Sự công bằng, bình đẳng, đúng mực trong đạo đức Thẩm phán

Thẩm phán là hạt nhân của Tòa án, là chức danh tư pháp cao quý, nhân danh Nhà nước đưa ra phán quyết về quyền và nghĩa vụ dân sự, hành chính cũng như tội phạm hình sự của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Bởi lẽ đó, Đảng, Nhà nước và Nhân dân đặc biệt coi trọng các chuẩn mực đạo đức của Thẩm phán.
 
Các nội dung liên quan:

 
Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền thừa nhận một trong những nguyên tắc cơ bản là mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được bảo vệ chống lại mọi kỳ thị hay xúi giục kỳ thị[1]; được xét xử một cách công khai và công bằng bởi một Tòa án độc lập và vô tư trong quá trình phán quyết về quyền và nghĩa vụ cũng như tội phạm hình sự bị cáo buộc[2]. Trên cơ sở đó, Công ước Quốc tế về Quyền dân sự và Chính trị bảo đảm rằng, mọi người đều bình đẳng trước Tòa án và Hội đồng xét xử; bất kỳ ai cũng có quyền đòi hỏi việc xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội trong vụ án hình sự hoặc xác định quyền và nghĩa vụ của người đó trong vụ án dân sự.
Thể hiện bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước và chế độ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ,bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân.
Thẩm phán là hạt nhân của Tòa án, là chức danh tư pháp cao quý, nhân danh Nhà nước đưa ra phán quyết về quyền và nghĩa vụ dân sự, hành chính cũng như tội phạm hình sự của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Bởi lẽ đó, Đảng, Nhà nước và Nhân dân đặc biệt coi trọng các chuẩn mực đạo đức của Thẩm phán. Trong phạm vi chuyên đề này, chúng tôi xin bình luận về sự công bằng, bình đẳng và sự đúng mực – hai trong số bảy chuẩn mực đạo đức buộc phải có của người Thẩm phán theo quy định của Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán ban hành kèm theo Quyết định số 87/QĐ-HĐTC ngày 04/7/2018 của Hội đồng Tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia.

1. Sự công bằng, bình đẳng trong chuẩn mực đạo đức của Thẩm phán

Theo Từ điển Tiếng Việt thì “công bằng” là theo đúng lẽ phải, không thiên vị; “bình đẳng” là ngang hàng nhau về mặt nào đó trong xã hội. Tòa án là cơ quan thực thi quyền tư pháp, nơi đưa ra những phán quyết ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Vì thế, công bằng phải là yếu tố căn bản tạo thành đạo đức của Thẩm phán. Với lý luận này, hầu hết các bộ quy tắc mang tầm quốc tế cũng như quốc gia đều ghi nhận nguyên tắc công bằng, bình đẳng là một trong những chuẩn mực đạo đức không thể thiếu của Thẩm phán. Bộ nguyên tắc đạo đức tư pháp Bangalore ghi nhận “sự bình đẳng” là giá trị thứ năm trong các quy tắc đạo đức của Thẩm phán; theo đó “Đảm bảo sự đối xử bình đẳng đối với tất cả mọi người trước Tòa án là điều cốt yếu của việc thực hiện chức danh tư pháp một cách công bằng”. Bộ Quy tắc ứng xử dành cho Thẩm phán Hoa Kỳ quy định quy tắc thứ 3 về việc “Thẩm phán phải thực hiện công vụ một cách công bằng, không thiên vị và cẩn trọng”. Bộ Quy tắc ứng xử đối với Thẩm phán Israel quy định: “Thẩm phán phải đối xử bình đẳng với các bên đương sự, bất kể giầu nghèo, không được lịch thiệp với một bên và khiếm nhã với người khác và phải có một thái độ cởi mở, không thành kiến hay thiên vị”. Bộ Quy tắc ứng xử dành cho cán bộ tư pháp Singapore quy định: “Không thiên vị là nguyên tắc cơ bản để cán bộ tư pháp thực thi công lý trong vụ việc cụ thể. Yếu tố không thiên vị rất quan trọng đối với lòng tin của công chúng vào việc thực thi công lý. Do đó, cán bộ tư pháp phải không thiên vị và thể hiện sự không thiên vị trong quá trình ra quyết định, phán quyết của mình”. Quy tắc xử sự tư pháp Hàn Quốc quy định: “Vô tư và liêm chính là những phẩm chất quan trọng nhất của Thẩm phán”, “Thẩm phán phải thực thi nhiệm vụ tư pháp của mình mà không làm tổn hại hoặc phân biệt đối xử về giới, tôn giáo, địa vị và khả năng xã hội – kinh tế, cũng như mối quan hệ dòng máu, khu vực và học đường”,…
Ở Việt Nam, nguyên tắc công bằng, bình đẳng được coi là nguyên tắc hiến định trong suốt chiều dài lịch sử lập hiến và được cụ thể hóa ở tất cả các đạo luật tố tụng qua các thời kỳ. Theo đó, Điều 16 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 ghi nhận: “1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; 2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”; trong tố tụng dân sự, tố tụng hình sự, tố tụng hành chính, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội; mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án; Tòa án có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng.[3] Như vậy, việc bảo đảm công bằng, bình đẳng trong quá trình giải quyết vụ việc không chỉ là trách nhiệm pháp lý, mà còn là trách nhiệm đạo đức của người Thẩm phán.
Là người trực tiếp giải quyết vụ việc, “Thẩm phán có trách nhiệm bảo đảm sự công bằng, bình đẳng để những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của họ trong quá trình giải quyết vụ việc tại Tòa án”[4]. Để thực hiện được yêu cầu này, người Thẩm phán phải nhận thức được tính đa dạng và những khác biệt trong xã hội phát sinh từ nhiều nguyên nhân khác nhau, không giới hạn ở các yếu tố như chủng tộc, mầu da, tôn giáo, nguồn gốc dân tộc, trình độ văn hóa, tình trạng hôn nhân, xu hướng tình dục, địa vị xã hội và các nguyên nhân khác. Từ đó, “trong quá trình giải quyết vụ việc, Thẩm phán không được và không cho phép các hành vi bất bình đẳng, phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ học vấn, nghề nghiệp, địa vị xã hội, hình thức sở hữu và thành phần kinh tế của cá nhân, pháp nhân”.[5] Quy định này thể hiện trách nhiệm thực hiện sự công bằng, bình đẳng không chỉ được đánh giá trên chính những hành động trực tiếp của Thẩm phán, mà còn bao gồm cả sự tác động của Thẩm phán đối với các đối tượng khác trong quá trình giải quyết vụ việc. Cụ thể: Đối với bản thân người Thẩm phán, không được thể hiện sự thiên vị hay thành kiến, dù là hành vi hay lời nói, đối với bất cứ người nào vì bất cứ lý do gì. Thẩm phán giải quyết vụ việc dựa trên cơ sở xem xét nội dung vụ việc phù hợp dành cho tất cả các bên đương sự, người tham gia tố tụng khác. Đối với người khác, Thẩm phán phải yêu cầu những người tiến hành tố tụng, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng tại phiên tòa không được phép bằng lời nói hoặc hành vi thể hiện sự thành kiến hoặc thiên vị dựa trên bất cứ lý do không thích đáng nào; khi người khác có những hành vi, lời nói thể hiện sự thành kiến, phân biệt, Thẩm phán cần có hành động cụ thể không cho phép hành vi, lời nói đó tiếp diễn.
Để bảo đảm chuẩn mực đạo đức về công bằng, bình đẳng, Thẩm phán cũng phải thực hiện các quy tắc ứng xử quy định tại Chương III Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán, cụ thể là:
Thẩm phán phải:
– Thực hiện việc giải quyết các vụ việc được phân công theo đúng quy định của pháp luật;
– Bảo đảm dân chủ, nghiêm minh, khách quan trong giải quyết các vụ việc; lắng nghe, tôn trọng ý kiến của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng;
– Giải thích, hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của pháp luật;
– Từ chối tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật;[6]
– Kịp thời thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết các thông tin về những hành vi vi phạm pháp luật;[7]
– Ưu tiên sử dụng quỹ thời gian làm việc để thực hiện nhiệm vụ xét xử.[8]
Thẩm phán không được:
– Tư vấn cho bị can, bị cáo, đương sự, người tham gia tố tụng khác làm cho việc giải quyết vụ việc không đúng quy định của pháp luật;
– Can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết vụ việc hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm giải quyết vụ việc;
– Sách nhiễu, trì hoãn, gây khó khăn, phiền hà cho người dân, bị can, bị cáo, đương sự, người tham gia tố tụng khác và người tiến hành tố tụng;
– Truy ép, gợi ý cho bị can, bị cáo, đương sự, người tham gia tố tụng khác và người tiến hành tố tụng cung cấp tài liệu, khai báo, trình bày sự việc không khách quan, trung thực;[9]
– Khi chưa ban hành bản án, quyết định, Thẩm phán không được phát biểu công khai quan điểm của mình về việc giải quyết vụ việc.[10]

2. Sự đúng mực trong chuẩn mực đạo đức của Thẩm phán

Theo Từ điển Tiếng Việt, “đúng mực” được hiểu là đúng đắn, có chừng mực, theo đúng khuôn phép trong cách cư xử. Điều này có nghĩa, đối với mỗi nghề nghiệp khác nhau thì có những khuôn phép cư xử riêng biệt. Đối với nghề nghiệp Thẩm phán, sự đúng mực không chỉ là việc thể hiện những hành vi, thói quen, mà phải được thể hiện như một chuẩn mực đạo đức không thể thiếu. Bộ nguyên tắc ứng xử tư pháp Bangalore coi“sự đúng mực và vẻ đúng mực là điều cốt yếu cho việc thực hiện toàn bộ các hoạt động của một Thẩm phán”. Bộ Quy tắc ứng xử đối với Thẩm phán Israel quy định: “Khi chủ tọa phòng xử án, Thẩm phán phải đối xử với những người có mặt tại Tòa một cách nghiêm trang, kiên nhẫn, trung thực, khoan dung và nhân ái, thấm vào phòng xử án một bầu không khí thoải mái”. Bộ Quy tắc ứng xử cho cán bộ tư pháp Singapore quy định: “Một cán bộ tư pháp phải bảo đảm rằng bất kỳ khi nào, đối với một người bình thường, công bằng và am hiểu, hành vi của mình ở trong và ngoài Tòa án là luôn đúng mực. Cán bộ tư pháp nên chấp nhận rằng, bản chất chức vụ của họ luôn bị giám sát kỹ càng. Có thể chấp nhận hành vi được coi là khiếm nhã, khó chịu và không công bằng của một người nào đó không phải là cán bộ tư pháp nhưng nếu cán bộ tư pháp làm như vậy thì hành vi đó là không thể chấp nhận, bởi cán bộ tư pháp là người phán xét hành vi của người khác. Hành vi như vậy sẽ làm vấy bẩn chức vụ tư pháp, gây nghi ngờ về khả năng đưa ra quyết định một cách khách quan và công bằng của cán bộ tư pháp”.
Có thể thấy, Thẩm phán là chức danh tư pháp cao quý, nên người Thẩm phán phải có những xử sự phù hợp với địa vị của mình; sự đúng mực của Thẩm phán là yếu tố quan trọng giúp bảo vệ phẩm chất, nhân cách, niềm tin và sự tôn trọng của công chúng đối với Thẩm phán và cơ quan tư pháp. Bởi lẽ đó, Điều 7 Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán quy định: “Trong mọi hoạt động của mình, Thẩm phán phải hành xử đúng mực, lịch thiệp, thận trọng; duy trì trật tự và sự tôn nghiêm trong quá trình tố tụng; luôn thể hiện sự kiên nhẫn, nhân ái đối với các bị cáo, đương sự, người tham gia tố tụng khác. Tại phiên tòa, phiên họp hoặc trong các văn bản tố tụng, Thẩm phán không được đưa ra những nhận định gây xúc phạm người khác”.
Thẩm phán là đối tượng thường xuyên nhận được sự quan tâm và quan sát của công chúng, nên trong mọi hoạt động của mình (cả khi thi hành công vụ hay các hoạt động khác), Thẩm phán phải chấp nhận sự hạn chế những sở thích hay thói quen cá nhân để luôn đảm bảo hành xử văn minh, lịch thiệp, thận trọng, phù hợp với phẩm cách của chức danh tư pháp mà mình đảm nhận. Thẩm phán phải duy trì trật tự và sự tôn nghiêm trong quá trình tố tụng tại Tòa án; luôn thể hiện sự kiên nhẫn, nghiêm trang, khoan dung và nhân ái đối với các bị cáo, đương sự, người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng khác. Trong các văn bản tố tụng, Thẩm phán cần lựa chọn từ ngữ và văn phạm chuẩn mực, không gây tổn thương hoặc xúc phạm người khác.
Sự đúng mực của Thẩm phán được thể hiện thông qua rất nhiều quy tắc ứng xử được quy định tại Chương III của Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán, cụ thể như:
– Thẩm phán phải ứng xử có văn hóa, tôn trọng, bảo vệ danh dự, uy tín của lãnh đạo và đồng nghiệp; hợp tác với đồng nghiệp để hoàn thành nhiệm vụ được giao;[11]
– Thẩm phán phải xây dựng gia đình có văn hóa; thực hiện nghiêm chỉnh quyền và nghĩa vụ công dân; có nếp sống văn hóa theo phong tục tập quán và truyền thống Việt Nam;[12]
– Thẩm phán phải chấp hành các quy định của pháp luật và quy tắc sinh hoạt nơi công cộng; ứng xử phù hợp với các giá trị đạo đức của Thẩm phán;[13]
– Thẩm phán không được tiếp xúc bị can, bị cáo, đương sự, người tham gia tố tụng khác trong vụ việc mà mình có thẩm quyền giải quyết không đúng nơi quy định;[14]
– Thẩm phán không được đùn đẩy trách nhiệm cho người khác; không trù dập, lợi dụng việc góp ý, phê bình làm tổn hại danh dự, uy tín của cán bộ, công chức;[15]
– Thẩm phán không được và không để thành viên trong gia đình lợi dụng danh nghĩa của Thẩm phán để vụ lợi;[16]
– Thẩm phán không được tổ chức cưới hỏi, ma chay, mừng thọ, sinh nhật, tân gia và các việc khác xa hoa, lãng phí hoặc để vụ lợi;[17]
Lịch sử nhân loại cho thấy, niềm tin của công chúng vào Bộ máy Nhà nước nói chung và cơ quan tư pháp nói riêng quyết định sự tồn vong, phát triển của đất nước. Trong đó, tầm quan trọng của một cơ quan tư pháp có năng lực, độc lập và vô tư đối với việc bảo vệ nhân quyền được nhấn mạnh đặc biệt. Với vai trò là hạt nhân của Tòa án, dù với tư cách cá nhân hay Tòan bộ tập thể, Thẩm phán có trách nhiệm tôn trọng chức danh tư pháp, gìn giữ đạo đức Thẩm phán và bảo vệ niềm tin của công chúng đối với cơ quan tư pháp và việc thực hiện sự công bằng, bình đẳng, đúng mực trong mọi hoàn cảnh vừa là trách nhiệm pháp lý, vừa là trách nhiệm đạo đức của người Thẩm phán.

TS. NGUYỄN THÚY HIỀN – Phó Chánh án TANDTC

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)


[1] Điều 7 Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền (1948).
[2] Điều 10 Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền (1948).
[3]Xem thêm Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Điều 17 Luật Tố tụng hành chính 2015.
[4] Khoản 1 Điều 6 Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán.
[5]Khoản 2 Điều 6 Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán.
[6] Khoản 1 Điều 10 Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán.
[7] Điều 16 Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán.
[8] Điều 17 Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán.
[9] Khoản 2 Điều 10 Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán.
[10] Điều 12 Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán.
[11] Điểm e khoản 1 Điều 11 Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán.
[12] Khoản 1 Điều 15 Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán.
[13] Khoản 1 Điều 16 Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán.
[14] Điểm đ khoản 2 Điều 10 Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán.
[15] Khoản 2 Điều 11 Bộ Quy tắc đạo đức và ửng xử của Thẩm phán.
[16] Khoản 3 Điều 15 và khoản 3 Điều 16 Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán.
[17] Khoản 4 Điều 15 Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán.

Điểm mới về trình tự xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm theo BLTTHS 2015

Theo BLTTHS năm 2003 thì tùy từng vụ án, chủ tọa phiên tòa hỏi trên cơ sở nội dung từng vụ án cụ thể mà không quy định phải hỏi ai trước, ai sau. Bộ luật TTHS năm 2015  đã gộp chung phần xét hỏi và tranh luận thành tranh tụng.
Theo quy định của Bộ luật TTHS 2003 thì tại phiên toà hình sự sơ thẩm, sau khi kết thúc phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, nếu không ai có ý kiến và yêu cầu gì thêm thì chủ toạ phiên toà tuyên bố kết thúc phần thủ tục phiên toà chuyển sang phần xét hỏi.
Thực chất thủ tục này là việc người tiến hành tố tụng bao gồm Hội đồng xét xử, kiểm sát viên, Luật sư tiến hành hỏi bị cáo, người làm chứng và những người liên quan khác để xác minh các chứng cứ trong hồ sơ vụ án và làm rõ những tình tiết có liên quan để xác định sự thật khách quan của vụ án.
Về trình tự xét hỏi, theo quy định tại khoản 2 Điều 207 BLTTHS 2003 thì khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các hội thẩm, sau đó đến kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự. Những người tham gia phiên tòa cũng có quyền đề nghị với chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Người giám định được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định.
Như vậy, BLTTHS năm 2003 không quy định phải hỏi ai trước, ai sau. Tùy từng vụ án, chủ tọa có kế hoạch xét hỏi hợp lý trên cơ sở nội dung từng vụ án cụ thể cũng như thái độ khai báo của người tham gia tố tụng. Nội dung xét hỏi tập trung làm rõ tình tiết định tội, định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo…
Quy định trên vô hình chung làm cho Hội đồng xét xử mất đi vai trò là một vị “trọng tài” khách quan xem xét, đánh giá chứng cứ, lập luận của các bên (bên buộc tội và bên gỡ tội) để từ đó đưa ra những nhận định khách quan về vụ án. Thực tiễn xét xử cho thấy mặc dù BLTTHS có quy định Kiểm sát viên tham gia xét hỏi nhưng trên thực tế Kiểm sát viên hoàn toàn chưa chủ động xét hỏi, nếu có thì cũng chỉ mang tính chất bổ sung cho những câu hỏi của Hội đồng xét xử và thông thường kiểm sát viên sẽ hỏi để nhằm mục đích bảo vệ bản cáo trạng của mình là đúng và việc buộc bị cáo có tội là có căn cứ. Việc hỏi để chứng minh tội phạm và làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án chủ yếu vẫn do Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà thực hiện. Sau phần xét hỏi là phần tranh luận, đối đáp giữa các bên.
Bộ luật TTHS 2015  gộp chung phần xét hỏi và tranh luận thành phần tranh tụng để phù hợp với yêu cầu của công tác tranh tụng tại phiên tòa. Tại Điều 307 Bộ luật TTHS 2015 quy định:
“1. Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ những tình tiết về từng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người. Chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý.
2. Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi.
Người tham gia tố tụng tại phiên tòa có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ.
Người giám định, người định giá tài sản được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định, định giá tài sản.
3. Khi xét hỏi, Hội đồng xét xử xem xét vật chứng có liên quan trong vụ án.”
Như vậy, theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý. Khi xét hỏi, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán (trường hợp Hội đồng 3), Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi.
Người tham gia tố tụng tại phiên tòa có quyền đề nghị Chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Người giám định, người định giá tài sản được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định, định giá tài sản. Đồng thời  BLTTHS năm 2015 bổ sung cho bị cáo quyền được trực tiếp đặt câu hỏi với các bị cáo khác, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ, người làm chứng nếu được Chủ tọa đồng ý thay vì đề nghị Chủ tọa hỏi (Điểm i khoản 2 Điều 61 các Điều 309, 310 và 311 Bộ luật TTHS 2015). Ý nghĩa của việc làm này để xác định toàn diện, đầy đủ, khách quan nội dung vụ án, tránh oan sai, đảm bảo xét xử đúng quy định của pháp luật.

Hồ Nguyễn Quân

TAQS khu vực 1 Quân khu 4

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)

Điểm mới của Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

So với quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo hướng thay đổi các tình tiết “định tính” bằng cách quy định cụ thể; đồng thời tách khung hình phạt để cụ thể hóa trách nhiệm hình sự.
Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luât được quy định tại Điều 157 BLHS năm 2015 như sau:

1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với người thi hành công vụ;
d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Đối với 02 người trở lên;
e) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
g) Làm cho gia đình người bị giam, giữ lâm vào tình trạng khó khăn, quẫn bách;
h) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật từ 11% đến 45%.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Làm người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật chết hoặc tự sát;
b) Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục phẩm giá nạn nhân;
c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật 46% trở lên.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

So với quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì quy định của BLHS năm 2015 về tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật có một số điểm mới cần phải lưu ý trong thực tiễn áp dụng.
Thứ nhất, về cơ cấu điều luật vẫn giữ nguyên 4 khoản như BLHS năm 1999.
Thứ hai, về nội dung có một số thay đổi như sau:
– Tại khoản 1, đã loại trừ các trường hợp quy định tại Điều 377 (Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật). Tăng mức hình phạt ở khung cơ bản như sau: Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định về lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bắt, giam giữ người trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm (trước đây là 02 năm) hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (trước đây mức phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm).
– Tại Khoản 2, tăng khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm (trước đây khung hình phạt là 01 năm đến 05 năm). Đồng thời thay các thuật ngữ “Phạm tội nhiều lần” và “Đối với nhiều người” bằng các thuật ngữ “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Phạm tội với 02 người trở lên”. Bổ sung thêm các tình tiết định khung đó là:

…
e) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
g) Làm cho gia đình người bị giam, giữ lâm vào tình trạng khó khăn, quẫn bách;
h) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật từ 11% đến 45%.

– Tại Khoản 3: tăng mức hình phạt tù từ 05 năm đến 12 năm (trước đây khung hình phạt từ 03 năm đến 10 năm), đồng thời, cụ thể hóa tình tiết mang tính chất định tính “phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng” bằng cách quy định bổ sung 3 tình tiết định khung sau:

…
a) Làm người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật chết hoặc tự sát;
b) Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục phẩm giá nạn nhân;
c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật 46% trở lên.

– Tại khoản 4 hình phạt bổ sung vẫn được giữ nguyên như BLHS năm 1999./.

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)

Vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên đối với phúc cung bị can trong giai đoạn truy tố

Trong giai đoạn truy tố này, phúc cung bị can là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát do Kiểm sát viên được phân công thực hiện ngay sau khi Cơ quan điều tra ra Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố và chuyển hồ sơ vụ án sang Viện kiểm sát.
 

Phúc cung là một hoạt động nghiệp vụ nhưng chưa được quy định cụ thể trong điều luật; tuy nhiên, hoạt động phúc cung được xác định và được thực hiện bởi Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong lĩnh vực hình sự để điều tra, giải quyết vụ án và được hình thành kể từ khi cán bộ điều tra trong giai đoạn điều tra, Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố khi thấy có căn cứ để nghi ngờ tính khách quan, chính xác của các tài liệu, chứng cứ của vụ án.

 
Vì vậy, hoạt động phúc cung mang ý nghĩa là “hỏi cung lại bị can nhằm kiểm tra, xác định lại những điều chưa chắc chắn, những điều còn nghi vấn, chưa được sáng tỏ trong các lần hỏi cung trước”  và hoạt động phúc cung do “cán bộ điều tra làm trước khi hoàn thành hồ sơ chuyển sang Viện kiểm sát hoặc do Kiểm sát viên làm trước khi ra quyết định truy tố bị can trước Tòa án để xét xử” ( Theo Từ điển Luật học, trang tr.377).

Phúc cung bị can trong giai đoạn truy tố là gì?

Có thể hiểu phúc cung bị can trong giai đoạn truy tố là hoạt động kiểm chứng lại tính đúng đắn những lời khai của bị can trong vụ án hình sự, khi có sự nghi ngờ về tính khách quan, chính xác của những lời khai trước đó; đó là hoạt động điều tra, xét hỏi nhằm kiểm tra, xác minh lại những lời khai của bị can còn nghi vấn do Kiểm sát viên thực hiện theo trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định.
Phúc cung bị can trong giai đoạn truy tố nhằm giải quyết những nghi ngờ, mâu thuẫn và vướng mắc hoặc cần củng cố, bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án nói chung và lời khai của bị can nói riêng; do đó, phúc cung bị can trước khi xây dựng bản cáo trạng là nhiệm vụ của Kiểm sát viên, có ý nghĩa quan trọng đảm bảo tính khách quan khi buộc tội. Khi có căn cứ, cơ sở để nghi ngờ hoặc cần củng cố, bổ sung tài liệu, chứng cứ nhưng không thực hiện hoạt động phúc cung bị can trước khi truy tố là thiếu trách nhiệm khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố của Kiểm sát viên.
Căn cứ pháp lý để Kiểm sát viên thực hiện hoạt động phúc cung bị can trong giai đoạn truy tố được quy định tại Điều 16, 17 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và Điều 236, 237 BLTTHS năm 2015.
Đây là những quy định mở để Viện kiểm sát thực hiện triệt để nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong quá trình kiểm sát điều tra và truy tố vụ án trước khi chuyển sang Tòa án để xét xử, nhất là đối với những vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, nhiều bị can, nhiều tài liệu, chứng cứ mâu thuẫn, thu thập ở nhiều nơi, nghi ngờ tính khách quan của tài liệu, chứng cứ. Vì vậy, Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra, thực hiện hoạt động phúc cung bị can trong giai đoạn truy tố là rất cần thiết, góp phần đảm bảo việc truy tố đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm.

Lý do cần thực hiện hoạt động phúc cung bị can trong giai đoạn truy tố

Thứ nhất, điều kiện tiên quyết để có hoạt động phúc cung bị can trong giai đoạn truy tố là trong hồ sơ vụ án Kiểm sát viên phải phát hiện có sự mâu thuẫn, xung đột giữa các tài liệu, chứng cứ hoặc cần củng cố, bổ sung các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (sau đây gọi tắt là Cơ quan điều tra) thu thập nói chung và lời khai trước đó của bị can nói riêng, dẫn đến nghi ngờ tính chính xác, khách quan của các tài liệu, chứng cứ đó. Vì vậy, đòi hỏi Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, đánh giá đúng, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập để phát hiện.
Thứ hai, trong các vụ án hình sự, nhất là vụ án có Luật sư tham gia bào chữa, vụ án được dư luận xã hội quan tâm, vụ án mà người phạm tội là đối tượng côn đồ, ranh mãnh, nguy hiểm, người có chức vụ, quyền hạn, địa vị xã hội,… thường xảy ra sự bất nhất trong lời khai, lời cung để quanh co, chối tội hoặc đùn đẩy trách nhiệm; khi nghiên cứu hồ sơ, Kiểm sát viên cần phân tích, đánh giá đầy đủ các thuộc tính của chứng cứ kết hợp so sánh, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác để buộc tội; hoạt động phúc cung bị can trong giai đoạn truy tố cần được thực hiện có kế hoạch, phương pháp cụ thể với từng loại vụ án, từng loại bị can; phúc cung bị can tốt trong giai đoạn truy tố làm tiền đề xây dựng cáo trạng có chất lượng, hạn chế hoặc có thể dự đoán trước được việc bị can có thể phản cung tại phiên tòa khi tham gia xét xử vụ án.
Thứ ba, Kiểm sát viên phải nhìn nhận hoạt động phúc cung bị can trong giai đoạn truy tố là hoạt động cần thiết để phổ quát lại nội dung, tình tiết vụ án, xác minh, kiểm chứng lại chứng cứ đã thu thập được; trong một số trường hợp, hoạt động phúc cung bị can tốt trong giai đoạn truy tố giúp phát hiện được nhiều tình tiết mới, lời khai mới, có thể là bị can mới, tội mới,… mà trước đó chưa hoặc không thể khai với Cơ quan điều tra vì một lý do khách quan hay chủ quan nào đó của bị can.
Thứ tư, qua hoạt động phúc cung bị can trong giai đoạn truy tố, hỗ trợ Kiểm sát viên phát hiện có hay không có trong quá trình điều tra vụ án Cơ quan điều tra có bức cung, nhục hình, mớm cung, dụ cung,… đối với bị can; giúp phát hiện các vi phạm trong quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ hoặc những tài liệu, chứng cứ cần được củng cố, bổ sung kịp thời; đồng thời, có biện pháp tác động, phối hợp với Cơ quan điều tra rút kinh nghiệm, khắc phục vi phạm để thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn trong các vụ án hình sự tiếp theo.
Thứ năm, hoạt động phúc cung bị can trong giai đoạn truy tố tốt sẽ hỗ trợ và tạo tâm thế tự tin cho Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa xét xử vụ án, nắm chắc nội dung, tình tiết vụ án để tranh luận, đối đáp với người bào chữa có chất lượng và thuyết phục; tạo được hình ảnh, bản lĩnh, tự tin, uy nghiêm của cơ quan thực hành quyền công tố trước Hội đồng xét xử, người bào chữa và những người tham gia, tham dự khác tại phiên tòa, nhất là các phiên tòa xét xử lưu động.
Thứ sáu, khi Kiểm sát viên coi trọng hoạt động phúc cung bị can trong giai đoạn truy tố, nó sẽ trở thành một hoạt động nghiệp vụ thường xuyên, quan trọng để điều tra, kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi giải quyết vụ án; góp phần thực hiện chủ trương “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra” của Viện kiểm sát, cũng như góp phần hạn chế việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi Kiểm sát viên tham gia xét xử tại phiên tòa.
Thứ bảy, hoạt động phúc cung bị can trong giai đoạn truy tố giúp Kiểm sát viên nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình đối với từng vụ án khi được phân công thụ lý giải quyết, nhất là vụ án phức tạp, dư luận quan tâm,… bởi đây là giai đoạn cuối cùng mà Kiểm sát viên có thể thực hiện các hoạt động kiểm sát điều tra, củng cố, bổ sung hoặc sửa chữa các tài liệu, chứng cứ cần thiết để buộc tội, giải quyết các vấn đề về vật chứng,… trước khi chuyển hồ sơ sang Tòa án để xét xử.
Thứ tám, Kiểm sát viên phải nhận thức được hoạt động phúc cung bị can trong giai đoạn truy tố chính là hoạt động xác minh, củng cố, bổ sung chứng cứ khi buộc tội mang tính chất quyết định trong một số trường hợp; bởi lẽ, khi có mâu thuẫn trong các lần khai cung trước so với phúc cung thì Kiểm sát viên có nhiệm vụ làm rõ việc khai cung trước hay lời khai khi phúc cung là đúng sự thật và phải căn cứ vào đó để quyết định việc truy tố nếu có tội hoặc quyết định đình chỉ điều tra nếu không đủ chứng cứ buộc tội.

Một số vấn đề cần chú ý để nâng cao chất lượng hoạt động phúc cung bị can

– Phải thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ ngay từ giai đoạn có nguồn tin báo về tội phạm để phân loại, xử lý chặt chẽ; đến giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án, Kiểm sát viên cần theo sát tiến trình điều tra của Cơ quan điều tra cả trên hồ sơ lẫn hoạt động điều tra thực tế; kịp thời đề ra bản yêu cầu điều tra và kiểm tra việc thực hiện, thường xuyên sơ kết điều tra, đánh giá tiến trình điều tra và phối hợp với Cơ quan điều tra để xử lý nhanh, kịp thời các vướng mắc về các tài liệu, chứng cứ trong quá trình điều tra. Khi Kiểm sát viên nắm chắc nội dung, tình tiết, chứng cứ của vụ án,… làm tiền đề xây dựng kế hoạch, phương pháp phù hợp, thực hiện hoạt động phúc cung bị can trong giai đoạn truy tố để củng cố, bổ sung thêm chứng cứ buộc tội.
– Phải gắn trách nhiệm nghề nghiệp với từng bị can trong từng vụ án cụ thể, có vậy Kiểm sát viên mới thấy được tầm quan trọng của công việc, tầm quan trọng của việc truy tố, buộc tội đúng hay sai một con người và hệ quả của nó. Do đó, việc nâng cao nhận thức, có ý thức trách nhiệm khi được phân công thụ lý, giải quyết vụ án là rất quan trọng; tạo tiền đề, từng bước xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên có năng lực, bản lĩnh, có tầm và có tâm với nghề.
– Phải tăng cường công tác phối kết hợp với Cơ quan điều tra và các cơ quan hữu quan khác, từ đó tạo hành lang pháp lý “nội bộ” phối hợp chặt chẽ, kịp thời trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án; làm cơ sở cho hoạt động phúc cung bị can trong giai đoạn truy tố của Kiểm sát viên đạt hiệu quả cao hơn.
– Phải chú trọng việc nghiên cứu, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ về các văn bản luật, dưới luật có liên quan để phục vụ công tác; có nắm được các quy định của pháp luật mới thực hiện được chức năng, nhiệm vụ nói chung và hoạt động phúc cung bị can trong giai đoạn truy tố nói riêng đạt hiệu lực, hiệu quả cao.
– Phải trước khi tiến hành hoạt động phúc cung bị can, Kiểm sát viên phải luôn luôn có kế hoạch, có phương pháp, có các dự kiến tình huống phát sinh và nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án; có làm tốt công tác chuẩn bị mới hỗ trợ Kiểm sát viên thêm tự tin, bản lĩnh và không bị lúng túng khi phúc cung, nhất là đối với bị can ranh mãnh, tinh vi, bị can là người có chức vụ, quyền hạn, có địa vị trong xã hội.
– Kiểm sát viên phải luôn chủ động, nắm tiến trình điều tra, thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra xuyên suốt vụ án; tránh ý thức chủ quan, thụ động, chờ hồ sơ đến rồi mới nghiên cứu thì chưa thể phát hiện, dự liệu được hết những nội dung, yêu cầu về tài liệu, chứng cứ cần phải sửa chữa, bổ sung hoặc củng cố kịp thời để truy tố.

Những kỹ năng khi nghiên cứu hồ sơ vụ án để phục vụ hoạt động phúc cung

Một là, đối với các tài liệu đọc được, cần đọc chậm, đọc kỹ và đọc nhiều lần cùng một tài liệu, cần thiết có thể gạch chân những câu, chữ hoặc đoạn văn cần lưu ý; Kiểm sát viên tránh đọc qua loa, đại khái các tài liệu, nhất là các tài liệu chữ xấu, khó hiểu hoặc bản photo bị mờ,… thì sẽ không thể hiểu hết ý nghĩa của câu, chữ hoặc bỏ sót những nội dung quan trọng trong tài liệu; trường hợp này Kiểm sát viên có thể linh hoạt mời người cung cấp tài liệu giải thích, làm rõ nội dung.
Hai là, đối với các tài liệu nghe được (băng, đĩa, ghi âm, các thiết bị điện tử): Kiểm sát viên cần phối hợp hài hòa giữa việc nghe kết hợp với việc đọc (nói) của tài liệu được nghe; khi nghe, cần chú ý đến thời gian diễn ra sự kiện, những người (nhân vật) tham gia sự kiện, nơi diễn ra sự kiện, nội dung cuộc nói chuyện,… trong trường hợp nghe không rõ, không hiểu vì dùng từ địa phương,… thì cần phối hợp với người cung cấp tài liệu nghe được giải thích, làm rõ.
Ba là, đối với tài liệu nhìn được (hình ảnh, đĩa ghi hình, băng ghi hình, các thiết bị điện tử ghi hình khác hoặc hiện vật), trong một số trường hợp, người tham gia tố tụng cung cấp tài liệu là hình ảnh hoặc vật chứng để chứng minh cho yêu cầu của mình nên Kiểm sát viên không được xem nhẹ những tài liệu này, mà việc nhìn tài liệu hoặc hiện vật cũng cần kết hợp với việc đọc tài liệu để có thể hiểu được ý nghĩa, giá trị của hình ảnh, hiện vật đó; kết hợp hình ảnh và tài liệu khác, đối chiếu, so sánh với nhau để tìm sự mâu thuẫn và đồng nhất.
Bốn là, việc ghi chép, đánh dấu tài liệu, trong nhiều trường hợp, Kiểm sát viên phải thụ lý, giải quyết nhiều vụ án, nhiều hồ sơ cùng lúc; đặc biệt là các hồ sơ vụ án phức tạp, có lượng tài liệu lớn thì việc ghi chép những thông tin cần chú ý khi đọc tài liệu như: Tên tài liệu, số bút lục và những thông tin cần thiết là rất quan trọng; nếu việc ghi chép phục vụ dễ dàng việc tra cứu hồ sơ thì việc đánh dấu tài liệu để phục vụ tìm kiếm tài liệu trong hồ sơ hoặc một nội dung nào đó trong một tài liệu trong hồ sơ,… nhằm giúp nâng cao hiệu quả nghiên cứu hồ sơ vụ án cũng như nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án.
Năm là, việc so sánh, đối chiếu tài liệu trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, Cơ quan điều tra thu thập rất nhiều tài liệu trong hồ sơ, nhưng một số trường hợp không phải tất cả các tài liệu đó cũng là tài liệu có thể sử dụng làm chứng cứ nếu không tuân thủ trình tự, thủ tục thu thập theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, việc so sánh, đối chiếu tài liệu là so sánh giữa tài liệu này với tài liệu khác hoặc giữa tài liệu bản chính với bản sao chép lại,… giúp Kiểm sát viên đánh giá chính xác nội dung của tài liệu cũng như phát hiện các mâu thuẫn trong nội dung của tài liệu.
Sáu là, việc phân tích tài liệu, trong vụ án hình sự việc phân tích các tài liệu, chứng cứ thu thập được luôn luôn phải thực hiện, việc phân tích các tài liệu có thể sẽ tìm thấy được những tài liệu có thể bị xóa, cạo, sửa hoặc bị chèn lên,…; trong trường hợp này, Kiểm sát viên phải tìm hiểu, phân tích cho ra là việc xóa, cạo, sửa, chèn lên tài liệu do ai làm?; mục đích là gì và có lợi gì với người đó?; nội dung bị xóa, cạo, sửa, chèn lên là gì?; có cần thiết phải giám định hay không?,… vì vậy, Kiểm sát viên phải phân tích kỹ, đánh giá kỹ các tài liệu mà Cơ quan điều tra thu thập được, để thấy được nội dung của tài liệu, của hồ sơ vụ án cũng như thấy rõ được bản chất của sự việc.
Trong tình hình tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp, tinh vi, thủ đoạn và nguy hiểm; đòi hỏi mỗi Kiểm sát viên phải luôn nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của mình khi giải quyết vụ án, nhất là việc thực hiện các kỹ năng nghiên cứu kỹ các hồ sơ vụ án, phải có sự đầu tư, tìm tòi, nghiên cứu để phát hiện kịp thời những mâu thuẫn, xung đột trong hồ sơ vụ án, phục vụ tốt cho hoạt động phúc cung bị can trong giai đoạn truy tố có hiệu quả, để xây dựng cáo trạng truy tố có chất lượng./.
(Trích bài viết:”Vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên đối với hoạt động phúc cung bị can trong giai đoạn truy tố” của tác giả  Nguyễn Quang Thái,  VKSND huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tạp chí Kiểm sát số 14/2018).

Thủ tục hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hành chính

Nhằm triển khai thi hành quy định khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 về “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” và bảo đảm tính thống nhất với quy định tại Điều 13 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 về “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho những người tham gia tố tụng thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử. Việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử theo quy định của luật tố tụng”, Luật Tố tụng hành chính (Luật TTHC) năm 2015 đã dành nhiều điều khoản quy định về tranh tụng trong xét xử vụ án hành chính. Trong đó đáng chú ý, là Luật TTHC năm 2015 dành các điều khoản riêng biệt để quy định về thủ tục hỏi tại phiên tòa sơ thẩm. Bên cạnh việc kế thừa các quy định hợp lý của văn bản luật cũ, Luật TTHC năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng về thủ tục này theo hướng bảo đảm tính tranh tụng trong tố tụng hành chính.

1. Thứ tự và nguyên tắc hỏi tại phiên tòa

Thứ tự và nguyên tắc hỏi tại phiên tòa được quy định tại Điều 177 Luật TTHC năm 2015. Đây không phải là quy định mới của Luật TTHC năm 2015 mà đã được quy định tại Điều 148 Luật TTHC năm 2010 với tên gọi là hỏi tại phiên tòa. Việc thay đổi tên gọi theo quy định của Luật TTHC năm 2015 là phù hợp, bởi lẽ, nếu đặt tên gọi điều luật là hỏi tại phiên tòa là chưa phù hợp (nội hàm của hỏi tại phiên tòa có phạm vi rất rộng bao gồm việc quy định những chủ thể nào được quyền hỏi, thứ tự hỏi, nội dung hỏi từng người tham gia tố tụng…) Trong khi đó, Điều 148 Luật TTHC năm 2010 chủ yếu lại quy định về việc nghe ý kiến của người tham gia tố tụng và thứ tự hỏi tại phiên tòa.
Theo quy định tại Điều 177 Luật TTHC năm 2015, thì thứ tự và nguyên tắc hỏi tại phiên tòa sơ thẩm được quy định cụ thể như sau:

Sau khi nghe xong lời trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo quy định tại Điều 176 của Luật này, theo sự điều hành của Chủ tọa phiên tòa, thứ tự hỏi của từng người được thực hiện như sau: 
a) Người khởi kiện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện hỏi trước, tiếp đến người bị kiện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện, sau đó là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; 
b) Người tham gia tố tụng khác; 
c) Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân; 
d) Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. 
Việc đặt câu hỏi phải rõ ràng, nghiêm túc, không trùng lặp, không lợi dụng việc hỏi và trả lời để xâm phạm danh dự, nhân phẩm của những người tham gia tố tụng.

Theo quy định trên, có thể dễ dàng nhận thấy, thủ tục hỏi được tiến hành sau khi nghe xong lời trình bày của đương sự. Mục đích của việc hỏi là kiểm tra các tài liệu, chứng cứ, làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án, giải quyết mâu thuẫn trong lời trình bày, yêu cầu, đề nghị của các bên. Nhằm bảo đảm cho việc hỏi tại phiên tòa được thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, đạt được hiệu quả như mong muốn, Luật TTHC năm 2015 quy định rõ việc hỏi phải được thực hiện theo sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa. Theo quy định tại khoản 1 Điều 177 thì những người được quyền hỏi bao gồm: người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người tham gia tố tụng khác, Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân, những người tham gia tố tụng khác, Kiểm sát viên. Có thể nhận thấy, phạm vi chủ thể được quyền hỏi rất rộng bao gồm hầu hết những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Chúng tôi cho rằng, Luật TTHC năm 2015 quy định nhiều chủ thể được quyền tham gia hỏi tại phiên tòa sơ thẩm là điều hợp lý, nhằm làm rõ các vấn đề chưa rõ, còn mâu thuẫn, góp phần giúp Hội đồng xét xử có cái nhìn toàn diện và hiểu rõ bản chất vụ án, đồng thời, các đương sự bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Một điểm sửa đổi đáng chú ý của Luật TTHC năm 2015 so với quy định của Luật TTHC năm 2010 đó là có sự thay đổi thứ tự hỏi tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Theo Khoản 2 Điều 148 Luật TTHC năm 2010, thì thứ tự hỏi được quy định như sau: Chủ tọa phiên tòa hỏi trước, rồi đến Hội thẩm nhân dân, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự, cuối cùng là người tham gia tố tụng khác và Kiểm sát viên. Trong khi đó, Luật TTHC năm 2015 lại quy định theo hướng, đương sự và những người tham gia tố tụng khác lại là những người hỏi trước so với Chủ tọa phiên tòa và Hội thẩm nhân dân. Chúng tôi cho rằng, việc thay đổi này là phù hợp nhằm bảo đảm tính tranh tụng trong hoạt động tố tụng. Chính các đương sự trong vụ án hành chính phải là những người đóng vai trò chính trong việc hỏi tại phiên tòa sơ thẩm nhằm làm rõ các tình tiết, sự kiện liên quan tới vụ án, nhằm chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân giữ vai trò độc lập trong công tác xét xử, nên họ chỉ hỏi các vấn đề chưa rõ ràng mà các bên đương sự chưa đề cập nhằm làm rõ tính hợp pháp của đối tượng khởi kiện để đưa ra phán quyết đúng đắn nhất.
Bên cạnh sửa đổi trên, Luật TTHC năm 2015 còn quy định rõ việc đặt câu hỏi phải rõ ràng, nghiêm túc, không trùng lặp, không lợi dụng việc hỏi và trả lời để xâm phạm danh dự, nhân phẩm của những người tham gia tố tụng. Việc bổ sung quy định này là cần thiết, nhằm bảo đảm chất lượng của các câu hỏi được nêu ra tại phiên tòa đảm bảo tốt trong việc làm sáng tỏ vụ án đồng thời tránh trường hợp các đương sự lợi dụng việc hỏi để xúc phạm, hạ thấp danh dự, nhân phẩm của những người tham gia tố tụng khác.

2. Hỏi người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Luật TTHC năm 2015 kế thừa các quy định của Luật TTHC năm 2010 khi dành các điều khoản riêng biệt để quy định về việc hỏi người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại các Điều 178, 179 và 180. Tuy được quy định tại các điều luật riêng biệt, nhưng tựu trung lại, các điều luật này đều quy định ba nội dung cơ bản sau: một là, trường hợp có nhiều đương sự thì phải hỏi riêng từng người một; hai là, chỉ hỏi đương sự về vấn đề mà đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của các đương sự khác và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người này; ba là, đương sự có thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trả lời thay cho đương sự và sau đó đương sự trả lời bổ sung.
Luật TTHC năm 2015 quy định trường hợp vụ án có nhiều đương sự thì phải hỏi riêng từng người một là điều hợp lý bởi vì đối với các đương sự khác nhau thì yêu cầu của họ cũng khác nhau, những vấn đề cần làm sáng tỏ hoặc các vấn đề còn mâu thuẫn của các đương sự khác nhau cũng khác nhau nên việc quy định hỏi riêng từng đương sự để bảo đảm việc giải quyết vụ án được toàn diện. Luật TTHC năm 2015 cũng đã giới hạn rõ phạm vi hỏi về vấn đề mà đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trình bày chưa rõ, mâu thuẫn trong lời khai của họ với nhau hoặc mâu thuẫn trong lời khai trước đó. Ngoài ra, nhằm bảo đảm thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì Luật TTHC 2015 cũng đã quy định rõ đương sự có thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trả lời thay cho đương sự và sau đó đương sự trả lời bổ sung.

3. Hỏi người làm chứng

Luật TTHC năm 2015 kế thừa hầu hết các quy định của Luật TTHC năm 2010 về hỏi người làm chứng. Theo đó, Điều 181 Luật TTHC năm 2015 quy định rõ việc hỏi người làm chứng ở một số nội dung cơ bản sau:
– Nếu trong vụ án hành chính có nhiều người làm chứng thì phải hỏi riêng từng người một. Quy định này bảo đảm tính khách quan từ lời khai của người làm chứng về các tình tiết liên quan đến vụ án mà họ biết. Ngoài ra, quy định về việc hỏi riêng từng người làm chứng bảo đảm được tính toàn diện trong việc giải quyết vụ án hành chính của Tòa án khi tất cả các tình tiết, sự kiện đều được bảo đảm phải được xem xét để có thể đưa ra phán quyết đúng đắn nhất.
– Trước khi hỏi người làm chứng, Chủ tọa phiên tòa phải hỏi rõ về quan hệ giữa họ với các đương sự trong vụ án; nếu người làm chứng là người chưa thành niên thì Chủ tọa phiên tòa có thể yêu cầu cha, mẹ, người giám hộ hoặc thầy giáo, cô giáo giúp đỡ để hỏi. Việc pháp luật quy định Chủ tọa phiên tòa phải hỏi rõ về quan hệ giữa người làm chứng với các đương sự trong vụ án là điều cần thiết vì đây là một trong những cơ sở để Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể đánh giá tính khách quan, độ tin cậy từ lời khai của họ vì nếu người là chứng có mối quan hệ thân thích với đương sự thì thường họ sẽ đưa ra những lời khai có lợi cho các đương sự trong vụ án.
– Chủ tọa phiên tòa yêu cầu người làm chứng trình bày rõ tình tiết của vụ án mà họ biết. Sau khi người làm chứng trình bày xong thì chỉ hỏi thêm người làm chứng về vấn đề mà họ trình bày chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn với nhau, mâu thuẫn với những lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Như vậy, về nội dung hỏi người làm chứng cũng tương tự như việc hỏi các đương sự trong vụ án là chỉ được hỏi về những vấn đề mà người làm chứng trình bày chưa rõ hoặc còn mâu thuẫn.
– Trường hợp cần thiết phải bảo đảm an toàn cho người làm chứng và những người thân thích của họ, Hội đồng xét xử quyết định không tiết lộ những thông tin về nhân thân của người làm chứng và không để những người trong phiên tòa nhìn thấy họ. Đây là những quy định nhằm bảo vệ an toàn cho người làm chứng tránh trường hợp họ bị đe dọa, trù dập hay trả thù vì cung cấp các thông tin làm chứng gây bất lợi cho một trong các bên đương sự trong vụ án hành chính.
– Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải được sự đồng ý của Chủ tọa phiên tòa mới được tham gia hỏi người làm chứng. Đây là quy định mới được Luật TTHC năm 2015 bổ sung nhằm khẳng định quyền được hỏi của đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Ngoài ra quy định này giúp đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể khai thác hết các tình tiết của vụ án, giúp việc tranh luận của các đương sự hiệu quả hơn.

4. Hỏi người giám định

Tương tự như quy định về việc hỏi người làm chứng, khoản 1 Điều 185 Luật TTHC năm 2015 quy định rõ trước khi đặt câu hỏi để hỏi người giám định thì Chủ tọa phiên tòa yêu cầu người giám định trình bày kết luận của mình về vấn đề được giao giám định. Trên cơ sở trình bày của người giám định thì Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa, có quyền nhận xét về kết luận giám định, được hỏi những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu thuẫn trong kết luận giám định hoặc có mâu thuẫn với chứng cứ khác của vụ án. Chúng tôi cho rằng việc cho phép các chủ trên thực hiện quyền nhận xét về kết luận giám định và quyền được hỏi sẽ góp phần quan trọng trong việc làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, qua đó họ thực hiện quyền tranh tụng hiệu quả hơn, thuyết phục hơn và đưa ra yêu cầu, đề nghị đúng pháp luật. Cũng theo quy định tại khoản 4 Điều 185 Luật TTHC thì nếu có người tham gia tố tụng yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại thì HĐXX có quyền chấp nhận yêu cầu và căn cứ điểm e khoản 1 Điều 187 Luật TTHC năm 2015 để tạm ngừng phiên tòa hoặc không chấp nhận yêu cầu. Như vậy, so với Luật TTHC năm 2010, Luật TTHC năm 2015 có sự sửa đổi đổi, bởi lẽ theo khoản 4 Điều 156 Luật TTHC năm 2010 thì trường hợp giám định bổ sung, giám định lại phải hoãn phiên tòa mà không phải là tạm ngừng phiên tòa.

5. Kết thúc việc hỏi tại phiên tòa

Điều 186 Luật TTHHC năm 2015 cũng quy định rõ việc kết thúc việc hỏi chỉ được tiến hành khi nhận thấy các tình tiết của vụ án đã được xem xét đầy đủ thì Chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác xem họ có yêu cầu hỏi vấn đề gì nữa không; trường hợp có người yêu cầu và xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ thì Chủ tọa phiên tòa quyết định tiếp tục việc hỏi. Trong trường hợp không ai có ý kiến thì phiên tòa được chuyển sang thủ tục tiếp theo. Tuy nhiên nếu có người yêu cầu và xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ thì Chủ tọa phiên tòa quyết định tiếp tục việc hỏi, nếu có người yêu cầu và xét thấy yêu cầu đó là không có căn cứ thì Chủ tọa phiên tòa bác yêu cầu và tuyên bố kết thúc việc hỏi tại phiên tòa. Như vậy, các chủ thể được quyền yêu cầu hỏi thêm gồm: Kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác. Ngoài ra, Điều 192 Luật TTHC năm 2015 quy định rõ việc trở lại việc hỏi và tranh luận khi qua tranh luận hoặc qua nghị án, nếu xét thấy có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc xét hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả của thủ tục hỏi tại phiên tòa sơ thẩm giúp Hội đồng xét xử có được cách nhìn khách quan, toàn diện và rõ ràng các vấn đề liên quan đến vụ án trước khi đưa ra phán quyết về tính hợp pháp của đối tượng khởi kiện.
Tóm lại, Luật TTHC năm 2015 quy định về thủ tục hỏi tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hành chính đã khắc phục được các điểm hạn chế của Luật TTHC năm 2010 và đặc biệt Luật TTHC năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung các quy định về thủ tục hỏi tại phiên tòa sơ thẩm theo hướng, bảo đảm tính tranh tụng trong hoạt động tố tụng hành chính. Tuy nhiên, có thể nhận thấy một số vấn đề về thủ tục hỏi chưa được quy định rõ ví dụ như, người giám định, người làm chứng cũng được quyền hỏi tại phiên tòa sơ thẩm nhưng họ có được quyền hỏi đương sự về tất cả các vấn đề còn chưa rõ ràng, mâu thuẫn hay chỉ hỏi về các vấn đề liên quan đến nhiệm vụ của họ khi tham gia tố tụng; việc hỏi người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quy định như nhau như hiện nay sẽ gây khó khăn cho các chủ thể tố tụng trong việc đặt câu hỏi… Vì vậy, để quy định này được áp dụng đúng và thống nhất trong thực tiễn thì cần sớm có văn bản hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.

Th.S LÊ VIỆT SƠN (GV Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh)

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)

Lý luận về tội phạm – So sánh giữa Bộ luật Hồng Đức và pháp luật hình sự hiện hành

Bộ luật Hồng Đức (còn có tên gọi là Quốc triều hình luật) là công trình pháp luật tiêu biểu của Nhà nước Đại Việt thế kỷ XV. Bộ luật Hồng Đức (BLHĐ) được coi là bộ luật nổi bật nhất, quan trọng nhất và có vai trò đặc biệt trong lịch sử pháp quyền phong kiến Việt Nam. BLHĐ được ban hành năm 1483, gồm 722 điều với nội dung chủ yếu nhằm bảo vệ chế độ quân chủ Triều Lê, bảo vệ tài sản, trật tự, kỷ cương xã hội theo quan điểm Nho giáo. Mặc dù mang bản chất giai cấp phong kiến, nhưng BLHĐ lại chứa đựng nhiều yếu tố tiến bộ như: bảo vệ quyền lợi của người dân, nô tì, tầng lớp dưới; có nhiều quy định bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số… Điều này phản ánh truyền thống nhân đạo, tư tưởng “lấy dân làm gốc”, lấy làng xã làm nền tảng của quốc gia…Tính dân tộc được thể hiện rõ nét trong việc kế thừa và phát huy những thành tựu pháp luật của các triều đại trước, kết hợp với ưu điểm của pháp luật phong kiến Trung Hoa để xây dựng một bộ luật phù hợp với điều kiện địa lý, văn hóa… của nước ta. Pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành, cụ thể là Bộ luật Hình sự (BLHS), trải qua các kỳ lập pháp cũng đã thể hiện phần nào việc kế thừa và phát huy những thành tựu của BLHĐ trong việc quy định các vấn đề về tội phạm. Việc so sánh các quy định về tội phạm trong BLHĐ và pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành để thấy được những tinh hoa trong pháp luật của cha ông; đồng thời học hỏi những kinh nghiệm về xây dựng và áp dụng pháp luật trong thời đại ngày nay.

Thứ nhất, khái niệm tội phạm

Khái niệm tội phạm được quy định rõ tại Điều 8 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), ngược lại trong BLHĐ không có điều luật định nghĩa về khái niệm tội phạm mà quy định tội phạm rất tỷ mỷ và chi tiết trong từng điều luật.
Trong BLHĐ tuy không có điều luật quy định khái niệm tội phạm nhưng qua các điều luật cụ thể có thể khái quát quan niệm của các nhà làm luật phong kiến thiên về dấu hiệu hình thức. Một trong những dấu hiệu hình thức đó là “được quy định trong luật”. Việc thừa nhận dấu hiệu này khẳng định sự hiện diện của nguyên tắc “không có luật thì không có tội” – biểu hiện của nguyên tắc pháp chế trong BLHĐ. Đây cũng được coi là điểm tương đồng với BLHS.
BLHS có sự phân biệt rõ ràng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi bị coi là tội phạm với mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi không bị coi là tội phạm. Hành vi đó có thể chỉ là hành vi vi phạm đạo đức hoặc vi phạm hành chính, vi phạm kỷ luật. Nhưng trong BLHĐ lại không thể hiện sự phân biệt này, theo đó, mọi hành vi bị xử lý và phải chịu trách nhiệm đều bị coi là tội phạm mà không phụ thuộc vào mức độ của tính nguy hiểm. Nhiều hành vi theo BLHS  chỉ coi là vi phạm đạo đức hoặc vi phạm pháp luật khác thì trong BLHĐ được coi là tội phạm. Ví dụ: Điều 99 BLHĐ quy định :“Những cử nhân vào thi hội mà mượn người làm hộ bài thi, cùng người làm hộ đều phải biếm ba tư; thi hương thì phải biếm hai tư. Người giấu sách vở đem vào trường thi phải phạt 80 trượng ”; Điều 130 quy định : “Có tang ông bà cha mẹ và chồng, mà giấu không khóc thì phải tội đồ làm khao đinh, đàn bà đồ làm tang thất phụ. Trong khi có tang mà bỏ đồ tang mặc đồ thường và vui chơi đàn hát thì biếm hai tư. Gặp đàn hát mà nghe hay là dự những tiệc vui mừng đều xử phạt 80 trượng”. Có thể thấy rằng, khái niệm tội phạm trong BLHĐ rộng hơn nhiều so với BLHS .

Thứ hai, về dấu hiệu tội phạm

* Lỗi
BLHS quy định tương đối cụ thể về dấu hiệu lỗi, từ đó phân biệt rõ ràng giữa trường hợp có lỗi và phải chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) với trường hợp không có lỗi và không phải chịu TNHS. Vấn đề này cũng được đề cập và giải quyết trong BLHĐ nhưng không triệt để như BLHS. Trong BLHĐ chỉ đặt ra vấn đề lỗi nhằm phân biệt giữa trường hợp cố ý và trường hợp lầm lỡ để xác định TNHS trong áp dụng cũng như việc quy định hình phạt khác nhau ở các tội cụ thể. Ngoài ra, trong BLHĐ cũng đã dự liệu trường hợp không có lỗi là trường hợp bất khả kháng và xác định trường hợp này không bị xử tội. Chẳng hạn, Điều 182 quy định : “Việc giữ đê không vững vàng hoặc là quan giám đương không ra sức giữ gìn để cho nước lụt làm vỡ đê, làm mất hoa màu của dân thì quan lộ và quan giám đương bị xử biếm hai tư, bãi chức…Nếu đường đê vững chắc lại cố gắng giữ gìn, song vì nước lụt quá to, sức người không chống nổi mà đê vỡ thì không bị xử tội”.
* Mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội
Mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội trong BLHĐ được quan niệm tương tự như trong và theo đó, các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ của tính nguy hiểm của tội phạm cũng là đối tượng, mức độ vi phạm, mức độ hậu quả, động cơ phạm tội…Tuy nhiên, so với quan niệm của BLHS hiện hành thì quan niệm của các nhà làm luật trong BLHĐ lại có điểm khác nổi bật. Theo BLHĐ thì quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân xét về địa vị xã hội, địa vị trong dòng họ, gia đình theo lễ giáo phong kiến lại ảnh hưởng không nhỏ đến mức độ nặng nhẹ của tội phạm. Hay nói cách khác: Mức độ nguy hiểm của tội phạm tỷ lệ thuận với địa vị của nạn nhân và tỷ lệ nghịch với địa vị của chủ thể của tội phạm. Ví dụ: Cùng là mưu giết người nhưng BLHĐ chia thành nhiều trường hợp theo địa vị gia đình, xã hội của nạn nhân. Điều 415 quy định : “Những kẻ mưu giết người, thì xử tội lưu đi châu gần…”; Điều 416 quy định : “Những kẻ mưu giết những bậc tôn trưởng vào hạng cơ thân [1], ông bà ngoại, chồng và ông bà, cha mẹ chồng, đều phải tội chém…”; Điều 417 quy định: “Nô tỳ mà mưu giết chủ, đều phải tội chém…”. Tương tự như vậy, tội đánh người cũng được chia thành nhiều trường hợp tùy thuộc vào địa vị xã hội, gia đình của người phạm tội cũng như của nạn nhân. Điều 472 quy định :“Đánh quan nhị phẩm, kẻ đánh nếu là ngang phẩm hàm thì xử biếm hai tư; kém một bậc thì xử biếm ba tư;…không có quan chức thì xử tội lưu…”; Điều 481 quy định : “Vợ đánh chồng thì xử lưu đi châu ngoài, đánh bị thương, què gãy thì lưu đi châu xa…Vợ lẽ mà phạm tội trên, thì xử nặng hơn một bậc…Nếu vợ lẽ mà đánh vợ cả thì cũng xử như tội đánh chồng”; Điều 482 quy định : “Chồng đánh vợ bị thương, thì xử nhẹ hơn tội đánh bị thương người thường ba bậc…Đánh vợ lẽ bị thương, què trở lên thì đều xử nhẹ hơn tội đánh vợ hai bậc [2]”.
* Chủ thể
BLHS quy định chủ thể của tội phạm là con người cụ thể, có năng lực TNHS. Tuy BLHS không quy định khái niệm năng lực TNHS nhưng quy định cụ thể tình trạng mất năng lực TNHS (Điều 13) và tuổi chịu TNHS (Điều 12). Trong BLHĐ, do không quy định cụ thể vấn đề lỗi nên vấn đề chủ thể nói chung và vấn đề năng lực TNHS nói riêng cũng không được đề cập đến. Tuy nhiên, Điều 16 BLHĐ quy định về độ tuổi của chủ thể là tội phạm như sau: “Những người từ 70 tuổi trở lên, 15 tuổi trở xuống cùng những người bị phế tật, phạm từ tội lưu trở xuống đều cho chuộc bằng tiền…Từ 80 tuổi trở lên, 10 tuổi trở xuống cũng những người bị ác tật, phạm tội phản nghịch, giết người đáng phải tội chết thì cũng phải tâu để vua xét định, ăn trộm và đánh người bị thương thì cho chuộc, còn ngoài ra thì không bắt tội. Từ 90 tuổi trở lên, 7 tuổi trở xuống dầu có bị tội chết cũng không hành hình…”. Theo quy định trên, BLHĐ đã gộp độ tuổi thấp với độ tuổi cao và với người có sự phát triển không bình thường thành từng cặp để xác định mức độ TNHS. Điều này nhằm giải quyết vấn đề nhân đạo trong chính sách hình sự.

Thứ ba, về cách phân loại tội phạm

BLHĐ phân loại tội phạm theo ba cách dựa vào ba tiêu chí  các loại hình phạt, tính chất nghiêm trọng của tội phạm và lỗi của chủ thể. Tuy nhiên, cách phân loại tội phạm dựa theo tiêu chí các loại hình phạt là cách phân loại chủ yếu. Theo đó, tội phạm trong BLHĐ được chia thành năm loại tội tương ứng với năm loại hình phạt là xuy, trượng, đồ, lưu và tử.
Trong BLHS mặc dù mức hình phạt quy định cho tội phạm cũng được coi là một dấu hiệu để phân biệt giữa các tội phạm như trong BLHĐ nhưng lại có sự khác biệt nhất định. Trong BLHS mức cao nhất của khung hình phạt là một trong các dấu hiệu để phân biệt giữa bốn loại tội phạm: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Bốn loại tội phạm này có mức độ tính nguy hiểm cho xã hội là khác nhau[3]. Việc phân loại tội phạm trong BLHS dựa trên tiêu chí là mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội, vì vậy, tên của bốn loại tội này tương ứng với bốn mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội.

Thứ tư, về vấn đề đồng phạm, các giai đoạn phạm tội và phòng vệ chính đáng

Khi quy định về tội phạm, BLHS không thể không quy định vấn đề chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, đồng phạm, phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết. Trong BLHĐ, các vấn đề này chưa được quy định thành các chế định riêng. Tuy nhiên, nội dung của các vấn đề này cũng được thể hiện phần nào trong các quy định cụ thể.
* Đồng phạm
Trong BLHĐ chế định đồng phạm – theo đúng nghĩa của chế định này trong BLHS chưa được quy định. Tuy nhiên, BLHĐ cũng có một số quy định đề cập đến một số nội dung mà những nội dung đó theo luật hiện hành thuộc về vấn đề đồng phạm. Cụ thể: Điều 35, Điều 36 BLHĐ quy định về mức độ TNHS của những người cùng phạm một tội. Hai điều luật này quy định về trường hợp đồng thực hành – trường hợp cụ thể của đồng phạm trong đó những người tham gia đều là người thực hành. Điều 35 quy định :“Nhiều người cùng phạm một tội, thì lấy người khởi xướng[4] làm đầu, người a tòng[5] được giảm một bậc. Nếu tất cả người trong một nhà cùng phạm tội, chỉ bắt người tôn trưởng” và Điều 36 quy định : “Nhiều người cùng phạm một tội mà có người trốn tránh, hiện còn người bắt được xưng ra người đang trốn đứng đầu, mà không đủ người làm chứng, thì định tội người bị bắt là a tòng. Khi bắt được người trốn, xưng ra người bị bắt trước là đứng đầu, tra hỏi đúng thực, thì định tội người bị bắt trước là đứng đầu”. Theo quy định của hai điều luật trên thì người thực hiện tội phạm được phân thành hai loại: Một là người vừa là người thực hiện vừa là người chủ mưu; Hai là người chỉ giữ vai trò thực hiện và BLHĐ quy định người vừa là người thực hiện vừa là người chủ mưu phải chịu hình phạt nặng hơn người chỉ giữ vai trò thực hiện một bậc.
Theo BLHS, vấn đề không tố giác tội phạm và che giấu tội phạm là hai vấn đề không thể tách rời vấn đề đồng phạm. Trong BLHĐ, hai vấn đề này cũng đã được đặt ra. So với BLHS thì vấn đề không tố giác tội phạm trong BLHĐ cũng có điểm giống và khác nhau.
– Cả hai bộ luật đều giống nhau trong việc khẳng định hành vi không tố giác tội phạm phải bị coi là tội phạm và loại trừ TNHS về tội này cho một số đối tượng có quan hệ thân thích nhất định với người phạm tội (trừ một số tội đặc biệt nguy hiểm). Theo Điều 39 BLHĐ thì những đối tượng đó là người thân phải để tang (người phạm tội) từ 9 tháng trở lên, là ông bà ngoại, cháu ngoại, vợ cháu nội, anh em chồng, vợ anh em và đày tớ của người phạm tội.
– Để phù hợp với tính nguy hiểm của một số tội phạm cụ thể, BLHĐ có quy định riêng về việc xử phạt hành vi không tố giác tội phạm với mức phạt khác với quy định chung. Cụ thể: Điều 500 quy định tội không tố giác tội mưu phản loạn, tội mưu đại nghịch; Điều 522 quy định tội không tố giác tội đúc trộm tiền đồng đều phải chịu hình phạt nặng hơn hình phạt chung…
– Trong BLHĐ, hành vi không tố giác tội phạm được quy định có sự phân biệt giữa người phạm tội là quan chức và người phạm tội là dân thường và mức hình phạt đối với quan chức là nặng hơn. Ví dụ: Điều 157 quy định : “Các quan giám lâm [6], quan chủ ty biết thuộc viên phạm tội mà không phát giác, xử biếm hai tư; đàn cư quan [7] biết mà không phát giác, tội cũng như thế. Những người biết hàng xóm mình phạm tội mà không phát giác, tội giảm một bậc”. Tương tự như vậy, Điều 74 quy định :“Những người bán ruộng đất ở bờ cõi cho người nước ngoài thì bị tội chém…Quan phường xã biết mà không phát giác, thì tội giảm một bậc. Quan lộ, huyện, trấn cố ý dung túng, thì cùng một tội; vô tình không biết thì bị xử biếm hay phạt”.
Đối với hành vi che giấu tội phạm, BLHĐ thể hiện thái độ nghiêm khắc hơn so với hành vi không tố giác tội phạm. Các điều luật quy định hình phạt đối với tội che giấu tội phạm như hình phạt đối với tội được che giấu hoặc được giảm một bậc. Điều 654 là điều luật quy định về tội che giấu tội phạm nói chung. Trong đó, điều luật không những quy định mức hình phạt cho tội che giấu tội phạm mà còn mô tả hành vi che giấu. Cụ thể, Điều 654 quy định :“Biết là kẻ có tội, mà còn giấu giếm và chỉ bảo đường lối, cấp áo quần lương thực cho tội nhân đi trốn, thì bị xử nhẹ hơn tội nhân một bậc”. Ngoài điều luật quy định chung như vậy, trong BLHĐ còn một số điều luật khác quy định hành vi che giấu cụ thể. Ví dụ: Điều 411 quy định :“Những kẻ mưu làm phản, mưu làm việc đại nghịch thì xử tội chém bêu đầu…Quan sở tại không biết phát giác và truy bắt, thì phải tội tùy theo việc nặng nhẹ. Cố tình dung túng hay giấu giếm, thì xử như kẻ phạm tội”; Điều 650 quy định :“Những tù nhân bị lưu hay đồ, ở nơi lưu hay nơi đồ chưa đến hạn tha, mà đã bỏ trốn, thì đều phải tội chém…Kẻ tù phạm trốn đến làng xã nào, thì xã quan nơi ấy phải bắt trói đem nộp quan; nếu dung túng giấu giếm, thì xử tội nhẹ hơn kẻ tù trốn ấy một bậc”.
* Phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết
Vấn đề phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết trong BLHĐ đều chưa được quy định thành chế định riêng hoàn chỉnh như trong BLHS. Tuy nhiên, trong BLHĐ cũng đã có những quy định về trường hợp gây thiệt hại cụ thể mà không phải chịu hình phạt do có tình tiết nhất định. Những quy định này phần nào đã phản ánh được ý tưởng về chế định phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết. Điều 646 quy định về việc bắt tội nhân có hai điểm thể hiện rõ quan điểm: loại trừ TNHS cho trường hợp phòng vệ chính đáng. Đó là “Đi bắt tội nhân mà tội nhân chống cự bị người đi bắt đánh chết, hay là vì tội nhân bỏ chạy, đuổi mà đánh chết, hay là tội nhân cùng quẫn quá mà tự sát, thì người đi bắt đều được miễn tội…Nếu người ngoài giúp kẻ tội nhân chống cự người đến bắt, mà người đến bắt đánh chết ngay tại chỗ thì không bị xử tội” hay Điều 485 quy định : “Ông bà, cha mẹ bị người ta đánh, con cháu đánh lại mà không bị què gãy, bị thương thì không phải tội…”. Đối với vấn đề tình thế cấp thiết, BLHĐ không có quy định thể hiện rõ như đối với vấn đề phòng vệ chính đáng.

NCS. VŨ THỊ THÙY DUNG (Giảng viên Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường HN)

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

 


[1] Những người họ hàng thân thích mà kẻ phạm tội phải để tang 1 năm
[2] Vợ đánh chồng chưa bị thương cũng bị coi là phạm tội theo Điều 481. Chồng đánh vợ mà chưa bị thương thì không bị coi là tội phạm mà chỉ bị coi là tội phạm khi đã làm bị thương vợ.
[3] Theo Điều 8 BLHS năm 1999 thì tội phạm được chia thành bốn loại tương ứng với bốn mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội: nguy hại không lớn, nguy hại lớn, nguy hại rất lớn và nguy hại đặc biệt lớn và tương ứng với bốn mức cao nhất của khung hình phạt.
[4] Người khởi xướng: người vừa thực hiện vừa chủ mưu
[5] Người a tòng: người thực hiện
[6] Quan giám lâm: chức quan trông nom các việc ở các địa phương
[7] Đàn cư quan: chức quan đàn hặc những điều sai trái của quan lại

Tòa án có giải quyết việc nuôi con chung khi vợ chồng ly hôn lần thứ hai?

Nếu lần ly hôn thứ nhất Tòa án đã giải quyết giao con cho người vợ/người chồng nuôi dưỡng, sau đó họ đăng ký kết hôn lại và vì nhiều lý do khác nhau họ lại ly hôn thì lần ly hôn thứ hai Tòa án có giải quyết việc nuôi con chung nữa không? Vấn đề này hiện còn quan điểm khác nhau.
 

Nội dung vụ việc:
Năm 2013, Tòa án nhân dân huyện X đã giải quyết bằng bản án, quyết định cho anh T và chị C ly hôn; giao cháu B, sinh năm 2008 cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng cho cháu B vì chị C không yêu cầu.
Năm 2014, anh T và chị C quay lại chung sống và đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật. Trong thời gian chung sống, anh T và chị C tiếp tục phát sinh nhiều mâu thuẫn nên anh T nộp đơn ly hôn chị C và yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh T được quyền nuôi cháu B. Vậy Tòa án có giải quyết yêu cầu nuôi con của anh T không?

 
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Theo quy định của pháp luật thì khi giải quyết tranh chấp về ly hôn, Tòa án phải giải quyết các vấn đề liên quan bao gồm: nuôi con chung, cấp dưỡng, chia tài sản chung… Vì vậy, khi anh T và chị C đăng ký kết hôn lần thứ hai thì giữa anh T và chị C đã tạo lập hôn nhân mới nên khi họ có tranh chấp về nuôi khi ly hôn thì Tòa án phải giải quyết giao con cho một trong hai người vợ hoặc chồng nuôi dưỡng.
Quan điểm thứ hai cũng là quan điểm của tác giả cho rằng: Khi anh T và chị C đăng ký kết hôn lần thứ hai thì quan hệ hôn nhân của họ là hợp pháp. Tuy nhiên, trong thời gian chung sống, sau khi ly hôn giữa anh T và chị C không có thêm người con chung nào khác. Như vậy, nếu anh T và chị C có tranh chấp ly hôn và anh T có yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được quyền nuôi cháu B thì Tòa án chỉ giải quyết ly hôn giữa anh T và chị C. Còn yêu cầu giải quyết nuôi con chung thì Tòa án không được giải quyết. Bởi vì:
– Vấn đề tranh chấp nuôi con (cháu B) giữa anh T và chị C đã được Tòa án giải quyết xong. Cho nên Tòa án không được giải quyết tranh chấp nuôi con giữa anh T và chị C lần thứ hai.
– Bản án giải quyết ly hôn giữa anh T và chị C của Tòa án nhân dân huyện X vẫn còn hiệu lực pháp luật (trừ quyết định cho anh T và chị C ly hôn). Vì bản án chưa bị hủy bỏ hoặc sửa một phần bởi bản án hoặc quyết định nào khác. Cho nên chị C vẫn có quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu B theo Bản án của Tòa án nhân dân huyện X.
– Nếu có căn cứ cho rằng chị C không đảm bảo được điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc… đối với cháu B thì anh T chỉ được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn mà không được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về nuôi con chung.
Rất mong nhận được ý kiến góp ý, trao đổi của bạn đọc.

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)

Những nội dung sửa đổi, bổ sung cơ bản của dự thảo Luật Thi hành án hình sự (sửa đổi)

Ngày 13/9/2018, UBTVQH đã cho ý kiến đối với dự án Luật Thi hành án hình sự (sửa đổi), dự kiến sẽ được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 8. Bài viết sau đây xin giới thiệu những nội dung sửa đổi, bổ sung cơ bản của dự thảo Luật Thi hành án hình sự (sửa đổi).
Luật Thi hành án hình sự năm 2010 được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 17/6/2010 tại Kỳ họp thứ 7, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011. Qua hơn 08 năm thi hành Luật Thi hành án hình sự năm 2010, công tác thi hành án hình sự đã được tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao, bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật và thực hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta trong giáo dục, cải tạo người phạm tội. Tổng kết 08 năm thi hành Luật Thi hành án hình sự năm 2010 có 74,5% người chấp hành xong hình phạt tù, 96,98% người được đặc xá, 98,9% người chấp hành xong hình phạt tại xã, phường, thị trấn đã phấn đấu trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội.[1]
Bên cạnh kết quả đạt được, Luật Thi hành án hình sự năm 2010 đã bộc lộ những bất cập, hạn chế, một số quy định đã không còn phù hợp với tình hình thực tiễn; đặc biệt, từ năm 2011 đến nay, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp mới và nhiều bộ luật, luật có nội dung liên quan đến thi hành án hình sự nên các quy định của Luật Thi hành án hình sự hiện hành không bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với quy định của Hiến pháp và pháp luật có liên quan. Trong tình hình hiện nay, việc sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án hình sự năm 2010 được đặt ra rất cần thiết.
So với Luật Thi hành án hình sự năm 2010, dự thảo Luật mở rộng thêm phạm vi điều chỉnh về thi hành quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện; về thi hành bản án, quyết định về đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định, cấm huy động vốn và các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội; về quyền, nghĩa vụ của pháp nhân thương mại chấp hành án hình sự, biện pháp tư pháp. Việc sửa đổi, bổ sung tập trung vào 03 nhóm nội dung sau đây:

1. Những nội dung sửa đổi, bổ sung để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 liên quan đến quyền con người, quyền công dân

Để cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, dự thảo Luật đã bổ sung Điều 25a quy định về quyền, nghĩa vụ của phạm nhân; đồng thời, trong từng điều luật cụ thể đã chỉnh lý các quy định có liên quan để phù hợp với quy định tại Điều 25a. Điều 25a quy định có 09 nhóm quyền mà phạm nhân được bảo đảm, trong đó, có 01 nhóm quyền quy định mang tính nguyên tắc: “Phạm nhân được hưởng các quyền khác của công dân nếu không bị hạn chế bởi Luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp các quyền đó không thể thực hiện được do họ đang chấp hành án tại Trại giam, cơ sở giam giữ”. Các quy định này là phù hợp với Hiến pháp năm 2013, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 và tính tương thích với các điều ước quốc tế (Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu đối xử đối với tù nhân năm 1955 của Liên hợp quốc).

2. Những nội dung sửa đổi, bổ sung bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật hình sự và các quy định của pháp luật khác có liên quan

Thứ nhất, về thi hành án hình sự, thi hành biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại phạm tội.
– Về cơ quan có trách nhiệm quản lý, cơ quan có trách nhiệm thi hành, cơ quan có trách nhiệm phối hợp thi hành bản án, quyết định của Tòa án đối với pháp nhân thương mại phạm tội.
Để bảo đảm thống nhất hệ thống tổ chức thi hành án hình sự và không làm phát sinh đầu mối mới về cơ quan quản lý thi hành án hình sự, dự thảo Luật quy định theo hướng Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng là Cơ quan quản lý thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội.
Do lĩnh vực kinh doanh, hoạt động của pháp nhân thương mại rất rộng, chịu sự quản lý, cấp phép bởi nhiều cơ quan khác nhau; đồng thời, các hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại rất đa dạng, vì vậy về cơ quan thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội, dự thảo Luật quy định theo hướng có sự kết hợp giữa cơ quan chuyên trách về thi hành án hình sự và các cơ quan, tổ chức khác liên quan đến hoạt động của pháp nhân thương mại phạm tội. Theo đó, dự thảo Luật không quy định tổ chức thêm một cơ quan thi hành án hình sự mới mà giao Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cấp quân khu có nhiệm vụ tổ chức thi hành các hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Đồng thời bổ sung quy định về cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại, đó là cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép, đăng ký kinh doanh, chấp thuận cho pháp nhân thương mại hoạt động, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành trực tiếp liên quan đến việc thi hành các hình phạt, biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại được Tòa án có thẩm quyền giao thực hiện một số nhiệm vụ thi hành hình phạt, biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại.
– Về thi hành hình phạt, biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại
Dự thảo Luật bổ sung 01 chương (Chương X), với 06 mục, 23 điều (từ Điều 140a đến điều 140y) quy định về thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại; cụ thể như sau:
+ Mục 1. Quy định chung về thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội: Mục này có 03 điều (từ Điều 140a đến Điều 140c), quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự đối với pháp nhân thương mại; quyền, nghĩa vụ của pháp nhân thương mại chấp hành án;
+ Mục 2. Đình chỉ hoạt động có thời hạn: Mục này có 04 điều (từ Điều 140d đến Điều 140g), quy định về Quyết định thi hành án phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn; thi hành quyết định thi hành án phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án đối với pháp nhân thương mại; kết thúc thi hành án đình chỉ hoạt động có thời hạn;
+ Mục 3. Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn: Mục này có 03 điều (từ Điều 140h đến Điều 140k), quy định về Quyết định thi hành án phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; thi hành quyết định thi hành án phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án đối với pháp nhân thương mại;
+ Mục 4. Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định: Mục này có 04 điều (từ Điều 140l đến Điều 140o), quy định về Quyết định thi hành án phạt cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; thi hành quyết định thi hành án phạt cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án đối với pháp nhân thương mại; kết thúc thi hành án cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định;
+ Mục 5. Cấm huy động vốn: Mục này có 04 điều (từ Điều 140p đến Điều 140s), quy định về Quyết định thi hành án phạt cấm huy động vốn; thi hành quyết định thi hành án phạt cấm huy động vốn; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án đối với pháp nhân thương mại; kết thúc thi hành án cấm huy động vốn;
+ Mục 6. Thi hành biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại: Mục này có 06 điều (từ Điều 140t đến Điều 140y), quy định về cơ quan được giao nhiệm vụ thi hành quyết định áp dụng biện pháp tư pháp; nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu trong thi hành quyết định áp dụng biện pháp tư pháp; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án đối với pháp nhân thương mại; thi hành Quyết định áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều 82 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); quyền, nghĩa vụ của pháp nhân thương mại chấp hành biện pháp tư pháp.
Thứ hai, về thi hành Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Để bảo đảm thống nhất với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan về tha tù trước thời hạn có điều kiện, dự thảo Luật đã bổ sung 01 mục (Mục 2A) với 18 điều (từ Điều 49a đến Điều 49s) vào Chương III (Thi hành án phạt tù). Các điều khoản này quy định về: Thời điểm xét tha tù trước thời hạn có điều kiện (thực hiện mỗi năm 03 đợt, vào thời điểm kết thúc Quý I, 6 tháng đầu năm, cuối năm); thi hành Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện; Cơ quan quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện (Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội nơi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện về cư trú, làm việc là cơ quan trực tiếp tổ chức quản lý, giám sát và giáo dục người được tha tù trước thời hạn có điều kiện); nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; tiêu chuẩn, trách nhiệm của người được giao quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; nghĩa vụ của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện trong thời gian thử thách; việc lao động, học tập của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; rút ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; thủ tục rút ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; Quyết định rút ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; thực hiện việc kiểm điểm người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; bổ sung hồ sơ thi hành tha tù trước thời hạn có điều kiện; việc đi lại, vắng mặt của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; giải quyết trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc; xử lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm nghĩa vụ hoặc vi phạm pháp luật bị xử phạt vi phạm hành chính; giải quyết trường hợp phạm nhân đã được đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện mà vi phạm nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện và trách nhiệm của gia đình người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Thứ ba, thực hiện những quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ, thi hành án treo.
– Về thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ
Để bảo đảm phù hợp với quy định của của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về hình phạt cải tạo không giam giữ, dự thảo Luật bổ sung các quy định về trình tự, thủ tục, nghĩa vụ của người chấp hành án cải tạo không giam giữ; trình tự, thủ tục chuyển đổi hình thức “khấu trừ thu nhập” sang “lao động phục vụ cộng đồng”; bổ sung quy định về tiêu chuẩn, trách nhiệm của người được giao giám sát, giáo dục người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; giải quyết trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ không có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu; việc đi lại, vắng mặt của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ.
– Về thi hành án treo
Dự thảo Luật đã bổ sung quy định nghĩa vụ của người chấp hành án phạt tù cho hưởng án treo trong thời gian thử thách; về xử lý người chấp hành án treo vi phạm nghĩa vụ; giải quyết trường hợp người chấp hành án treo bỏ trốn; tiêu chuẩn, trách nhiệm của người được giao giám sát, giáo dục người chấp hành án phạt tù cho hưởng án treo; rút ngắn thời gian thử thách đối với người chấp hành án phạt tù cho hưởng án treo; quyết định rút ngắn thời gian thử thách; việc đi lại, vắng mặt của người chấp hành án phạt tù cho hưởng án treo.
Thứ tư, để phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), dự thảo Luật đã bãi bỏ những quy định về thi hành biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người dưới 18 tuổi của Luật Thi hành án hình sự năm 2010.

3. Những nội dung sửa đổi, bổ sung khắc phục những khó khăn, vướng mắc sau 8 năm thi hành Luật Thi hành án hình sự năm 2010

Để khắc phục những khó khăn, vướng mắc khi thi hành Luật Thi hành án hình sự năm 2010, dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung những quy định sau:
– Đã bổ sung một điều quy định về quyền và nghĩa vụ của phạm nhân (được trình bày tại điểm a mục 1 Phần V Tờ trình này);
– Sửa đổi Điều 24 (Thi hành quyết định hoãn chấp hành án phạt tù) Luật Thi hành án hình sự năm 2010 theo hướng bổ sung quy định gửi quyết định hoãn chấp hành án phạt tù cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người được hoãn chấp hành án về cư trú. Đồng thời, bổ sung quy định: “Đối với người được hoãn bị bệnh nặng và khó xác định tình trạng sức khỏe thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh có trách nhiệm trưng cầu giám định y khoa và đề nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với người được hoãn có dấu hiệu nghi mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức”;
– Bổ sung quy định về hồ sơ quản lý phạm nhân; Ban tự quản phạm nhân; xếp loại chấp hành án phạt tù. Đồng thời, sửa đổi, bổ sung nhiều quy định có liên quan về chế độ giam giữ, trích xuất phạm nhân phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử, phục vụ yêu cầu nghiệp vụ; chế độ giam giữ cho các đối tượng đặc biệt để thống nhất trong tổ chức thực hiện;
– Đã sửa đổi, bổ sung các quy định khác có liên quan trong dự thảo Luật để bảo đảm phù hợp với các nhóm nội dung sửa đổi, bổ sung nêu trên. Ngoài ra,  Dự thảo Luật đã được rà soát, chỉnh lý về kỹ thuật để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và phù hợp quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015./.

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)


[1] Xem Tờ trình số 342/TTr-CP ngày 22 tháng 8 năm 2018 của Chính phủ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án hình sự.

Cần thống nhất cách hiểu thời điểm xác định “người dưới 18 tuổi bị kết án”

Trong thực tế còn có cách hiểu cụm từ: “người dưới 18 tuổi bị kết án” là tính vào thời điểm nào, dẫn đến cách tính bị cáo có tái phạm, tái phạm nguy hiểm hay không khi phạm tội mới chưa thống nhất.
 Theo Điều 107 Bộ luật hình sự năm 2015 xóa án tích, quy định:

1. Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi;
b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý;
c) Người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 Chương này.
2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đương nhiên được xóa án tích nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
a) 06 tháng trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;
b) 01 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;
c) 02 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;
d) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm.

Tại điều luật trên có quy định cụm từ “Người dưới 18 tuổi bị kết án“,  “người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án hay ”Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án. Như vậy, cần xác định tuổi (dưới 18 tuổi, đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi , đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi) là vào thời điểm nào? khi xét xử bị kết án hay thời điểm khi người đó phạm tội.
Trong thực tế, có những ý kiến trái chiều nên vận dụng pháp luật khác nhau khi tính toán để xác định tái phạm hay tái phạm nguy hiểm.
Ý kiến thứ nhất: Thời điểm xác định độ tuổi dưới 18 tuổi theo Điều 107 BLHS là vào thời điểm người đó bị kết án tức vào thời điểm bị xét xử, bởi vì:
Theo cấu trúc từ ngữ trong câu tại Điều 107 BLHS năm 2015 quy định rõ;  “người dưới 18 tuổi bị kết án” ở đây quy định là kết án chứ không phải là phạm tội khác với các quy định tại Điều 91 BLHS 2015 nêu rõ “người dưới 18 tuổi phạm tội”. Kết án là một thủ tục tố tụng, còn phạm tội là thời điểm thực hiện hành vi trái pháp luật, bị xử lý theo BLHS.
Trong BLHS năm 2015 có nhiều từ ngữ ở các điều luật xác định thời điểm tính tuổi người dưới 18 tuổikhác nhau. Độ tuổi theo quy định tại Điều 91 BLHS năm 2015 là tính thời điểm phạm tội, còn độ tuổi theo quy định tại Điều 107 BLHS năm 2015 là tính đến thời điểm người bị kết án.
Mặt khác, tại khoản 7 Điều 91 BLHS năm 2015 quy định “Án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm” quy định này bao hàm cả  quy định tại điểm a khoản 1 Điều 107 BLHS 2015,  vì: ” không tính để xác định tái phạm”, “đương nhiên xóa án tích”, “coi như không có án tích” đều có thể hiểu giống nhau.
Như vậy, chỉ khi bị kết án mà người đó dưới 18 tuổi mới được hưởng các quy định theo Điều 107 BLHS năm 2015. Quy định này không áp dụng đối với trường hợp người khi phạm tội dưới 18 tuổi nhưng khi bị kết án đã trên 18 tuổi (người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng các quy định tại Điều 91). Quy định này chỉ nhằm xem xét giảm nhẹ đối với người khi bị kết án là người dưới 18 tuổi.
Ví dụ: A sinh ngày 10/11/1993, ngày 12/05/2011 (khi chưa đủ 18 tuổi) trộm cắp tài sản trị giá 30.000.000 đồng. Ngày 12/9/2011, A bị xét xử về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự, vào thời điểm xét xử A dưới 18 tuổi, phạm tội ít nghiêm trọng nên A coi như không có án tích. Tuy nhiên, trong trường hợp này nếu xét xử vào sau ngày 10/11/2011 tức khi kết án A trên 18 tuổi thì A không được coi là không có án tích.
Ý kiến thứ hai: Thời điểm xác định độ tuổi dưới 18 tuổi là vào thời điểm phạm tội, bởi vì: theo quy định của BLHS 1999 thì “người chưa thành niên phạm tội” tức vào thời điểm phạm tội chưa thành niên, BLHS năm 2015 quy định  “người  dưới 18 tuổi bị kết án” tuy không nêu rõ thời điểm xác định độ tuổi dưới dưới 18 là vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội hay thời điểm bị kết án. Nhưng theo hướng có lợi cho người phạm tội, đồng thời để đảm bảo sự công bằng trong xử lý thì cần coi thời điểm để xác định độ tuổi dưới 18 là vào thời điểm người đó thực hiện hành vi phạm tội (ngày phạm tội), khi kết án họ cần được hưởng các quy định nhân đạo của Điều 107 BLHS 2015.
Ví dụ: trong tình huống của ý kiến thứ nhất thì khi phạm tội A chưa đủ 18 tuổi nên nếu kết án A vào thời điểm A đã trên 18 tuổi (sau ngày 10/11/2011) thì A vẫn được coi là không có án tích. 
Tác giả đồng tình với ý kiến thứ hai, trường hợp này cần xác định độ tuổi dưới 18 tuổi là vào thời điểm phạm tội, bởi vì:
Người dưới 18 tuổi khi phạm tội có những hạn chế về nhận thức, về mặt tâm sinh lý cũng chưa phát triển hoàn thiện ổn định, họ phải chịu trách nhiệm theo pháp luật về hành vi phạm tội của mình nhưng cũng cần có những quy định khác với người đã thành niên phạm tội  để họ được dễ hòa nhập cộng đồng sau khi bị kết án về hành vi họ gây ra khi dưới 18 tuổi.
Với từ ngữ dùng trong quy định Điều 107 BLHS năm 2015 thì thể hiện dưới 18 tuổi tính đến thời điểm người đó bị kết án, như vậy phải đến thời điểm bị kết án mà chưa 18 tuổi mới được hưởng quy định này, thì pháp luật được áp dụng hay không sẽ phụ thuộc vào các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết nhanh hay chậm vụ án, phụ thuộc vào các yếu tố khách quan, chủ quan khác,  từ đó tạo nên sự không công bằng, thống nhất trong áp dụng pháp luật, điều này là không đúng.
Đồng thời, khoản 2 Điều 107 BLHS năm 2015 quy định thời hạn đương nhiên xóa án tích đối với người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (ngắn hơn người đã thành niên). Nếu hiểu chỉ khi bị kết án dưới 18 tuổi mới được hưởng quy định này, thì người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi ở thời điểm phạm tội không được hưởng chính sách gì về xóa án tích (như vậy sẽ bất lợi so với quy định đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định của BLHS 1999.
Thiết nghĩ, cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu hướng dẫn để áp dụng cho thống nhất, đồng thời sửa đổi từ ngữ dùng trong Điều 107 BLHS năm 2015, cụ thể, thay cụm từ “người dưới 18 tuổi bị kết án” bằng “người dưới 18 tuổi phạm tội” đảm bảo pháp luật quy định rõ ràng, cụ thể, phù hợp.

Nguồn: Tạp chí kiểm sát (kiemsat.vn)

Yêu cầu thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong giai đoạn xét xử

Suy đoán vô tội là một nguyên tắc đặc biệt quan trọng của nền tư pháp dân chủ, nhân đạo, là tiêu chí “phẩm giá của một nền tư pháp văn minh”, “nguyên tắc nền tảng của tố tụng hình sự ”. Đây là công cụ pháp lý hữu hiệu trong việc bảo vệ quyền con người. Với nội dung cơ bản, xuyên suốt là việc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nguyên tắc suy đoán vô tội đặt ra các yêu cầu chi phối toàn bộ hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong đó, quan trọng nhất là Tòa án – cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, chủ thể duy nhất có quyền xác định một cá nhân là có tội hay không có tội bằng bản án có hiệu lực pháp luật.

1. Nội dung cơ bản của nguyên tắc suy đoán vô tội

Suy đoán vô tội manh nha từ thời cổ đại trong Bộ luật cổ Manu của Ấn Độ, xuất hiện lần đầu tiên ở thời La Mã cổ đại thế kỷ thứ VI khi hoàng đế La Mã ban hành bản tóm lược luật La Mã với nội dung: “Chứng minh là công việc thuộc về anh ta – người khẳng định chứ không phải là người phủ định”. Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc đã quy định: “Bất kỳ người bị buộc tội nào đều có quyền suy đoán là không phạm tội cho đến khi lỗi của người đó được xác định theo một trình tự do pháp luật quy định bằng phiên tòa xét xử công khai của Tòa án với sự đảm bảo đủ khả năng bào chữa của người đó”. Pháp luật tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới đã thừa nhận nguyên tắc trên và coi nguyên tắc suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc của tố tụng hình sự.
Ở Việt Nam, nguyên tắc suy đoán vô tội được cam kết thực hiện thông qua sự kiện Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 24/9/1982. Được quy định chính thức tại khoản 1 Điều 13 Hiến pháp năm 2013: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Điều 13 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”.
Suy đoán được hiểu là sự công nhận một vấn đề nào đó là đúng cho đến khi chứng minh được điều ngược lại. Trong pháp luật, là suy đoán pháp lý nên suy đoán vô tội là một quan điểm pháp lý coi một người không phải là người phạm tội khi người đó chưa bị Tòa án kết tội bằng bản án có hiệu lực pháp luật. Suy đoán vô tội thể hiện quan điểm của Nhà nước tôn trọng danh dự, nhân phẩm của con người, tôn trọng tính “bản thiện”, loại trừ định kiến, kết tội một chiều trong quá trình tố tụng.
Theo nghĩa chung nhất, nguyên tắc suy đoán vô tội gồm bốn nội dung sau đây:
Thứ nhất: Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được suy đoán vô tội cho đến khi có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Đòi hỏi bất cứ tội phạm nào cũng phải được chứng minh theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định, quyền suy đoán vô tội được áp dụng trong toàn bộ quá trình tố tụng, ngay cả trước khi khởi tố vụ án cho đến khi có bản án kết tội, do đó, chủ thể của quyền suy đoán vô tội bao gồm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm quyền này bao gồm các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Thứ hai: trách nhiệm chứng minh thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhưng không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình.
Chủ thể buộc tội phải chứng minh rõ việc phạm tội, nếu còn bất cứ sự nghi ngờ nào, phải được suy đoán có lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Nếu không chứng minh được tội phạm mặc dù có niềm tin nội tâm về việc phạm tội và có những căn cứ để nghi ngờ việc phạm tội thì Tòa án có thể không kết tội và tuyên bố bị cáo không phạm tội.
Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình, có nghĩa: 1) họ không bị buộc phải đưa ra lời khai hoặc phải nêu về những chứng cứ mà họ có; 2) việc họ nhận tội không được coi là “nữ hoàng của chứng cứ” và có thể được sử dụng làm căn cứ để buộc tội, chỉ khi được khẳng định bằng hệ thống những chứng cứ trong vụ án; 3) việc từ chối không tham gia vào việc chứng minh không dẫn đến những hậu quả tiêu cực đối với việc thừa nhận một phần lỗi của mình, cũng như đối với việc xác định biện pháp trách nhiệm hình sự[1]. Theo đó, sẽ không có sự can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp hay áp lực tâm lý từ các cơ quan tiến hành tố tụng đối với người bị tạm giữ, bị can hay bị cáo nhằm ép họ nhận tội; nghiêm cấm việc tra tấn và các hình thức đối xử tồi tệ khác để buộc bị cáo phải thú tội; và những lời khai hoặc lời nhận tội thu được từ những hành động này không được sử dụng làm chứng cứ, trừ khi chúng được sử dụng làm bằng chứng của việc tra tấn hoặc những đối xử khác trái với quy định[2]. Đồng thời, đây cũng là một nội dung của quyền im lặng, theo đó, người bị cáo buộc phạm tội có quyền nói hoặc giữ im lặng trong giai đoạn điều tra và giai đoạn xét xử tại Tòa án, và sự im lặng này không được coi là một lý do để xác định có tội hay vô tội[3].
Thứ ba: mọi nghi ngờ trong quá trình chứng minh tội phạm của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không được loại trừ theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định thì phải được giải thích có lợi cho họ.
Hay, “Trong trường hợp tội phạm được hiểu theo hai nghĩa thì phải giải thích có lợi cho người bị điều tra, truy tố, xét xử.[4]”
Nghi ngờ là trạng thái hoài nghi, lưỡng lự, do nhận thức chưa đầy đủ nên không khẳng định được chắc chắn về sự đúng đắn hay không đúng đắn của vấn đề nào đó. Nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi sự buộc tội phải dựa trên những chứng cứ xác thực không còn nghi ngờ. Mọi nghi ngờ phải được kiểm tra, làm rõ, nếu không thì phải giải thích theo hướng có lợi cho họ. Trong thực tế nếu xảy ra tình huống các chứng cứ buộc tội yếu, có khả năng làm oan và có khả năng bỏ lọt mặc dù cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết mà pháp luật quy định, thì trong trường hợp này, nguyên tắc suy đoán vô tội được thực hiện theo hướng “thà bỏ lọt tội phạm còn hơn làm oan người vô tội”.Tính nhân đạo của nguyên tắc ở nội dung này còn thể hiện ở việc trách nhiệm chứng minh thuộc về bên buộc tội, cho nên nếu không chứng minh được thì người bị buộc tội luôn được hưởng lợi từ những sự nghi ngờ. Do đó, nguyên tắc suy đoán vô tội vừa có vai trò bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đồng thời là một động lực buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định sự thật khách quan của vụ án.
Thứ tư: Bản án kết tội của Tòa án không được dựa trên các giả định.
Bản án của Tòa án là văn bản pháp lý thể hiện kết quả của hoạt động xét xử. Bản án kết tội của Tòa án xác định một người là tội phạm và phải chịu hậu quả pháp lý hình sự, do đó, bản án phải chính xác, có căn cứ, hợp lý, không thể dựa trên các giả định. Bởi vì giả định chỉ là khả năng, không phải là sự thật khách quan. Tòa án không thể bác bỏ “suy đoán” vô tội bằng các “giả định” phạm tội.
Bên cạnh bốn nội dung cơ bản nêu trên của nguyên tắc suy đoán vô tội, một số nhà khoa học luật hình sự còn cho rằng, nguyên tắc suy đoán vô tội còn hai khía cạnh nội dung là: bảo vệ sự suy đoán vô tội trong thực tế: mọi cơ quan công quyền không được có định kiến về kết quả xét xử; sau khi tuyên bố trắng án: nếu một người đã được tha bổng bởi phán quyết cuối cùng của Tòa án thì phán quyết này có giá trị ràng buộc đối với tất cả các cơ quan nhà nước[5]. Chúng tôi cho rằng, hai khía cạnh nội dung này cũng nằm trong bốn nội dung cơ bản của nguyên tắc suy đoán vô tội, thể hiện giá trị pháp lý của bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo.

2.Yêu cầu thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong giai đoạn xét xử

Với tư cách là một nguyên tắc đặc biệt quan trọng của tố tụng hình sự, nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội chi phối tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự, trong đó có giai đoạn trung tâm của quá trình tố tụng – giai đoạn xét xử.
Thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong giai đoạn xét xử đòi hỏi (yêu cầu) phải được bảo đảm thực hiện bằng nhiều khía cạnh nội dung và hình thức. Có thể đề cập đến một số yêu cầu cơ bản như sau:
Thứ nhất: Xây dựng nhận thức thống nhất trong toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức Tòa án nhân dân các cấp về nguyên tắc suy đoán vô tội.
Nguyên tắc dù có tiến bộ đến đâu cũng không có ý nghĩa nếu không được thực thi trong xã hội. Để áp dụng đúng đắn nguyên tắc suy đoán vô tội trong giai đoạn xét xử thì yêu cầu trước tiên đối với cán bộ, công chức Tòa án là phải quán triệt, nhận thức sâu sắc những nội dung của nguyên tắc này.
Để xây dựng nhận thức thống nhất của cán bộ, công chức Tòa án về nguyên tắc suy đoán vô tội, có thể áp dụng một số biện pháp sau:
– Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự nói riêng.
– Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, khắc phục các biểu hiện vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội như: xu hướng buộc tội một chiểu, chỉ căn cứ kết luận điều tra, cáo trạng của Viện kiểm sát; xem xét phiến diện, chỉ tập trung vào khía cạnh buộc tội; luôn “thống nhất” cao giữa các cơ quan tố tụng trong mọi vụ án…
Thứ hai: Bảo đảm quyền suy đoán vô tội của bị can, bị cáo trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tố tụng tại phiên tòa.
– Hạn chế tối đa việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo: Bởi vì bị can, bị cáo được suy đoán vô tội nên các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự như tạm giam chỉ được áp dụng trong trường hợp thực sự cần thiết, tương xứng giữa mức độ nghiêm khắc của biện pháp cưỡng chế và mục đích của biện pháp này. Tòa án phải cân nhắc thận trọng khi tạm giam hoặc tiếp tục tạm giam bị can. Chỉ tạm giam bị can trong giai đoạn xét xử khi không áp dụng biện pháp ngăn chặn hoặc không thể áp dụng biện pháp ngăn chặn nào khác mà vẫn đạt được mục đích mong muốn. Đồng thời, cần tăng cường xem xét trách nhiệm của người tiến hành tố tụng nếu áp dụng biện pháp ngăn chặn không hợp pháp, hợp lý xâm hại đến quyền và lợi ích chính đáng của người bị buộc tội.
– Tòa án có trách nhiệm xét xử nhanh chóng, kịp thời: Bị can, bị cáo bị đặt vào trình trạng pháp lý bất lợi, phải chịu các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự và luôn bị đe dọa áp dụng trách nhiệm pháp lý nghiêm trọng nhất là hình phạt, trong khi theo nguyên tắc suy đoán vô tội thì họ được coi là người vô tội. Do đó, thời hạn xét xử dài sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người liên quan trong vụ án. Vì vậy, xét xử nhanh chóng, kịp thời là một yêu cầu của việc thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội.
Tòa án được nghiên cứu hồ sơ, giải quyết vụ án trong thời hạn do pháp luật tố tụng quy định nhưng đồng thời Tòa án cũng có trách nhiệm phải đẩy nhanh tiến độ giải quyết, rút ngắn tối đa thời gian tố tụng tại Tòa án để đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự. Đặc biệt, Tòa án không được kéo dài thời gian tố tụng để “cố gắng” chứng minh được tội phạm.
– Bị cáo được xuất hiện tại phiên tòa với trang phục phù hợp, không bị coi là người phạm tội: Hình ảnh bị cáo tại phiên tòa là ấn tượng ban đầu, có tác động đến tư tưởng hoặc có thể tạo ra định kiến về nhân thân bị cáo đối với những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại Tòa án. Do đó, được suy đoán vô tội yêu cầu bị cáo phải có trang phục như người không phạm tội. Cụ thể: “Tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự, bị cáo là người được tại ngoại và bị cáo đang tạm giam được sử dụng thường phục, nhưng phải đảm bảo sự trang nghiêm; bị cáo là quân nhân tại ngũ được sử dụng quân phục thường dùng, nhưng không đeo quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu.[6]”
Đồng thời, việc xưng hô tại phiên tòa cũng phải thể hiện rõ sự tôn trọng sự suy đoán vô tội của bị cáo. HĐXX và những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng không được sử dụng những cách xưng hô có tính chất ám chỉ, miệt thị, đay nghiến hoặc biểu hiện thái độ bực tức, khó chịu đối với bị cáo.
– Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, căn cứ kết quả tranh tụng để Tòa án ra bản án kết tội hoặc tuyên bố vô tội.
Theo nguyên tắc suy đoán vô tội, thì bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội, nhưng được tạo các điều kiện để chứng minh mình không phạm tội. Vì vậy, nguyên tắc suy đoán vô tội yêu cầu Tòa án luôn phải đảm bảo quyền bào chữa và quyền được tranh luận dân chủ với bên buộc tội của bị cáo tại phiên tòa.
“Khi xét xử, các Tòa án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng truớc pháp luật… việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn dân sự và những người có quyền, lợi ích hợp pháp.” “Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để Luật sư tham gia vào quá trình tố tụng: tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên tòa.” Đó là những định hướng cải cách tư pháp trong Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị.
Thực hiện BLTTHS năm 2003, thủ tục xét hỏi tại phiên tòa đặt trách nhiệm buộc tội – chứng minh tội phạm hầu như tập trung vào HĐXX. HĐXX phải chịu toàn bộ gánh nặng trách nhiệm chứng minh, còn các bên buộc tội và gỡ tội chỉ tham gia quá trình này ở mức độ rất hạn chế. Chính vì vậy, làm cho quá trình tranh tụng tại phiên tòa không đúng bản chất, dẫn đến Tòa án vừa không đảm nhiệm tốt chức năng xét xử của mình và lại đồng thời làm chức năng buộc tội. Nó hạn chế tính tích cực, chủ động của các bên tranh tụng, ảnh hưởng tới vịêc làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.
BLTTHS năm 2015 đã có những sửa đổi quan trọng để bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được thực thi trên thực tế: 1) Bổ sung vào hệ thống các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm, quy định rõ để bảo đảm tranh tụng trong xét xử: quá trình tranh tụng phải được thực hiện ở mọi giai đoạn; các chủ thể có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ; mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội và các tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa. 2) Bổ sung cho người bào chữa có quyền thu thập chứng cứ, người bị buộc tội có quyền đưa ra chứng cứ. 3) Bổ sung cơ chế bảo đảm cho người bị buộc tội nắm được các chứng cứ buộc tội. 4) Đổi mới trình tự xét hỏi tại phiên tòa nhằm tăng cường trách nhiệm, sự chủ động của các chủ thể tố tụng: chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định người hỏi trước, hỏi sau hoặc cho bị cáo được hỏi về các vấn đề liên quan đến bị cáo nếu được chủ tọa đồng ý. 5) quy định không giới hạn Kiểm sát viên tham dự phiên tòa và trách nhiệm tranh tụng đến cùng của Kiểm sát viên. 6) Quy định tranh tụng ở mọi phiên tòa: sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.[7]
Như vậy, việc cụ thể hóa nội dung nguyên tắc tranh tụng trong BLTTHS năm 2015 đã khắc phục được một số hạn chế trước đây. Thực hiện tốt những nội dung của nguyên tắc tranh tụng này là đồng thời đảm bảo cho nguyên tắc suy đoán vô tội của bị cáo.
Thứ ba: Thực hiện nghiêm chỉnh quy định về trách nhiệm chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự.
– Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Bởi vì không thể buộc người đang được coi là vô tội chứng minh mình vô tội. Do đó, bị cáo có quyền im lặng, không khai báo về hành vi phạm tội của mình. Tòa án không thể coi việc bị cáo không khai báo làm căn cứ để tăng nặng trách nhiệm hình sự khi buộc tội và quyết định hình phạt đối với bị cáo.
– Mọi nghi ngờ phải được giải thích và áp dụng pháp luật theo hướng có lợi cho bị cáo. Nếu có nghi ngờ về lỗi của bị cáo mà không thể bổ sung gì hơn được về chứng cứ thì phải tuyên là bị cáo vô tội chứ không đòi hỏi phải có căn cứ xác định bị cáo vô tội. Hay nói cách khác, trong giai đoạn xét xử mà không thể thu thập được chứng cứ chứng minh tội phạm, không thể kết luận được những nội dung chủ yếu quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015 thì Tòa án không kết tội bị cáo.
– Bản án của Tòa án không được dựa trên giả định, phải có căn cứ, xác định, hợp lý, hợp pháp. Bản án kết tội phải là bản án có đủ các chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, chứng minh được là bị cáo có tội. Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ được coi là chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án (khoản 2 Điều 98 BLTTHS 2015); không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội (khoản 3 Điều 98 BLTTHS 2015); Không được dùng làm chứng những tình tiết do người làm chứng, người bị hại trình bày, nếu họ không thể nói rõ hơn vì sao biết được tình tiết đó (khoản 2 Điều 91, 92 BLTTHS 2015). Trong nội dung bản án phải phân tích lý do mà HĐXX không chấp nhận những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng (Điều 260 BLTTHS 2015).
Thứ tư: Yêu cầu chất lượng bản án, quyết định.
Bản án của Tòa án là văn kiện pháp lý nhân danh Nhà nước xác định sự kiện có tội hay không có tội của bị cáo. Bản án có ý nghĩa thực hiện đồng thời chức năng của pháp luật hình sự là giáo dục phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng.
Để đạt mục đích này, đòi hỏi bản án phải làm cho bị cáo “tâm phục, khẩu phục”, làm cho người dân thấy rằng quyết định của bản án là hệ quả tất yếu của việc phạm tội nếu bị cáo phạm tội hoặc luôn là bằng chứng minh oan cho bị cáo nếu bị cáo không phạm tội hoặc không chứng minh được việc phạm tội của bị cáo.
Theo đó, bản án phải phân tích đầy đủ, có căn cứ pháp lý và thực tiễn vững chắc, có lý lẽ thuyết phục, logic, thấu tình, đạt lý, hợp pháp, hợp lý, dễ hiểu, phải đánh giá một cách khách quan, công bằng, bình đẳng những chứng cứ buộc tội, chứng cứ không có tội, chứng cứ gỡ tội, chứng cứ xác định bị cáo có tội thì là tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của BLHS, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nếu bị cáo không có tội thì bản án phải ghi rõ những căn cứ xác định bị cáo không có tội và việc giải quyết khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của họ; đặc biệt, bản án phải phân tích lý do mà HĐXX không chấp nhận những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, đương sự và người đại diện… (Điều 260 BLTTHS)
Thứ năm: Thực hiện phối hợp các nguyên tắc có liên quan đến nguyên tắc suy đoán vô tội.
Trong tố tụng hình sự có nhiều nguyên tắc khác nhau, nhưng các nguyên tắc này có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau. Sẽ là sai lầm nếu chỉ thực hiện hay chỉ đề cao một nguyên tắc nào đó. Suy đoán vô tội là nguyên tắc thể hiện tính chất dân chủ và nhân đạo, có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ với các nguyên tắc: tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân; bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo; nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án; nguyên tắc đảm bảo hai cấp xét xử; nguyên tắc bảo đảm bình đẳng trước Tòa án[8]:
– Trong đó, nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân là nguyên tắc mang tính nền tảng, nguyên tắc suy đoán vô tội là sự thể hiện cụ thể và chi tiết của nguyên tắc này, thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội tức là thực hiện nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân.
– Trong quan hệ với nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo thì nguyên tắc suy đoán vô tội là nền tảng, là sự thể hiện những bảo đảm pháp lý cho nguyên tắc này. Vi phạm quyền bào chữa ở chừng mực nhất định nào đó là vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội và ngược lại.  Việc thực hiện nguyên tắc bào chữa góp phần nâng cao nhận thức đúng đắn của nhân dân về vị trí của bị cáo trong tố tụng hình sự – họ chưa phải là người có tội.
– Thực hiện tốt nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ là tiền đề để thực hiện nguyên tắc xác định sự thật của vụ án và ngược lại thực hiện tốt nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án giúp nguyên tắc suy đoán vô tội được thực thi trên thực tế.
– Thực hiện tốt nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ đảm bảo cho việc tuân thủ nguyên tắc hai cấp xét xử và ngược lại.
– Nguyên tắc bình đẳng yêu cầu Tòa án phải bảo đảm tranh tụng, không thể coi trọng bên buộc tội hơn bên gỡ tội và ngược lại. Do đó, việc tuân thủ nguyên tắc suy đoán vô tội tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện nguyên tắc bình đẳng và ngược lại.
Do đó, để thực hiện tốt nguyên tắc suy đoán vô tội, đòi hỏi phải thực hiện phối hợp với các nguyên tắc cơ bản, có liên quan của tố tụng hình sự. Tóm lại, suy đoán vô tội là một nguyên tắc quan trọng của tố tụng hình sự, góp phần hạn chế các vụ án oan, sai nghiêm trọng. Đối với cơ quan Tòa án, nguyên tắc suy đoán vô tội lại cần phải được đặc biệt quan tâm và bảo đảm thực thi tốt trong thực tiễn để nâng cao chất lượng xét xử, đảm bảo phán quyết của Tòa án phải đúng pháp luật, bảo vệ công lý, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân. Để thực hiện tốt nguyên tắc này, đặt ra yêu cầu phải thực hiện đồng thời, đồng bộ các giải pháp và thống nhất với các nguyên tắc cơ bản khác của tố tụng hình sự.

PHÍ THÀNH CHUNG (Tòa án nhân dân tp Hà Nội)

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

 


[1] TS. Nguyễn Thành Long, Nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, 2011, tr. 57.
[2] Điều 15 Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm (CAT, 1984).
[3] Điều 55(2)(b), 67(1)(g) quy chế Rome.
[4] Điều 82 quy chế Rome.
[5] Xem thêm: PGS.TS. Vũ Công Giao, Ths. Nguyễn Minh Tâm, Bảo đảm quyền được suy đoán vô tội theo tinh thần hiến pháp năm 2013, trong sách: Thực hiện các quyền Hiến định trong Hiến pháp năm 2013, Nxb Hồng Đức.
[6] Xem Nghị quyết số 743/2004/NQ-UBTVQH11 ngày 24/12/2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[7] Xem thêm: PGS.TS. Nguyễn Hòa Bình, Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2016, tr. 33-34
[8] Xem thêm: TS. Nguyễn Thành Long, Nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, 2011, tr. 77-84.