Bàn về chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại BLDS 2015

Chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015 có một số thay đổi quan trọng so với Bộ luật dân sự năm 2005. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Bộ luật dân sự năm 2005 vẫn còn một số vướng mắc chưa được Bộ luật dân sự năm 2015 tháo gỡ, đồng thời một số quy định mới của Bộ luật dân sự năm 2015 trong chế định này khi áp dụng vào thực tiễn công tác giải quyết, xét xử các vụ án dân sự liên quan tại Tòa án địa phương đã đặt ra các vấn đề cần sớm có hướng dẫn thống nhất.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi vừa nhận diện những nội dung thay đổi của Bộ luật dân sự năm 2015 về chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, vừa phản ảnh những vấn đề tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và mạnh dạng kiến nghị, đề xuất với mong muốn góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật dân sự, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho công tác giải quyết, xét xử các loại án tại Tòa án nhân dân.

I. Nhận diện những nội dung mới và một số vấn đề cần quan tâm khi áp dụng vào thực tiễn:

Chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định tại Chương XXI của Bộ luật dân sự 2015 với 25 điều luật được chia làm 3 mục. Các quy định chung được nhà làm luật bố trí tại mục 1; mục 2 quy định về xác định thiệt hại và mục 3 quy định về bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể. So với Bộ luật dân sự năm 2005 (sau đây gọi tắc là quy định cũ) thì quy định của Bộ luật dân sự 2015 về chế định này ít hơn 2 điều luật. Trong đó: Không có điều luật mới, chỉ có các nội dung của từng điều luật được sửa đổi, bổ sung hoặc gộp chung lại; phần quy định chung ở mục 1 tăng lên 1 điều luật so với quy định cũ, điều luật này được chuyển từ mục 3 của quy định cũ cho phù hợp với nội dung của từng mục và đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật lập pháp (chuyển điều luật quy định về bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra – Điều 616, mục 3 của quy định cũ – sang Điều 587 của Bộ luật dân sự 2015); phần quy định về xác định thiệt hại giữ nguyên số điều luật như quy định cũ, phần lớn các điều luật thuộc mục này đều có nội dung thay đổi, nhiều thay đổi thuộc về bản chất của hướng, kết quả điều chỉnh quan hệ xã hội liên quan; phần quy định về bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể được giảm xuống 3 điều luật so với quy định cũ, có nhiều điều luật được giữ nguyên nhưng cũng có nhiều điều luật có nội dung thay đổi về căn bản. Sau đây là phần nhận diện, đánh giá cụ thể:
1. Về phần quy định chung (Mục 1):
1.1. Quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
1.1.1. So sánh quy định mới với quy định cũ:

Quy định cũ Quy định mới
Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.
Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thườngtrừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.

1.1.2. Nhận diện những thay đổi cơ bản: Quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 cũng như các quy định trước đó về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đều bám sát 4 điều kiện tiên quyết là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi gây thiệt hại là trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật và người gây thiệt hại có lỗi. Tuy nhiên, nhiều quy định cụ thể trong chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại các quy định cũ đã phá vỡ trật tự “4 điều kiện” của căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như: Quy định về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường…lại không bắt buộc người gây thiệt hại phải có lỗi. Để khắc phục sự thiếu thống nhất đó, quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường hiệt hại ngoài hợp đồng tại Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 đã sửa đổi so với Điều 604 Bộ luật dân sự 2005. Nội dung thay đổi rõ nhất trong quy định của Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 là thay đổi hướng tiếp cận về yếu tố lỗi; điều luật mới đã không xác định lỗi của người gây thiệt hại là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, chú trọng vào hành vi gây thiệt hại, với yêu cầu chỉ cần chứng minh hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật là đủ; loại bỏ trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chịu trách nhiệm bồi thường hoặc người gây thiệt hại trong trường hợp bất khả kháng hoặc người bị thiệt hại có lỗi hoàn toàn, trừ một số trường hợp do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác (khoản 2 Điều 584 Bộ luật dân sự 2015).
Ngoài ra, Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 còn bổ sung thêm trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi tài sản của chủ sở hữu, của người chiếm hữu tài sản gây thiệt hại và mở rộng phạm vi thiệt hại đối với pháp nhân là “quyền, lợi ích hợp pháp khác” (trước đây chỉ quy định danh dự, uy tín, tài sản). Quy định này bổ sung căn cứ pháp lý xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản trong trường hợp họ không trực tiếp sử dụng tài sản đó, không trực tiếp thực hiện hành vi gây ra thiệt hại; đảm bảo tính khả thi và có căn cứ của quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nguồn nguy hiểm cao độ, do súc vật…gây ra, nhất là trong thực tiễn xét xử, giải quyết các vụ án liên quan đến tài sản của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp gây ra thiệt hại; theo quy định mới, phạm vi bồi thường thiệt hại đối với pháp nhân được ứng xử như cá nhân – các chủ thể có quyền bình đẳng trong quan hệ dân sự.
Kế từ ngày Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật, sự thay đổi trên đã kéo theo sự thay đổi về phương pháp, nội dung chứng minh, lập luận trong quá trình giải quyết các vụ án liên quan. Trong đó, theo chúng tôi, một điểm đáng lưu ý là người bị thiệt hại không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của người gây thiệt hại.
1.2. Quy định về nguyên tắc bồi thường thiệt hại:
1.2.1. So sánh quy định mới với quy định cũ:

Quy định cũ Quy định mới
Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.
3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

1.2.2. Nhận diện những thay đổi cơ bản: Nhiều thay đổi trong nguyên tắc bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 585 Bộ luật dân sự 2015 so với Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2005, trong đó có những thay đổi mang tính căn bản sau:
Thứ nhất: Điều 585 Bộ luật dân sự xác định thiệt hại buộc phải bồi thường kịp thời, toàn bộ phải là thực hại thực tế chứ không phải là thiệt hại chung chung như quy định cũ; yếu tố thực tế nảy khẳng định trách nhiệm chứng minh thiệt hại của người yêu cầu bồi thường, tránh những yêu cầu không có cơ sở, gây khó khăn cho công tác thụ lý, thu thập chứng cứ, chứng minh trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và cá nhân, tổ chức liên quan khác.
Thứ hai: Khoản 2 Bộ luật dân sự năm 2005 xác định đối tượng được xem xét giảm mức bồi thường là người gây thiệt hại, nhưng khoản 2 Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015 đã sửa lại đối tượng này là “người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại”. Sự thay đổi này đã kịp thời tháo gỡ được vướng mắc của thực tiễn trong trường hợp “người gây thiệt hại” không phải là “người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại” (người gây thiệt hại là người dưới 15 tuổi, người bị mất năng lực hành vi dân sự, người sử dụng bất hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ….). Cũng cần chú ý là việc xem xét giảm mức bồi thường ở điều luật mới không còn xác định “khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài nữa” nên khi tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động chứng minh khả năng kinh tế của người gây thiệt hại – chủ yếu là khả năng kinh tế trước mắt!
Thứ 3: Điều kiện được xem xét giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015 được mở rộng hơn so với Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2005. Cụ thể, ngoài yếu tố lỗi vô ý được xác định là điều kiện để xem xét giảm trách nhiệm bồi thường ở quy định cũ, khoản 2 Điều 585 còn quy định thêm yếu tố “không có lỗi” là điều kiện để giảm trách nhiêm bồi thường. Trước đây, trong thực tiễn giải quyết, xét xử các vụ án liên quan, cơ quan thẩm quyền có căn cứ pháp lý để quyết định giảm trách nhiệm cho người chịu trách nhiệm bồi thường khi có lỗi vô ý nhưng lại lúng túng, thiếu cơ sở pháp lý để xem xét giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp không có lỗi vì điều luật không quy định, mặc dù theo lẽ công bằng, người gây thiệt hại không có lỗi hiển nhiên được ưu tiên xem xét miễn, giảm trách nhiệm bồi thường hơn người gây thiệt hại có lỗi vô ý.
Thứ tư: Điều 585 Bộ luật dân sự 2015 bổ sung thêm hai nguyên tắc bồi thường thiệt hại ở khoản 4 và khoản 5 so với 3 khoản của Điều 605 Bộ luật dân sự 2005. Về ý nghĩa áp dụng, tuy là bổ sung 2 quy định nhưng chỉ có một quy định mới hoàn toàn và một quy định làm rõ, cụ thể hơn quy định cũ.
Theo đó, khoản 4 Điều 585 được bổ sung nhằm quy định rõ hơn căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại khoản 1 Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 và khoản 2 Điều 584 Bộ luật dân sự 2015. Quy định này xác định phạm vi bồi thường thiệt hại của người có nghĩa vụ bồi thường, đồng thời xác định phạm vi chịu nghĩa vụ của người bị thiệt hại khi họ cũng có lỗi trong việc gây ra thiệt hại. Đây là cơ sở pháp lý cần thiết để xử lý trường hợp lỗi hỗn hợp hoặc chỉ có bên bị thiệt hại có lỗi cố ý toàn bộ, một phần trong việc gây ra thiệt hại, còn bên chịu trách nhiệm bồi thường chỉ có lỗi một phần hoặc không có lỗi. Ví dụ: Chủ sở hữu xe ôtô gây tai nạn giao thông phải bồi thường thiệt hại cho người bị hại trong trường hợp thiệt hại xảy ra do hành vi trái pháp luật giao thông của người bị hại .
1.3. Quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân:
1.3.1. So sánh quy định mới với quy định cũ:

Quy định cũ Quy định mới
Điều 606. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
2. Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 621 của Bộ luật này.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
Điều 586. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
2. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

1.3.2. Nhận diện những thay đổi cơ bản:
Qui định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân trong Bộ luật dân sự năm 2015 không có nhiều thay đổi. Có hai vấn đề nhỏ cần chú ý sau:
Một là, nếu khoản 2 Điều 606 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do “người chưa thành niên dưới 15 tuổi” gây ra, thì khoản 2 Điều 586 Bộ luật dân sự năm 2015 chỉ sửa lại là “người chưa đủ 15 tuổi”, bỏ cụm từ “chưa thành niên” vốn không có giá trị sử dụng trên thực tế – bởi người chưa đủ 15 tuổi thì đương nhiên là người chưa thành niên.
Hai là, khoản 3 của Điều 585 Bộ luật dân sự bổ sung đối tượng “người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ được hành vi” vào quy định trách nhiệm bồi thường của người giám hộ. Sự bổ sung này là tháo gỡ vướng mắc, bất cập trong thực tiễn khi có một số trường hợp thiệt hại do người “có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” gây ra, họ không phải là “người mất năng lực hành vi dân sự” nhưng không cũng không đủ điều kiện để xác định là “người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự”.
1.4. Quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại:
1.4.1. So sánh quy định mới với quy định cũ:

Quy định cũ Quy định mới
Điều 607. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hạiThời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm. Điều 588. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hạiThời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

1.4.2. Nhận diện những thay đổi cơ bản:
Quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại có nhiều thay đổi căn bản. Trong đó:
– Thời gian được quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường trước đây quy định là 2 năm, nay quy định là 3 năm. Tăng 01 năm so với quy định cũ và khác hẵn so với quy định thông thường tại Bộ luật tố tụng dân sự (02 năm). Điểm này người làm công tác giải quyết, xét xử cần chú ý khi xem xét thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2017.
– Điều luật cũ quy định thời điểm để tính thời hiệu là “kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm”; quy định này khi áp dụng vào thực tiễn thì phát sinh vướng mắc, do căn cứ để xác định thời điểm “quyền và lợi ích hợp pháp…bị xâm phạm” trở thành cứng nhắc, vướng với thực tế hoặc rơi vào trường hợp chủ thể có quyền và lợi ích bị xâm phạm lại không có quyền khởi kiện do chưa đủ tuổi hoặc không có năng lực trách nhiệm dân sự. Có rất nhiều trường hợp thiệt hại phát sinh từ các vụ tai nạn, người bị tai nạn bị mất năng lực hành vi dân sự, rất cần có tiền cứu chữa nhưng người bị tai nạn lại không có năng lực khởi kiện. Cũng có rất nhiều trường hợp thời điểm phát sinh thiệt hại là khác, thời điểm người có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại biết được có thiệt hại xảy ra lại khác. Do vậy, điều luật mới quy định “kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết” đã giải quyết được hai vấn đề: Một là, đảm bảo quyền khởi kiện của người có quyền yêu cầu (chứ không phải người bị thiệt hại) trong trường hợp người bị thiệt hại không có điều kiện khởi kiện thời gian dài hoặc vĩnh viễn (do thiệt hại bị thương tích quá nặng, không có khả năng nhận thức hành vi) để giải quyết các khó khăn về kinh tế, phục vụ chi phí cứu chữa cho người gây thiệt hại; hai là, đảm bảo quyền khởi kiện của người có quyền yêu cầu trong trường hợp họ biết được hoặc phải biết thiệt hại xảy ra sau thời điểm thiệt hại thực tế đã xảy ra, khoảng thời gian từ thời điểm quyền và lợi ích bị xâm phạm đến thời điểm người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích bị xâm phạm không tính vào thời hiệu khởi kiện.
2. Về phần xác định thiệt hại (Mục 2)
2.1. Quy định về thiệt hại do tài sản bị xâm phạm:
2.1.1. So sánh quy định mới với quy định cũ:

Quy định cũ Quy định mới
Điều 608. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạmTrong trường hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại được bồi thường bao gồm:
1. Tài sản bị mất;
2. Tài sản bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng;
3. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản;
4. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
Điều 589. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạmThiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm:
1. Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.
2. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.
3. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
4. Thiệt hại khác do luật quy định.

2.1.2. Nhận diện những thay đổi cơ bản:
Về kết cấu, Điều 589 Bộ luật dân sự 2015 cũng 4 khoản như điều luật cũ nhưng nội dung các khoản có thay đổi. Điều luật mới đã gộp chung khoản 1 và khoản 2 của điều luật cũ vào một khoản; xác định rõ thiệt hại phát sinh tại khoản 3 của điều luật cũ, bởi trên thực tế tài sản có bị hư hỏng như không bị giảm sút lợi ích khi khai thác, sử dụng tài sản và cũng có rất nhiều trường hợp người có quyền yêu cầu kê khai những khoảng thiệt hại không phù hợp với giá trị thu được trên thực tế sử dụng, khai thác tài sản trước khi tài sản bị hủy hoai, bị hư hỏng. Ngoài ra, để đảm bảo tính bao quát khi áp dụng pháp luật, điều luật mới quy định thêm khoản 4 “thiệt hại khác do luật quy định” nhằm dự lường những thiệt hại phát sinh trong cuộc sống mà quy định này không điều chỉnh được và thiệt hại đó được quy định pháp luật khác điều chỉnh. Điều cần quan tâm là trong lần thay đổi này, Bộ luật dân sự năm 2015 chỉ xác định “thiệt hại khác do luật quy định” chứ không phải “do pháp luật” quy định, điều này buộc chúng ta phải xác định rõ rằng: Chỉ có những thiệt hại do văn bản “Luật” quy định thì mới được xem xét ở điểm bổ sung mới này, còn những thiệt hại do “văn bản dưới luật” quy định thì không đủ cơ ở pháp lý để áp dụng.
2.2. Quy định về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm:
2.2.1. So sánh quy định mới với quy định cũ:

Quy định cũ Quy định mới
Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.
2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

2.2.2. Nhận diện những nội dung thay đổi cơ bản:
Quy định về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm ở Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 có hai thay đổi cơ bản so với điều luật cũ:
Thứ nhất, điều luật cũ quy định “người xâm phạm sức khỏe của người khác phải bồi thường” thì điều luật mới sửa lại là “người chịu trách nhiệm bồi thường”. Sự sửa đổi này giải quyết vướng mắc trên thực tế là có nhiều trường hợp “người xâm phạm sức khỏe của người khác” nhưng lại không phải là “người có trách nhiệm bồi thường”, chẳng hạn như người gây thiệt hại cho sức khỏe của người khác là người không có năng lực hành vi dân sự hay trường hợp chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp người gây ra thiệt hại là một người khác.
Thứ hai, điều luật mới nâng mức bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần từ “không quá 30 tháng lương tối thiểu lên “không quá 50 lần mức lương cơ sở”. Vấn đề này, người làm công tác giải quyết, xét xử các loại án cần lưu ý khi giải quyết các vụ kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc các vụ án hình sự có bồi thường do xâm phạm sức khỏe từ ngày 01 tháng 01 năm 2017.
2.3. Quy định về thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm:
2.3.1. So sánh quy định mới với quy định cũ:

Quy định cũ Quy định mới
Điều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.
2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này – khoản 2 Điều 590?;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

2.3.2. Nhận diện những thay đổi cơ bản:
Ngoài các thay đổi giống với các điều luật tương tự ở phần bồi thường thiệt hại khi sức khỏe bị xâm phạm như: Bổ sung quy định “thiệt hại khác do pháp luật quy định”, sử cụm từ “người xâm phạm tính mạng của người khác” thành cụm từ “người chịu trách nhiệm bồi thường”…thì quy định về bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm theo Điều 591 Bộ luật dân sự 2015 có những thay đổi cơ bản sau:
Một là: Mở rộng phạm vi bồi thường thiệt hại đối với việc cứu chữa người thiệt hại trước khi chết với cách điều chỉnh là “toàn bộ những gì thuộc thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” (Bộ luật dân sự 2005 liệt kê thiệt hại “chi phí cữu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại” trước khi chết. Điều cần phải chú ý đối với sự thay đổi này là, khi xem xét bồi thường thiệt hại đối với phần thiệt hại khi người bị thiệt hại chưa chết, chúng ta phải tính cả “thập nhập thực tế người bị thiệt hại/ của người chăm sóc người bị thiệt hại khi đang điều trị, cấp cứu”, không loại trừ “thiệt hại về tinh thần” khi người bị thiệt hại chưa chết và đây là khoản thiệt hại mà người bị thiệt hại là người được hưởng, còn các khoản thiệt hại phát sinh sau khi người bị thiệt hại chết thì phải bồi thường cho người thâm thích của họ.
Hai là: Nâng mức tối đa bồi thường về tổn thất tinh thần từ 60 tháng lương tối thiểu của điều luật cũ lên 100 lần mức lương cơ sở và mức này áp dụng cho mỗi người có tính mạng bị xâm phạm. Chúng ta cần chú ý kỹ là sự thay đổi này đã khắc phục được vướng mắc cơ bản trên thực tế khi quyết định mức bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự liên quan. Bởi quy định cũ chỉ xác định “không quá 60 tháng lương tối thiểu” mà không xác định mức tối đa này áp dụng cho người nhận bồi thường hay người bị thiệt hại tính mạng. Vướng mắc phát sinh khi “một người có tính mạng bị xâm phạm có nhiều người thân thích” hoặc “nhiều người có tính mạng bị xâm phạm mà chỉ có 01 người bị thân thích”.
2.4. Quy định về thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm:
2.4.1. So sánh quy định mới với quy định cũ:

Quy định cũ Quy định mới
Điều 611. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm, thiệt hại do danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
2. Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
Điều 592. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;
c) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

2.4.2. Nhận diện những thay đổi cơ bản: Ngoài việc bổ sung những quy định mới tương tự phần bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm như: Bổ sung nội dung “thiệt hại khác do pháp luật quy định”, bồi đắp tổn thất tinh thần tính trên “lương cơ sở” và được xác định “với mỗi chủ thể có danh dự, uy tín, nhân phẩm bị xâm phạm” thì Điều 592 Bộ luật dân sự 2015 đã bỏ quy định về chủ thể bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín (Bộ luật dân sự 2015 quy định chỉ có chủ thể là cá nhân). Điều này đảm bảo bao trùm được các thiệt hại phát sinh đối với các chủ thể khác trong quan hệ pháp luật dân sự khi họ chứng minh được là có thiệt hại tương tự, trong đó có pháp nhân.
2.5. Quy định về thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm
2.5.1. So sánh quy định mới với quy định cũ:

Quy định cũ Quy định mới
Điều 612. Thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm1. Trong trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động thì người bị thiệt hại được hưởng bồi thường cho đến khi chết.
2. Trong trường hợp người bị thiệt hại chết thì những người mà người này có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống được hưởng tiền cấp dưỡng trong thời hạn sau đây:
a) Người chưa thành niên hoặc người đã thành thai là con của người chết và còn sống sau khi sinh ra được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ mười tám tuổi, trừ trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động và có thu nhập đủ nuôi sống bản thân;
b) Người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi chết.
Điều 593. Thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm1. Trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động thì người bị thiệt hại được hưởng bồi thường từ thời điểm mất hoàn toàn khả năng lao động cho đến khi chết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp người bị thiệt hại chết thì những người mà người này có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống được hưởng tiền cấp dưỡng từ thời điểm người có tính mạng bị xâm phạm chết trong thời hạn sau đây:
a) Người chưa thành niên hoặc người đã thành thai là con của người chết và còn sống sau khi sinh ra được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ mười tám tuổi, trừ trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động và có thu nhập đủ nuôi sống bản thân;
b) Người thành niên nhưng không có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi chết.
3.-C. Đối với con đã thành thai của người chết, tiền cấp dưỡng được tính từ thời điểm người này sinh ra và còn sống.

2.5.2. Nhận diện những thay đổi cơ bản:
Quy định về thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm tại Điều 593 Bộ luật dân sự năm 2015 so với Điều 612 Bộ luật dân sự cũ có một số nội dung thay đổi nhỏ sau:
Thứ nhất: Điều luật mới cho phép các bên có quyền thỏa thuận thời hạn hưởng bồi thường trong trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động, điều này đảm bảo tính tự nguyện và quyền tự định đoạt của các bên trong thực tế đời sống dân sự, đồng thời đảm bảo cơ sở pháp lý cho kết quả công nhận sự thỏa thuận của đương sự mà Tòa án hòa giải thành trong thực tế giải quyết các vụ án liên quan khi hai bên thống nhất chấp nhận bồi thường 01 lần với 01 khoản tiền tương ứng với số năm nhất định (quy định cũ không có nội dung này);
Thứ hai: Điều luật mới xác định rõ thời điểm bắt đầu tính để được hưởng tiền cấp dưỡng của những người mà khi còn sống người bị hại có nghĩa vụ cấp dưỡng. Trong đó, thời điểm đầu tiên được tính là “từ thời điểm người có tính mạng bị xâm phạm chết” và thời điểm cuối cùng thì tủy thuộc vào từng đối tượng (người chưa đủ 18 tuổi thì “cho đến khi đủ mười tám tuổi”, người không có khả năng lao động thì “cho đến khi chết”. Ngoài ra, điều luật mới cũng bổ sung khoản 3 về nội dung xác định rõ thời điểm tính tiền cấp dưỡng đối với “con đã thành thai của người chết”.
3. Về phần bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể:
So với Bộ luật dân sự 2005 thì một số trường hợp bồi thường thiệt hại cụ thể trong Bộ luật dân sự 2015 được chuyển lên phần quy định chung, như: Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra (Điều 616 Bộ luật dân sự 2005); bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi – với phương thức chia làm hai ý chính là: “Người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi thì người gây thiệt hại không phải bồi thường” (khoản 2 Điều 584 Bộ luật dân sự 2015) và “khi bên thiệt hại có lỗi trong việc gây ra thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra (khoản 4 Điều 585 Bộ luật dân sự 2015). Những trường hợp còn lại có thay đổi cơ bản như sau:
3.1. Quy định về bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết:
3.1.1. So sánh quy định mới với quy định cũ:

Quy định cũ Quy định mới
Điều 614. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết1. Người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
2. Trong trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại.
3. Người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Điều 595. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết1. Trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại.
2. Người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.

3.1.2. Xác định những nội dung thay đổi cơ bản:
Nội dung thay đổi chính của Điều 595 Bộ luật dân sự năm 2015 so với Điều 614 Bộ luật dân sự cũ là việc điều luật mới bỏ quy định tại khoản 1 của điều luật cũ về việc “trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết”. Theo đó, khi có thiệt hại phát sinh do người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết thực hiện thì có 02 chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường:
Chủ thể thứ nhất là người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết. Chủ thể này chỉ chịu trách nhiệm bồi thường theo khoản 1 Điều 595 Bộ luật dân sự năm 2015, tức là khi thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết”;
Chủ thể thứ hai là người đã gây ra tình thế cấp thiết. Chủ thể này phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại khi họ gây ra tình thế cấp thiết.
3.2. Quy định về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức, người có thẩm quyền trong tố tụng gây ra:
Điều 598 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”. Do vậy, so với Bộ luật dân sự cũ thì Bộ luật dân sự năm 2015 đã bãi bỏ các quy định tương ứng tại các điều 619, 620 Bộ luật dân sự cũ.
3.3. Quy định về bồi thường thiệt hại do người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, tổ chức khác quản lý:
3.3.1. So sánh quy định mới với quy định cũ:

Quy định cũ Quy định mới
Điều 621. Bồi thường thiệt hại do ngườidưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản lý1. Người dưới mười lăm tuổi trong thời gian học tại trường mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
2. Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản lý thì bệnh viện, tổ chức khác phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
3. Trong các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, nếu trường học, bệnh viện, tổ chức khác chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý thì cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hình vi dân sự phải bồi thường.
Điều 599. Bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý1. Người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
2. Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý thì bệnh viện, pháp nhân khác phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
3. Trường học, bệnh viện, pháp nhân khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không phải bồi thường nếu chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý; trong trường hợp này, cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường.

3.3.2. Xác định những nội dung thay đổi cơ bản:
Điều 599 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về Bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý” so với quy định tại Điều 621 Bộ luật dân sự cũ thì không thay đổi nhiều. Điều luật mới chỉ xác định thêm cho rõ các vấn đề sau:
Thứ nhất: Điều luật cũ quy định “Người dưới mười lăm tuổi trong thời gian học tại trường mà gây thiệt hại” thì điều luật mới sửa lại cho rõ hơn là “Người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý mà gây thiệt hại”. Sự thay đổi này cơ bản đã khắc phục được một số vướng mắc phát sinh trong thực tế là thiệt hại xảy ra do người dưới 15 tuổi gây ra trong thời gian học nhưng lại không phải là học tại trường mà là tại một địa điểm khác do trường tổ chức hoặc không phải khi đang học mà khi đang tham gia các hoạt động ngoài giờ học do trường tổ chức.
Thứ hai: Điều luật mới xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường là “Pháp nhân” chứ không phải là “tổ chức” như quy định của Bộ luật dân sự cũ. Sự thay đổi này đảm bảo trách nhiệm bồi thường thiệt hại các cá nhân liên quan là người chịu trách nhiệm pháp lý của một số tổ chức đang được giao quyền hoạt động, quản lý người mất năng lực hành vi dân sự nhưng tổ chức này lại không có tư cách pháp nhân.
3.4. Quy định về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra:
3.4.1. So sánh quy định mới với quy định cũ:

Quy định cũ Quy định mới
Điều 623. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.
Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.
2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
3. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:
a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;
b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.
Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.
Điều 601. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.
Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật.
2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
3. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:
a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;
b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.
Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.
(trường hợp chủ sở hữu có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu nhưng người chiếm hữu trái pháp luật không gây thiệt hại nhưng có người thứ 3 chiếm hữu trái pháp luật của người chiếm hữu trái pháp luật thứ nhất nhất gây thiệt hại thì sao?)

3.4.2. Nhận diện những thay đổi cơ bản: Bộ luật dân sự 2015 đã bổ sung nội dung về nghĩa vụ của chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ là “vận hành” nguồn nguy hiểm cao độ; thay đổi cụm từ “người được chủ sở hữu giao chiếm hữu sử dụng” thành cụm từ “người chiếm hữu, sử dụng”.
3.5. Quy định về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra:
3.5.1. So sánh quy định mới với quy định cũ:

Quy định cũ Quy định mới
Điều 625. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra1. Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác; nếu người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi trong việc làm súc vật gây thiệt hại cho mình thì chủ sở hữu không phải bồi thường.
2. Trong trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.
3. Trong trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường;
4. Trong trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.
Điều 603. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra1. Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.
3. Trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường; khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.
4. Trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.

3.5.2. Nhận diện những thay đổi cơ bản:
– Điều luật mới đã bỏ quy định “nếu người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi trong việc làm cho súc vật gây thiệt hại cho mình thì chủ sở hữu không phải bồi thường”, quy định này đã được ấn định trong phần chung ở khoản 2 Điều 584 Bộ luật dân sự 2015;
– Điều luật mới bổ sung quy định “người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”;
– Điều luật mới bổ sung quy định về nghĩa vụ của chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật đối với trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật là: “khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.”
3.6. Quy định về bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra:
3.6.1. So sánh quy định mới với quy định cũ:

Quy định cũ Quy định mới
Điều 626. Bồi thường thiệt hại do cây cối gây raChủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại do cây cối đổ, gẫy gây ra, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng. Điều 604. Bồi thường thiệt hại do cây cối gây raChủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra. – hành vi trái pháp luật của người bị thiệt hại khiến cây gãy, đổ gây ra thiệt hại?

3.6.2. Nhận diện những thay đổi cơ bản:
– Điều luật mới bổ sung quy định về trách nhiệm bồi thường của người chiếm hữu, người được giao quản lý cây cối. Điều chúng ta cần quan tâm là theo quy định mới của Bộ luật dân sự 2015 thì “mọi thiệt hại” do cây cối gây ra thì có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường, chứ không phải quy định bó hẹp như Điều 626 Bộ luật dân sự 205 là “chỉ bồi thường thiệt hại do cây cối đổ, gãy” – nghĩa là không đổ, gãy nhưng gây thiệt hại cũng phải bồi thường!
3.7. Quy định về bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra:
3.7.1. So sánh quy định mới với quy định cũ:

Quy định cũ Quy định mới
Điều 627. Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây raChủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại, nếu để nhà cửa, công trình xây dựng khác đó bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở gây thiệt hại cho người khác, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng. Điều 605. Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây raChủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác.
Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường.

3.7.2. Nhận diện những thay đổi cơ bản:
– Điều luật mới đã bỏ hai căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường là “hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại” và “do sự kiện bất khả kháng”, bởi vì căn cứ này đã được quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự 2015, được sử dụng chung, mang tính nguyên tắc;
– Điều luật mới bổ sung chủ thể “người chiếm hữu” phải có trách nhiệm bồi thường khi nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại;
– Tương tự sự thay đổi của quy định bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra, điều luật mới xác định rõ “mọi thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dưng khác gây ra đều phát sinh nghĩa vụ bổi thường” chứ không bó hẹp là “thiệt hại phát sinh khi nhà cửa, công trình xây dựng khác sụp đổ, hư hỏng, sạt lở” như điều luật cũ.
– Điều luật mới bổ sung quy định liên quan đến trách nhiệm của người thi công, theo đó “khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường”.
3.8. Quy định về bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể:
3.8.1. So sánh quy định mới với quy định cũ:

Quy định cũ Quy định mới
Điều 628. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể1. Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác xâm phạm thi thể phải bồi thường thiệt hại.
2. Thiệt hại do xâm phạm thi thể gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại.
3. Người xâm phạm thi thể phải bồi thường một khoản tiền theo quy định tại khoản 2 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người chết, nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
Điều 606. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể1. Cá nhân, pháp nhân xâm phạm thi thể phải bồi thường thiệt hại.
2. Thiệt hại do xâm phạm thi thể gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại.
3. Người chịu trách nhiệm bồi thường khi thi thể bị xâm phạm phải bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người chết, nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa đối với mỗi thi thể bị xâm phạm không quá ba mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

3.8.2. Nhận diện những thay đổi cơ bản:
– Điều luật mới giới hạn các chủ thể xâm phạm thi thể theo hướng liệt kê gồm: cá nhân, pháp nhân (quy định cũ xác định thêm cả “chủ thể khác”); thay đổi từ “người xâm phạm thi thể” bằng từ “người chịu trách nhiệm bồi thường” khi xác định chủ thể phải bù đắp tổn thất về tinh thần;
– Tương tự như những quy định phần trước, điều luật mới xác định rõ mức bù đắp sẽ áp dụng cho mỗi thi thể bị xâm phạm và căn cứ để tính là lương cơ sở chứ không phải là lượng tối thiểu.
3.9. Quy định về bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả:
3.9.1. So sánh quy định mới với quy định cũ:

Quy định cũ Quy định mới
Điều 629. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mảCá nhân, pháp nhân, chủ thể khác gây thiệt hại đến mồ mả của người khác phải bồi thường thiệt hại. Thiệt hại do xâm phạm mồ mả gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại. Điều 607. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả1. Cá nhân, pháp nhân xâm phạm đến mồ mả của người khác phải bồi thường thiệt hại.
2. Thiệt hại do xâm phạm mồ mả gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại.
3. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp mồ mả của người khác bị xâm phạm phải bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích theo thứ tự hàng thừa kế của người chết; nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa đối với mỗi mồ mả bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

3.9.2. Nhận diện những thay đổi cơ bản:
– Điều luật mới quy định theo hướng chỉ xác định cá nhân và pháp nhân là chủ thể xâm phạm mồ mã (không có chủ thể khác như quy định cũ);
– Điều luật mới bổ sung quy định liên quan đến bù đắp về tổn thất tinh thần khi xâm phạm mồ mã là 10 lần mức lương cơ sở cho mỗi mồ mã bị xâm phạm;
3.10. Quy định về bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng:
3.10.1. So sánh quy định mới với quy định cũ:

Quy định cũ Quy định mới
Điều 630. Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùngCá nhân, pháp nhân, chủ thể khác sản xuất, kinh doanh không bảo đảm chất lượng hàng hoá mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường. Điều 608. Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùngCá nhân, pháp nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường.

3.10.2. Nhận diện những thay đổi cơ bản:
– Cũng như các điều luật trước, điều luật mới xác định chỉ có cá nhân, pháp nhân là chủ thể phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng;
– Điều luật mới bổ sung hành vi vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng trong trường hợp kinh doanh “hàng hóa, dịch vụ” (Bộ luật dân sự 2005 chỉ đề cập đến hàng hóa);

II. Một số vướng mắc từ thực tiễn áp dụng và kiến nghị, dề xuất:

2.1. Một số vướng mắc từ thực tiễn áp dụng:
2.2.1. Một số vướng mắc phát sinh từ các quy định cũ chưa được sửa đổi, bổ sung:
– Vấn đề thiệt hại của cộng đồng là nội dung vướng mắc khi áp dụng Bộ luật dân sự năm 2005 nhưng Bộ luật dân sự 2015 chưa giải quyết được. Trong thực tế, các vấn đề về môi trường sống ô nhiễm, vấn đề an toàn thực phẩm, vấn đề phát sinh từ uy tín cộng đồng do hành vi trái pháp luật khi sử dụng mạng xã hội đã gây ra nhiều thiệt hại, làm phát sinh các điểm nóng trong khiếu nại, biểu tình trái pháp luật và tranh chấp giữa cộng đồng dân cư với các chủ thể gây ra thiệt hại. Trong khi đó cơ sở để xác định thiệt hại riêng của từng người trên thực tế khó hoặc không thực hiện được đối với những tình huống trên (khai thác hải sản không được do sự kiện Fofmosa…);
– Việc lợi dụng mạng xã hội (facebook, zalo,…) để thực hiện các hành vi xâm hại đến tài sản, danh sự, uy tín, nhân phẩm của các chủ thể trong xã hội diễn ra ngày càng phức tạp và thực tế đã phát sinh nhiều tranh chấp. Tuy nhiên hiện nay chưa có văn bản pháp luật điều chỉnh cụ thể về điều kiện, phạm vi, nội dung, phương thức, thủ tục đăng tải thông tin trên mạng xã hội. Bộ luật dân sự 2015 cũng không có quy định riêng, cụ thể, rõ ràng để giải quyết các thiệt hại phát sinh từ các sự kiện pháp lý liên quan đến mạng xã hội.
– Với tình hình tai nạn giao thông và điều kiện hạ tầng giao thông nước ta như hiện nay thì thực tế thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra do sự kiện bất ngờ rất nhiều, vấn đề đặt ra là tại sao người gây thiệt hại do sự kiện bất ngờ được miễn trách nhiệm hình sự (Điều 20 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) nhưng lại không được miễn trừ nghĩa vụ bồi thường dân sự. Những hậu quả gây ra sau sự kiện bất ngờ do phía bị hại có lỗi hoàn toàn đối với hành vi hoặc do người thứ 3 có lỗi, nhưng đặt trách nhiệm dân sự cho chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ là không đảm bảo tính công bằng xã hội, thiếu tính thuyết phục cộng đồng và không thống nhất giữa các qui định pháp luật đối với cùng những trường hợp khách quan, không buộc chủ thể phải thấy trước tình huống (Sự kiện bất ngờ, Tình thế cấp thiết, Sự kiện bất khả kháng). Vấn đề này, Bộ luật dâ sự 2015 cũng không đề cập đến. Ngoài ra, quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra cũng chưa tháo gỡ được sự bất cập về mức độ bồi thường thiệt hại trong trường hợp không có lỗi, bởi vì đã không có lỗi mà lại chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thì không có cơ sở lý giải, khó được cộng đồng chấp nhận, khó đảm bảo “lẽ công bằng”.
2.2.2. Một số vướng mắc phát sinh từ các quy định mới:
Một là: Từ các tình huống phát sinh trên thực tiễn, trong tình thiết cấp thiết, sau khi có hậu quả thiệt hại xảy ra, không phải lúc nào cũng xác định rõ được thiệt hại nào phát sinh từ việc “gây ra tình thế cấp thiết”, thiệt hại nào phát sinh từ “những lý do, nguyên nhân vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết”. Do vậy, rất nhiều vụ việc Tòa án giải quyết buộc các bên (người gây ra tình thế cấp thiết và người thực hiện hành vi vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết) cùng liên đới bồi thường. Tuy nhiên, cách xử lý như vậy là thiếu cơ sở pháp lý vững chắt, về lâu dài quy định này của Bộ luật dân sự năm 2015 cần phải điều chỉnh lại cho phù hợp với thực tiễn.
Hai là: Việc Điều 591 Bộ luật dân sự 2015 quy định toàn bộ thiệt hại phát sinh do sức khỏe bị xâm phạm là một phần của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp tính mạng bị xâm phạm trong giai đoạn người bị thiệt hại được cứu chữa sẽ làm phát sinh yêu cầu bù đắp về tổn thất tinh thần 02 lần, một lần là khoản tổn thất tinh thần của người bị thiệt hại sức khỏe khi còn sống và một lần là khoản tổn thất tinh thần của người thân thích của người bị thiệt hại khi chết. Nhưng để phân biệt, ấn định thiệt hại tổn thất trong trường hợp này hết sức khó khăn, bởi lẽ người bị thiệt hại về tính mạng nghiêm trọng thì đa phần không xác định được nhận thức, cảm xúc, biểu hiện của họ để chứng minh họ bị “tổn thất tinh thần” do bị tổn hại sức khỏe và sau đó thì họ chết, tức là không có cơ sở đối chứng, tìm hiểu, chứng minh nữa. Ngoài ra, điều luật mới chưa quy định rõ chủ thể nào nhận khoản thiệt hại khi người bị thiệt hại đang cứu chữa, nếu là chính người bị thiệt hại nhận thì khoản tiền đó có liên quan đến chế định thừa kế hay không, quyền lợi của vợ, chồng hoặc người trực tiếp bỏ tiền ra cứu chữa được xử lý như thế nào cho đảm bảo tính khách quan, công bằng và giải quyết dứt điểm quan hệ tranh chấp.
Ba là: Điều 605 Bộ luật dân sự 2015 bổ sung trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công công trình nhà ở….Tuy nhiên, trên thực tế rất khó phân biệt giữa hành vi thi công nhà cửa gây thiệt hại và thiệt hại phát sinh từ nhà cửa gây ra trong giai đoạn đang thi công hoặc thiệt hại phát sinh khi đang thi công sửa chữa nhà ở cũ.
2.2. Một số kiến nghị, đề xuất:
– Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần sớm ban hành Nghị quyết hướng dẫn các quy định của Bộ luật dân sự 2015 về chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong đó, cấn quan tâm tháo gỡ các vướng mắc như: Khoản thiệt hại nào là thiệt hại thực tế; bồi thường thiệt hại cho cộng đồng; bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trong sự kiện bất ngờ; mức độ trách nhiệm cụ thể (toàn bộ, một phần…) của chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ khi họ không có lỗi gây ra thiệt hại; bồi thường tổn thất tinh thần trong trường hợp tính mạng bị xâm phạm nhưng người gây thiệt hại có thời gian được cứu chữa trước khi chết và quy định rõ ai là người được nhận khoản bồi thường phát sinh khi người bị thiệt hại chưa chết; cơ sở để phân biệt giữa thiệt hại phát sinh do hành vi thi công công trình nhà cửa…với thiệt hại phát sinh do nhà cửa…gây ra trong thời gian thi công.
– Cơ quan thẩm quyền cần tiếp tục đánh giá hiệu quả, tính khả thi của chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tiếp thu ý kiến phản hồi từ các cá nhân, tập thể liên quan trong xã hội để kiến nghị sửa đổi, bổ sung những quy định còn phát sinh vướng mắc của Bộ luật dân sự 2015. Trong đó, cần quan tâm đến vấn đề bồi thường thiệt hại cho cộng đồng và bổ sung quy định chuyên ngành, riêng, cụ thể (trong Bộ luật dân sự hoặc luật, nghị định chuyên ngành) về bồi thường thiệt hại do sử dụng mạng xã hội gây ra.

Nguyễn Văn Dũng – Phó Chánh án TAND thành phố Tam Kỳ

Nguồn: www.toaantamky.gov.vn

Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

Trong một số trường hợp nhất định, xuất phát từ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, pháp luật quy định cho phép người bị hại lựa chọn quyền yêu cầu khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự.
 

Khởi tố vụ án hình sự là quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm duy trì trật tự và công lý, không phụ thuộc vào ý muốn cá nhân và không ai có thể can thiệp. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, xuất phát từ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, pháp luật quy định cho phép người bị hại lựa chọn quyền yêu cầu khởi tố hoặc không khởi tố vụ án.

 
Đó là những trường hợp mà hành vi phạm tội vừa xâm phạm trật tự xã hội, vừa xâm phạm đến thể chất, sức khoẻ, danh dự của người bị hại. Những trường hợp này nếu khởi tố vụ án, lợi ích về mặt xã hội có thể không lớn mà còn có khả năng làm tổn thương thêm về mặt tinh thần cho người bị hại. Vì vậy, nhà làm luật đã xác lập một khả năng, điều kiện để người bị hại cân nhắc, quyết định có yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý về mặt hình sự đối với hành vi phạm tội hay không. Với quy định đó, nhà làm luật tạo điều kiện cho người phạm tội có cơ hội thuận lợi để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra, hạn chế việc gây thêm những tổn thất, mất mát về mặt tinh thần, danh dự không cần thiết có thể có đối với người bị hại.
Điều 155 BLTTHS năm 2015 quy định:

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Đây là một quy định vừa mang tính kế thừa của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, vừa có sự sửa đổi, bổ sung:
Một điểm mới đáng chú ý trong BLTTHS năm 2015 là quy định cơ chế sử dụng quyền yêu cầu của người bị hại trong khởi tố vụ án hình sự. Khoản 2 Điều 155 BLTTHS năm 2015 quy định: “Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ…”.
Như vậy, so với quy định trong BLTTHS năm 2003 thì BLTTHS năm 2015 đã có tiến bộ hơn khi mở rộng quyền rút yêu cầu của người bị hại là người bị hại được quyền rút yêu cầu bất cứ lúc nào trong suốt quá trình tố tụng từ giai đoạn điều tra, truy tố đến xét xử (Khoản 2 Điều 105 BLTTHS năm 2003 quy định người bị hại chỉ được rút yêu cầu trước khi mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án mới được đình chỉ).
Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155… (điểm a khoản 1 Điều 230 BLTTHS); trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155… (khoản 1 Điều 248 BLTTHS); trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155… (điểm a khoản 1 Điều 282 BLTTHS).
Ngoài ra, một quy định mới khác của BLTTHS năm 2015 về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại tiến bộ hơn quy định của BLTTHS năm 2003 là tại khoản 1 Điều 155 đã bỏ một tội được khởi tố theo yêu cầu người bị hại là tội “Xâm phạm quyền tác giả” (Khoản 1 Điều 105 BLTTHS năm 2003 quy định tội này chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại).
Việc BLTTHS năm 2015 bãi bỏ điều luật này mang lại một tín hiệu tích cực, vì thực trạng hiện nay quyền tác giả đang bị xâm phạm ngày càng nhiều và nghiêm trọng cũng như hành vi xâm phạm ngày càng tinh vi, phức tạp hơn, thậm chí việc xâm phạm diễn ra nhưng tác giả vẫn không hay biết. Do đó, hành vi xâm phạm này cần được bảo vệ mà không cần phải có yêu cầu của người bị hại nhằm bảo vệ tốt hơn quyền tác giả, quyền liên quan và phù hợp với tình hình mới.
 

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)

Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự

Quy định việc thay đổi, bổ sung kháng nghị phúc thẩm không được vượt quá phạm vi kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng nghị đã hết được hiểu như thế nào, cho đến nay vẫn còn nhiều quan điểm trái chiều.
 

Khoản 1 Điều 284 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 quy định: “Trường hợp chưa hết thời hạn kháng nghị theo quy định tại Điều 280 của Bộ luật này thì Viện kiểm sát (Viện Kiểm Sát) đã kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị mà không bị giới hạn bởi phạm vi kháng nghị ban đầu”.

 
Quy định này nhằm “tôn trọng quan điểm của Viện Kiểm Sát và của người ký kháng nghị trong trường hợp họ muốn thay đổi, bổ sung kháng nghị”(1), đồng thời, tạo điều kiện để các đương sự chuẩn bị tổ chức việc bào chữa bảo vệ quyền lợi hợp pháp sau khi đã biết rõ thực trạng những nội dung kháng nghị một cách có hiệu quả nhất. Đây là quy định bổ sung và làm rõ hơn so với khoản 1 Điều 256 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi,  bổ sung năm 2011), thể hiện ở chỗ trong trường hợp chưa hết thời hạn kháng nghị theo quy định tại Điều 280 BLTTDS năm 2015 (2) thì việc thay đổi, bổ sung kháng nghị không bị giới hạn bởi phạm vi kháng nghị ban đầu, nghĩa là Viện Kiểm Sát sẽ được quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị mà không phải chịu bất kỳ một giới hạn, hạn chế nào. Có thể thay đổi, bổ sung một phần hoặc toàn bộ kháng nghị so với kháng nghị ban đầu, và có thể thay đổi cả số lượng và tăng giá trị yêu cầu…
Khoản 2 Điều 284 BLTTDS năm 2015 có sửa đổi về bản chất so với khoản 1 Điều 256 BLTTDS năm 2004: “Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, Viện Kiểm Sát đã kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị, nhưng không được vượt quá phạm vi kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng nghị đã hết”. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định Viện Kiểm Sát ra quyết định kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị, nghĩa là có thể Viện Kiểm Sát đã kháng nghị hoặc Viện Kiểm Sát cấp trên trực tiếp sẽ được quyền thay đổi, bổ sung. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bó hẹp hơn nữa, chỉ còn trao cho Viện Kiểm Sát đã kháng nghị mới có quyền này, như vậy, nếu Viện Kiểm Sát cùng cấp kháng nghị đối với Tòa án cấp sơ thẩm thì Viện Kiểm Sát đã kháng nghị mới có quyền thay đổi, bổ sung, còn Viện Kiểm Sát cấp trên, trực tiếp tham gia phiên tòa phúc thẩm và bảo vệ kháng nghị lại không có quyền này. Điều này, vô hình trung dẫn tới việc thiếu chủ động và tính tự quyết của Viện Kiểm Sát cấp trên trực tiếp, bởi lẽ, tại phiên tòa phúc thẩm có thể sẽ có những diễn biến khác so với chiều hướng kháng nghị ban đầu mà Viện Kiểm Sát cùng cấp sơ thẩm đã không thể dự liệu hết được trong kháng nghị của mình.
Bên cạnh đó, BLTTDS năm 2015 còn bổ sung quy định về hình thức và thủ tục thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị. Theo đó, việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải được lập thành văn bản và gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho các đương sự về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị. Đồng thời, Tòa án cấp phúc thẩm còn phải tiến hành các công việc theo quy định của BLTTDS để mở phiên tòa xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị, phần kháng nghị còn lại theo thủ tục chung. Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa và Tòa án cấp phúc thẩm tiếp tục xét xử phúc thẩm vụ án theo thủ tục chung đối với kháng nghị đã được thay đổi, bổ sung và phần kháng nghị còn lại.
Việc thay đổi, bổ sung kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự có điểm khác so với thay đổi, bổ sung kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự. Theo quy định tại Điều 284 BLTTDS năm 2015 thì việc thay đổi, bổ sung kháng nghị phúc thẩm phải được thông báo trước cho các đương sự có liên quan đến kháng nghị và không được vượt quá phạm vi kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng nghị đã hết (bởi phúc thẩm chỉ là việc xét tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật nên đương sự phải được chuẩn bị để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án). Mọi thay đổi, bổ sung kháng nghị dẫn đến đương sự bị động, không có điều kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đều không được chấp nhận. Còn giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ xem xét lại việc áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Tòa án thông qua việc xét lại các bản  án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Trong giai đoạn này, các đương sự không bắt buộc phải tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm chủ yếu dựa vào chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án để xét, nên những người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị mà không có bất kỳ một sự hạn chế nào.
Quy định việc thay đổi, bổ sung kháng nghị phúc thẩm không được vượt quá phạm vi kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng nghị đã hết được hiểu như thế nào, cho đến nay vẫn còn nhiều quan điểm trái chiều.
Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 04/8/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm” của BLTTDS và Điều 11 Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS được phân biệt làm 02 trường hợp như sau:
Trường hợp vẫn còn thời hạn kháng nghị quy định tại Điều 252 (nay là Điều 280) của BLTTDS, thì Viện Kiểm Sát đã kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung nội dung kháng nghị đối với phần bản án hoặc toàn bộ bản án, quyết định mà mình có quyền kháng nghị. Điều này, vừa đảm bảo quyền kháng nghị của Viện Kiểm Sát, đồng thời, cũng không ảnh hưởng đến quyền bảo vệ của các đương sự trước Tòa án, bởi lẽ việc thông báo thay đổi, bổ sung kháng nghị được thực hiện sau khi hết thời hạn kháng nghị nên đương sự vẫn có điều kiện để chuẩn bị các tài liệu, chứng cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ và lập luận để phản bác lại các nội dung kháng nghị.
Trường hợp Viện Kiểm Sát đã rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị nhưng sau đó kháng nghị lại mà vẫn còn trong thời hạn kháng nghị, thì vẫn được chấp nhận để xét xử phúc thẩm theo thủ tục chung.
Trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị thì trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, việc thay đổi, bổ sung kháng nghị phúc thẩm của Viện Kiểm Sát đã kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị nhưng không được vượt quá phạm vi kháng nghị đã gửi cho Tòa án trong thời hạn kháng nghị. Tuy nhiên, quy định không được vượt quá phạm vi kháng nghị còn có nhiều cách hiểu khác nhau.
Cách hiểu thứ nhất, không vượt quá phạm vi kháng nghị ban đầu là không dẫn đến việc Tòa án cấp phúc thẩm phải hoãn phiên tòa. Điều này có nghĩa việc thay đổi, bổ sung kháng nghị không dựa vào giới hạn phạm vi các yêu cầu kháng nghị mà dựa trên cơ sở đảm bảo quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Cách hiểu này có điểm hợp lý, đó là không gây khó khăn cho Tòa án trong việc xác định vượt quá phạm vi kháng nghị ban đầu là không vượt quá phạm vi các quan hệ pháp luật đã được giải quyết ở Tòa án cấp sơ thẩm hay không vượt quá phạm vi giá trị các yêu cầu cụ thể được nêu trong kháng nghị. Tuy nhiên, cách hiểu này chỉ áp dụng đối với trường hợp thay đổi, bổ sung kháng nghị ở tại phiên tòa phúc thẩm. Trong khi đó, việc thay đổi, bổ sung kháng nghị phúc thẩm còn được thực hiện ở giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm. Và ngay cả cách hiểu này áp dụng ở tại phiên tòa phúc thẩm thì việc thay đổi, bổ sung kháng nghị được thực hiện ở giai đoạn tranh tụng (phần thủ tục hỏi) nên không thể hoãn phiên tòa, vì như vậy sẽ vi phạm nguyên tắc xét xử liên tục. Còn nếu tạm ngừng phiên tòa thì chưa đủ cơ sở, vì việc tạm ngừng phiên tòa (3) phải căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu và đánh giá chứng cứ của Hội đồng xét xử chứ không chỉ dựa trên việc hỏi KSV có thay đổi, bổ sung kháng nghị hay không?
Cách hiểu thứ hai, không được vượt quá phạm vi kháng nghị ban đầu là không đưa thêm yêu cầu, đồng thời, không làm tăng thêm giá trị yêu cầu.
Ví dụ: A khởi kiện B yêu cầu B bồi thường thiệt hại do B có hành vi xâm hại tài sản và bôi nhọ A trên mạng xã hội facebook, giá trị A kiện đòi B là 50 triệu đồng. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của A buộc B phải bồi thường 15 triệu đồng. Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm và cho rằng quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm buộc B phải bồi thường cho A 15 triệu đồng là quá thấp so với thiệt hại xảy ra. Với các chứng cứ mà A xuất trình ở Tòa án cấp sơ thẩm, Viện Kiểm Sát kháng nghị yêu cầu mức bồi thường thiệt hại cả về tài sản và danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm phải là 30 triệu đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, Viện Kiểm Sát yêu cầu tăng mức bồi thường cho A lên 40 triệu đồng (do A xuất trình thêm các chứng cứ để chứng minh tổng giá trị thiệt hại của mình là 40 triệu đồng). Với cách hiểu này, thì yêu cầu của Viện Kiểm Sát về việc tăng mức bồi thường cho A thêm 10 triệu đồng nữa sẽ không được chấp nhận.
Tuy nhiên, cách hiểu này sẽ mâu thuẫn với quy định tại khoản 3 Điều 302 BLTTDS năm 2015, đó là: “Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên có quyền xuất trình bổ sung tài liệu, chứng cứ”. Việc xuất trình bổ sung tài liệu, chứng cứ này của KSV có thể làm tăng giá trị yêu cầu hoặc giảm nghĩa vụ phải thực hiện của các đương sự. Và trong trường hợp này, thì yêu cầu của Viện Kiểm Sát về việc tăng mức bồi thường cho A thêm 10 triệu đồng nữa phải được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận để xem xét, giải quyết. Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm có sửa án theo hướng tăng mức bồi thường cho A hay không còn phụ thuộc vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như những chứng cứ mà Kiểm sát viên xuất trình.
Bên cạnh đó, về thẩm quyền rút kháng nghị quy định tại khoản 3 Điều 284 BLTTDS năm 2015 cũng có sự sửa đổi, bổ sung so với Điều 256 BLTTDS năm 2004, theo đó, “Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo có quyền rút kháng cáo Viện Kiểm Sát đã kháng nghị hoặc Viện Kiểm Sát cấp trên trực tiếp có quyền rút kháng nghị. Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với những phần của vụ án mà người kháng cáo đã rút kháng cáo hoặc Viện Kiểm Sát đã rút kháng nghị. Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm trước khi mở phiên tòa do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định, tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định”. Phần này Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 cũng có hướng dẫn như sau: Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với những phần của vụ án mà Viện Kiểm Sát đã rút kháng nghị khi có đủ các điều kiện sau đây:
Một là, Viện Kiểm Sát rút kháng nghị mà trong vụ án không còn có kháng cáo của người khác, không có kháng nghị của Viện Kiểm Sát đối với phần của bản án, quyết định sơ thẩm đó.
Hai là, phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị mà kháng nghị đó đã được rút độc lập với những phần khác của bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị và việc xét kháng nghị này không liên quan đến phần bản án, quyết định sơ thẩm có kháng nghị đã được rút.
Ví dụ: Tại Bản án số 35/2013/HNGĐ-ST ngày 15/02/2013, Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh HT đã quyết định cho anh A được ly hôn chị B; giao chị B trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu C, anh A phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 200.000đ và chia tài sản chung của vợ chồng cho anh A và chị B. Sau khi xét xử sơ thẩm, anh A không kháng cáo, Viện Kiểm Sát không kháng nghị bản án sơ thẩm mà chỉ có chị B kháng cáo bản án sơ thẩm về quyết định chia tài sản chung của vợ chồng. Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm hoặc tại phiên tòa phúc thẩm nếu chị B rút kháng cáo, thì Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần của vụ án mà chị B đã rút kháng cáo vì trong vụ án không có kháng cáo của người khác, không có kháng nghị của Viện Kiểm Sát.
Trường hợp anh A cũng kháng cáo bản án sơ thẩm về quyết định chia tài sản chung của vợ chồng vì lý do Tòa án cấp sơ thẩm quyết định buộc anh A phải thanh toán một số khoản nợ mà chị B vay không sử dụng cho mục đích chung của vợ chồng, mặc dù chị B rút kháng cáo thì phần bản án sơ thẩm mà chị B rút kháng cáo vẫn có liên quan đến phần bản án sơ thẩm bị anh A kháng cáo. Do đó, trường hợp này Tòa án cấp phúc thẩm không ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần của vụ án mà chị B đã rút kháng cáo.
Trường hợp Viện Kiểm Sát cũng có kháng nghị đối với phần án phí thì tại phiên tòa phúc thẩm, Tòa án chỉ được quyền đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần rút kháng cáo của chị B, còn phần kháng nghị của Viện Kiểm Sát về án phí, Tòa án vẫn phải tiến hành giải quyết theo thủ tục chung.
Tuy nhiên, hướng dẫn nêu trên của Nghị quyết số 06/2012 mới chỉ dừng lại ở việc xác định các trường hợp rút kháng cáo, kháng nghị và thẩm quyền của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đối với từng trường hợp. Còn thẩm quyền rút kháng nghị của Viện Kiểm Sát thì trong Nghị quyết này chưa hướng dẫn. Cụ thể, đối với trường hợp Viện Kiểm Sát cấp trên trực tiếp có quyền rút kháng nghị đối với quyết định kháng nghị của Viện Kiểm Sát cấp dưới. Vậy, Viện Kiểm Sát cấp trên trực tiếp ở đây phải được hiểu như thế nào? Là Viện Kiểm Sát cấp tỉnh đối với quyết định kháng nghị của Viện Kiểm Sát cấp huyện? Viện Kiểm Sát cấp cao đối với quyết định kháng nghị của Viện Kiểm Sát cấp tỉnh? Viện Kiểm Sát tối cao đối với quyết định kháng nghị Viện Kiểm Sát cấp cao? hay là bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật thì Viện Kiểm Sát cấp trên trực tiếp là Viện Kiểm Sát sẽ tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm?
Ví dụ: Cũng tại ví dụ trên, nếu Viện Kiểm Sát huyện H, tỉnh HT không kháng nghị phúc thẩm, nhưng Viện Kiểm Sát tỉnh HT lại kháng nghị đối với bản án 35/2013/HNGĐ-ST ngày 15/02/2013 thì trường hợp này, Viện Kiểm Sát tỉnh HT sẽ tham gia phiên tòa phúc thẩm, nhưng thẩm quyền rút kháng nghị của Viện Kiểm Sát tỉnh HT có được trao cho Viện Kiểm Sát cấp cao hay không?
Tương tự như vậy, một bản án mà Viện Kiểm Sát cấp cao kháng nghị phúc thẩm đối với bản án của Tòa án cấp cấp tỉnh, Viện Kiểm Sát cấp cao tham gia phiên tòa phúc thẩm thì Viện Kiểm Sát nhân dân tối cao có quyền rút kháng nghị?
Một số kiến nghị
Để giải quyết được những vướng mắc nêu trên, theo chúng tôi, việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị có thể bị giới hạn trong những điều kiện sau đây:
Thứ nhất, Viện Kiểm Sát chỉ được thay đổi, bổ sung kháng nghị về phần của bản án, quyết định sơ thẩm; không được thay đổi, bổ sung kháng nghị về những vấn đề mà Tòa án cấp sơ thẩm chưa giải quyết.
Xét về logic và bản chất của kháng nghị phúc thẩm thì việc kháng nghị phúc thẩm nhằm chống lại những vấn đề thuộc về sự kiện và pháp lý của vụ án đã được Tòa án cấp sơ thẩm xét xử. Nói cách khác, Viện Kiểm Sát chỉ được kháng nghị về những nội dung đã được giải quyết ở Tòa án cấp sơ thẩm và không được kháng nghị về những vấn đề chưa được giải quyết. Nếu cho phép Viện Kiểm Sát thay đổi, bổ sung cả những vấn đề chưa được giải quyết ở Tòa án cấp sơ thẩm thì có nghĩa đã vi phạm đến nguyên tắc hai cấp xét xử.
Thứ hai, việc thay đổi, bổ sung kháng nghị phải bảo đảm đương sự có điều kiện để chuẩn bị việc phản bác lại yêu cầu kháng nghị.
Để đương sự thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì khi Viện Kiểm Sát thay đổi, bổ sung kháng nghị, các đương sự có liên quan đến kháng nghị phải được biết việc thay đổi, bổ sung kháng nghị về vấn đề gì? Căn cứ kháng nghị để đương sự chuẩn bị các chứng cứ, tài liệu, căn cứ pháp lý, lý lẽ và lập luận để phản bác lại yêu cầu kháng nghị. Mọi trường hợp thay đổi, bổ sung kháng nghị dẫn đến việc đương sự không có thời gian và điều kiện chuẩn bị tổ chức việc bào chữa thì Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận.
Do đó, để đáp ứng những giới hạn trên, việc thay đổi, bổ sung kháng nghị khi thời hạn kháng nghị đã hết chỉ được chấp nhận khi việc thay đổi, bổ sung đó không vượt quá phạm vi các quan hệ pháp luật đã giải quyết ở Tòa án cấp sơ thẩm.
Ngoài ra, việc thay đổi, bổ sung kháng nghị có thể dẫn đến việc mở rộng phạm vi những người có liên quan đến kháng nghị bổ sung. Do đó, để các đương sự có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì họ cần phải được triệu tập và tham gia phiên tòa phúc thẩm. Bổ sung kháng nghị nhưng họ không thể có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến phần kháng nghị mới được bổ sung (vì trước đó họ không được Tòa án triệu tập và không có liên quan đến kháng nghị). Do đó, việc bổ sung kháng nghị chỉ được chấp nhận nếu không làm phát sinh việc triệu tập thêm những người có liên quan đến kháng nghị bổ sung.
Tóm lại, giới hạn của việc thay đổi, bổ sung kháng nghị của Viện Kiểm Sát, theo chúng tôi đó là: Không được vượt quá phạm vi các quan hệ pháp luật đã giải quyết ở Tòa án cấp sơ thẩm mà Viện Kiểm Sát đã kháng nghị trong thời hạn kháng nghị cũng như không phải triệu tập thêm những người có liên quan đến kháng nghị bổ sung.
Về thẩm quyền rút kháng nghị, theo chúng tôi, kháng nghị phúc thẩm là quyền năng pháp lý duy nhất và thể hiện sự trao quyền của nhà nước đối với hoạt động kiểm sát tư pháp của Viện Kiểm SátND. Tuy nhiên, việc rút kháng nghị chỉ nên trao cho một số chủ thể nhất định, ở đây phải là Viện Kiểm Sát sẽ tham gia phiên tòa phúc thẩm. Do đó, đối với bản án, quyết định sơ thẩm mà Viện Kiểm Sát cấp trên, trực tiếp kháng nghị phúc thẩm đối với Tòa án cấp dưới thì Viện Kiểm Sát cấp đó có quyền rút. Điều này nhằm hạn chế việc rút kháng nghị tràn lan, nâng cao vị thế của ngành Kiểm sát trong hoạt động tư pháp cũng như thể hiện sự tôn trọng quyền năng pháp lý, tránh tình trạng can thiệp vào hoạt động tư pháp của nội bộ ngành Kiểm sát./.
1. Vũ Thị Hồng Vân, Một số vấn đề về quyền kháng nghị phúc thẩm của Viện Kiểm Sát nhân dân trong Bộ luật Tố tụng dân sự, Tạp chí Kiểm sát số 11/2005.
2. Điều 280 BLTTDS năm 2015 quy định: “1. Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện Kiểm Sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện Kiểm Sát cấp trên trực tiếp là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án. Trường hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện Kiểm Sát cùng cấp nhận được bản án; 2. Thời hạn kháng nghị của Viện Kiểm Sát cùng cấp đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình  chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của Viện Kiểm Sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày Viện Kiểm Sát cùng cấp nhận được quyết định”.
3. Điều 304 – Tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 259 của Bộ luật này, nghĩa là, Hội đồng xét xử có quyền quyết định tạm ngừng phiên tòa khi có một trong các căn cứ sau đây: 1. Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tiến hành tố tụng không thể tiếp tục tiến hành phiên tòa, trừ trường hợp thay thế được người tiến hành tố tụng; 2. Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan mà người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa, trừ trường hợp người tham gia tố tụng có yêu cầu xét xử vắng mặt; 3. Cần phải xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ mà nếu không thực hiện thì không thể giải quyết được vụ án và không thể thực hiện được ngay tại phiên tòa; 4. Chờ kết quả giám định bổ sung, giám định lại; Các đương sự thống nhất đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để họ tự hòa giải; 5. Cần phải báo cáo Chánh án Tòa án để đề nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều 221 của Bộ luật này.
(Trích bài viết: “Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự” của tác giả Nguyễn Nam Hưng, Viện 2, Viện Kiểm SátND cấp cao tại Tp. Hồ Chí Minh, Tạp chí Kiểm sát số 13/2018).

Luật "xung đột", buôn lậu thuốc lá có nguy cơ bùng phát

Hiện nay, tình trạng mua bán, vận chuyển, tàng trữ thuốc lá nhập lậu đang diễn biến hết sức phức tạp. Tuy nhiên, các cơ quan tiến hành tố tụng lại đang hết sức lúng túng trong việc xử lý đối với các hành vi này bởi những quy định khác nhau trong hệ thống pháp luật hiện hành.
Là tỉnh có chung đường biên giới với Campuchia dài 136 km, lại là địa bàn giáp ranh với thành phố Hồ Chí Minh, nên từ nhiều năm nay Long An luôn là điểm nóng của nạn buôn bán, vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu. Trung bình mỗi năm các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh bắt giữ, xử lý hàng trăm vụ mua bán, vận chuyển thuốc lá nhập lậu qua biên giới và trong nội địa. Tuy nhiên, từ đầu năm đến nay việc xử lý đối với các hành vi này gần như bị đình trệ do vướng những quy định của pháp luật. Cũng vì lý do này, mà ngày 26/1/2016 Tòa án nhân dân tối cao đã có công văn tạm dừng xét xử đối với các hành vi vận chuyển, tàng trữ pháo nổ, thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa để chờ hướng dẫn. Theo thống kê của VKSND tỉnh Long An, tính đến cuối tháng 10/2016 trên địa bàn tỉnh còn tồn đọng 21 vụ án vận chuyển,  buôn bán thuốc lá nhập lậu, trong đó có 14 vụ/33 bị can đang tạm đình chỉ để chờ hướng dẫn.
Nguyên nhân của tình trạng này là do những “xung đột”  trong các văn bản pháp luật hiện hành. Theo Luật thương mại 2005, thì pháo và thuốc lá điếu nhập lậu là những mặt hàng cấm  kinh doanh (được quy định cụ thể tại Nghị định 59/2006 và nghị định 43/2009 của Chính  phủ sửa đổi, bổ sung danh mục hàng hóa dịch vụ cấm kinh doanh của nghị định 59). Tuy nhiên, Điều 6 Luật đầu tư 2014 quy định những ngành nghề cấm đầu tư, kinh doanh thì pháo và thuốc lá lại không có tên trong danh mục này.
Vậy pháo và  thuốc lá có phải là hàng cấm hay không đang là một câu hỏi khó đối với tất cả các cơ quan thực thi pháp luật trên địa bàn cả nước.
Mặt khác, quá trình giải quyết đối với từng vụ việc cụ thể cũng gặp không ít khó khăn do có những  quy định chồng chéo trong các văn bản pháp luật.
Thông tư liên tịch số 36 ngày 7/12/2012 của liên bộ: Bộ công thương, Bộ Công an, Bộ tư pháp, Bộ Y tế, VKSNDTC, Tòa án NDTC hướng dẫn  thi hành Bộ luật hình sự 2015 quy định: đối với hành vi buôn bán, vận chuyển, tàng trữ thuốc lá điếu nhập lậu từ 1500 bao trở lên sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nhưng tại Nghị định 24, ngày 19/11/2015 của Chính phủ mức khởi điểm để xử lý hình sự lại được quy định là từ 500 bao trở lên.
Trong khi đó, Bộ luật hình sự 2015 lại không quy định về số lượng mà quy ra giá trị bằng tiền. Cụ thể theo quy định tại điều 190, 191 Bộ luật hình sự 2015 thì nếu buôn bán, vận chuyển, tàng trữ thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa thì hàng phạm pháp phải có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên; còn nếu buôn bán, vận chuyển qua biên giới thì phải có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên mới bị xử lý hình sự. Với quy định này, diện xử lý hình sự đối với các hành vi buôn bán vận chuyển, tàng trữ  thuốc là điếu nhập lậu sẽ thu hẹp hơn nhiều so với trước đây.
Tuy nhiên, cái khó ở đây là đối với các mặt hàng buôn lậu không được phép lưu hành trên thị trường thì Bộ Tài chính không có căn cứ để định giá. Mà như vậy thì các cơ quan tiến hành tố tụng dựa vào cơ sở pháp lý nào để xác định giá trị hàng hóa trước khi đi đến quyết định xử lý hành chính hay khởi tố hình sự?
Lo lắng vì tình trạng án liên quan đến hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ  thuốc lá điếu nhập lậu tồn đọng quá lớn và e ngại  tình trạng này sẽ  khiến cho vấn nạn buôn bán, vận chuyển thuốc lá nhập lậu bùng phát, VKSND tỉnh Long An đã có văn bản thỉnh thị gửi VKSNDTC để xin phương án giải quyết.
Theo ý kiến của Vụ Thực hành quyền công tố Kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử án kinh tế, chức vụ (vụ 3) thì những vướng mắc trong việc xử lý các hành vi buôn bán, tàng trữ, vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu không chỉ xảy ra trên địa bàn tỉnh Long An mà là tình trạng chung diễn ra phổ biến ở các địa phương trên địa bàn cả nước. Tuy nhiên, đây là vấn đề lớn, liên quan đến các quy định của pháp luật nên vượt quá thẩm quyền giải quyết của ngành. Vì vậy Vụ 3 đã tham mưu cho lãnh đạo VKSNDTC xây dựng văn bản trình Ủy ban Tư pháp Quốc hội đề nghị tổ chức cuộc họp với các bộ ban ngành liên quan để  tìm giải pháp tháo gỡ vướng mắc. Đồng thời, đề nghị sửa đổi, bổ sung Luật Thương mại, Nghị định 124 của Chính phủ để phù hợp với quy định tại điều 190, 191 của Bộ luật Hình sự 2015.
Yêu cầu bức thiết đặt ra hiện nay là Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ban ngành liên quan cần sớm có phương án giải quyết, sửa đổi kịp thời các bộ luật và văn bản hướng dẫn thi hành để tạo sự thống nhất và đồng bộ trong hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm. Bởi nếu kéo dài tình trạng này thì các đối  tượng mua bán, tàng trữ, vận chuyển thuốc lá điếu và pháo nhập lậu sẽ thừa cơ trỗi dậy, khiến cho vấn nạn buôn lậu ngày một thêm trầm  trọng và khó kiểm soát. Hệ lụy là không chỉ Nhà nước thất thu ngân sách 4.300 tỉ đồng mỗi năm, mà còn gây bất ổn tình hình kinh tế xã hội khi một bộ phận nhân dân bỏ sản xuất, kinh doanh đổ xô đi buôn lậu và hơn thế nữa sẽ còn dẫn đến tình trạng nhờn luật khi các hành vi buôn lậu không được xử lý nghiêm minh.
 

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)

 
https://youtu.be/Y_j0H3LIPJU

Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã có bổ sung quan trọng trong việc quy định về biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
 

Xem thêm: Hủy bỏ việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

 

Trường hợp áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Đối tượng áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt có thể là con người như cá nhân, đối tượng nghi thực hiện tội phạm hoặc ổ nhóm tội phạm, hoặc cũng có thể là địa điểm nơi có thể xảy ra tội phạm, tồn tại những tin tức, tài liệu, dấu vết cần theo dõi, tìm kiếm thu thập trong quá trình giải quyết vụ án.
Sau khi khởi tố vụ án, trong quá trình điều tra, người có thẩm quyền có thể quyết định áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt bao gồm: Ghi âm, ghi hình bí mật; Nghe điện thoại bí mật; Thu thập bí mật dữ liệu điện tử.
Những biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt cho phép ghi nhận hình ảnh với độ phân giải tốt, âm thanh chất lượng và những thông tin, tài liệu khác, đồng thời đảm bảo yếu tố bí mật với đối tượng áp dụng và những người không liên quan.
Để tránh sử dụng tràn lan và đảm bảo hiệu quả cao trong việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, Bộ luật quy định có thể áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt đối với các tội phạm: Tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền; Tội phạm khác có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Đây là những loại tội phạm có tổ chức chặt chẽ, phương thức, thủ đoạn phạm tội và che dấu tội phạm hết sức tinh vi, xảo quyệt, đối tượng phạm tội thường ngoan cố, chống đối đến cùng, thiếu hợp tác với Cơ quan tố tụng dẫn tới các biện pháp điều tra tố tụng thông thường không mang lại hiệu quả hay hiệu quả thấp. Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt cho phép Cơ quan điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ trực tiếp chứng minh tội phạm, xác định nhanh chóng, chính xác, toàn diện vụ án, chứng minh tội phạm và người phạm tội, truy nguyên tài sản bị tội phạm chiếm đoạt.

Thẩm quyền, trách nhiệm quyết định và thi hành quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Đối với những vụ án liên quan tới tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền, tội phạm khác có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, trong trường hợp xét thấy cần thiết, Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp có quyền ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp huyện, Cơ quan điều tra quân sự khu vực thụ lý, điều tra thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp huyện, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự khu vực đề nghị Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu xem xét, quyết định áp dụng.
Biện pháp điều tra Tố tụng đặc biệt liên quan đến quyền bí mật đời tư của cá nhân nên không thể áp dụng tràn lan do vậy Quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt ghi rõ thông tin cần thiết về đối tượng bị áp dụng, tên biện pháp được áp dụng, thời hạn, địa điểm áp dụng, Cơ quan thi hành biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt và các nội dung khác của văn bản tố tụng.
Để đảm bảo thi hành biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, Công an nhân dân, Quân đội nhân dân thành lập Cơ quan chuyên trách tiến hành các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Cơ quan chuyên trách được biên chế cán bộ kỹ thuật đảm bảo về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại đã được kiểm duyệt để ghi âm, ghi hình bí mật, nghe lén điện thoại bí mật, thu thập dữ liệu điện tử bí mật.
Những người có thẩm quyền quyết định và thi hành quyết định bao gồm: Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan Điều tra cấp quân khu trở lên ra quyết định và Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, những người trong Cơ quan chuyên trách trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân thi hành quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt phải giữ bí mật. Nếu những thông tin về việc tiến hành biện pháp điều tra tố tụng đặc biết tới đối tượng bị áp dụng trong vụ án sẽ khiến chúng cảnh giác, tìm cách đối phó, tạo ra thông tin sai đánh lạc hướng Cơ quan tố tụng hay có biểu hiện chống đối dẫn tới kiện tụng phiền hà.

Thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt chỉ được tiến hành ở gian đoạn điều tra, sau khi khởi tố vụ án, để tránh việc lạm dụng hay áp dụng quá lâu ảnh hưởng tới đời tư của cá nhân, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định chi tiết về thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt là khoảng thời gian tối đa mà pháp luật cho phép để tiến hành biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được quy định như sau: thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt không quá 02 tháng kể từ ngày Viện trưởng Viện kiểm sát phê chuẩn. Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt chỉ áp dụng ở giai đoạn điều tra và sau khi khởi tố vụ án nên trong trường hợp vụ án phức tạp đòi hỏi cần thời gian để tiếp tục thu thập tài liệu, chứng cư thì có thể gia hạn nhưng không quá thời hạn điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, nếu xét thấy cần gia hạn thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng phải có văn bản đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát đã phê chuẩn xem xét, quyết định việc gia hạn.
Sử dụng thông tin, tài liệu thu thập được bằng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt: Thông tin, tài liệu thu thập được từ biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt rất rộng liên quan tới bí mật đời tư của cá nhân. Cơ quan tiến hành tố tụng và Cơ quan thi hành quyết định phải phân tích, đánh giá, chọn lọc những thông tin, tài liệu có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội, truy tìm đồng bọn, ngăn chặn đối tượng bỏ trốn, truy nguyên tài sản bị tội phạm chiếm đoạt… và sử dụng làm chứng cứ phục vụ việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự; thông tin, tài liệu không liên quan đến vụ án phải tiêu hủy kịp thời. Bộ luật nghiêm cấm sử dụng thông tin, tài liệu, chứng cứ thu thập được vào mục đích khác.
Thông tin, tài liệu thu thập được bằng việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt có thể dùng làm chứng cứ. Đây là nguồn chứng cứ mới hết sức quan trọng có giá trị trực tiếp chứng minh tội phạm và được sử dụng để giải quyết vụ án.
Để phát huy vai trò kiểm sát trong hoạt động điều tra tố tụng đặc biệt và có cơ sở đánh giá chính xác biện pháp điều tra tố tụng trong giải quyết vụ án còn cần thiết nữa không, Bộ luật quy định Cơ quan điều tra có trách nhiệm thông báo ngay kết quả việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt cho Viện trưởng Viện kiểm sát đã phê chuẩn.
 

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn)

Bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý

Triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, Quốc hội đã ban hành Luật Trợ giúp pháp lý (TGPL) năm 2017 và nhiều bộ luật, luật tố tụng quan trọng, trong đó có rất nhiều điểm mới thể hiện vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người nghèo, người có công với cách mạng và những người yếu thế…

Nguồn lực thực hiện

Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 có hiệu lực thi hành từ ngày 1.1.2018 thay thế cho Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 với nhiều nội dung mới nổi bật. Quy định rõ hơn vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí kịp thời, có chất lượng cho người được TGPL. Luật đã một lần nữa khẳng định “Trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của Nhà nước”. Do đó, với tư cách là một trong những phương thức bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đòi hỏi Nhà nước có các chính sách để bảo đảm quyền được TGPL, nhằm đáp ứng nhu cầu tiếp cận pháp luật ngày càng cao của người dân. Ngoài lực lượng của trung tâm TGPL nhà nước, Nhà nước còn thu hút các nguồn lực là các nhân, tổ chức có đủ điều kiện, tiêu chuẩn tham gia TGPL thông qua ký hợp đồng hoặc đăng ký tham gia TGPL. Với các quy định cụ thể của Luật, Nhà nước còn hỗ trợ, khuyến khích, ghi nhận và tôn vinh các tổ chức, cá nhân có đóng góp cho công tác TGPL để khích lệ sự tham gia nhiều hơn nữa của các lực lượng xã hội đối với hoạt động TGPL.
So với Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã bổ sung 1 điều (Điều 5) quy định về nguồn tài chính cho công tác TGPL, bao gồm ngân sách nhà nước; đóng góp, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước và các nguồn hợp pháp khác. Nhà nước bố trí kinh phí trong dự toán ngân sách hàng năm của cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về TGPL. Đồng thời, đối với các tỉnh chưa tự cân đối được ngân sách, Luật ưu tiên bố trí ngân sách từ số bổ sung cân đối ngân sách hàng năm để hỗ trợ cho việc thực hiện vụ việc TGPL phức tạp, điển hình. Đây là điểm mới quan trọng so với Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm cho người thuộc diện TGPL được giúp đỡ pháp lý khi có các vụ việc TGPL cụ thể, đồng thời nhằm khắc phục việc bỏ sót nhu cầu TGPL của người được TGPL, qua đó thể hiện cam kết của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền được TGPL thực thi trên thực tế.
Theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, đối với các cơ quan, tổ chức trong hoạt động TGPL  khuyến khích, tạo điều kiện để cán bộ, công chức, viên chức, hội viên… làm cộng tác viên TGPL. Thì nay, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã không còn quy định này mà thay bằng trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quá trình xử lý, giải quyết vụ việc liên quan đến công dân, nếu công dân thuộc diện người được TGPL thì phải giải thích quyền được TGPL và giới thiệu đến tổ chức thực hiện TGPL, nhằm bảo đảm quyền được TGPL của người được TGPL.

Trong hoạt động tố tụng 

Trước đây, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 không quy định cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT), cơ quan, tổ chức khác có liên quan đến hoạt động TGPL có trách nhiệm, mà chỉ phối hợp, tạo điều kiện, cung cấp thông tin, tài liệu cho tổ chức thực hiện TGPL để TGPL . Thì nay, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã quy định thành trách nhiệm trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, CQTHTT phối hợp, tạo điều kiện cho người được TGPL được hưởng quyền TGPL, tạo điều kiện cho người thực hiện TGPL tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Các bộ luật, luật về tố tụng được Quốc hội ban hành năm 2015 đã ghi nhận, thể hiện vai trò, trách nhiệm của Nhà nước về TGPL trong hoạt động tố tụng. Đây là điểm hoàn toàn mới, khác biệt so với các bộ luật, luật về tố tụng trước đây. Theo đó, tại Khoản 3, Điều 9 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), Khoản 3, Điều 19, Luật Tố tụng hành chính (TTHC) quy định: Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm TGPL cho các đối tượng theo quy định của pháp luật để họ thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước tòa án. Thẩm phán khi được chánh án phân công giải quyết vụ việc phải có trách nhiệm giải thích, hướng dẫn cho đương sự biết để họ thực hiện quyền được yêu cầu TGPL theo quy định của pháp luật về TGPL (Khoản 6, Điều 38, Luật TTHC; Khoản 6, Điều 48, BLTTDS) và không ai được hạn chế quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong TTDS cũng như trong TTHC.
Đặc biệt, trong Bộ Luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1.1.2018) thể hiện vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trong hoạt động TGPL thông qua quy định cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa/bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định. Trường hợp người bị buộc tội, người bị hại thuộc diện được TGPL theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải thích cho họ quyền được TGPL; nếu họ đề nghị được TGPL thì thông báo cho trung tâm TGPL nhà nước; chỉ định trung tâm TGPL nhà nước cử trợ giúp viên pháp lý/luật sư bào chữa cho bị can, bị cáo nếu họ thuộc diện được TGPL. Ngoài ra, Bộ luật còn quy định cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục và đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng… thì vi phạm nghiêm trọng tố tụng.
Như vậy, đi đôi với quyền được TGPL của người được TGPL là nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền này được thực thi trên thực tế.

Bùi Đức Độ

Nguồn: nguoibaovequyenloi.com

Nguyên đơn không nộp chi phí tố tụng khác, có được khởi kiện lại?

Trường hợp nguyên đơn không nộp chi phí tố tụng khác (cụ thể là chi phí trưng cầu giám định một người mất năng lực hành vi dân sự) thì Tòa án có được căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 để đình chỉ giải quyết vụ án hay không? Hậu quả của việc đình chỉ như thế nào?
Năm 2017 bà A khởi kiện vợ chồng bà B và ông C yêu cầu trả số tiền 80.000.000 đồng đã vay vào năm 2016, bà A có cung cấp biên nhận nợ do B và C đã ký tên. Trong quá trình giải quyết vụ án B có đến Tòa án trình bày ý kiến C không có ký tên vào biên nhận mà do bà B ký tên cả B và C, đồng thời B còn xuất trình sổ theo dõi bệnh điều trị tâm thần của C từ năm 2015 đến 2017 có xác nhận điều trị của Trung tâm y tế nơi C sinh sống là C có nhận thuốc mỗi tháng để điều trị bệnh tâm thần.
Trong tình huống này ông C chưa có quyết định nào tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần. Bà B không có khả năng đi trưng cầu giám định cho C, nên Tòa án đã yêu cầu bà A nộp chi phí để trưng cầu giám định đối với C.
Tòa án đã yêu cầu bà A phải nộp tiền tạm ứng chi phí giám định cho ông C theo quy định tại khoản 2 Điều 160 của BLTTDS quy định về nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí giám định: “Trường hợp Tòa án xét thấy cần thiết và quyết định trưng cầu giám định thì nguyên đơn, người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp chi phí giám định”.
Hiện C đang điều trị bệnh tâm thần, C đang là bị đơn trong vụ án dân sự nên Tòa án đã xác định việc trưng cầu giám định đối với C là cần thiết cho việc giải quyết vụ án nêu trên. Bà A đã nhận thông báo của Tòa án và đã được giải thích, hướng dẫn để họ thực hiện quyền yêu cầu tuyên bố ông C mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật để làm căn cứ giải quyết vụ kiện nhưng bà A đã không thực hiện theo thông báo của Tòa án.
Tòa án đã căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 217 của BLTTDS đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà A với lý do bà A không nộp chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật, cụ thể là không nộp chi phí trưng cầu giám định C mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 159 của BLTTDS. Ngoài ra, Tòa còn giải quyết hậu quả của việc đình chỉ là bà A không có quyền khởi kiện lại vụ án dân sự đó nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 218 của BLTTDS.
Theo Điều 217 của BLTTDS quy định về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong một số trường hợp, trong đó theo điểm đ là “Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này”.
Vấn đề đặt ra là việc quy định bà A không có quyền khởi kiện lại vụ án nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 218 của BLTTDS thì có đúng pháp luật hay không? Và tình huống này cần giải quyết như thế nào?
Tác giả rất mong sự quan tâm chia sẻ của bạn đọc.
 

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)

Biện pháp bắt buộc chữa bệnh theo quy định của BLTTHS 2015

Bắt buộc chữa bệnh có mục đích đầu tiên là phòng ngừa khả năng gây thiệt hại cho trật tự, an toàn xã hội của người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác gây rối loạn hoạt động tâm thần. Bên cạnh đó, bắt buộc chữa bệnh còn mang nội dung nhân đạo cao cả, thay vì áp dụng hình phạt đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, tòa án cho họ được chữa bệnh tại cơ sở điều trị chuyên khoa. Trong trường hợp không cần thiết phải đưa vào cơ sở điều trị chuyên khoa thì có thể giao cho gia đình hoặc người giám hộ trông nom dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 đã có nhiều quy định mới nhằm hạn chế, khắc phục những hạn chế bất cập trong quy định về áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh của BLTTHS năm 2003.

1. Điều kiện áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh

Điều 447 BLTTHS 2015 quy định các điều kiện áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh như sau “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.”
Điều luật trên quy định có hai trường hợp xảy ra:
Trường hợp thứ nhất: Người thực hiện hành vi phạm tội của mình trong khi đang mắc bệnh tâm thần thì không phải chịu trách nhiệm hình sự (TNHS). Bệnh tâm thần là bệnh do rối loạn hoạt động não bộ gây nên những biến đổi bất thường về lời nói, ý tưởng, hành vi, tác phong, tình cảm… Bệnh tâm thần điển hình bao gồm trầm cảm, rối loạn lo âu, tâm thần phân liệt, rối loạn ăn uống và hành vi gây nghiện. Trường hợp này người phạm tội không đủ năng lực TNHS nên không có lỗi. Năng lực TNHS là điều kiện cần thiết để xác định con người có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Chỉ người có năng lực TNHS mới có thể là chủ thể của tội phạm. Người trong tình trạng không có năng lực TNHS là người đã mất năng lực hiểu biết những đòi hỏi của xã hội liên quan đến hành vi nguy hiểm cho xã hội, không đánh giá được hành vi đã thực hiện là đúng hay sai, nên làm hay không nên làm.
Trường hợp thứ hai: Người phạm tội  có thể phải chịu trách nhiệm trách nhiệm hình sự. Vì khi phạm tội người phạm tội vẫn có năng lực TNHS, có khả năng điều khiển hành vi. Chỉ sau khi gây án người phạm tội  mới bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, mất năng lực điều khiển hành vi. Do đó, người phạm tội  bắt buộc phải chữa bệnh và có thể sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội do mình gây ra.

2.Thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh

+ Giai đoạn điều tra của Cơ quan điều tra.

Trong giai đoạn điều tra, khi có nghi ngờ người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Bộ luật Hình sự, cơ quan điều tra đang thụ lý giải quyết vụ án phải trưng cầu giám định pháp y tâm thần. Khi Cơ quan điều tra trưng cầu giám định pháp y tâm thần nếu Hội đồng giám định pháp y tâm thần kết luận bị can mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì Cơ quan điều tra gửi văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh cùng kết luận giám định cho Viện kiểm sát cùng cấp để xem xét, quyết định.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Cơ quan điều tra cùng kết luận giám định, Viện kiểm sát quyết định áp dụng biện pháp chữa bệnh đối với bị can hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra trưng cầu giám định bổ sung, giám định lại nếu thấy chưa đủ căn cứ để quyết định.
Trường hợp Viện kiểm sát ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra đối với bị can.

+ Giai đoạn truy tố của Viện kiểm sát.

Sau khi nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, nếu có căn cứ cho rằng bị can không có năng lực trách nhiệm hình sự thì Viện kiểm sát trưng cầu giám định pháp y tâm thần.
Căn cứ vào kết luận giám định, Viện kiểm sát có thể ra một trong các quyết định:
a) Tạm đình chỉ vụ án và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
b) Đình chỉ vụ án và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
c) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
d) Truy tố bị can trước Tòa án.
Ngoài quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, Viện kiểm sát có thể giải quyết vấn đề khác liên quan đến vụ án.

+ Giai đoạn xét xử của Tòa án.

Sau khi thụ lý vụ án, nếu có căn cứ cho rằng bị can, bị cáo không có năng lực TNHS thì Tòa án trưng cầu giám định pháp y tâm thần.
Căn cứ vào kết luận giám định, Tòa án có thể ra một trong những quyết định:
a) Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
b) Trả hồ sơ để điều tra lại hoặc điều tra bổ sung;
c) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
d) Đưa vụ án ra xét xử.
Ngoài quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, Tòa án có thể giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vấn đề khác liên quan đến vụ án.
Khi Tòa án đã thụ lý vụ án thì người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh là Chánh án hoặc phó Chánh án (mặc dù điều luật chỉ quy định chung là Tòa án).
Các trường hợp thuộc thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh của Tòa án bao gồm:
Thứ nhất, đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.
Thứ hai, đối với người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi.
Thứ ba, đối với người đang chấp hành hình phạt mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi.
Tuy nhiên vấn đề đặt ra là, sau khi Tòa án thụ lý vụ án hình sự, gia đình bị cáo cung cấp cho Tòa án một số bệnh án chứng minh bị cáo đã từng phải điều trị bệnh tâm thần và có đơn đề nghị giám định pháp y tâm thần. Trong trường hợp này xử lý như thế nào? hiện nay tồn tại hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất: Cần trả hồ sơ điều tra bổ sung vì đây thuộc trường hợp thiếu chứng cứ quan trọng.
Quan điểm thứ hai: Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định.
Trường hợp nêu trên có thể giải quyết như sau:
– Nếu trong giai đoạn điều tra, truy tố người nhà bị cáo đã cung cấp sổ điều trị tâm thần ngoại trú mà Viện kiểm sát không ra quyết định trưng cầu giám định thì trong trường hợp này Tòa án không ra quyết định trưng cầu giám định mà Tòa án tra hồ sơ điều tra bổ sung vì thuộc trường hợp thiếu chứng cứ quan trọng.
– Nếu trong giai đoạn điều tra, truy tố người nhà bị cáo không cung cấp sổ điều trị tâm thần ngoại trú mà khi Tòa án xét xử họ mới cung cấp thì Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định. Nếu có kết luận giám định tâm thần là bị cáo bị tâm thần thì Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ vụ án và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

+ Trong giai đoạn chấp hành hình phạt tù.

Đối với người đang chấp hành hình phạt tù mà có căn cứ để cho rằng người đó mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì theo đề nghị của Trại giam, Trại tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh đề nghị Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc Chánh án Toà án quân sự cấp quân khu nơi người bị kết án chấp hành hình phạt trưng cầu giám định pháp y.
Căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc Chánh án Toà án quân sự cấp quân khu nơi người bị kết án chấp hành hình phạt ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt, nếu không có lý do để miễn chấp hành hình phạt.
Những tổ chức cơ sở bắt buộc chữa bệnh tâm thần thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh:
– Viện Giám định pháp y tâm thần Trung ương và Bệnh viện tâm thần Trung ương 1 (Thường tín, Hà Nội) có trách nhiệm tiếp nhận, quản lý, điều trị những người bị bắt buộc chữa bệnh ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc khu vực phía Bắc;
– Bệnh viện tâm thần Đà Nẵng (thành phố Đà Nẵng) có trách nhiệm tiếp nhận, quản lý, điều trị người bị bắt buộc chữa bệnh ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên;
– Phân viện Giám định pháp y tâm thần phía Nam và Bệnh viện tâm thần Trung ương 2 (Biên Hòa, Đồng Nai) có trách nhiệm tiếp nhận, quản lý, điều trị những người bị bắt buộc chữa bệnh ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc khu vực phía Nam.

3. Đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh

Khi người bị bắt buộc chữa bệnh đã khỏi bệnh, Thủ trưởng cơ sở bắt buộc chữa bệnh tâm thần thông báo cho cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh để yêu cầu Hội đồng giám định pháp y tâm thần tiến hành giám định về tình trạng bệnh của người đó.
Căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y tâm thần về việc người bị bắt buộc chữa bệnh đã khỏi bệnh, cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh hoặc Viện Kiểm sát, Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh ra quyết định đình chỉ việc thi hành biện pháp này. Sau khi nhận được quyết định đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh, cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh hoặc Viện kiểm sát, Tòa án phải gửi ngay cho cơ sở bắt buộc chữa bệnh và người đại diện của người bị bắt buộc chữa bệnh.
Sau khi nhận được quyết định đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh của Tòa án, cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh phải đến nhận người bị bắt buộc chữa bệnh. Trường hợp Viện Kiểm sát ra quyết định đình chỉ, thì khi nhận quyết định đình chỉ, đại diện của người bị bắt buộc chữa bệnh phải đến nhận người đó. Việc giao nhận phải lập biên bản, trong đó ghi rõ thời gian chữa bệnh tại cơ sở bắt buộc chữa bệnh tâm thần.
Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm đến nhận người, nhưng không đến hoặc đến không đúng thời hạn nêu trên, phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Trường hợp người bị bắt buộc chữa bệnh đã chấp hành xong hình phạt và khi họ đã khỏi bệnh, cơ sở bắt buộc chữa bệnh tâm thần tiến hành thủ tục xuất viện cho họ tương tự người bệnh bình thường khác.
Những sửa đổi, bổ sung của BLTTHS 2015 về biện pháp bắt buộc chữa bệnh là rất quan trọng tuy nhiên để áp dụng trong thực tiễn cần nghiên cứu và vận dụng đúng./.
 

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn)

"Quyền im lặng" của bị cáo và những yêu cầu với Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự

Bị cáo trong một số vụ án được dư luận xã hội quan tâm gần đây đã triệt để sử dụng quyền im lặng. Tinh thần và những nội dung cốt lõi của “Quyền im lặng” lần đầu tiên được ghi nhận trong BLTTHS năm 2015, song đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn về cách thức, trình tự, thủ tục thực hiện; từ đó dẫn đến nhiều khó khăn, lúng túng cho các cơ quan và người tiến hành tố tụng khi giải quyết các vụ án.
Ngày 16/5/2018, phiên toà xét xử vụ án “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” và “Vô ý làm chết người” xảy ra tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hoà Bình được đưa ra xét xử. Trong phần xét hỏi, khi đại diện Viện kiểm sát (VKS) giữ quyền công tố tại toà tiến hành thẩm vấn “nhân vật chính” trong vụ án là bị cáo Hoàng Công Lương, 32 tuổi, bác sĩ khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện đa khoa tỉnh Hoà Bình bị truy tố về Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng; bị cáo Lương trả lời, do bị VKS quy kết tội nên bị cáo xin được giữ quyền im lặng. Bị cáo uỷ quyền cho luật sư chứng minh bị cáo vô tội.
Trước đó, ngày 22/6/2017, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án “hoa hậu” Trương Hồ Phương Nga về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (16,5 tỷ). Tại phần thẩm vấn, khi trả lời câu hỏi của đại diện VKS, Phương Nga đã nói: “Bị cáo không có nghĩa vụ phải chứng minh tội trạng của bị cáo, nghĩa vụ này là của cơ quan công tố”, dù được Tòa giải thích nếu bị cáo từ chối việc tự bào chữa cho chính mình thì cũng là một cách tự gây thiệt hại. Tuy nhiên, trong suốt quá trình xét xử, Phương Nga vẫn kiên quyết sử dụng “Quyền im lặng” nhằm “không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”. Ngày 29/6/2017, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã ra quyết định trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung. Sau đó, vụ án đã được cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định tạm đình chỉ vụ án và tạm đình chỉ điều tra đối với bị can. Và mới đây, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Tp. Hồ Chí Minh đã có quyết định phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra đối với bị can Trương Hồ Phương Nga.

“Quyền im lặng” là gì?

Thuật ngữ “Quyền im lặng” bắt nguồn từ Mỹ, với nguyên tắc “Không người nào bị bắt buộc phải làm chứng chống lại mình”. Theo đó, người bị bắt giữ, trước khi bị thẩm vấn, biết rõ họ có quyền giữ im lặng; bất cứ điều gì người ấy khai báo sẽ được dùng xem là chứng cứ để chống lại họ ở Tòa án. Người bị buộc tội chỉ có thể khai báo khi có mặt luật sư. Quyền có được bào chữa và quyền im lặng là 2 trong số các quyền cơ bản được luật pháp nước Mỹ quy định.
Ở nước ta, “Quyền im lặng” không được quy định cụ thể trong luật; BLTTHS năm 2015 không nêu khái niệm về “Quyền im lặng”, nhưng đã cụ thể hóa một số nguyên tắc cơ bản về quyền con người, quyền công dân của Hiến pháp năm 2013 như: Nguyên tắc “Suy đoán vô tội” (Điều 13); “Xác định sự thật của vụ án” (Điều 15); “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự” (Điều 16); “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” (Điều 26). Điều 59 đến Điều 62 BLTTHS năm 2015 quy định quyền của người bị buộc tội (gồm: Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) được “Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”. Quyền này được thể hiện xuyên suốt từ khi bị bắt, bị khởi tố cho đến xét xử. Tuy nhiên, đây có phải chính là nội hàm, tinh thần cốt lõi của “Quyền im lặng” được thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 và BLTTHS năm 2015 hay không? Trên thực tế, “Quyền im lặng” được hiểu và áp dụng khác nhau ở các chủ thể (người bị tạm giữ, người bị bắt, bị can, bị cáo, Luật sư, Điều tra viên, Kiểm sát viên…) mang tính đối lập nhau, thể hiện như sau:
Một là, người bị tạm giữ, người bị bắt, bị can, bị cáo luôn cho rằng “Quyền im lặng” được thể hiện xuyên suốt ở các giai đoạn tố tụng của vụ án, họ “không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”, vì nghĩa vụ chứng minh họ có tội hay không thuộc về Cơ quan điều tra, VKS. Riêng giới luật sư luôn cổ súy, nhiệt tình ủng hộ các” “thân chủ” của mình thực hiện “Quyền im lặng” ở các giai đoạn tố tụng, nhất là khi vụ án được đưa ra xét xử.
Hai là, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) luôn gặp lúng túng, bất ngờ khi bị can, bị cáo… thực hiện “Quyền im lặng”. Do trong BLTTHS năm 2015 và các văn bản dưới luật chưa có quy định cụ thể hoặc hướng dẫn; hơn thế nữa chưa có tài liệu nghiệp vụ nào quy định về cách thức, trình tự, thủ tục để các cơ quan và người tiến hành tố tụng thực hiện khi bị can, bị cáo thực hiện “Quyền im lặng”. Hơn nữa, lịch sử tố tụng hình sự luôn quy định, tiến trình tố tụng đối vụ án (điều tra, truy tố, xét xử) gắn liền với lời trình bày bằng lời nói, chữ viết của bị can, bị cáo về việc “thừa nhận, không thừa nhận” hành vi phạm tội của họ; việc “im lặng”, không khai báo, từ chối khai báo luôn được xem là bất hợp tác, không thành khẩn, gây bất lợi cho chính họ trong quá trình xử lý vụ án.
Ba là, qua 2 vụ án nói trên cho thấy, thời điểm được các bị cáo (Trương Hồ Phương Nga, Hoàng Công Lương) thực hiện đều trong giai đoạn xét xử; các bị cáo đều cho rằng do bị cáo buộc tội, nên dẫn đến họ sử dụng “Quyền im lặng” để bảo vệ mình. Từ đó cho thấy, đại diện VKS thực hành quyền công tố tại phiên tòa là đối tượng chính bị tác động khi các Luật sư, bị cáo sử dụng “Quyền im lặng”. Vụ án sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi xét xử, có thể sẽ diễn ra ở hướng bị Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung, hoặc bị cáo được tuyên không phạm tội. Ở thời điểm này bản lĩnh, năng lực của Kiểm sát viên phải được chứng minh để bảo vệ công lý, để tội ác phải bị trừng phạt.

Vậy khi nào, giai đoạn tố tụng nào bị can, bị cáo sử dụng “Quyền im lặng”?

Thực tiễn lịch sử tố tụng hình sự Việt Nam nói chung, “Quyền im lặng” được người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo sử dụng rất ít. Qua nghiên cứu cho thấy, “quyền im lặng” được các bị cáo sử dụng ở các trường hợp sau:
– Vụ án được dư luận xã hội quan tâm, các cơ quan ngôn luận đưa tin, bình luận trái chiều.
– Có quan điểm khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình xử lý vụ án (có tội, không có tội, khác nhau về tội danh, về chứng cứ…).
– Các bị can, bị cáo không nhận tội, có nhiều luật sư tham gia (bị cáo Phương Nga, Hoàng Công Lương đều cho rằng mình không phạm tội; bị cáo Nga có 3 luật sư bào chữa, Lương có 4 luật sư).
– Thời điểm các bị cáo sử dụng “Quyền im lặng” là lúc vụ án được đưa ra xét xử, khi biết mình bị VKS truy tố theo điều, khoản cụ thể của Bộ luật Hình sự. Ở đó bị cáo, luật sư sử dụng “Quyền im lặng” nhằm chống lại cáo buộc của VKS.

Những lưu ý đối với Kiểm sát viên thực hành quyền công tố ở các vụ án có bị cáo sử dụng “Quyền im lặng”

Với những phân tích ở trên, theo chúng tôi, trước, trong khi thực hành quyền công tố đối với các vụ án này, Kiểm sát viên cần lưu ý những nội dung sau:
Một là, ngoài bản lĩnh nghiệp vụ, Kiểm sát viên phải có thần kinh thép, có niềm tin vững chắc về pháp luật về quyết định truy tố của VKS là chính xác, để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ công lý.
Hai là, nắm chắc, sử dụng linh hoạt, hiệu quả các chứng cứ được sử dụng để buộc tội. Do bị cáo sử dụng “Quyền im lặng”, nên KSV chỉ công bố các chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố kết hợp với xét hỏi các bị cáo khác, bị hại, người làm chứng… tại phiên tòa.
Ba là, có đề cương, kế hoạch xét hỏi chính xác, khoa học, đúng trọng tâm; trong đó cần chuẩn bị những tài liệu, chứng cứ khoa học để kịp thời lập luận, bác bỏ các  tài liệu, lời khai nại của bị cáo (nếu có) và Luật sư đưa ra. Lưu ý ở trường hợp này, do bị cáo ủy quyền cho các luật sư bào chữa cho mình, nên KSV còn tập trung “đấu” với các Luật sư. Vì vậy, cần tập trung vào nội dung chính, không được sa đà, hoặc bị dẫn dụ vào những nội dung không cần thiết, theo ý đồ sắp đặt sẵn của người bào chữa.
Bốn là, có kế hoạch dự phòng ở trường hợp xấu nhất sẽ diễn ra (ví dụ: Bị cáo khác, bị hại, nhân chứng… thay đổi lời khai trước đó được Kiểm sát viên dự định sử dụng làm chứng cứ buộc tội). Có kế hoạch về sự chỉ đạo kịp thời của Lãnh đạo Viện về những vấn đề phát sinh tại phiên tòa; sự hỗ trợ về nghiệp vụ đơn vị, cơ quan để cung cấp kịp thời các tài liệu cần thiết do bị cáo, Luật sư đưa ra.
Trên đây là những quan điểm của cá nhân về những vấn đề pháp lý xảy ra khi bị cáo sử dụng “Quyền im lặng”, và những khó khăn, vướng mắc Kiểm sát viên gặp phải ở các phiên tòa nêu trên; rất mong nhận được sự trao đổi, chia sẻ từ các đồng nghiệp.
 

Nguyễn Hoàng Hà

VKSND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Tạp chí Kiểm sát số 13/2018

Sự cần thiết bổ sung các quy định về hợp đồng cộng đồng vào BLDS 2015

Trong thực tiễn xét xử hiện nay ở Việt Nam, các tranh chấp liên quan tới hợp đồng cộng đồng thiếu đường lối giải quyết để bảo đảm sự thống nhất và cũng thiếu ý tưởng nền tảng để có thể đưa ra được án lệ khả dụng. Trong khi đó, chưa có một công trình nghiên cứu nào có tính bao quát hay cơ bản về hợp đồng cộng đồng ở Việt Nam. Các giáo trình giảng dạy pháp luật nói chung và hợp đồng nói riêng rất hiếm khi nhắc tới thuật ngữ “hợp đồng cộng đồng”, lại càng ít nói tới lý luận về hợp đồng cộng đồng. Bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm bổ sung các quy định về hợp đồng cộng đồng vào Bộ luật Dân sự năm 2015.\
Hợp đồng là một loại quyền lợi không có hạn định, khác với quyền đối vật, do được tạo lập nên bởi ý chí của các bên giao kết. Tuy nhiên người ta có thể phân loại hợp đồng dựa trên một số tiêu chí nhất định để thiết lập các quy chế pháp lý thích hợp cho từng loại do các đặc điểm riêng của loại hợp đồng đó đòi hỏi. Vì vậy, bất kỳ pháp luật của nước nào cũng phân loại hợp đồng theo nhiều cách thức khác nhau dựa theo nhiều tiêu chí hay căn cứ khác nhau. Tuy nhiên, các phân loại hợp đồng thường không được quy định đầy đủ, kể cả nhắc tên, trong các Bộ luật Dân sự (BLDS) hoặc các đạo luật về hợp đồng của các nước trên thế giới. Trong số các loại hợp đồng được phân loại theo khoa học pháp lý, có một cặp phân loại là “hợp đồng cá nhân và hợp đồng cộng đồng”. Loại hợp đồng cộng đồng có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc tổ chức đời sống của con người và được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau mà pháp luật thực định của các nước không thể bỏ qua, như: thỏa ước lao động tập thể, nghị quyết của hội đồng trong các pháp nhân, nghị quyết của hội nghị chủ nợ, hương ước… Nhưng thông thường, các văn bản pháp luật không đưa ra các quy tắc chung về chúng và không nhóm chúng trong cùng một phân loại để gọi là hợp đồng cộng đồng. Cho đến ngày nay, vẫn có nhiều ý kiến không chấp thuận loại hợp đồng cộng đồng bởi sự phức tạp, vừa chuyên sâu và vừa trải rộng của nó, và bởi nó có phần trái với nguyên tắc chung của luật hợp đồng, nhất là nguyên tắc hiệu lực tương đối của hợp đồng.
Hợp đồng là một phương tiện quan trọng giúp con người thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt, các toan tính làm ăn, và là một phương thức quan trọng để thực hiện sự hợp tác, chia sẻ và kiềm chế, đồng thời góp phần vào việc gìn giữ hòa bình và ổn định[1]. Hợp đồng được xem là một nguồn gốc quan trọng của nghĩa vụ xét về mặt pháp lý và có mục đích làm tạo lập, thay đổi hay chấm dứt một quyền lợi[2]. Nó là một hành vi thường xuyên được bắt gặp trong đời sống pháp luật và được xem là điều kiện tiên quyết để đi sâu vào các chuyên ngành luật kinh doanh, thương mại hay lao động, thậm chí cả luật hôn nhân và gia đình[3]. Hợp đồng được biết đến như một giao dịch không thể thiếu của một thành viên trong một xã hội có tổ chức[4].
Hợp đồng được quan niệm chung là sự thống nhất ý chí hay sự thỏa thuận mà theo đó làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một quan hệ pháp luật nghĩa vụ[5]. Nguyễn Ngọc Khánh – dường như phân tích từ lý luận chung về nhà nước và pháp luật của truyền thống Sovietique Law – đã cho rằng, hợp đồng là một phạm trù đa nghĩa xuất phát từ việc xem nó là căn cứ, là “sự kiện pháp lý – giao dịch dân sự” nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ, hay xuất phát từ việc xem nó chính là quan hệ pháp luật (nghĩa vụ hợp đồng) phát sinh từ “sự kiện pháp lý – giao dịch dân sự” đó, hoặc xem nó là hình thức ghi nhận quyền và nghĩa vụ các bên dưới dạng văn bản[6]. Đây là quan niệm chưa thật rành mạch vì có sự trộn lẫn các tiêu chí phân loại và các cách tiếp cận khác nhau trong nghiên cứu khoa học pháp lý. Tổng kết các nghiên cứu về hợp đồng và các quy định của luật thực định về hợp đồng, học giả Pháp Corinne Renault-Brahinsky có tóm tắt rằng: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên làm phát sinh một hệ quả pháp lý đặc biệt: Hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ”[7]. Nhận định này có thể được xem là phản ánh nhận thức chung của các học giả ở các truyền thống Civil Law và Soviettique Law.
Ở nước Anh, theo truyền thống Common Law, các luật gia cũng có quan niệm về hợp đồng không khác biệt với các luật gia ở các nước theo các truyền thống Civil Law và Soviettique Law. Abdul Kadar, Ken Hoyle và Geoffrey Whitehead nhận định mang tính tổng kết rằng: “Toàn bộ nền tảng của luật hợp đồng là sự thỏa thuận. Cụ thể, một hợp đồng là một sự thỏa thuận đem lại cho nó những nghĩa vụ mà bị cưỡng bức thi hành bởi các tòa án”[8]. Sir William R. Anson (một học giả nổi tiếng của Anh về luật hợp đồng) nói rằng “Chúng ta có thể tạm thời định nghĩa luật hợp đồng là một ngành luật xác định các hoàn cảnh và điều kiện mà tại đó một lời hứa bị ràng buộc pháp lý đối với người đưa ra lời hứa đó”[9]. Như vậy, giống với các truyền thống pháp luật khác, Common Law cũng thừa nhận hợp đồng có bản chất là sự cam kết có hiệu lực pháp lý và dẫn tới luật hợp đồng có tính chất cấp hiệu lực cho các lời hứa đó và ngăn cản những lời hứa bất lợi cho xã hội. Về vấn đề này, có học giả Việt Nam khẳng định rằng luật hợp đồng khác với các ngành luật khác và bao gồm các đặc điểm như: (1) Luật hợp đồng mang tính chất luật tư điển hình; (2) luật hợp đồng là một luật hỗ trợ; và (3) luật hợp đồng là một luật không đầy đủ[10]. Vì vậy, luật hợp đồng dù của bất kỳ nước nào cũng bao gồm một số nguyên lý về các vấn đề như: các nguyên tắc nền tảng của hợp đồng; phân loại hợp đồng; giao kết hợp đồng (đề nghị giao kết hợp đồng, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, hợp đồng vô hiệu); hiệu lực của hợp đồng; vi phạm hợp đồng; chế tài đối với vi phạm hợp đồng; chấm dứt hợp đồng…
Với vị trí, vai trò và ý nghĩa như vậy, hầu hết các nền tài phán đều mong muốn kiểm soát hoặc quy định một cách đầy đủ có thể về hợp đồng bởi pháp luật. Vì vậy mong muốn kiểm soát hay thiết lập những quy tắc chung về hợp đồng cộng đồng không phải là mong muốn quá xa.
Khái niệm hợp đồng cộng đồng được Vũ Văn Mẫu định nghĩa là những hợp đồng có hiệu lực đối với một số rất đông người mặc dù họ không giao kết hợp đồng này. Vũ Văn Mẫu đã chỉ ra các đặc trưng của loại hợp đồng này, và phân tích khái quát về vai trò và ý nghĩa của từng loại nhỏ của loại hợp đồng này đối với xã hội[11]. Ngô Huy Cương cũng nhận thức về khái niệm hợp đồng cộng đồng như vậy, nhưng đã nói rõ thêm rằng, trong số đông người không tham gia giao kết hợp đồng, có thể có cả những người không nhất trí, nhưng hợp đồng này vẫn có hiệu lực đối với họ, và đã phân tích sâu hơn một số đặc điểm của loại hợp đồng này[12]. Như vậy hợp đồng cộng đồng đã đi ra ngoài ranh giới của nguyên tắc hiệu lực tương đối của hợp đồng.
Hợp đồng có hiệu lực tương đối mà người ta khái quát thành nguyên tắc hiệu lực tương đối của hợp đồng được thừa nhận ở tất cả các hệ thống pháp luật và được phản ánh trong tất cả các văn bản pháp luật về hợp đồng và các công trình nghiên cứu của các học giả về hợp đồng. Hiệu lực tương đối của hợp đồng có nghĩa là hợp đồng chỉ ràng buộc đối với: (1) người giao kết hợp đồng nhân danh mình và vì lợi ích của mình; (2) người được đại diện; (3) người thừa kế của các bên giao kết hợp đồng[13]. Tuy nhiên ngày nay, người ta cũng đã thừa nhận vấn đề hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba. David M. Summers nói rằng, theo truyền thống thì yêu cầu của nguyên tắc hiệu lực tương đối của hợp đồng (privity) ngăn cản người thứ ba thi hành hợp đồng mà trong hợp đồng đó người này không phải là một bên; nhưng ngày nay, tòa án đã chấp nhận trong một vài trường hợp cho người thứ ba thi hành hợp đồng được lập ra vì lợi ích của họ[14]. Trong một công trình của mình, Ngô Huy Cương cho rằng, hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba không phải là một loại hợp đồng mà là một ngoại lệ của hiệu lực tương đối của hợp đồng và chế định này có nhiều tên gọi như “hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba” hay “giao kết giao kết hợp đồng cho người thứ ba” hay cấu ước cho tha nhân[15]. Lợi ích của người thứ ba có thể rõ ràng hay ngầm hiểu và có thể bao gồm cả quyền loại trừ hay hạn chế trách nhiệm được quy định trong hợp đồng[16].
Hợp đồng cộng đồng có những đặc điểm sau:
(1) Hợp đồng cộng đồng liên quan đến nhiều người trong một hoặc nhiều cộng đồng nhất định;
(2) Hợp đồng cộng đồng có hiệu lực đối với tất cả các thành viên trong một hoặc nhiều cộng đồng nhất định có liên quan, thậm chí có hiệu lực đối với cả những thành viên khác ngoài cộng đồng hoặc các cộng đồng đó;
(3) Yếu tố ý chí của các thành viên bị hợp đồng ràng buộc không phải là yếu tố cần thiết và được xem xét.
(4) Người trực tiếp giao kết nhân danh cộng đồng hoặc các cộng đồng.
Như vậy hợp đồng cộng đồng có nhiều điểm khác biệt với những loại hợp đồng truyền thống khác mà khiến cho lý thuyết chung về hợp đồng không thể bao quát. Vấn đề này lý giải cho lý do tại sao các BLDS được ban hành ở thế kỷ XIX không đề cập tới phân loại hợp đồng cộng đồng trong đó. Ngày nay, hợp đồng cộng đồng có ý nghĩa kinh tế, xã hội rất lớn khiến cho người ta không thể bỏ qua nó.
Thực tế ở Việt Nam hiện nay, mặc dù BLDS năm 2015 không đề cập tới hợp đồng cộng đồng, nhưng các đạo luật như Bộ luật Lao động năm 2013, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Phá sản năm 2014 đều có các quy định chi tiết về hợp đồng cộng đồng. Hợp đồng cộng đồng có nhiều đặc điểm khác biệt với các loại hợp đồng khác, nhưng lại có ý nghĩa rất lớn trong đời sống xã hội hiện đại, nhất là trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại mà các đạo luật chuyên ngành lại không thể không có các quy định chi tiết về các loại hợp đồng cộng đồng chuyên biệt do chính lĩnh vực chuyên môn pháp lý đó đòi hỏi. Nhưng các quy định trong các đạo luật đó lại không có một ý niệm thống nhất, không quan niệm đó là một loại hợp đồng bởi không có khái niệm và nguyên tắc cơ bản được đưa ra trong BLDS năm 2015 – một bộ luật nền tảng của luật tư. Do đó thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan dễ gặp phải những khó khăn nhất định.
Trong thực tiễn xét xử hiện nay ở Việt Nam, các tranh chấp liên quan tới hợp đồng cộng đồng thiếu đường lối giải quyết để bảo đảm sự thống nhất và cũng thiếu ý tưởng nền tảng để có thể đưa ra được án lệ khả dụng. Trong khi đó, chưa có một công trình nghiên cứu nào có tính bao quát hay cơ bản về hợp đồng cộng đồng ở Việt Nam. Các giáo trình giảng dạy pháp luật nói chung và hợp đồng nói riêng rất hiếm khi nhắc tới thuật ngữ “hợp đồng cộng đồng”, lại càng ít nói tới lý luận về hợp đồng cộng đồng.
Tóm lại, nhận thức chung về loại hợp đồng này còn nhiều hạn chế về phương diện lý luận bởi thiếu sự khái quát hóa. Hệ quả là các quy định về các dạng cụ thể của hợp đồng cộng đồng vẫn có những khiếm khuyết liên quan tới vấn đề phân loại và tính đồng bộ, đồng thời gây khó khăn cho thực tiễn tư pháp bởi thiếu gợi ý các giải pháp tổng thể về loại hợp đồng này.
Corinne Renault-Brahinsky đưa ra định nghĩa về hợp đồng cộng đồng nhưng không có gợi ý gì thêm[17]. Định nghĩa này chưa nêu chỉ một đặc trưng cơ bản về mặt hiệu lực của loại hợp đồng này liên quan tới những người phải chịu sự tác động của hợp đồng. Tuy nhiên, định nghĩa cho thấy một trường hợp quan trọng là hợp đồng dù giao kết nhân danh một nhóm nhưng cũng có thể có hiệu lực với những người ngoài nhóm đó. Walter H.E. Jaeger đã giới thiệu các học thuyết của Common Law liên quan tới quan niệm về hợp đồng cộng đồng (thỏa ước lao động tập thể), thậm chí cả học thuyết xem đó không phải là hợp đồng trong công trình nghiên cứu mang tên “Collective Labor Agreements and the Third Party Beneficiary” đăng tải trên Boston College Law Review. Công trình này đã phân tích khá sâu sắc tính chất đặc biệt về hiệu lực của loại hợp đồng này thông qua các học thuyết và các án lệ[18]. Một số học giả của truyền thống Common Law cũng nhắc đến việc nhiều nhà phê bình không xem hợp đồng cộng đồng là một phần của lý thuyết chung của hợp đồng[19].
Hiện nay ở Việt Nam, hương ước, được xem là một loại hợp đồng cộng đồng. Điều đó khiến cho hương ước có thể phát huy được tác dụng đối với đời sống của làng xã ở nông thôn Việt Nam[20]. Ngô Huy Cương đã đưa ra những quan niệm pháp lý cho rằng: thoả ước lao động tập thể; hiệp thương giữa giới chủ và giới thợ; hợp đồng trong pháp nhân (Chẳng hạn: Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông của công ty cổ phần; Nghị quyết của Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn…) hoặc pháp nhân giao kết với người thứ ba; các Nghị quyết của hội nghị chủ nợ nên được xem là các hợp đồng cộng đồng, và có kiến nghị về định nghĩa hợp đồng cộng đồng, cũng như hiệu lực của loại hợp đồng này[21].
Hợp đồng cộng đồng xét về mặt học thuật là một vấn đề pháp lý khá sâu nhưng lại trải rộng trong nhiều ngành luật khác nhau. Hơn nữa, việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng cộng đồng ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề pháp lý đòi hỏi một khối lượng tri thức không nhỏ. Các nội dung nghiên cứu về vấn đề này không chỉ bao gồm các vấn đề liên quan trực tiếp tới loại hợp đồng này trong luật dân sự, mà còn bao gồm các vấn đề pháp lý chung và của các chuyên ngành pháp luật khác.
Hợp đồng là một chế định trung tâm của bất kỳ hệ thống pháp luật nào. Khác với một số chế định khác của luật dân sự, hợp đồng không mấy khác nhau ở các nước khác nhau. Nhu cầu giao lưu quốc tế làm phát sinh vấn đề nhất thể hóa pháp luật hợp đồng. Thực tế, có nhiều điều ước quốc tế thống nhất pháp luật hợp đồng trong nhiều quốc gia thành viên. Tuy nhiên vấn đề phân loại hợp đồng và nhất là là phân loại hợp đồng cộng đồng ít khi được đề cập đến trong nhất thể hóa luật hợp đồng. Hơn nữa, việc pháp điển hóa luật hợp đồng cũng có những khác biệt giữa các nước, ngay cả ở những nước theo truyền thống Civil Law. Trong khi đó, hợp đồng cộng đồng không có sự gắn bó với lý thuyết chung về hợp đồng và sự phát triển nó còn phụ thuộc vào yếu tố kinh tế, xã hội.
Từ các nghiên cứu ở trên, có thể kết luận việc bổ sung các quy định về hợp đồng cộng đồng vào BLDS năm 2015 là rất cần thiết, nhưng mặt khác phải có sự cân nhắc kỹ lưỡng về các yếu tố hài hòa với lý thuyết chung về hợp đồng, hài hòa với các quy định của các đạo luật chuyên ngành có các quy định cụ thể về các loại hợp đồng cộng đồng cụ thể, đồng thời cần tính toán kỹ lưỡng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội.
Ít nhất BLDS năm 2015 cần sửa đổi, bổ sung các quy định về phân loại hợp đồng mà trong đó có bổ sung các quy định phân loại hợp đồng cộng đồng, đồng thời bổ sung các ngoại lệ của nguyên tắc hiệu lực tương đối của hợp đồng và các quy tắc chung về hợp đồng cộng đồng để làm nền tảng lý luận cho việc đồng bộ hóa luật tư./.
 
[1] Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng phần chung (Dùng cho đào tạo sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 7 – 9.
[2] Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam Dân Luật luợc khảo, Quyển II – Nghĩa vụ và khế ước, Phần thứ nhất – Nguồn gốc của nghĩa vụ, In lần thứ nhất, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, tr. 55 – 56.
[3] Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết, Nguyễn Hồ Bích Hằng (2007), Luật dân sự Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr. 304.
[4] Nguyễn Ngọc Điện (2001), Bình luận các hợp đồng thông dụng trong luật dân sự Việt Nam, Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, tr. 5.
[5] Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng phần chung (Dùng cho đào tạo sau đại học), Sđd, tr. 12; Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam Dân Luật luợc khảo, Quyển II – Nghĩa vụ và khế ước, Phần thứ nhất – Nguồn gốc của nghĩa vụ, In lần thứ nhất, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, tr. 56; Nguyễn Ngọc Điện (2001), Bình luận các hợp đồng thông dụng trong luật dân sự Việt Nam, Sđd, tr. 6; Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết, Nguyễn Hồ Bích Hằng (2007), Luật dân sự Việt Nam, Sđd, tr. 310; Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong BLDS Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 49.
[6] Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong BLDS Việt Nam, Sđd, tr. 49 – 50.
[7] Corinne Renault-Brahinsky (2002), Đại cương về pháp luật hợp đồng, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, tr. 4.
[8] Abdul Kadar, Ken Hoyle, Geoffrey Whitehead (1985), Business Law, Heinemann, London, p. 83.
[9] Sir William R. Anson (1964), Principles of the English Law of Contract and of Agency in its Relation to Contract, Oxford University Press, Great Britain, p. 3.
[10] Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng phần chung (Dùng cho đào tạo sau đại học), Sđd, tr. 132 – 141.
[11] Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam Dân Luật luợc khảo, Quyển II – Nghĩa vụ và khế ước, Phần thứ nhất – Nguồn gốc của nghĩa vụ, In lần thứ nhất, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, tr. 69 – 71.
[12] Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng phần chung (Dùng cho đào tạo sau đại học), Sđd, tr. 214 – 217.
[13] Corinne Renault-Brahinsky (2002), Đại cương về pháp luật hợp đồng, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, tr. 93.
[14] David M. Summers (1982), Third Parties Beneficiaries and the Restatement (Second) of Contracts (pp. 880 – 899), Cornell Law Review, Volume 67, Issue 4 April 1982, p. 880.
[15] Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng phần chung (Dùng cho đào tạo sau đại học), Sđd, tr. 387 – 389.
[16] Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng phần chung (Dùng cho đào tạo sau đại học), Sđd, tr. 389.
[17] Corinne Renault-Brahinsky (2002), Đại cương về pháp luật hợp đồng, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, tr. 26.
[18] Walter H.E. Jaeger (1960), “Collective Labor Agreements and the Third Party Beneficiary” (pp. 125 – 150), Boston College Law Review, Volume 1, Issue 2, 4/1/1960.
[19] Xem John E. C. Brierley, Roderick A. Macdonald (1993), Quebec Civil Law – An Introduction to Quebec Private Law, Emond Montgomery Publications Limited, Toronto, Canada, p. 398.
[20] Phạm Quang Huy (2016), Bình luận hương ước theo giác độ luật hợp đồng, Tạp chí Luật học, Số 4/2016, tr. 48 – 49.
[21] Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng phần chung (Dùng cho đào tạo sau đại học), Sđd, tr. 214 – 217.
 

Nguyễn Thị Thanh Thảo, Viện Chiến lược và Khoa học Công an – Bộ Công an, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

 

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)