Giải quyết vụ án dân sự khi người bị kiện, người liên quan vắng mặt tại nơi cư trú

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS) có nhiều quy định mới, trong đó có quy định liên quan đến việc Tòa án xem xét, xử lý đơn khởi kiện, giải quyết vụ án dân sự mà người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có mặt tại nơi cư trú. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này và các quy định pháp luật về cư trú tại các Tòa án trong thời gian qua còn chưa có sự thống nhất. Trong phạm vi bài viết, tác giả xin nêu lên một số vướng mắc trong thực tiễn liên quan đến việc áp dụng quy định pháp luật giải quyết vụ án dân sự khi người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại nơi cư trú trong thời gian qua.
Việc xác định nơi cư trú của cá nhân trong trường hợp họ đăng ký thường trú hoặc tạm trú ở địa phương này nhưng lại đang sinh sống ở địa phương khác
Theo điểm e khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, Tòa án trả lại đơn khởi kiện (trong giai đoạn xử lý đơn khởi kiện) hoặc đình chỉ giải quyết vụ án (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử) trong trường hợp người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán, trong đó, có yêu cầu về việc sửa đổi, bổ sung nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, để xác định nơi cư trú của cá nhân phải dựa vào pháp luật cư trú. Tuy nhiên, hiện nay việc quy định về nơi cư trú của công dân tại các văn bản có sự khác nhau. Theo Điều 12 Luật cư trú năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2013 (Luật Cư trú), nơi cư trú của công dân được quy định như sau:

1. Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.
Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.
Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú.
Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú.
Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống.

Trong khi đó, Điều 40 BLDS năm 2015 lại quy định:

1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.
Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó đang sinh sống.
Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới.

Với các quy định trên, trong trường hợp một cá nhân đăng ký thường trú hoặc tạm trú ở địa phương này nhưng lại đang sinh sống ở địa phương khác thì nơi nào là nơi cư trú của cá nhân đó chưa có sự thống nhất trên thực tiễn.
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Theo Luật Cư trú, nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú này được xác định là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Trường hợp không xác định được nơi thường xuyên sinh sống, nơi thường trú hoặc nơi tạm trú thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống. Do đó, trong trường hợp này, nơi cư trú của cá nhân là nơi đăng ký thường trú hoặc tạm trú của cá nhân đó.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Quy định về nơi cư trú của cá nhân theo BLDS năm 2015 đã có sự thay đổi cơ bản so với Luật cư trú. Theo đó, nơi cư trú không còn dựa vào chỗ ở hợp pháp mà cá nhân thường xuyên sinh sống với 2 biểu hiện là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú, mà chỉ dựa vào nơi người đó thường xuyên sinh sống. Vì vậy, nơi nào mà cá nhân thường xuyên sinh sống là nơi cư trú của họ, bất kể họ có đăng ký thường trú hay đăng ký tạm trú hay không.
Tác giả thống nhất với quan điểm thứ hai.
Điều kiện để Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án vắng mặt người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong trường hợp họ vắng mặt tại nơi cư trú trước thời điểm người khởi kiện nộp đơn khởi kiện đến Tòa án, nhưng người khởi kiện không biết địa chỉ mới của họ
Điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 quy định:

Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện.
Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.
Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện.

Đồng thời, điểm g khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 quy định, Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án khi có một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 BLTTDS mà Tòa án đã thụ lý, trong đó có trường hợp được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015.
Với các quy định trên để thụ lý, giải quyết vụ án vắng mặt người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong trường hợp họ vắng mặt tại nơi cư trú trước thời điểm người khởi kiện nộp đơn khởi kiện, Tòa án phải làm rõ 2 điều kiện:
Một là, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan “không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được”.
Hai là, mục đích thay đổi nơi cư trú, trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là “che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện”.
Việc hiểu, áp dụng điều kiện thứ nhất không gặp khó khăn nhưng việc hiểu và thực hiện điều kiện thứ hai vẫn chưa có sự thống nhất trong thực tiễn.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, theo khoản 3 Điều 40 BLDS năm 2015, “một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới”. Cho nên, trong trường hợp một người có nghĩa vụ với người khác (thông qua hành vi pháp lý đơn phương hoặc giao dịch dân sự) mà bỏ đi nơi khác thì họ có nghĩa vụ thông báo nơi cư trú mới cho người có quyền. Chủ thể nào có nghĩa vụ với người khác mà bỏ địa phương, không thông báo địa chỉ mới thì xem như họ cố tình “che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện”. Trong trường hợp này, người khởi kiện có quyền lựa chọn nơi cư trú cuối cùng của bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo điểm a khoản 1 Điều 40 BLTTDS năm 2015 để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết.
Quan điểm thứ hai cho rằng, khoản 3 Điều 40 BLDS năm 2015 không quy định trong mọi trường hợp một cá nhân bỏ địa phương đi phải báo cho người khác biết nơi cư trú mới mà chỉ ràng buộc trong trường hợp “gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ”. Trong khi đó, mỗi cá nhân tham gia rất nhiều quan hệ xã hội. Bản thân họ rất khó biết là trong quan hệ nào họ có nghĩa vụ với chủ thể khác.
Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 40 BLDS năm 2015 quy định, khi thay đổi nơi cư trú, bên có nghĩa vụ phải thông báo cho bên có quyền biết nơi cư trú mới; còn điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 lại quy định bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú phải thông báo cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú. Cho nên, rất khó ràng buộc cá nhân khi thay đổi nơi cư trú phải thông báo theo các quy định này.
Với các phân tích trên đây, việc áp dụng quy định về nơi cư trú của cá nhân trong BLDS năm 2015 để giải quyết vụ án vắng mặt người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khi họ thay đổi nơi cư trú là chưa phù hợp.
Trong trường hợp này, Tòa án phải dựa vào các tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện cung cấp và Tòa án thu thập được để đánh giá mục đích của việc thay đổi nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Khi chứng minh được việc người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú nhằm “trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện” thì Tòa án mới được được giải quyết vắng mặt họ.
Tác giả thống nhất với quan điểm thứ hai.
Việc áp dụng thủ tục tống đạt văn bản tố tụng khi giải quyết vụ án dân sự vắng mặt người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
Việc áp dụng các quy định về tống đạt văn bản tố tụng để giải quyết vụ án vắng mặt người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chưa có sự thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trên thực tiễn.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, theo quy định về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng (sau đây được gọi chung là tống đạt văn bản tố tụng) tại Chương X BLTTDS năm 2015, việc tống đạt văn bản tố tụng thông thường được tiến hành lần lượt thông qua các bước tống đạt trực tiếp, tống đạt qua trung gian, niêm yết công khai và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Thủ tục tống đạt trước đó mà không đạt kết quả sẽ tiến hành thủ tục tiếp theo. Đồng thời, các văn bản tố tụng cần được tống đạt cho đương sự đều phải tiến hành qua thủ tục này, không có sự loại trừ. Vì vậy, khi ban hành văn bản tố tụng mà pháp luật quy định phải tống đạt cho người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải tiến hành theo đúng trình tự tống đạt do BLTTDS năm 2015 quy định.
Quan điểm thứ hai, cũng là quan điểm của tác giả, cho rằng, mặc dù BLTTDS năm 2015 quy định việc tống đạt văn bản tố tụng phải được tiến hành lần lượt thông qua các bước tống đạt trực tiếp, tống đạt qua trung gian, niêm yết công khai và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; thủ tục tống đạt trước đó mà không đạt kết quả sẽ tiến hành thủ tục tiếp theo. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này không nên cứng nhắc mà phải linh hoạt cho phù hợp với các quy định khác của BLTTDS năm 2015, trong đó có thời hạn chuẩn bị xét xử và tính chất của vụ án.
Theo đó, đối với các vụ án hôn nhân và gia đình mà chỉ có yêu cầu ly hôn, không có tranh chấp về tài sản hoặc các vụ án dân sự khác mà người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi phán quyết của Tòa án thì chỉ nên thực hiện thủ tục tống đạt đến bước niêm yết công khai mà không cần phải tiến hành thủ tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Đối với các trường hợp khác, Tòa án cần tiến hành thủ tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, việc thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng chỉ cần thực hiện đối với quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa để xét xử vắng mặt người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan mà không thực hiện đối với các văn bản tố tụng khác.
Về chi phí thực hiện thủ tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng
Theo khoản 3 Điều 180 BLTTDS năm 2015, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng phải được đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án, trên một trong các báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp. Với việc thực hiện thủ tục này sẽ phải tốn nhiều chi phí cho 01 lần thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với văn bản tố tụng. Tuy nhiên, do BLTTDS năm 2015 chưa quy định rõ nghĩa vụ chịu chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nên còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau đối với chủ thể chịu nghĩa vụ này.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, người khởi kiện phải chịu chi phí này. Bởi vì, việc thực hiện thủ tục này phục vụ cho việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Quan điểm thứ hai cho rằng, quy định về các chi phí tố tụng khác tại mục 2 Chương IX BLTTDS năm 2015 không quy định về loại chi phí này. Trong khi đó, theo các khoản 1, 2 Điều 180 BLTTDS năm 2015, việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng được thực hiện trong 03 trường hợp. Một là, khi pháp luật có quy định. Hai là, có căn cứ xác định là việc niêm yết công khai không bảo đảm cho người được tống đạt nhận được thông tin về văn bản cần được tống đạt. Ba là, có yêu cầu của các đương sự khác. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 180 BLTTDS năm 2015 còn quy định, đương sự chỉ phải chịu chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng này khi họ có yêu cầu. Như vậy, khi Tòa án tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng thuộc trường hợp 1 và trường hợp 2 thì Tòa án phải bỏ ra chi phí thực hiện.
Tác giả thống nhất với quan điểm thứ hai.
Nghĩa vụ cung cấp nơi cư trú của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong trường hợp Tòa án đưa họ vào tham gia tố tụng
Theo khoản 4 Điều 68 BLTTDS năm 2015, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự có thể tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận hoặc được Tòa án đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Trong trường hợp người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được đương sự khác đưa vào tham gia tố tụng thì đương sự có yêu cầu phải cung cấp nơi cư trú của chủ thể này theo quy định chung. Tuy nhiên, trong trường hợp không có đương sự nào yêu cầu đưa một người nào đó vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng Tòa án thấy cần thiết phải đưa họ vào tham gia tố tụng thì nghĩa vụ cung cấp nơi cư trú của chủ thể này còn có nhiều cách hiểu khác nhau.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, người có yêu cầu liên quan đến chủ thể này phải thực hiện cung cấp nơi cư trú. Đó có thể là nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Bởi vì, việc đưa một chủ thể nào đó vào tham gia tố tụng cũng nhằm mục đích giải quyết triệt để vụ án, đảm bảo quyền lợi của những chủ thể có liên quan đến yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập.
Quan điểm thứ hai, cũng là quan điểm của tác giả, cho rằng, Tòa án phải có trách nhiệm xác định nơi cư trú của chủ thể này. Bởi vì, Tòa án là cơ quan chủ động đưa chủ thể nào đó vào tham gia tố tụng nên không thể chuyển nghĩa vụ xác định nơi cư trú của chủ thể đó cho người có yêu cầu có liên quan đến chủ thể này. Hơn nữa, nếu buộc nghĩa vụ xác định nơi cư trú cho người có yêu cầu thì dễ dẫn đến trường hợp Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu của đương sự khi người có yêu cầu không cung cấp được nơi cư trú của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được đưa vào tham gia tố tụng.
Trên đây là những vướng mắc gặp phải khi áp dụng các quy định pháp luật giải quyết vụ án dân sự trong trường hợp bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại nơi cư trú trên thực tiễn. Mong nhận được nhiều ý kiến trao đổi của quý độc giả.
 
 

THÁI CHÍ BÌNH, Tòa án nhân dân TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)

Giấy chứng nhận kết hôn bị sai thông tin có làm thủ tục ly hôn được không?

Tôi đang làm thủ tục ra Tòa xin ly hôn, nhưng phát hiện ra năm sinh của chồng tôi trên Giấy chứng nhận kết hôn không khớp với Chứng minh thư nhân dân. Tôi phải làm gì để hoàn tất giấy tờ?
Vấn đề bạn hỏi, chúng tôi trả lời như sau:
Căn cứ Điều 28 Luật hộ tịch năm 2014 về thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch:
“1. Người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.
Trường hợp thay đổi, cải chính hộ tịch liên quan đến Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp – hộ tịch ghi nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn.
Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc.
3. Trường hợp đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch không phải tại nơi đăng ký hộ tịch trước đây thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Ủy ban nhân dân nơi đăng ký hộ tịch trước đây để ghi vào Sổ hộ tịch.
Trường hợp nơi đăng ký hộ tịch trước đây là Cơ quan đại diện thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Bộ Ngoại giao để chuyển đến Cơ quan đại diện ghi vào Sổ hộ tịch.”
Bên cạnh đó, theo Điều 7 Nghị định 123/2015/NĐ-CP về điều kiện thay đổi, cải chính hộ tịch nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hộ tịch thì:
“1. Việc thay đổi họ, chữ đệm, tên cho người dưới 18 tuổi theo quy định tại Khoản 1 Điều 26 của Luật Hộ tịch phải có sự đồng ý của cha, mẹ người đó và được thể hiện rõ trong Tờ khai; đối với người từ đủ 9 tuổi trở lên thi còn phải có sự đồng ý của người đó.
2. Cải chính hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch là việc chỉnh sửa thông tin cá nhân trong Sổ hộ tịch hoặc trong bản chính giấy tờ hộ tịch và chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định có sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người yêu cầu đăng ký hộ tịch.”
Như vậy, theo các quy định trên thì vợ chồng bạn có thể đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi hai bạn đã đăng ký kết hôn trước đây để làm thủ tục chỉnh sửa thông tin về năm sinh của chồng bạn trên Giấy chứng nhận kết hôn.
Trường hợp hai bạn đến Ủy ban nhân dân cấp xã không phải nơi đăng ký hộ tịch trước đây thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Ủy ban nhân dân nơi đăng ký hộ tịch trước đây để ghi vào Sổ hộ tịch.
Khi thông tin về năm sinh của chồng bạn được chính sửa lại trên Giấy chứng nhận kết hôn thì bạn tiếp tục thực hiện thủ tục ly hôn.

Xung đột pháp luật là hiện tượng đặc thù của tư pháp quốc tế

Xung đột pháp luật là hiện tượng pháp lý trong đó hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia vào điều chỉnh một quan hệ tư pháp quốc tế mà nội dung điều chỉnh trong mỗi hệ thống pháp luật sự khác nhau.
Nguyên nhân: do mỗi nước có điều kiện cơ sở hạ tầng khác nhau, bởi vậy pháp luật của các nước được xây dựng trên các nền tảng đó cũng có sự khác nhau.
Mỗi nước có các điều kiện khác nhau về chính trị, kinh tế – xã hội phong tục tập quán, truyền thống lịch sử…
Ví dụ: Một nam công dân Việt Nam muốn kết hôn với một nu công dân Anh. Lúc này, những vấn đề cần giải quyết là luật pháp nước nào sẽ điều chỉnh quan hệ hôn nhân này hay nói chính xác hơn là họ sẽ tiến hành các thủ tục kết hôn theo luật nước nào. Câu trả lời là hoặc luật của Anh hoặc luật của Việt Nam. Giả sử, hai công dân này đều thỏa mãn các điều kiện về kết hôn của pháp luật Anh và Việt Nam, lúc đó, vấn đề chọn luật nước nào không còn quan trọng. Bởi vì, luật nào thì họ cũng được phép kết hôn. Nhưng, nếu nam công dân Việt Nam mới chỉ 19 tuổi, nu công dân Anh 17 tuổi thì theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam, cả hai đều chưa đủ độ tuổi kết hôn (Điều 9, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định độ tuổi kết hôn với nam – đủ 20 tuổi trở lên, nữ – đủ 18 tuổi trở lên). Trong khi đó, luật hôn nhân của Anh thì quy định độ tuổi được phép kết hôn đối với nam và nữ là 16 tuổi. Như vậy, đều về độ tuổi được phép kết hôn nhưng pháp luật của cả hai quốc gia đều hiểu không giống nhau. Đấy chính là xung đột pháp luật.
Xung đột pháp luật là hiện tượng đặc thù của tư pháp quốc tế vì:
Trong các ngành luật khác, khi quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của chúng phát sinh, không có hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng tham gia vào việc điều chỉnh cùng một quan hệ xã hội ấy, và cũng không có sự lựa chọn luật để áp dụng vì các quy pháp pháp luật của các ngành luật này mang tính tuyệt đối về mặt lãnh thổ.
Chỉ khi các quan hệ tư pháp quốc tế xảy ra thì mới có hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng tham gia điều chỉnh quan hệ đó và làm nảy sinh yêu cầu về chọn luật áp dụng nếu trong trường hợp không có quy phạm thực chất thống nhất.
 

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Những nội dung cơ bản về hợp đồng vận chuyển tài sản trong BLDS 2015

Hợp đồng vận chuyển tài sản là một trong những hợp đồng rất phổ biến trong thực tế và đặc biệt phát triển trong nền kinh tế thị trường. Loại hợp đồng này cũng có những đặc điểm chung giống như nhiều loại hợp đồng khác, điểm khác biệt chủ yếu nằm ở đối tượng của hợp đồng vận chuyển chỉ là các loại tài sản có thể di dời vận chuyển…

1. Khái niệm hợp đồng vận chuyển tài sản

Tại Điều 530 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015) đã đưa ra khái niệm hợp đồng vận chuyền tài sản như sau: Hợp đồng vận chuyển tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vận chuyển có nghĩa vụ chuyển tài sản đến địa điểm đã định theo thỏa thuận và giao tài sản đó cho người có quyền nhận, bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ trả cước phí vận chuyển.”
Trong hợp đồng vận chuyển các bên không chỉ thỏa thuận đối tượng của hợp đồng vận chuyển, địa điểm tiếp nhận tài sản để vận chuyển, địa điểm cần chuyển tài sản tới và giao tài sản đó cho chủ thể có quyền, trách nhiệm tiếp nhận và thỏa thuận về cước phí vận chuyển. Dù trong Điều 530 BLDS 2015 về khái niệm của hợp đồng vận chuyển tài sản không đề cập đến phương tiện vận chuyển nhưng tùy theo tính chất của tài sản mà trong hợp đồng vận chuyển các bên còn có thể thỏa thuận phương tiện để vận chuyển tài sản đó, nếu chủ thể thực hiện việc vận chuyển có nhiều loại phương tiện vận chuyển khác nhau.
Do nhu cầu của bên vận chuyển và phương tiện vận chuyển tài sản đa dạng, phong phú từ phương tiện vận chuyển thô sơ như xe xích lô, xe ba gác, xe có động cơ như xe gắn máy, các loại xe ô tô, tàu hỏa, tàu biển và phương tiện hiện đại như các loại tàu cao tốc, siêu thanh, máy bay, tàu vũ trụ đáp ứng nhu cầu đa dạng của đời sống, sản xuất. Để phù hợp với thực tế cuộc sống, BLDS 2015 không coi hình thức của hợp đồng vận chuyển là điều kiện có hiệu lực về hình thức của hợp đồng. Do đó, hợp đồng vận chuyển tài sản có thể được giao kết bằng văn bản, bằng lời nói và BLDS 2015 đã bổ sung một hình thức cũng được coi là xác lập hợp đồng đó là xác lập bằng hành vi cụ thể.
Trong nhiều trường hợp, giao dịch về vận chuyển hàng hóa các bên cũng không lập hợp đồng vận chuyển, trên thực tế các bên coi vận đơn hoặc chứng từ vận chuyển tương đương khác là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng giữa các bên và điều này đã được luật hóa trong nhiều văn bản luật, trong các BLDS của Việt Nam.
Việc giữa bên vận chuyển và bên thuê vận chuyển lựa chọn hình thức hợp đồng như thế nào sẽ phụ thuộc ý chí của các bên và đối tượng tài sản cần vận chuyển để thực hiện việc giao kết hợp đồng bằng lời nói hay bằng văn bản. Tuy nhiên, để bảo đảm bên vận chuyển thực hiện đúng và đầy đủ các yêu cầu của bên vận chuyển, cũng như nhằm hạn chế tranh chấp thì khi cần vận chuyển khối lượng tài sản lớn, nhiều kiện hàng, cung đường vận chuyển dài hoặc đối tượng vận chuyển đòi hỏi những điều kiện chăm sóc nhất định,bảo đảm chất lượng, hạn chế hư hao trong quá trình vận chuyển thì hai bên cần thể hiện việc giao kết hợp đồng bằng văn bản, văn bản đó có thể được thực hiện dưới hình thức hợp đồng hoặc vận đơn v.v.
Dù việc giao kết hợp đồng vận chuyển bằng lời nói hay được thể hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản hay chỉ là vận đơn… thì đều có giá trị pháp lý như nhau. Điều quan trọng là việc thu thập tài liệu cũng như chứng minh cho việc có giao kết hợp đồng hay không, nội dung mà các bên đã thỏa thuận khi giao kết, thực hiện hợp đồng để có sự nhận thức, đánh giá đúng những gì diễn ra trên thực tế trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng. Muốn xác định đúng bên nào vi phạm, có lỗi phải căn cứ vào các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng, các tài liệu, chứng cứ chứng minh quá trình thức hiện hợp đồng, trên cơ sở đó rút ra kết luận.
Để bên vận chuyển thực hiện được việc vận chuyển sau khi hai bên đã giao kết hợp đồng vận chuyển tài sản và trong hợp đồng vận chuyển hai bên không có thỏa thuận cụ thể về việc bên nào chịu trách nhiệm đóng gói (đối với tài sản phải đóng gói), chi phí xếp, dỡ tài sản lên phương tiện thì bên thuê vận chuyển ngoài việc phải giao tài sản cho bên vận chuyển đúng thời hạn, địa điểm và đóng gói theo đúng quy cách đã thỏa thuận; phải chịu chi phí xếp, dỡ tài sản lên phương tiện vận chuyển. Tuy nhiên, nếu trong hợp đồng hai bên thỏa thuận bên vận chuyển thực hiện việc đóng gói, chịu chi phí xếp, dỡ tài sản lên phương tiện vận chuyển thì bên nhận vận chuyển có trách nhiệm thực hiện theo thỏa thuận. Trong trường hợp này ngoài việc các bên thỏa thuận về cước phí vận chuyển thì các bên phải thỏa thuận bên thuê vận chuyển phải trả cho bên vận chuyển những chi phí cho các công việc mà bên vận chuyển đã thực hiện theo thỏa thuận.
Các bên trong hợp đồng vận chuyển đều phải thực hiện đúng thời gian giao tài sản và tiếp nhận tài sản vận chuyển như đã thỏa thuận. Trường hợp bên thuê vận chuyển giao tài sản không đúng thời hạn, địa điểm đã thỏa thuận làm cho bên vận chuyển phải chờ đợi, thì phải thanh toán chi phí chờ đợi và tiền vận chuyển tài sản đến địa điểm đã thỏa thuận trong hợp đồng cho bên vận chuyển. Phí chờ đợi nhiều hay ít sẽ phụ thuộc vào số nhân lực, phương tiện mà bên vận chuyển đã chuẩn bị cho việc thực hiện công việc vận chuyển. Tiền vận chuyển tài sản đến địa điểm đã thỏa thuận nhiều hay ít dựa trên cung đường cũng như sự thuận tiện hay khó khăn khi vận chuyển.
Vấn đề đặt ra là, nếu địa điểm tiếp nhận tài sản bị thay đổi, nhưng cung đường từ điểm tiếp nhận tới địa điểm chuyển giao sau khi đã vận chuyển ngắn hơn, thuận tiện hơn so với địa điểm tiếp nhận tài sản vận chuyển đã thỏa thuận lúc đầu trong hợp đồng, thì bên thuê vận chuyển vẫn phải trả đúng số tiền như đã thỏa thuận trong hợp đồng hay có quyền bớt tiền thuê vận chuyển? Nếu việc thay đổi địa điểm tiếp nhận tài sản vận chuyển được thông báo trước cho bên vận chuyển, được bên vận chuyển đồng ý, dù cung đường ngắn hơn, thuận tiện hơn trong quá trình vận chuyển nhưng hai bên không có thỏa thuận mới về giá thuê vận chuyển thì bên thuê vận chuyển vẫn phải thanh toán đúng số tiền như đã thỏa thuận. Trường hợp hai bên có thỏa thuận mới bổ sung trong đó có việc giảm tiền thuê vận chuyển thì bên thuê vận chuyển trả tiền thuê vận chuyển theo giá thỏa thuận bổ sung sau đó.
Trường hợp bên vận chuyển chậm tiếp nhận tài sản tại địa điểm đã thỏa thuận thì bên vận chuyển phải chịu chi phí phát sinh do việc chậm tiếp nhận.
Về cước phí vận chuyển, tại Điều 533 BLDS 2015 có quy định:

1. Mức cước phí vận chuyển do các bên thỏa thuận; nếu pháp luật có quy định về mức cước phí vận chuyển thì áp dụng mức cước phí đó
Bên thuê vận chuyển phải thanh toán đủ cước phí vận chuyển sau khi tài sản được chuyển lên phương tiện vận chuyển, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Từ quy định trên, các bên trong quan hệ hợp đồng vận chuyển và cơ quan giải quyết tranh chấp cần lưu ý: Khi pháp luật có quy định về cước phí vận chuyển thì các bên, đặc biệt là bên vận chuyển phải thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Nếu bên vận chuyển tính cước phí cao hơn là vi phạm, nếu có tranh chấp, cơ quan giải quyết tranh chấp không chấp nhận phần cước phí vượt quá so với quy định.
Trường hợp pháp luật không có quy định về cước phí thì hai bên có quyền tự do, tự nguyện thỏa thuận về cước phí vận chuyển. Khi hai bên đã thống nhất về cước phí thì hai bên đều phải tuân thủ cước phí đã thỏa thuận.
Nếu các bên không có thỏa thuận về thời điểm thanh toán cước phí thì bên thuê vận chuyển phải thanh toán đủ cước phí vận chuyển sau khi tài sản được chuyển lên phương tiện vận chuyển. Trường hợp hai bên có thỏa thuận về thời điểm thanh toán cước phí, ví dụ như thanh toán cước phí ngay sau khi hai bên ký kết hợp đồng, hoặc khi bên vận chuyển đã hoàn tất việc vận chuyển và bàn giao tài sản cho người có quyền nhận. Trong trường hợp này, bên vận chuyển phải vận chuyển tài sản đến địa điểm đã xác định trong hợp đồng và giao tài sản cho người có quyền nhận thì bên thuê mới phải thanh toán cước phí. Khi có tranh chấp, cơ quan giải quyết tranh chấp căn cứ vào việc bên vận chuyển đã giao tài sản đầy đủ, đúng địa điểm đã thỏa thuận chưa, nếu bên vận chuyển đã thực hiện việc vận chuyển đúng như thỏa thuận thì căn cứ mức phí vận chuyển mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng để giải quyết.

2. Quyền, nghĩa vụ của hai bên trong hợp đồng vận chuyển tài sản

Hợp đồng vận chuyển tài sản là hợp đồng song vụ, có đền bù. Do đó, trong hợp đồng vận chuyển tài sản, bên vận chuyển và bên thuê vận chuyển đều có nghĩa vụ tương ứng với nhau, nghĩa vụ của bên này là quyền của bên kia và ngược lại. Chỉ khi mỗi bên thực hiện đúng nghĩa vụ của mình thì quyền lợi của bên kia mới được bảo đảm. Để bảo đảm lợi ích của mình, thì mỗi bên phải có ý thức thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ thì mới tránh được tranh chấp.

2.1. Quyền, nghĩa vụ của bên vận chuyển

2.1.1. Nghĩa vụ của bên vận chuyển (Điều 534 BLDS 2015)

Một trong những nghĩa vụ của bên vận chuyển là bảo đảm vận chuyển tài sản đầy đủ, an toàn đến địa điểm đã định, theo đúng thời hạn.
Khi bên vận chuyển đã tiếp nhận tài sản vận chuyển thì dù về pháp lý tài sản vẫn thuộc quyền sở hữu của bên vận chuyển nhưng kể từ thời điểm đó, bắt đầu phát sinh trách nhiệm của bên vận chuyển về sự an toàn của tài sản.
Bên vận chuyển phải có trách nhiệm bảo quản tài sản, phải áp dụng mọi biện pháp bảo đảm cho việc vận chuyển tài sản đến địa điểm đã được xác định trong hợp đồng một cách an toàn, đúng thời hạn, không để mất mát, hư hỏng tài sản. Đồng thời, có nghĩa vụ giao tài sản cho người có quyền nhận. Dù đã chuyên chở tài sản đến địa điểm nhưng không giao tài sản cho đúng người có quyền nhận dẫn đến mất mát, thất thoát tài sản thì bên vận chuyển sẽ phải chịu trách nhiệm. Do đó, khi bàn giao tài sản, bên vận chuyển phải kiểm tra có đúng đối tượng có quyền nhận hay không thì mới giao.
Trong quá trình vận chuyển bên vận chuyển phải chịu chi phí liên quan đến việc chuyên chở tài sản, không yêu cầu bên thuê vận chuyển chịu những chi phí phát sinh trong quá trình vận chuyển như chi phí xăng, dầu; chi phí cho người bảo vệ tài sản trên đường vận chuyển; chi phí bảo quản tài sản; chi phí cho các trạm thu phí trên đường vận chuyển… Tuy nhiên, nếu hai bên có thỏa thuận mọi chi phí liên quan đến vận chuyển tài sản bên thuê vận chuyển chịu thì khi đó bên thuê vận chuyển mới chịu các chi phí nói trên.
Các phương tiện vận chuyển bằng động cơ luôn là nguồn nguy hiểm cao độ với mọi người xung quanh. Đặc biệt khi phương tiện vận chuyển lưu hành thì nguy cơ xuất hiện những rủi ro với cả tài sản trên phương tiện vận chuyển càng lớn, nên vừa để nâng cao trách nhiệm cho bên vận chuyển, vừa để kịp thời khắc phục hậu quả nếu không may xảy ra sự cố, BLDS 2015 quy định bên vận chuyển phải mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. Đây là một nghĩa vụ bắt buộc, chứ không phải là tùy nghi nên bên vận chuyển phải thực hiện nghiêm chỉnh.
Trong trường hợp bên vận chuyển không bảo quản tốt, không bảo đảm an toàn tài sản trên đường vận chuyển dẫn đến mất mát, hư hỏng tài sản của bên thuê vận chuyển thì bên vận chuyển phải bồi thường thiệt hại cho bên thuê vận chuyển.
Bên vận chuyển chỉ không phải bồi thường trong trường hợp hai bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

2.1.2. Quyền của bên vận chuyển

Để bảo đảm thực hiện đúng đối tượng của hợp đồng vận chuyển thì Điều 535 BLDS 2015 quy định cho bên vận chuyển có quyền kiểm tra sự xác thực của tài sản. Việc kiểm tra tài sản dựa trên cơ sở đối tượng vận chuyển mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng, dựa trên vận đơn hoặc chứng từ vận chuyển tương đương khác. Từ đó bên vận chuyển xác định tài sản mà “bên thuê” vận chuyển giao cho mình có đúng như đã thỏa thuận hay không.
Trường hợp bên vận chuyển phát hiện tài sản mà “bên thuê” vận chuyển bàn giao cho mình (có thể là bên thuê vận chuyển trực tiếp bàn giao tài sản, có thể khách hàng của bên thuê bàn giao tài sản…) không đúng với loại tài sản đã thỏa thuận thì bên vận chuyển có quyền từ chối vận chuyển tài sản không đúng với loại tài sản đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Bên vận chuyển có quyền yêu cầu bên thuê vận chuyển thanh toán đủ cước phí vận chuyển đúng thời hạn.
Như trên đã phân tích, nếu các bên không có thỏa thuận về thời điểm thanh toán cước phí vận chuyển thì bên thuê vận chuyển phải thanh toán đủ cước phí vận chuyển sau khi tài sản được chuyển lên phương tiện vận chuyển.
Trường hợp hai bên có thỏa thuận về thời điểm thanh toán cước phí, ví dụ như hai bên thỏa thuận khi tài sản được chuyển lên phương tiện vận chuyển thì bên thuê vận chuyển thanh toán 2/3 cước phí vận chuyển. Khi tài sản được vận chuyển đến đúng địa điểm đã thỏa thuận và bàn giao tài sản đầy đủ cho bên có quyền nhận thì bên thuê vận chuyển thanh toán nốt 1/3 số tiền cước phí vận chuyển còn lại. Bên thuê vận chuyển phải thực hiện đúng thời hạn đã thỏa thuận khi bên vận chuyển đã hoàn thành tốt việc vận chuyển.
Trong trường hợp bên thuê vận chuyển giao cho bên vận chuyển những tài sản mà luật cấm giao dịch, tài sản có tính chất nguy hiểm, độc hại, khi biết được hoặc theo quy định của pháp luật buộc bên vận chuyển phải biết thì bên vận chuyển có quyền từ chối vận chuyển những loại tài sản đó. Khi luật quy định buộc bên vận chuyển phải biết tài sản mà bên vận chuyển đã nhận thuộc loại luật cấm giao dịch, tài sản có tính chất nguy hiểm, độc hại là xuất phát từ quy định tại khoản 1 Điều 535 BLDS 2015 về quyền kiểm tra sự xác thực của tài sản và những quy định khác của luật hiện hành.

2.2. Quyền, nghĩa vụ của bên thuê vận chuyển

2.2.1. Nghĩa vụ của bên thuê vận chuyển (Điều 536 BLDS 2015)

Khi bên vận chuyển thực hiện một dịch vụ thì theo lẽ công bằng bên vận chuyển phải nhận được những lợi ích tương xứng với công sức, chi phí đã bỏ ra.
Lợi ích trong hoạt động vận chuyển chính là được hưởng cước phí vận chuyển. Do đó, bên thuê vận chuyển phải trả đủ tiền cước phí vận chuyển cho bên vận chuyển theo đúng thời hạn, phương thức đã thỏa thuận. Trong trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn và phương thức thanh toán cước phí thì bên thuê vận chuyển phải thanh toán cước phí theo quy định tại khoản 2 Điều 533 BLDS 2015.
Để bên vận chuyển thực hiện tốt nghĩa vụ của bên vận chuyển được quy định tại khoản 1 Điều 534 BLDS 2015, Điều 536 BLDS 2015 cũng đặt ra nghĩa vụ cho bên thuê vận chuyển là phải cung cấp thông tin cần thiết liên quan đến tài sản vận chuyển để bảo đảm an toàn cho tài sản vận chuyển.
Nếu bên thuê vận chuyển không cung cấp những thông tin cần thiết liên quan đến tài sản vận chuyển, dẫn đến không bảo đảm an toàn cho tài sản vận chuyển thì bên thuê vận chuyển sẽ là bên có lỗi. Tuy nhiên, việc xác định lỗi của mỗi bên đến đâu cần căn cứ vào thỏa thuận của hai bên, về mức độ vi phạm cung cấp thông tin của bên thuê vận chuyển để xem xét, đánh giá, xác định trách nhiệm.
Trong trường hợp bên thuê vận chuyển không cử người áp tải, trông coi tài sản vận chuyển mà hai bên thỏa thuận đó là trách nhiện của bên vận chuyển thì bên vận chuyển phải trông coi tài sản trên đường vận chuyển. Tuy nhiên, trong trường hợp bên thuê vận chuyển cử người áp tải, trông coi tài sản mà tài sản bị mất, hư hỏng thì bên thuê vận chuyển phải tự chịu những thiệt hại đã xảy ra, không được bồi thường.

2.2.2. Quyền của bên thuê vận chuyển (Điều 537 BLDS 2015)

Khi hai bên đã giao kết hợp đồng, bên cạnh việc bên thuê vận chuyển thực hiện các nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc luật định thì bên thuê vận chuyển có quyền yêu cầu bên vận chuyển chuyên chở tài sản đến đúng địa điểm, thời điểm đã thỏa thuận.
Khi tài sản được chuyên chở đến địa điểm mà hai bên đã thỏa thuận, bên thuê vận chuyển có quyền trực tiếp nhận tài sản hoặc chỉ định người thứ ba nhận lại tài sản đã thuê vận chuyển.
(Còn nữa)

Nguồn: Chuyên trang học luật trưc tuyến (hocluat.vn)

Bồi thường thiệt hại đầy đủ, có phải chịu tội không?

Do uống rượu nên trên đường về nhà, em trai tôi đã gây ra tai nạn giao thông khiến 1 thanh niên tử vong. Sau đó, gia đình tôi đã gặp gỡ phía gia đình người bị nạn để thăm hỏi, bồi thường tổn thất. Gia đình họ cũng đã có đơn xin không xử lý hình sự đối với em tôi. Vậy em tôi có phải chịu tội không?
Trường hợp của em bạn, chúng tôi xin trả lời như sau:
Theo Điều 260, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi 2017) quy định về tham gia giao thông đường bộ:
 

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

 
Như vậy theo các quy định trên, em trai bạn gây tai nạn dẫn đến chết người trong tình trạng có sử dụng rượu, bia, là tình tiết định khung hình phạt tại khoản 2 của Điều luật này.
Mặc dù gia đình bạn đã bồi thường thiệt hại về vật chất cho gia đình nạn nhân và được gia đình nạn nhân viết đơn xin không xử lý hình sự, nhưng theo quy định của pháp luật, em trai bạn vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Bởi vì hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không thuộc nhóm các tội phạm khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại (quy định tại Điều 155, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Việc bồi thường vật chất đó chỉ là tình tiết giảm nhẹ khi vụ án được đưa ra xét xử.

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)

Phải làm gì khi mua nhầm xe gian?

Tháng trước, tôi mua một chiếc xe tay ga tại cửa hàng cầm đồ có đầy đủ giấy tờ với giá 15 triệu đồng. Cách đây 2 hôm, công an tịch thu chiếc xe của tôi vì họ xác định đây là tang vật của một vụ trộm tại khu nhà trọ sinh viên và giấy tờ là giả. Khi mua, tôi không biết nguồn gốc của chiếc xe, vậy tôi phải làm sao để đòi lại tiền của mình?
Trường hợp của bạn, Kiemsat.vn trả lời như sau:
Theo Điều 117, Bộ luật dân sự năm 2015, giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Với quy định trên thì các giao dịch liên quan đến tài sản phạm pháp đều vô hiệu bởi những giao dịch này không được thực hiện bởi chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lí hợp pháp của tài sản. Tài sản phạm pháp phải được trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lí hợp pháp.
Do đó, giao dịch mua bán xe giữa bạn và chủ cửa hàng cầm đồ không có hiệu lực.
Để giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu, Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”.
Như vậy, khi mua nhầm xe gian, bạn phải giao lại xe cho cơ quan công an và có quyền yêu cầu cửa hàng cầm đồ hoàn trả lại cho bạn số tiền bạn đã mua xe.
Trường hợp cửa hàng cầm đồ không đồng ý hoàn trả tiền cho bạn, bạn có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền nơi họ cư trú để yêu cầu hoàn trả và yêu cầu bồi thường thiệt hại (nếu có).

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)

Khởi kiện không đúng đối tượng, Tòa án đình chỉ vụ án hay bác đơn khởi kiện?

Bà Phạm Thị A kiện UBND xã X bồi thường số tiền 700 triệu đồng vì đã thu hồi đất của gia đình bà vào làm đường giao thông và sân bóng đá của thôn P, xã X. Hiện có các quan điểm khác nhau về việc khởi kiện của bà A. Mời bạn đọc cùng trao đổi.
 

Nội dung vụ việc:
Ngày 28/11/2016, Tòa án nhân dân huyện H nhận được đơn khởi kiện của bà Phạm Thị A yêu cầu Tòa án buộc UBND xã X bồi thường số tiền 700 triệu đồng, vì đã thu hồi diện tích 3.000m2 đất đấu thầu của gia đình bà vào làm đường giao thông và sân bóng đá của thôn P, xã X.
Bà cho rằng toàn bộ diện tích đất bị thu hồi tuy gia đình bà nhận thầu từ năm 1995 đến năm 2013 của Hợp tác xã nông nghiệp thôn P.  Tuy nhiên, năm 2001, toàn bộ diện tích đất này đã được UBND xã X lập hồ sơ đề nghị UBND huyện H cấp giấy chứng nhận QSD đất cho gia đình bà. Hiện nay diện tích đất này nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình bà A.

 
Quan điểm thứ nhất cho rằng:  Theo quy định tại Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015  về quyền khởi kiện vụ án: Cơ quan, tổ chức, có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Theo quy định tại Điều 167 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự gửi trực tiếp tại Tòa án hoặc thông qua đường bưu điện. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn khởi kiện, Tòa án phải có một trong các quyết định: Thụ lý nếu thuộc thẩm quyền và trả lại đơn nếu không thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Trong trường hợp này bà Phạm Thị A khởi kiện UBND xã X bồi thường thiệt hại là không đúng đối tượng, mà phải khởi kiện UBND huyện H vì Quyết định thu hồi diện tích đất của gia đình bà A để làm đường giao thông và sân thể thao là của UBND huyện H. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có quy định các trường hợp trả lại đơn khởi kiện tại Điều 192, tuy nhiên đối với trường hợp nguyên đơn khởi kiện vụ án không đúng đối tượng như vụ án nêu trên thì không quy định. Bởi vậy, Tòa án không được trả lại đơn khởi kiện được mà phải thụ lý vụ án và đưa ra xét xử theo hướng bác đơn khởi kiện chứ không được đình chỉ vụ án, bởi vì Điều 217 BLTTDS năm 2015 không có quy định.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Trong vụ án này quan hệ giữa UBND xã X với bà Phạm Thị A trong vụ việc như bà A trình bày là quan hệ hành chính giữa cơ quan nhà nước với công dân. Do vậy, việc bà A khởi kiện yêu cầu UBND xã X trả cho bà khoản tiền bồi thường thực thiệt hại, thực chất là yêu cầu bồi thường Nhà nước do người thi hành công vụ gây ra. Để giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà A phải xác định hành vi của những người thi hành công vụ của UBND xã X là trái pháp luật và thuộc trường hợp được bồi thường. Bà A khởi kiện khi chưa có văn bản nào của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ thuộc UBND xã X trong vụ việc lập hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà A là không đúng quy định của pháp luật theo quy định tại Điều 6 Luật Bồi thường trách nhiệm nhà nước. Do vậy, trong vụ án này bà A chưa đủ điều kiện khởi kiện. Theo quy định tại Điều 192 BLTTDS  năm 2015, Tòa án cần trả lại đơn khởi  kiện.
Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai. Rất mong nhận được ý kiến trao đổi của đồng nghiệp và quý độc giả.
 

Đỗ Thịnh Thùy – VKSND huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)

Vướng mắc khi áp dụng pháp luật trong giải quyết án kinh tế, chức vụ

Qua thực tiễn công tác THQCT và kiểm sát việc giải quyết các vụ án về kinh tế, chức vụ, tham nhũng cho thấy có một số điểm chưa thống nhất giữa quy định của BLTTHS năm 2015 với một số văn bản hướng dẫn liên quan đến việc thu thập thông tin về tiền gửi, tài sản trong xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; liên quan đến việc trưng cầu giám định và những trường hợp cần thiết phải trưng cầu giám định.
1. Mâu thuẫn giữa quy định của BLTTHS năm 2015 với quy định tại Nghị định số 70/2000/CP-NĐ ngày 21/11/2000 của Chính phủ về việc giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng và Thông tư số 08/VBHN-NHNN ngày 21/5/2014 của Ngân hàng Nhà nước (hướng dẫn thực hiện Nghị định số 70/2000/CP-NĐ ngày 21/11/2000 của Chính phủ về việc giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng) liên quan đến việc thu thập thông tin, tài liệu trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; cụ thể:
Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố: Khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền có quyền tiến hành các hoạt động: Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin”. Theo quy định này, trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền có quyền tiến hành một số hoạt động, trong đó có hoạt động thu thập thông tin, tài liệu từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin.
Tuy nhiên, khoản 4 Điều 5 Nghị định số 70/2000/CP-NĐ ngày 21/11/2000 của Chính phủ vẫn quy định: “Tổ chức nhận tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng chỉ được cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng trong các trường hợp sau: Theo yêu cầu bằng văn bản của các cơ quan Nhà nước trong quá trình thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật”.
Thông tư số 08/VBHN-NHNN ngày 21/5/2014 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn Nghị định số 70 cũng có bất cập liên quan tới yêu cầu về tài liệu chứng minh lý do yêu cầu cung cấp thông tin. Cụ thể: Điểm d khoản 2.2 mục 2 Thông tư số 08/VBHN-NHNN ngày 21/5/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn:

Đối với việc cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng theo yêu cầu của các đối tượng được quy định tại các khoản 3, 4 Điều 5 và Điều 6 Nghị định 70/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21/11/2000 về việc giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng: Yêu cầu cung cấp thông tin phải được thực hiện bằng văn bản. Văn bản yêu cầu cung cấp thông tin về tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng phải có đầy đủ các nội dung:
– Lý do cần cung cấp thông tin;
– Các thông tin cần cung cấp (nêu cụ thể loại thông tin và tên khách hàng);
– Thời hạn cung cấp thông tin;
– Địa điểm cung cấp thông tin;
– Mục đích sử dụng thông tin;
– Các tài liệu có liên quan đến việc đang tiến hành thanh tra, điều tra (như Quyết định thanh tra; Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; các tài liệu chứng minh việc thanh tra, điều tra có liên quan trực tiếp đến khách hàng).

Như vậy, theo quy định, hướng dẫn trên của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì tổ chức nhận tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng chỉ được cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng theo yêu cầu bằng văn bản của các cơ quan Nhà nước trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và văn bản yêu cầu tổ chức cung cấp các thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng phải do Cơ quan điều tra của Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên ký, kèm theo các tài liệu có liên quan đến việc đang tiến hành điều tra (như quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can).
Theo chúng tôi, quy định và hướng dẫn này đã gây khó khăn, vướng mắc cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu nói chung, thông tin về tiền gửi, tài sản gửi của khách hàng nói riêng trong giai đoạn xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Vì trên thực tế có nhiều trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng không cung cấp được tài liệu liên quan đến việc đang tiến hành điều tra, những vụ việc vẫn đang trong giai đoạn thu thập thông tin, chứng cứ để phục vụ công tác xác minh thông tin, lập chuyên án, phục vụ công tác xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố và chưa đến giai đoạn khởi tố vụ án, khởi tố bị can nên chưa có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Quy định này gây khó khăn trong công tác thu thập chứng cứ ngay từ giai đoạn xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, củng cố hồ sơ của Cơ quan điều tra vì các ngân hàng lấy lý do chưa có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can nên không cung cấp thông tin, tài liệu nói chung, thông tin về tiền gửi, tài sản gửi của khách hàng nói riêng khiến nhiều vụ việc kinh tế, tham nhũng tuy bị phát hiện nhưng lại chậm được đưa ra ánh sáng.
2. Mâu thuẫn giữa quy định của BLTTHS năm 2015 với quy định tại Luật giám định tư pháp ngày 20/6/2012 liên quan đến việc trưng cầu giám định trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, cụ thể:
Điểm d khoản 3, Điều 147 BLTTHS năm 2015 quy định: “Khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền có quyền tiến hành các hoạt động: Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản”.
Theo quy định trên, trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền có quyền tiến hành một số hoạt động, trong đó có hoạt động trưng cầu giám định. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật giám định tư pháp ngày 20/6/2012, lại quy định:

1. Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của Luật này.

Như vậy, các cơ quan giám định, Giám định viên được trưng cầu giám định chỉ thực hiện giám định những vấn đề liên quan đến hoạt động điều tra (từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự), truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Thực tế cho thấy một số tổ chức giám định tư pháp và Giám định viên từ chối giám định với lý do cơ quan trưng cầu giám định chưa khởi tố vụ án, gây khó khăn cho cơ quan trưng cầu giám định trong giai đoạn xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.
3. Vướng mắc trong việc thực hiện quy định của BLTTHS năm 2015 và Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP ngày 13/12/2017 (quy định những trường hợp cần thiết phải trưng cầu giám định tư pháp trong giải quyết vụ án, vụ việc đối với việc giám định vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai); cụ thể, BLTTHS năm 2015, quy định:

Điều 206. Các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định
Bắt buộc phải trưng cầu giám định khi cần xác định:
1. Tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc bị hại khi có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng đắn về những tình tiết của vụ án;
2. Tuổi của bị can, bị cáo, bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án và không có tài liệu để xác định chính xác tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó;
3. Nguyên nhân chết người;
4. Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động;
5. Chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ;
6. Mức độ ô nhiễm môi trường.

Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP ngày 13/12/2017, quy định những trường hợp cần thiết phải trưng cầu giám định tư pháp trong giải quyết vụ án, vụ việc về tham nhũng, kinh tế, hướng dẫn:

Điều 4. Những trường hợp cần thiết phải trưng cầu giám định
Những trường hợp cần thiết phải trưng cầu giám định theo Thông tư liên tịch này, bao gồm:
1. Khi cần xác định chất lượng, nguồn gốc, xuất xứ của tài sản, hàng hóa, hàng giả, hàng thật, hàng cấm;
2. Khi cần truy nguyên về tài liệu, đồ vật, chữ ký, chữ viết, con dấu, dấu vết, dữ liệu điện tử;
3. Khi cần xác định tính chính xác của các dụng cụ cân, đo, đong, đếm và các máy móc, thiết bị khác;
4. Khi cần xác định hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đầu tư, gồm:
a) Về lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư; quyết định đầu tư dự án;
b) Về đấu thầu;
c) Về khảo sát, tư vấn thiết kế, thi công, giám sát, nghiệm thu, thanh quyết toán;
d) Về quản lý vốn đầu tư như: Tạm ứng vốn không đúng quy định; sử dụng vốn thi công không đúng mục đích; bảo lãnh cho vay vốn, tạm ứng vốn, thực hiện hợp đồng hoặc điều chuyển vốn cho vay; cho vay vốn không đúng chế độ;
đ) Hành vi khác vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đầu tư.
5. Trường hợp gặp khó khăn, vướng mắc trong việc xác định mức độ thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đầu tư gây ra, thì mức độ thiệt hại được xác định theo nguyên tắc lấy tổng chi phí đầu tư dự án trừ đi chi phí hợp lý, hợp lệ hoặc được xác định theo một hoặc trong các cách thức sau đây:
a) Tiền lãi suất ngân hàng của khoản tiền đã tạm ứng vốn mà sử dụng khoản tiền này không đúng mục đích dẫn đến không có khả năng thu hồi hoặc làm mất vốn đầu tư;
b) Tiền lãi suất ngân hàng của các khoản đầu tư cho vay, ủy thác hoặc điều chuyển vốn, sử dụng vốn không đúng quy định của pháp luật gây thất thoát, lãng phí;
c) Khoản chi phí phát sinh về tiền lãi vay của khoản vốn đã đầu tư và các chi phí khác đối với dự án kể từ khi dự án ngừng thi công hoặc ngừng hoạt động;
d) Tổng mức đầu tư phải điều chỉnh tăng lên so với tổng mức đầu tư ban đầu mà nguyên nhân do có hành vi vi phạm pháp luật dẫn đến phải kéo dài thời gian thực hiện dự án hoặc làm chậm tiến độ thực hiện dự án.
6. Khi cần xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế, tài chính, kế toán, bảo hiểm, ngân hàng, chứng khoán, đất đai, tài nguyên, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi và các lĩnh vực khác khi xét thấy cần thiết.

Như vậy, theo quy định, hướng dẫn trên thì vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai không thuộc trường hợp phải trưng cầu giám định. Tuy nhiên, điểm d khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015 lại quy định: “d) Vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật”.
Như vậy, theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015 thì vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai lại thuộc trường hợp phải có kết luận giám định, điều này lại mâu thuẫn với chính quy định tại Điều 206 BLTTHS năm 2015, khiến các cơ quan tiến hành tố tụng gặp khó khăn, vướng mắc khi xử lý các vụ án, vụ việc liên quan đến động vật hoang dã và thực vật ngoại lai.
Mặt khác, điểm d khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015 cũng quy định đối với động vật hoang dã và thực vật ngoại lai thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Trên thực tế không có cơ quan mà chỉ có các Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã (như: Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã và kỹ thuật bảo vệ rừng Sóc Sơn, Hà Nội; Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật Cúc Phương, Ninh Bình; Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi, TP HCM…) thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận, cứu hộ đối với động vật hoang dã do các cơ quan tiến hành tố tụng chuyển giao. Quy định nêu trên cũng gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi xử lý các vụ án, vụ việc liên quan đến động vật hoang dã.
Thiết nghĩ, liên ngành tư pháp trung ương cần khẩn trương phối hợp để hướng dẫn thống nhất việc áp dụng pháp luật về trưng cầu giám định, trong quá trình xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố cũng như trong toàn bộ quá trình điều tra, truy tố, xét xử đối với tội phạm về kinh tế, chức vụ, tham nhũng, nhằm đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật được thống nhất, qua đó góp phần đấu tranh có hiệu quả đối với các loại tội phạm này./.
(Trích bài viết: “Một số khó khăn, vướng mắc áp dụng pháp luật trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát giải quyết án kinh tế, chức vụ” của tác giả Lê Văn Đông, Phó Viện trưởng VKSND tỉnh Thanh Hóa, Tạp chí Kiểm sát số 08/2018).

Các yếu tố cấu thành tội giết người tại Bộ luật hình sự 2015

Các yếu tố cấu thành tội giết người theo quy định tại Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tội giết người được quy định tại Điều 123 BLHS:
 

Điều 123. Tội giết người
1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Giết 02 người trở lên;
b) Giết người dưới 16 tuổi;
c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
i) Thực hiện tội phạm một cách man r;
k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;
n) Có tính chất côn đồ;
o) Có tổ chức;
p) Tái phạm nguy hiểm;
q) Vì động cơ đê hèn.
2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

 
Giết người là hành vi cố ý gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 14 tuổi trở lên thực hiện.

Khách thể của tội giết người

Khách thể của Tội giết người là quan hệ nhân thân mà nội dung của nó là quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người.
Trong số các quyền nhân thân, quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người là quyền tự nhiên, thiêng liêng và cao quý nhất, không một quyền nào có thể so sánh được. Bởi lẽ, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Khi quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người bị xâm phạm thì mục tiêu phấn đấu của loài người sẽ trở nên vô nghĩa; động lực phát triển của xã hội sẽ bị triệt tiêu. Thêm vào đó, con người còn là chủ thể của quan hệ xã hội. Nếu quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người bị xâm phạm thì các quan hệ xã hội sẽ bị phá vỡ. Chính vì những lý do trên mà mục tiêu bảo vệ quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người luôn được đặt lên hàng đầu đối với mọi dân tộc, mọi quốc gia, mọi thời kỳ và mọi chế độ. Cũng vì ý nghĩa đặc biệt quan trọng của quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người mà trong các BLHS từ năm 1985 đến nay, ngay sau các tội xâm phạm an ninh quốc gia, nhà làm luật đều đã quy định Tội giết người. Điều này càng khẳng định, quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người thật sự thiêng liêng, cao quý, cần được bảo vệ một cách tuyệt đối. Bất cứ ai xâm phạm quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người đều phải bị trừng trị nghiêm khắc.
Tội giết người xâm phạm quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người thông qua sự tác động làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động – con người đang sống. Việc xác định đúng đối tượng tác động của Tội giết người có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Bởi lẽ, nếu hành vi nào đó tác động vào đối tượng không phải hay chưa phải là con người thì không xâm phạm đến quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người, vì vậy, hành vi đó không phạm tội giết người.

Mặt khách quan của tội giết người

Hành vi khách quan

Hành vi khách quan của Tội giết người có thể được thực hiện qua hành động hoặc không hành động. Hành động phạm tội giết người là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm – quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người, qua việc chủ thể làm một việc bị pháp luật cấm. Không hành động phạm tội giết người là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm – quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người, qua việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật yêu cầu phải làm mặc dù có đủ điều kiện để làm.
Hành vi khách quan của Tội giết người là những biểu hiện của con người ra ngoài thế giới khách quan có sự kiểm soát của ý thức và sự điều khiển của ý chí. Đây là điều kiện cần, còn điều kiện đủ là hành vi đó phải gây ra hoặc có khả năng gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật. Những hành vi không gây ra và cũng không có khả năng gây ra cái chết cho người khác hoặc tuy có khả năng gây ra cái chết cho người khác, nhưng không trái pháp luật (như hành vi phòng vệ chính đáng, hành vi thi hành án tử hình…) thì đều không phải là hành vi khách quan của Tội giết người.
Nghiên cứu hành vi khách quan của Tội giết người cần phân biệt Tội giết người với Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng. Nếu hành vi khách quan của Tội giết người là hành vi cố ý gây ra cái chết cho nạn nhân thì hành vi khách quan của Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng chỉ là hành vi cố ý không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng.
Thực tiễn xét xử cho thấy, để xác định đúng tội danh chúng ta cần phân biệt hai tội này qua các tiêu chí cơ bản sau đây:
Thứ nhất, nếu nạn nhân bị chết do tình trạng nguy hiểm đến tính mạng thì: Định Tội giết người khi người phạm tội vì mong muốn hoặc có ý thức bỏ mặc cho hậu quả chết người xảy ra nên đã cố ý đặt nạn nhân vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng. Định tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng khi người phạm tội chỉ vô ý gây ra tình trạng nguy hiểm đến tính mạng của nạn nhân, trước đó người phạm tội không có bất kỳ hành vi cố ý nào xâm phạm tính mạng hoặc sức khoẻ của nạn nhân.
Thứ hai, nếu nạn nhân bị chết không phải do tình trạng nguy hiểm đến tính mạng mà do hành vi của người phạm tội cố ý gây ra, thì người thực hiện hành vi cố ý gây ra cái chết cho nạn nhân chỉ có thể phạm tội giết người mà không phạm tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng.

Hậu quả 

Hậu quả của Tội giết người là thiệt hại do hành vi phạm tội giết người gây ra cho quan hệ nhân thân, cho quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người. Thiệt hại này được thể hiện dưới dạng thiệt hại về thể chất – hậu quả chết người khác. Nghiên cứu hậu quả của Tội giết người có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thời điểm tội phạm hoàn thành. Vì Tội giết người là tội phạm có cấu thành vật chất nên thời điểm hoàn thành của tội phạm này là thời điểm nạn nhân đã chết sinh vật – giai đoạn cuối cùng của sự chết mà ở đó sự sống của con người không gây ra và cũng không có khả năng hồi phục.
Nghiên cứu hậu quả của Tội giết người cần phân biệt Tội giết người (phạm tội chưa đạt) với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, căn cứ vào dấu hiệu pháp lý của hai tội phạm này chúng tôi thấy, Tội giết người (phạm tội chưa đạt) với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác khác nhau ở những điểm cơ bản sau đây: Một là, về khách thể của tội phạm, nếu khách thể của Tội giết người là quan hệ nhân thân mà nội dung của nó là quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng của con người thì khách thể của Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tuy cũng là quan hệ nhân thân, nhưng nội dung của nó lại là quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khoẻ của con người; hai là, về lỗi của người phạm tội, nếu lỗi của người phạm tội giết người (phạm tội chưa đạt) chỉ là lỗi cố ý trực tiếp gây ra cái chết cho nạn nhân (mong muốn nạn nhân chết), thì lỗi của người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác lại có thể là: a) Lỗi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (mong muốn hoặc bỏ mặc, chấp nhận gây tổn thương cơ thể cho nạn nhân) hoặc b) Lỗi cố ý gián tiếp gây ra cái chết cho nạn nhân (bỏ mặc, chấp nhận hậu quả nạn nhân chết nhưng hậu quả này đã không xảy ra). Sở dĩ trường hợp cố ý gián tiếp gây ra cái chết cho nạn nhân, nếu nạn nhân không chết thì không định Tội giết người (chưa đạt) mà chỉ có thể định Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, bởi vì trong trường hợp này, người phạm tội không mong muốn hậu quả chết người xảy ra; do đó, nếu nạn nhân không chết thì không thể buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm về hậu quả chết người – điều mà họ không mong muốn và nó cũng không xảy ra trên thực tế.
Thực tiễn xét xử cho thấy, để xác định đúng tội danh chúng ta cần phân biệt Tội giết người (phạm tội chưa đạt) với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác qua các tiêu chí cơ bản sau đây: 1) Nếu lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp gây ra cái chết cho nạn nhân thì định tội giết người (phạm tội chưa đạt). Đây là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình có khả năng làm nạn nhân chết mà vẫn thực hiện vì mong muốn hậu quả nạn nhân chết xảy ra. Sở dĩ nạn nhân không chết là do nguyên nhân khách quan, ngoài ý muốn của người phạm tội; 2) nếu lỗi của người phạm tội không phải là lỗi cố ý trực tiếp gây ra cái chết cho nạn nhân mà chỉ là lỗi cố ý gián tiếp gây ra cái chết cho nạn nhân hoặc lỗi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì định Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (trong trường hợp hành vi phạm tội đã thỏa mãn 4 yếu tố cấu thành tội phạm này).

Mối quan hệ nhân quả 

Hành vi khách quan của Tội giết người được coi là nguyên nhân gây ra hậu quả chết người khác nếu thoả mãn ba điều kiện: 1) Hành vi xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian; 2) Hành vi độc lập hoặc trong mối liên hệ tổng hợp với một hay nhiều hiện tượng khác phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả chết người khác. Khả năng này chính là khả năng trực tiếp làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm. Ví dụ: Khả năng gây chết người của hành động là dùng dao sắc nhọn đâm vào ngực nạn nhân hay của không hành động là không cho trẻ sơ sinh ăn, uống…; 3) Hậu quả chết người khác đã xảy ra phải đúng là sự hiện thực hoá khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi khách quan của Tội giết người hoặc là khả năng trực tiếp làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động.
Xác định đúng nguyên nhân dẫn đến hậu quả chết người khác không những giúp các cơ quan tiến hành tố tụng làm sáng tỏ vấn đề có hành vi xâm phạm quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của người khác xảy ra hay không mà còn có thể kết luận ai là người đã thực hiện hành vi đó. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử Tội giết người trong những năm gần đây cho thấy, không ít trường hợp, do xác định không đúng mối quan hệ nhân quả nên đã xử oan hoặc bỏ lọt tội phạm. Chúng tôi xin đưa ra 1 vụ án cụ thể: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 84 ngày 31/7/2011, Tòa án nhân dân tỉnh H đã tuyên bố Bùi Văn H không phạm tội giết người. Tại quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 12/HS-TK ngày 31/3/2013, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy phần tuyên bố Bùi Văn H không phạm tội giết người của Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên để xét xử sơ thẩm lại theo hướng kết án Bùi Văn H về Tội giết người. Bởi lẽ, Bùi Văn H là người tham gia thực hiện tội phạm một cách tích cực. Khi thấy anh T chạy từ trong nhà ra, H đã cầm côn đánh liên tiếp vào anh T làm anh T bị ngã, tạo điều kiện để Nh xông vào dùng dao đâm anh T. Trên người anh T không phải duy nhất chỉ có vết dao đâm của Nh mà có rất nhiều vết thương bầm tím do vật tày gây ra phù hợp với hung khí là côn do H sử dụng. Vì vậy, có đủ căn cứ để kết luận hậu quả anh T bị chết là do hành vi phạm tội của Nh, Lê Đình Th, Lê Đình H và Bùi Văn H gây ra (1).

Chủ thể của tội giết người

Chủ thể của tội phạm nói chung và Tội giết người nói riêng là con người có đủ điều kiện để có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Người có đủ điều kiện để có lỗi, để trở thành chủ thể của tội phạm phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự – năng lực nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi và năng lực điều khiển hành vi theo đòi hỏi tất yếu của xã hội. Để có được năng lực này con người phải đạt độ tuổi nhất định. Do vậy, độ tuổi cũng là điều kiện của chủ thể của Tội giết người.
Theo quy định tại Điều 21 BLHS năm 2015 thì tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là tình trạng của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Quy định này cho thấy, một người được coi là trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự khi thoả mãn hai dấu hiệu: Dấu hiệu y học, mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động thần kinh và dấu hiệu tâm lý, mất năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vi. Người mắc bệnh trong trường hợp này: 1) Hoặc không còn năng lực hiểu biết những đòi hỏi của xã hội, không còn năng lực đánh giá hành vi đã thực hiện đúng hay sai, được làm hay không được làm… Vì vậy, họ cũng không còn năng lực kiềm chế việc thực hiện hành vi nguy hiểm để thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội; 2) hoặc tuy có năng lực nhận thức và năng lực đánh giá tính chất xã hội của hành vi nguy hiểm, nhưng do các xung động bệnh lý khiến họ không thể kiềm chế được hành vi của mình. Quy định trên cho thấy, người nào tuy mắc bệnh tâm thần, nhưng không mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì không được coi là trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự. Đây thực chất là trường hợp năng lực trách nhiệm hình sự hạn chế – một tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm l khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 2 Điều 12 và Điều 123 BLHS năm 2015 thì chủ thể của Tội giết người là người từ đủ 14 tuổi trở lên (2). Quy định này dựa trên cơ sở nghiên cứu tâm sinh lý con người Việt Nam, truyền thống lập pháp và chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Mặt chủ quan của tội giết người

Lỗi của người phạm tội giết người có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp. Theo quy định tại Điều 10 BLHS năm 2015 thì lỗi cố ý trực tiếp giết người là lỗi trong trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhiều khả năng hoặc tất yếu làm nạn nhân chết nhưng vẫn mong muốn nạn nhân chết. Lỗi cố ý gián tiếp giết người là lỗi trong trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, có thể làm nạn nhân chết, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc hoặc chấp nhận hậu quả nạn nhân chết.
Nghiên cứu lỗi của người phạm giết người giúp phân biệt Tội giết người với Tội vô ý làm chết người. Nếu lỗi của người phạm tội giết người là lỗi cố ý (với cả hành vi gây ra cái chết cho nạn nhân và cả hậu quả nạn nhân chết) thì lỗi của người phạm tội vô ý làm chết người chỉ là lỗi vô ý (vô ý với cả hành vi gây ra cái chết cho nạn nhân và cả hậu quả nạn nhân chết). Thực tiễn xét xử cho thấy, để định đúng tội danh chúng ta cần phân biệt hai tội này qua tiêu chí cơ bản sau đây: Nếu lỗi của người phạm tội với cái chết của nạn nhân là cố ý thì định Tội giết người. Đây là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình có thể làm nạn nhân chết mà vẫn thực hiện vì mong muốn nạn nhân chết hoặc chấp nhận hậu quả nạn nhân chết. Nếu lỗi của người phạm tội với cái chết của nạn nhân là vô ý thì có thể định tội vô ý làm chết người. Đây là trường hợp người phạm tội không những không mong muốn cho hậu quả chết người xảy ra, cũng không có thái độ “thờ ơ mặc kệ cho hậu quả đó xảy ra mà còn không thấy trước được hậu quả đó mà đáng lẽ ra phải thấy hoặc có thể thấy hoặc tuy có thấy trước hậu quả có thể xảy ra, nhưng chủ quan tin vào một điều kiện cụ thể nào đó sẽ làm cho hậu quả không xảy ra”.
Ngoài ý nghĩa trong việc định tội danh, xác định đúng hình thức lỗi còn có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định hình phạt. Bởi lẽ, trong trường hợp giết người với lỗi cố ý gián tiếp, sự quan tâm của người phạm tội không hướng vào hậu quả chết người khác mà hướng vào mục đích khác. Do đó, tất cả những gì xảy ra đối với nạn nhân do hành vi phạm tội đưa lại đều có thể không có tác động gì đến người phạm tội. Ngược lại, trong trường hợp giết người với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội không những hướng tất cả sự chú ý vào việc gây ra hậu quả chết người khác mà còn cố gắng và quyết tâm gây ra hậu quả đó. Họ sẽ tiếp tục hành động, thậm chí còn hành động cương quyết và mạnh mẽ hơn chừng nào còn có biểu hiện là nạn nhân chưa chết, chưa bị tổn thương cơ thể hoặc chưa thể chết, chưa thể bị tổn thương cơ thể được. Cho nên, nếu các tình tiết khác tương đương, người phạm tội giết người với lỗi cố ý trực tiếp phải bị xử phạt nặng hơn người phạm tội giết người với lỗi cố ý gián tiếp.
Khác dấu hiệu lỗi, trong mặt chủ quan của Tội giết người, động cơ, mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc. Tuy nhiên, ở một số cấu thành tội phạm mà mặt khách quan cũng đòi hỏi dấu hiệu hành vi gây ra cái chết cho người khác, nhưng dấu hiệu động cơ hoặc mục đích phạm tội lại được quy định là dấu hiệu bắt buộc thì việc xác định đúng động cơ, mục đích phạm tội sẽ giúp định đúng tội danh, xác định đúng khung hình phạt và phân biệt được Tội giết người với một số tội phạm khác cũng có hành vi cố ý gây ra cái chết cho nạn nhân. Cụ thể là: 1) Người nào cố ý gây ra cái chết cho người khác (thường là cán bộ, công chức hoặc công dân đang giữ những trọng trách nhất định) nhằm chống chính quyền nhân dân thì phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113); không nhằm chống chính quyền nhân dân thì (mới) phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội giết người. 2) Người nào trong khi thi hành công vụ, xuất phát từ động cơ thi hành công vụ mà cố ý gây ra cái chết cho người khác thì phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 127); nếu do hống hách, coi thường tính mạng người khác hoặc do tư thù cá nhân thì (mới) phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội giết người. 3) Người nào cố ý gây ra cái chết cho nạn nhân trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó thì phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125); nếu không thỏa mãn các điều kiện trên thì (mới) phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người. 4) Người nào vì muốn bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà cố ý gây ra cái chết cho người đang xâm phạm những lợi ích nói trên một cách rõ ràng quá mức cần thiết thì không phạm tội giết người mà phạm tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 126).
(Còn nữa)

Đỗ Đức Hồng Hà – Ngô Duy Thi

Tạp chí Kiểm sát số 13/2018

Bất cập trong quy định về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại

Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã bổ sung một chương (Chương XXXIV) trong phần thứ bảy (Thủ tục đặc biệt) về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác. Tuy nhiên, các quy định về vấn đề này vẫn còn chưa đầy đủ, chưa thống nhất, nên cần được cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, hướng dẫn.
Trước đây, BLTTHS năm 2003 đã có một số quy định về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác, cụ thể:
– Điều 7 quy định Người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật.
– Điểm a khoản 3 Điều 55 quy định Người làm chứng có quyền yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng;
– Tại khoản 3 Điều 103 quy định Cơ quan điều tra phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người đã tố giác tội phạm.
Dù vậy, các quy định này còn chung chung, chưa đầy đủ nên thực tiễn áp dụng gặp nhiều vướng mắc.
Khắc phục hạn chế của BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung một chương (Chương XXXIV) trong phần thứ bảy (Thủ tục đặc biệt) quy định về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác. Trong chương này đã quy định một cách cụ thể, rõ ràng các vấn đề sau: Những người được bảo vệ; cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ; các biện pháp bảo vệ; đề nghị, yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo vệ; quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ; chấm dứt việc bảo vệ; hồ sơ bảo vệ.
Tuy nhiên, các quy định của BLTTHS năm 2015 về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác vẫn còn một số điểm chưa đầy đủ, chưa thống nhất cần được cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, hướng dẫn.

Quy định chưa đầy đủ về những người được bảo vệ

Điều 484 BLTTHS năm 2015 quy định những người được bảo vệ chỉ gồm: (1) Người tố giác tội phạm; (2) Người làm chứng; (3) Bị hại; (4) Người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại. Với quy định tại các điều 57, 67, 70 Bộ luật này thì người báo tin về tội phạm, người chứng kiến, người phiên dịch, người dịch thuật và người thân thích của họ cũng thuộc đối tượng được bảo vệ:
– Tại điểm a khoản 1 Điều 57 Bộ luật này quy định cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giữ bí mật việc tố giác, báo tin về tội phạm, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của họ, người thân thích của họ khi bị đe dọa.
– Tại điểm b khoản 3 Điều 67 Bộ luật này quy định một trong các quyền của người chứng kiến là yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tuân thủ quy định của pháp luật, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa.
– Tại điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật này quy định người phiên dịch, người dịch thuật có quyền đề nghị cơ quan yêu cầu bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa.

Quy định chưa thống nhất về người được đề nghị, yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo vệ

Theo quy định tại Điều 487 BLTTHS năm 2015 thì chỉ người được bảo vệ mới có quyền làm văn bản đề nghị, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ, còn người đại diện của họ thì không có quyền này. Vậy thì ngay cả người được bảo vệ là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần cũng phải tự mình yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ. Như vậy chưa đáp ứng được yêu cầu bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổi.
Trong khi Điều 487 BLTTHS năm 2015 quy định chỉ bị hại mới có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ thì tại điểm l khoản 2 Điều 62 Bộ luật này lại quy định cả bị hại và người đại diện của bị hại đều có quyền này.

Một số kiến nghị, đề xuất:

Cần bổ sung người chứng kiến, người phiên dịch, người dịch thuật vào diện những người được bảo vệ quy định tại khoản 1 Điều 484 BLTTHS năm 2015:

Điều 484. Người được bảo vệ
1. Những người được bảo vệ gồm:
a) Người tố giác, báo tin về tội phạm;
b) Người làm chứng;
c) Bị hại;
d) Người chứng kiến;
đ) Người phiên dịch, người dịch thuật;
e) Người thân thích của người tố giác, báo tin về tội phạm, người làm chứng, bị hại, người chứng kiến, người phiên dịch, người dịch thuật.
2…

Đồng thời, cần quy định bổ sung cho người đại diện của người được bảo vệ là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần quyền đề nghị, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ.
Các cơ quan có thẩm quyền cần kịp thời ban hành văn bản hướng dẫn thi hành các quy định về vấn đề này.
 

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)