Những điểm sáng mới và niềm tin trong tư pháp hình sự

Văn phòng luật sư Hoàng Hưng, Đoàn luật sư thành phố Hà nội chúng tôi sinh hoạt chuyên môn rất thường xuyên và bằng nhiều hình thức, trao đổi trong những buổi họp sinh hoạt về một chủ đề của luật sư, của một vụ án hay một vụ việc cụ thể. Tuy nhiên thường xuyên nhất theo kiểu Lobby là qua các bữa ăn trưa tại Văn Phòng, hầu hết các luật sư đều có các câu chuyện phiên tòa hôm ấy hoặc những nhận xét về công việc, xã hội và nhân tình thế thái….
Có một nhận xét được nhắc đi nhắc lại nhiều lần ứng với các vụ án chúng tôi đã và đang làm, đó là những điểm sáng và mới trong hoạt động tố tụng và tham gia tố tụng hình sự thể hiện qua các phiên tòa. Với gần 20 luật sư và gần 20 người tập sự trải nghiệm nghề luật sư, hầu hết các luật sư trực tiếp ngồi tòa đều khẳng định và khen ngợi phương pháp, cách thức và nội dung tại tòa hiện nay đã có những chuyển biến rất tích cực, luật sư tham gia phiên tòa được tôn trọng hơn trước, thẩm phán chủ tọa các phiên tòa đa số thực hiện điều hành rất nghiêm túc và dân chủ, từ đó rất nhiều vụ án hội đồng xét xử đã chấp nhận gần như toàn bộ những quan điểm bào chữa của luật sư một cách công tâm và khách quan. Đây có thể nói hoàn chỉnh là sự lan tỏa của công cuộc cải cách tư pháp, những quan điểm và nội dung quan trọng của Hiến pháp 2013 về tư pháp hình sự, trong đó nhiệm vụ, mục tiêu và chính sách hình sự hướng tới bảo vệ Công lý và quyền con người, đây là những giá trị cốt lõi của xã hội và của một quốc gia.
Đa số các luật sư ghi nhận sự tiến bộ ở các phiên tòa kể từ hình thực cho đến nội dung điều hành phiên tòa, đặc biệt hơn đó là tính dân chủ, bình đẳng đúng theo nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự lan tỏa. Mô hình hôn hợp kết hợp giữa thẩm vấn và tranh tụng trong vụ án hình sự đã được phát huy, luật sư đã được nói, được tranh biện mà không còn lo bị cắt, bị chèn ép…
Ngồi tranh tụng hàng chục vụ án thời gian qua, cho tôi sẽ không nhận xét nhiều các phiên tòa cấp trung ương hay cấp tỉnh thành phố, mà tôi đã trực tiếp ngồi phiên tòa cấp huyện, ở Phú Quốc, ở huyện Qùy Hợp Nghệ An và gần đây nhất là phiên tòa ở huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình. Đã số là các thẩm phán trẻ hoặc độ tuổi vừa chín, nhưng đã số các anh chị thẩm phán rất đĩnh đạc, chắc chắn về chuyên môn, điều hành phiên tòa rất dân chủ và dứt điểm gọn gàng, đặc biệt nhất là sự tôn trọng người bào chữa, tôn trọng quyền của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Trong phiên tòa ở Phú Quốc, tôi nghe nói người nhà bị cáo có đưa “quà biếu” cho thẩm phán trước khi xét xử nhưng bị từ chối và đuổi về, gia đình bị cáo rất lo lắng nhưng với kết quả của phiên tòa thì không riêng gia đình bị cáo mà chúng tôi, những luật sư hành nghề tố tụng chuyên nghiệp, cắp cặp tung hoành khắp mọi miền tổ quốc cũng phải tâm phục. Đối với vụ án ở huyện Qùy Hợp Nghệ an, không chỉ chất lượng và kết quả phiên tòa mà còn là văn hóa ứng xử và phòng cách của thẩm phán chủ tọa, tôi hoàn toàn không quen biết và chưa gặp anh thẩm phán bao giờ, nhưng ngay sau khi phần tranh luận kết thúc, trong lúc chờ hội đồng nghị án, anh chủ tọa thẩm phán chạy đến bắt tay tôi niềm nở, tôi thấy thật vui và tràn đầy những năng lượng tích cực.
Đối với vụ án Yên Mô Ninh Bình, các luật sư chúng tôi đã tham gia từ hơn hai năm qua với dấu hiệu sai trái trong tố tụng, án đã xét xử sơ thẩm 1 lần bị hủy điều tra lại, chứng cứ trong vụ án rối bời, CQĐT và VKS kiên quyết bằng mọi cách ngụy tạo để buộc cho bằng được 1 thanh niên lúc thực hiện hành vi mới dưới 18 tuổi, tại phiên tòa luật sư chúng tôi chỉ ra hàng loạt lỗi vi phạm tố tụng, lỗi thu thập và đánh giá chứng cứ gốc, chứng cứ cơ bản mà không thể buộc tội thân chủ chúng tôi với khoản 3, Đ 104 BLHS 1999, khi mà kết quả giám định thương tích căn cứ vào 3 lần khám và điều trị của bị hại, 3 lần ở Bệnh viện ĐK Ninh Bình, ở BV Mắt Ninh Bình và BV Mắt trụng ương, tuy nhiên của 3 lần khám và điều trị này bút tích đều do 1 ông bác sỹ tên là Long ký, chúng tôi ngạc nhiên sao khi 1 bác sỹ có thể nhân danh 3 bệnh viện khác nhau để ký hồ sơ bệnh án để giám định, có ngụy tạo chứng cứ hay không chỉ có các ông điều tra viên biết. Dao bị cáo chém vào đầu bị hại nhưng lại gây dập nhãn cầu trong hố mắt, kết quả giám định mù hai mắt nhưng bị hại lại đi thi được bằng lái xe mát với thị lực 8/10..vv đó là những điều không thể chấp nhận được về mặt chứng cứ buộc, thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã chấp nhận toàn bộ lời bào chữa của luật sư để trả hồ sơ yêu cầu điều tra làm rõ trước sự chứng kiến của hành trăm người quan tâm và đặc biệt có sự tham dự hiện diện của hàng chục kiểm sát viên tỉnh Ninh Bình để thực tế rút kinh nghiệm.
Còn nữa, còn nữa nhưng điểm sáng đã và đang diễn ra hằng ngày trong lĩnh vực tư pháp hình sự mà chúng tôi những luật sư đang nhận thấy để có lòng tin hơn vào cuộc sống xã hội và nghề nghiệp của chúng tôi, qua đó đang tạo ra những năng lượng tích cực cho chúng tôi sống, làm việc và bảo vệ công lý cho mọi người, mọi nhà.
Xin cảm ơn các anh, các chị những người thẩm phán mới, tâm huyết và trách nhiệm xã hội, đạo đực con người, với trách nhiệm cầm cân nảy mực, giữu gìn niềm tin cho con người và xã hội.
Xin trân trọng đón nhận nội dung và tinh thần của Hiến pháp 2013, kết quả cải cách tư pháp hình sự và tinh thần nội dung của pháp luật hình sự mới đã tác động tích cực đến xã hội, đến nghề nghiệp của chúng tôi.

Ths.Ls Hoàng Văn Hướng

Án lệ và vai trò của án lệ trong hoạt động xét xử của Tòa án

Khoản 3 Điều 104 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân tối cao thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.” Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2010, xác định: “Tòa án nhân dân  tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”. Quy định về nhiệm vụ của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, tại Điểm c khoản 2 Điều 22 Luật Tổ chức TAND năm 2014 ghi rõ: “Lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử;”

1. Án lệ là gì?

Án lệ (tiếng Pháp-Jurisprudence) được hiểu là: Đường lối giải thích và áp dụng luật pháp của các tòa án về một điểm pháp lý, đường lối này đã được coi như một tiền lệ, khiến các thẩm phán sau đó có thể noi theo trong các trường hợp tương tự. Nói nôm na, xử theo án lệ là việc tòa cấp dưới vận dụng các phán quyết có từ trước của tòa cấp trên để đưa ra một phán quyết mới tương tự trong một vụ việc tương tự.

Theo quan điểm của các nhà luật học theo hệ luật Anh -Mỹ (Anglo – Sacxon), thì án lệ được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa hẹp, án lệ bao gồm toàn bộ các quyết định, bản án được tuyên bố bởi Tòa án và có giá trị như nguồn luật, đưa ra những nguyên tắc, nền tảng áp dụng cho các vụ việc xảy ra tương tự sau này, hay là cách thức sử dụng các nguyên tắc có sẵn như là những căn cứ áp dụng để quyết định các vụ việc xảy ra trong tương lai. Còn theo nghĩa rộng, án lệ là nguyên tắc bắt buộc đòi hỏi Thẩm phán trong hệ thống các cơ quan Toà án khi xét xử một vụ việc cụ thể cần phải căn cứ ngay vào các bản án, các vụ việc trước đó, đặc biệt là các phán quyết của các Tòa cấp cao (Hight Court), Tòa phúc thẩm (Court of Appeal) và Tòa án tối cao (Supreme Court) hay là những nguyên tắc không theo luật định được đưa ra từ các quyết định tư pháp, hay là hệ thống những nguyên tắc bất thành văn đã được công nhận và hình thành thông qua các quyết định của Tòa án.

Với những nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (hệ thống pháp luật Dân sự – Civil Law), tiêu biểu một số nước như Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản,… Án lệ được xem như một cách giải thích pháp luật. Những bản án này không được xem là luật, không mang tính ràng buộc pháp lý nhưng tòa cấp dưới phải tham khảo, nếu không nguy cơ bị tòa cấp trên sửa án rất cao.

Cơ sở hình thành án lệ chính là những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật. Khi có những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật, tòa án sẽ viện dẫn những căn cứ pháp luật được coi là hợp lý để đưa ra một phán quyết có tính đột phá và bản án này sẽ được tòa án tối cao công bố là án lệ để áp dụng chung cho các trường hợp tương tự do khiếm khuyết quy phạm hoặc chưa có dẫn chiếu quy phạm rõ ràng. Ở nước ngoài, khái niệm án lệ (Case Law) còn được gọi là tiền lệ pháp (Precedent) là một trong những nguồn luật chính thức và quan trọng trong hệ thống pháp luật của quốc gia và được áp dụng rộng rãi. Theo đó, những bản án, quyết định giải quyết vụ việc trong các tập san án lệ trở thành khuôn mẫu, trở thành cơ sở để tòa đưa ra phán quyết trong những vụ việc có tình tiết, vấn đề tương tự sau đó. Tiền lệ pháp ở nước ngoài còn là quá trình làm luật của tòa trong việc công nhận và áp dụng các nguyên tắc mới khi xét xử.

Với cách tiếp cận ở góc độ rộng nhất, có thể thấy thuật ngữ án lệ hàm chứa những nội dung cơ bản của thuật ngữ tiền lệ pháp và giữa chúng tuy có sự khác nhau về mặt thuật ngữ nhưng lại cùng chỉ về một khái niệm. Về bản chất, án lệ cũng chính là tiền lệ pháp, do cả hai đều xuất phát từ Tòa án và hình thành từ quá trình xét xử. Mặt khác, tiền lệ pháp là thuật ngữ dùng để chỉ về một hình thức pháp luật, còn án lệ dùng để chỉ về nguồn của pháp luật, mà nguồn của pháp luật cũng chính là hình thức pháp luật. Nói một cách khác, tiền lệ pháp là một hình thức pháp luật hay quá trình làm luật của tòa án, còn án lệ là những bản án, quyết định mà Toà án làm căn cứ để áp dụng sau này cho những vụ việc có tình tiết tương tự. Dù đây thật sự không phải là hai từ đồng nghĩa, nhưng thông thường, người ta gọi các bản án sau có giá trị áp dụng tương tự và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chọn lọc công bố và cho xuất bản phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và tham khảo gọi là những án lệ.

Tuy nhiên quan điểm khác cho rằng, tiền lệ pháp và án lệ là hai khái niệm độc lập với nhau. Tiền lệ pháp được hiểu là việc làm luật của Tòa án trong việc công nhận và áp dụng các nguyên tắc mới trong quá trình xét xử dựa trên cơ sở những vụ việc đã được quyết định trước đây cho những trường hợp và vấn đề tương tự. Còn án lệ (Case Law) là tập hợp các vụ việc đã được xét xử của cơ quan tư pháp trong quá trình xét xử, hay chỉ đơn thuần là các phán quyết của Tòa án (bản án), được dùng làm cơ sở cho việc giải quyết các vụ việc tương tự trong tương lai.

Nói một cách khác, tiền lệ pháp là một hình thức pháp luật hay quá trình làm luật của Tòa án; Án lệ là những bản án, quyết định mà toà án làm căn cứ để áp dụng cho những vụ việc có tình tiết tương tự sau này. Đây không phải là hai từ đồng nghĩa và dẫn chiếu đến nhau. Trong lĩnh vực tư pháp quốc tế, án lệ còn được hiểu theo nghĩa là tiền lệ án hay thực tiễn Tòa án. Mà theo đó, là các bản án hoặc quyết định của Tòa án mà trong đó thể hiện các quan điểm của Thẩm phán đối với các vấn đề pháp lý mang tính chất quyết định trong việc giải quyết các vụ việc nhất định và trong tương lai mang ý nghĩa giải quyết đối với các quan hệ tương ứng.[1]

Cũng cần phân biệt với khái niệm về án mẫu. Án mẫu là những bản án được xây dựng trên những cơ sở pháp luật hết sức chặt chẽ mà trong những tình huống như vậy, khó có thể đưa ra phán quyết khác được. Do đó, khi có những tình huống tương tự bắt buộc tòa án phải đưa ra các phán quyết tương tự như án mẫu. Một điểm cần lưu ý là, khi bản án được coi là án mẫu thì Toà án tối cao sẽ chuyển tải đến các Toà án cấp dưới để làm nguồn tham khảo và các Toà án cấp dưới coi đó là những “khuôn mẫu” để xét xử những vụ án tương tự.

Điểm giống nhau giữa án lệ và án mẫu là trong các điều kiện tương tự thì tòa án đều phải ra những phán quyết chung được coi là chuẩn mực và các phán quyết đó được thừa nhận như những giá trị bắt buộc chung. Tác giả cho rằng, đây là điều đã gây ra khá nhiều nhầm lẫn giữa án lệ và án mẫu nếu như không cẩn thận khi nghiên cứu. Bởi trong khi án lệ được phát triển từ các bản án, quyết định của Tòa án trước khi có các văn bản quy phạm pháp luật và vẫn còn được áp dụng bởi các Tòa án khi đã có văn bản quy phạm pháp luật,  thì ngược lại không giống như án lệ, có thể nói môi trường áp dụng của án mẫu trong các quan hệ pháp luật dường như không có những hạn chế trong các ngành luật vì việc áp dụng án mẫu thường không đi trái các nguyên tắc pháp lý thông thường.Như đã trình bày ở trên, việc ra đời của án mẫu xuất phát từ những cơ sở pháp luật hết sức chặt chẽ mà trong những tình huống tương tự khó có thể đưa ra phán quyết khác được. Chẳng hạn, khoản 1 Điều 278 BLHS quy định tội “Tham ô tài sản”, mà theo đó, mức thấp nhất và mức cao nhất của loại hình phạt tù của cấu thành cơ bản từ 02 năm đến 07 năm, khoảng cách giữa giới hạn trên và giới hạn dưới khá rộng. Để tránh tình trạng tuy có cùng dấu hiệu pháp lý, cùng những tình tiết giống nhau (không có tình tiết tăng nặng, không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân người phạm tội tốt;…) nhưng có Hội đồng xét xử tuyên bị cáo này với mức án mức thấp nhất của khung; có Hội đồng xét xử tuyến mức hình phạt tù 03 năm và cho hưởng án treo; có trường hợp phạt 04 năm tù hoặc 05 năm tù;… hoàn toàn thiếu lẽ công bằng mà pháp luật đã giành cho họ. Điều này thực tế gây nhiều tranh cãi trong hoạt động xét xử, thì những bản án mẫu sẽ được Tòa án cấp có thẩm quyền chọn lọc giới thiệu để Tòa án cấp dưới, nhất là những Thẩm phán tham khảo cho các trường hợp tương tự nhằm đưa ra phương án xử lý thích hợp nhất.

Theo quan điểm của người viết, trong điều kiện hệ thống pháp luật của Nhà nước ta chưa được hoàn thiện và luôn có sự thay đổi cho phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Hơn nữa, thực tiễn rất đa dạng và phong phú nên việc chọn lọc, ban hành bản án mẫu nhằm bảo đảm tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật nội dung trong hệ thống Tòa án nước ta khi xét xử là điều thật sự rất khó khăn. Và cũng chính từ lý do đó, thuật ngữ được dùng trong Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2010; tại Điểm c khoản 2 Điều 22 Luật Tổ chức TAND năm 2014 là án lệ mà không dùng cụm từ án mẫu.

2. Án lệ ở các nước trên thế giới

Ở nhiều nước trên thế giới, việc công bố bản án được thực hiện thường xuyên, liên tục, rộng rãi bằng nhiều phương tiện thông tin đại chúng, kể cả trên hệ thông Internet. Đối với các nước theo hệ thống luật chung Anh-Mỹ (Common Law), những bản án mẫu được tuyển chọn, đăng tải trong các báo cáo tổng hợp án lệ (Law Report) và trở thành án lệ (Case Law) là nguồn của pháp luật. Riêng ở Mỹ, khi xét xử các hành vi vi phạm pháp luật và các tranh chấp nảy sinh, các tòa án cần phải diễn giải luật bằng các bản án trước đó của Tòa án cùng cấp hoặc Tòa án cấp cao hơn. Đây được gọi là nguyên tắc theo quyết định trước hay đơn giản gọi là án lệ, tiền lệ pháp. Nếu phải đối mặt với các án lệ bất lợi, bị đơn sẽ tìm cách phân biệt sự khác nhau giữa vụ việc của mình với những vụ việc trước đó. Sau đó Tòa án cấp cao hơn sẽ tìm cách giải quyết mâu thuẫn này để bổ sung cho án lệ ngày một hoàn chỉnh hơn. Ở Pháp, trong trường hợp nếu pháp luật quy định không rõ ràng, không đầy đủ, thẩm phán vẫn phải tuyên án nếu không muốn bị kiện vì hành vi phủ nhận công lý. Do vậy, chỉ có cách ổn thỏa nhất, Thẩm phán sẽ dựa vào án lệ đã được thừa nhận để đưa ra phán quyết. Mặt khác, ở Cộng hòa Liên bang Đức, phương pháp xây dựng án lệ đã tạo điều kiện cho Tòa án nước này thể hiện vai trò sáng tạo, nhất là khi giải thích luật, Tòa án được căn cứ vào câu chữ, ngữ cảnh và mục đích của qui phạm, kể cả căn cứ vào quá trình soạn thảo qui phạm đó. Đặc biệt, Tòa án còn có quyền lựa chọn cách giải thích phù hợp nhất với hiến pháp, án lệ được hình thành từ việc giải thích một qui phạm pháp luật cũng có giá trị, hiệu lực gần như chính qui phạm pháp luật. Rõ ràng án lệ có giá trị không những về thực tiễn, mà còn có giá trị không thua gì một qui phạm pháp luật. Ở Tây Ban Nha, chịu ảnh hưởng của luật La Mã, vẫn coi án lệ như một nguồn luật, có giá trị bổ sung trật tự pháp lý thông qua luận thuyết được Tòa án tối cao áp dụng trong quá trình giải thích và áp dụng luật, tập quán, kể cả các nguyên tắc chung của luật pháp. Ở Anh Quốc, vai trò sáng tạo của án lệ rất quan trọng, được thể hiện theo quy tắc của tiền lệ pháp đã xuất hiện từ đầu thế kỷ thứ XIX được hiểu như một qui tắc đã được lập ra trong một phán quyết ban hành trước đó chỉ có hiệu lực ràng buộc đối với các thẩm phán khi xét xử các vụ kiện tương tự. Việc xây dựng án lệ theo quan điểm xét xử của các tòa án có thẩm quyền xem xét bản án của tòa án cấp dưới đã góp phần bổ sung tốt sự thiếu sót của các qui định luật pháp trong thực tiễn, nên việc vận dụng án lệ kể cả tục lệ pháp được thực hiện khá phổ biến. Chính vì vậy, mà các nhà nghiên cứu cho rằng hệ thống luật pháp ở Anh là theo luật mềm, không cứng nhắc dựa vào các văn bản pháp luật do Quốc hội (Nghị viện) ban hành, mà có sự vận dụng linh hoạt đúng luật vừa phù hợp với thực tiễn, bằng cả nguồn tập quán, tục lệ phù hợp lẽ phải và công bằng xã hội.[2]

Thông thường, người ta gọi các bản án có giá trị áp dụng tương tự sau này và được lưu trong các tập san do cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố là những án lệ. Ví dụ: Án lệ có tên là: Moorgate Mercantili v Twitchings [1976].1.QB, 225, CA. Bản án này được đưa ra bởi Tòa Phúc thẩm (Court of Apeal) sau khi xem xét bản án bị kháng cáo được tuyên từ Tòa Nữ hoàng (tòa cấp dưới). Đây là một vụ kiện giữa Moorgate Mercantili kiện Twitchings về việc ông ta đã gây thiệt hại cho mình do Twitchings đã có những hành vi làm cho ông tin tưởng. Vụ án này đã được phúc thẩm phán Lord Dening đưa ra những phán quyết, trong đó có giải thích chế định “Estoppel” (Ngăn không cho phủ nhận) như sau: Khi một người đã thể hiện bằng lời nói, lời hứa, và các hành vi cụ thể của mình làm cho người khác tin và thiết lập giao dịch với mình, thì anh ta không được quyền thoái thác các nghĩa vụ phát sinh từ lời hứa và các hành vi cụ thể của mình. Bản án đã trở thành án lệ. Nếu sau đó, có một vụ kiện tương tự mà một bên ra lời giao kết với bên khác nhưng không thực hiện lời giao kết của mình làm bên kia thiệt hại thì có thể bị kiện và bị xử thua, vì căn cứ vào án lệ này.

Hiện nay, hầu hết các nước có nền luật pháp tiên tiến, đều có sự vận dụng án lệ trong xét xử ở hệ thống Tòa án, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn xét xử, với nguyên tắc Tòa án không được quyền từ chối thụ lý bất cứ yêu cầu khởi kiện nào của công dân và đồng thời cũng có nguyên nhân sâu xa từ sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới của các nước, do vậy, hai hệ thống luật pháp Anglo Saxon và Continental, kể cả hệ thống pháp luật của những nước xã hội chủ nghĩa.

3. Án lệ ở Việt Nam

Ở Việt Nam dưới chế độ  Sài Gòn trước năm 1975, tiền lệ pháp cũng được coi là một nguồn trong lĩnh vực dân sự, Bộ Tư pháp đã xuất bản án lệ theo định kỳ ba tháng. Ấn phẩm đăng tải những trích dẫn về quan điểm hay định hướng xét xử trong các bản án của Tối cao pháp viện, Tòa hành chính, Tòa thượng thẩm… Những bản án này là một trong những căn cứ pháp lý để xét xử cho các tranh chấp tương tự về sau. Hệ thống luật pháp của chế độ Sài Gòn trước đây vốn chịu ảnh hưởng của luật pháp châu Âu, nhất là luật pháp của Pháp, đặc biệt là pháp luật dân sự, nên cũng rất quan tâm việc xây dựng án lệ. Bộ Dân luật do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ban hành theo Sắc luật số 028 TT/SLU ngày 20/12/1972, đã có qui định liên quan đến yêu cầu áp dụng án lệ trong xét xử, cụ thể, tại Thiên mở đầu, Điều 8 có ghi: “Thẩm phán nào không chịu xét xử vì lẽ luật không định hay luật tối nghĩa, thiếu sót, sẽ có thể bị truy tố về tội bất khẳng thụ lý”; Điều 9 quy định: “Gặp trường hợp không có điều luật nào có thể dẫn dụng, thẩm phán sẽ quyết định theo tục lệ; nếu không có tục lệ, sẽ theo công bằng và lẽ phải mà xét xử và phải chú trọng đến ý định của các đương sự”. Theo các chuyên gia nghiên cứu, pháp luật của chế độ cũ trước đây, sở dĩ có được án lệ là nhờ ở Tòa Thượng thẩm (Cour d’appel) và Tòa Phá án (Cour de cassation) là những cơ quan kiểm soát lại các bản án của các Tòa án cấp dưới, qua đó Tòa Phá án bảo đảm một sự thống nhất trong việc giải thích và áp dụng pháp luật và lâu dần hệ thống các Tòa án sẽ hướng theo các án lệ mà Tòa Phá án đưa ra.

Trong giai đoạn miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, để thống nhất việc xử phạt một số loại tội phạm, ngày 19/01/1955 Thủ tướng Chính phủ ban hành Thông tư số 442/TTg về việc trừng trị một số tội phạm, mà theo đó, Thông tư nêu rõ: “…Kinh nghiệm xét xử về một số loại phạm pháp đã được trở thành án lệ. Tuy nhiên, án lệ ấy còn khác nhau giữa các địa phương. Đường lối xét xử do đó không được thống nhất, rõ ràng và có nơi không được đúng. Cần phải thống nhất những án lệ ấy trong quy định chung sau đây để hướng dẫn các tòa án trừng trị một số tội phạm thông thường

Tuy nhiên án lệ ấy còn khác nhau giữa các địa phương. Đường lối xét xử do đó không được thống nhất, rõ ràng và có nơi không được đúng. Cần phải thống nhất những án lệ ấy trong quy định chung sau đây để hướng dẫn các Toà án trừng trị một số tội phạm thông thường.

Trộm cắp: phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm.

– Cướp đường hay trộm có tổ chức, có bạo lực có dùng vũ khí để doạ nạt thì phạt tù từ 3 đến 10 năm.

– Cướp của mà có giết người có thể phạt đến tử hình.

Lừa gạt, bội tín : phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm.
Đánh bị thương : phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm.

– Đánh bị thương có tổ chức hoặc gây thành cố tật hay chết người có thể phạt đến 20 năm.

– Cố ý giết người : phạt tù từ 5 đến 20 năm : nếu có trường hợp giảm nhẹ thì có thể hạ xuống đến 1 năm ; giết có dự mưu có thể phạt đến tử hình.”

Không cẩn thận hay không theo luật đi đường mà gây tai nạn làm người khác bị thương sẽ bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm, nếu gây tai nạn làm chết người có thể bị phạt tù đến 10 năm.

Ngoài ra đối với những tội tương tự với những tội ở trên đây, các Toà án có thể phạt theo như những tội ở trên.

Trong khi xét xử, các Toà án cần phải thận trọng, không được máy móc và cũng không nên quá linh động để làm sai lạc tinh thần chính sách trừng trị của Chính phủ, mà phải tuỳ nơi tuỳ lúc có chủ trương trừng phạt cho đúng trong phạm vi đã quy định trên đây”. Tuy nhiên về sau, án lệ lại không được chính thức thừa nhận và áp dụng.

Đề án “Phát triển triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao” (ban hành theo Quyết định 74/QĐ-TANDTC ngày 31/10/2012), mục tiêu phát triển án lệ của TAND Tối cao nhằm nâng cao chất lượng bản án, quyết định của ngành Tòa án nói chung, đặc biệt là Quyết định Giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao và các Tòa chuyên trách TAND Tối cao, góp phần đảm bảo việc áp dụng pháp luật đúng, thống nhất, từ đó đảm bảo sự bình đẳng của mọi tổ chức và công dân trước pháp luật. Đề án cũng xác định quan điểm chỉ đạo, để hướng dẫn các tòa án áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử. Nâng cao trách nhiệm của thẩm phán trong công tác xét xử tại phiên tòa cũng như tăng cường việc bồi dưỡng, đào tạo các chức danh tư pháp, bảo đảm các yêu cầu của cải cách tư pháp và đề ra một số giải pháp phát triển án lệ của TAND Tối cao, như kiến nghị xây dựng các văn bản qui phạm pháp luật là cơ sở pháp lý cho việc phát triển án lệ, thiệt lập án lệ của TAND Tối cao, cải tiến cách viết và thông qua các bản án, quyết định của tòa án, đặc biệt là Quyết định Giám đốc thẩm của TAND Tối cao, tăng cường việc sử dụng án lệ trong thực tiễn xét xử, thành lập bộ phận chuyên trách để tuyển tập án lệ. Không ai phủ nhận được vai trò của án lệ trong thực tiễn xét xử vì thực tiễn cho thấy không hệ thống pháp luật nào có thể bao trùm hết mọi tình huống xã hội,  nên dùng án lệ bổ sung cho quy định pháp luật là cần thiết.Tuy nhiên, các chuyên gia pháp lý đều cho rằng, để án lệ có “chỗ đứng” trong văn hóa pháp lý Việt Nam, ngoài việc thống nhất mô hình phát triển án lệ để phát huy những yếu tố tích cực của nó trong thực tiễn xét xử ở Việt Nam, thì cũng cần định hướng về đào tạo nghề luật sư và đổi mới tư duy pháp lý về án lệ cho thẩm phán, luật gia.[3]

Tuy nhiên, cũng có quan điểm không đồng tình với việc công nhận, áp dụng án lệ ở Việt Nam. Vì: Hệ thống pháp luật của nước ta không ngừng sửa đổi, bổ sung các quy định nên trong từng giai đoạn cụ thể thì chính sách pháp luật sẽ không còn giống nhau. Án lệ chính là pháp luật, nhưng để vận dụng phán quyết của bản án đó áp dụng cho vụ án sau, trong khi quy định của pháp luật luôn thay đổi. Mặt khác, với một nước theo hệ thống luật thành văn như nước ta thì Hiến pháp là đạo luật gốc, có giá trị pháp lý cao nhất. Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật;…” do vậy, không thể làm gì khác hơn.

Về góc độ khoa học pháp lý, luật của chúng ta quy định ở dạng khung nên việc xét xử ở mỗi nơi, mỗi Tòa khác nhau là chuyện bình thường, vấn đề là không oan, sai người không có tội; bảo đảm lẽ công bằng cho đương sự là tốt.

Người viết cho rằng, tập hợp các bản án giám đốc thẩm chuẩn thành án lệ để khắc phục những kẽ hở mà luật thành văn chưa quy định là thật sự cần thiết không chỉ là đòi hỏi khách quan đối với hệ thống Tòa án nước ta, mà còn cả với hệ thống Tòa án các nước. Trước hết, với những tranh chấp cụ thể mà pháp luật quy định chưa rõ hoặc chưa có, Thẩm phán nên vận dụng các quy định khác của pháp luật để giải quyết. Sau đó, nếu phán quyết không bị xem lại thì lấy nó minh họa cho các vụ tranh chấp tương tự. Phán quyết này có thể xem là án lệ và cơ quan chức năng cần tập hợp, phát hành rộng rãi cho mọi người tham khảo. Điều này có lợi là pháp luật được áp dụng thống nhất, đồng thời giúp người tiến hành tố tụng và đương sự có thể dự đoán được kết quả tranh chấp. Hướng giải quyết từ những án lệ này dần dần sẽ được nâng lên thành các quy định thành văn. Ở một khía cạnh khác, thực tế luôn phát sinh nhiều vướng mắc mà pháp luật không dự liệu trước. Nếu Thẩm phán chờ có quy định mới thì sẽ ảnh hưởng đến quyền khởi kiện của người dân. Trong những trường hợp như thế, nếu áp dụng án lệ sẽ khắc phục được nhược điểm này. Tất nhiên, nước ta là nước có đa dân tộc cùng sinh sống hòa thuận trên mọi vùng, miền của Tổ quốc, mỗi dân tộc có nền văn hóa lâu đời với phong tục, tập quán đặc thù. Ở hoàn cảnh mới, xã hội dân sự phát triển mạnh mẽ, đất nước lại đang trong quá trình hội nhập mạnh mẽ , nên phải chấp nhận nhiều tập quán thương mại quốc tế… Trong khi đó, pháp luật ban hành ngày càng thiếu và nhiều lỗ hổng không đồng bộ và cũng không thể tăng tốc độ hoạt động lập pháp  hơn nữa của Quốc hội. Vì vậy chúng ta cần công nhận, dựa vào các luật tục này bổ sung cho pháp luật thì mới có thể quản lý xã hội hiệu quả hơn.

Vấn đề được nhiều người quan tâm là những bản án nào sẽ trở thành án lệ để các tòa, các thẩm phán tham khảo. Như Đề án phát triển án lệ của TANDTC có đề cập, mà theo đó, quan điểm được thể hiện trong các quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao là án lệ và Tòa án cấp dưới cần đưa ra các xét xử không mâu thuẫn với các án lệ này. Ở nước ta, thẩm quyền giải thích luật là của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhưng trên thực tế, khi gặp những trường hợp mà luật quy định chưa rõ hoặc chưa điều chỉnh, rất ít khi cơ quan này ra văn bản giải thích. Trong khi đó, thẩm phán là người trực tiếp áp dụng pháp luật giải quyết các tranh chấp nảy sinh, nên việc coi quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TANDTC giải thích pháp luật bằng bản án là phù hợp nhất. Từ những bản án giải thích luật này, nhà làm luật sẽ nâng lên thành các quy phạm pháp luật để chấm dứt tình trạng xét xử mà không viện dẫn cơ sở pháp lý nào trong bản án.

Mặt khác, thông qua thực tiễn hoạt động xét xử của hệ thống tòa án, TANDTC giải đáp những vướng mắc của các Tòa án cấp dưới về đường lối xét xử tội phạm cụ thể hoặc việc vận dụng qui phạm pháp luật,…  để các Tòa án cấp dưới nghiên cứu rút kinh nghiệm trong xét xử, có thể coi như là án lệ, dù đó chưa phải là một quy định bắt buộc, nhưng có tính định hướng để các Tòa án cấp dưới vận dụng thống nhất trong việc xét xử các vụ án tương tự. Tuy chỉ là tài liệu lưu hành nội bộ, như trong phần “Lời nói đầu” của quyển Giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng của TANDTC  xuất bản năm 1999, có viết: “…Nhằm phục vụ cho công tác bảo vệ pháp luật và nghiên cứu, Tòa án nhân dân tối cao biên tập lại các vấn đề đã được giải đáp tại các công văn thành cuốn …”. Mặt khác, hàng năm TANDTC đều tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn, hướng dẫn công tác xét xử, từ văn bản tổng kết hướng dẫn nghiệp vụ xét xử TANDTC kịp thời tháo gỡ các vướng mắc trong công tác chuyên môn của Tòa án cấp dưới. Văn bản này có thể là nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC,… Bên cạnh đó, TANDTC đã xúc tiến việc chọn lọc xuất bản dưới dạng “Sách chuyên khảo”; “Tạp chí TANDTC” nhiều và rất nhiều quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC trong nhiều lĩnh vực, gồm: Hình sự, Dân sự, Thương mại,…phục vụ cho xét xử, nghiên cứu khoa học và cho đông đảo người dân biết, vận dụng hay tham khảo. Như vậy, rõ ràng các văn bản chứa đựng nội dung có tính hướng dẫn công tác xét xử này chính là một dạng án lệ mà các Tòa án địa phương luôn vận dụng trong công tác nghiệp vụ của mình.

Tóm lại: Việc áp dụng án lệ ngoài ý nghĩa giải quyết một vụ án cụ thể còn thiết lập ra một tiền lệ để xử những vụ án tương tự sau này, do đó, sẽ tạo bình đẳng trong việc xét xử các vụ án giống nhau, giúp tiên lượng được kết quả của các vụ tranh chấp, tiết kiệm công sức của các Thẩm phán, Người tham gia tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng, tạo ra sự công bằng trong xã hội. Án lệ là khuôn thước mẫu mực để các thẩm phán tuân theo vì được đúc kết, chọn lọc kỹ và mang tính chuyên nghiệp. Khi ấy thẩm phán chỉ cần đối chiếu để đưa ra phán quyết, tránh chuyện mỗi người nhìn nhận, đánh giá vấn đề một kiểu. Từ đó tránh được chuyện dư luận xã hội cho rằng việc xét xử của tòa án là không bình đẳng. Đồng thời, áp dụng án lệ còn giúp các đơn vị khi đàm phán, soạn thảo và ký kết hợp đồng giao dịch dân sự, thương mại biết phòng tránh rủi ro…

Chánh án có quyền áp dụng biện pháp bảo lĩnh, đặt tiền… không?

Ngoài biện pháp ngăn chặn tạm giam, Chánh án, Phó Chánh án có thẩm quyền áp dụng biện pháp Bảo lĩnh, Đặt tiền để bảo đảm; Cấm đi khỏi nơi cư trú; Tạm hoãn xuất cảnh hay không vẫn còn có ý kiến chưa thống nhất.
Biện pháp ngăn chặn là công cụ hữu hiệu trong đấu tranh phòng chống tội phạm được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, được áp dụng để ngăn chặn tội phạm, hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về các biện pháp ngăn chặn khá cụ thể, rõ ràng. Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp Bảo lĩnh (Điều 121), Đặt tiền để bảo đảm (Điều 122); Cấm đi khỏi nơi cư trú (Điều 123); Tạm hoãn xuất cảnh (Điều 124) vẫn còn những bất cập phát sinh từ thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật trong giai đoạn xét xử.
Nguyên nhân của những bất cập xuất phát từ quy định dẫn chiếu xác định thẩm quyền của các điều luật trên khẳng định: “Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật Tố tụng hình sự là người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp này”.

Khoản 1 Điều 113 BLTTHS năm 2015 quy định về thẩm quyền bắt bị can, bị cáo để tạm giam, theo đó Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án các cấp đều có thẩm quyền quy định tại điều này.
Tuy nhiên, quy định về thẩm quyền của Chánh án, Phó Chánh án tại điểm a khoản 2 Điều 44 BLTTHS năm 2015 như sau: “Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam, xử lý vật chứng”. Như vậy, ngoài biện pháp ngăn chặn tạm giam, luật không quy định Chánh án, Phó Chánh án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác.
Từ những quy định trên dẫn đến việc áp dụng quy định này có những cách hiểu khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Quy định “những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của BLTTHS là người có thẩm quyền áp dụng biện pháp này”, thì Chánh án là người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn tại các Điều 121, 122, 123, 124 và sau khi thụ lý hồ sơ, trường hợp Chánh án là chủ tọa phiên tòa hoặc chưa phân công Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thì thẩm quyền này đương nhiên phải do Chánh án quyết định.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Chánh án không có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn tại các Điều 121, 122, 123, 124 vì theo điểm a khoản 2 Điều 44 BLTTHS chỉ quy định Chánh án có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam. Mặt khác quy định tại khoản 1 Điều 278 về áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế xác định “Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trừ việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quyết định”.
Những người theo quan điểm này cho rằng, trường hợp Chánh án là chủ tọa phiên tòa thì áp dụng các biện pháp ngăn chặn trên với tư cách là Thẩm phán chủ tọa phiên tòa.
Với hai quan điểm trên có thể nhận thấy, quan điểm thứ nhất căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 113 xác định Chánh án là người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn nêu trên là cũng có cơ sở. Tuy nhiên, quy định của BLTTHS hiện hành tại Điều 36 về thẩm quyền của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra; Điều 41 về thẩm quyền của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát xác định những người này có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Còn quy định tại Điều 44 thì Chánh án, Phó Chánh án chỉ có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác được quy định thuộc Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định (Điều 45 BLTTHS 2015). Chính vì vậy, dẫn đến có nhiều cách hiểu cũng như việc áp dụng không thống nhất dẫn đến sai sót khi áp dụng quy định này.
Từ những bất cập trên, để việc áp dụng các biện pháp ngăn chăn nêu trên được thống nhất, thuận tiện, thiết nghĩ các ngành chức năng cần có văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định tại các điều luật nêu trên.
 

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do thực phẩm không an toàn gây ra

Chưa bao giờ người dân lại đối diện với “cái chết” cận kề từ bàn ăn như bây giờ. Liên tiếp hàng loạt vụ thực phẩm bẩn bị phanh phui như lợn nuôi bằng chất tạo nạc, chuối dấm thuốc diệt cỏ… đã khiến người tiêu dùng hoang mang, lo ngại. Một trong những nguyên nhân của tình trạng vi phạm an toàn thực phẩm tràn lan như hiện nay là do hệ thống pháp luật chưa đủ sức răn đe, việc thực thi pháp luật về an toàn thực phẩm chưa nghiêm minh, và đặt biệt quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do thực phẩm không an toàn gây ra còn  nhiều hạn chế.
Abstract: It has never ever closely faced with the “deaths” at the table as the present. Series of batch of dirty foods was exposed as pigs raised by the muscle drugs, bananas soaked with herbicides etc., which has caused the consumers with panic, anxiety. One of the causes of widespread of unsafety foods is the inadequate enforcements of the legal system, the silence of enforcement of the food safety laws, specially there are several weaknessess of the legal regulations on the compensation liability for damages caused by unsafe food usages.
Keywords: food safety; dirty foods; compensation for damages; Law on Food Safety; Civil Code.
An toàn thực phẩm (ATTP) đang là nỗi nhức nhối của cả nước. Theo con số báo cáo thống kê chính thức của Cục ATTP (Bộ Y tế), mỗi năm Việt Nam có khoảng 250 – 500 vụ ngộ độc thực phẩm ảnh hưởng tới từ 7.000 đến 10.000 nạn nhân và làm khoảng 100 đến 200 người chết mà nguyên nhân được xác định là do thực phẩm bị nhiễm vi sinh vật (khoảng 33%), do thực phẩm bị ô nhiễm hóa chất (khoảng 27%), do thực phẩm vốn hàm chứa các chất độc tự nhiên (khoảng 37,5%), do thức ăn bị nhiễm thuốc trừ sâu (phun hàm lượng cao, không cách ly với ngày thu hoạch) hay các chất phụ gia (hàn the, màu công nghiệp, đường hóa học) với dư lượng độc tố cao[1]… Bộ Y tế cũng cho biết, trong 11 tháng đầu năm 2017, toàn quốc ghi nhận 139 vụ ngộ độc thực phẩm với 3.869 người mắc, trong đó 3.700 người đi viện và 24 trường hợp chết[2]. Hậu quả lâu dài của nạn thực phẩm bẩn được Bộ Y tế thống kê: mỗi năm Việt Nam có khoảng 150.000 ca mới mắc ung thư và có trên 75.000 người tử vong do ung thư mà có nguyên nhân từ việc sử dụng thực phẩm “bẩn” như thực phẩm có sử dụng chất kích thích, chất tăng trọng, thuốc bảo vệ thực vật quá dư lượng[3]. Các nhà nghiên cứu của WHO (Tổ chức Y tế thế giới) dự đoán rằng, đến năm 2020, số lượng các ca mắc ung thư ở Việt Nam sẽ xấp xỉ 200.000 ca, và sẽ trở thành nước có tỷ lệ ung thư cao nhất thế giới[4].
Dù hậu quả nặng nề như vậy, chưa kể đến sự ảnh hưởng rất xấu tới giống nòi và chất lượng dân số, tệ nạn vi phạm các quy định pháp luật về ATTP rất khó kiểm soát. Theo thống kê của Bộ Y tế, trong 6 tháng đầu năm 2017, cả nước có 81.115 cơ sở kinh doanh vi phạm ATTP bị phát hiện, trong đó: 7.546 cơ sở đã bị xử lý; 299 cơ sở bị đình chỉ hoạt động; 303 loại thực phẩm bị đình chỉ lưu hành; 659 cơ sở có nhãn thực phẩm phải khắc phục; 3.749 cơ sở bị tiêu hủy sản phẩm với 4.175 loại thực phẩm bị tiêu hủy do không đảm bảo chất lượng ATTP[5].
Các con số thống kê biết nói này mới chỉ được xem là phần nổi của tảng băng chìm. Có lẽ khó có thể phát hiện đầy đủ và thống kê được những vi phạm ATTP của các hộ nông dân sản xuất nhỏ lẻ dù rằng đây là một nguồn gây hại lớn cho xã hội bởi hầu hết người Việt ở khu vực phi nông nghiệp đều tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp của các hộ này. Gần đây nhất, các phương tiện thông tin đại chúng rầm rộ đưa tin về vụ việc nhuộm cà phê phế phẩm bằng bột lõi pin mà có thể gây nguy hại tới hệ thần kinh của người tiêu dùng.
Với thực trạng xã hội như vậy diễn ra trong khoảng hai thập kỷ qua, Quốc hội Việt Nam đã nỗ lực thông qua bốn đạo luật lớn có liên quan trực tiếp tới việc bảo đảm ATTP, kế thừa các văn bản trước đó. Các đạo luật này bao gồm: Luật ATTP năm 2010, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (QLNTD) năm 2010, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 và Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017). Tuy nhiên, trong bài viết này, các chế tài hình sự, các chế tài hành chính và các chế tài dân sự khác (ngoài chế tài bồi thường thiệt hại (BTTH) ngoài hợp đồng do thực phẩm không an toàn gây ra) chưa được đề cập tới.
Luật ATTP năm 2010 định nghĩa: “Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản…” (Điều 2, khoản 20); và xem “ATTP là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người” (Điều 2, khoản 1). Tuy nhiên, đạo luật này không chú trọng tới và không quy định cụ thể về các chế tài như Luật ATTP năm 2015 của Trung Quốc (một quốc gia láng giềng có ảnh hưởng lớn tới vấn đề ATTP ở Việt Nam), ngoài một số quy định dập khuôn xuất hiện trong phần lớn các đạo luật của Việt Nam hiện nay. Trong các quy định dập khuôn đó có nhắc tới chế tài dân sự như sau: “Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm vi phạm pháp luật về ATTP thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường và khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật” (Điều 6, khoản 1). Vì vậy muốn áp dụng chế tài bồi thường nói trên tại các quy định này cần phải tìm tới các gợi ý của các đạo luật liên quan trực tiếp vừa nói. Tuy nhiên cần lưu ý rằng quy định dập khuôn này có mâu thuẫn với chính các điều kiện để áp dụng chế tài BTTH do thực phẩm không an toàn gây ra do đạo luật khác quy định.
Luật ATTP năm 2010 có nói tới một đường dẫn tại Điều 9, khoản 1, điểm c & đ của luật này rằng: “Người tiêu dùng thực phẩm có các quyền… (c) Yêu cầu tổ chức bảo vệ QLNTD bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật về bảo vệ QLNTD;… (đ) Được BTTH theo quy định của pháp luật do sử dụng thực phẩm không an toàn gây ra”. Đường dẫn này cho chúng ta thấy sự kết nối của các đạo luật nói trên bằng chính các quy định của chúng mà không cần phải suy luận nhiều thông qua lý thuyết.
Luật ATTP năm 2010 của Việt Nam xác định phạm vi áp dụng của luật đối với việc bảo đảm ATTP; điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm, sản xuất, kinh doanh thực phẩm và nhập khẩu, xuất khẩu thực phẩm; quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm; kiểm nghiệm thực phẩm; phân tích nguy cơ đối với ATTP; phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về ATTP; thông tin, giáo dục, truyền thông về ATTP; trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP (Điều 1). Các quy định này cho thấy nhiều mối quan hệ, không chỉ riêng mối quan hệ chủ yếu giữa người sản xuất, người phân phối thực phẩm với người tiêu dùng. Trong nhiều mối quan hệ đó có cả mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý, kiểm soát ATTP với đối tượng bị quản lý, giám sát và người tiêu dùng. Do đó Luật ATTP năm 2010 cũng dự liệu: “Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm quy định của Luật này hoặc các quy định khác của pháp luật về ATTP thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật” (Điều 6, khoản 2). Tuy nhiên, các quy định dập khuôn này lại thiếu sự chỉ dẫn cụ thể để có thể áp dụng chế tài BTTH đối với những người lợi dụng chức vụ, quyền hạn.
So sánh với Luật ATTP năm 2015 của Trung Quốc, có thể thấy cách thức quy định phạm vi áp dụng của Luật ATTP năm 2010 của Việt Nam không rành mạch về các mối quan hệ, mà có khuynh hướng liệt kê các công đoạn trong nghiệp vụ bảo đảm an toàn phẩm. Luật ATTP năm 2015 của Trung Quốc áp dụng cho bất kỳ người nào tiến hành bất kỳ một hoạt động nào trong các hoạt động sau đây (Điều 2): (1) Sản xuất, chế biến và bán, phục vụ ăn uống (được gọi chung là sản xuất và phân phối thực phẩm); (2) sản xuất và phân phối phụ gia thực phẩm; (3) sản xuất và phân phối nguyên vật liệu  bao bì, đóng gói, vật chứa đựng, chất làm sạch và chất tẩy rửa được sử dụng cho thực phẩm và dụng cụ, thiết bị được sử dụng cho sản xuất và phân phối thực phẩm (được gọi chung là sản phẩm liên quan tới thực phẩm); (4) sử dụng phụ gia thực phẩm và sản phẩm liên quan tới thực phẩm trong trường hợp của người sản xuất và phân phối thực phẩm; (5) Kho bãi và vận chuyển thực phẩm; và (6) quản lý ATTP, phụ gia thực phẩm và sản phẩm liên quan tới thực phẩm (Điều 2). Trong khi đó, BLDS Pháp sửa đổi chủ yếu nhằm tới mối quan hệ giữa người sản xuất và người tiêu dùng, sau đó mở rộng tới những chủ thể khác trong các Điều 1386 – 6 và Điều 1386 – 7.
Luật ATTP năm 2010 chỉ rõ nguyên tắc liên quan là: “Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh” (Điều 3, khoản 2). Như vậy BTTH là một hệ quả tất yếu của nguyên tắc này.
Để một người phải BTTH cho người khác, thì về mặt lý thuyết, có thể có ba giải pháp được lựa chọn: thứ nhất, người đó chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường khi người đó có lỗi đã được chứng minh; thứ hai, người đó phải chịu trách nhiệm trừ khi người đó chứng minh được rằng mình không có lỗi; và thứ ba, người đó phải chịu trách nhiệm trừ khi người đó chứng minh được rằng mình gặp trường hợp bất khả kháng[6]. Tất cả các nước được xem như có một hình thức trách nhiệm dân sự cổ điển được xây dựng trên nguyên tắc căn bản rằng khi một người gây thiệt hại cho người khác với một vài mức độ lỗi nhất định (thông thường là bất cẩn) thì thiệt hại đó phải được bồi thường – những quy tắc được quy định rõ ràng hoặc ở trong một phần của BLDS hoặc thông qua common law được phát triển qua án lệ hoặc qua việc ban hành chính thức hóa common law[7]. Trong đời sống hiện đại, việc gây ảnh hưởng hay thiệt hại cho người khác có nhiều dạng thức phức tạp. Hiện nay, các vi phạm ATTP ở Việt Nam có thể làm người tiêu dùng có cảm giác thỏa mãn khi được tiêu dùng thực phẩm không an toàn bởi dáng vẻ bề ngoài bắt mắt của chúng, và đôi khi kể cả độ thưởng thức của chúng… Để có được dáng vẻ bề ngoài và độ thưởng thức khiến người tiêu dùng thỏa mãn, thì những hành vi vi phạm nguy hiểm đã được tiến hành, chẳng hạn: chăn nuôi heo cho sử dụng chất tạo nạc; thủy sản sử dụng kháng sinh vượt ngưỡng; cá được ủ ướp trong phân urê; rau bị tưới thuốc bảo vệ thực vật vượt giới hạn cho phép; trái cây “tắm” trong hóa chất độc hại[8]… Đây là các hành vi vi phạm tiêu chuẩn ATTP và sản xuất thực phẩm không đúng quy trình. Việc phải gánh chịu chế tài về việc gây thiệt hại là không phải bàn cãi. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam tỏ ra nghiêm khắc hơn đối với những hành vi gây thiệt hại để hướng tới bảo vệ người tiêu dùng. Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 của Việt Nam định nghĩa: “Hàng hóa có khuyết tật là hàng hóa không bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, có khả năng gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả trường hợp hàng hóa đó được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật hiện hành nhưng chưa phát hiện được khuyết tật tại thời điểm hàng hóa được cung cấp cho người tiêu dùng, bao gồm: (a) Hàng hóa sản xuất hàng loạt có khuyết tật phát sinh từ thiết kế kỹ thuật; (b) Hàng hóa đơn lẻ có khuyết tật phát sinh từ quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển, lưu giữ; (c) Hàng hóa tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn trong quá trình sử dụng nhưng không có hướng dẫn, cảnh báo đầy đủ cho người tiêu dùng” (khoản 3 Điều 3).
Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 quy định: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm BTTH trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả khi tổ chức, cá nhân đó không biết hoặc không có lỗi trong việc phát sinh khuyết tật” (khoản 1 Điều 23). Những người kinh doanh (tổ chức và cá nhân) nói trong các quy định này có thể hiểu tóm lược đơn giản là những người sản xuất và những người phân phối sản phẩm hàng hóa. Như vậy, họ phải chịu trách nhiệm đối với sản phẩm liên quan tới khuyết tật của nó. Black’s Law Ditionary giải thích: “Trách nhiệm sản phẩm ám chỉ tới trách nhiệm pháp lý của người sản xuất và người bán bồi thường người mua, người sử dụng, và thậm chí người ngoài cuộc về những thiệt hại hay thương tật phải gánh chịu bởi những khuyết tật của hàng hóa được mua sắm”[9].
Theo các quy định trên của pháp luật Việt Nam, người sản xuất hay người phân phối thực phẩm phải BTTH cho người tiêu dùng khi hội đủ các điều kiện sau: (1) thực phẩm có khuyết tật; (2) có thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, và (3) có mối quan hệ nhân quả giữa thực phẩm có khuyết tật với thiệt hại. Yếu tố nhận thức và yếu tố lỗi của người sản xuất hoặc của người phân phối liên quan tới khuyết tật của hàng hóa không được xem xét đến, trừ khi chứng minh được khuyết tật của thực phẩm không thể phát hiện được với trình độ khoa học, kỹ thuật tại thời điểm cung cấp cho người tiêu dùng. Nghĩa vụ chứng minh như vậy thuộc về bị đơn (Điều 24, Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010). Vấn đề sản xuất đúng hay không đúng với tiêu chuẩn an toàn hay quy trình kỹ thuật không được pháp luật Việt Nam quan tâm để xem xét việc bồi thường (khoản 3 Điều 3 Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010). BLDS sửa đổi của Pháp cũng quan niệm rằng: “Người sản xuất có thể phải chịu trách nhiệm về khuyết tật mặc dù sản phẩm đã được sản xuất phù hợp các quy tắc thương mại hoặc tiêu chuẩn hiện hành hoặc mặc dù nó là đối tượng của một sự cho phép hành chính” (Điều 1386 – 10). Tuy nhiên, BLDS sửa đổi của Pháp có các quy định tại Điều 1386 – 11 cho phép người sản xuất chứng minh để miễn hoặc giảm trách nhiệm trong một số trường hợp. Ở đây cần lưu ý thêm rằng Luật ATTP năm 2010 và Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 có độ lệch nhất định khi nói tới thiệt hại. Luật ATTP năm 2010 không đề cập tới thiệt hại về tài sản, trong khi đó Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 có đề cập tới thiệt hại về tài sản. Nói cho đúng, các sản phẩm thực phẩm cũng có thể gây thiệt hại về tài sản, nhất là các chất phụ gia.
Theo quan niệm của Common Law, hành vi gây thiệt hại (tort) mà khiến người sản xuất phải chịu trách nhiệm, nếu sản phẩm của người này có một tình trạng khuyết tật mà làm nó nguy hiểm một cách bất hợp lý đối với người sử dụng hoặc người tiêu dùng[10]. Trách nhiệm nghiêm ngặt thường được ấn định trong trường hợp sản phẩm được sản xuất có khuyết tật (trách nhiệm sản phẩm). Trách nhiệm nghiêm ngặt là trách nhiệm pháp lý đối với trường hợp gây thiệt hại thậm chí người gây thiệt hại không có lỗi. Để chứng minh trách nhiệm BTTH, nguyên đơn chỉ cần chứng minh rằng hành vi trái luật gây thiệt hại đã xảy ra và bị đơn có trách nhiệm bởi hành động hay sự bất cẩn của mình. Trong trách nhiệm nghiêm ngặt ở Hoa Kỳ, thiện chí, cũng như sự kiện mà tại đó nguyên đơn áp dụng tất cả các biện pháp phòng ngừa có thể đều là những biện hộ không có giá trị.
Theo các nguyên lý nêu trên, có thể thấy rằng, ở Việt Nam hiện nay, trách nhiệm sản phẩm không phải là trách nhiệm nghiêm ngặt mà là trách nhiệm tuyệt đối, có nghĩa là không cần tới yếu tố lỗi của bị đơn và cũng không chấp nhận bất kỳ sự biện hộ nào liên quan tới yếu tố lỗi hay yếu tố vi phạm, trừ một trường hợp như đã nói trên. Thế nhưng, dường như có sự mâu thuẫn giữa quy định về nguyên tắc trách nhiệm tuyệt đối đối với sản phẩm nói trên trong Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 của Việt Nam với chính các quy định của Luật này về nghĩa vụ chứng minh. Cụ thể, khoản 2 và khoản 3 Điều 42 Luật này quy định: “(2) Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại. (3) Tòa án quyết định bên có lỗi trong vụ án dân sự về bảo vệ QLNTD”. Trong khi đó, Luật này chỉ quy định một trường hợp được miễn trách nhiệm như đã nói ở trên.
Luật ATTP năm 2015 của Trung Quốc được xem là một đạo luật nghiêm ngặt nhất. Trách nhiệm sản phẩm của đạo luật này được quy định như sau: “Bất kỳ ai vi phạm Luật này mà gây thiệt hại về người hoặc tài sản hoặc các dạng thiệt hại khác phải chịu trách nhiệm BTTH. Trong trường hợp mà tài sản của bất kỳ người sản xuất hay phân phối nào không đủ để đồng thời chi trả bồi thường dân sự và phạt hành chính và hình sự, thì khoản bồi thường dân sự được thi hành trước” (Điều 147). Các quy định này có hai khác biệt so với các quy định của pháp luật Việt Nam về BTTH do sản phẩm gây ra: thứ nhất, các quy định này đòi hỏi có sự vi phạm. Có thể thấy rõ hơn nữa sự đòi hỏi yếu tố vi phạm tại Điều 148 của Luật ATTP năm 2015 của Trung Quốc với các quy định như sau: “Bất kỳ người tiêu dùng nào mà bị thiệt hại bởi thực phẩm mà không tuân thủ tiêu chuẩn ATTP có thể đòi bồi thường đối với hoặc người phân phối hoặc người tiêu dùng”; thứ hai, các quy định này xác định rõ thứ tự được ưu tiên thi hành trong trường hợp vừa có bản án hình sự ấn định khoản phạt, vừa có quyết định hay bản án hành chính ấn định khoản phạt và vừa có bản án về BTTH liên quan tới một vi phạm.
Chúng tôi cho rằng, các nhà lập pháp Việt Nam nên cân nhắc tiếp thu những kinh nghiệm nêu trên để minh bạch hơn trong việc thi hành các bản án hay các quyết định trên tài sản của người dân, và chống lại sự ưu ái quá đáng với ngân sách nhà nước.
Sau kỷ niệm 200 năm sự ra đời của BLDS Pháp (1804 – 2004), các luật gia Pháp đã phải xem xét làm thế nào để các quy định về nghĩa vụ được cập nhật phản ánh sự phát triển hiện đại, thoát khỏi sự tụt hậu so với sự phát triển về pháp lý đã được chấp nhận rộng rãi bởi các bộ pháp điển hóa ở châu Âu (ví dụ như BLDS Đức năm 2002), và khắc phục tình trạng pháp luật của Pháp ít được gắn với các nhu cầu thương mại và bị các bên trong giao dịch thương mại quốc tế hờ hững lựa chọn làm luật áp dụng[11]. Vì thế BLDS Pháp đã sửa đổi, bổ sung mà hiện nay trong đó có Mục IV Bis có các điều từ Điều 1386 -1 tới Điều 1386 -18 nói về trách nhiệm đối với sản phẩm có khuyết tật.
BLDS Pháp sửa đổi tuyên bố tại Điều 1386-1 rằng: “Người sản xuất có trách nhiệm đối với những thiệt hại được gây ra bởi khuyết tật trong sản phẩm của mình, không kể người này có bị ràng buộc bởi hợp đồng với người bị thiệt hại hay không”. Sản phẩm ở đây được xem là bất kỳ động sản nào, mặc dù được hợp nhất với một bất động sản, bao gồm những sản phẩm của đất trồng, của của chăn nuôi, của săn bắn và đánh bắt (Điều 1836 – 3). Thậm chí, điện cũng được xem là một loại sản phẩm ((Điều 1836 – 3). Như vậy bất kỳ một động sản nào hay điện được nhà sản xuất nào tạo ra cho tiêu dùng đều được xem là sản phẩm, và hễ có khuyết tật gây thiệt hại cho người và tài sản đều phải chịu trách nhiệm, mà trong đó các sản phẩm của nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp được chỉ rõ. Sản phẩm được xem là có khuyết tật khi nó không đưa tới sự an toàn mà một người có quyền được mong đợi (Điều 1386 – 4). Định nghĩa này về khuyết tật của sản phẩm trừu tượng hơn so với các giải nghĩa của pháp luật Việt Nam. Điều 1386 – 4 tại đoạn 2 & 3 có giải thích rằng: “Để đánh giá sự an toàn mà một người được quyền mong đợi, cần có sự quan tâm tới tất cả các hoàn cảnh và cụ thể tới sự phô bày của sản phẩm, sự sử dụng mà một người có thể mong đợi một cách hợp lý rằng nó nhẽ ra được đem đến, và thời điểm mà sản phẩm được đưa vào lưu thông. Một sản phẩm không được coi là có khuyết tật chỉ bởi một lý do duy nhất rằng một sản phẩm tốt hơn sau đó được đưa vào lưu thông”. Có thể thấy các quy định này của BLDS Pháp sửa đổi có trình độ trừu tượng rất cao, không cung cấp ngay một giải pháp cho các tranh chấp cụ thể mà phải có sự giải thích tư pháp. So sánh với các quy định này, có thể có nhận xét rằng, các quy định của Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 của Việt Nam không có nhiều đặc trưng của luật tư mà giống với các quy định của luật hành chính. Bản thân định nghĩa “hàng hóa khuyết tật” tại khoản 3 Điều 3 của đạo luật này mang tính kỹ thuật hơn là tính pháp lý, khi liệt kê các trường hợp có thể làm phát sinh ra các khuyết tật. Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 của Việt Nam không có các quy định liên quan tới trách nhiệm của người thuê trong việc cung cấp sản phẩm không an toàn, trong khi dịch vụ cho thuê ở Việt Nam đang phát triển. Trong khi đó BLDS sửa đổi của Pháp có dự liệu cả những vấn đề liên quan tới thuê, kể cả thuê tài chính tại Điều 1386 – 7. BLDS sửa đổi của Pháp có các quy định cụ thể về trách nhiệm liên đới, ví dụ tại Điều 1386 – 8 có quy định: “Trong trường hợp thiệt hại gây ra bởi một sản phẩm hợp nhất với một sản phẩm khác, thì  người sản xuất của bộ phận hợp thành và người mà đã tác động tới sự hợp nhất có trách nhiệm liên đới”.
Luật ATTP năm 2015 của Trung Quốc có các quy định về trách nhiệm liên đới (Điều 148 quy định người sản xuất và người phân phối có trách nhiệm liên đới đối với yêu cầu đòi bồi thường từ người tiêu dùng). Trong khi đó, Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 của Việt Nam không quy định về vấn đề này, trừ một trường hợp có đề cập tới trách nhiệm liên đới giữa người kinh doanh hàng hóa với bên thứ ba cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng. Trong trường hợp này, người thứ ba có thể loại bỏ trách nhiệm liên đới nếu chứng minh đã thực hiện tất cả các biện pháp theo quy định của pháp luật để kiểm tra tính chính xác, đầy đủ của thông tin về hàng hóa, dịch vụ (điểm c khoản 1 Điều 13).
BLDS năm 2015 của Việt Nam chỉ quy định 1 điều về BTTH đối với người tiêu dùng như sau: “Cá nhân, pháp nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hàng hoá, dịch vụ mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường” (Điều 608). Do đó, Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 dẫn chiếu tới BLDS năm 2015 chỉ là sự dẫn chiếu tới những quy định chung về BTTH ngoài hợp đồng. Trong các quy định chung ở đó có đề cập tới trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu và người chiếm hữu có trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra (khoản 3 Điều 584). Tuy nhiên, các quy định này khó có thể áp dụng cho trách nhiệm đối với sản phẩm. Trong khi đó, Điều 587 của Bộ luật này thì khó có thể áp dụng cho trách nhiệm đối với sản phẩm bởi điều này lấy yếu tố lỗi làm trọng. Nghĩa vụ chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa khuyết tật của sản phẩm với thiệt hại xảy ra không được Luật ATTP năm 2010, Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 và BLDS năm 2015 đề cập tới. Điều 1386 – 9 của BLDS Pháp sửa đổi gán trách nhiệm chứng minh cho nguyên đơn. Có thể giải thích việc đòi hỏi chứng minh không có lỗi được BLDS năm 2015 gán cho bị đơn và nó không nói thêm gì về nghĩa vụ chứng minh của người này làm người ta có thể suy ra việc chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa khuyết tật của sản phẩm và thiệt hại xảy ra thuộc về nguyên đơn.
Rõ ràng, các quy định về nguyên tắc trách nhiệm đối với sản phẩm quy định trong Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 gây khó khăn cho việc áp dụng các quy định của BLDS năm 2015 vào giải quyết các tranh chấp trong các trường hợp liên quan tới miễn hoặc giảm trách nhiệm, trách nhiệm liên đới, nghĩa vụ chứng minh.
Trên cơ sở những phân tích nêu trên, chúng tôi kiến nghị:
Thứ nhất, sửa đổi Luật ATTP năm 2010 và Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 theo hướng chỉ quy định các tiêu chuẩn về an toàn và có ý nghĩa như một đạo luật trong lĩnh vực hành chính mà trong đó có thể bao gồm các chế tài hành chính; tất cả các vấn đề liên quan tới dân sự đưa về quy định tại BLDS. Như vậy, cần sửa đổi cơ bản BLDS năm 2015.
Thứ hai, duy trì chế độ trách nhiệm tuyệt đối đối với ATTP vì người tiêu dùng Việt Nam quá nhỏ bé so với thương nhân và quyền lực công.
Số liệu của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam cho thấy sự nguy hiểm rất lớn đang rình rập người tiêu dùng. Tập đoàn này cho biết: Trong 5 năm qua, mỗi năm Việt Nam chi khoảng nửa tỷ USD để nhập khẩu về khoảng 100.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật với 4.100 loại thương phẩm khác nhau thuộc 1.643 hoạt chất hóa học để sản xuất thuốc trừ sâu hóa học cùng với nhiều loại hóa chất cấm vẫn được nhập lậu như Phospho hữu cơ, Clo hữu cơ, Wofatox, Monitos, Kelthane…, và cho rằng: điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển ngành nông nghiệp mà còn đe dọa sức khỏe của cộng đồng[12]./.
 
Bài viết được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 12, kỳ 2 tháng 6/2018

[1] Diễn đàn Doanh nghiệp, Mỗi năm, Việt Nam có 7.000-10.000 nạn nhân ngộ độc thực phẩm,[http://enternews.vn/moi-nam-viet-nam-co-7-000-10-000-nan-nhan-ngo-doc-thuc-pham-104619.html], 20/12/2016, 13:32:59.
[2] Trương Ngọc Anh, Vấn nạn thực phẩm bẩn là một trong những “trận chiến” lớn, Cafef, [http://cafef.vn/van-nan-thuc-pham-ban-la-mot-trong-nhung-tran-chien-lon-20180118151430286.chn], 18-01-2018 – 15:47 PM.
[3] Diễn đàn Doanh nghiệp, Mỗi năm, Việt Nam có 7.000-10.000 nạn nhân ngộ độc thực phẩm,[http://enternews.vn/moi-nam-viet-nam-co-7-000-10-000-nan-nhan-ngo-doc-thuc-pham-104619.html], 20/12/2016, 13:32:59.
[4] Trúc Nhật, ATTP và những tác động đến kinh tế Việt Nam,
[http://quochoi.org/an-toan-thuc-pham-va-nhung-tac-dong-den-kinh-te-viet-nam.html], Thứ sáu, 07/04/2017, 17:01 (GMT+7).
[5] Đời sống Việt Nam, Bài viết về ATTP: Nhức nhối thực trạng thực phẩm bẩn hiện nay,
[http://doisongvietnam.vn/bai-viet-ve-an-toan-thuc-pham-nhuc-nhoi-thuc-trang-thuc-pham-ban-hien-nay-30167-8.html], 10-10-2017 15:05:00.
[6] Christian Atias, Luật dân sự, Nxb. Thế giới, 1993, Hà Nội, tr. 80.
[7] CMS Cameron McKenna, Study of Civil Liability Systems for Remedying Environmental Damage, Final Report (as at 31st December 1995), This report was originally prepared by McKenna & Co McKenna & Co is now known as CMS Cameron McKenna, p. 9.
[8] Đời sống Việt Nam, Bài viết về ATTP: Nhức nhối thực trạng thực phẩm bẩn hiện nay,
[http://doisongvietnam.vn/bai-viet-ve-an-toan-thuc-pham-nhuc-nhoi-thuc-trang-thuc-pham-ban-hien-nay-30167-8.html], 10-10-2017 15:05:00.
[9] Deluxe Black’s Law Dictionbary, St. Paul, Minn. West Publishing Co., 1990, p. 1209.
[10] Deluxe Black’s Law Dictionbary, St. Paul, Minn. West Publishing Co., 1990, p. 1209.
[11] University of Oxford, Faculty of Law, Research and Subject Groups Reform of Frech Law Obligations, [https://www.law.ox.ac.uk/research-and-subject-groups/reform-french-law-obligations], Truy cập vào hồi 14.00, ngày 6/5/2018.
[12] Đời sống Việt Nam, Bài viết về ATTP: Nhức nhối thực trạng thực phẩm bẩn hiện nay,
[http://doisongvietnam.vn/bai-viet-ve-an-toan-thuc-pham-nhuc-nhoi-thuc-trang-thuc-pham-ban-hien-nay-30167-8.html], 10-10-2017 15:05:00.
 

Ngô Huy Cương, PGS. TS. Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội.

Những điểm tích cực, hạn chế của Công ước ASEAN về chống khủng bố

Bài viết phân tích những vấn đề pháp lý cơ bản về Công ước năm 2007 của ASEAN về chống khủng bố, chỉ ra được ý nghĩa của Công ước đối với các quốc gia thành viên, từ đó đề xuất một số phương hướng hoàn thiện Công ước ASEAN về chống khủng bố trong tình hình hiện nay.
Abstract: This article provides analysis of the basic legal matters of the Asean Convention on Counter-Terrorism 2007, and also outlines of the implications of the Convention for the member countries. It then provides a number of suggestions for further improvements of the ASEAN Convention on Counter Terrorism in the current situation.
Keywords: the Asean Convention on Counter-Terrorism 2007; Terrorism; ASEAN Community
Trong những năm qua, hoạt động khủng bố quốc tế ngày càng gia tăng với nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi và mức độ ngày càng nghiêm trọng. Khủng bố đã trở thành một mối đe dọa và thách thức lớn đối với an ninh và sự phát triển của mỗi quốc gia, trong đó có các nước thành viên ASEAN. Các quốc gia cũng như các nước thành viên ASEAN đã phải đẩy mạnh các nỗ lực hợp tác nhằm đối phó có hiệu quả hơn đối với mối đe dọa và thách thức này. Vào tháng 1/2007 các nước ASEAN đã ký Công ước của ASEAN về Chống khủng bố, thiết lập khuôn khổ pháp lý cho hoạt động hợp tác an ninh trong khu vực giữa các quốc gia thành viên nhằm hợp tác, ngăn chặn, chống khủng bố dưới mọi hình thức.
Công ước năm 2007 ASEAN về chống khủng bố gồm phần nói đầu và 23 điều khoản, trong đó 19 điều liên quan nội dung và 4 điều liên quan các thủ tục có hiệu lực, bổ sung, rút khỏi Công ước và đăng ký tại Liên hiệp quốc (LHQ).
Công ước của ASEAN về chống khủng bố bao gồm các nội dung cơ bản: (i) Mục đích, nguyên tắc và phạm vi hợp tác theo công ước; (ii) Các tội khủng bố thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước; (iii) Quyền tài phán quốc gia và nghĩa vụ dẫn độ;(iv) Các thủ tục liên quan thực hiện Công ước.

1. Những điểm tích cực, hạn chế của Công ước ASEAN về chống khủng bố

1.1 Điểm tích cực của Công ước ASEAN về chống khủng bố

Thứ nhất, Công ước của ASEAN về chống khủng bố ra đời trong bối cảnh hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 10 (2004) thông qua chương trình hành động Viên Chăn, trong đó các nước thành viên ASEAN cam kết tăng cường nỗ lực hướng tới xây dựng một Công ước của ASEAN về chống khủng bố.
Đây là một trong những điểm lợi thế tiên quyết trong việc nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng Công ước về chống khủng bố trong bối cảnh tội phạm khủng bố đang diễn ra tinh vi và nhân rộng để kêu gọi các cơ quan hữu quan của các nước thành viên hợp tác chặt chẽ, lập nhóm sáng tạo Công ước và thúc đẩy sớm ra đời Công ước chống khủng bố trong khu vực.
Thứ hai, có được sự đồng thuận cao của tất cả các thành viên trong khu vực trong việc hợp tác để ban hành Công ước chống khủng bố chung cho các quốc gia ASEAN.
Sự đồng thuận cao là một lợi thế để khu vực ASEAN dễ dàng trong việc đưa ra một văn bản chung thống nhất về vấn đề chống khủng bố, một vấn đề nóng, mang tính toàn cầu, ảnh hưởng rất lớn tới an ninh chính trị của quốc gia và toàn khu vực. Đây là một điểm mạnh khi đàm phán về công ước quốc tế mà không phải công ước quốc tế trong cộng đồng ASEAN nào cũng dễ dàng có được điều này, ví dụ Hiệp định Tương trợ tư pháp về hình sự của các quốc gia ASEAN không có được sự tham gia đầy đủ của các quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Đông Timo và Myanmar, mặc dù hợp tác trong lĩnh vực hình sự là một trong những ưu tiên hàng đầu của khu vực nói chung và mỗi một quốc gia nói riêng trong vấn đề giữ vững an ninh, chính trị[1].
Thứ ba, về cơ bản, Công ước đã đưa ra được đầy đủ các điều khoản nhằm đạt được mục tiêu của các bên
Chỉ với 23 điều khoản nhưng Công ước ASEAN năm 2007 về chống khủng bố đã thể hiện được gần như đầy đủ các nội dung để đạt được mục tiêu của các bên là đối phó và ngăn chặn khủng bố dưới mọi hình thức và biểu hiện của khủng bố, tăng cường hợp tác giữa các cơ quan thực thi pháp luật và các cơ quan liên quan của các bên trong việc chống lại chủ nghĩa khủng bố.

1.2 Hạn chế của Công ước của ASEAN về chống khủng bố

Thứ nhất, các quy định nội dung của Công ước chưa làm rõ được mục tiêu trong Công ước.
Mục tiêu Công ước được quy định rõ tại Điều 1: “Công ước này đưa ra các khuôn khổ hợp tác khu vực để hợp tác, đối phó và ngăn chặn chủ nghĩa khủng bố dưới mọi hình thức và biểu hiện của nó và tăng cường hợp tác giữa các cơ quan thực thi pháp luật và các cơ quan có liên quan của các Bên trong việc chống lại chủ nghĩa khủng bố”. Quy định này cho thấy, mục tiêu chính của Công ước là đưa ra các khuôn khổ hợp tác phù hợp và tăng cường hợp tác giữa các cơ quan thực thi pháp luật để chống lại chủ nghĩa khủng bố trong khu vực. Tuy nhiên, nội dung Công ước lại chưa làm sáng rõ được hai vấn đề này. Ví dụ, trong mục tiêu về đưa ra các khuôn khổ hợp tác trong khu vực thì nội dung Công ước có quy định tại Điều 5 “không áp dụng” và Điều 6 “lĩnh vực áp dụng”[2], chỉ dừng lại ở hai quy định trên thì chưa đủ để thể hiện được khuôn khổ hợp tác được đề cập đến trong mục tiêu Công ước, như nguyên tắc hợp tác và hình thức hợp tác.
Hợp tác giữa các cơ quan thực thi pháp luật là tất yếu, khách quan, phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn. Tuy nhiên, trong quá trình hợp tác, các bên tham gia có thể có những hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba, như áp dụng các biện pháp bất lợi hơn cho công dân của bên thứ ba; phong toả tài khoản của tổ chức cá nhân của bên thứ ba mà không có lý do chính đáng… Cơ sở pháp lý của nguyên tắc này là các điều ước quốc tế song phương và đa phương, đặc biệt là các điều ước song phương về chống khủng bố thường quy định trực tiếp nguyên tắc này. Tuy nhiên, Công ước của ASEAN về chống khủng bố lại chưa đề cập đến nội dung này để đạt được hiệu quả trong tăng cường hợp tác giữa các cơ quan thực thi  pháp luật về chống khủng bố[3].
Thứ hai, Công ước chưa đưa ra được định nghĩa “khủng bố”.
Hiện nay, trong khuôn khổ LHQ và các tổ chức thành viên (ICAO, IMO, IAEA…) có 13 điều ước quốc tế đa phương về chống khủng bố đã được thông qua. Công ước chung về chống khủng bố quốc tế mặc dù được tiến hành xây dựng từ năm 1996 đến nay nhưng vẫn đang nằm dưới dạng dự thảo vì còn nhiều ý kiến bất đồng xung quanh vấn đề định nghĩa khủng bố. Ở cấp độ khu vực cũng đã có 8 điều ước quốc tế được ký kết. Ngoài ra còn rất nhiều các Hiệp định quốc tế song phương và các Nghị quyết của Đại hội đồng, Hội đồng bảo an LHQ về các biện pháp đấu tranh chống khủng bố. Mặc dù hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quốc tế về chống khủng bố tương đối lớn, tuy nhiên chưa có văn bản nào đưa ra được định nghĩa rõ ràng, toàn diện về khủng bố. Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, việc đưa ra định nghĩa chung về khủng bố là cấp thiết vì có như vậy mới nâng cao được hiệu quả hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm này[4]. Điều 2 Công ước của ASEAN về chống khủng bố không định nghĩa “khủng bố” mà chỉ liệt kê “tội phạm khủng bố” là bất kỳ hành vi phạm tội nào trong phạm vi và theo quy định tại một trong các điều ước quốc tế được liệt kê trong 13 điều ước quốc tế thuộc khuôn khổ LHQ về đấu tranh chống khủng bố hiện nay[5].
Thứ ba, chưa có thành viên ASEAN nào tham gia đầy đủ các văn kiện pháp lý đa phương được quy định tại Điều 2 Công ước ASEAN về chống khủng bố.
Các tội khủng bố thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước tại Điều 2 nêu rất rõ tất cả các tội phạm khủng bố đã được xác định trong 14 Công ước và Nghị định thư đa phương liên quan về chống khủng bố sẽ là tội bị trừng trị theo Công ước ASEAN về chống khủng bố. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nước thành viên ASEAN nào tham gia đầy đủ các văn kiện pháp lý đa phương nói trên về chống khủng bố. Phù hợp với Công ước Viên năm 1969 về Luật Ký kết các điều ước quốc tế giữa các quốc gia, các nước ASEAN chỉ có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ theo các văn kiện pháp lý mà họ tham gia và họ không thể bị ràng buộc bởi các cam kết trong các Công ước, Nghị định thư mà họ chưa phải là thành viên. Điều này gây khó khăn cho việc xác định các tội phạm khủng bố khi các quốc gia vi phạm Công ước này.
Thứ ba, chưa quy định rõ thủ tục giải quyết tranh chấp.
Điều 19 Công ước ASEAN về chống khủng bố quy định: Mọi bất đồng hoặc tranh chấp giữa các bên phát sinh từ việc giải thích hay thực hiện các quy định của Công ước này phải được giải quyết trên cơ sở hòa giải bằng tham vấn hoặc thương lượng giữa các Bên thông qua con đường ngoại giao hoặc bằng các phương thức giải quyết tranh chấp hòa bình khác do các bên thỏa thuận. Mặc dù tinh thần và ý tưởng là trong trường hợp các thành viên ASEAN có tranh chấp và việc trao đổi ý kiến, thương lượng không giải quyết được tranh chấp thì các bên liên quan có thể thỏa thuận nhờ vai trò môi giới, trung gian và hòa giải của các bên thứ ba hoặc cao hơn là thỏa thuận giải quyết các tranh chấp qua thủ tục trọng tài hoặc các tòa án quốc tế, tuy nhiên lời văn trong điều khoản không nói cụ thể nên sẽ rất khó khăn cho các bên khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp. Biện pháp giải quyết sẽ rất linh hoạt, song điều then chốt là biện pháp đó phải được các bên tranh chấp cùng nhau thỏa thuận, không bên nào bị ép buộc phải chấp nhận biện pháp giải quyết mà họ không muốn. Nếu trường hợp các bên không thỏa thuận được thì sẽ giải quyết theo phương thức nào? Đây là một trong những hạn chế lớn nhất của Công ước ASEAN về chống khủng bố, bởi sự hợp tác nào cũng sẽ có lúc xung đột và phương thức giải quyết xung đột là một yêu cầu tất yếu.

2. Ý nghĩa của Công ước ASEAN năm 2007 về chống khủng bố đối với các quốc gia thành viên

– Thứ nhất, Công ước ra đời đáp ứng được nhu cầu của khu vực nói chung và của mỗi một quốc gia trong khu vực nói riêng về giữ vững an ninh tổ quốc
– Thứ hai, cơ chế hợp tác trong Công ước không chỉ đóng vai trò thiết lập một khuôn khổ pháp lý cho hoạt động hợp tác, ngăn chặn và chống khủng bố khu vực, mà thông qua cơ chế hợp tác ASEAN có cơ hội để hợp tác với nhau nhiều hơn, tạo nên sự gắn kết chặt chẽ hơn giữa các quốc gia.
– Thứ ba, quá trình hợp tác giúp cho các nước trong khu vực nhận được những khoản viện trợ, kỹ thuật, học hỏi được kinh nghiệm trong công tác nâng cao năng lực đội ngũ an ninh quốc phòng và kinh nghiệm về chiến thuật đấu tranh chống lại tội phạm khủng bố
Đây là một trong những ý nghĩa rất quan trọng đối với các quốc gia tham gia Công ước ASEAN về chống khủng bố, bởi một trong những điều kiện tiên quyết đưa đến thắng lợi trong công tác chống lại tội phạm khủng bố đó là sức mạnh và chiến lược trong an ninh, quân sự. Với những quốc gia có quân đội mạnh, chiến thuật tốt và năng lực an ninh quốc phòng cao như Indonesia, Thái Lan, Việt Nam hay Singapo[6]… là thành viên tham gia Công ước ASEAN về chống khủng bố sẽ là một lợi thế rất quan trọng giúp những quốc gia còn lại trong khu vực học hỏi, trao đổi kinh nghiệm về quân sự, an ninh quốc phòng và chiến thuật trong việc đấu tranh chống lại tội phạm khủng bố.
– Thứ tư, việc phê chuẩn Công ước của một quốc gia sẽ tạo động lực thúc đẩy các quốc gia khác trong việc phê chuẩn, phê duyệt Công ước ASEAN về khủng bố
Công ước ASEAN về chống khủng bố không đòi hỏi phải có đủ 10 nước phê chuẩn hoặc phê duyệt mới có hiệu lực. Việc một quốc gia nào đó trong khu vực sớm phê chuẩn hoặc phê duyệt Công ước không chỉ đáp ứng các nhu cầu của chính các quốc gia đó, mà còn có ý nghĩa tạo thêm xung lực để thúc đẩy các nước thành viên ASEAN còn lại triển khai việc phê chuẩn hoặc phê duyệt Công ước.

3. Thực tiễn thực thi Công ước và kiến nghị hoàn thiện Công ước của ASEAN về chống khủng bố

3.1 Thực tiễn thực thi công ước

Thứ nhất, về phê chuẩn, phê duyệt công ước. Việc xây dựng Công ước ASEAN về chống khủng bố là một bước ngoặt quan trọng trong nỗ lực chung của các nước ASEAN nhằm ngăn ngừa và trừng trị tội khủng bố. Yêu cầu đặt ra hiện nay là các nước ASEAN khẩn trương hoàn thành các thủ tục pháp lý nội bộ của mình (phê chuẩn hoặc phê duyệt) để các quy định của Công ước sớm đi vào cuộc sống. Tuy nhiên đến nay, việc phê chuẩn, phê duyệt Công ước chưa được tiến hành một cách đồng bộ trong phạm vi khu vực. Tháng 10/2007 Singapore đã phê chuẩn Công ước. Tháng 3/2008 Thái Lan cũng đã hoàn thành thủ tục pháp lý của mình, còn các nước ASEAN khác đang trong quá trình chuẩn bị. Việt Nam cũng đã tiến hành triển khai Công ước ASEAN về chống khủng bố ngày 15/8/2012, lên kế hoạch triển khai thực hiện Công ước ASEAN về chống khủng bố, xác định nội dung công việc, trách nhiệm và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ, cơ quan, địa phương trong triển khai thực hiện Công ước ASEAN về chống khủng bố.
Thứ hai, về vấn đề định nghĩa khủng bố. Xét từ góc độ pháp lý, cần thiết phải có một định nghĩa về khủng bố ngay trong nội luật của các quốc gia thành viên. Tuy nhiên cho đến nay, nội luật của các nước thành viên ASEAN cũng còn khác nhau, có nước đã có định nghĩa về khủng bố, nhưng có nước chưa định nghĩa. Trong quá trình thương lượng dự thảo Công ước của ASEAN về chống khủng bố, Việt Nam đã trao đổi và thống nhất với các nước về cách tiếp cận linh hoạt là Công ước của ASEAN không có định nghĩa về tội khủng bố, mà viện dẫn đến các tội danh đã được xác định trong các Công ước và Nghị định thư đa phương hiện hành về chống khủng bố. Sau này tùy tiến triển của tình hình, các nước sẽ cùng nhau xem xét và thỏa thuận về việc bổ sung định nghĩa khủng bố.
Thứ ba, về vấn đề dẫn độ. Trong những năm qua, các nước ASEAN đã có nhiều nỗ lực để duy trì hoà bình, ổn định khu vực. Tuy nhiên, các nước Đông Nam Á hiện nay đang phải đối mặt với những thách thức khủng bố, nghiêm trọng nhất trong thời gian gần đây là khủng bố từ IS. Chuyên gia chống khủng bố Rohan Gunaratna, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu khủng bố và bạo lực chính trị tại Xingapo cho biết, đây sẽ là thách thức an ninh chính cho khu vực Đông Nam Á. Để đối phó, “Chính phủ các nước trong khu vực phải hợp tác cùng nhau để ngăn chặn việc hình thành tổ chức vệ tinh của IS tại khu vực, bởi nếu không, thách thức khủng bố vẫn tiếp tục gia tăng”[7]. Ở Việt Nam, thời gian vừa qua cũng đã xảy ra một số vụ khủng bố nhằm chống lại Nhà nước Việt Nam, cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài. Khi Việt Nam đề nghị các nước hữu quan dẫn độ khủng bố chống lại Nhà nước Việt Nam, thì yêu cầu của Việt Nam lại chưa được đáp ứng thỏa đáng với lý do hoặc là quy định về tội danh khủng bố của Việt Nam còn chưa chặt chẽ, có thể bị chính trị hóa, hoặc là do Việt Nam và nước hữu quan chưa ký kết các Hiệp định về dẫn độ nên chưa có cơ sở pháp lý để dẫn độ cho Việt Nam.
Với tình hình trên, việc thực hiện tốt điều khoản về “dẫn độ” trong Công ước năm 2007 của ASEAN về chống khủng bố là một yêu cầu, là chiến lược quan trọng đối với các quốc gia thành viên trước tình trạng khủng bố gia tăng. Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc áp dụng điều khoản dẫn độ để xét xử chưa được tuân thủ một cách nghiêm ngặt. Điều này góp phần làm cho hoạt động khủng bố ngày một gia tăng, đồng thời ảnh hưởng nghiêm trọng tới giá trị pháp lý của Công ước ASEAN về khủng bố.

3.2 Kiến nghị hoàn thiện Công ước năm 2007 của ASEAN về khủng bố

Thứ nhất, hoàn thiện nội dung các điều khoản để làm rõ mục tiêu trong Công ước
Cần bổ sung và làm rõ hơn các điều khoản trong Công ước để đạt được mục tiêu “đưa ra các khuôn khổ hợp tác khu vực để hợp tác đối phó và ngăn chặn chủ nghĩa khủng bố dưới mọi hình thức và biểu hiện của nó và tăng cường hợp tác giữa các cơ quan thực thi pháp luật và các cơ quan có liên quan của các bên trong việc chống lại chủ nghĩa khủng bố”. Trong mục tiêu đưa ra các khuôn khổ hợp tác trong khu vực, cần bổ sung thêm quy định về nguyên tắc hợp tác, hình thức hợp tác chống khủng bố trong khu vực. Trong nguyên tắc hợp tác, thiết nghĩ với vấn đề chống khủng bố thì nguyên tắc: (i) hợp tác chống khủng bố và các quyền cơ bản của con người; (ii) nguyên tắc hợp tác chống khủng bố và lợi ích quốc gia; (iii) nguyên tắc hợp tác chống khủng bố và vấn đề quyền tài phán quốc gia; (iv) nguyên tắc hợp tác chống khủng bố và lợi ích của bên thứ ba. Về hình thức hợp tác, Công ước ASEAN có thể chia hợp tác chống khủng bố thành hai hình thức: hợp tác chính thức và hợp tác không chính thức. Trong nội dung mục tiêu về tăng cường hợp tác giữa các cơ quan thực thi pháp luật, các quốc gia cần ký các điều ước song phương hoặc đa phương về chống khủng bố để siết chặt hơn quy định về sự hợp tác giữa các cơ quan thực thi pháp luật nhằm đạt được mục tiêu trong Công ước và đẩy lùi tình trạng khủng bố.
Thứ hai, đưa ra được định nghĩa chính thức về “khủng bố” trong Công ước
Như đã nêu, Điều 2 của Công ước không định nghĩa “khủng bố” mà chỉ liệt kê “tội phạm khủng bố” là bất kỳ hành vi phạm tội trong phạm vi và theo quy định tại một trong các điều ước quốc tế được liệt kê trong 13 điều ước quốc tế thuộc khuôn khổ LHQ về đấu tranh chống khủng bố hiện nay. Quy định này còn quá chung chung, chưa thống nhất nên cần sửa đổi lại Điều 2 Công ước năm 2007 ASEAN về chống khủng bố theo hướng không liệt kê mà đưa ra một định nghĩa cụ thể về một cách hiểu “khủng bố” chung thống nhất. Điều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống loại tội phạm này.
Thứ ba, hoàn thiện quy định về cơ quan, thủ tục giải quyết tranh chấp
Điều 19 Công ước ASEAN về chống khủng bố quy định: Mọi bất đồng hoặc tranh chấp giữa các bên phát sinh từ việc giải thích hay thực hiện các quy định của Công ước này phải được giải quyết trên cơ sở hòa giải bằng tham vấn hoặc thương lượng giữa các Bên thông qua con đường ngoại giao hoặc bằng các phương thức giải quyết tranh chấp hòa bình khác do các Bên thỏa thuận. Quy định trên chưa làm rõ trường hợp nếu các bên không thỏa thuận được thì cơ quan nào sẽ giải quyết tranh chấp, thủ tục giải quyết như thế nào. Để giải quyết mọi bất đồng giữa các bên tranh chấp, cần bổ sung quy định về thành lập một cơ quan chuyên trách để giải quyết tranh chấp phát sinh khi các bên không giải quyết được thông qua con đường ngoại giao, hòa bình và thỏa thuận.
Thứ tư, tuân thủ quy định của Công ước về dẫn độ, thiết lập hoạt động tương trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm và bổ sung quy định về nguyên tắc dẫn độ tội phạm
– Dẫn độ tội phạm cũng là một nội dung quan trọng của Luật hình sự quốc tế. Chế định này bên cạnh ý nghĩa buộc những người gây ra tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự, còn thể hiện sự hợp tác của các quốc gia trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạmDo vậy, các quốc gia tham gia Công ước cần tuân thủ quy định về dẫn độ tội phạm.
– Hoạt động tương trợ tư pháp và dẫn độ tội phạm nguy hiểm là một trong những yêu cầu quan trọng trong việc hợp tác quốc tế đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm xử lý và truy cứu các hành vi phạm tội gây nguy hại cho xã hội và cộng đồng quốc tế, cũng như xâm phạm đến các quyền và tự do của con người. Hoạt động tương trợ tư pháp và dẫn độ tội phạm là khả năng duy nhất và quan trọng để thực hiện đầy đủ các hành vi tố tụng hình sự cần thiết ở nước ngoài. Mặc dù vậy, hoạt động tương trợ tư pháp, đặc biệt là dẫn độ tội phạm có liên quan trực tiếp đến chủ quyền quốc gia, do đó đòi hỏi các quốc gia phải có quy định chặt chẽ và tham gia đầy đủ các điều ước, hiệp ước tư pháp liên quan đến hoạt động tương trợ tư pháp và dẫn độ tội phạm, để tránh xảy ra tranh chấp khi có công dân của một nước vi phạm pháp luật quốc tế. Đặc biệt, các hành vi tố tụng của các quốc gia có thẩm quyền tài phán chỉ thực sự thực hiện được đầy đủ và đưa người phạm tội ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật, trước cộng đồng quốc tế để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội và của con người, nếu có sự tương trợ tư pháp của các cơ quan tư pháp các nước tương trợ tư pháp[8].
– Bổ sung thêm nguyên tắc dẫn độ tội phạm như “nguyên tắc có đi có lại” để thể hiện sự tôn trọng và bình đẳng chủ quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế, trong việc cùng nhau xử lý tội phạm, không có sự bao che, bảo kê cho tội phạm; “nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình” để tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản án. Đây cũng chính là sự thể hiện quốc gia bảo vệ quyền con người cho công dân nước mình, song vẫn phải chuyển giao cho cơ quan có thẩm quyền trong quốc gia để tiến hành giải quyết vụ việc đó theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự nói chung[9].
Thứ năm, các quốc gia khẩn trương hoàn thành thủ tục nội bộ để phê chuẩn, phê duyệt Công ước
Quốc gia chưa phê chuẩn, phê duyệt Công ước cần khẩn trương hoàn thiện thủ tục nội bộ để phê chuẩn, phê duyệt Công ước, đáp ứng được mục tiêu trong cam kết chính trị được nêu trong tuyên bố năm 2001 về chống khủng bố giữa ASEAN và một số đối tác như Mỹ, Úc, Ấn Độ, Pakistan… Đây cũng là một bước ngoặt quan trọng trong nỗ lực chung của các nước ASEAN nhằm ngăn ngừa và trừng trị tội khủng bố, góp phần mang đến hoàn bình, thịnh vượng chung trong toàn khu vực./.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Công ước năm 2007 của ASEAN về chống khủng bố
  2. Hiệp định Tương trợ tư pháp về hình sự của các quốc gia ASEAN năm 2004
  3. Bùi Mạnh Hùng, Hợp tác quốc tế về chống khủng bố và liên hệ thực tiễn Việt Nam, Luận văn ThS. chuyên ngành Luật quốc tế, năm 2012.
  4. Chuyên mục Công pháp quốc tế, Khái niệm khủng bố từ các công ước quốc tế, http://www.dhluathn.com/2014/06/khai-niem-khung-bo-tu-cac-cong-uoc-quoc.html, 17/06/2014.
  5. Nguyễn Duy Chiến (2009), Công ước năm 2007 của ASEAN về chống khủng bố và sự tham gia của Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp tháng 03/2009.
  6. Mộc Thạch, Khủng bố tấn công tại Jakata, Inđônêxia: Đông Nam Á hãy thức tỉnh, http://antg.cand.com.vn , cập nhật ngày 18/01/2016.
  7. Thái Văn Long, Khủng bố ở khu vực Đông Nam Á hiện nay và quan điểm của Việt Nam trong phòng, chống khủng bố, http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/quoc-te/item/1613-khung-bo-o-khu-vuc-dong-nam-a-hien-nay-va-quan-diem-cua-viet-nam-trong-phong-chong-khung-bo.html, cập nhật ngày 26/8/2016.
  8. Trịnh Tiến Việt, Thẩm quyền xét xử và việc dẫn độ trong luật hình sự quốc tế, http://luatsuphamtuananh.com/bai-viet—tin-tuc/tham-quyen-xet-xu-va-viec-dan-do-trong-luat-hinh-su-quoc-te/vn,
  9. Phi Yến, Top 5 quân đội mạnh nhất Đông Nam Á, http://soha.vn/quan-su/top-5-quan-doi-manh-nhat-dong-nam-a-20150713230642783.htm, ngày 14/07/2015.

 
Bài viết được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 12, kỳ 2 tháng 6/2018
[1] Xem thêm: Hiệp định Tương trợ tư pháp về hình sự của các quốc gia ASEAN năm 2004. http://m.thuvienphapluat.vn
[2] Xem thêm tại: Điều 5, Điều 6, Công ước năm 2007 của ASEAN về chống khủng bố.
[3] Xem thêm: Bùi Mạnh Hùng, Hợp tác quốc tế về chống khủng bố và liên hệ thực tiễn Việt Nam, Luận văn ThS, năm 2012.
[4] Xem thêm: Chuyên mục Công pháp quốc tế, khái niệm khủng bố từ các công ước quốc tế,http://www.dhluathn.com/2014/06/khai-niem-khung-bo-tu-cac-cong-uoc-quoc.html, 17/06/2014.
[5] Xem thêm tại: Điều 2, Công ước năm 2007 của ASEAN về chống khủng bố.
[6] Xem thêm tại: Phi Yến, Top 5 quân đội mạnh nhất Đông Nam Á, http://soha.vn/quan-su/top-5-quan-doi-manh-nhat-dong-nam-a-20150713230642783.htm, ngày 14/07/2015.
[7]  Xem thêm: Thái Văn Long, Khủng bố ở khu vực Đông Nam Á hiện nay và quan điểm của Việt Nam trong phòng, chống khủng bố, http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/quoc-te/item/1613-khung-bo-o-khu-vuc-dong-nam-a-hien-nay-va-quan-diem-cua-viet-nam-trong-phong-chong-khung-bo.html, cập nhật ngày 26/8/2016.
[8] Xem thêm: Trịnh Tiến Việt, Thẩm quyền xét xử và việc dẫn độ trong luật hình sự quốc tế,http://luatsuphamtuananh.com/bai-viet—tin-tuc/tham-quyen-xet-xu-va-viec-dan-do-trong-luat-hinh-su-quoc-te/vn
[9] Xem thêm: Trịnh Tiến Việt, tlđd.
 

Trần Thị Diệu Hương, ThS. Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật, Đại học Huế; Trần Ngọc Thúy, Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật, Đại học Huế.

Giải thích pháp luật ở Việt Nam – Một số vấn đề lý luận, thực trạng và giải pháp

Theo từ điển Tiếng Việt, “giải thích” là làm cho hiểu; là việc dùng lý lẽ để giảng giải giúp người nghe hiểu rõ và hiểu đúng vấn đề. Về giải thích pháp luật thì đầu tiên nó là giải thích tập quán pháp được thực hiện bởi các nhà triết gia và nhà chính trị học.

Khái niệm giải thích pháp luật

Khái niệm giải thích pháp luật chỉ thật sự trở thành một thuật ngữ xã hội – pháp lý trong thời kỳ tư sản. Theo đó, giải thích pháp luật được hiểu là việc làm sáng tỏ về mặt tư tưởng và nội dung các quy phạm pháp luật, bảo đảm cho sự nhận thức và thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất pháp luật; là nhằm xây dựng lại ý tưởng mà tác giả mong muốn truyền đạt qua các quy định của văn bản pháp luật đó. Hoặc xét về thực chất, giải thích pháp luật là việc xác định nội dung và phạm vi áp dụng của văn bản hay một quy định cụ thể của văn bản đó. Như vậy, giải thích pháp luật được hiểu là việc làm rõ hơn về tinh thần, nội dung, phạm vi, ý nghĩa và mục đích các quy định của pháp luật so với nội dung ban đầu của nó, giúp mọi người hiểu và thực thi các quy định của pháp luật một cách chính xác và thống nhất. Theo nghĩa hẹp, giải thích pháp luật là một hoạt động thể hiện quyền lực nhà nước, do đó các nội dung của nó phải được các văn bản quy phạm pháp luật quy định và khi thực hiện giải thích pháp luật các chủ thể buộc phải tuân theo[1]. Ở Việt Nam, thuật ngữ “giải thích pháp luật” được đề cập đến từ Hiến pháp năm 1959, nhưng cho đến nay, chưa có một quy định pháp lý nào đưa ra khái niệm về “giải thích pháp luật” mà chỉ có Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đưa ra quy định: “Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh là việc Ủy ban thường vụ Quốc hội làm rõ tinh thần, nội dung của điều, khoản, điểm trong Hiến pháp, luật, pháp lệnh để có nhận thức, thực hiện, áp dụng đúng, thống nhất pháp luật” (khoản 3 Điều 3).
Trong lý luận nhà nước và pháp luật của các nước xã hội chủ nghĩa, thông thường, giải thích pháp luật có hai hình thức: Giải thích chính thức và giải thích không chính thức[2]. Giải thích chính thức thường được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có giá trị pháp lý, mang tính bắt buộc thực hiện. Giải thích không chính thức không có giá trị pháp lý, chỉ có tính chất tham khảo, không bắt buộc thực hiện, có thể được tiến hành bởi bất kỳ chủ thể nào nhưng thường là các cơ quan, tổ chức, cá nhân nghiên cứu khoa học. Việc giải thích không chính thức Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở nước ta chủ yếu là những người nghiên cứu, giảng dạy khoa học pháp lý tiến hành vào thời điểm khi có Hiến pháp hay một đạo luật, pháp lệnh quan trọng nào đó mới ban hành mà những người có trách nhiệm áp dụng pháp luật rất ít khi nêu vấn đề, nêu những hạn chế của các điều luật cần phải giải thích. Vì thế, việc giải thích không chính thức chưa hình thành được một kênh dư luận xã hội từ những nhà khoa học cũng như từ những người hoạt động thực tiễn trong việc áp dụng và thực hiện pháp luật để từ đó đòi hỏi phải giải thích chính thức Hiến pháp, luật, pháp lệnh.
Giải thích pháp luật là một nhu cầu tất yếu khách quan đối với mọi xã hội và mọi hệ thống pháp luật. Bởi lẽ, về lý thuyết, nhu cầu này chỉ không phát sinh khi và chỉ khi có một hệ thống pháp luật hoàn thiện tuyệt đối và nhận thức pháp luật của người dân ở trình độ cao. Vì tầm quan trọng của giải thích pháp luật mà việc giải thích pháp luật không thể “buông lỏng”, tức là không thể mặc nhiên thừa nhận hoặc công nhận kết quả của mọi hoạt động giải thích pháp luật đều là pháp luật, được thực thi và bảo đảm bằng quyền lực nhà nước. Bởi nếu bất cứ kết quả giải thích pháp luật nào cũng đều được công nhận thì chắc chắn mỗi chủ thể sẽ giải thích một kiểu, theo nhận thức, trình độ chuyên môn, vị trí, địa vị xã hội và lợi ích của mình. Điều này sẽ làm cho hệ thống pháp luật rối tung và trật tự xã hội bị đảo lộn, không thể quản lý. Để khắc phục tình trạng đó, pháp luật các nước bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp đều ghi nhận hoặc thừa nhận những hoạt động giải thích nào là giải thích chính thức, hợp pháp và có giá trị pháp lý. Một cách thức phổ biến được áp dụng đó là các nhà nước đã dùng quyền lực nhà nước để thu hẹp phạm vi của các chủ thể trong hoạt động giải thích, đồng thời xác định hình thức, giá trị pháp lý của kết quả giải thích và luật định về trình tự, thủ tục trong giải thích pháp luật. Nói cách khác, hoạt động giải thích pháp luật đã được thiết lập để trở thành một thẩm quyền của một chủ thể nhất định mang quyền lực nhà nước[3].
Trên thế giới, hầu hết các nước đều quy định hay có xu hướng trao quyền giải thích Hiến pháp, luật chủ yếu cho Tòa án (cơ quan tư pháp). Bởi vì, qua thực tiễn cho thấy, công tác xét xử đòi hỏi cần phải giải thích pháp luật, hay nói cách khác, Tòa án cần được trao quyền giải thích pháp luật để xét xử; hơn nữa, việc giải thích Hiến pháp, luật, thì cơ quan tư pháp có nhiều ưu thế hơn so với cơ quan lập pháp, hành pháp. Tuy nhiên, các nước này cũng không bác bỏ quyền giải thích pháp luật của cơ quan lập pháp và hành pháp, nhưng Tòa án vẫn là cơ quan chủ yếu, có quyền cao nhất trong việc giải thích pháp luật. Mặc dù vậy, cũng có nước, Tòa án đóng vai trò quan trọng trong giải thích pháp luật nhưng lại không có cơ sở pháp lý ghi nhận chính thức điều này mà “ngầm” trao quyền này cho Tòa án qua quy định “Tòa án không được phép từ chối xét xử do thiếu công lý”, do đó Tòa án buộc phải giải thích để thực hiện xét xử.
Tại một nghiên cứu, tác giả của nghiên cứu này đã đưa ra một số lý do để cho rằng, ở nước ta, nếu trao quyền giải thích pháp luật cho cơ quan tư pháp (theo nghĩa hẹp là hệ thống Tòa án) là khá phù hợp: Thứ nhất, Tòa án với tư cách là trọng tài sẽ có sự giải thích pháp luật công bằng, hợp lý nhất. Nếu Tòa án giải thích pháp luật sẽ bảo đảm tính khách quan, công bằng và hợp lý nhất; thứ hai, Tòa án với các thẩm phán được đào tạo chuyên nghiệp và kinh nghiệm lâu năm trong công tác pháp luật là thích hợp nhất với yêu cầu này; thứ ba, thực tế cho thấy, các nhu cầu giải thích đều phát sinh và gắn liền hữu cơ với một vụ việc cụ thể. Chính Tòa án là cơ quan thường gặp các vụ việc này nhất; thứ tư, nhiều nước trên thế giới cũng đề cao thẩm quyền giải thích pháp luật cho cơ quan tư pháp và thu được nhiều thành tựu.

Thực trạng giải thích pháp luật ở Việt Nam

Mặc dù giải thích pháp luật ở nước ta đã được đề cập từ khá sớm, nhưng vấn đề này lại chưa được quan tâm đúng mức. Từ Hiến pháp năm 1959 (Điều 53) đã quy định giải thích pháp luật là một quyền hạn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Hiện nay, quyền này tiếp tục được ghi nhận tại Hiến pháp năm 2013 (Điều 74) nhưng đã có sự thu hẹp lại là chỉ “giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh”. Việc Việt Nam quy định Ủy ban Thường vụ Quốc hội là chủ thể có thẩm quyền giải thích pháp luật không phải là không có lý do của nó, lý do này có nguồn gốc từ cách nhận thức, cách tổ chức và vận hành quyền lực của Nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, đây nhất định không phải là chủ thể thích hợp nhất cho thẩm quvền giải thích pháp luật, đặc biệt trong giai đoạn nước ta đang tiến hành cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền định hướng xã hội chủ nghĩa. Ủy ban Thường vụ Quốc hội thời gian qua mặc dù đã rất cố gắng nhưng vẫn không thể thực hiện chức năng giải thích pháp luật một cách hiệu quả. Điều này có thể lý giải bởi các lý do sau: Thứ nhất, Ủy ban Thường vụ Quốc hội không có các chất liệu đời sống từ phía người dân để cân bằng với các quy phạm hiến định, pháp định từ phía cơ quan nhà nước. Thứ hai, họ nhìn các quy định hiến định và pháp định dưới con mắt của người trong cuộc chứ không phải dưới con mắt của chủ thể phản biện, chủ thể đánh giá. Thứ ba, tư cách của họ không hoàn toàn độc lập với các chủ thể lập pháp, lập hiến, bởi vì họ là chủ thể đắc lực tham gia vào quá trình lập pháp, lập hiến đó. Thứ tư, quan trọng hơn, các yêu cầu về giải thích pháp luật không đến với họ, một phần vì họ không nhận thấy, phần khác vì đã luôn có các chủ thể khác bằng nhiều cách thức, thực hiện công việc giải thích pháp luật trong thực tế[4].
Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, một số văn bản luật cũng có quy định về vấn đề này chẳng hạn như: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015: khoản 3 Điều 3 quy định thế nào là “giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh”; điểm a khoản 2 Điều 16 quy định loại văn bản ban hành để giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh (nghị quyết); Điều 158 quy định về các trường hợp và nguyên tắc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh; Điều 159 quy định về thẩm quyền đề nghị giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh; Điều 160 quy định về trình tự, thủ tục giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh; Điều 161 quy định về đăng công báo, đăng tải và đưa tin nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Tiếp đó, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 tại Điều 49 cũng đã có quy định về vấn đề giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh.
Có thể thấy, trong điều kiện Việt Nam, với thực trạng của hệ thống pháp luật và ý thức pháp luật của người dân còn nhiều hạn chế thì nhu cầu giải thích pháp luật trở nên thật sự cần thiết và có vai trò quan trọng. Tuy nhiên, trên thực tế, Ủy ban Thường vụ Quốc hội lại rất ít khi sử dụng quyền giải thích của mình. Nó không trở thành hoạt động thường xuyên mà chỉ là hy hữu. Chính vì vậy, dù Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan duy nhất được trao quyền giải thích chính thức Hiến pháp, luật, pháp lệnh nhưng để giải quyết kịp thời nhu cầu thực tiễn đặt ra, các chủ thể khác (cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp) buộc phải thực hiện hoạt động giải thích pháp luật không chính thức. Thực trạng đó dẫn đến những vấn đề liên quan đến giá trị pháp lý của các sản phẩm giải thích pháp luật, cơ chế kiểm soát về hoạt động giải thích pháp luật của các chủ thể khác và đối tượng của giải thích pháp luật.
Ở nước ta đang có tình trạng nhầm lẫn văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn chi tiết, thậm chí là thông tư, công văn hướng dẫn… của cơ quan hành pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Ngân hàng Nhà nước là văn bản giải thích pháp luật theo đúng nghĩa. Giải thích pháp luật là việc làm sáng tỏ tinh thần, nội dung những quy định pháp luật còn chưa rõ về mặt ngôn từ hoặc khi có sự xung đột, mâu thuẫn trong quá trình hiểu và áp dụng pháp luật. “Thông thường nếu ngôn ngữ của một điều khoản luật đã đủ trong sáng và đơn nghĩa thì sẽ ít có khả năng cần giải thích điều khoản đó”. Yếu tố chưa rõ như đã đề cập ở trên có thể là do bản thân các từ ngữ chứa đựng các quy định pháp luật chưa đủ trong sáng, chưa đủ rõ ràng; chưa rõ cũng có thể là đồng thời gây ra những cách hiểu khác nhau về nội dung của quy định pháp luật đó, làm khó khăn cho việc hiểu thống nhất cũng như việc thực hiện trong thực tế. Việc giải thích này có bản chất là, dù chủ thể nào giải thích đi chăng nữa cũng phải gặp nhau ở sự hợp lý, ở sự chuẩn xác của vấn đề này thì hiểu nó như thế này, có muốn làm khác đi cũng không được. Cái đáng bàn là giải thích nào được cho là giải thích mang tính phán quyết hay giải thích chính thức mà thôi. Quy định chi tiết là việc cơ quan có thẩm quyền được giao ban hành những văn bản pháp luật có nội dung cụ thể hóa, chi tiết hóa các văn bản pháp luật có hiệu lực cao hơn, để các văn bản pháp luật đó có đủ điều kiện thực thi trong cuộc sống… Hoạt động này có đặc trưng là chỉ có chủ thể được giao quyền này, chủ thể khác không có. Đây thực chất là hoạt động “lập pháp bổ sung”, bởi các quy định chi tiết, hướng dẫn cũng đều có tính quy phạm, tức là đều có phạm vi và sự chi phối giống y như văn bản “mẹ” (ở đây chưa bàn đến nội dung và chất lượng cụ thể của các văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết) và các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của các văn bản pháp luật đó “chỉ được làm thế này mà không được làm thế khác” (tất nhiên về lý thuyết vẫn có một nguyên tắc là nếu có sự không thống nhất giữa các văn bản pháp luật thì văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn sẽ có hiệu lực áp dụng…). Quy định chi tết còn có một đặc trưng khá nổi bật là tính thời điểm, có thể lúc này, do các yêu cầu này nên quy định như thế này, sang thời điểm khác, do các yêu cầu khác lại quy định khác, điều này được chứng minh bằng sự thay thế, hủy bỏ các văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết trong thực tế…[5]. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, việc phân biệt này là rất khó bởi các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành ở góc độ nào đó cũng có chứa đựng yếu tố mang tính giải thích.
Theo chiều dài lịch sử quy định về giải thích pháp luật ở nước ta, thì Tòa án chưa bao giờ được trao quyền giải thích chính thức. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng, quyền này đã được “ngầm” trao cho Tòa án thể hiện ở các quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 như: Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ, quyền hạn: “… Tổng kết thực tiễn xét xử của các Tòa án, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử…” (khoản 3 Điều 20); Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ, quyền hạn: “… Lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử…” (điểm c khoản 2 Điều 22). Bên cạnh đó, theo quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân, chánh án Tòa án và thẩm phán trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì Tòa án có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, pháp lệnh… Ngoài ra, thực tế, thời gian qua, ở góc độ nào đó, cũng có thể coi Tòa án đã thực hiện việc giải thích pháp luật thông qua hoạt động diễn giải, làm rõ các quy định của pháp luật bằng các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền, thể hiện rõ nhất trong các nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và 10 án lệ được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành trong Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06/4/2016 và Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 về việc công bố án lệ. Phải chăng đây chính là tiền đề, bước đệm để trong tương lai gần sẽ trao quyền giải thích pháp luật cho Tòa án?
Hiến pháp có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, là luật gốc, có tính tối thượng, về nguyên tắc thì không có một văn bản pháp luật nào có hiệu lực pháp lý cao hơn Hiến pháp. Chính vì vậy, giải thích Hiến pháp cũng được tiếp cận khác với giải thích luật thông thường. Một trong những điểm khác biệt giữa giải thích Hiến pháp và giải thích luật thông thường chính là giải thích luật nhằm mục đích áp dụng vào một tình huống cụ thể trong khi giải thích Hiến pháp là để tuyên bố một luật nào đó hay một phần của nó không phù hợp với Hiến pháp. Điểm khác nữa là giải thích luật là để hiện thực hóa ý chí của cơ quan lập pháp trong thông qua giải thích Hiến pháp có thể dẫn tới việc phủ nhận mong muốn của nhà lập pháp thể hiện trong những luật bị bác bỏ hoặc bị thay đổi[6]. Tuy nhiên, ở nước ta, giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh đang được thực hiện chung một quy trình và thẩm quyền giải thích Hiến pháp được trao cho duy nhất một chủ thể là Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Điều này là không phù hợp.

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của giải thích pháp luật

Một là, mở rộng phạm vi đối tượng được giải thích. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, đối tượng được giải thích chỉ bao gồm Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng pháp luật, nhiều văn bản dưới luật cũng có những quy định không rõ ràng, thống nhất, gây mâu thuẫn, xung đột trong quá trình áp dụng cần được giải thích. Chính vì vậy, Việt Nam cần sớm nghiên cứu để không chỉ giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh mà còn cả các văn bản pháp luật khác. Đã đến lúc chúng ta cần nhìn nhận lại giá trị của quy định khoản 3 Điều 53 Hiến pháp năm 1959 mà ghi nhận “giải thích pháp luật” thay vì “giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh” như hiện nay.
Hai là, thiết lập một cơ chế riêng cho giải thích Hiến pháp phù hợp với vị trí, vai trò của Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền và phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Theo đó, Quốc hội phải là chủ thể duy nhất có thẩm quyền giải thích Hiến pháp với tư cách là một chủ thể lập hiến. Việc giao Quốc hội giải thích Hiến pháp cũng hoàn toàn phù hợp với truyền thống và nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Hơn nữa, nó còn bảo đảm tính thứ bậc pháp lý trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền[7]. Về vấn đề nên hay không nên trao thẩm quyền giải thích Hiến pháp cho Tòa án, đã có nhà khoa học cho rằng, việc trao cho hệ thống Tòa án giải thích Hiến pháp trong điều kiện hiện tại là không khả thi bởi: Tổ chức bộ máy của Nhà nước Việt Nam không theo nguyên tắc phân chia quyền lực với mức độ độc lập có khả năng kiềm chế và giám sát lẫn nhau; bản lĩnh của thẩm phán và sự ủng hộ của xã hội có nhận thức cao về pháp luật đối với việc giải thích của thẩm phán là hai trong số những điều kiện cần thiết tối thiểu cho việc giao cho Tòa án giải thích Hiến pháp nhưng hai điều kiện đó khó có thể đảm bảo được trong thời điểm hiện nay ở nước ta; nhìn lại lịch sử lập hiến của đất nước, kể cả trong thời kỳ Hiến pháp 1946, bản Hiến pháp được nhiều học giả coi là có nhiều giá trị dân chủ và lịch sử nhất thì Tòa án chưa bao giờ được giao thẩm quyền giải thích Hiến pháp; Hiến pháp phản ánh rất tập trung nền chính trị, hệ thống pháp luật và tổ chức Tòa án của đất nước. Với hệ thống chính trị, tư pháp như hiện nay, việc giao cho Tòa án giải thích Hiến pháp khó mang lại được những giá trị đích thực. Điều này dễ xảy ra như đối với Tòa án giải thích và áp dụng luật hay văn bản pháp luật khác[8].
Ba là, cần nghiên cứu xây dựng mô hình Tòa án giải thích pháp luật. Đây là xu hướng chung của thế giới và mô hình này cũng khá phù hợp nếu thực hiện tại Việt Nam. Quyền giải thích pháp luật nên trao chủ yếu cho Tòa án, bên cạnh đó cũng thừa nhận phần nào quyền này của cơ quan lập pháp và hành pháp. Tuy nhiên, trước mắt, Hiến pháp nước ta đã quy định quyền giải thích pháp luật thuộc về Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do đó, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu nhằm có giải pháp tốt nhất để cơ quan này phát huy, thực hiện quyền một cách thiết thực, hiệu quả.
Theo đó, trước khi xây dựng được mô hình Tòa án giải thích pháp luật thì cần tăng cường hoạt động giải thích pháp luật của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bằng cách tạo điều kiện để Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp cận nhanh nhất nhu cầu giải thích pháp luật. Đây là giải pháp vừa giải quyết được tình thế trước mắt, vừa phù hợp với chủ trương, chính sách mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
Bốn là, cần xem xét công nhận án lệ là nguồn chính thức của pháp luật Việt Nam. Án lệ là một công cụ hữu hiệu cho hoạt động giải thích pháp luật, vì vậy, nếu công nhận án lệ như một nguồn luật ngang bằng với các văn bản quy phạm pháp luật, điều này sẽ tạo một bước ngoặt mới. Hoạt động áp dụng pháp luật sẽ không chỉ căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật mà còn căn cứ vào nguồn án lệ nữa. Ở Việt Nam, chỉ có các văn bản quy phạm pháp luật được Nhà nước ban hành mới được xem là nguồn của pháp luật, còn án lệ chưa được công nhận như một nguồn của pháp luật. Án lệ là sản phẩm của hoạt động tư pháp của Tòa án trong quá trình xét xử. Án lệ là các bản án, quyết định của các thẩm phán tạo lập các quy tắc hoặc căn cứ pháp lý đáng tin cậy cho việc quyết định các vụ việc tương tự trong tương lai. Và án lệ là một công cụ hữu hiệu trong việc giải thích pháp luật trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Giá trị giải thích pháp luật của án lệ là án lệ đã đề cập đến các vụ việc đã xảy ra trong thực tế, chứ không phải là những giả thuyết có tính lý luận về những tình huống có thể xảy ra trong tương lai, nên đã góp phần giải thích, bổ sung những thiếu sót, những lỗ hổng của pháp luật thành văn và khắc phục tình trạng thiếu pháp luật, tạo điều kiện cho việc áp dụng pháp luật dễ dàng, thuận lợi và thống nhất. Tuy chưa công nhận nhưng pháp luật Việt Nam cũng không có quy định phủ nhận án lệ là nguồn luật. Với thực tế 10 án lệ đã được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành và quy định Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được lựa chọn các quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định pháp luật đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của Tòa án để phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu và áp dụng trong xét xử thì án lệ lại đang trở thành nguồn để Tòa án áp dụng giải quyết các vụ việc diễn ra trên thực tế và như vậy, án lệ lại đang là nguồn pháp luật không chính thức.
Năm là, sửa đổi quy định pháp luật để thống nhất về chủ thể có quyền đề nghị giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Theo khoản 1 Điều 49 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 thì Kiểm toán Nhà nước không nằm trong số các chủ thể được đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Trong khi đó, Điều 159 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 lại quy định: “1. Chủ tịch nước, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận và đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh. 2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của các cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội quy định tại khoản 1 Điều này quyết định việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh”. Do vậy, cần bổ sung chủ thể là Kiểm toán Nhà nước vào khoản 1 Điều 49 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 để đảm bảo sự phù hợp và thống nhất giữa các luật này.
Sáu là, cần có quy định về cơ chế kiểm soát đối với hoạt động giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Thiếu một cơ chế kiểm soát thích đáng cho hoạt động giải thích pháp luật là nguyên nhân lớn làm cho hoạt động này không phát triển và có nhiều vướng mắc như hiện nay. Trách nhiệm trong giải thích pháp luật không hẳn chỉ theo hướng là những hậu quả bất lợi mà chủ thể giải thích pháp luật nếu có hành vi vi phạm khi giải thích sẽ phải gánh chịu, mà nên tiếp cận rộng hơn, nó còn phải gồm cả trách nhiệm đối với thể chế giải thích pháp luật, cả trách nhiệm đối với việc thiếu một môi trường thuận lợi cho hoạt động này. Cho nên, việc xây dựng cơ chế kiểm soát đối với hoạt động giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh là yêu cầu tất yếu hiện nay, nhằm đảm bảo cho công tác này thật sự công minh và hiệu quả[9].

Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (www.tcdcpl.moj.gov.vn)
[1] TS. Hoàng Văn Tú, Giải thích pháp luật – Một vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn Việt Nam, https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/10/12/1821/.
[2] GS.TS. Nguyễn Đăng Dung, Kiến nghị hoàn thiện chế định giải tích Hiến pháp theo quy định của Hiến pháp năm 2013, tài liệu Hội thảo Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh theo Hiến pháp năm 2013 do Viện Nghiên cứu lập pháp – Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức vào ngày 02/6/2016 tại Hà Nội.
[3] TS. Hoàng Văn Tú, Giải thích pháp luật – Một vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn Việt Nam, https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/10/12/1821/.
[4] Những vấn đề đặt ra từ thực tế giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay, http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/120/196.
[5] Những vấn đề đặt ra từ thực tế giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay, http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/120/196.
[6] GS.TS. Lê Hồng Hanh, Khả năng thực hiện việc trao thẩm quyền giải thích Hiến pháp cho Tòa án ở Việt Nam, http://www.luatviet.org/Home/nghien-cuu-trao-doi/2008/7379/Kha-nang-thuc-hien-viec-trao-tham-quyen-giai-thich-Hien-phap.aspx.
[7] TS. Hoàng Văn Tú, Giải thích pháp luật – Một vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn Việt Nam, https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/10/12/1821/.
[8] GS.TS. Lê Hồng Hanh, Khả năng thực hiện việc trao thẩm quyền giải thích Hiến pháp cho Tòa án ở Việt Nam, http://www.luatviet.org/Home/nghien-cuu-trao-doi/2008/7379/Kha-nang-thuc-hien-viec-trao-tham-quyen-giai-thich-Hien-phap.aspx.
[9] ThS. Nguyễn Nam Hưng, Một số đề xuất, kiến nghị giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở nước ta từ thực tiễn hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, tài liệu Hội thảo Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh theo Hiến pháp năm 2013 do Viện Nghiên cứu lập pháp – Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức vào ngày 02/6/2016 tại Hà Nội.

Tội phá hoại chính sách đoàn kết tại Bộ luật hình sự 2015

Tội phá hoại chính sách đoàn kết được quy định tại Điều 116 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tương ứng với Điều 87. Tội phá hoại chính sách đoàn kết BLHS 1999.
 

Điều 116. Tội phá hoại chính sách đoàn kết
1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây nhằm chống chính quyền nhân dân, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền nhân dân, với lực lượng vũ trang nhân dân, với các tổ chức chính trị – xã hội;
b) Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam;
c) Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức chính trị – xã hội;
d) Phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế.
2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

 
Bình luận Tội phá hoại chính sách đoàn kết theo quy định của Bộ luật hình sự 2015

1. Phá hoại chính sách đoàn kết là gì?

Phá hoại chính sách đoàn kết được hiểu là hành vi chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với lực lượng vũ trang, với chính quyền nhân dân, với các tổ chức chính trị – xã hội; gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giao; chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức chính trị – xã hội; phá hoại việc thực hiện các chính sách đoàn kết Quốc tế.

2. Các yếu tố cấu thành tội phá hoại chính sách đoàn kết

2.1. Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội phạm này có một trong các dấu hiệu sau:
a) Có hành vi gây chia rẻ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với lực lượng vũ trang, vơi chính quyền nhân dân, với các tổ chức chính trị – xã hội. Được thể hiện qua lời nói hoặc việc làm gây hiềm khích, nghi ngờ, bất hợp tác giữa các tầng lớp nhân dân với nhau, giữa nhân dân với lực lượng vũ trang, với các cơ quan chính quyền, với tổ chức xã hội (như Hội người cao tuổi, Hội người mù, Hội chữ thập đỏ,…)
b) Có hành vi gây thù hằn, kỳ thị, chia rẽ dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Được thể hiện thông qua hành vi kích động, xuyên tạc sự thật, xuyên tạc lịch sử để gây hằn thù, nói xấu, bôi nhọ tập quán của các dân tộc, gây kỳ thị coi thường dân tộc, làm cho các dân tộc không thực hiện được quyền bình đẳng mà pháp luật đã quy định…
c) Có hành vi gây chia rẽ giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân với tổ chức xã hội. Được thể hiện qua việc lôi kéo, kích động hoặc bằng các thủ đoạn khác làm cho những người theo tôn giáo và không theo tôn giáo nghi ngờ, xa lánh nhau, gây ra sự bất hợp tác, tình trạng căng thẳng giữa các tín đồ với cơ quan nhà nước các cấp hoặc với các tổ chức chính trị – xã hội
d) Có hành vi phá hoại việc thực hiện các chính sách đoàn kết Quốc tế. Nghĩa là làm cho ác chính sách đó không được thực hiện được hoặc cản trở gây khó khăn, trở ngại cho quá trình thực hiện các chính sách đó.
Lưu ý: Người chuẩn bị phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này

2.2. Khách thể

Hành vi nêu trên xâm phạm đến sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xam phạm đến chính sách đoàn kết của Nhà nước.

2.3. Mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Mục đích nhằm suy yếu Nhà nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và làm cho các chính sách về đoàn kết dân tộc, các chính sách tôn giáo và các chính sách đoàn kết khác bị vô hiệu hóa. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

2.4. Chủ thể

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự

3. Về hình phạt tội phá hoại chính sách đoàn kết

Mức phạt cao nhất của tội này được chia làm 03 khung, cụ thể như sau:
a) Khung một (khoản 1).
Có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
b) Khung hai (khoản 2).
Có mức phạt tù từ 02 đến 07 năm.
c) Khung ba (khoản 3).
Có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm (áp dụng đối với người chuẩn bị phạm tội).

4. Hình phạt bổ sung

Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình phạt chính nêu trên, tùy từng trường hợp cụ thể người phạm tội còn có thể bị tước một số quyền công dân, phạt quản chế, cấm cứ trú 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
 

Nguồn: Chuyên trang Học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Điểm mới của tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ

Thời gian gần đây, nhiều vụ án về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Đây là tội danh thuộc nhóm tội các tội phạm tham nhũng, đã được sửa đổi, bổ sung trong Bộ luật hình sự năm 2015.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn và đã sử dụng chức vụ, quyền hạn đó một cách trái phép nhằm mục đích vụ lợi. Hành vị đó gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của tổ chức xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân là do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện và có liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của người phạm tội, nếu họ không có chức vụ, quyền hạn đó thì họ khó có thể thực hiện được hành vi gây thiệt hại.
Những vướng mắc trong thi hành BLHS năm 1999 về các tội phạm tham nhũng nói chung và đối với tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281) nói riêng, chính là các tình tiết mang tính “định tính” như: Gây hậu nghiêm trọng, rất nghiệm trọng, đặc biệt nghiêm trọng… và quy định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự chưa dự liệu các tình tiết phát sinh trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm về tham nhũng. Để đảm bảo mọi biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân phải do luật định theo tinh thần của Hiến pháp 2013, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung tội danh này theo hướng thay đổi các tình tiết “định tính” bằng cách quy định cụ thể thiệt hại về tài sản; đồng thời tách khung hình phạt để cụ thể hóa TNHS.

Lượng hóa thiệt hại về tài sản

Nếu như Điều 281 BLHS năm 1999 quy định chung chung tại cấu thành cơ bản là: “Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân…”.  Để bảo đảm sự phù hợp với thực tiễn xử lý loại tội phạm này, phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế, đồng thời nhằm cá thể hóa trách nhiệm hình sự, bảo đảm mức độ tương xứng giữa hình phạt với tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, Điều 356 BLHS năm 2015 đã quy định cụ thể hơn, thiệt hại về tài sản mang tính “định lượng”: “Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân…”. Như vậy, người nào lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ mà gây thiệt hại từ 10.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng sẽ bị truy cứu TNHS theo khoản 1 Điều này.
Tương tự, BLHS năm 2015 đã thay thế tình tiết định khung tại khoản 2, 3 BLHS năm 1999 bằng cách cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” ở khoản 2 BLHS năm 1999 bằng: “thiệt hại về tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng”;  cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” ở khoản 3 bằng: “thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên” và quy định rõ “phạm tội nhiều lần” là “phạm tội 02 lần trở lên”.

Tách khung hình phạt, nâng mức phạt tiền

BLHS năm 2015 vẫn giữ nguyên khung hình phạt như quy định của Điều 281 BLHS năm 1999. Theo đó, khung hình phạt cơ bản là 1 năm đến 5 năm tù, khung thứ hai từ 05 năm đến 10 năm và khung thứ hai là từ 10 năm đến 15 năm tù.
Tuy nhiên, Điều 356 BLHS năm 2015 không quy định tình tiết tăng nặng “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”,  được quy định ở cùng một khung tại khoản 3 Điều 281 BLHS năm 1999, mà nâng mức định lượng tiền là tình tiết định tội, định khung hình phạt. Cụ thể, gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm (khoản 3).
Ngoài ra, BLHS năm 2015 còn nâng mức hình phạt tiền là hình phạt bổ sung từ 3.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng (khoản 4 Điều 281 BLHS năm 1999) lên thành từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (khoản 4 Điều 356).
 

Điều 281 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt  tù từ một năm đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội nhiều lần;
c) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm.
4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

 

Điều 356 BLHS năm 2015. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại khác360 đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.
3. Phạm tội gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.
4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

 

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)