gia đình trái pháp luật đó), giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội.
– Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp được hòa giải quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP;
– Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị xử lý vi phạm hành chính (bao gồm: bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính), trừ các trường hợp được hòa giải quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP;
– Mâu thuẫn, tranh chấp khác không được hòa giải ở cơ sở bao gồm: Hòa giải tranh chấp về thương mại và hòa giải tranh chấp về lao động, do việc hòa giải các tranh chấp này được thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành về thương mại và lao động.
Thực tiễn hoạt động hòa giải ở cơ sở thời gian qua cho thấy, bên cạnh những kết quả mà công tác hòa giải ở cơ sở trong các năm vừa qua đã đem lại, vẫn còn những vướng mắc, tồn tại, hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động hòa giải ở cơ sở. Trong một số trường hợp, do hòa giải viên không nắm vững các quy định của pháp luật nên vẫn tiến hành hòa giải những vụ việc không thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở như những hành vi vi phạm pháp luật mà theo quy định của pháp luật phải bị xử lý vi phạm hành chính hoặc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự; hoặc vẫn còn xảy ra tình trạng hòa giải viên tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khi hòa giải các vụ việc ly hôn, hòa giải viên thực hiện phân xử ly hôn, phân chia tài sản, phân định nuôi con giữa vợ và chồng theo luật tục. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động hòa giải ở cơ sở, đến tính nghiêm minh của pháp luật mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên mâu thuẫn, tranh chấp.
Một trong những tồn tại, hạn chế về tổ chức hòa giải ở cơ sở và hòa giải viên được Bộ Tư pháp nhận định trong Báo cáo sơ kết 03 năm thực hiện Luật hòa giải ở cơ sở nêu ra là trình độ học vấn và trình độ hiểu biết pháp luật của đội ngũ hòa giải viên còn rất hạn chế. Phần lớn trong số hòa giải viên thiếu kỹ năng hòa giải ở cơ sở, không thường xuyên cập nhật kiến thức pháp luật nên gặp khó khăn trong quá trình hòa giải, đặc biệt là đối với những vụ việc phức tạp, liên quan đến nhiều chính sách, pháp luật. Hoạt động hòa giải ở cơ sở chủ yếu vẫn dựa trên uy tín cá nhân, kinh nghiệm sống, kiến thức hiểu biết xã hội của hòa giải viên mà thiếu đi các quy định pháp luật thực định… Hay cũng có trường hợp hòa giải viên còn lúng túng khi xác định vụ việc có thuộc phạm vi hòa giải hay không?
Vi phạm pháp luật được hiểu là hành vi trái pháp luật do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ và phải chịu chế tài thích hợp[6]. Với vị trí của tổ hòa giải chỉ là một tổ chức tự quản tại cộng đồng, trình độ hiểu biết pháp luật của hòa giải viên còn nhiều hạn chế như nêu trên, thì việc xác định như thế nào là hành vi vi phạm pháp luật mà “chưa đến mức” bị xử lý vi phạm hành chính, cũng như xác định “vụ án đã được khởi tố, nhưng sau đó có quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng về đình chỉ điều tra…. và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật”, theo tôi, là thách thức đặt ra đối với hòa giải viên khi tiếp nhận vụ việc hòa giải cụ thể. Bên cạnh đó, việc điểm đ khoản 1 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP quy định trường hợp “pháp luật quy định chỉ khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại, nhưng người bị hại không yêu cầu khởi tố…” được hòa giải là không có cơ sở thực tế vì trong những vụ án này, người bị hại có quyền yêu cầu khởi tố bất cứ thời điểm nào trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đó là chưa kể đến việc quy định tại khoản 1 Điều 5 này viện dẫn đến nhiều quy định khác nhau trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Song Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã được thay thế bởi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 kể từ ngày 01/01/2018. Theo đó, một số điều luật được viện dẫn đã được thay đổi vị trí, được sửa đổi, bổ sung nội dung quy định mới đòi hỏi cần được bổ sung, sửa đổi quy định tương ứng trong Nghị định số 15/2014/NĐ-CP.
Bên cạnh đsó, tại khoản 2 Điều 94 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về hòa giải tại cộng đồng như sau: “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức việc hòa giải tại cộng đồng khi người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại đã tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự.”
Khoản 4, 5 Điều 428 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định:

4. Khi tiến hành hòa giải, Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên hoặc Thẩm phán được phân công tiến hành hòa giải phải phối hợp với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi tổ chức việc hòa giải và phải lập biên bản hòa giải.
5. Biên bản hòa giải có các nội dung chính:
a) Địa điểm, giờ, ngày, tháng, năm tiến hành hòa giải, thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc;
b) Họ tên Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán được phân công tiến hành hòa giải;
c) Họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của bị can, bị cáo;
d) Họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị hại;
đ) Họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của những người khác tham gia hòa giải;
e) Các câu hỏi, câu trả lời, lời trình bày của những người tham gia hòa giải;
g) Kết quả hòa giải; người dưới 18 tuổi, cha mẹ hoặc người đại diện của người dưới 18 tuổi xin lỗi người bị hại và bồi thường thiệt hại (nếu có); người bị hại, người đại diện của người bị hại đã tự nguyện hòa giải, đề nghị miễn trách nhiệm hình sự (nếu có);
h) Chữ ký của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán hòa giải.

Theo điểm đ khoản 5 nêu trên, phạm vi những người tham gia hòa giải tại cộng đồng đã được quy định theo hướng mở là ngoài Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán được phân công tiến hành hòa giải, bi can, bị cáo, người bị hại, còn có “những người khác tham gia hòa giải”. Bộ luật tố tụng hình sự có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Tuy nhiên, từ đó đến nay, vẫn chưa có văn bản nào hướng dẫn về sự “phối hợp” của Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ thuần túy là phối hợp về mặt tổ chức như có biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự tại địa điểm tiến hành hòa giải hay còn được trực tiếp tham gia vào quá trình hòa giải thông qua việc cử người tham gia hòa giải hay hướng dẫn về “những người tham gia hòa giải khác” có thể là những ai? Chính vì vậy, hiện có 02 luồng quan điểm sau:
– Quan điểm thứ nhất cho rằng, không nên quy định hòa giải viên ở cơ sở được tham gia hòa giải tại cộng đồng với tư cách là “những người tham gia hòa giải khác” với lý giải do hòa giải tại cộng đồng là một thủ tục được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Hay trường hợp này không thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở. Và để thống nhất với quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, quan điểm này cho rằng nên bổ sung quy định tại
Điều 3 Luật hòa giải ở cơ sở như sau:

Điều 3. Phạm vi hòa giải ở cơ sở
1. Việc hòa giải ở cơ sở được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật, trừ các trường hợp sau đây:
a) Mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng;
b) Vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình, giao dịch dân sự mà theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự không được hòa giải;
c) Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính;
d) Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng;
đ) Mâu thuẫn, tranh chấp khác không được hòa giải ở cơ sở theo quy định pháp luật.
2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

– Quan điểm khác cho rằng (tác giả bài viết tán đồng với quan điểm này), nên quy định hòa giải viên ở cơ sở được tham gia vào quá trình hòa giải tại cộng đồng với tư cách là “những người tham gia hòa giải khác”. Bởi hòa giải viên ở cơ sở theo quy định của Luật hòa giải ở cơ sở là công dân Việt Nam thường trú tại cơ sở, tự nguyện tham gia hoạt động hòa giải và có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín trong cộng đồng dân cư; có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân; có hiểu biết pháp luật.  Nếu họ được tham gia vào quá trình hòa giải tại cộng đồng sẽ có những đóng góp tích cực trong việc thống nhất nội dung hòa giải giữa các bên.
Tuy nhiên, nếu hòa giải viên tham gia hòa giải tại cộng đồng với tư cách “những người tham gia hòa giải khác”, sẽ phát sinh yêu cầu cần bổ sung quy định về trách nhiệm phối hợp của Ủy ban  nhân dân cấp xã trong việc yêu cầu tổ hòa giải ở cơ sở cử hòa giải viên tham gia hòa giải tại cộng đồng tại khoản 3 Điều 4 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP; quy định về trách nhiệm của tổ trưởng tổ hòa giải trong việc cử hòa giải viên tham gia hòa giải tại cộng đồng khi có yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã tại Điều 15 Luật hòa giải ở cơ sở.
Từ những tồn tại, vướng mắc, vấn đề nêu trên về phạm vi hòa giải ở cơ sở, theo tôi, cần sớm nghiên cứu sửa đổi quy định về phạm vi hòa giải ở cơ sở theo hướng: không quy định về việc hòa giải đối với hành vi vi phạm pháp luật hình sự và hành vi vi phạm pháp luật hành chính mà chỉ nên quy định hòa giải đối với mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh từ các hành vi quy định tại điểm đ, e khoản 1 Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP (như hòa giải phần trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại phát sinh do hành vi vi phạm hành chính, vi phạm pháp luật hình sự…).
2. Về công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án theo quy định tại Chương XXXIII Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Tại Điều 416 BLTTDS quy đinh, kết quả hòa giải vụ việc ngoài Tòa án được Tòa án xem xét ra quyết định công nhận là kết quả hòa giải thành vụ việc xảy ra giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền có nhiệm vụ hòa giải đã hòa giải thành theo quy định của pháp luật về hòa giải.
Theo đó, kết quả hòa giải thành được thực hiện theo quy định của pháp luật hòa giải ở cơ sở (Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành) cũng thuộc phạm vi được Tòa án xem xét công nhận.
Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, do Bộ luật tố tụng dân sự được ban hành sau  Luật hòa giải ở cơ sở và quy định trên của Bộ luật tố tụng dân sự được ban hành nhằm luật hóa định hướng Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020“Khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó”, nên đã đặt ra vấn đề về tính tương thích đối với một số quy định trong Luật hòa giải ở cơ sở và các văn bản hướng dẫn thi hành. Cụ thể:
– Tại điểm b khoản 3 Điều 419 BLTTDS quy định:

3. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Thẩm phán được phân công xét đơn có quyền sau đây:
… b) Yêu cầu cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền tiến hành hòa giải cung cấp cho Tòa án tài liệu làm cơ sở cho việc xét đơn yêu cầu của đương sự, nếu xét thấy cần thiết.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân được Tòa án yêu cầu có trách nhiệm trả lời Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án.

Trong khi đó, tại Điều 10 Luật hòa giải ở cơ sở quy định về nghĩa vụ của hòa giải viên như sau:

1. Thực hiện hòa giải khi có căn cứ theo quy định tại Điều 16 của Luật này.
2. Tuân thủ các nguyên tắc quy định tại Điều 4 của Luật này.
3. Từ chối tiến hành hòa giải nếu bản thân có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ, việc hòa giải hoặc vì lý do khác dẫn đến không thể bảo đảm khách quan, công bằng trong hòa giải.
4. Thông báo kịp thời cho tổ trưởng tổ hòa giải để báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có biện pháp phòng ngừa trong trường hợp thấy mâu thuẫn, tranh chấp nghiêm trọng có thể dẫn đến hành vi bạo lực gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng của các bên hoặc gây mất trật tự công cộng.
5. Thông báo kịp thời cho tổ trưởng tổ hòa giải để báo cáo cơ quan có thẩm quyền xử lý trong trường hợp phát hiện mâu thuẫn, tranh chấp có dấu hiệu vi phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc pháp luật về hình sự.

Như vậy, để thực hiện quyền yêu cầu cung cấp tài liệu làm cơ sở cho việc xét đơn yêu cầu của Thẩm phán đặt ra trách nhiệm của hòa giải viên phải cung cấp tài liệu, song trách nhiệm này lại chưa được quy định trong Luật hòa giải ở cơ sở.
– Tiếp đến, một trong các điều kiện công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án được quy định tại khoản 3 Điều 417 BLTTDS là “Một trong các bên có đơn yêu cầu Tòa án công nhận”.
Trong khi đó, tại Điều 25 Luật hòa giải ở cơ sở quy định như sau về thực hiện thỏa thuận hòa giải thành như sau:

1. Các bên có trách nhiệm thực hiện thỏa thuận hòa giải thành.
2. Trong quá trình thực hiện thỏa thuận hòa giải thành, nếu một bên vì sự kiện bất khả kháng không thể thực hiện được thì có trách nhiệm trao đổi, thỏa thuận với bên kia và thông báo cho hòa giải viên.

Như vậy, Luật hòa giải ở cơ sở chỉ quy định về trách nhiệm của các bên trong thực hiện thỏa thuận hòa giải thành mà chưa quy định về quyền của mỗi bên trong việc đề nghị có biện pháp bảo đảm thực hiện thỏa thuận hòa giải thành  – yêu cầu tòa án công nhận thỏa thuận.
Từ những phân tích nêu trên, để bảo đảm thống nhất quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Luật hòa giải ở cơ sở, cần sớm nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định trong Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013; cụ thể:
+ Bổ sung khoản 6 quy định: “Cung cấp tài liệu làm cơ sở cho việc xét đơn yêu cầu của đương sự khi được Tòa án yêu cầu” tại Điều 10.
+ Bổ sung khoản 3 quy định: “ Một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành. Trình tự, thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành được thực hiện theo quy định pháp luật về tố tụng dân sự” tại Điều 25.
3. Về quy định “Ngân sách trung ương chi bổ sung cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách để hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở” (Điều 6 Luật hòa giải ở cơ sở)
Với tính chất là hoạt động tự nguyện, tự quản của cộng đồng dân cư, nếu Nhà nước bao cấp hoàn toàn cho hoạt động này thì sẽ làm mất đi tính xã hội hóa, tính tự nguyện, tự quản, đi ngược lại với bản chất của hoạt động hòa giải ở cơ sở. Do đó, Nhà nước sẽ hỗ trợ một phần kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở để biên soạn, phát hành tài liệu; tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ, kỹ năng về hòa giải ở cơ sở; sơ kết, tổng kết, khen thưởng đối với công tác hòa giải ở cơ sở; chi thù lao cho hòa giải viên theo vụ, việc và hỗ trợ các chi phí cần thiết khác cho hoạt động hòa giải ở cơ sở như: văn phòng phẩm, phô tô tài liệu…
Đối với những địa phương chưa tự cân đối được ngân sách thì ngân sách trung ương sẽ chi bổ sung cho các địa phương để hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở (Điều 6 Luật hòa giải ở cơ sở).
Và để hướng dẫn thực hiện quy định trên của Luật, tại điểm c Điều 5 Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT/BTC-BTP đã quy định như sau: “Hằng năm, trên cơ sở tổng hợp dự toán ngân sách thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn, Ủy ban nhân dân tỉnh tổng hợp dự toán đề nghị ngân sách trung ương hỗ trợ theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 Thông tư liên tịch này (bao gồm cả kinh phí thực hiện do ngân sách địa phương bảo đảm và phần đề nghị ngân sách trung ương bổ sung có mục tiêu cho địa phương) gửi Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp;
Thời hạn các tỉnh gửi đề nghị ngân sách trung ương bổ sung có mục tiêu cho địa phương theo quy định của Luật ngân sách nhà nước về thời hạn báo cáo dự toán ngân sách nhà nước hằng năm (trước ngày 20 tháng 7); nếu quá thời hạn gửi báo cáo theo quy định thì Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính không chịu trách nhiệm tổng hợp nhu cầu đề nghị hỗ trợ kinh phí.
Bộ Tư pháp tổng hợp dự toán đề nghị ngân sách trung ương bổ sung có mục tiêu cho địa phương trong năm kế hoạch gửi Bộ Tài chính thẩm định trình cơ quan có thẩm quyền quyết định theo quy định của Luật ngân sách nhà nước. Sau khi cấp có thẩm quyền phê duyệt dự toán, Bộ Tài chính thông báo kinh phí ngân sách trung ương bổ sung có mục tiêu cho địa phương thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở trong dự toán giao hàng năm của địa phương.”
Tuy nhiên, sau 04 năm, quy định tại Thông tư liên tịch này không thực hiện được bởi căn cứ quy định về phân cấp thực hiện ngân sách tại Luật ngân sách nhà nước. Theo đó, hằng năm, Bộ Tài chính đều có văn bản hướng dẫn và đề nghị các địa phương, trong đó có các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách chủ động bố trí kinh phí thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở trong phạm vi dự toán ngân sách được trung ương giao (Năm 2016 được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 Thông tư số 206/2015/TT-BTC quy định về tổ chức thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2016; Năm 2017 được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 3 Thông tư số 326/2016/TT-BTC quy định về tổ chức thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2017; Năm 2018 tại Thông tư số 71/2017/TT-BTC ngày 13/7/2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm 2018 và kế hoạch tài chính – ngân sách nhà nước 3 năm 2018 – 2020).
Trên cơ sở hướng dẫn của Bộ Tài chính về kinh phí, Bộ Tư pháp đã đề nghị các cơ quan tư pháp địa phương (Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức Tư pháp – hộ tịch) căn cứ kế hoạch thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở chủ động tham mưu, đề xuất Ủy ban nhân dân cùng cấp bố trí nguồn kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở trong phạm vi ngân sách của địa phương được giao; đồng thời có giải pháp lồng ghép các hoạt động để sử dụng có hiệu quả nguồn lực, khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp, hỗ trợ cho hoạt động hòa giải ở cơ sở; bảo đảm thực hiện đúng, đầy đủ các quy định pháp luật về kinh phí hỗ trợ hoạt động của tổ hòa giải và mức chi thù lao theo vụ, việc cho hòa giải viên đã ban hành.
Ngoài ra, nhiều mức chi quy định tại Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT/BTC-BTP được viện dẫn tới các văn bản pháp luật khác như: Chi công tác phí cho những người đi công tác, Chi tổ chức các cuộc họp, hội nghị chuyên đề, hội nghị tổng kết, sơ kết, triển khai công tác hòa giải ở cơ sở, các Chương trình, Đề án, Kế hoạch…  được thực hiện theo Thông tư số 97/2010/TT-BTC ngày 06/7/2010 của Bộ Tài chính quy định chế độ công tác phí, chế độ chi tổ chức các cuộc hội nghị đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập; hoặc chi tổ chức hội thảo, tọa đàm trao đổi kinh nghiệm quản lý về hòa giải cơ sở, tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, giải pháp thực hiện các Chương trình, Đề án được thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch số 44/2007/TTLT-BTC-BKHCN ngày 07/5/2007 của Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn định mức xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước… Trong khi đó, hiện đã có nhiều văn bản được viện dẫnđã hết hiệu lực (như: Thông tư số 97/2010/TT-BTC đã được thay thế bởi Thông tư số 40/2017/TT-BTC, Thông tư liên tịch số 44/2007/TTLT-BTC-BKHCN được thay thế bởi Thông tư 55/2015/TT-BKHCN, Thông tư số 58/2011/TT-BTC được thay thế bởi Thông tư 109/2016/TT-BTC…).
Do đó, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp cần sớm tiến hành rà soát, đánh giá kịp thời để có nghiên cứu sửa đổi, bổ sung bảo đảm tính khả thi của quy định trên thực tế, phù hợp với quy định tại các văn bản pháp luật mới về tài chính được ban hành, đồng thời nghiên cứu, tham mưu trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách, Đề án về hòa giải ở cơ sở để có thêm nguồn lực hỗ trợ cho địa phương, nhất là đối với các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách, bảo đảm phù hợp với quy định của Luật ngân sách nhà nước năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Trên đây là một số nội dung kiến nghị, đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở.

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp

[1] Là thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố và cộng đồng dân cư khác (sau đây gọi chung là thôn, tổ dân phố)
[2]Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
[3]khoản 1 Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
[4]khoản 1 Điều 282 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
[5] Được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 56/2016/NĐ-CP ngày 29/6/2016
[6] Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng, Nguyễn Duy Lãm (chủ biên), Nxb. Giáo dục 1996, tr. 406.

Không nên đồng nhất thẩm quyền xét xử với thẩm quyền tổng hợp hình phạt

Bài viết “Tòa án cấp huyện có được tổng hợp hình phạt đến “tử hình” hay không?” của tác giả Song Mai được đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử ngày 08/6/2018 (http://tapchitoaan.vn/bai-viet/trao-doi-y-kien/toa-an-cap-huyen-co-duoc-tong-hop-hinh-phat-den-tu-hinh-hay-khong) đã được bạn đọc tranh luận sôi nổi. Tác giả bài viết này cho rằng Bản án bị kháng nghị của TAND huyện Bình Chánh không vi phạm tố tụng, không sai về nội dung.
 
Ba quan điểm khác nhau
Về vấn đề này, hiện nay đang nhiều quan điểm khác nhau, cụ thể:
Quan điểm thứ nhất, đồng tình với ý kiến của tác giả Song Mai, cho rằng:
– Vụ án được đưa ra xét xử theo quy định của BLTTHS 2015, cho đến nay chưa có quy định hay hướng dẫn về thẩm quyền tổng hợp hình phạt; Điều 268 của BLTTHS 2015 chỉ quy định về thẩm quyền xét xử của các Tòa án, không quy định thẩm quyền tổng hợp hình phạt, trong khi đó thẩm quyền tổng hợp hình phạt khác thẩm quyền xét xử; khoản 1 Điều 56 BLHS năm 2015 quy định: “Trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này thì Tòa án phải quyết định hình phạt đối với tội đang xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung” do đó TAND huyện B tổng hợp hình phạt là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.
– Theo quy định tại khoản 4 Điều 154 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì Nghị quyết số 02/2010/NQ-HĐTP hết hiệu lực kể từ ngày 01-01-2018 (ngày BLHS1999 và BLTTHS 2003 hết hiệu lực thi hành). Trường hợp này cũng không thuộc trường hợp áp dụng hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều 152 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Do đó, những người theo quan điểm này cho rằng TAND cấp huyện có thẩm quyền tổng hợp hình phạt vượt quá thẩm quyền xét xử của mình, trong đó có cả trường hợp chung thân hoặc tử hình và việc VKSND Tp.HCM kháng nghị với lý do tổng hợp hình phạt không đúng thẩm quyền, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là không có căn cứ.
Quan điểm thứ hai, đồng tình với kháng nghị của VKSND Tp.HCM, cho rằng:
– Khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 02/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn: Trường hợp bị cáo bị truy tố về một hoặc một số tội thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện mà khi thụ lý vụ án xét thấy bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình tại một bản án khác và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật thì Tòa án nhân dân cấp huyện phải báo cáo với Tòa án nhân dân cấp tỉnh để Tòa án nhân dân cấp tỉnh thống nhất với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh rút hồ sơ vụ án lên để truy tố, xét xử ở cấp tỉnh”. Do đó, trường hợp này TAND huyện Bình Chánh bắt buộc phải báo cáo với TAND Tp.HCM để thống nhất với VKSND Tp.HCM rút hồ sơ vụ án lên để truy tố, xét xử ở cấp tỉnh nhưng TAND huyện Bình Chánh không báo cáo với TAND Tp. HCM là đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
– Kháng nghị của VKSND Tp.HCM căn cứ theo Điều 32, điểm d khoản 1 Điều 37 của Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các vụ án hình sự ban hành kèm theo Quyết định số 505/2017/QĐ-VKSTC ngày 18-12-2017 và căn cứ vào hướng dẫn tại khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 02/2010/NQ-HĐTP để kháng nghị (việc tổng hợp hình phạt không đúng thẩm quyền, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng) là hoàn toàn đúng, có cơ sở, bởi lẽ, quy định tại Điều 56 BLHS 2015 về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án giữ nguyên các quy định của Điều 51 BLHS 1999 (chỉ chỉnh sửa về kỹ thuật), do đó Nghị quyết số 02/2010/NQ-HĐTP vẫn còn hiệu lực thi hành.
Đồng thời, những người theo quan điểm này cũng cho rằng, TAND huyện Bình Chánh tổng hợp hình phạt vượt quá thẩm quyền xét xử sẽ dẫn đến vướng mắc trong thực tiễn khi thi hành án tử hình, vì theo quy định tại các điều 54, 55 Luật Thi hành án hình sự[1] thì Chánh án Tòa án cấp huyện không có thẩm quyền ra quyết định thi hành bản án tử hình đối với bị án và cũng không có thẩm quyền ra quyết định thành lập Hội đồng Thi hành án tử hình.
Quan điểm thứ ba cho rằng, mặc dù Nghị quyết số 02/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hết hiệu lực thi hành nhưng trong trường hợp này, TAND huyện Bình Chánh áp dụng tương tự pháp luật, nên báo cáo TAND Tp.HCM để TAND Tp.HCM thống nhất với VKSND Tp.HCM  rút hồ sơ vụ án lên để truy tố, xét xử ở cấp tỉnh sẽ thuận lợi hơn cho việc thi hành án tử hình sau này.
Bản án không vi phạm tố tụng, không sai về nội dung
Chúng tôi không bình luận việc kháng nghị của VKSND Tp.HCM đúng hay sai, bởi kháng nghị này sẽ sớm được TAND Tp.HCM xem xét; tác giả chỉ luận bàn về việc TAND cấp huyện có thẩm quyền tổng hợp hình phạt tử hình hay không? Việc TAND huyện Bình Chánh tổng hợp hình phạt tử hình có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hay không?
Qua nghiên cứu, tác giả cho rằng, để xác định việc TAND huyện Bình Chánh đưa vụ án ra xét xử và tổng hợp hình phạt như trên có đúng hay không thì phải căn cứ vào các quy định của pháp luật tại thời điểm đưa vụ án ra xét xử.
Theo quy định tại Nghị quyết số 110/2015/QH13, Nghị quyết 144/2016/QH13 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 thì BLHS 2015 và BLTTHS 2015 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018, kể từ đó BLHS 1999 và BLTTHS 2003 hết hiệu lực thi hành.
Mặc dù quy định tại Điều 56 BLHS năm 2015 giữ nguyên nội dung quy định tại Điều 51 BLHS 1999 nhưng theo quy định tại khoản 4 Điều 154[2] Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 38[3] Nghị định 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì Nghị quyết số 02/2010/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP đã hết hiệu lực thi hành đồng thời với BLHS 1999 và BLTTHS 2003.
Theo tác giả, cũng cần phải phân biệt rạch ròi giữa xét xử, thẩm quyền xét xử và tổng hợp hình phạt, thẩm quyền tổng hợp hình phạt. Tác giả đồng ý với với tác giả Song Mai, đó là: (1) Bản chất tổng hợp hình phạt là việc tổng hợp hình phạt của bản án trước đó với hình phạt đối với bị cáo trong vụ án đang xét xử để tạo tính công bằng, giáo dục, răn đe người thực hiện hành vi tội phạm và thuận lợi cho việc thi hành án; (2) Không nên đồng nhất thẩm quyền xét xử với thẩm quyền tổng hợp hình phạt. Bởi lẽ, khi tổng hợp hình phạt, Tòa án chỉ thực hiện việc tổng hợp hình phạt theo quy định của pháp luật mà không xem xét lại nội dung, không xét xử lại vụ án đã được xét xử trước đó.
TAND huyện Bình Chánh xét xử bị cáo Phạm Tuất Linh về tội trộm cắp tài sản mà bị cáo đã phạm trước khi có bản án tử hình, quyết định hình phạt tù 3 năm hoàn toàn đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 268 BLTTHS 2015 và tổng hợp hình phạt tử hình của bản án trước là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 56 BLHS 2015.
Bên cạnh đó, cũng cần thấy rằng, hướng dẫn tại tiểu mục 4.4 mục 4 của Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP  đã được thu hút, được luật hóa thành quy định của BLTTHS 2015 (điểm o khoản 1 Điều 4 BLTTHS 2015). Trong khi đó, Nghị quyết số 02/2010/NQ-HĐTP hướng dẫn về vấn đề tổng hợp hình phạt trong trường hợp cụ thể này lại không được thu hút, không được luật hóa. Phải chăng các nhà làm luật có hàm ý mở rộng thẩm quyền tổng hợp hình phạt cho TAND cấp huyện trong bối cảnh cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, theo đó tăng thẩm quyền xét xử cho TAND cấp huyện.
Điểm o khoản 1 Điều 4 BLTTHS 2015 quy định: “o) Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là việc cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án.”
Với các quy định của BLHS 2015 và BLTTHS 2015 về thẩm quyền xét xử và về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, có thể khẳng định TAND huyện Bình Chánh xét xử và tổng hợp hình phạt tử hình: Về tố tụng không vi phạm quy định của BLTTHS; về nội dung không vi phạm quy định của BLHS 2015, không xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án.
Về vấn đề mà những người theo quan điểm thứ hai đặt ra, khi bản án của TAND huyện B có hiệu lực pháp luật sẽ có vướng mắc khi thi hành án tử hình, theo tác giả, trường hợp này hoàn toàn không có vướng mắc gì về pháp luật, bởi lẽ, khoản 1 Điều 54 Luật Thi hành án hình sự quy định: “Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án tử hình…” và như đã phân tích ở trên, TAND huyện Bình Chánh khi tổng hợp hình phạt không xem xét lại nội dung, không xét xử lại vụ án, do đó, TAND huyện Bình Chánh không phải là Tòa án xét xử sơ thẩm quyết định hình phạt tử hình. Tòa án đã xét xử sơ thẩm trong trường hợp này là TAND tỉnh Kiên Giang và Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án tử hình trong trường hợp này là Chánh án TAND tỉnh Kiên Giang.
Còn theo quan điểm thứ ba, về mặt thực tiễn xét xử chắc chắn sẽ có nhiều Tòa án lựa chọn vì như vậy sẽ tạo cảm giác an toàn cho Thẩm phán. Tuy nhiên, như đã nêu ở trên, Nghị quyết 02/2010/NQ-HĐTP đã hết hiệu lực, do đó không thể gọi đó là áp dụng tương tự pháp luật.
Do hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau trong việc áp dụng quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án quy định tại Điều 56 BLHS 2015, trong khi BLTTHS 2015 cũng không quy định cụ thể về thẩm quyền tổng hợp hình phạt, vì vậy, tác giả kiến nghị Hội đồng Thẩm phán TANDT sớm ban hành văn bản hướng dẫn về vấn đề này để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.
 
[1] Điều 54, Điều 55 Luật Thi hành án hình sự 2010 quy định:
“Điều 54. Quyết định thi hành án tử hình

  1. Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án tử hình. Quyết định phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định, họ tên, chức vụ của người ra quyết định; bản án, quyết định được thi hành; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị kết án.
  2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải gửi quyết định cho cơ quan sau đây:
  3. a) Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp;
  4. b) Trại tạm giam nơi người chấp hành án đang bị giam giữ;
  5. c) Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở.

Điều 55. Quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình

  1. Ngay khi có quyết định thi hành án tử hình, Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án có văn bản yêu cầu Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu cử đại diện tham gia Hội đồng thi hành án tử hình.
  2. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình do Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án làm Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình. Quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định, họ tên, chức vụ của người ra quyết định; căn cứ ra quyết định; họ tên, chức vụ của người tham gia Hội đồng.”

[2] Khoản 4 Điều 154 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định:
Điều 154. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực
Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây:

  1. Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành, văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực.”

[3] Khoản 2 Điều 38 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định:
Điều 38. Xác định hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật

  1. Xác định văn bản quy định chi tiết thi hành hết hiệu lực:
  2. a) Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành các Điều, Khoản, điểm được giao quy định chi tiết thi hành văn bản đó đồng thời hết hiệu lực;
  3. b) Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật được quy định chi tiết hết hiệu lực một phần thì các nội dung quy định chi tiết phần hết hiệu lực của văn bản được quy định chi tiết sẽ hết hiệu lực đồng thời với phần hết hiệu lực của văn bản được quy định chi tiết. Trường hợp không thể xác định được nội dung hết hiệu lực của văn bản quy định chi tiết thi hành thì văn bản đó hết hiệu lực toàn bộ;
  4. c) Trường hợp một văn bản quy định chi tiết nhiều văn bản quy phạm pháp luật, trong đó chỉ có một hoặc một số văn bản được quy định chi tiết hết hiệu lực thì nội dung của văn bản quy định chi tiết thi hành sẽ hết hiệu lực đồng thời với một hoặc một số văn bản được quy định chi tiết hết hiệu lực. Trường hợp không thể xác định được các nội dung hết hiệu lực của văn bản quy định chi tiết thi hành thì văn bản đó hết hiệu lực toàn bộ.”

 

Nguồn: Tạp chí tòa án (tapchitoaan.vn)

Vướng mắc khi xử lý tội Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy

Các điều luật về ma túy trong BLHS 2015 đã quy định cụ thể, chi tiết thành các điều luật riêng biệt tạo điều kiện thuận lợi cho việc định tội và cá thể hóa hình phạt. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng đối với hai tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy, là hai loại tội đang diễn ra phổ biến và có nhiều quan điểm chưa thống nhất trong xác định tội danh giữa các cơ quan, người tiến hành tố tụng cấp cơ sở.
 
Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, mức hình phạt nhẹ nhất khoản 1 có khung hình phạt từ 1 đến 5 năm tù, trong khi Mua bán trái phép chất ma túy, khoản  1 từ có mức hình phạt nhẹ nhất từ 2 đến 7 năm tù. Quy định trên thể hiện sự đánh giá tính nguy hiểm của tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nhẹ hơn so với tội Mua bán trái phép chất ma túy, chính điều này là nguyên nhân gây ra một số vướng mắc trong giải quyết vụ án mà trước đây áp dụng Điều 194 BLHS 1999 không gặp phải.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS 2015: “… Tàng trữ trái phép chất ma túy là …. không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy”. Điều đó có nghĩa là nếu một người tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích mua bán thì không phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Không phải tinh thần quy định này chưa được giải thích trong văn bản pháp luật, tại Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT-BCA-VKSTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao- Tòa án nhân dân tối cao- Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999 đã hướng dẫn: Mua bán trái phép chất ma túy gồm nhiều hành vi trong đó có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác.
Do vậy, theo Hướng dẫn tại Thông tư 17, khi xác định được một người tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác thì người đó phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng Thông tư 17 hướng dẫn áp dụng BLHS 1999 đến nay đã hết hiệu lực. Trong khi chưa có hướng dẫn cụ thể đối với các tội phạm về ma túy của BLHS 2015 sửa đổi, ảnh hưởng nhiều đến việc xác định tội danh, đặc biệt khi mà tội tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy có mức hình phạt khác nhau.
Vấn đề nhất quán trong định tội danh giữa tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy theo quy định của BLHS 2015 ngay sau khi xác định được toàn bộ hành vi khách quan, động cơ, mục đích có ý nghĩa quan trọng, thiết thực đối với công tác kiểm sát điều tra, truy tố.
Thực tiễn hiện nay xảy ra trường hợp: Toàn bộ quá trình điều tra, truy tố bị can khai nhận tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích ai mua thì bán, nhưng cơ quan tố tụng đánh giá chứng cứ cho rằng: Ngoài lời khai của bị can không xác định được người mua cụ thể nên không đủ căn cứ xác định bị can phạm tội Mua bán mà bị can chỉ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hoặc trường hợp ngoài 01 lần bán ma túy hoàn thành, bị can còn tàng trữ 0,1 gam Heroine mục đích có ai mua thì bán (không xác định được người mua), Viện kiểm sát truy tố 02 tội Mua bán trái phép chất ma túy tại Điều 251 và Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điều 249. Tòa án cho rằng bị cáo chỉ phạm một tội Mua bán trái phép chất ma túy, đối với 0,1 gam ma túy Heroine nhằm để bán có 02 luồng ý kiến:
Một là: Phải tính là một lần bán ma túy để xét xử bị cáo theo khoản 2 Điều 251 về tội Mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết “phạm tội nhiều lần”.
Hai là: Lượng ma túy này cần được thu hút vào tội Mua bán trái phép chất ma túy, để xét xử bị cáo theo khoản 1 Điều 251.
Những quan điểm như trên đều bộc lộ những điểm bất hợp lý.
Thứ nhất: Ngoài BLHS 2015 đang có hiệu lực, đến thời điểm hiện nay, không có định nghĩa cụ thể trong Bộ luật hoặc Hướng dẫn của trung ương về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy là gì, nhưng qua quy định Tàng trữ trái phép chất ma túy mà … không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất tại khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 có thể hiểu: Khi một người có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để bán trái phép là phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, như tinh thần hướng dẫn tại Thông tư 17 trước đây.
Thứ hai: Trong đời sống thực tiễn, thông thường người bán hàng (bất kỳ mặt hàng gì, lương thực, thực phẩm, thuốc men…) đều không biết cụ thể người sẽ mua hàng hóa của mình là ai, nhưng có một điều chắc chắn họ luôn có mục đích bán hàng, họ được xã hội gọi là người làm nghề buôn bán, kinh doanh, doanh nhân… Liên hệ với trường hợp người bán ma túy, họ cũng không thể biết họ sẽ bán ma túy cho ai cụ thể trước được, chỉ biết rằng họ luôn sẵn có ma túy để bán cho người có nhu cầu. Do đó, lập luận phải chứng minh được người mua thì mới cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy là khiên cưỡng, không đúng tinh thần Điều 249 BLHS 2015.
Để thống nhất trong xác định tội danh, phục vụ tốt công tác áp dụng pháp luật hình sự, liên ngành trung ương cần có hướng dẫn để thống nhất giải quyết nhưng tranh chấp, xung đột trong định tội danh đối với trường hợp Tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để bán nhưng không xác định được người mua và trường hợp ngoài hành vi mua bán hoàn thành (ví dụ 01 lần), người phạm tội còn tàng trữ trái phép một lượng chất ma túy (đủ định lượng của tội tàng trữ trái phép chất ma túy) nhằm mục đích để bán nhưng không xác định được người mua.
 

Nguồn: Tạp chí tòa án (tapchitoaan.vn)

Thẩm phán Tòa gia đình và người chưa thành niên phải hiểu tâm lý người dưới 18 tuổi

Thẩm phán là người có kinh nghiệm xét xử các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi từ 02 năm trở lên hoặc đã được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi, về kỹ năng giải quyết các vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi là một nội dung trong dự thảo Thông tư quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Tòa Gia đình và Người chưa thành niên…
 
Ngày 12/6/2018, Tòa án nhân dân tối cáo (TANDTC) công bố dự thảo Thông tư quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Tòa Gia đình và Người chưa thành niên trên cổng thông tin điện tử để lấy ý kiến đóng góp.
 
Cụ thể, về phạm vi điều chỉnh của Thông tư, có hai phương án:
Phương án 1: Thông tư này quy định về việc xét xử vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi hoặc vụ án hình sự mà bị cáo là người đã đủ 18 tuổi trở lên nhưng người bị hại là người dưới 18 tuổi bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lý hoặc cần sự hỗ trợ về điều kiện sống, học tập do không có môi trường gia đình lành mạnh như những người dưới 18 tuổi khác (sau đây gọi chung là người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi) thuộc thẩm quyền của Tòa Gia đình và Người chưa thành niên.
Phương án 2: Thông tư này quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Tòa Gia đình và Người chưa thành niên.
Điều 2 của Thông tư dự thảo, quy định những vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi không thuộc thẩm quyền của Tòa Gia đình và Người chưa thành niên như: Vụ án hình sự có bị cáo là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý và tội đặc biệt nghiêm trọng; Vụ án hình sự có bị cáo là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm một trong các tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự; Vụ án hình sự vừa có bị cáo là người dưới 18 tuổi vừa có bị cáo là người đủ 18 tuổi trở lên, nhưng người tổ chức, chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy là người đủ 18 tuổi trở lên; Vụ án hình sự không có người bị hại là người dưới 18 tuổi bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lý hoặc cần sự hỗ trợ về điều kiện sống, học tập.
Đồng thời, dự thảo cũng quy định rõ khi tiến hành xét xử vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi, Chánh án Tòa án phân công Hội đồng xét xử vụ án phải bảo đảm các điều kiện sau đây:
– Thẩm phán là người có kinh nghiệm xét xử các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi từ 02 năm trở lên hoặc đã được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi, về kỹ năng giải quyết các vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi.
– Có 01 Hội thẩm là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi.
Người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi là một trong những người sau đây: Thẩm phán Tòa Gia đình và Người chưa thành niên, giáo viên đã nghỉ hưu; công chức văn hóa – xã hội cấp xã; cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã; cán bộ làm công tác xã hội, cộng tác viên trẻ em; người đã tham gia công tác tại cơ quan, tổ chức liên quan đến hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm và giáo dục người dưới 18 tuổi; cán bộ quản lý trường hợp phụ trách công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại xã, phường, thị trấn; đại diện Hội phụ nữ, Hội bảo vệ quyền trẻ em, Hội Cựu chiến binh có kinh nghiệm trong quản lý, giáo dục, giúp đỡ người phạm tội và người vi phạm pháp luật là người dưới 18 tuổi hoặc những người khác có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi.
 

Nguồn: Tập chí kiểm sát (kiemsat.vn)

Quy trình nghiên cứu hồ sơ các vụ án dân sự rút theo đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm

Từ kinh nghiệm từ thực tiễn công tác, tác giả đưa ra một quy trình nghiên cứu hồ sơ các vụ án dân sự rút theo đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm để bạn đọc tham khảo.
 
Từ thực tiễn giải quyết đơn, các vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong thời gian qua cho thấy, nếu xây dựng được quy trình nghiên cứu hồ sơ các vụ án rút theo đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm phù hợp với điều kiện cụ thể của từng đơn vị thì việc nghiên cứu hồ sơ trở nên đơn giản hơn, rút ngắn được thời gian nghiên cứu hồ sơ, đồng thời nâng cao được chất lượng giải quyết vụ án, giúp hạn chế các trường hợp hồ sơ trình Kiểm sát viên cao cấp thẩm định hoặc trình Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân cấp cao xin đường lối giải quyết vụ án bị trả về nghiên cứu lại.
Bước 1: Trước khi nghiên cứu hồ sơ chính, cần phải nghiên cứu đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của đương sự để tóm tắt được quan điểm của đương sự cho rằng Tòa án vi phạm về những vấn đề gì, đương sự căn cứ vào chứng cứ nào, những quy định nào của pháp luật để có quan điểm đó.
Bước 2: Nghiên cứu hồ sơ, đồng thời lập bản cứu ghi chú lại các tài liệu, nội dung quan trọng của vụ án: Cần nghiên cứu hồ sơ vụ án một cách kỹ lưỡng, thận trọng, khoa học. Đây là một yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng giải quyết vụ án, bởi lẽ, có nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án thì cán bộ nghiên cứu án mới có đủ điều kiện viện dẫn các căn cứ, chứng cứ và lời khai của đương sự, bị can, người làm chứng… khi trình bày quan điểm và đề xuất ý kiến với Kiểm sát viên phụ trách và lãnh đạo đơn vị. Tùy vào tính chất của từng hồ sơ vụ án phức tạp hay đơn giản, nhiều hành vi hay ít hành vi, nhiều đương sự hay không, có đồng phạm hay không… và căn cứ vào sở trường, năng khiếu của mình mà mỗi cán bộ có thể đề ra phương pháp nghiên cứu hồ sơ vụ án cho phù hợp.
Kinh nghiệm để nghiên cứu hồ sơ và lập bản cứu nhanh, ngắn gọn, dễ dàng đối chiếu các tài liệu khi đánh giá chứng cứ thì: Trước khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cán bộ cần tra cứu ở bảng kê mục lục tài liệu của Tòa án tại hồ sơ vụ án để tập hợp các bút lục theo nhóm cần nghiên cứu (ví dụ nhóm các lời khai của từng đương sự, nhóm các tài liệu cung cấp của các cơ quan chức năng…). Trên cơ sở các bút lục đã liệt kê theo nhóm giúp cho cán bộ nghiên cứu hồ sơ có sự liền mạch từ giai đoạn đầu đến giai đoạn kết thúc vụ án đối với từng đương sự, từng đối tượng; các thao tác này cũng giúp cho cán bộ tổng hợp chứng cứ của vụ án được nhanh chóng, đơn giản, linh hoạt, khoa học và tiết kiệm được thời gian hơn.
Thông thường đối với các vụ án có nội dung phức tạp, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên trong quá trình nghiên cứu hồ sơ đến đâu thì đồng thời phải lập bản trích cứu ghi chú lại các bút lục có nội dung quan trọng của vụ án; hoặc các tài liệu, lời khai… có thay đổi, có mâu thuẫn trong từng giai đoạn khai báo để thuận lợi cho quá trình tổng hợp chứng cứ khi lập báo cáo đề xuất giải quyết vụ án và để thuận lợi cho khâu thẩm định hồ sơ của Kiểm sát viên, của Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân cấp cao.
Bước 3: Nghiên cứu các bản án, quyết định của Tòa án và bản phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa có trong hồ sơ; phần này đặc biệt chú trọng bản án có hiệu lực pháp luật, đang có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Khi nghiên cứu các bản án cần chú ý việc đánh giá chứng cứ của Tòa án tại phần “xét thấy” để đối chiếu với các tài liệu đã nghiên cứu trong hồ sơ xem đánh giá chứng cứ đã đủ chưa, khách quan chưa và các điều luật Tòa án viện dẫn trong bản án để giải quyết vụ án đã đúng, đủ và có phù hợp hay không.
Đối với những vụ án có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, cần nghiên cứu quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa để tham khảo, đồng thời đây là cơ sở để tập hợp những điểm làm được, những điểm thiếu sót của Kiểm sát viên của Viện kiểm sát địa phương để kiến nghị, rút kinh nghiệm chung, nhằm nâng cao chất lượng kiểm sát của ngành và nâng cao hơn nữa mối quan hệ phối hợp nghiệp vụ giữa Viện kiểm sát nhân dân cấp cao với Viện kiểm sát nhân dân địa phương.
Bước 4: Lập hồ sơ kiểm sát và lập báo cáo đề xuất giải quyết vụ án.
+ Lập hồ sơ kiểm sát: Để thuận lợi cho việc nghiên cứu thẩm định hồ sơ của Kiểm sát viên và Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phụ trách đối với vụ án rút theo đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm; việc lập hồ sơ kiểm sát các vụ án cần lập theo nhóm lời khai, tài liệu… (ví dụ tập đơn khởi kiện và lời khai nguyên đơn; tập lời khai bị đơn, tập biên bản phiên tòa, tập giấy tờ hợp đồng…). Trong trường hợp cán bộ đề xuất kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm thì các tài liệu, chứng cứ để đề xuất giám đốc thẩm, tái thẩm nên đưa vào một tập riêng (tập chứng cứ đề xuất kháng nghị). Hồ sơ kiểm sát phải được đánh số tài liệu và lập bảng kê mục lục tài liệu trước khi trình Kiểm sát viên thẩm định.
+ Lập báo cáo đề xuất giải quyết vụ án: Khi lập cáo cáo đề xuất giải quyết vụ án, việc tóm tắt lời khai cũng như các tài liệu trong phần nội dung vụ án và các chứng cứ cán bộ đưa ra lập luận để xác định Tòa án xét xử đúng hay sai trong phần nhận xét đều phải ghi chú những tài liệu chứng cứ đó ở tại bút lục nào của hồ sơ vụ án. Các vấn đề đương sự nêu trong đơn khiếu nại có căn cứ để chấp nhận hay không.
Kiểm tra viên, Kiểm sát viên chính, Kiểm sát viên trung cấp và Kiểm sát viên sơ cấp (gọi tắt là cán bộ nghiên cứu hồ sơ) nghiên cứu hồ sơ, lập hồ sơ kiểm sát và lập báo cáo đề xuất quan điểm giải quyết đơn để Kiểm sát viên cao cấp được phân công phụ trách thẩm định. Sau khi có quan điểm của Kiểm sát viên phụ trách, hồ sơ được trình lên Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao. Khi đề xuất đường lối giải quyết vụ án, cán bộ nghiên cứu vụ án phải nêu rõ quan điểm có hay không có căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm; trường hợp đề nghị kháng nghị cần viện dẫn được căn cứ pháp luật áp dụng kèm theo.
 

Vũ Thị Xoan

VKSND cấp cao tại Hà Nội

(Nguồn: Tạp chí Kiểm sát số 05/2017).

Cầm giữ tài sản trong giao dịch dân sự

Cầm giữ tài sản lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015, là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, để các bên tham gia vào các giao dịch dân sự có nhiều phương án lựa chọn biện pháp bảo đảm trong ký kết hợp đồng.
 

Cầm giữ tài sản là một chế định mới trong Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, được quy định từ Điều 346 đến Điều 350 BLDS. Điều 346 BLDS quy định: “Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

 
Nếu xác định về căn cứ xác lập quyền cầm giữ tài sản so với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác, thì cầm giữ tài sản do pháp luật quy định, mà không xác lập từ thỏa thuận của các bên trong quan hệ nghĩa vụ như cầm cố, thế chấp, đặt cọc, bảo lãnh, ký cược…
Tài sản cầm giữ là đối tượng của hợp đồng song vụ đang do bên có quyền nắm giữ. Một câu hỏi được đặt ra là, hợp đồng song vụ nào thì bên có quyền được nắm giữ tài sản, còn hợp đồng song vụ nào thì bên có quyền không được nắm giữ tài sản? Biết rằng, hợp đồng song vụ là hợp đồng theo đó các bên đều có các quyền và nghĩa vụ đối nhau. Trong một hợp đồng, thì một bên có quyền yêu cầu bên kia thực hiện hoặc không được thực hiện các hành vi nhất định vì lợi ích của mình hoặc vì lợi ích của người thứ ba và ngược lại, phía bên kia của hợp đồng cũng có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện những hành vi nhất định vì lợi ích của mình hoặc vì lợi ích của người thứ ba. Hợp đồng song vụ có thể là một hợp đồng có đặc điểm đền bù hoặc hợp đồng không có đặc điểm đền bù.
Hợp đồng song vụ không có đặc điểm đền bù, việc nắm giữ tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ thì bên có quyền có được chiếm giữ tài sản khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ? Nghĩa vụ đó là nghĩa vụ gì? Tài sản bị nắm giữ là tài sản nào? Những hợp đồng song vụ không có đặc điểm đền bù như hợp đồng tặng cho tài sản, hợp đồng mượn tài sản, hợp đồng cho ở nhờ nhà ở…, căn cứ vào các hợp đồng này, thì bên có quyền không nắm giữ bất kỳ một tài sản nào của bên có nghĩa vụ, mà bên có quyền chỉ có quyền yêu cầu bên mượn tài sản, trả lại tài sản khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng. Như vậy, đối với hợp đồng song vụ không có đặc điểm đền bù, thì việc áp dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là cầm giữ tài sản không được đặt ra.
Bộ luật Dân sự năm 2015  quy định về cầm giữ tài sản như sau:Một vấn đề khác cần phải được xác định liên quan đến bên có quyền trong hợp đồng song vụ đang nắm giữ hợp pháp tài sản của bên có nghĩa vụ, nhưng tài sản này không phải là đối tượng của hợp đồng song vụ đang cần được thực hiện, mà là đối tượng của một hợp đồng song vụ khác được xác lập trước đó, thì bên có quyền trong hợp đồng song vụ được xác lập sau có quyền cầm giữ tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được xác lập trước giữa hai bên không? Nếu áp dụng những quy định về cầm giữ tài sản trong BLDS, vấn đề đặt ra trên đây có được giải quyết không?
Một là, về cầm giữ tài sản theo quy định tại Điều 346 BLDS, thì việc cầm giữ tài sản chỉ áp dụng cho chính hợp đồng song vụ mà tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ đang cần phải thực hiện, không thể lấy tài sản là đối tượng của một quan hệ nghĩa vụ khác để thực hiện quyền cầm giữ tài sản. Bởi vì, xác định hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng song vụ cụ thể, mà không thể gộp nghĩa vụ của hợp đồng song vụ này vào nghĩa vụ hợp đồng song vụ khác cho dù bên có nghĩa vụ trong các hợp đồng song vụ được xác lập trước hay được xác lập sau cùng là một chủ thể. Vì mỗi một hợp đồng song vụ là một quan hệ độc lập, không thể lấy tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ độc lập này để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ cho hợp đồng song vụ kia. Do các hợp đồng song vụ độc lập, không thể lấy đối tượng của hợp đồng song vụ này làm biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho hợp đồng song vụ khác. Các hợp đồng song vụ độc lập đều là các hợp đồng chính, giữa chúng không có mối liên hệ phụ thuộc về hiệu lực xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt, nếu các bên không có thỏa thuận khác.
Việc xác định này rất quan trọng, là căn cứ để những cơ quan hoạt động xét xử, hoạt động thi hành án tránh được những nhầm lẫn trong thực hiện nghiệp vụ của mình.
Như vậy, cầm giữ tài sản là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ do luật định, áp dụng trong trường hợp bên có quyền (bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ có đặc điểm đền bù được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ phát sinh từ chính hợp đồng song vụ đó.
Hai là, về xác lập cầm giữ tài sản theo quy định tại Điều 347 BLDS, căn cứ xác lập quyền cầm giữ được xác định từ thời điểm đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình. Thời điểm đến hạn thực hiện nghĩa vụ, mà bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận trong hợp đồng song vụ là căn cứ để bên có quyền được quyền cầm giữ tài sản. Thời hạn thực hiện nghĩa vụ do các bên thỏa thuận hoặc luật định hoặc do các bên yêu cầu thực hiện cho nhau quyền và nghĩa vụ trong một ngày được xác định, nếu hợp đồng không quy định thời hạn. Việc xác định thời điểm xác lập quyền của bên cầm giữ tài sản trong hợp đồng song vụ, là căn cứ phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên cầm giữ chiếm giữ tài sản.
Pháp luật dân sự hiện hành không có quy định vật bảo đảm trong trường hợp cầm giữ phải thuộc quyền sở hữu của bên có nghĩa vụ. Nhưng bên có quyền cầm giữ phải được xác định là người nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ. Mối liên hệ giữa trái quyền được bảo đảm phát sinh có quan hệ hữu cơ với đối tượng của quyền cầm giữ là tài sản.
Ba là, về quyền của các bên cầm giữ theo quy định tại Điều 348 BLDS, bên cầm giữ tài sản có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng song vụ. Việc bên có quyền đang nắm giữ tài sản của bên có nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ là một lợi thế của bên có quyền.
Trường hợp đối tượng của hợp đồng song vụ là động sản đang do người thứ ba chiếm hữu, khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, bên có quyền cầm giữ yêu cầu người thứ ba đang chiếm hữu động sản chuyển giao tài sản cho mình, nhưng người này không chuyển giao, thì quyền cầm giữ của bên có quyền có thể bị vi phạm bởi hành vi của người thứ ba. Khi đó, bên có quyền cầm giữ tài sản có quyền yêu cầu người thứ ba đang chiếm hữu tài sản giao tài sản cho mình cầm giữ hoặc chấp hành viên thực hiện quyền này. Như vậy, trên thực tế bên có quyền phát sinh từ hợp đồng song vụ, mà đối tượng của hợp đồng lại đang do người thứ ba chiếm hữu, thì quyền của bên cầm giữ tài sản có nhiều nguy cơ bị xâm phạm hoặc không có tài sản để cầm giữ. Vì người thứ ba được xác lập quyền đối với tài sản đó, như xác lập quyền sở hữu hoặc quyền của người thứ ba đối với tài sản đã được đăng ký theo quy định của pháp luật. Như vậy, quy định tại Điều 346 BLDS, bên có quyền đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, là một quy định đã dự liệu được những tình huống có thể phát sinh trên thực tế.
Trường hợp đối tượng của hợp đồng song vụ là bất động sản, việc chuyển giao bất động sản phải tuân theo những hình thức, thủ tục nhất định do luật định, cho nên bên có quyền nắm giữ đang chiếm hữu bất động sản, thì người thứ ba có quyền đối với bất động sản này vẫn có thể tiến hành thủ tục bán đấu giá. Quyền của người nắm giữ có thể được thanh toán bằng phương thức khác.
Ở Việt Nam, quy định về quyền cầm giữ là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nói chung, mà không quy định cứng là biện pháp bảo đảm này chỉ áp dụng trong quan hệ nghĩa vụ dân sự. Vì vậy, nghĩa vụ được hiểu rộng trong các quan hệ nghĩa vụ phát sinh ngoài lĩnh vực dân sự, nếu các luật chuyên ngành khác không có quy định về cầm giữ tài sản trong quan hệ nghĩa vụ tương ứng với đối tượng thuộc ngành luật đó điều chỉnh. Với cách hiểu như vậy, thì biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được quy định trong BLDS năm 2015 của Việt Nam từ Điều 346 đến Điều 350 được áp dụng giải quyết những tranh chấp liên quan đến cầm giữ tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của chủ thể trong quan hệ tài sản.
Tiếp theo khoản 1 Điều 348 BLDS quy định bên có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng song vụ như một nguyên tắc thực hiện hợp đồng. Tại khoản 2 và 3 Điều 348 BLDS năm 2015, bên cầm giữ tài sản có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thanh toán chi phí cần thiết cho việc bảo quản, giữ gìn tài sản cầm giữ. Tài sản cầm giữ có thể là tài sản được sản xuất theo công nghệ cao thuộc các lĩnh vực bán dẫn, điện tử cần phải có chế độ, quy trình bảo quản nghiêm ngặt, cho nên những chi phí bảo quản kho, bãi, điện năng, công nghệ phụ cận khác cần phải được xác định. Bên cầm giữ tài sản nếu được bên có nghĩa vụ đồng ý, thì được khai thác tài sản cầm giữ để thu hoa lợi, lợi tức. Giá trị của việc khai thác tài sản cầm giữ được bù trừ vào giá trị nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ.
Ngoài các quyền này, bên cầm giữ có các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 349 BLDS như: Giữ gìn, bảo quản tài sản cầm giữ; không được thay đổi tình trạng của tài sản cầm giữ; không được chuyển giao, sử dụng tài sản cầm giữ nếu không được bên có nghĩa vụ đồng ý; giao lại tài sản cầm giữ khi nghĩa vụ được thực hiện; bồi thường thiệt hại nếu làm mất hoặc hư hỏng tài sản cầm giữ.
Với số lượng 05 điều luật (từ Điều 346 đến Điều 350 BLDS), thì những quy định cơ bản này chưa thể điều chỉnh toàn diện những tranh chấp phát sinh từ việc cầm giữ trong hợp đồng song vụ, còn nhiều vấn đề liên quan đến cầm giữ tài sản cần phải được dự liệu để bổ sung. Các sự kiện liên quan đến cầm giữ tài sản trong hợp đồng song vụ và biện pháp này là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nói chung, không quy định riêng cho quan hệ dân sự. Những vấn đề bổ sung có thể cần chú ý tới những quy định về đối tượng cầm giữ, thứ tự của quyền nắm giữ, hiệu lực của quyền nắm giữ thật cụ thể hơn nữa… Cho dù vậy, những quy định về cầm giữ tài sản trong BLDS năm 2015, là căn cứ để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng trong việc giải quyết những tranh chấp phát sinh từ biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ – cầm giữ tài sản./.
 
(Trích bài viêt: “Bàn về cầm giữ tài sản – một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ” của PGS.TS Phùng Trung Tập, Đại học Luật Hà Nội. TCKS số 9/2018).

Về thủ tục giải quyết việc dân sự trong BLTTDS 2015

BLTTDS 2015 có nhiều sửa đổi, bổ sung về thủ tục giải quyết việc dân sự. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi bình luận những nội dung được sửa đổi, bổ sung như: việc thay đổi người tiến hành tố tụng khi giải quyết việc dân sự; thủ tục tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự; quyết định giải quyết việc dân sự; kháng cáo, kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự; những người tham gia phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự; thủ tục tiến hành phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự trong BLTTDS năm 2015.
 
1.Về việc thay đổi người tiến hành tố tụng khi giải quyết việc dân sự
Để đảm bảo cho quá trình giải quyết việc dân sự khách quan và đúng đắn thì những người tiến hành tố tụng phải thật sư vô tư, khách quan trong quá trình giải quyết việc dân sự. Do đó nếu có căn cứ cho thấy họ không vô tư, khách quan trong khi tiến hành tố tụng thì họ có thể phải bị thay đổi. Vì vậy, Điều 368 BLTTDS năm 2015 tiếp tục kế thừa quy định về thay đổi người tiến hành tố tụng khi giải quyết việc dân sự. Tuy nhiên, khoản 54 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 lại chỉ đề cập đến thủ tục thay đổi thư ký Tòa án trước khi mở phiên họp mà không quy định về thủ tục thay đổi thư ký phiên họp tại phiên họp giải quyết việc dân sự. Điều này là chưa hợp lý bởi tại phiên họp các đương sự mới thực hiện quyền yêu cầu thay đổi thư ký phiên họp của mình thì Thẩm phán hoặc hội đồng giải quyết việc dân sự phải xem xét, giải quyết. Vì vậy, khoản 2 Điều 368 BLTTDS năm 2015 đã bổ sung quy định về thay đổi thư ký phiên họp ở tại phiên họp như sau:
– Trường hợp việc dân sự do một Thẩm phán giải quyết thì việc thay đổi Thẩm phán, Thư ký phiên họp do Chánh án của Tòa án đang giải quyết việc dân sự đó quyết định;
– Trường hợp việc dân sự do Hội đồng giải quyết việc dân sự gồm ba Thẩm phán giải quyết thì việc thay đổi thành viên Hội đồng, Thư ký phiên họp do Hội đồng giải quyết việc dân sự quyết định.
Tuy nhiên, trong trường hợp Thẩm phán, Thư ký phiên họp hoặc các thành viên của hội đồng giải quyết việc dân sự bị thay đổi tại phiên họp thì khoản 2 Điều 368 BLTTDS năm 2015 lại không quy định rõ là phiên họp bị hoãn hay vẫn tiến hành họp. Thiết nghĩ, TANDTC cần có hướng dẫn là trong trường hợp này phiên họp bị hoãn vì không có Thẩm phán điều khiển phiên họp cũng như không có thư ký ghi biên bản phiên họp đồng thời việc hoãn phiên họp sẽ tạo điều kiện cho Thẩm phán thay thế có thời gian nghiên cứu hồ sơ để giải quyết việc dân sự chính xác và đúng pháp luật.
Ngoài ra, khoản 54 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 quy định việc thay đổi kiểm sát viên tại phiên họp do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định cũng chưa hợp lý. Bởi tại phiên họp, mọi quyết định đều phải do Thẩm phán hoặc Hội đồng giải quyết việc dân sự quyết định chứ Viện trưởng Viện kiểm sát không có quyền quyết định. Hơn nữa, nếu tại phiên họp mà phải thay đổi kiểm sát viên thì phiên họp có bị hoãn không hay vẫn tiến hành phiên họp thì khoản 54 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 cũng không có quy định. Điều này dẫn đến Tòa án không có cơ sở pháp lý giải quyết nếu yêu cầu thay đổi kiểm sát viên được chấp nhận ở tại phiên họp. Do đó, khoản 3 Điều 369 BLTTDS năm 2015 quy định tại phiên họp, việc thay đổi Kiểm sát viên do Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự quyết định. Trường hợp phải thay đổi Kiểm sát viên thì Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự ra quyết định hoãn phiên họp và thông báo cho Viện kiểm sát để Viện kiểm sát bố trí Kiểm sát viên khác thay thế. Hoãn phiên họp sẽ giúp Kiểm sát viên được thay thế có thời gian nghiên cứu hồ sơ việc dân sự để việc kiểm sát được hiệu quả.
2.Về thủ tục tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự
BLTTDS năm 2015 về cơ bản vẫn quy định trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp như khoản 55 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 nhưng có sự thay đổi là Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự thì còn phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ việc dân sự ngay sau khi kết thúc phiên họp. Ngoài ra, phiên họp giải quyết việc dân sự do 1 Thẩm phán tiến hành hoặc hội đồng giải quyết việc dân sự gồm 3 Thẩm phán tiến hành nên Điều 369 BLTTDS năm 2015 quy định người điều khiển phiên họp và ra quyết định giải quyết việc dân sự là Thẩm phán hoặc hội đồng giải quyết việc dân sự chứ không chỉ quy định như khoản 55 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 là Thẩm phán điều khiển phiên họp và ra quyết định giải quyết việc dân sự.
3.Về quyết định giải quyết việc dân sự
Về cơ bản quyết định giải quyết việc dân sự quy định tại Điều 315 BLTTDS năm 2004 tiếp tục được quy định tại khoản 1,2 Điều 370 BLTTDS năm 2015. Tuy nhiên, khoản 3,4  Điều 370 BLTTDS năm 2015 đã bổ sung các quy định sau:
– Quyết định giải quyết việc dân sự có hiệu lực pháp luật của Tòa án có liên quan đến việc thay đổi hộ tịch của cá nhân phải được Tòa án gửi cho UBND nơi đã đăng ký hộ tịch của cá nhân đó theo quy định của Luật Hộ tịch.
–  Quyết định giải quyết việc dân sự có hiệu lực pháp luật của Tòa án được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), trừ quyết định có chứa thông tin quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này.
Có thể nói rằng các quy định mới này nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch của quyết định giải quyết việc dân sự, đảm bảo tất cả mọi người đều thuận lợi biết về phán quyết của Tòa án cũng như thực hiện việc hiện đại hóa các hoạt động tố tụng của Tòa án.
4.Về kháng cáo, kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự
Với nguyên tắc bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm thì Điều 371 BLTTDS năm 2015 tiếp tục kế thừa quy định về kháng cáo, kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự tại Điều 316 BLTTDS năm 2004. Tuy nhiên, về người có quyền kháng cáo đối với quyết định dân sự thì Điều 371 BLTTDS năm 2015 không quy định về quyền kháng cáo của người đại diện của đương sự trong việc dân sự. Điều này là chưa thực sự hợp lý bởi đương sự trong việc dân sự có thể ủy quyền cho người khác thực hiện việc kháng cáo (ủy quyền kháng cáo yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, yêu cầu bắt giữ tàu bay, tàu biển…) trừ việc dân sự phải do chính các đương sự thực hiện (việc dân sự liên quan đến nhân thân của các đương sự). Hoặc người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan kháng cáo.
5.Về thời hạn kháng cáo, kháng nghị
Nhằm đảm bảo cho đương sự có đủ thời gian cần thiết để suy nghĩ và quyết định xem mình có nên kháng cáo không cũng như để thu thập thêm tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì khoản 1 Điều 372 BLTTDS năm 2015 đã nâng thời hạn kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm đối với quyết định giải quyết việc dân sự từ 7 ngày lên 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định. Trong trường hợp họ không có mặt tại phiên họp xét đơn yêu cầu thì thời hạn mười ngày được tính từ ngày họ nhận được quyết định hoặc quyết định đó được thông báo, niêm yết.
Tuy nhiên, Điều 372 BLTTDS năm 2015 không có quy định về kháng cáo quá hạn. Thiết nghĩ, nếu các đương sự trong vụ án dân sự được kháng cáo quá hạn thì đương sự trong việc dân sự cũng được quyền kháng cáo quá hạn để đảm bảo sự bình đẳng giữa các đương sự trong vụ án dân sự và việc dân sự. Theo đó, khi người có quyền kháng cáo vì lí do chính đáng như ốm đau, tai nạn… lí do bất khả kháng mà không thực hiện được quyền của mình thì Tòa án xem xét lí do có thể chấp nhận kháng cáo quá hạn. Điều này cũng cần được hướng dẫn cụ thể.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 317 BLTTDS năm 2004, thời hạn kháng nghị đối với quyết định giải quyết việc dân sự của Viện kiểm sát cùng cấp là bảy ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là mười lăm ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định giải quyết việc dân sự. Tuy nhiên, thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp lại được nâng lên là 10 ngày trong BLTTDS năm 2015 (khoản 2 Điều 372), giữ nguyên thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp dài hơn so với Viện kiểm sát cùng cấp vì thông thường khi phát hiện ra sai sót hoặc có vi phạm trong việc ra quyết định của Tòa án nhưng quá thời hạn thì Viện kiểm sát cùng cấp sẽ báo cáo để Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị, tạo điều kiện để sửa sai kịp thời về thủ tục tố tụng đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh quy định của pháp luật.
6.Về chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị
Điều 373 BLTTDS năm 2015 bổ sung quy định về chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị nhằm tạo điều kiện cho các Tòa án áp dụng một cách thống nhất cũng như đảm bảo Tòa án giải quyết việc dân sự chính xác, đúng pháp luật.
Để Tòa án, các bên đương sự chuẩn bị các điều kiện để tiến hành, tham gia giải quyết việc dân sự theo thủ tục phúc thẩm thì việc chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị cũng phải thực hiện trong khoảng thời gian nhất định. Thời hạn chuẩn bị chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị là 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được kháng cáo, kháng nghị. Trong thời hạn chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị Thẩm phán căn cứ vào khoản 2 Điều 373 BLTTDS năm 2015 và Điều 361 BLTTDS năm 2015 để thực hiện các công việc chuẩn bị cho việc mở phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự.
Ngoài ra, trong thời hạn chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị, theo khoản 2 Điều 373 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án ra một trong các quyết định sau:
– Quyết định đình chỉ giải quyết việc xét đơn yêu cầu theo thủ tục phúc thẩm nếu người kháng cáo rút đơn kháng cáo, Viện kiểm sát rút kháng nghị;
– Quyết định mở phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự.
Tuy nhiên, Điều 373 BLTTDS năm 2015 chưa quy định về nội dung quyết định mở phiên họp phúc thẩm. Điều này dẫn đến đương sự muốn thực hiện quyền thay đổi Thẩm phán, Kiểm sát viên, Thư ký phiên họp trước khi mở phiên họp cũng không thực hiện được bởi không biết nội dung quyết định mở phiên họp. Do đó, căn cứ vào Điều 361 BLTTDS năm 2015 TANDTC cần hướng dẫn quyết định mở phiên họp phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 290 BLTTDS năm 2015.
Ngoài ra, trong thời hạn chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị, Thẩm phán có được ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết việc xét đơn yêu cầu theo thủ tục phúc thẩm không? Có được ra quyết định đình chỉ giải quyết việc xét đơn yêu cầu theo thủ tục phúc thẩm trên cơ sở các căn cứ khác không (người yêu cầu rút yêu cầu…)? Về vấn đề này, căn cứ Điều 361 BLTTDS năm 2015 TANDTC cần có hướng dẫn việc ra quyết định đình chỉ việc giải quyết đơn yêu cầu theo thủ tục phúc thẩm, tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu theo thủ tục phúc thẩm, Tòa án áp dụng những quy định về việc đình chỉ, tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự để thực hiện.
7.Những người tham gia phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự
Điều 374 BLTTDS năm 2015 bổ sung quy định về những người tham gia phiên họp nhằm tạo điều kiện cho các Tòa án áp dụng một cách thống nhất cũng như đảm bảo quyền tham gia phiên họp của các đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Giống như phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự, để Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật thì Viện kiểm sát tham gia phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự. Tuy nhiên, khi kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp, trừ trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm. Bởi vì, trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị thì Viện kiểm sát bắt buộc phải tham gia phiên họp để chứng minh kháng nghị của mình là có căn cứ và hợp pháp. Còn trong các trường hợp khác thì phiên họp phúc thẩm là để giải quyết yêu cầu kháng cáo nên Viện kiểm sát vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết quyền lợi và nghĩa vụ của các đương sự.
Để tránh phiên họp phúc thẩm bị hoãn nhiều lần, nhanh chóng giải quyết kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm thì khoản 2, 3 Điều 374 BLTTDS năm 2015 quy định:
– Người kháng cáo được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt có lý do chính đáng thì Tòa án hoãn phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự, trừ trường hợp người kháng cáo yêu cầu giải quyết vắng mặt họ.
– Người kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ kháng cáo và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết phúc thẩm việc dân sự đối với yêu cầu kháng cáo của họ, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan.
– Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch mà vắng mặt thì Tòa án quyết định hoãn phiên họp hay vẫn tiến hành phiên họp.
Tuy nhiên, quy định tại Điều 374 BLTDS năm 2015 chưa giải quyết được một số vấn đề sau:
– Người kháng cáo được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì Tòa án hoãn phiên họp phúc thẩm hay vẫn tiến hành họp;
– Người kháng cáo được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt nhưng có người đại diện thì Tòa án hoãn phiên họp phúc thẩm hay vẫn tiến hành họp;
– Người kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách thì Tòa án hoãn phiên họp phúc thẩm hay vẫn tiến hành họp.
– Người kháng cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều là các đương sự trong việc dân sự. Nhưng người kháng cáo vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì Tòa án sẽ hoãn phiên họp phúc thẩm còn người có liên quan vắng mặt lần thứ nhất có lí do chính đáng thì vẫn có thể tiến hành họp. Điều này là không đảm bảo sự bình đẳng về quyền tham gia phiên họp giữa các đương sự trong việc dân sự.
– Nếu phiên họp có sự tham gia của người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nhưng những người này lại vắng mặt khi được Tòa án triệu tập hợp lệ thì Tòa án có hoãn phiên họp phúc thẩm không hay vẫn giải quyết việc dân sự vắng mặt họ.
Trong các trường hợp này, Tòa án áp dụng Điều 363 BLTTDS năm 2015 để vận dụng các quy định về việc hoãn phiên tòa phúc thẩm để giải quyết. Tuy nhiên, để thuận lợi cho việc giải quyết việc dân sự thì TANDTC cần có những hướng dẫn cụ thể về vấn đề này theo hướng đảm bảo quyền tham gia phiên họp phúc thẩm của các đương sự.
8.Về thủ tục tiến hành phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự
Điều 318 BLTTDS năm 2004 chỉ quy định là thủ tục phúc thẩm quyết định giải quyết việc dân sự được thực hiện như thủ tục phúc thẩm đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm về vụ án dân sự bị kháng cáo, kháng nghị. Tuy nhiên, BLTTDS năm 2015 đã quy định riêng thủ tục tiến hành phiên họp phúc thẩm xét kháng cáo, kháng nghị đối với việc dân sự, không còn quy định tương tự như thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự. Quy định này là hợp lí vì bản chất vụ án dân sự và việc dân sự là khác nhau nên thủ tục khi giải quyết cũng không giống nhau. Theo Điều 375 BLTTDS năm 2015 thì thủ tục tiến hành phiên họp phúc thẩm được quy định cụ thể, chi tiết hơn. Do thành phần tham gia phiên họp phúc thẩm theo BLTTDS năm 2015 có thay đổi nên trình tự tiến hành phiên họp cũng được bổ sung. Theo đó, Thư ký phiên họp báo cáo sự có mặt của nhưng người tham gia phiên họp. Sau đó Thẩm phán chủ tọa sẽ khai mạc phiên họp, kiểm tra sự có mặt của người tham gia và giải thích quyền và nghĩa vụ của họ. Tiếp đó là những người tham gia phiên họp là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kháng cáo, người kháng cáo hoặc đại diện của họ, kiểm sát viên trình bày nội dung kháng cáo, kháng nghị và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích của họ được triệu tập trình bày ý kiến về nội dung bị kháng cáo, kháng nghị có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình. Việc để cho những người có quyền và lợi ích liên quan đến kháng cáo, kháng nghị tham gia phiên họp trình bày ý kiến là đúng đắn không chỉ giúp Tòa án có cái nhìn khách quan, tổng thể để đưa ra quyết định chính xác mà còn phát huy quyền dân chủ của công dân. Ngoài ra, BLTTDS năm 2015 cũng quy định kiểm sát viên ngoài phát biểu ý kiến tại phiên họp phúc thẩm còn phải gửi văn bản phát biểu ý kiến sau khi kết thúc phiên họp.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 375 BLTTDS năm 2015, thì Hội đồng phúc thẩm xem xét quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị ngoài các quyền ra các quyết định tại khoản 5 Điều 280 BLTTDS năm 2011 còn được quyền ra các quyết định sau:
– Hủy quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm và đình chỉ giải quyết việc dân sự;
– Đình chỉ giải quyết việc xét đơn yêu cầu theo thủ tục phúc thẩm nếu tại phiên họp tất cả người kháng cáo rút đơn kháng cáo, Viện kiểm sát rút kháng nghị.
Quy định mới này giúp Hội đồng phúc thẩm có cơ sở pháp lý để áp dụng khi tiến hành phiên họp tránh tình trạng lúng túng khi người kháng cáo, kháng nghị rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị. Tuy nhiên, TANDTC cần có hướng dẫn cụ thể khi nào thì Hội đồng phúc thẩm sẽ ra quyết định hủy quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm và đình chỉ giải quyết việc dân sự.
Ngoài ra, tương tự như quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự thì quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định và được gửi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 370 BLTTDS năm 2015. Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự có hiệu lực pháp luật được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), trừ quyết định có chứa thông tin có liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự nhằm công khai, minh bạch các quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án.
 

Nguồn: Tạp chí tòa án (tapchitoaan.vn)