Cần ban hành thông tư mới về giải quyết án trọng điểm

Thông tư liên ngành (TTLN) số 01/TTLN ngày 15/01/1994 hướng dẫn việc giải quyết các vụ án trọng điểm trong hơn 23 năm qua cho thấy có nhiều nội dung không còn phù hợp với thực tế, cần được sửa đổi, bổ sung.

Về căn cứ, tiêu chuẩn xác định án trọng điểm

Các vụ án trọng điểm là các vụ án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, kinh tế và trật tự an toàn xã hội đã cản trở việc thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước hoặc gây ảnh hưởng chính trị xấu trong quần chúng nhân dân, dư luận xã hội đòi hỏi phải đưa ra xét xử kịp thời, nghiêm minh nhằm đáp ứng yêu cầu chính trị, ngăn chặn tội phạm phát triển, góp phần giải quyết một tình trạng tiêu cực nhất định trong xã hội. Quy định như vậy tại thời điểm năm 1994 là phù hợp, nhưng tại thời điểm hiện nay là chưa đầy đủ; bởi lẽ, nếu chỉ xác định “các vụ án trọng điểm là các vụ án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, kinh tế và trật tự an toàn xã hội…” thì so với Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 cũng như BLHS năm 2015 còn rất nhiều loại tội phạm nữa cần đưa vào diện xem xét để chọn làm án trọng điểm. Trên thực tế, các địa phương thời gian qua cũng đã chọn, giải quyết nhiều vụ án trọng điểm không nằm trong ba nhóm tội phạm nói trên nhưng vẫn đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn khác.
Khi xác định các vụ án trọng điểm phải căn cứ vào nhiệm vụ chính trị chung của cả nước được nêu trong các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước, nhiệm vụ trọng tâm của địa phương vào thời điểm phát hiện tội phạm. Trước mắt phải căn cứ vào Chỉ thị số 60/TW ngày 26/5/1990 của Bộ Chính trị về nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình hiện nay; Chỉ thị số 135/HĐBT ngày 14/5/1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, Chỉ thị số 15 ngày 20/11/1992 của Bộ Chính trị, Quyết định số 114/TTg ngày 21/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết số 04 của Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ Tư về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng và buôn lậu. Các văn bản làm căn cứ xác định án trọng điểm nói trên đều được ban hành từ những năm 1990, trên thực tế, các văn bản này đều đã hết hiệu lực thi hành và được thay thế bằng các văn bản khác. Trong khi đó, Quốc hội đã thông qua nhiều Bộ luật, luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp như: Bộ luật Hình sự năm 2015, BLTTHS năm 2015, Luật tổ chức VKSND năm 2014, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015… Đây là những cơ sở pháp lý hết sức quan trọng, cần được cụ thể hóa trong Thông tư liên ngành nói chung, Thông tư liên ngành về việc giải quyết các vụ án trọng điểm nói riêng.

Về yêu cầu trong giải quyết các vụ án trọng điểm

Thông tư liên ngành số 01 quy định khá cụ thể về những yêu cầu trong giải quyết các vụ án trọng điểm. Theo đó, việc giải quyết các vụ án trọng điểm đòi hỏi phải nhanh chóng, kịp thời, chính xác, nên khi vụ án được xác định là trọng điểm thì phải tiến hành điều tra, truy tố, xét xử khẩn trương, giải quyết nhanh gọn, bảo đảm chính xác, đánh trúng bọn tội phạm nguy hiểm, có tác dụng giáo dục, thúc đẩy phong trào quần chúng bảo vệ an ninh chính trị, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị chung và công tác trọng tâm của địa phương.
Chúng tôi thấy rằng, quy định như trên không còn phù hợp với hiện nay, việc giải quyết các vụ án trọng điểm đòi hỏi không chỉ nhanh chóng, kịp thời, chính xác, mà còn phải đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đồng thời, phải bổ sung đầy đủ hơn về mục đích của việc giải quyết các vụ án trọng điểm là nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Về mối quan hệ phối hợp giữa ba ngành

Thứ nhất, theo TTLN số 01, trên cơ sở quản lý các vụ án đã khởi tố, cơ quan Công an hoặc Viện kiểm sát khi phát hiện được vụ án mà thấy cần được xác định là vụ án trọng điểm thì cần phải thông tin kịp thời, trao đổi với nhau để thống nhất quyết định chọn làm vụ án trọng điểm. Đối với các vụ án về các tội phạm trị an và các tội xâm phạm an ninh quốc gia, cơ quan Công an chọn và đề xuất lãnh đạo ba ngành trực tiếp trao đổi thống nhất xác định. Riêng đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia ở mục A, lãnh đạo ba ngành địa phương phải xin ý kiến của cấp uỷ và báo cáo lãnh đạo ba ngành Trung ương…
Bộ luật Hình sự năm 1999 cũng như BLHS năm 2015 có nhiều sửa đổi, bổ sung so với BLHS năm 1985 mà TTLN số 01 căn cứ để hướng dẫn việc giải quyết các vụ án trọng điểm. Như các vụ án về các tội phạm trị an được sửa đổi, bổ sung thành các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; các tội xâm phạm an ninh quốc gia không còn quy định ở mục A, mà được quy định thành một Chương riêng trong BLHS; các vụ án kinh tế được sửa đổi, bổ sung thành các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế… Đặc biệt, BLHS năm 1999 cũng như năm 2015 đều có nhiều Chương quy định về các tội phạm mà TTLN số 01 chưa đề cập đến như các tội phạm về ma túy, tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, các tội phạm khác về chức vụ (ngoài các tội phạm tham nhũng), các tội xâm phạm hoạt động tư pháp…
Thứ hai, bên cạnh đó, TTLN số 01 còn quy định: “Tùy tính chất vụ án mà Viện kiểm sát cần tham gia kiểm sát kịp thời trong những hoạt động tố tụng có tính chất quan trọng như: Khám nghiệm hiện trường, khám xét thu thập vật chứng, yêu cầu trưng cầu giám định tư pháp, sơ kết theo từng giai đoạn điều tra, vạch kế hoạch thực hiện tiếp hướng điều tra đã được xác định”. Trong khi đó, việc khám nghiệm hiện trường theo quy định hiện hành bắt buộc Viện kiểm sát phải tham gia; lệnh khám xét phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành (trừ trường hợp không thể trì hoãn)… Việc TTLN số 01 quy định tùy tính chất vụ án mà Viện kiểm sát cần tham gia… là không còn phù hợp với Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành.
Thứ ba, khi chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, để thực hiện tốt hơn những công việc thuộc chức năng của mỗi ngành, Viện kiểm sát và Toà án cần tổ chức cuộc họp trao đổi theo đúng tinh thần Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 08/12/1988 của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Thông tư này cũng đã hết hiệu lực.
Thứ tư, về công tác phòng ngừa, TTLN số 01 quy định trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ, chú ý làm rõ nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm, ba ngành cần trao đổi thống nhất rút ra những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý, Viện kiểm sát có trách nhiệm tập hợp làm kiến nghị yêu cầu cơ quan chủ quản củng cố các mặt quản lý để khắc phục vi phạm. Sau khi vụ án được xét xử, Toà án có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan hữu quan (như tư pháp, các cơ quan ngôn luận…) tuyên truyền phát huy kết quả của việc xét xử nhằm phục vụ tốt công tác phòng ngừa chung.
Trên thực tế, việc phối hợp ba ngành trong việc ban hành kiến nghị như quy định trên rất ít thực hiện, thậm trí là không có. Thông thường, qua việc giải quyết vụ án Viện kiểm sát thường tự mình rút ra những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý để ban hành kiến nghị; Tòa án nếu có kiến nghị cũng nêu luôn trong bản án… Do đó, cần quy định từng ngành có trách nhiệm và chủ động trong việc kiến nghị thì hợp lý hơn.
Còn việc chỉ giao cho Toà án có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan hữu quan tuyên truyền phát huy kết quả của việc xét xử… cũng là chưa phù hợp, vì hiện nay cơ quan Công an, VKSND các cấp đều có Trang thông tin điện tử, đã và đang làm rất tốt công tác tuyên truyền nói chung, tuyên truyền pháp luật nói riêng; do đó, cần thiết phải giao trách nhiệm tuyên truyền kết quả giải quyết các vụ án trọng điểm cho cả ba ngành.

Về thẩm quyền ban hành Thông tư

Tại thời điểm năm 1994, ba ngành Bộ Nội vụ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao đã ban hành TTLN số 01/TTLN là đúng thẩm quyền, vì khi đó cơ quan Công an trực thuộc Bộ Nội vụ. Tuy nhiên, hiện tại cơ quan Công an không thuộc Bộ Nội vụ nữa, nên liên ngành Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao phải ban hành Thông tư liên ngành mới cho phù hợp với thực tế.

Một số đề xuất, kiến nghị

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả việc giải quyết các vụ án trọng điểm, tăng cường sự phối hợp trên cơ sở chức năng của từng ngành trong việc điều tra, truy tố, xét xử các loại tội phạm, phục vụ yêu cầu chính trị trong tình hình mới, đảm bảo tuân thủ các quy định trong BLHS và BLTTHS năm 2015, đề nghị liên ngành Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao ban hành Thông tư mới về giải quyết các vụ án trọng điểm thay thế TTLN số 01 với nội dung cụ thể hơn, phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.
Việc ban hành Thông tư mới về giải quyết các vụ án trọng điểm ngoài những vấn đề như đã phân tích ở trên, chúng tôi đề nghị bổ sung một số nội dung sau:
Một là, cần xác định tiêu chí, điều kiện cụ thể hơn về vụ án trọng điểm, bảo đảm phù hợp với các quy định của BLHS năm 2015 và yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hai là, cần quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra, VKSND, Tòa án nhân dân, của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán được giao nhiệm vụ tiến hành tố tụng đối với vụ án trọng điểm; về mối quan hệ phối hợp giữa ba ngành, giữa Cơ quan điều tra với Viện kiểm sát, giữa Viện kiểm sát với Tòa án; bổ sung quy định về thời hạn… trong từng giai đoạn cụ thể, như trong giai đoạn xác định vụ án trọng điểm, trong quá trình giải quyết vụ án trọng điểm ở Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án…
Ba là, phải xác định trách nhiệm của mỗi ngành trong việc giải quyết các vụ án trọng điểm./.

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)

Có cần tước giấy phép lái xe trong vụ án vi phạm giao thông đường bộ?

Thực tiễn xét xử, đối với các vụ án “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, Hội đồng xét xử đều trả lại giấy phép lái xe cho bị cáo. Vậy, việc trả lại giấy phép lái xe này có thực sự hợp lý so với các quy định pháp luật hình sự và hành chính không?
 

Đối với tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, người thực hiện hành vi phạm tội chỉ bị xem xét trên góc độ hình sự đối với hành vi phạm tội và áp dụng theo quy định của Bộ luật hình sự.

 
Thứ nhất, trong cấu thành của Điều 202 BLHS năm 2003 và Điều 260 BLHS năm 2105 chỉ đề cập đến việc người phạm tội không có giấy phép lái xe sẽ bị xử lý ở khoản 2 của những Điều luật này nếu gây hậu quả tương đương ở khoản 1 của Điều này.
Như vậy, nhà làm luật đã xác định việc không có giấy phép lái xe là một tình tiết có tính chất nguy hiểm đối với loại hành vi phạm tội này. Quy định như vậy là hợp lý và rõ ràng để đảm bảo mọi người khi tham gia giao thông buộc phải có giấy phép lái xe để đảm bảo họ hiểu rõ quy tắc giao thông khi điều khiển các phương tiện giao thông và khi xẩy ra các hành vi phạm tội thì họ sẽ chỉ bị xử lý ở khung hình phạt thấp hơn so với không có giấy phép lái xe.
Bên cạnh đó tại khoản 5, Điều 202 BLHS năm 2003 và khoản 6, Điều 260 BLHS năm 2105 đều quy định về cấm hành nghề hoặc đảm nhiệm một công việc. Như vậy, việc cấm này cũng chỉ nhằm vào các đối tượng liên quan đến yếu tố điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là nghề nghiệp mà không đề cập đến việc hạn chế quyền điều khiển phương tiện của người phạm tội mà không đề cập đến quyền điều khiển phương tiện của họ. Như vậy, họ vẫn hoàn toàn có thể điều khiển phương tiện giao thông đường bộ chỉ không được phép làm nghề nghiệp liên quan đến hoạt động điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.
Thứ hai, Luật giao thông đường bộ cũng quy định về giấy phép lái xe khi tham gia giao thông và cụ thể hóa chế tài xử phát khi người điều khiển phương tiện giao thông không có giấy phép tại Điều 21 Nghị định 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Theo đó, mức hình phạt đối với hành vi không có giấy phép điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đều hết sức nghiêm khắc, ví dụ như “Nếu không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa; có giấy phép lái xe do các nước có tham gia công ước quốc tế về giao thông đường bộ năm 1968 cấp (trừ bằng lái xe quốc tế do Việt Nam cấp) nhưng không mang theo giấy phép quốc gia thì mức phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng. (Điểm b, điểm c khoản 7, điều 21 Nghị định 46/2016/NĐ-CP)”. Bên cạnh đó Nghị định 46 cũng quy định rất nhiều vi phạm hành chính trong giao thông đường bộ mà người vi phạm bị tước bằng lái xe từ 01 tháng cho đến 24 tháng tùy theo hành vi và tính chất mức độ vi phạm của người vi phạm các quy định về giao thông đường bộ.
Từ hai vấn đề nêu trên cho thấy, giá trị giấy phép lái xe đối với người tham gia giao thông vi phạm quy định hành chính và người phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiên giao thông đường bộ”, trong đó việc một người phải chịu một hình phạt về tiền hoặc chế tài hình sự là việc họ bị xử lý khi vi phạm quy định của pháp luật như một hình phạt chính và cao nhất khi họ vi phạm. Tuy nhiên, trong xử lý vi phạm hành chính, một số hành vi còn kèm theo việc tước giấy phép lái xe chính là để tước một quyền mà những người này được nhà nước cho phép. Vì để có những giấy phép này một cách hợp lệ họ cần được đào tạo và trải qua những kì sát hạch đạt các tiêu chuẩn mới có thể được cấp phép việc tước của họ môt thời gian là cần thiết để đảm bảo tính đúng đắn của họ trong tương lai khi sử dụng những quyền này.
Nhưng ngược lại, trong các quy định của Bộ luật hình sự đều không quy định việc có chế tài đối với việc xử lý giấy phép lái xe của người phạm tội. Nếu so sánh về tính chất mức độ hành vi vi phạm của người phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiên giao thông đường bộ” là cao hơn rất nhiều so với các vi phạm hành chính do loại tội phạm này thường để lại hậu quả rất lớn cho người bị xâm hại cũng như các thiệt hại đối với xã hội.
Trong Bộ luật hình sự cũng chỉ quy định việc hạn chế về mặt nghề nghiệp khi một người phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” nhưng cũng không rõ ràng cụ thể về ai và cách thức nào thực hiện việc cấm và hạn chế đó cũng là một bất cập của luật. Do đó, ngoài việc có một hình phạt theo Bộ luật Hình sự như một hình phạt chính, thì cần thêm chế tài trong việc tước bỏ quyền điều khiển phương tiện của những người phạm loại tội này. Điều này không những đảm bảo được sự cân bằng khi xử lý các loại lỗi giữa các bộ luật với nhau mà còn giúp cho xã hội hạn chế được những nguy cơ do những người đã có lỗi vô ý xâm hại đến các quy tắc giao thông gây hậu quả cho xã hội.
Từ những phân tích đánh giá trên đây, quan điểm cá nhân đưa ra đề nghị cần có những quy định cụ thể đối với việc tước quyền được điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và chế tài cụ thể hơn trong việc cấm hành nghề hoặc làm công việc liên quan điều khiển phương tiện giao thông đối với người phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” nhằm đảm bảo sự công bằng của pháp luật cũng như xử lý hành vi vi phạm của người phạm tội một cách đầy đủ nhất trên cả phương diện hình phạt do vi phạm pháp luật cũng như hạn chế quyền của người phạm tội phát sinh từ hậu quả của tội phạm đó gây ra.

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)

Luật an ninh mạng: Khoảng trống về điện toán đám mây

Luật An ninh mạng (LANM) mới được Quốc hội thông qua vào ngày 12/06/2018. Nhưng để có thể thực hiện được những gì ghi trong luật, cần một cái nhìn thấu đáo và cẩn trọng hơn về mặt công nghệ trong các văn bản dưới luật.
Thuyết minh lần cuối về Dự luật LANM trước khi Quốc hội thông qua biểu quyết, tướng Võ Trọng Việt, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội khóa 14, đã nêu đại ý như sau: Hiện nay, Google và Facebook đang lưu giữ dữ liệu của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam tại trung tâm dữ liệu đặt tại Hồng Kông và Singapore. Nếu quy định của luật này có hiệu lực thì các doanh nghiệp này phải dịch chuyển đám mây điện toán, đám mây ảo về Việt Nam để mở trung tâm dữ liệu tại Việt Nam. Và điều đó là hoàn toàn khả thi… Những gì ông Võ Trọng Việt nói ở trên, được ghi tại khoản 3, Điều 26 trong LANM đã được phê duyệt.
Điều 26. Bảo đảm an ninh thông tin trên không gian mạng
3. Doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ.
Doanh nghiệp nước ngoài quy định tại khoản này phải đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam.
Đúng là hiện nay, nhiều dịch vụ trên Internet được cung cấp là các dịch vụ điện toán đám mây (ĐTĐM). Để tìm hiểu về qui mô khả thi của điều 26 và ĐTĐM trước hết chúng ta cần tìm hiểu về kiến trúc của loại hình công nghệ này.

Google, Facebook chỉ là trường hợp đặc biệt

Thị trường mua-bán đám mây không đơn giản chỉ bao gồm nhà cung cấp và người sử dụng. Trong tài liệu “Kiến trúc tham chiếu điện toán đám mây của NIST1” do Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia – NIST (National Institute of Standards and Technology) của nước Mỹ phát hành tháng 09/2011 đã đưa ra mô hình kiến trúc tham chiếu với ba lớp dịch vụ tương ứng với ba dạng nhà cung cấp dịch vụ ĐTĐM cùng với năm đối tượng tham gia hệ sinh thái ĐTĐM với các vai trò khác nhau.
Nhà cung cấp đám mây là một người hoặc một tổ chức giành quyền nắm và quản lý hạ tầng tính toán, các phần mềm và phân phối các dịch vụ trên đám mây cho những người sử dụng. Ba dạng nhà cung cấp bao gồm: (3) Phần mềm như một dịch vụ – SaaS (Software as a Service) theo đó, nhà cung cấp sẽ quản lý và kiểm soát các phần mềm và ứng dụng chạy trên đám mây. Chẳng hạn như các ứng dụng của Google như Google docs, Google drives…đều là ví dụ về SaaS (2) Nền tảng như một dịch vụ – PaaS (Platform as a Service) cung cấp nền tảng và môi trường cho phép các nhà phát triển phần mềm xây dựng các ứng dụng và dịch vụ trên internet. Google App Engine, bộ công cụ để các nhà lập trình tự xây dựng và phát triển các ứng dụng đám mây là một ví dụ của PaaS. Nhà cung cấp này có thể kiểm soát cả các ứng dụng, phần mềm trên đám mây và có thể một số môi trường đặt hosting, nhưng không có hoặc chỉ có quyền hạn chế truy cập tới hạ tầng mạng, các máy chủ, các hệ điều hành, hạ tầng lưu trữ (1) Hạ tầng như một dịch vụ – IaaS (Infrastructure as a Service) nhà cung cấp nắm quyền quản lý tài nguyên vật lý tính toán cho các phần mềm, bao gồm các máy chủ, các mạng, hạ tầng lưu trữ và đặt chỗ hosting. Nói nôm na, nhà cung cấp IaaS cung cấp cho người dùng một máy tính ảo. Người sử dụng đám mây IaaS vừa có các tài nguyên giống như PaaS và SaaS nhưng có nhiều quyền truy cập và kiểm soát lớn hơn với từng thành phần phần mềm và phần cứng.

Mô hình tham chiếu điện toán đám mây của NIST.

Tương tác giữa các thành phần trong điện toán đám mây.
Hơn nữa, việc vận hành thị trường đám mây không chỉ có người sử dụng dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ đám mây mà có tới ba đối tượng khác gồm Nhà kiểm toán (một bên tiến hành đánh giá độc lập về các dịch vụ đám mây, các hoạt động hệ thống thông tin, hiệu năng và an ninh của triển khai đám mây); Nhà môi giới (một tổ chức quản lý sử dụng, hiệu năng và phân phối các dịch vụ đám mây, và kết nối giữa các nhà cung cấp đám mây và những người sử dụng đám mây); và Nhà vận chuyển đám mây (tổ chức cung cấp kết nối và vận chuyển các dịch vụ đám mây từ nhà cung cấp đến người sử dụng).
Ông Võ Trọng Việt có nhắc đến trường hợp của Google, Facebook cần phải đặt máy chủ tại Việt Nam, nhưng đây là hai trường hợp cá biệt, là các tập đoàn với nguồn lực khổng lồ và sở hữu nhiều trung tâm dữ liệu, là đơn vị đủ khả năng cung cấp tất cả các loại hình dịch vụ đám mây mà không cần ký hợp đồng với bên thứ 3. Tuy nhiên, trên thực tế, việc mua bán các dịch vụ liên quan đến đám mây sẽ chồng chéo và đa phần sẽ phải thông qua các bên trung gian. Vấn đề là, các bên trung gian này không có chức năng thu thập hay xử lý dữ liệu được quy định trong Điều 26 nhưng không thể đảm bảo rằng, họ không chứa các thông tin của người sử dụng một cách vô tình hay hữu ý và cũng rất khó có thể kiểm tra được điều này (ví dụ, nhà cung cấp đám mây điện toán phải sử dụng đường truyền của nhà vận chuyển đám mây, không ai chắc chắn là nhà vận chuyển này không hoàn toàn không có thông tin). Xét một ví dụ, người sử dụng dịch vụ không ký hợp đồng trực tiếp với nhà cung cấp đám mây mà kí thông qua nhà môi giới đám mây, thì trong trường hợp này rất cần LANM làm rõ xem ai, nhà môi giới đám mây hay tất cả các nhà cung cấp dịch vụ đám mây, sẽ phải đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện ở Việt Nam. Điều này cũng tương tự như trường hợp thay nhà môi giới đám mây bằng nhà vận chuyển đám mây. Vì có tất cả năm tác nhân trong hệ sinh thái ĐTĐM, có nghĩa là từ góc độ của người sử dụng hoặc nhà cung cấp hay bất kỳ tác nhân nào khác, chúng ta đều nên tính tới tất cả các tình huống có thể xảy ra đối với các mối liên hệ giữa các tác nhân đó, cả trực tiếp lẫn gián tiếp, để đảm bảo LANM sẽ không bỏ sót bất kỳ trường hợp nào vì sự đơn giản hóa, như các trường hợp ví dụ được nêu ở trên.
Ngay cả giữa các nhà cung cấp dịch vụ ĐTĐM với nhau – bao gồm cả IaaS, PaaS và SaaS có mức độ tiếp cận và lưu trữ dữ liệu rất khác nhau và cũng sẽ có rất nhiều trường hợp “lai ghép”, chẳng hạn như nhà sử dụng dịch vụ ký hợp đồng với một nhà cung cấp SaaS, nhưng nhà cung cấp SaaS này lại ký hợp đồng với một nhà cung cấp SaaS khác (vì họ không có dịch vụ mà người sử dụng cần) hoặc sử dụng dịch vụ của một nhà cung cấp PaaS (điều này là đương nhiên). Vậy thì, các văn bản dưới LANM cũng cần làm rõ để hiểu liệu trong thực tế có các dạng kết hợp nào tồn tại giữa họ hay không, có thể quy về một đầu mối mà không gây ra sự bất tiện khó có khả năng tuân thủ cho các nhà cung cấp đó hay không?

Làm việc cộng tác xuyên biên giới qua mạng

Việc kiểm soát thông tin, dữ liệu trên mạng theo điều 26 nói trên sẽ ngày càng khó khăn trong một thế giới mở. Ngày nay, nhiều công việc, bao gồm cả công việc nghiên cứu khoa học, đòi hỏi sự cộng tác làm việc của các cá nhân, tổ chức không chỉ ở một quốc gia, mà trên phạm vi toàn cầu. Hơn nữa, công việc của họ nhiều khi được thực hiện qua nhiều chứ không phải chỉ một ứng dụng, dịch vụ trên điện toán đám mây. Thông qua công việc nghiên cứu như vậy, chắc chắn các nhà khoa học Việt Nam cũng sẽ tạo ra các thông tin, nội dung và/hoặc dữ liệu bên trong các ứng dụng – dịch vụ có khả năng nằm trong các máy chủ khác nhau nằm rải rác trên toàn cầu. Liệu chúng ta có phải yêu cầu mỗi nhà khoa học tạo ra dữ liệu phải có một máy chủ đặt ở Việt Nam? Và ngay cả yêu cầu như vậy, làm sao chúng ta kiểm soát được các dữ liệu họ trao đổi với đồng nghiệp nằm trong máy chủ khác trên toàn thế giới?
Điều 23, Khoản 3 của LANM có liên quan tới các tình huống khác nhau khi mọi người làm việc trong thực tế hàng ngày hiện nay với các ứng dụng – dịch vụ dựa vào web trên trực tuyến và/hoặc công nghệ ĐTĐM. Giả sử, trong trường hợp có sự vi phạm và phải xóa thông tin – dữ liệu theo LANM quy định, và giả sử, công ty/hãng nước ngoài đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của họ ở Việt Nam cũng đã xóa đi các bản ghi trên tất cả các máy tính họ quản lý, làm thế nào để các nhà quản lý chắc chắn được sẽ không còn bản sao nào tồn tại trên Internet nữa? Khi này, ai sẽ là người phải chịu trách nhiệm pháp lý theo LANM?

Điều 26, khoản 3 của LANM hiện hành có lẽ áp dụng được trong một vài trường hợp với những điều kiện cụ thể nhất định, nhưng không chắc áp dụng được với đa số các trường hợp khác của ĐTĐM và làm việc cộng tác có sử dụng các ứng dụng – dịch vụ dựa vào web trên trực tuyến. Vì vậy, rất cần được nghiên cứu kỹ lưỡng tất cả các trường hợp có khả năng xảy ra trong đời sống thực khi làm việc với các công nghệ như được nêu ở đây trong giai đoạn xây dựng các văn bản dưới luật, tránh việc luật hóa chỉ dựa vào vài trường hợp cụ thể, không đủ đại diện cho đa số lớn các trường hợp khác có liên quan, để khi đưa LANM vào cuộc sống sẽ không cản trở dòng chảy thông tin – dữ liệu, làm khó cho các doanh nghiệp và các thành phần khác làm ăn chính đáng trong kỷ nguyên số và hội nhập toàn cầu.

Nguồn: Tiasang.com.vn

Luật Viên chức – những bất cập cần sửa đổi

Sau một thời gian triển khai thực hiện, một số quy định của Luật Viên chức đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn .. Do vậy, Bộ Nội vụ đã việc tiến hành tổng kết, đánh giá và đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Viên chức nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa các quy định của Đảng và của pháp luật trong công tác cán bộ. 
Luật Viên chức được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 15/11/2010, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2012. Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức được ban hành với mục tiêu nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập của Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, xây dựng một nền hành chính trong sạch, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với xu hướng chuyển đổi sang nền hành chính phục vụ và chủ trương xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của Đảng. Sau một thời gian triển khai thực hiện, một số quy định của Luật Viên chức đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn .. Do vậy, Bộ Nội vụ đã việc tiến hành tổng kết, đánh giá và đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Viên chức nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa các quy định của Đảng và của pháp luật trong công tác cán bộ.

1. Về đổi mới cơ chế hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập

Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập đã đề ra các nhiệm vụ, giải pháp tổng thể về sắp xếp, tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập, về quản lý biên chế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, về nâng cao năng lực quản trị của đơn vị sự nghiệp công lập và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập.
Do vậy, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định về cơ cấu tổ chức quản lý hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập và chính sách xây dựng, phát triển đơn vị sự nghiệp công lập để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao năng lực quản trị của đơn vị sự nghiệp công lập và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập tại Điều 9, Điều 10 Luật Viên chức.

2. Vấn đề hợp đồng đối với viên chức

Khoản 2 Điều 24 Luật Viên chức quy định: Căn cứ vào kết quả tuyển dụng, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập ký kết hợp đồng làm việc với người trúng tuyển vào viên chức. Hiện nay, các nội dung liên quan đến hợp đồng làm việc của viên chức được quy định tại Mục 2 Chương III Luật Viên chức,theo đó, đối với viên chức được tuyển dụng sẽ ký hợp đồng xác định thời hạn (từ 12 đến 36 tháng); sau khi kết thúc hợp đồng xác định thời hạn thì viên chức được ký hợp đồng không xác định thời hạn. Cách thức quy định như vậy là tương tự với quy định về hợp đồng lao động trong Bộ luật Lao động.
Tuy nhiên, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập đã xác định: Thực hiện chế độ hợp đồng viên chức có thời hạn đối với những trường hợp tuyển dụng mới (trừ các đơn vị sự nghiệp công lập ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn). Đây cũng là nội dung cần nghiên cứu, sửa đổi trong Luật để bảo đảm thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, tránh tâm lý “biên chế suốt đời” trong đội ngũ viên chức sự nghiệp.
Bên cạnh đó, cần sửa đổi, bổ sung để thực hiện chế độ hợp đồng viên chức có thời hạn đối với những trường hợp tuyển dụng mới (trừ các đơn vị sự nghiệp công lập ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn (khoản 2 Điều 24).
Sửa đổi, bổ sung để khắc phục tình trạng viên chức chuyển từ đơn vị sự nghiệp công lập này sang đơn vị sự nghiệp công lập khác theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc vẫn được chi trả trợ cấp (Điều 45).

3. Quản lý viên chức

3.1.Về chế độ thôi việc đối với viên chức
Theo quy định tại Điều 45 Luật Viên chức thì khi chấm dứt hợp đồng làm việc, viên chức được hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm hoặc chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về bảo hiểm xã hội (trừ trường hợp do bị buộc thôi việc, đơn phương chấm dứt hợp đồng làm). Đồng thời, theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Luật Viên chức thì khi viên chức chuyển công tác đến cơ quan, tổ chức, đơn vị khác sẽ chấm dứt hợp đồng làm việc và được giải quyết các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đã phát sinh bất hợp lý trong việc giải quyết chế độ thôi việc đối với trường hợp viên chức chuyển từ đơn vị sự nghiệp công lập này sang đơn vị sự nghiệp công lập khác theo kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền (ví dụ như như việc điều chuyển giáo viên, bác sỹ trong từng địa phương) hoặc do viên chức đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc (không phải do mất việc). Việc chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc trong các trường hợp này là không hợp lý, không bảo đảm công bằng so với trường hợp viên chức nghỉ hưu theo quy định (vì khi nghỉ hưu thì không được hưởng chế độ trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc). Mặt khác, quy định này còn dẫn đến việc “lách” chính sách khi viên chức chuẩn bị đến tuổi nghỉ hưu xin thôi việc để được hưởng chính sách thôi việc. Do vậy, việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định của Luật Viên chức liên quan đến chế độ thôi việc là cần thiết.
3.2.Về phân cấp một số nội dung quản lý viên chức
Thực hiện nhiệm vụ, giải pháp Nghị quyết số 19-NQ/TW đề ra về việc đẩy mạnh phân cấp, giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng phân định rõ việc quản lý nhà nước với quản trị đơn vị sự nghiệp công lập và việc cung ứng dịch vụ sự nghiệp, đồng thời thực hiện Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 21/3/2016 của Chính phủ về phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, việc rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định của Luật Viên chức về nội dung “quản lý nhà nước về viên chức” và “quản lý viên chức” là cần thiết.
Do đó, cần sửa đổi, bổ sung quy định về quản lý nhà nước về viên chức, quản lý viên chức theo hướng phân cấp, phân quyền rõ cho các bộ, ngành, địa phương, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, chú trọng vào công tác hậu kiểm của cơ quan quản lý nhà nước về cán bộ, công chức, viên chức (các điều 31, 33, 47, 48, 49,50);
3.3.Về chuyển đổi giữa viên chức và cán bộ, công chức
Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức hiện nay thì viên chức giữ chức danh lãnh đạo, quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập được xác định là công chức. Tuy nhiên, tại Nghị quyết số 19-NQ/TW đã xác định không thực hiện chế độ công chức trong đơn vị sự nghiệp công lập (trừ các đơn vị phục vụ nhiệm vụ chính trị và phục vụ quản lý nhà nước). Do vậy, cần nghiên cứu sửa đổi quy định tại Điều 58 Luật Viên chức cho phù hợp, đồng thời bảo đảm tính liên thông giữa đội ngũ viên chức và đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị.

4. Về vấn đề kỷ luật đối với viên chức

Tương tự như nội dung kỷ luật đối với cán bộ, công chức, các quy định liên quan đến xử lý kỷ luật đối với viên chức đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác ra khỏi khu vực đơn vị sự nghiệp công lập, hình thức xử lý kỷ luật và thời hiệu xử lý kỷ luật viên chức cũng cần được sửa đổi để bảo đảm đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật của Nhà nước.
Vì vậy, cần sửa đổi, bổ sung quy định kỷ luật viên chức theo kết luận của Trung ương (Điều 53 và Điều 56).

Ths. NGUYỄN THỊ HOA (CĐ DLHN) 

Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)

Sự hình thành luật tập quán quốc tế trước bối cảnh thay đổi cơ bản

Luật tập quán quốc tế bao gồm hai yếu tố cấu thành là thực tiễn chung giữa các quốc gia và sự thừa nhậnquy tắc xử sự là luật (opinio juris). Trong một số trường hợp, bối cảnh thay đổi cơ bản có thể thúc đẩy nhanh sự hình thành luật tập quán quốc tế. Trong những trường hợp đó, nghị quyết Đại hội đồng Liên hiệp quốc (UN) và phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế thường đóng vai trò quan trọng.
Về mặt lịch sử, sự hình thành các quy tắc mới của luật tập quán quốc tế được xem như là một quá trình kéo dài hàng thập kỷ, thậm chí hàng thế kỷ. Khi mới bắt đầu công việc của mình, Ủy ban Luật quốc tế (ILC) cũng đã yêu cầu rằng, để một quy tắc của luật tập quán xuất hiện thì thực tiễn quốc gia phải diễn ra “trong một khoảng thời gian dài đáng kể”[1]. Chính vì vậy, thuật ngữ “kết tinh” thường được Tòa án Công lý quốc tế của UN (ICJ) và các học giả sử dụng để ám chỉ việc hình thành các quy tắc luật tập quán quốc tế trên cơ sở sự phát triển chậm của các yếu tố cấu thành luật tập quán. Tuy nhiên, trong vụ North Sea Continental Shelf, ICJ lại có quan điểm rằng, đôi khi luật tập quán quốc tế có thể hình thành nhanh hơn nhiều[2]. Quan điểm của ICJ đã đặt ra các vấn đề cần phải được nghiên cứu và biện giải: Liệu luật tập quán quốc tế có thể nhanh chóng hình thành? Nếu câu trả lời là “có thể”, thì khi nào và với điều kiện nào?
Bài viết này trước tiên đánh giá cuộc tranh luận học thuật và phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế liên quan đến bản chất và sự hình thành của luật tập quán quốc tế chung. Sau đó, bài viết tìm hiểu thực tiễn và kết luận rằng, bối cảnh thay đổi cơ bản có vai trò như một tác nhân làm tăng tốc, cho phép luật tập quán quốc tế hình thành nhanh hơn và với ít thực tiễn quốc gia hơn so với tốc độ bình thường mà người ta cho là cần phải có để hình thành luật tập quán. Trong những trường hợp đó, nghị quyết Đại hội đồng UN và phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế thường đóng vai trò quan trọng trong việc “kết tinh” quy tắc đang hình thành.

1. Quan điểm truyền thống về sự hình thành luật tập quán quốc tế

Điều 38 Quy chế của ICJ phản ánh quan điểm truyền thống về luật tập quán quốc tế bao gồm hai yếu tố cấu thành: (i) thực tiễn chung giữa các quốc gia (được gọi là “yếu tố vật chất”) và (ii) opinio juris (sự thừa nhận là luật, được gọi là “yếu tố tinh thần”). Các phán quyết của Pháp viện thường trực quốc tế (PCIJ) và ICJ đều thống nhất rằng, sự hình thành luật tập quán quốc tế đòi hỏi sự hiện diện của cả hai yếu tố trên[3]. Khi hai yếu tố đó xuất hiện, một quy tắc của luật tập quán quốc tế sẽ được coi là ràng buộc tất cả các quốc gia, ngoại trừ những quốc gia liên tục phản đối.

1.1 Yếu tố vật chất

Thực tiễn quốc gia là yếu tố vật chất cấu thành nên luật tập quán quốc tế. Thực tiễn quốc gia bao gồm hành động (kể cả tuyên bố, phát biểu của quốc gia) và không hành động (kể cả sự im lặng)[4]. Án lệ của cơ quan tài phán quốc tế có rất nhiều ví dụ về hành động bằng tuyên bố được coi là thực tiễn quốc gia[5]. Ví dụ, phản đối ngoại giao (hoặc không phản đối ngoại giao) thường được xem là cơ sở quan trọng để xác định liệu một quy tắc của luật tập quán đã được hình thành hoặc bị thay thế. Như vậy, để đánh giá hành vi có liên quan của các quốc gia, chúng ta phải xem xét lời nói cũng như hành động và không hành động của quốc gia. Hiệp hội Luật quốc tế (ILA) cho rằng, cùng một hành vi có thể biểu hiện cả yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần của luật tập quán quốc tế[6].
Thực tiễn quốc gia cũng bao gồm việc không hành động hoặc im lặng. Ví dụ, trong vụ Nottebohm (giai đoạn thứ hai), ICJ đưa ra phán quyết của mình dựa trên thực tế là một số quốc gia “không thực hiện bảo vệ lợi ích của một người đã nhập quốc tịch của quốc gia bởi vì sau khi nhập quốc tịch, trên thực tế người này đã vắng mặt kéo dài và không có các mối liên hệ… với đất nước danh nghĩa của người đó”[7].
Để hình thành quy tắc của luật tập quán quốc tế, thực tiễn quốc gia phải lặp đi lặp lại trong khoảng thời gian nhất định, đủ để nó trở nên nhất quán và phổ biến rộng rãi[8]. Mặc dù ICJ đã nói về “việc sử dụng liên tục và thống nhất” như tiêu chuẩn để xác định một quy tắc của luật tập quán[9] nhưng Tòa cũng nêu rõ rằng sự hoàn toàn nhất quán là không bắt buộc. Trong vụ Fisheries Jurisdiction, Toà nhấn mạnh rằng: “một số ít sự không chắc chắn hoặc mâu thuẫn trong thực tiễn quốc gia thì không quá quan trọng”[10]. Tòa xác định rằng, mặc dù các tuyên bố yêu sách vùng đặc quyền kinh tế là không đồng nhất nhưng chúng đã đủ tương tự để Tòa phán quyết trong vụ Continental Shelf (Tunisia/Libya; Libya/Malta) rằng vùng đặc quyền kinh tế đã trở thành một phần của luật tập quán quốc tế[11]. Trong vụ Nicaragua năm 1986, “Tòa không cho rằng để một quy tắc trở thành luật tập quán, thực tiễn quốc gia phải là sự tuân thủ hoàn toàn chặt chẽ với quy tắc. Để suy luận sự tồn tại của các quy tắc tập quán thì nhìn chung, hành vi của các quốc gia phải phù hợp với những quy tắc như vậy”[12].
ICJ cũng đã nói về yêu cầu thực tiễn “rộng rãi”, đồng thời chỉ ra rằng, thực tiễn quan trọng nhất là “các quốc gia có lợi ích đặc biệt bị ảnh hưởng”[13]. Điều này có nghĩa là, sự tồn tại của một quy tắc luật tập quán quốc tế không chỉ đơn thuần là số lượng thực tiễn quốc gia, trái lại có một khía cạnh định tính quan trọng đối với thực tiễn đó. Nói cách khác, luật tập quán quốc tế có thể hình thành từ thực tiễn có tính đại diện, miễn là bao gồm thực tiễn các quốc gia mà lợi ích của họ đặc biệt bị ảnh hưởng. Ví dụ, trong vụ Continental Shelf (Libya/Malta), Toà đã xác định rằng: sau khi một số đáng kể các cường quốc hàng hải tuyên bố yêu sách vùng đặc quyền kinh tế, “vùng đặc quyền kinh tế đã chín muồi thành một quy tắc luật tập quán quốc tế, mặc dù thực tế là đa số các quốc gia ven biển đủ điều kiện vẫn chưa tuyên bố một vùng đặc quyền kinh tế”[14]. Tương tự, trong vụ Frontier Dispute (Burkina Faso/Mali), Toà cho rằng, Uti possidetis là một quy tắc của luật tập quán quốc tế chung, mặc dù vào thời điểm đó nguyên tắc chỉ được ủng hộ trong thực tiễn của các quốc gia là thuộc địa của Tây Ban Nha ở Mỹ La tinh và châu Phi[15].
Phản ánh bản chất tự nguyện của luật quốc tế, nếu một quốc gia bày tỏ sự phản đối của mình đối với một thực tiễn trước khi nó phát triển thành một quy tắc của luật tập quán quốc tế thì quốc gia đó không chịu sự ràng buộc với quy tắc mới hình thành. ICJ công nhận quy tắc liên tục phản đối trong Asylum Case khi Tòa tuyên bố, “thậm chí, ngay cả khi có thể giả định rằng một tập quán như vậy đã tồn tại chỉ giữa các quốc gia Mỹ La tinh thì cũng không thể được viện dẫn nó để chống lại Peru – quốc gia đã không bày tỏ thái độ chấp nhận quy tắc mà ngược lại, Peru đã bác bỏ nó”[16]. Toà cũng đã áp dụng quy tắc liên tục phản đối trong vụ Fisheries Jurisdiction để bác bỏ lập luận của Vương quốc Anh rằng luật tập quán quốc tế đã giới hạn chiều dài đường đóng ở các cửa vịnh là mười dặm. Tòa tuyên bố, “trong bất kỳ trường hợp nào, quy tắc mười dặm có vẻ như là không thích hợp với Nauy vì Nauy luôn phản đối bất kỳ nỗ lực nào áp dụng nó với bờ biển Nauy”[17].
Tuy nhiên, nếu một quốc gia không đưa ra phản đối vào thời điểm quy tắc chung đang hình thành thì quốc gia đó vẫn có thể bị ràng buộc với quy tắc, dù có những biểu thị phản đối sau này[18]. Ngoài ra, quy tắc phản đối liên tục không áp dụng cho các quy phạm mệnh lệnh bắt buộc chung (jus cogens). Như vậy, quy tắc phản đối liên tục vừa đảm bảo sự phát triển của luật tập quán quốc tế vừa đảm bảo tính thống nhất của luật quốc tế chung.

1.2 Yếu tố tinh thần

Mục đích của việc xác định yếu tố tinh thần (opinio juris) là để phân biệt các hành vi mà có thể dẫn đến nảy sinh các quy tắc của luật tập quán quốc tế với các hành vi mà không có khả năng như vậy. Yếu tố tinh thần là cần thiết để hình thành luật tập quán quốc tế, bởi vì thực tiễn quốc gia thường có khả năng được giải thích theo nhiều cách khác nhau. Việc xác định yếu tố tinh thần là đặc biệt quan trọng trong trường hợp các hành động (hoặc không hành động) của quốc gia không thể hiện rõ ràng ý định chủ quan của quốc gia. Chẳng hạn, trong vụ S.S. Lotus, Pháp lập luận rằng “trong trường hợp đâm va trên biển quốc tế, không có vụ truy tố nào được thực hiện bởi quốc gia khác với quốc gia mà tàu mang cờ… Đó chính là bằng chứng cho thấy luật pháp quốc tế không công nhận “quyền tài phán do bị ảnh hưởng”[19]. PCIJ không đồng ý với lập luận này, bởi vì không có bằng chứng về một “ý thức có nghĩa vụ không thực hiện” việc truy tố thủy thủ của các tàu đăng ký nước ngoài vì đã gây ra những thiệt hại đối với tàu đăng ký quốc tịch của quốc gia. Việc không có các vụ truy tố như vậy có thể là do thiếu quan tâm hoặc thiếu cơ quan luật pháp trong nước chứ không phải do có một niềm tin rằng việc truy tố như vậy là vi phạm luật tập quán quốc tế.
Về mối quan hệ giữa yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần, Giáo sư luật Frederic Kirgis gợi ý rằng, có một mối quan hệ “tỷ lệ nghịch” giữa số lượng thực tiễn và bằng chứng về sự thừa nhận một quy tắc xử sự luật tập quán quốc tế. Số lượng thực tiễn phù hợp càng lớn thì sự cần thiết về bằng chứng của yếu tố tinh thần càng ít hơn[20]. Quan điểm này còn có điểm chưa hợp lý bởi vì nó có xu hướng nhấn mạnh quá mức một yếu tố cấu thành luật tập quán và có khả năng biện minh cho quan điểm luật tập quán quốc tế được hình thành ngay lập tức và chỉ dựa trên các nghị quyết của Đại hội đồng UN được nhất trí thông qua.

2. Cách tiếp cận mới về sự hình thành luật tập quán quốc tế

2.1 Một số thực tiễn về sự hình thành nhanh luật tập quán quốc tế

* Hiến chương và phán quyết của Tòa Nuremberg
Đối với luật quốc gia và điều ước quốc tế, dựa trên trình tự thủ tục ban hành hoặc ký kết mà người ta có thể xác định được chính xác thời điểm văn bản đó có hiệu lực pháp lý. Như đã thảo luận ở trên, không có công thức thống nhất để xác định chính xác cần có bao nhiêu quốc gia và bao nhiêu thời gian để hình thành một quy tắc của luật tập quán quốc tế. Tuy nhiên, đôi khi cơ quan tài phán cần xác định dứt khoát hơn khi nào một quy tắc đang hình thành đã đủ “chín” để trở thành luật tập quán quốc tế. Sự xác định của Tòa án Cam-pu-chia (ECCC)[21] về vấn đề liệu vào thời điểm năm 1975, trách nhiệm hình sự kép đã tồn tại như một quy tắc của luật tập quán quốc tế hay chưa là một ví dụ minh họa.
Sau Chiến tranh thế giới lần II, các nước đồng minh quyết định thành lập Tòa án Nuremberg để xét xử 185 tên phát xít Đức với tổng cộng 13 phiên tòa. Trước vụ xét xử của Tòa Nuremberg, những gì mà một quốc gia làm với chính công dân của mình trong phạm vi biên giới quốc gia là công việc riêng của quốc gia. Phán quyết của Tòa Nuremberg đã thay đổi một cách cơ bản quan niệm đó. Luật pháp quốc tế bảo vệ các cá nhân công dân trước sự lạm dụng quyền lực của các chính phủ và áp đặt trách nhiệm cá nhân lên các quan chức chính phủ – những người phạm tội ác chiến tranh, diệt chủng và tội ác chống lại nhân loại.
Theo nguyên tắc pháp luật quốc tế về cấm hồi tố, Toà án Cam-pu-chia chỉ có thể áp dụng luật nội dung và các hình thức trách nhiệm pháp lý mà đã tồn tại như một phần của tập quán luật quốc tế vào thời điểm năm 1975 trở về trước. Luật sư của các bị cáo Khmer Đỏ cho rằng, thực tiễn Tòa Nuremberg và các tòa sau đó chưa đủ để tạo thành thực tiễn quốc gia rộng rãi và chưa có “yếu tố tinh thần” cần thiết để trách nhiệm hình sự kép trở thành một quy tắc của luật tập quán quốc tế vào thời điểm năm 1975.
Tuy nhiên, bất kể không có nhiều thực tiễn quốc gia, Tòa án Cam-pu-chia đã thấy rằng, trách nhiệm hình sự kép có thể áp dụng với các vụ xét xử dựa trên tiền lệ của Tòa Nuremberg và sự chứng thực của Đại hội đồng UN về các nguyên tắc Nuremberg[22].
Theo Tòa, một trong những hành động đầu tiên của UN khi vừa mới thành lập là Đại hội đồng đã nhất trí thông qua Nghị quyết 95 (I) ngày 11/12/1946, trong đó “khẳng định các nguyên tắc của luật quốc tế được ghi nhận bởi Hiến chương Nuremberg và các phán quyết của Tòa…”[23]. Nghị quyết này của Đại hội đồng có tất cả các đặc điểm của một nghị quyết có giá trị như là một tuyên bố về luật tập quán quốc tế. Cụ thể, Nghị quyết 95 (I) đã xác nhận Hiến chương Nuremberg ghi nhận các nguyên tắc pháp lý quốc tế và giải quyết các các vấn đề pháp lý cố hữu. Nghị quyết được thông qua trên cơ sở bỏ phiếu nhất trí và không quốc gia nào trong số các thành viên Đại hội đồng UN bày tỏ quan điểm rằng Nghị quyết 95 (I) chỉ là một tuyên bố chính trị.
Mặc dù, trong thời gian ba năm, Tòa Nuremberg chỉ xét xử khoảng hơn một chục vụ việc, nhưng ICJ[24], Toà án hình sự quốc tế về Nam Tư (cũ)[25], Toà án châu Âu về quyền con người[26] và một số toà án trong nước[27] đã trích dẫn Nghị quyết 95 (I) của Đại hội đồng như là một tuyên bố có hiệu lực về luật tập quán quốc tế. ILC cũng thừa nhận rằng Hiến chương và phán quyết của Tòa Nuremberg đã thiết lập hình mẫu quốc tế về trách nhiệm hình sự cá nhân. Tòa Nuremberg là “nền tảng của luật hình sự quốc tế” và “di sản lâu dài của Hiến chương và phán quyết của Toà án Nuremberg”[28].
Hiến chương và phán quyết của Toà án Nuremberg cũng là hình mẫu về bối cảnh đẩy nhanh quá trình hình thành luật tập quán quốc tế. Từ quan điểm thông thường về sự hình thành luật tập quán quốc tế, số lượng thực tiễn quốc gia còn khá hạn chế (chỉ bao gồm việc đàm phán Hiến chương Nuremberg của 4 quốc gia, sự gia nhập Hiến chương của 19 quốc gia khác), phán quyết của Toà Nuremberg và một nghị quyết sau đó của Đại hội đồng UN đã xác nhận (mặc dù không liệt kê) nguyên tắc của Tòa. Hơn nữa, khoảng thời gian từ khi kết thúc chiến tranh tới sự xác nhận của Đại hội đồng về các nguyên tắc Nuremberg chỉ là một năm. Có thể ví khoảng thời gian đó chỉ như “một giọt trong thùng” so với lượng thời gian thường được tính đến để “kết tinh” luật tập quán quốc tế. Tuy nhiên, bất kể thực tiễn quốc gia có hạn và thời gian rất ngắn, ICJ, Toà án nhân quyền châu Âu và bốn tòa án hình sự quốc tế đã xác nhận rằng Hiến chương và phán quyết của Tòa Nuremberg ngay lập tức đã “chín muồi” thành luật tập quán quốc tế. Hiến chương và phán quyết của Tòa Nuremberg đã đánh dấu một sự thay đổi cơ bản đối với hệ thống quốc tế đến mức mà một quy tắc mới của luật tập quán quốc tế có thể nảy sinh với tốc độ ngoại lệ.
Hiến chương và phán quyết của Tòa Nuremberg đã phản ánh một giải pháp mới đối với sự tàn bạo chưa từng thấy trước bối cảnh cuộc chiến tranh tàn phá nhất trong lịch sử. Ngoài vụ xét xử của Tòa Nuremberg, các quốc gia cũng có nhu cầu lớn về việc thực hiện phổ quát các nguyên tắc Nuremberg. Tuy nhiên, vào đêm trước của Chiến tranh lạnh, rõ ràng là một công ước đa phương được phê duyệt rộng rãi sẽ không phải là một giải pháp trước mắt có thể thực hiện được. Trên thực tế, cộng đồng quốc tế phải mất nửa thế kỷ mới có thể ký kết một điều ước được phê chuẩn rộng rãi nhằm chuyển hóa mô hình Tòa Nuremberg trở thành một Tòa án hình sự quốc tế thường trực. Bối cảnh sự thay đổi cơ bản này và nhu cầu rất lớn về một phản ứng kịp thời là cơ sở giải thích làm thế nào Hiến chương và phán quyết của Tòa Nuremberg có thể được chấp nhận như là luật tập quán quốc tế một cách nhanh chóng và phổ quát đến như vậy.
*Một số hoàn cảnh khác đẩy nhanh quá trình hình thành luật tập quán quốc tế
Năm 1945, Tổng thống Truman tuyên bố rằng, các nguồn tài nguyên ở thềm lục địa ngoài khơi bờ biển nước Mỹ là thuộc về Mỹ. Tuyên bố này thể hiện một sự chuyển hướng quan trọng trong luật quốc tế hiện hành về biển. Tuyên bố Truman được thúc đẩy bởi sự phát triển của công nghệ khai thác khí đốt ngoài khơi và nhu cầu mạnh mẽ sau chiến tranh đối với các nguồn tài nguyên dầu mỏ, khí đốt. Bất kể có sự thay đổi sâu rộng mà nó đề cập, Tuyên bố Truman đã không bị phản đối. Trong vòng năm năm, một nửa các quốc gia ven biển trên thế giới đã đưa ra tuyên bố tương tự đối với các nguồn tài nguyên ở thềm lục địa của mình. Thậm chí, các nhà bình luận tuyên bố rằng khái niệm thềm lục địa đã gần như trở thành “luật tập quán quốc tế tức thời”. Đến năm 1969, ICJ xác nhận rằng, Tuyên bố Truman đã nhanh chóng tạo ra luật tập quán quốc tế ràng buộc với các quốc gia chưa phê chuẩn Công ước năm 1958 về thềm lục địa.
Vào những năm 1960, những bước tiến nhảy vọt trong công nghệ tên lửa đã khánh thành kỷ nguyên của những chuyến bay vào vũ trụ. Bối cảnh đó đã làm luật tập quán quốc tế về khai thác khoảng không vũ trụ nhanh chóng hình thành. Thay vì xây dựng quy chế khoảng không vũ trụ giống như biển quốc tế, cộng đồng quốc tế đã chấp nhận một bộ quy tắc duy nhất để quản lý lãnh thổ này và ghi nhận trong Tuyên bố của Đại hội đồng UN năm 1963 về khoảng không vũ trụ. Văn bản này đã được các quốc gia nhất trí thông qua. Mặc dù thực tiễn quốc gia chỉ giới hạn trong một vài chục chuyến bay vào vũ trụ do Liên bang Xô viết và Mỹ thực hiện và không có phản đối của các quốc gia mà những tên lửa này đã bay qua nhưng các quốc gia và các học giả đã kết luận rằng, Tuyên bố của Đại hội đồng UN năm 1963 đã xác nhận sự tồn tại của luật tập quán quốc tế. Như vậy, các quy tắc của luật tập quán quốc tế về khai thác khoảng không vũ trụ đã hình thành một cách nhanh chóng trước sự phát triển về công nghệ khai thác vũ trụ.
Luật tập quán quốc tế cũng xuất hiện một cách nhanh chóng từ vụ xét xử của Toà án về Nam Tư (cũ) vào những năm 1990. Việc thành lập Toà án về Nam Tư (cũ) được thực hiện do các sự kiện nổi bật vào cuối thời kỳ Chiến tranh lạnh, bao gồm: sự tan rã của Liên bang Xô viết; Liên bang Nga thay thế ghế của Liên bang Xô viết trong Hội đồng Bảo an UN; lần đầu tiên nạn diệt chủng xuất hiện trở lại ở châu Âu kể từ thời Đức Quốc xã. Trong vụ việc mở đầu của mình, Phòng Kháng cáo của Toà án về Nam Tư (cũ) đã đưa ra một quyết định mang tính cách mạng khi lần đầu tiên phán quyết rằng: các cá nhân có thể bị buộc phải chịu trách nhiệm hình sự về các vi phạm Điều 3 chung và Nghị định thư bổ sung II của Công ước Geneva đối với các tội ác chiến tranh được thực hiện trong cuộc xung đột vũ trang diễn ra trong nội bộ quốc gia. Quyết định này đã khép lại một khoảng trống trong phạm vi điều chỉnh của luật nhân đạo quốc tế và sau đó đã sớm được xác nhận bởi Tòa án Rwanda và Toà đặc biệt về Sierra Leone. Năm 1998, quyết định này đã được pháp điển hóa trong Quy chế Toà án hình sự quốc tế – văn kiện mà đã được 122 quốc gia phê chuẩn.

2.2 Nhận diện “bối cảnh thay đổi cơ bản”- tác nhân làm đẩy nhanh quá trình hình thành luật tập quán quốc tế

Cách tiếp cận truyền thống yêu cầu thực tiễn quốc gia phải lặp đi lặp lại trong một khoảng thời gian dài trước khi “kết tinh” thành một quy tắc của luật tập quán. Tuy nhiên, thực tiễn trình bày ở trên cho thấy, các quy tắc của luật tập quán quốc tế có khả năng hình thành nhanh hơn và với ít thực tiễn quốc gia hơn nhằm đáp ứng kịp thời và thích ứng với những hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Luật tập quán quốc tế hình thành nhanh hơn có thể là do những phát triển mới về công nghệ (ví dụ như công nghệ khoan, khai thác thềm lục địa, công nghệ vũ trụ…) hoặc do sự khẩn cấp phải đối phó với các tội ác diễn ra trong các xung đột vũ trang nội bộ như ở Rwanda, Nam Tư… Từ đây, xuất hiện quan điểm: luật tập quán quốc tế có thể hình thành nhanh, không yêu cầu cụ thể về khoảng thời gian để “kết tinh” một quy tắc của luật tập quán. “Việc diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn, hoặc chính khoảng thời gian ngắn, không tất yếu là một rào cản đối với sự hình thành một quy tắc mới của luật tập quán quốc tế”[29].
Tuy nhiên, không phải mọi bối cảnh thay đổi cơ bản đều chứa đựng đầy đủ các thành phần thiết yếu để nhanh chóng “kết tinh” luật tập quán quốc tế. Vì vậy, việc xác định “bối cảnh thay đổi cơ bản” cần phải được đánh giá trên cơ sở từng trường hợp cụ thể. Ví dụ, cộng đồng quốc tế đã ủng hộ các cuộc không kích diễn ra năm 1999 của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) chống lại Serbia để bảo vệ người Kosovo gốc Albania khỏi việc thanh trừng sắc tộc. Hai năm sau đó, Ủy ban Quốc tế về can thiệp và chủ quyền quốc gia (ICISS) đã đưa ra Báo cáo trong đó trình bày về Học thuyết “Trách nhiệm Bảo vệ (R2P)” và “can thiệp nhân đạo đơn phương”. Khái niệm này dường như đã có thể nhanh chóng phát triển thành luật tập quán quốc tế. Tuy nhiên, các quốc gia chủ chốt đứng sau sự can thiệp của NATO đã rút lui khỏi quan điểm rằng các hành động của họ là thực hiện sự “can thiệp nhân đạo đơn phương” hợp pháp. Thay vào đó, các quốc gia này nhấn mạnh bản chất ngoại lệ của hoạt động quân sự. Các tuyên bố này đã làm chậm lại đà phát triển một quy tắc mới của luật tập quán quốc tế.
Năm 2003, trong khi UN đang xem xét các bước để xác nhận Báo cáo ICISS và học thuyết “Trách nhiệm Bảo vệ”, dựa trên trích dẫn những quan ngại nhân đạo như một trong các biện minh cho hành động, Mỹ đã tiến hành đưa quân vào Iraq. Thay vì tán thành “can thiệp nhân đạo đơn phương”, Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an UN đã kết luận bằng một tuyên bố, trong đó đã khẳng định phải có sự cho phép của Hội đồng Bảo an trước khi các quốc gia hoặc các tổ chức khu vực được thực hiện hành động can thiệp quân sự. Mặc dù khái niệm “Trách nhiệm Bảo vệ” đã ảnh hưởng đến cuộc tranh luận quốc tế liên quan đến việc ứng phó với các cuộc khủng hoảng khác nhau nhưng nó đã không dẫn đến một sự thay đổi cơ bản trong luật quốc tế về can thiệp vũ trang.
Một ví dụ khác là sự phản ứng của cộng đồng quốc tế đối với các cuộc tấn công khủng bố vào ngày 11/9/2001. Trước khi xảy ra các cuộc tấn công này, luật quốc tế yêu cầu sự cho phép của quốc gia sở tại trước khi một quốc gia bị thiệt hại do khủng bố có thể khởi động một cuộc tấn công để tự vệ chống lại các thực thể phi nhà nước đang hiện diện ở lãnh thổ quốc gia khác. Yêu cầu đó dường như sẽ bị thay đổi cơ bản khi cộng đồng quốc tế đã tán thành hành động của quân đội Mỹ chống lại al-Qaeda ở Afghanistan như là một trường hợp sử dụng vũ lực hợp pháp để tự vệ. Học thuyết Bush đã được đưa ra để cho phép các quốc gia tấn công vào các phần tử al-Qaeda chủ chốt và tiêu diệt các căn cứ của al-Qaeda ở các quốc gia mà rõ ràng là đã không sẵn sàng hoặc không thể ngăn chặn al-Qaeda hoạt động trên lãnh thổ của họ. Tuy nhiên, học thuyết Bush được tuyên bố rộng rãi đã gây ra phản hồi từ ICJ. Trong vụ Wall năm 2004 và vụ Congo năm 2005, ICJ đã tái khẳng định sự cho phép của quốc gia sở tại vẫn là một điều kiện tiên quyết để được phép sử dụng vũ lực nhằm mục đích tự vệ. Mặc dù vẫn có khá nhiều chỉ trích về những phán quyết này, nhưng trong ngắn hạn, các phán quyết này đã làm chậm lại sự hình thành quy tắc mới của luật tập quán quốc tế sau sự kiện ngày 11/9/2001.
Hai ví dụ trên cho thấy, một quy phạm nhanh chóng hình thành cũng có thể bị chậm lại, chưa thể trở thành luật tập quán quốc tế bởi vì thực tiễn quốc gia hoặc tuyên bố rõ ràng đã cấu thành một sự lạm dụng quy phạm rất dễ nhận thức thấy. Cụ thể, sự can thiệt của Mỹ vào Iraq năm 2003 và của Nga vào Gruzia trong năm 2008 đã nhắc lại những quan ngại rằng một học thuyết cho phép “can thiệp nhân đạo đơn phương” sẽ dễ bị lạm dụng, qua đó giảm được đà phát triển của khái niệm “Trách nhiệm Bảo vệ” như là cơ sở hợp pháp cho hành động nhân đạo ngoài khuôn khổ UN. Tương tự như vậy, sự nhận thức rằng Học thuyết Bush là quá rộng và dễ dàng bị lạm dụng đã làm chậm động lực dẫn đến sự thay đổi trong luật về tự vệ chống lại các thực thể phi nhà nước.
Nghiên cứu các trường hợp điển hình ở trên cũng chỉ ra rằng, ngoài việc đáp ứng thay đổi về mặt công nghệ, kinh tế – xã hội, sự hình thành nhanh luật tập quán quốc tế một phần là do sự sắp xếp lại địa – chính trị, mà thông thường là sau chiến tranh. Ví dụ, sự khẳng định các nguyên tắc Nuremberg và sự phát triển của khái niệm thềm lục địa đã diễn ra ngay sau khi Chiến tranh thế giới lần II chấm dứt. Tương tự, việc thành lập Tòa án Nam Tư (cũ) và phán quyết trong vụ Tadic về áp dụng tội phạm chiến tranh đối với các cuộc xung đột vũ trang nội bộ đã diễn ra ngay sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc và sự sụp đổ của Liên Xô (cũ). Phản ứng của cộng đồng quốc tế đối với các vụ tấn công ngày 11/9 đã có vẻ như sẽ dẫn đến một sự sắp xếp lại địa – chính trị bởi các động cơ chung là chống khủng bố. Tuy nhiên, các hành động sau đó của Mỹ (ví dụ như ngược đãi các tù nhân khủng bố tại Vịnh Guantanamo và các căn cứ CIA Black) đã làm đứt đoạn sự đồng thuận về thời gian, địa điểm và cách thức sử dụng vũ lực chống lại các thực thể phi quốc gia.
Hơn nữa, trong các trường hợp Tòa Nuremberg, thềm lục địa và luật vũ trụ, bối cảnh thay đổi cơ bản đã dẫn tới sự hình thành nhanh chóng các nguyên tắc cơ bản của luật tập quán quốc tế nhưng vẫn còn có sự chưa rõ ràng, chưa chắc chắn liên quan đến nghĩa chính xác của khái niệm xâm lược, thềm lục địa và khoảng không vũ trụ… Những khái niệm này vẫn phải tiếp tục được hoàn thiện và phát triển trong những năm tiếp theo. Điều này chỉ ra rằng, luật tập quán quốc tế được hình thành nhanh chóng do bối cảnh quốc tế thay đổi cơ bản nhưng chúng cũng có thể không được hoàn thiện một cách đầy đủ để thể hiện một sự thay đổi cơ bản trong luật pháp.
Bên cạnh đó, luật tập quán quốc tế hình thành nhanh không có nghĩa là luật tập quán quốc tế có thể hình thành ngay lập tức, chỉ trên cơ sở nghị quyết của Đại hội đồng UN mà không cần thực tiễn quốc gia. Mặc dù các tuyên bố, lời nói cũng được coi là thực tiễn quốc gia nhưng nghị quyết của Đại hội đồng UN được thông qua trên cơ sở nhất trí hoặc đa số không thể cấu thành đồng thời cả yếu tố vật chất và tinh thần để ngay lập tức hình thành quy tắc của luật tập quán quốc tế[30]. Trước hết, khi đề cập đến các quyền hạn và chức năng của Đại hội đồng, Hiến chương UN sử dụng thuật ngữ “kiến nghị – recommend”[31]. Các văn bản ghi chép quá trình đàm phán Hiến chương UN cũng cho thấy các quốc gia đã có ý định rằng nghị quyết Đại hội đồng chỉ có tính khuyến nghị[32]; thứ hai, nghị quyết của Đại hội đồng thường không phân biệt rõ giữa quy tắc xử sự là luật với quy tắc xử sự là khuyến nghị các bên nên thực hiện theo. Ví dụ, mặc dù Tuyên bố Manila về hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế[33] yêu cầu “các bên phải kiềm chế không tiến hành các hành động làm cho tình hình trở nên xấu đi” nhưng đó chỉ là xử sự mong muốn đạt được. Với mong muốn có nhiều quốc gia nhất trí thông quan văn bản, các Nghị quyết Đại hội đồng UN thường phản ánh sự mập mờ có chủ ý giữa thực tế và mong muốn. Vì vậy, một “quy tắc” mà chỉ dựa duy nhất vào lời nói hay tuyên bố trong nghị quyết của Đại hội đồng sẽ không đạt được sự tuân thủ chắc chắn trong thực tiễn; thứ ba, nghị quyết của Đại hội đồng không phải lúc nào cũng thể hiện đúng ý định thực sự của các quốc gia. Các quốc gia thường bỏ phiếu thông qua nghị quyết của Đại hội đồng UN để làm đẹp hình ảnh của mình hoặc không mong đợi rằng nghị quyết sẽ thiết lập một quy tắc mới là luật; thứ tư, ngay cả khi nếu các tuyên bố và bỏ phiếu tại Đại hội đồng UN có thể hội tụ đủ điều kiện như là thực tiễn quốc gia hoặc biểu hiện của yếu tố tinh thần, sẽ là không logic nếu tính một hành động thể hiện cả yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần. Như vậy, cần phải nhìn nhận rằng, nghị quyết của Đại hội đồng UN có thể khẳng định và làm sáng tỏ các quy tắc hiện tại hoặc định hình sự phát triển trong tương lai của luật tập quán quốc tế. Khi một quy tắc của luật tập quán đang hình thành hoặc vẫn còn một số nghi ngờ về vị thế luật tập quán của nó, một nghị quyết nhất trí có thể củng cố luật tập quán và loại bỏ những nghi ngờ mà có thể đã tồn tại.

3. Ý nghĩa của sự hình thành nhanh luật tập quán quốc tế

Nghị quyết của Đại hội đồng UN có vai trò như là một thành phần thiết yếu trong việc đẩy nhanh sự hình thành luật tập quán quốc tế. Tuyên bố năm 1946 khẳng định nguyên tắc Nuremberg và Tuyên bố năm 1963 về khoảng không vũ trụ là các ví dụ về nghị quyết Đại hội đồng có ảnh hưởng đáng kể đến sự hình thành và pháp điển hóa nhanh chóng luật tập quán quốc tế. Ngược lại, nghiên cứu sự can thiệp của NATO năm 1999 đã cho thấy các nghị quyết của Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an có thể làm cho một bối cảnh quốc tế có khả năng thay đổi cơ bản nhưng đã không thể dẫn đến sự hình thành một quy tắc mới của luật tập quán quốc tế.
Khi quyết định có nên coi một nghị quyết cụ thể của Đại hội đồng UN như là bằng chứng về một quy tắc luật tập quán quốc tế, ICJ cho rằng “cần phải nhìn vào nội dung và các điều kiện thông qua nghị quyết”[34]. Khi xem xét các yếu tố này, Tòa thường coi loại hình nghị quyết có ý nghĩa quan trọng. Các nghị quyết khuyến nghị (recommendation) thường được trao ít trọng lượng. Các tuyên bố (declarations) thường được sử dụng để tăng sự trang trọng. Các nghị quyết khẳng định (affirmations) thường được sử dụng để chỉ ra sự pháp điển hoá hoặc sự kết tinh luật tập quán quốc tế. Một điểm quan trọng nữa là kết quả bỏ phiếu. Các nghị quyết được thông qua trên cơ sở nhất trí hoặc đa số thường có ảnh hưởng tạo ra luật. Ngược lại, sự bất đồng đáng kể (ví dụ, rất nhiều phiếu trắng hoặc phản đối của một số ít quốc gia nhưng lại là quốc gia có vai trò quan trọng trong các hoạt động được đề cập) sẽ ngăn cản sự hình thành luật tập quán quốc tế[35]. Các nghị quyết đồng thuận (được thông qua mà không có phiếu phản đối) phải được trao ít sức nặng thực tiễn hơn so với các nghị quyết được nhất trí thông qua, bởi vì, các quốc gia thường bị áp lực phải giữ im lặng (ngay cả khi họ có phản đối) để không phá vỡ sự đồng thuận. ICJ cũng chỉ ra rằng, khi bỏ phiếu thông qua một nghị quyết cụ thể của Đại hội đồng, nếu một quốc gia đề cập một cách rõ ràng rằng chỉ coi văn bản nghị quyết như là một tuyên bố chính trị thì nghị quyết đó có thể không được viện dẫn để chống lại quốc gia đó[36]. Với những lý do này, không có cơ sở để phải lo ngại rằng việc thừa nhận nghị quyết của Đại hội đồng UN có vai trò trong việc hình thành luật tập quán quốc tế sẽ làm cho Đại hội đồng UN trở thành một cơ quan lập pháp quốc tế và dẫn đến chế độ áp đặt của đa số.
Tương tự như vậy, các quyết định của tòa án quốc tế đã đưa ra lời giải thích có căn cứ xác đáng làm hoàn tất sự hình thành luật tập quán bằng cách xác nhận sự tồn tại quy tắc mới của luật tập quán. Ví dụ, trong vụ North Sea Continental Shelf, ICJ đã xác nhận vị thế luật tập quán của Tuyên bố Truman. Ngược lại, tuyên bố của Tòa trong vụWall và Congo đã ngăn cản sự phát triển “kết tinh” luật tập quán về tự vệ chống lại các nhóm khủng bố mà hành vi của chúng không thể quy cho quốc gia mà chúng hiện diện. Như vậy, giống như nghị quyết của Đại hội đồng UN, quyết định của tòa án quốc tế có ý nghĩa tăng cường, làm cho quá trình hình thành quy tắc luật tập quán quốc tế diễn ra nhanh hơn.
Việc thừa nhận sự hình thành nhanh luật tập quán quốc tế có một số ý nghĩa thực tế sau đây:
– Nó có thể giải thích sự hình thành nhanh chóng của các quy tắc tập quán ở thời điểm bối cảnh có sự thay đổi mạnh mẽ, qua đó làm cho quy tắc sớm phổ biến và được thừa nhận là luật;
– Việc thừa nhận này cũng có thể giúp học giả tư vấn cho các chính phủ khi muốn tìm kiếm giải pháp bằng một nghị quyết Đại hội đồng UN như là một phương tiện để tạo thuận lợi cho việc hình thành nhanh luật tập quán quốc tế;
– Trong những hoàn cảnh thích hợp, việc thừa nhận luật tập quán hình thành nhanh sẽ có thể củng cố các vụ việc mà trong đó, các đương sự tranh luận về sự tồn tại của một quy tắc luật tập quán quốc tế mới;
– Sự thừa nhận đó cũng có thể làm cho các tòa án quốc tế sẵn sàng hơn trong việc công nhận các quy tắc mới của luật tập quán quốc tế trong các hoàn cảnh thích hợp, mặc dù có tương đối ít thực tiễn quốc gia và khoảng thời gian hạn chế. Đặc biệt, trong trường hợp quan hệ quốc tế mới nảy sinh nhưng chưa có các quy tắc của điều ước hoặc nguyên tắc chung của luật để điều chỉnh, việc thừa nhận luật tập quán quốc tế có thể nhanh chóng hình thành sẽ giúp cơ quan tài phán quốc tế tránh được việc phải tuyên bố về tình trạng không có luật có thể áp dụng (non liquet)./.
 

TS. Lê Thị Anh Đào – Giảng viên Khoa Pháp luật quốc tế – Trường Đại học Luật Hà Nội

Nguồn: Chuyên trang Học luật trực tuyến (hocluat.vn)

 


[1] Manley O. Hudson, Special Rapporteur on Article 24 of the Statute of the International Law Committee, Ways and Means for Making the Evidence of Customary International Law More Readily, xem tại: Year Book International Law Committee, U.N. Doc. A/CN.4/16 (Mar. 3, 1950).
[2] North Sea Continental Shelf (Federal Republic of Germany/Denmark; Federal Republic of Germany/Netherland.), Merits, 1969 I.C.J. 3, at 71, 73– 74.
[3] S.S. Lotus (France. v. Turkey), Merits, 1927 P.C.I.J. (ser. A) No. 10, at 18 (Sept. 7); North Sea Continental Shelf, 1969, id. at 77.
[4]International Law Association, London Conference: Committee on Formation of custommay (general) international law25 (2000), p.13-14. http://www.ila-hq.org/en/ committees/index.cfm/cid/30.
[5]S.S. Lotus, 1927 P.C.I.J. at 23, 26–30; Nottebohm Case (Liechtenstein. v. Guatemala), 1955 I.C.J. 4, at 21–23 (Apr. 6); Fisheries Jurisdiction (United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland v. Iceland), Merits, 1974 I.C.J 3, at 24–26, at 55–58 (July 25); Military and Paramilitary Activities in and Against Nicaragua (Nicaragua. v. United State), Merits, 1986 I.C.J. 14, at 97–109, at 183–207 (June 27); Legality of the Threat or Use of Nuclear Weapons, Advisory Opinion, 1996 I.C.J. 226, at 259–61, at 86, 88 (July 8); Gabcikovo-Nagymaros Project (Hungary/Slovakia), 1997 I.C.J. 7, at 49–54, 83, 85 (Sept. 25).
[6]International Law Association, id, p.7.
[7] Nottebohm Case, 1955, id. at 22.
[8] Fisheries (U.K. v. Nor., 1951 I.C.J. Rep. 116 (18 Dec.); North Sea Continental Shelf Case, 1969, id. at 43;
[9] Asylum Case (Colombia v. Peru), 1950 I.C.J. 266, at 276 (Nov. 20).
[10] Fisheries Jurisdiction, 1951, id, at 138.
[11] Continental Shelf (Tunis/Libya), 1982 I.C.J. 18, at 74, at 100 (Feb. 24); Continental Shelf (Libya/Malta), 1985 I.C.J. 13, at 33, at 34 (June 3).
[12] Nicaragua Case, 1986, id. at 98, at 186.
[13] North Sea Continental Shelf, 1969, id. at 43, at 74.
[14] Continental Shelf, 1985, id. at 13.
[15] Frontier Dispute (Burkina Faso/Mali), 1986 I.C.J. 554, at 564–65, at 19–20.
[16] Asylum Case, 1950, id. at 276.
[17] Fisheries Jurisdiction, 1951, id. at 116, at 131.
[18] ILA, London Conference: Committee on the formation of customary (general) international law, id, at 27.
[19] S.S. Lotus, 1927 P.C.I.J. at 28.
[20] Frederic. L. Kirgis, Jr., Custom on a Sliding Scale, 81 American Journal International Law. 146, 149 (1987)
[21]ECCC là tòa án đặc biệt tại Campuchia, được Liên hiệp quốc bảo trợ, thành lập từ năm 2006 với mục đích tìm lại công lý cho các nạn nhân dưới chế độ Khmer Đỏ (1975 – 1979) tại Campuchia.
[22] Decision on the Appeals Against the Co-Investigative Judges’ Order on Joint Criminal Enterprise (JCE), Ieng et al. (002/10-09-2007- ECCC/TC), Trial Chamber, 17 June, 2011.
[23] General Assembly Resolution 95(I), U.N. GAOR, 1st Sess., U.N. Doc A/236, pt. 2, at 1144, (Dec. 11, 1946), tại http://www.un.org/en/ga/search/view_doc.asp?symbol=A/RES/95(I)&Lang= E&Area=RESOLUTION
[24] Legal Consequences of the Construction of a Wall in Occupied Palestinian Territory, Advisory Opinion, 2004 I.C.J. 136, 172 (July 9).
[25] Prosecutor v. Tadic, Case No. IT-94-1-I, Opinion and Judgment, Trial Chamber, at 623 (International Crimminal Tribunal for the Former Yugoslavia May 7, 1997); Prosecutor v. Tadic, Case No. IT-94-1-I, Decision on the Defence Motion for Interlocutory Appeal on Jurisdiction, at 141 (International Crimminal Tribunal for the Former Yugoslavia Oct. 2, 1995).
[26] Kolk and Kislyiy v. Estonia, App. No. 23052/04, 24018/04, Decision on Admissibility, Eur. Ct. H.R. (Jan. 17, 2006).
[27] R. v. Finta, [1994], 1 Supreme Court of Canada, at. 701; Prosecutor v. Ivica Vrdoljak, Court of Bosnia and Herzegovina, 10 July 2008.
[28] Report of the International Law Committee on the Work of its Forty-Eighth Session, 51st Sess., May 6–July 26, 1996, U.N. Doc. A/51/10; GAOR, 51st Sess., Supp. No. 10 (1996).
[29] North Sea Continental Shelf, 1969, id. at 76.
[30] Khurshid Iqbal, The right to development in international law: The case of Pakistan 120 (2010); South West Africa Cases (Ethiopia & Liberia. v. South Africa), 1966 I.C.J. Rep. 248, 291–93 (ý kiến riêng của thẩm phán Tanaka).
[31] Điều 10, Điều 11 Hiến chương UN.
[32] Gregory J. Kerwin, The Role of United Nations General Assembly Resolutions in Determining Principles of International Law in United States Courts, 1983 DUKE L. J. 876, 879 (1983).
[33] General Assembly Resolution 37/10, U.N. Doc. A/RES/37/10 (Nov. 14, 1982).
[34] Nuclear Weapons Advisory Opinion, 1996 I.C.J. at 254–55.
[35] Nuclear Weapons Advisory Opinion, 1996 I.C.J. at 255.
[36] Nicaragua Case, 1986 I.C.J. at 106–07.

Chế định quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam

Quyền nhân thân là quyền của cá nhân đối với các giá trị nhân thân của mình được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân như quyền xác định dân tộc, quyền xác định lại giới tính, quyền chuyển đổi giới tính, quyền kết hôn, quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình, quyền ly hôn, quyền được thay đổi họ, tên, quyền được khai sinh, khai tử, quyền nhận nuôi con nuôi, quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín và một số quyền nhân thân khác được quy định cụ thể trong pháp luật dân sự qua các thời kỳ từ Bộ luật Dân sự năm 1995 đến Bộ luật Dân sự năm 2005 và gần đây nhất là Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trong khoa học pháp lý cũng như trên thực tế, thuật ngữ quyền nhân thân thường bị nhầm với giá trị nhân thân. Giá trị nhân thân là những giá trị tinh thần gắn liền với cá nhân, có từ khi cá nhân sinh ra và không phải mọi giá trị nhân thân đều được xác định là quyền nhân thân mà chỉ những giá trị nhân thân được nhà nước ghi nhận và bảo vệ thông qua việc luật hoá thì mới được coi là quyền nhân thân. Vì vậy, trong phạm vi bài viết này, tác giả đi sâu phân tích về các quyền nhân thân được quy định cụ trong pháp luật dân sự Việt Nam nói chung qua các thời kỳ, đặc biệt là các quyền nhân thân đã được ghi nhận cụ thể trong Hiến pháp năm 2013 – một đạo luật gốc, làm cơ sở, nền tảng cho việc xây dựng các đạo luật chuyên ngành và điều đó đã được cụ thể hoá bằng các quyền nhân thân cụ thể trong Bộ luật Dân sự năm 2015.

1. Khái niệm quyền nhân thân

Điều 25 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

1. Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật Dân sự (BLDS) là quyền gắn liền với mỗi cá nhân không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác,
2. Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người chưa thành niên người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được người đại diện theo pháp luật của người này đồng ý theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc theo quyết định của Toà án.
Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết phải được sự đồng ý của vợ, chồng hoặc con thành niên của người đó: trong trường hợp không có người này thì phải được sự đồng ý của cha, mẹ của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Có rất nhiều cách thức khác nhau để phân loại quyền nhân thân, trong đó cách thức phân loại quyền nhân thân phổ biến là dựa vào đối tượng của quyền nhân thân. Theo cách thức phân loại này thì quyền nhân thân phổ biến là dựa vào đối tượng của quyền nhân thân. Theo cách thức phân loại này thì quyền nhân thân được phân thành 5 nhóm: (1) Nhóm các quyền cá biệt hoá chủ thể (Quyền xác định, xác định lại dân tộc; Quyền xác định lại giới tính); (2) Nhóm các quyền liên quan đến thân thể của cá nhân (Quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể; Quyền hiến bộ phận cơ thể; Quyền nhận bộ phận cơ thể người); (3) Nhóm các quyền liên quan đến giá trị tinh thần của chủ thể (Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; Quyền bí mật đời tư); (4) Nhóm các quyền liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình của cá nhân (Quyền kết hôn, quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình; quyền ly hôn); (5) Nhóm các quyền đối với hình ảnh (Quyền của cá nhân đối với hình ảnh)
Quyền nhân thân gắn liền với mỗi chủ thể nhất định và về nguyên tắc quyền không thể chuyển giao cho các chủ thể khác. Tuy nhiên, trong một số trường hợp luật định thì quyền nhân thân có thể dịch chuyển được, ví dụ: Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 ghi nhận quyền công bố tác phẩm của các tác giả các tác phẩm, các đối tượng sở hữu công nghiệp có thể được chuyển giao sang chủ thể khác mà không phải trong mọi trường hợp tác giả là người công bố.
Quyền nhân thân không xác định được bằng tiền, quyền nhân thân và tiền tệ không phải là những đại lượng tương đương nên không thể trao đổi ngang giá. Trong trường hợp quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm (xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân…) thì chủ thể chịu trách nhiệm phải bồi thường cho cá nhân một khoản tiền. Bản chất của khoản tiền này là nhằm bù đắp những mất mát, tổn thương đã gây ra cho người bị thiệt hại về danh dự, uy tín, nhân phẩm…mà không phải là việc quy đổi quyền nhân thân bị xâm phạm ra tiền.
Cá nhân tự thực hiện các hành vi để xác lập, thực hiện các quan hệ nhân thân cho chính mình. Đối với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người này phải được người đại diện theo pháp luật của người này đồng ý hoặc theo quyết định của Toà án. Ví dụ: Trẻ sơ sinh được cha mẹ hoặc những người thân thích thực hiện việc đăng kí khai sinh, quy định này xuất phát từ việc bảo vệ lợi ích chính đáng của các cá nhân khi mà khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của họ không đầy đủ.
Đối với người bị tuyên bố mất tích, người bị tuyên bố là đã chết, việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân phải được sự đồng ý của vợ, chồng hoặc con đã thành niên của người đó hoặc cha, mẹ của họ. Những cá nhân bị tuyên bố mất tích hoặc bị tuyên bố là đã chết thì năng lực chủ thể của họ bị tạm dừng hoặc chấm dứt nên những vấn đề liên quan đến nhân thân của những người này không thể thực hiện được thông qua người đại diện giống như những cá nhân không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Bởi vậy, người thân thích trong gia đình sẽ là người quyết định vấn đề xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của các cá nhân này.

2. Nhóm các quyền nhân thân cụ thể

Như phân tích ở trên, các quyền nhân thân của cá nhân là một trong những quyền hiến định đã được ghi nhận và quy định cụ thể trong các văn kiện pháp lý quốc tế như: Hiến chương Liên hợp quốc 1945, Tuyên ngôn nhân quyền 1948, Hai Công ước quốc tế về quyền con người năm 1966. Ở Việt Nam, các quyền nhân thân của mỗi cá nhân cũng được ghi nhận cụ thể trong Hiến pháp năm 2013: Điều 19 (Mọi người có quyền được sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật); Điều 36 (Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn); Điều 42 (Công dân có quyền xác định dân tộc của mình)…Thể chế hoá tinh thần Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015 khá cụ thể, chi tiết các quyền nhân thân của mỗi cá nhân trong đời sống dân sự. Các quyền đó, được tác giả đưa vào các nhóm quyền cụ thể và từ đó đi sâu phân tích.

2.1. Nhóm các quyền cá biệt hoá chủ thể (Quyền xác định, xác định lại dân tộc; Quyền xác định lại giới tính).

Thứ nhất, đối với quyền xác định, xác định lại dân tộc, điều 29 BLDS 2015 quy định:

1. Cá nhân có quyền xác định, xác định lại dân tộc của mình;
2. Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ,mẹ đẻ. Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo sự thoả thuận của cha đẻ, mẹ đẻ; trường hợp không có thoả thuận thì dân tộc của con được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn.
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi theo thoả thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì dân tộc của trẻ em được xác định theo dân tộc của người đó.
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì được xác định theo dân tộc theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em vào thời điểm đăng ký khai sinh cho trẻ em…

Xác định dân tộc tức là việc xác định lần đầu tiên dân tộc cho một cá nhân (áp dụng đối với trẻ sơ sinh khi làm thủ tục đăng ký khai sinh); còn xác định lại dân tộc là việc xác định dân tộc cho những cá nhân đã được thừa nhận một dân tộc trước đó. Chẳng hạn như: Chị Nguyễn Thị Hằng và anh Hoàng Văn Thắng kết hôn với nhau và sinh 1 bé trai đặt tên Hoàng Tuấn Đạt, khi làm thủ tục đăng ký khai sinh cho bé Đạt thì vợ chồng anh chị thoả thuận lựa chọn và xác định dân tộc của bé theo dân tộc của mẹ (dân tộc kinh), khi bé Đạt lên 8 tuổi thì anh chị muốn xác định lại dân tộc cho bé theo dân tộc của cha là dân tộc Tày. Vậy việc xác định dân tộc lần đầu tiên khi đăng ký khai sinh là xác định lại dân tộc, còn việc thay đổi từ dân tộc kinh sang dân tộc tày là việc xác định lại dân tộc.
Quyền xác định dân tộc của cá nhân phát sinh từ khi cá nhân được sinh ra, điều đó được hiện thực hoá trên giấy tờ nhân thân đó là giấy khai sinh và quyền xác định, xác định lại dân tộc là một quyền nhân thân được ghi nhận từ các BLDS trước đó, từ BLDS 1995, được kế thừa trong BLDS 2005 và đến nay là BLDS 2015, các văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch và luật chuyên ngành đó là Luật Hộ tịch năm 2014. Quyền xác định lại dân tộc là quyền nhân thân cơ bản của cá nhân, có từ khi cá nhân sinh ra và được áp dụng cho lần xác định dân tộc đầu tiên của một cá nhân (cá nhân chưa có dân tộc nào trước đó). Theo BLDS 2005 thì dân tộc của một cá nhân được xác định theo dân tộc của cha hoặc mẹ, trong trường hợp cha đẻ và mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì con sinh ra được xác định theo tập quán hoặc theo thoả thuận. Căn cứ xác định dân tộc theo tập quán hoặc theo thoả thuận được đặt ngang hàng nhau mà không có sự ưu tiên áp dụng trước, sẽ gây ra sự phức tạp nếu có tranh chấp liên quan đến viêc xác định lại dân tộc cho con trong những trường hợp sau này, khắc phục những điểm hạn chế đó, Điều 29 BLDS 2015 đã bổ sung thêm khoản 2 về việc xác định dân tộc đối với trẻ em được ghi nhận làm con nuôi và trẻ em bị bỏ rơi mà chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ.
Thứ hai, đối với quyền xác định lại giới tính, điều 36 BLDS 2005 quy định:

1. Cá nhân có quyền xác định lại giới tính.
Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ giới tính.
2. Việc xác định lại giới tính được thực hiện theo quy định của pháp luật.
3. Cá nhân đã thực hiện việc xác định lại giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch, có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được xác định lại theo quy định của Bộ luật này và pháp luật khác có liên quan.

Giới tính là những điểm riêng biệt tạo nên sự khác biệt giữa nam và nữ. Cá nhân có quyền xác định lại giới tính nếu thoả mãn điều kiện: (1) giới tính của cá nhân bị khuyết tật bẩm sinh; hoặc (2) giới tính của cá nhân chưa định hình chính xác cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính.
Văn bản chuyên ngành điều chỉnh việc xác định lại giới tính là Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 05/8/2008 của Chính phủ về xác định lại giới tính; Thông tư số 29/2010/TT-BYT ngày 24/5/2010 của Bộ Y tế hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 88/2008/NĐ-CP . Theo các văn bản hướng dẫn chi tiết này thì khuyết tật bẩm sinh về giới tính là những bất thường ở bộ phận sinh dục của một người này từ khi mới sinh ra, biểu hiện ở một trong những dạng như nữ lưỡng tính giả nam, nam lưỡng tính giả nữ hoặc lưỡng giới thật. Giới tính chưa được định hình chính xác là những trường hợp chưa thể phân biệt được một người là nam hay là nữ xét về cả bộ phận sinh dục và nhiễm sắc thể giới tính.
Nguyên tắc xác định lại giới tính, bảo đảm mỗi người đều được sống đúng với giới tính thật của mình, việc xác định lại giới tính phải được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện, khách quan, trung thực, khoa học và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc xác định lại giới tính; giữ bí mật về các thông tin liên quan đến người được xác định lại giới tính, trừ trường hợp có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu cung cấp hồ sơ phục vụ cho việc kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xet xử liên quan đến việc xác định lại giới tính.
Thủ tục đề nghị xác định lại giới tính được thưc hiện, người đề nghị xác định lại giới tính gửi hồ sơ để xác định lại giới tính đến cơ sở khám, chữa bệnh được phép và cơ sở khám, chữa bệnh phải trả lời lại đơn theo thời hạn luật định. Cơ sở khám, chữa bệnh đã thực hiện việc can thiệp y tế xác định lại giới tính cấp giấy chứng nhận y tế sau khi đã xác định lại giới tính cho người được can thiệp y tế. Giấy chứng nhận y tế là căn cứ để đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính. UBND cấp huyện có trách nhiệm giải quyết việc đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.
BLDS 2015 đã tạo điều kiện cho việc ổn định và hoà nhập cuộc sống của những người xác định lại giới tính thông qua việc quy định họ có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch, có quyền nhân thân phù hơp với giới tính đã được xác định lại Ví dụ, cá nhân sau khi xác định lại giới tính thì giới tính thật là nam hoặc nữ có quyền thay đổi tên hiện có là nam giới hoặc nữ giới để phù hợp với cuộc sống, sinh hoạt, có quyền kết hôn với người nam hoặc người nữ khác theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

2.2. Nhóm các quyền liên quan đến thân thể của cá nhân (Quyền sống, quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể; Quyền hiến bộ phận cơ thể; Quyền nhận bộ phận cơ thể người).

Thứ nhất, đối với quyền sống, quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể, điều 33 BLDS 2015 quy định: “Cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể quyền được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật…”.
Tính mạng, sức khoẻ, thân thể của cá nhân là những yếu tố quan trọng hàng đầu và vô giá đối với mỗi con người. Do đó, quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể của cá nhân là quyền nhân thân cơ bản, được ưu tiên quan tâm bảo vệ từ phía nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền.
Quyền sống là một quyền nhân thân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, điều 19 “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bi tước đoạt tính mạng trái luật”. Thể chế hoá tinh thần của Hiến pháp năm 2013, BLDS 2015, điều 33 đã quy định “Cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”. Giữa quyền sống và quyền bất khả xâm phạm về tính mạng có mối liên quan mật thiết với nhau. Một cá nhân có quyền sống thì đương nhiên loại trừ các hành vi xâm phạm đến tính mạng, vi phạm đến quyền sống của cá nhân; ngược lại, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng là cơ sở, điều kiện quan trọng để cá nhân được bảo đảm quyền sống. Mọi cá nhân trong xã hội, không phân biệt giới tính, giàu nghèo, địa vị xã hội đều được bình đẳng trước pháp luật trong việc bảo vệ tính mạng, thân thể, sức khoẻ của mình. Việc xâm phạm đến những yếu tố này gây ra thiệt hại cho người bị xâm phạm là cơ sở phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của người có hành vi xâm phạm. Ví dụ, theo điều 590 và 591 BLDS 2015, khi một người gây thiệt hại trái pháp luật đến sức khoẻ, tính mạng của người khác thì có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp hành vi gây thiệt hại có tính chất nguy hiểm cho xã hội, đã đủ các yếu tố cấu thành tội phạm thì người gây thiệt hại còn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình.
Thứ hai, đối với quyền hiến bộ phận, quyền nhận bộ phận cơ thể người, điều 35 BLDS 2015 quy định:

1. Cá nhân có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi còn sống hoặc hiến mô, bộ phận cơ thể, hiến xác của mình sau khi chết vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác.
2. Cá nhân có quyền nhận mô, bộ phận cơ thể của người khác để chữa bẹnh cho mình. Cơ sở khám, chữa bệnh, pháp nhân có thẩm quyền về nghiên cứu khoa học có quyền nhận bộ phận cơ thể người, lấy xác để chữa bệnh, thử nghiệm y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác.
3. Việc hiến, lấy mô, bộ phận cơ thể người, hiến, lấy xác phải tuân thủ theo các điều kiện và được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác và luật khác có liên quan.

Cá nhân được quyền tự quyết đối với cơ thể mình và thi thể của họ sau khi chết. Bên cạnh đó, cá nhân cũng có quyền nhận mô, bộ phận cơ thể của người khác để chữa bệnh cho mình. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, pháp nhân có thẩm quyền về nghiên cứu khoa học có quyền nhận bộ phận cơ thể người, lấy xác để chữa bệnh, thử nghiệm y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác. Nhận mô, bộ phận cơ thể của người khác là quyền nhân thân thể hiện việc cá nhân được quyền chữa bệnh và quyền được sống. Đây còn là quyền nhân thân của cơ sở khám, chữa bệnh, pháp nhân có thẩm quyền về nghiên cứu khoa học. Các tổ chức này nhận bộ phận cơ thể người, lấy xác để thực hiện các hoạt động với mục đích: chữa bệnh, thử nghiệm y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác.
Việc hiến, lấy mô, bộ phận cơ thể người, hiến, lấy xác phải tuân thủ theo các điều kiện và được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác và pháp luật khác có liên quan. Văn bản chuyên ngành điều chỉnh việc hiến bộ phận cơ thể ở người sống hiện nay là Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007. Luật này quy định chi tiết và đầy đủ các nội dung như điều kiện hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể; quy trình thủ tục tiến hành; quyền lợi, nghĩa vụ của bên hiến và bên nhận; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, việc thực hiện quyền hiến mô, bộ phận cơ thể cả khi cá nhân còn sống hay khi đã chết đều gặp phải rất nhiều khó khăn, vướng mắc liên quan đến tình cảm gia đình, các quan niệm truyền thống của nhân dân.

2.3. Nhóm các quyền liên quan đến giá trị tinh thần của chủ thể (Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; Quyền bí mật đời tư).

Thứ nhất, đối với quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, điều 34 BLDS năm 2015 quy định:

1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.
2. Cá nhân có quyền yêu cầu Toà án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.
Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con chưa thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
3. Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được huỷ bỏ.
4. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố thông tin đó là không đúng.
5. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.

Danh dự, nhân phẩm, uy tín là những yếu tố nhân thân (quyền nhân thân) phi tài sản gắn liền với mỗi cá nhân cụ thể, con người cụ thể, thể hiện phẩm chất, nhân cách, đạo đức và giá trị của mỗi cá nhân. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của mỗi cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Khi danh dự, nhân phẩm, uy tín của một cá nhân cụ thể nào đó bị xâm phạm thì cá nhân đó có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố bác các thông tin đã gây ảnh hưởng xấu đến cá nhân. Cá nhân không chỉ được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín khi còn sống mà ngay cả khi cá nhân đã chết thì pháp luật vẫn duy trì sự bảo hộ, điều đó được thể hiện bằng việc vợ, chồng hoặc con đã thành niên của người bị xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín; hoặc cha, mẹ của cá nhân này trong trường hợp cá nhân không có vợ, chồng, con đã thành niên.
Những thông tin gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó, nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được huỷ bỏ.
Với sự phát triển mạnh mẽ như vũ bão của khoa học, công nghệ thông tin như hiện nay như mạng xã hội facebook, zalo…thì những thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải nhanh chóng và trên bình diện rộng. Tuy nhiên không phải trong trường hợp nào cũng xác định được người đưa tin chẳng hạn như có những người đã lập facebook ảo… thì đối với những trường hợp này, cá nhân bị đưa tin  sẽ căn cứ vào phương thức yêu cầu Toà án tuyên bố thông tin đó là không đúng, trái với sự thật để bảo vệ quyền nhân thân của mình.
Cá nhân bị thông tin xấu làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm có quyền yêu cầu người vi phạm cải chính, công khai xin lỗi và bồi thường thiệt hại (nếu có). Bên cạnh các chế tài dân sự ( bồi thường thiệt hại, buộc xin lỗi) thì trong trường hợp mà hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân có tính chất nguy hiểm cho xã hội, người có hành vi xâm phạm còn có thể phải gánh chịu những chế tài của pháp luật hình sự.
Thứ hai, đối với quyền bí mật đời tư, điều 38 BLDS năm 2015 quy định:

1. Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.
2. Việc thu thập, lưu trữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.
3. Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.
Việc bóc, mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật định.
4. Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Quyền riêng tư là quyền của cá nhân đối với đời sống của mình mà không chịu bất kỳ sự can thiệp nào từ những người xung quanh khác; còn “bí mật cá nhân, bí mật gia đình” là những thông tin, tư liệu mà cá nhân không muốn công khai, bộc bạch, được giữ kín bằng các biện pháp thông thường hoặc biện pháp kỹ thuật khác nhau.
Việc thu thập, lưu trữ, sử dụng công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được bản thân cá nhân đó đồng ý. Quy định này hoàn toàn phù hợp với mọi cá nhân trong đời sống, xã hội thể hiện sự tôn trọng pháp luật đối với đời sống riêng tư, bí mật đời tư của cá nhân.

2.4. Nhóm các quyền liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình của cá nhân (Quyền kết hôn, quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình, quyền ly hôn).

Điều 39 BLDS 2015 quy định:

1. Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên gia đình.
Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha, mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha, mẹ của mình.
2. Cá nhân thực hiện quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ luật này, Luật Hôn nhân và gia đình và luật khác có liên quan.
Đối với quan hệ hôn nhân, cá nhân có quyền kết hôn và quyền ly hôn. Trong đời sống gia đình, cá nhân có quyền bình đẳng của vợ chồng; quyền xác định cha, mẹ, con; quyền nuôi con nuôi…

Thứ nhất, quyền kết hôn, là quyền nhân thân của cá nhân được pháp luật thừa nhận, là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: (a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; (b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định; (c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự’ (d) Việc kết hôn không thuộc một trong những trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 2 Điều 5 của Luật Hôn nhân và gia đình. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành, nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.
Việc kết hôn giữa những người cùng giới tính, hiện trên thế giới cũng mới chỉ có khoảng gần 20 quốc gia và vùng lãnh thổ công nhận quan hệ hôn nhân giữa những người cùng giới tính (Pháp, Đan Mạch, Hà Lan, Canada và một số Bang của Hoa Kỳ…). Những quốc gia này trước khi công nhận việc kết hôn giữa những người đồng tính cũng đã có lộ trình từ lâu khi quy định cho phép kết hợp dân sự, chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính (Ví dụ: Hà Lan từ năm 1998, đến năm 2001 mới chính thức công nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính; Cộng hoà Pháp thừa  nhận quyền chung sống giữa những người cùng giới tính từ năm 1999, đến năm 2013 mới thừa nhận hôn nhân của họ…). Ở châu Á thì chưa có quốc gia nào công nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính, tuy nhiên thì Trung Quốc (năm 1997), Ấn Độ (2009) đã hợp pháp hoá tình trạng chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính.
Ở nước ta, trước đây, theo khoản 5 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính. Quy định này đã dẫn đến những phản ứng gay gắt của nhóm người đồng tính, trong quá trình thực thi đã có nhiều quan điểm khác nhau đối với trường hợp chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính. Hiện nay, khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính, mà đặt ra “điều kiện kết hôn” là: các bên kết hôn phải tuân thủ các điều kiện kết hôn, trong đó hai bên kết hôn phải khác giới tính, đó cũng là điều kiện để việc kết hôn là hợp pháp.
Thứ hai, quyền ly hôn: vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn. Quyền yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân của vợ, chồng, chỉ với tư cách là vợ, chồng mới có quyền ly hôn. Điểm cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là quy định bổ sung thêm cha, mẹ, người thân thích khác (cũng) có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ, tinh thần của họ (khoản 2 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Quy định này xuất phát từ thực tiễn của đời sống xã hội và với mục đích nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của vợ, chồng là người mất năng lực hành vi dân sự và là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra.
Pháp luật thừa nhận và bảo hộ quyền ly hôn của vợ và chồng. Tuy nhiên, quyền này cũng bị hạn chế trong một số trường hợp cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi của người vợ và người con là trẻ sơ sinh: chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi (khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Quy định này xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà mẹ, trẻ em, phụ nữ có thai và thai nhi. Việc hạn chế quyền ly hôn này chỉ áp dụng với riêng người chồng mà không áp dụng đối với người vợ. Theo quy định trên, dù người vợ đang mang thai hoặc đứa trẻ sinh ra chưa đủ 12 tháng tuổi (tức là đứa trẻ không phải là con của người chồng mà có thể là con của bất kỳ người đàn ông nào) thì người chồng vẫn bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn. Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, trong trường hợp bị Toà án xử bác đơn yêu cầu ly hôn thì người vợ, chồng bị Toà án xử bác đơn yêu cầu ly hôn đó phải đợi sau thời hạn một năm mới được quyền yêu cầu ly hôn.
Thứ ba, đối với quyền bình đẳng giữa vợ, chồng, Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, luật này và các luật khác có liên quan”.
Nguyên tắc vợ, chồng bình đẳng được ghi nhận đầu tiên trong sắc lệnh số 97 – SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch nước về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật (Điều 5), đồng thời là một trong những nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình. Nội dung của nguyên tắc này bảo đảm quyền bình đẳng của vợ chồng trong các quan hệ nhân thân và tài sản (được quy định từ Điều 17 đến Điều 50 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của vợ chồng luôn gắn liền và được thực hiện tương ứng giữa vợ chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân; không thể chuyển giao cho người khác và không thể thực hiện bằng nghĩa vụ khác. Theo đó, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác hoặc do yêu cầu của công việc, nghề nghiệp, học tập, công tác, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, kinh tế, xã hội và lý do chính đáng khác (Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014); vợ chồng có quyền lựa chọn nơi cư trú theo thoả thuận, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính (Điều 20) và các quan hệ về tài sản…
Thứ tư, quyền xác định cha, mẹ, con là quyền nhân thân đươc ghi nhận trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Cụ thể, Điều 90 quy định về quyền nhận cha, mẹ: Con có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể cả trường hợp cha, mẹ đã chết; Con đã thành niên nhận cha, không cần phải có sự đồng ý của mẹ; nhận mẹ, không cần phải có sự đồng ý của cha; Điều 91 quy định về quyền nhận con: cha, mẹ có quyền nhận con, kể cả trường hợp con đã chết; Trường hợp người đang có vợ, chồng mà nhận con thì việc nhận con không cần phải có sự đồng ý của người kia. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ con; đặc biệt, Luật đã ghi nhận vấn đề mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (từ Điều 94 đến Điều 100), đây là quy định mới trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Thứ năm, quyền được nhận làm con nuôi và quyền nuôi con nuôi: Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi (khoản 1 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010). Việc thực hiện quyền này trên thực tế phải tuân theo các điều kiện, trình tự, thủ tục do Luật Nuôi con nuôi quy định. Luật cũng quy định các nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi, thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế, hệ quả của việc nuôi con nuôi và những căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi.

2.5. Nhóm các quyền đối với hình ảnh (Quyền của cá nhân đối với hình ảnh).

Điều 32 BLDS 2015 quy định:

Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.
Việc sử dụng hình ảnh cuả cá nhân phải được người đó đồng ý.
Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác…..

Quyền của cá nhân đối với hình ảnh là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân được pháp luật ghi  nhận và bảo vệ, theo đó cá nhân được phép sử dụng hình ảnh và cho phép người khác sử dụng hình ảnh của mình. Liên quan đến tính chất tài sản và phi tài sản của quyền này thì trên thực tế đang có nhiều quan điểm khác nhau: (1) Có quan điểm cho rằng, quyền của cá nhân đối với hình ảnh là quyền nhân thân gắn với tài sản vì thông qua việc cho phép sử dụng hình ảnh mà cá nhân thu được các lợi ích vật chất nhất định, chẳng hạn những người nổi tiếng như diễn viên, ca sĩ…thường cho các nhãn hàng sử dụng hình ảnh của mình để quảng bá sản phẩm; (2) Luồng ý kiến khác lại cho rằng, quyền của cá nhân đối với hình ảnh có thể là quyền nhân thân gắn với tài sản hoặc là quyền nhân thân không gắn với tài sản, điều đó tuỳ thuộc vào mục đích khai thác hình ảnh của cá nhân. Nếu việc khai thác hình ảnh gắn với lợi ích vật chất thì đây là quyền nhân thân gắn với tài sản; còn nếu việc khai thác hình ảnh không gắn với lợi ích vật chất thì đây là quyền nhân thân gắn với tài sản.
Cá nhân là người có quyền đối với hình ảnh của mình, việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được sự đồng ý của người đó. Tuy nhiên, trong một số trường hợp thì pháp luật cũng quy định thì một chủ thể được quyền sử dụng hình ảnh của cá nhân mà không cần sự đồng ý của người có hình ảnh: (1) Việc sử dụng hình ảnh cá nhân vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng “Hình ảnh của lãnh tụ, danh nhân văn hoá được sử dụng nhằm quảng bá cho dân tộc, cho đất nước Việt Nam”; (2) Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng: Hội nghị, hội thảo, biểu diễn nghệ thuật, thi đấu thể thao và các hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân có hình ảnh.
Như vậy, chế định quyền nhân thân trong pháp luât dân sự là một trong những chế định cơ bản, quan trọng song song cùng với các chế định khác như chế định về thừa kế, chế định vê tài sản, chế định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng…Tuy nhiên, chế định quyền nhân thân có điểm riêng biệt, nó gồm các quyền nhân thân chỉ gắn liền với mỗi cá nhân cụ thể mà khi con người sinh ra đương nhiên đã có, mọi cá nhân đều có quyền bình đẳng về quyền nhân thân của mình, không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo; đó là những quyền không thể chuyển giao cho người khác và nó gắn liền với suốt cuộc đời của mỗi cá nhân cụ thể. Quyền nhân thân của mỗi cá nhân đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013 và được thể chế hoá cụ thể từng quyền cơ bản trong các luật chuyên ngành như Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Nuôi con nuôi và một số văn bản pháp lý khác.

ThS. Đoàn Thị Ngọc Hải
Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn)

Bàn về đơn khởi kiện của doanh nghiệp theo quy định tại khoản 3 Điều 189 BLTTDS

Khoản 3 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 quy định: “Cơ quan, tổ chức là người khởi kiện thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ, tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ chức khởi kiện là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật Doanh nghiệp.” Từ quy định này cho thấy: Khi tổ chức khởi kiện là doanh nghiệp thì phần cuối đơn khởi kiện cần phải thỏa mãn đủ hai điều kiện sau: – Người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp phải ký tên (1); và – Đóng dấu của doanh nghiệp, việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật Doanh nghiệp (2). Trong thực tiễn áp dụng hiện nay, có tranh cãi quanh hai điều kiện nêu trên. Vậy, hiểu như thế nào cho đúng với quy định?

1. Chấp nhận hình thức chữ ký nào ở phần cuối đơn khởi kiện?

Theo quy định, người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện[1] và phần cuối đơn “phải ký tên”. Trong thực tế áp dụng, hình thức chữ ký như thế nào cũng gây ra nhiều tranh cãi. Đơn khởi kiện được làm bằng văn bản gửi đến Tòa án không sử dụng chữ ký “trực tiếp” (chữ ký “sống”) mà lại dùng chữ ký được làm từ con dấu hoặc chữ ký được in vào đơn khởi kiện từ chữ ký điện tử hay scan từ chữ ký “sống”. Pháp luật có chấp nhận những hình thức chữ ký của người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp ở phần cuối đơn khởi kiện bằng văn bản? Hiện tồn tại hai quan điểm như sau:
* Quan điểm thứ nhất: Xác định chữ ký này của người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp nên chấp nhận được 9vì đã được đóng dấu của doanh nghiệp, cũng như pháp luật hiện nay chấp nhận việc sử dụng chữ ký điện tử0.
* Quan điểm thứ hai: Không đồng ý, bởi lẽ, đơn khởi kiện được gửi đến Tòa án bằng văn bản theo các phương thức: Nộp trực tiếp hoặc theo đường dịch vụ bưu chính, mà không gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử nên chữ ký này phải là chữ ký “sống”.
Tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai, vì theo quy định của Luật Giao dịch điện tử 51/2005/QH11 ngày 29/11/2005 (có hiệu lực ngày 01/3/2006) chỉ điều chỉnh đối với việc lựa chọn giao dịch bằng phương tiện điện tử. Do đó, chỉ khi nào, các cá nhân, cơ quan, tổ chức chọn giao dịch bằng phương tiện điện tử mới sử dụng chữ ký điện tử thông qua chứng thực chữ ký điện tử. Do vậy, với quan điểm thứ nhất, chữ ký điện tử được sử dụng ở phần cuối đơn khởi kiện bằng văn bản là không phù hợp với quy định.
Bên cạnh đó, đơn khởi kiện là văn bản thể hiện ý chí của người khởi kiện, nên người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp phải ký tên vào phần cuối đơn được nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc theo đường dịch vụ bưu chính. Điều này nhấn mạnh rằng, người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp phải trực tiếp ký tên vào phần cuối đơn khởi kiện (chữ ký “sống”) là phù hợp với quy định về điều kiện của chữ ký của người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp.

2. Mối liên hệ giữa chế định đại diện và việc sử dụng con dấu của tổ chức khởi kiện là doanh nghiệp

Con dấu của doanh nghiệp được đóng vào phần cuối đơn có đồng nghĩa với việc dùng con dấu này đóng lên chữ ký của người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp? Câu hỏi này cũng phát sinh nhiều tranh cãi liên quan đến con dấu và người đại diện theo ủy quyền:
* Quan điểm thứ nhất: Theo quy định của pháp luật, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có quyền ủy quyền cho bất kỳ ai khởi kiện vụ án theo tố tụng dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, người đại diện theo ủy quyền được sử dụng con dấu của doanh nghiệp hoặc con dấu chi nhánh của doanh nghiệp (trường hợp có có ủy quyền sử dụng con dấu) để đóng lên chữ ký của mình ở phần cuối đơn khởi kiện là phù hợp với hướng dẫn tại Văn bản số 38/KHXX ngày 29/3/2007 của TANDTC nên chấp nhận đơn khởi kiện này vì thỏa mãn điều kiện có chữ ký và con dấu của doanh nghiệp khởi kiện theo khoản 3 Điều 189 BLTTDS.
* Quan điểm thứ hai: Việc sử dụng con dấu trong trường hợp này cần phải tuân thủ điều kiện mà BLTTDS năm 2015quy định vì Văn bản số 38/KHXX ngày 29/3/2007 của TANDTC đã hết hiệu lực thi hành kể từ ngày BLTTDS 2015 có hiệu lực ngày 01/7/2016[2].
Tác giả đồng tình với việc áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành để xử lý vấn đề này. Bởi lẽ:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 142 BLDS năm 2005, “đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người đại diện” và tại khoản 3 Điều 164 BLTTDS năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) chỉ quy định đơn giản cho người khởi kiện là cơ quan, tổ chức như sau: Người đại diện hợp pháp phải “ký tên” và “đóng dấu vào phần cuối đơn” nên để việc áp dụng pháp luật được thống nhất, TANDTC đã ban hành Văn bản số 38/KHXX ngày 29/3/2007. Văn bản này chỉ chấp nhận: Người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp phải là nhân viên của doanh nghiệp; nhưng vẫn không trả lời được câu hỏi về người đại diện theo pháp luật ủy quyền cho một nhân viên bình thường của công ty thì liệu có sử dụng con dấu để đóng lên chữ ký của người này khi được ủy quyền khởi kiện?
Từ những bất cập trên, khoản 3 Điều 189 BLTTDS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với những quy định khác có liên quan. Cụ thể, ở phần cuối đơn, ngoài chữ ký của người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, thì cần phải có “đóng dấu” của doanh nghiệp và việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật Doanh nghiệp (LDN). Vì vậy, cần tìm hiểu những quy định của LDN trong việc sử dụng con dấu, từ đó thấy được mối liên hệ giữa chế định đại diện khởi kiện và sử dụng con dấu của doanh nghiệp tại đơn khởi kiện.
Với pháp luật thực định, doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của doanh nghiệp nhưng phải có nghĩa vụ thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trước khi sử dụng[3]; việc quản lý, sử dụng và lưu giữ con dấu thực hiện theo quy định của Điều lệ công ty[4]; con dấu được sử dụng trong các trường hợp theo quy định của pháp luật hoặc các bên giao dịch có thỏa thuận về việc sử dụng dấu. Hơn nữa, để phục vụ cho hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp có quyền lập các đơn vị phụ thuộc là chi nhánh (thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền)[5], văn phòng đại diện (đại diện theo ủy quyền cho lợi ích của doanh nghiệp và bảo vệ các lợi ích đó)[6]. Theo quy định, các chi nhánh, văn phòng đại diện nêu trên cũng có con dấu để đảm bảo cho các đơn vị phụ thuộc này thực hiện nhiệm vụ mà pháp nhân giao cho được thông suốt. Vì vậy, trong trường hợp, điều lệ công ty không quy định cụ thể việc quản lý, sử dụng và lưu giữ con dấu của doanh nghiệp thì buộc phải tuân thủ các quy định của pháp luật khi doanh nghiệp muốn khởi kiện vụ án theo pháp luật tố tụng dân sự.
Liên quan đến nội dung này, Nghị định 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 (có hiệu lực ngày 02/5/2004) (Nghị định 110) được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 09/2010/NĐ-CP ngày 08/02/2010 về công tác văn thư. Nghị định này được áp dụng đối với tổ chức kinh tế,…, và có đối tượng điều chỉnh là: Công tác văn thư, bao gồm các công việc về soạn thảo, ban hành văn bản; quản lý văn bản và tài liệu khác hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức; quản lý và sử dụng con dấu trong công tác văn thư.
Trước hết, các nghị định này xác định người có thẩm quyền ký những văn bản của cơ quan, tổ chức nói chung, doanh nghiệp nói riêng, làm việc theo chế độ thủ trưởng như sau:
– Về nguyên tắc, người đứng đầu có thẩm quyền ký tất cả văn bản của doanh nghiệp. Căn cứ Điều 137 BLDS năm 2015, người đứng đầu là người đại diện theo pháp luật có thẩm quyền ký tất cả văn bản của doanh nghiệp.
– Trong thực tiễn, hoạt động của doanh nghiệp rất rộng, nên để linh hoạt trong việc quản lý – kinh doanh, người đứng đầu có thể ủy quyền cho người khác ký các văn bản mà mình phải ký nhưng phải tuân thủ nguyên tắc được quy định tại Nghị định 110 được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 09/2010/NĐ-CP ngày 08/02/2010 như sau:
+ Ký thay (KT.): Người đứng đầu giao cho cấp phó của mình ký thay các văn bản thuộc các lĩnh vực được phân công phụ trách và một số văn bản thuộc thẩm quyền của người đứng đầu. Cấp phó ký thay chịu trách nhiệm trước người đứng đầu và trước pháp luật[7].
+ Ký thừa ủy quyền (TUQ.): Người đứng đầu, trong trường hợp đặc biệt, có thể ủy quyền bằng văn bản cho người đứng đầu một đơn vị trong doanh nghiệp ký thừa ủy quyền một số văn bản mà mình phải ký trong một thời gian nhất định. Người được ký thừa ủy quyền không được ủy quyền lại cho người khác ký; văn bản ký thừa ủy quyền theo thể thức và đóng dấu của cơ quan, tổ chức ủy quyền[8].
+ Ký thừa lệnh (TL.): Người đứng đầu có thể giao cho Chánh Văn phòng, Trưởng phòng Hành chính hoặc Trưởng một số đơn vị ký thừa lệnh một số loại văn bản nếu trong quy chế hoạt động, quy chế công tác văn thư của doanh nghiệp có quy định việc ký thừa lệnh.
Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 25 Nghị định 110, nhân viên văn thư “chỉ được đóng dấu vào những văn bản, giấy tờ sau khi có chữ ký của người có thẩm quyền”,  khoản 2 Điều 26 Nghị định 110 quy định: “… 2. Khi đóng dấu lên chữ ký, thì dấu đóng phải trùm lên khoảng 1/3 chữ ký về phía bên trái….“, con dấu của pháp nhân chỉ được sử dụng để đóng lên chữ ký của người có thẩm quyền của pháp nhân đó, vì dù dưới hình thức ký thay, ký thừa lệnh, ký thừa ủy quyền, thì người đại diện là người ký thay, ký thừa lệnh, ký thừa ủy quyền và người được đại diện là người đứng đầu doanh nghiệp – người đại diện theo pháp luật.
Khoản 3 Điều 25 Nghị định 110 “Việc sử dụng con dấu của cơ quan, tổ chức và con dấu của văn phòng hay của đơn vị trong cơ quan, tổ chức được quy định như sau: a) Những văn bản do cơ quan, tổ chức ban hành phải đóng dấu của cơ quan, tổ chức; b) Những văn bản do văn phòng hay đơn vị ban hành trong phạm vi quyền hạn được giao phải đóng dấu của văn phòng hay dấu của đơn vị đó“, nên việc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền khởi kiện vụ án cho một cá nhân là người đứng đầu một đơn vị trong doanh nghiệp mà lại dùng con dấu của bất kỳ chi nhánh nào của doanh nghiệp đóng lên chữ ký của người được ủy quyền là không phù hợp với những quy định của pháp luật nêu trên.
Từ đó cho thấy, việc ủy quyền khởi kiện vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự của tổ chức khởi kiện là doanh nghiệp có phần bị hạn chế: Người đại diện theo pháp luật, nếu không tự mình khởi kiện vụ án, thì chỉ có quyền ủy quyền khởi kiện này cho những người có quyền được ký thay, ký thừa lệnh, ký thừa ủy quyền hoặc các giám đốc chi nhánh, bởi lẽ đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 3 Điều 189 BLTTDS năm 2015 yêu cầu ở phần cuối đơn, có chữ ký của người đại diện hợp pháp và đóng dấu của doanh nghiệp mà việc sử dụng con dấu phải tuân theo LDN.
Đặt vấn đề khác, trong trường hợp không giới hạn ủy quyền khởi kiện như đã nêu, việc ủy quyền khởi kiện trong thực tiễn của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp xảy ra nhiều trường hợp do người đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân:
° Trường hợp thứ nhất, một cá nhân đang làm việc trong doanh nghiệp này được nhận ủy quyền khởi kiện, thì phần cuối đơn khởi kiện, cá nhân được ủy quyền phải ký tên và con dấu của doanh nghiệp được đóng lên chữ ký của cá nhân được ủy quyền.
° Trường hợp thứ hai, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ủy quyền cho từ hai cá nhân trở lên khởi kiện vụ án theo pháp luật tố tụng dân sự mà họ là người đang làm việc tại doanh nghiệp này. Vậy con dấu của doanh nghiệp sẽ được đóng lên một chữ ký hay tất cả các chữ ký của những cá nhân được ủy quyền khởi kiện?
° Trường hợp thứ ba, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ủy quyền cho một cá nhân hoặc các cá nhân khởi kiện vụ án theo pháp luật tố tụng dân sự mà họ không là người đang làm việc tại doanh nghiệp này. Có chấp nhận việc đóng dấu của pháp nhân ủy quyền lên chữ ký của người đại diện ủy quyền này ở phần cuối đơn khởi kiện không? Nếu không được đóng dấu lên những chữ ký này thì không thỏa điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 189 BLTTDS.
° Trường hợp thứ tư, pháp nhân có quyền ủy quyền cho pháp nhân khác nhân khởi kiện vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Trong trường hợp này, pháp nhân được ủy quyền sẽ sử dụng con dấu của mình đóng lên chữ ký của người đại diện hợp pháp của pháp nhân mình ở phần cuối đơn khởi kiện.
Những phân tích dựa trên những quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng mà tác giả nêu ra rất cần có sự góp ý của những nhà nghiên cứu để hoàn thiện các quy định sao cho việc hiểu và áp dụng pháp luật liên quan đến việc khởi kiện của doanh nghiệp được thống nhất./.

TS. VŨ THỊ THÚY VÂN ( TAND quận Bình Thạnh- Tp. Hồ Chí Minh)

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)


[1] Khoản 1, khoản 3 Điều 189 BLTTDS.
[2] Điều 517 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Khoản 1, Khoản 2 Điều 44 Luật Doanh nghiệp 2014; Điều 12, 13, 14, 15 Nghị định 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015.
[4] Khoản 3 Điều 44 Luật Doanh nghiệp năm 2014.
[5] Khoản 1 Điều 45 Luật Doanh nghiệp năm 2014.
[6] Khoản 2 Điều 45 Luật Doanh nghiệp năm 2014.
[7] Khoản 1 Điều 10 Nghị định 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 về công tác văn thư, khoản 6 Điều 1 Nghị định 09/2010/NĐ-CP ngày 08/02/2010.
[8] Khoản 3 Điều 10 Nghị định 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 về công tác văn thư; khoản 6 Điều 1 Nghị định 09/2010/NĐ-CP ngày 08/02/2010.

Những điểm mới của Tội mua bán người theo BLHS năm 2015

Những sửa đổi, bổ sung của BLHS năm 2015 về Tội mua bán người góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm mua bán người trong giai đoạn hiện nay.
Trong những năm gần đây hoạt động mua bán người ở nước ta diễn ra có xu hướng gia tăng về số vụ án và có nhiều hoạt động tinh vi nhằm trốn tránh các cơ quan chức năng.
Theo quy định tại Điều 150 BLHS năm 2015 về Tội mua bán người.

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;
b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Vì động cơ đê hèn;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;
d) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
đ) Đối với từ 02 người đến 05 người;
e) Phạm tội 02 lần trở lên.
3.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;
đ) Đối với 06 người trở lên;
e) Tái phạm nguy hiểm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

So với BLHS năm 1999 thì BLHS năm 2015 có một số sửa đổi, bổ sung quan trọng, cụ thể như sau:
Thứ nhất: Về kết cấu của điều luật.
Điều 150 BLHS năm 2015 được kết cấu thành 04 khoản (BLHS năm 1999 gồm 03 khoản).
Thứ hai: Về hành vi phạm tội.
Theo BLHS năm 2015, mua bán người bao gồm hai hành vi mua và bán, tuy nhiên trong hành vi mua bán này bao gồm rất nhiều công đoạn khác nhau như tuyển dụng, vận chuyển, lưu giữ, tiếp nhận, chuyển giao. BLHS năm 1999 chỉ quy định hành vi mua bán người nói chung mà không bao quát hết nội hàm của hành vi này. Vì vậy, trong thực tiễn giải quyết các vụ án gặp rất nhiều khó khăn và khó xác định được hành vi mua bán. BLHS năm 2015 quy định cụ thể hành vi mua bán người như sau:
– Nhóm hành vi chuyển giao hoặc tiếp nhận (Hành vi chuyển giao là hành vi giao cho người khác nhận; hành vi tiếp nhận là hành vi đón nhận cái từ người khác, nơi khác chuyển đến). Nhóm hành vi này quy định hai hành vi tách biệt nhau “Chuyển giao hoặc tiếp nhận”.
– Nhóm hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp (Tuyển mộ là lựa chọn, tuyển dụng những người đáp ứng các yêu cầu điều kiện để sử dụng cho một công việc hoặc mục đích khác; vận chuyển là sự di chuyển từ nơi này đến nơi khác; chứa chấp là chứa một cách trái phép).
Tuy nhiên, những nhóm hành vi này đều nhằm các mục đích để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác.
Như vậy, nếu hành vi chuyển giao; tiếp nhận; tuyển mộ; vận chuyển; chứa chấp người không thỏa mãn các mục đích trên thì không cấu thành tội phạm.
Thứ ba: Về hình phạt.
Mức hình phạt tù đối với khoản 1 áp dụng là từ 05 năm đến 10 năm (BLHS năm 1999 là từ 2 năm đến 7 năm); tại khoản 2 từ 08 năm đến 15 năm (BLHS năm 1999 là 5 năm đến 20 năm); khoản 3 từ 12 năm đến 20 năm; khoản 4 phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản (BLHS năm 1999 từ 5 triệu đồng đến 20 triệu đồng).
Đồng thời, BLHS năm 2015 bổ sung thêm một số tình tiết.
Cụ thể, tại khoản 2 bổ sung các tình tiết:

b) Vì động cơ đê hèn;
 c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;
d) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
đ) Đối với từ 02 người đến 05 người;

Bổ sung tại khoản 3 các tình tiết:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;
đ) Đối với 06 người trở lên;
e) Tái phạm nguy hiểm.

 

Trần Văn Hùng – TAQS quân khu 4

Nguồn: Tạp chí kiểm sát (kiemsat.vn)

Kiểm sát thông báo trả lại đơn khởi kiện và việc thụ lý vụ án hành chính

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xử lý đơn khởi kiện vụ án hành chính khi Tòa án ra các quyết định trả lại đơn khởi kiện và quyết định thụ lý vụ án hành chính. Tòa án phải gửi ngay các quyết định đó đến VKSND cùng cấp.
 

Việc nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính có thể được thực hiện bằng các hình thức như: Nộp trực tiếp tại Tòa án, nộp qua đường bưu điện hay nộp qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án. Khi người khởi kiện nộp đơn, trong thời hạn 03 ngày, Chánh án Tòa án sẽ phân công Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện. Thẩm phán được phân công xem xét, xử lý đơn khởi kiện, nghiên cứu những tài liệu, chứng cứ mà người khởi kiện nộp kèm theo đơn khởi kiện trong thời hạn 03 ngày, sau đó, Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện sẽ ra một trong các quyết định: (1) Chuyển đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền; (2) Yêu cầu người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện; (3) Trả lại đơn khởi kiện cùng toàn bộ hồ sơ giấy tờ người khởi kiện đã nộp; (4) Thụ lý đơn khởi kiện vụ án hành chính.

 

1. Kiểm sát thông báo trả lại đơn khởi kiện của Tòa án

Trường hợp nhận được thông báo về việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, VKS xem xét các nội dung, hình thức trong thông báo và so sánh đối chiếu với các quy định của pháp luật, cụ thể:
Thứ nhất, cần xem xét ngày, tháng, năm Tòa án ra thông báo trả lại đơn khởi kiện và ngày, tháng, năm người khởi kiện nộp đơn khởi kiện, có đúng với thời hạn quy định là 06 ngày (03 ngày phân công Thẩm phán và 03 ngày Thẩm phán xem xét nội dung đơn khởi kiện để ra quyết định và thông báo trả lại đơn khởi kiện).
Thứ hai, từ những thông tin được cung cấp trong thông báo trả lại đơn khởi kiện nơi người khởi kiện cư trú, địa chỉ của người bị kiện, đối tượng khởi kiện (quyết định hành chính, hành vi hành chính) để từ đó xem xét về thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính có thuộc về Tòa án ra quyết định thông báo trả lại đơn khởi kiện hay không.
Thứ ba, xem xét lý do trả lại đơn khởi kiện của Tòa án được ghi nhận trong thông báo trả lại đơn có phù hợp với 08 căn cứ trả lại đơn khởi kiện được quy định tại khoản 1 Điều 123 Luật tố tụng hành chính năm 2015 như sau:
Người khởi kiện không có quyền khởi kiện, đối với trường hợp này có thể hiểu quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện không trực tiếp liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện.
Người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ.
Trường hợp pháp luật có quy định về điều kiện khởi kiện, nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó như yêu cầu trước khi khiếu kiện đến Tòa án về danh sách cử tri người khởi kiện phải thực hiện việc khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.
Sự việc mà người khởi kiện yêu cầu đã được giải quyết bằng một quyết định hoặc một bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Người khởi kiện không có yêu cầu gì khác so với yêu cầu đã được giải quyết trước đó.
Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (những quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước, trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật; các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng, hay những quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức).
Người khởi kiện lựa chọn việc giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại.
Đơn khởi kiện không đủ các nội dung theo quy định tại khoản 1 Điều 118 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 mà người khởi kiện không tiến hành sửa đổi, bổ sung nội dung đơn khởi kiện trong thời hạn 10 ngày mà Tòa án yêu cầu.
Hết thời hạn 10 ngày kể từ ngày được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí mà người khởi kiện không nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện không thuộc các trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có lý do chính đáng về lý do không xuất trình biên lai tạm ứng án phí đúng thời hạn.
Viện kiểm sát tiến hành xem xét thông báo về việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án trong thời hạn 07 ngày, lập phiếu kiểm sát việc trả lại đơn của Tòa án, nếu xét thấy việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án không đúng căn cứ pháp luật thì VKS có quyền kiến nghị đến Tòa án trả lại đơn và yêu cầu Tòa án thụ lý đơn khởi kiện. Ngay sau khi nhận được kiến nghị của VKS, Tòa án phải phân công Thẩm phán xem xét, giải quyết kiến nghị của VKS. Sau thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét, giải quyết kiến nghị của VKSND, phiên họp này có sự tham gia của VKS với vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình Thẩm phán tiến hành phiên họp, đồng thời, phát biểu quan điểm, nêu lên các căn cứ để chứng minh kiến nghị của VKS là có căn cứ. Tuy nhiên, nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì Thẩm phán vẫn có thể tiến hành phiên họp xem xét giải quyết kiến nghị của VKS. Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có liên quan, Thẩm phán sẽ ra một trong hai quyết định là: Giữ nguyên quyết định trả lại đơn khởi kiện hoặc quyết định nhận lại đơn khởi kiện.
Khi nhận được quyết định trả lời kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Thẩm phán, nếu không đồng ý với quyết định đó, VKS có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án cấp trên một cấp xem xét và giải quyết. Tòa án cấp trên một cấp sẽ tiến hành xem xét kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện trong thời hạn 10 ngày làm việc, sau đó, Chánh án Tòa án cấp trên một cấp phải ra một trong các quyết định là quyết định giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện hoặc quyết định yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm nhận lại đơn khởi kiện, tài liệu và chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án. Quyết định giải quyết kiến nghị của Tòa án cấp trên một cấp là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật. Quyết định này phải được gửi ngay cho người khởi kiện, VKS cùng cấp, VKS đã kiến nghị và Tòa án đã ra quyết định trả lại đơn khởi kiện. Cần lưu ý trong quá trình kiểm sát thông báo trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, VKS tiến hành việc lưu tài liệu, văn bản về việc nhận thông báo trả lại đơn, phiếu kiểm sát thông báo trả lại đơn, các văn bản kiến nghị, kháng nghị nếu có thành tập hồ sơ kiểm sát thông báo trả lại đơn, tập hồ sơ được đánh số ở góc trái phía trên của tài liệu.

2. Kiểm sát việc thụ lý vụ án của Tòa án

Khi nhận được đơn khởi kiện cùng với các tài liệu chứng cứ, Thẩm phán xét thấy khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp mình sẽ tiến hành việc thông báo cho người khởi kiện, để người khởi kiện nộp tiền tạm ứng án phí trong thời hạn 10 ngày. Ngày Tòa án vào sổ thụ lý chính là ngày Thẩm phán nhận được biên lai tạm ứng án phí của người khởi kiện, trừ một số trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lý là ngày Thẩm phán thông báo cho người khởi kiện biết về việc thụ lý. Cùng với việc vào sổ thụ lý vụ án hành chính, Tòa án phải gửi ngay thông báo thụ lý vụ án hành chính đến người khởi kiện, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người bị kiện và VKSND cùng cấp trong thời hạn 03 ngày. Khi nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án hành chính của Tòa án, VKS phân công Kiểm sát viên, Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có) để thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án hành chính và thông báo cho Tòa án.
Khi kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, Kiểm sát viên cũng kiểm sát thông báo thụ lý vụ án của Tòa án gửi đến. Kiểm sát viên lập phiếu kiểm sát thông báo thụ lý của Tòa án và nghiên cứu những nội dung sau:
Một là, xem xét ngày, tháng, năm Tòa án ra thông báo nhận đơn khởi kiện và ngày, tháng, năm người khởi kiện nộp đơn khởi kiện, có đúng thời hạn quy định về việc xử lý đơn khởi kiện là 16 ngày (03 ngày phân công Thẩm phán, 03 ngày Thẩm phán xem xét nội dung đơn khởi kiện để ra thông báo thụ lý đến người khởi kiện và 10 ngày người khởi kiện xuất trình biên lai tạm ứng án phí).
Hai là, từ những thông tin được cung cấp trong thông báo trả lại đơn khởi kiện nơi người khởi kiện cư trú, địa chỉ của người bị kiện, đối tượng khởi kiện (quyết định hành chính, hành vi hành chính) để từ đó xem xét về thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính có thuộc về Tòa án ra quyết định thông báo thụ lý vụ án hay không.
Ba là, xem xét nội dung yêu cầu khởi kiện, trích yếu nội dung quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện xem xét khiếu kiện có thuộc thẩm quyền của Tòa án ra thông báo thụ lý, đồng thời xem xét thời hiệu khởi kiện của vụ án hành chính là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, hay trước ngày bầu cử 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không được nhận thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri.
Trong quá trình kiểm sát việc thông báo thụ lý vụ án hành chính của Tòa án, nếu xét thấy việc thông báo thụ lý sai về thẩm quyền, hết thời hiệu khởi kiện, hay rơi vào những trường hợp trả lại đơn như đã phân tích ở trên mà Tòa án vẫn tiến hành thụ lý thì VKS tổng hợp những vi phạm của Tòa án (ghi rõ điều luật vi phạm và loại vi phạm), từ đó nêu lên quan điểm của Kiểm sát viên, yêu cầu Tòa án khắc phục hoặc tổng hợp những vi phạm làm căn cứ kiến nghị về việc thụ lý vụ án của Tòa án yêu cầu Tòa án xem xét lại việc thụ lý theo đúng quy định của pháp luật.
Đồng thời với việc kiểm sát thông báo thụ lý, Kiểm sát viên được phân công tiến hành vào sổ thụ lý của VKS mở hồ sơ kiểm sát thông báo thụ lý vụ án hành chính, hồ sơ kiểm sát thông báo thụ lý được đánh số bút lục từ 01 đến hết ở góc trái phía trên của tài liệu, đây sẽ là tài liệu ban đầu để tiến hành hoàn thiện hồ sơ vụ án hành chính sau khi nhận được hồ sơ của Tòa án chuyển sang trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Để đảm bảo cho hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình xử lý đơn khởi kiện của Tòa án, Kiểm sát viên cần nắm chắc những nội dung về các khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, khiếu kiện nào thuộc Tòa án cấp tỉnh, khiếu kiện nào thuộc Tòa án cấp huyện, nắm được thời hiệu khởi kiện, các loại quyết định hành chính, hành vi hành chính không được khởi kiện và các trường hợp trả lại đơn khởi kiện. Việc xử lý đơn khởi kiện là khâu mở đầu cho toàn bộ hoạt động giải quyết vụ án hành chính. Hoạt động xử lý đơn được đảm báo đúng pháp luật sẽ đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hành chính được nhanh chóng, chính xác, kịp thời, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi tham gia vào quan hệ tố tụng hành chính./.
(Trích bài viết: “Kiểm sát thông báo trả lại đơn khởi kiện và việc thụ lý vụ án hành chính của Tòa án” của tác giả Khuất Thu Hương,  Khoa pháp luật dân sự và kiểm sát dân sự, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội. Tạp chí Kiểm sát số 07/2018).

Quyền của bị đơn đối với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn
Về nguyên tắc, đương sự có quyền tự mình định đoạt đối với yêu cầu của mình mà không chủ thể nào khác có quyền can thiệp . Tuy nhiên, nguyên tắc này có ngoại lệ: Pháp luật tố tụng dân sự quy định cho bị đơn quyền đồng ý hoặc không đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Trước đây, BLTTDS năm 2004 (BLTTDS 2004) chỉ cho phép bị đơn được thực hiện quyền này trong trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Đến BLTTDS 2015, quyền này của bị đơn không chỉ được ghi nhận trong giai đoạn xét xử phúc thẩm mà còn được ghi nhận trong giai đoạn xét xử sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm. Liên quan đến quyền đồng ý hoặc không đồng ý của bị đơn đối với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn, trong phạm vi bài viết, tác giả bình luận một số vấn đề: Thời điểm thực hiện; Trình tự, thủ tục thực hiện; Ủy quyền thực hiện và Hậu quả pháp lý khi bị đơn thực hiện quyền đồng ý hoặc không đồng ý việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn.

1. Thời điểm thực hiện

Theo quy định của BLTTDS hiện hành, bị đơn chỉ có quyền can thiệp vào việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn khi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đã được giải quyết bằng bản án, quyết định trước đó. Nếu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mới được xét xử sơ thẩm lần đầu tiên thì bị đơn không được thực hiện quyền này. Như vậy, trong suốt quá trình tố tụng, không phải bất cứ giai đoạn nào bị đơn cũng có quyền can thiệp vào việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn, mà việc can thiệp của bị đơn chỉ giới hạn trong những giai đoạn tố tụng nhất định. Việc đưa ra giới hạn về thời gian của BLTTDS là hợp lý vì trong tố tụng dân sự, các đương sự có quyền quyết định và tự định đoạt đối với các yêu cầu của mình, nếu để các đương sự khác can thiệp quá sâu vào việc định đoạt của đương sự khác thì sẽ không đảm bảo nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự và nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự; dẫn đến tình trạng bảo vệ tốt quyền lợi cho một bên nhưng lại làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên khác. Một đương sự chỉ có quyền đưa ra ý kiến với quyền định đoạt yêu cầu của đương sự khác khi sự định đoạt yêu cầu đó làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của họ. Bị đơn có quyền đồng ý hoặc không đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn trong hai giai đoạn tố tụng: giai đoạn xét xử phúc thẩm; giai đoạn xét xử sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm. Thứ nhất, bị đơn có quyền đồng ý hoặc không đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn trong giai đoạn xét xử phúc thẩm[1]. Theo khoản 1 Điều 299 BLTTDS 2015, quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn trong trường hợp này được thực hiện trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, cụ thể là trước phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm. Giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án dân sự bắt đầu khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý đơn kháng cáo và/hoặc đơn kháng nghị của các chủ thể có thẩm quyền. Nghĩa là, về nguyên tắc, phải có kháng cáo hoặc kháng nghị của chủ thể có thẩm quyền và Tòa án đã thụ lý kháng cáo, kháng nghị đó thì mới có thể phát sinh giai đoạn xét xử phúc thẩm. Tuy nhiên, theo Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS (Nghị quyết 06) thì: Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm nhận được văn bản trả lời của bị đơn đồng ý việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn, thì không phân biệt trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị có đương sự nào kháng cáo hoặc Viện kiểm sát kháng nghị hay không, Tòa án cấp sơ thẩm đều phải gửi hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng nghị, văn bản rút đơn khởi kiện cho Tòa án cấp phúc thẩm để Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào Điều 269 của BLTTDS mở phiên Tòa giải quyết vụ án theo thủ tục chung (điểm b khoản 2 Điều 18). Tác giả đồng ý với hướng giải quyết của Nghị quyết 06, vì mặc dù hướng dẫn tại Nghị quyết không đúng với trình tự thủ tục giải quyết vụ án dân sự thông thường nhưng hướng giải quyết này khá hợp lý, đúng với nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt trong tố tụng dân sự và thuận tiện cho Tòa án cũng như các đương sự  khi tham gia vào quá trình giải quyết vụ án. Bởi vì, việc giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án suy cho cùng cũng là giải quyết tranh chấp về quyền lợi giữa các bên đương sự, nếu các bên đương sự đã thống nhất ý chí về cùng một vấn đề và sự thống nhất này không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội thì Tòa án nên công nhận. Bên cạnh đó, hướng giải quyết của Nghị quyết 06 cũng giúp giảm bớt những thủ tục tố tụng, tiết kiệm thời gian cho Tòa án cũng như các đương sự. Vì vậy, văn bản hướng dẫn BLTTDS 2015 cũng cần kế thừa quy định này trong Nghị quyết 06 để việc giải quyết vụ án trên thực tế được thống nhất. Thứ hai, bị đơn có quyền đồng ý hoặc không đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn trong giai đoạn xét xử sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm[2]. Đây là nội dung mới được bổ sung trong BLTTDS 2015. Tác giả cho rằng bổ sung của BLTTDS 2015 là hợp lý vì về bản chất việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn tại giai đoạn xét xử sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm cũng giống như trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, một cách khái quát là nguyên đơn rút đơn khởi kiện sau khi yêu cầu của nguyên đơn đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án. Do đó, cách thức “ứng xử” của Tòa án trong hai trường hợp này cần có sự tương đồng. Hơn nữa, điểm mới quan trọng này giúp khắc phục vướng mắc trong trường hợp vụ án đã được xét xử và bản án có hiệu lực thi hành, cơ quan thi hành án đã ra quyết định thi hành án xong, sau đó có quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm tuyên hủy cả bản án sơ thẩm và phúc thẩm để xét xử lại. Khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án, nguyên đơn đã nhận được tài sản theo đúng yêu cầu khởi kiện nên họ xin rút đơn khởi kiện hoặc cố tình không có mặt để làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2004 thì Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, dẫn đến vướng mắc do vụ án đã bị ngừng giải quyết nên tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên chưa được giải quyết triệt để, chưa rõ tài sản tranh chấp có thuộc về nguyên đơn hay không nhưng trên thực tế thì nguyên đơn đã được chiếm hữu tài sản thông qua việc thi hành án. Nghĩa vụ của người bị thi hành án bị thiệt hại, cơ quan thi hành án không thể tự động thi hành ngược lại đối với người được thi hành án nên họ phải khởi kiện ra Tòa án để đòi lại tài sản đã thi hành. Và như vậy lại bắt đầu một quá trình tố tụng mới, gây tốn kém về thời gian, công sức, chi phí tố tụng cho cả đương sự lẫn các cơ quan tiến hành tố tụng[3]. Theo quy định tại khoản 4 Điều 217 BLTTDS 2015, đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì việc đình chỉ giải quyết vụ án phải có sự đồng ý của bị đơn. Vấn đề đặt ra, trường hợp Tòa án xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có bản án phúc thẩm (bản án của Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm) mà nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì có bắt buộc phải được sự đồng ý của bị đơn Tòa án mới đình chỉ giải quyết vụ án không? Với quy định hiện hành thì bị đơn không được quyền can thiệp vào việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn trong giai đoạn xét xử sơ thẩm sau khi đã có bản án phúc thẩm. Điều này không hợp lý vì giai đoạn sơ thẩm sau khi có bản án phúc thẩm, giai đoạn sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm hay giai đoạn phúc thẩm đều là các giai đoạn tố tụng sau khi vụ án đã được giải quyết tại Tòa án (ít nhất) một lần. Trong khi đó, mục đích của việc quy định cho bị đơn quyền đồng ý hay không đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn là nhằm đảm bảo sự công bằng giữa các đương sự trong vụ án, nhất là bị đơn, vì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đã tốn thời gian, công sức, tiền bạc tham gia quá trình tố tụng kể từ khi nhận được thông báo thụ lý của Tòa án cho đến khi Tòa án ra bản án, quyết định. Do đó, việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn sau khi đã trải qua quá trình tố tụng nói trên cần phải được sự đồng ý của bị đơn.

2. Trình tự, thủ tục thực hiện

BLTTDS 2015 không quy định cụ thể trình tự, thủ tục thực hiện quyền đồng ý hay không đồng ý việc rút đơn khởi kiện của bị đơn và hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn Bộ luật này. Tại Nghị quyết 06 hướng dẫn BLTTDS 2004, sửa đổi, bổ sung 2011 có quy định như sau: “… Trường hợp nguyên đơn vẫn quyết định rút đơn khởi kiện thì Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn biết và yêu cầu bị đơn phải trả lời bằng văn bản cho Tòa án cấp sơ thẩm về việc họ có đồng ý hay không đồng ý trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án”[4]. Như vậy, theo Nghị quyết, trước phiên tòa phúc thẩm, bị đơn phải thể hiện ý kiến đồng ý hay không đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn bằng văn bản và gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm trong thời hạn nhất định kể từ khi nhận được thông báo của Tòa án. Thiết nghĩ, hướng dẫn tại Nghị quyết 06 là hợp lý, là cơ sở để bị đơn thuận lợi thực hiện quyền, đồng thời tạo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, tránh trường hợp cùng một vấn đề mà các Tòa án có hướng giải quyết khác nhau. Theo tác giả, văn bản hướng dẫn BLTTDS 2015 nên kế thừa quy định này và mở rộng phạm vi áp dụng trong trường hợp bị đơn thực hiện quyền định đoạt đối với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn trước phiên tòa sơ thẩm (sau khi vụ án đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án). Nghị quyết 06 cũng hướng dẫn trường hợp tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn thực hiện quyền đồng ý hay không đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn thì ý kiến này của bị đơn phải được ghi vào biên bản phiên tòa. Như vậy, tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn thực hiện quyền đồng ý hay không đồng ý đối với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn một cách trực tiếp bằng lời nói. Tác giả cho rằng, quy định này của Nghị quyết 06 cần được kế thừa và mở rộng phạm vi đối với cả trường hợp bị đơn thực hiện quyền định đoạt đối với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn tại phiên tòa sơ thẩm (sau khi vụ án đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án) trong văn bản hướng dẫn BLTTDS 2015.

3. Ủy quyền thực hiện

Về chủ thể thực hiện quyền, rõ ràng, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn là chủ thể có quyền đồng ý hay không đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn trong một số giai đoạn tố tụng. Vấn đề đặt ra là bị đơn có thể thực hiện quyền đồng ý hay không đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn thông qua người đại diện theo ủy quyền của bị đơn hay không? Sở dĩ tác giả đặt ra vấn đề này vì quyền của bị đơn có thể làm thay đổi hoàn Tòan “cục diện” một vụ án, có thể làm chấm dứt quá trình tố tụng của vụ án đó tại Tòa và làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của bên chủ thể khác. Do vậy, theo tác giả, để người đại diện theo ủy quyền của bị đơn được thay mặt bị đơn thực hiện quyền này thì trong văn bản ủy quyền phải thể hiện rõ nội dung: Bị đơn ủy quyền cho người đại diện được thay mặt bị đơn đồng ý hay không đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn trong trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện.

4. Hậu quả pháp lý

Phụ thuộc vào việc bị đơn có đồng ý hay không đồng ý đối với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý khác nhau. Thứ nhất, bị đơn đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Nhìn chung, trường hợp này, Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, do việc rút đơn khởi kiện có thể ở các giai đoạn tố tụng khác nhau nên việc đồng ý của bị đơn đối với việc rút đơn khởi kiện này có thể kéo theo những hậu quả pháp lý khác nhau. Điểm b khoản 1 Điều 299 BLTTDS 2015 quy định: “Bị đơn đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Trong trường hợp này, các đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật”. Nghị quyết 06 cũng hướng dẫn hậu quả pháp lý trong trường hợp bị đơn đồng ý với việc nguyên đơn rút đơn khởi kiện trong thời gian kháng cáo kháng nghị phúc thẩm “thì không phân biệt trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị có đương sự nào kháng cáo hoặc Viện kiểm sát kháng nghị hay không, Tòa án cấp sơ thẩm đều phải gửi hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng nghị, văn bản rút đơn khởi kiện cho Tòa án cấp phúc thẩm để Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào Điều 269 của BLTTDS mở phiên Tòa giải quyết vụ án theo thủ tục chung” (điểm b khoản 2 Điều 18). Như vậy, trong giai đoạn phúc thẩm, bị đơn đồng ý với việc rút đơn hởi kiện của nguyên đơn thì Tòa án sẽ ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án và giải quyết những hậu quả pháp lý khác phát sinh như vấn đề về án phí… Bị đơn đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn trong giai đoạn xét xử sơ thẩm sau giám đốc thẩm, tái thẩm thì Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án[5]. Do sơ thẩm là giai đoạn xét xử đầu tiên nên Tòa án có thể trực tiếp ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Mặc dù khoản 4 Điều 217 không quy định một cách minh thị, nhưng theo tác giả những vấn đề pháp lý phát sinh như án phí… sẽ được giải quyết như trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện trong giai đoạn xét xử sơ thẩm lần đầu tiên (bên cạnh giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có). Thứ hai, bị đơn không đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Hướng giải quyết chung của Tòa án trong trường hợp này là sẽ không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Theo quy định tại Điều 299 BLTTDS 2015, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện mà bị đơn không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Nghĩa là, trường hợp này Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án tại giai đoạn xét xử phúc thẩm theo quy định, các đương sự có kháng cáo thì Tòa án tiếp tục giải quyết kháng cáo của các đương sự, Viện kiểm sát có kháng nghị thì Tòa án tiếp tục giải quyết kháng nghị của Viện kiểm sát. Nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà không có kháng cáo, kháng nghị thì Nghị quyết 06 cũng hướng dẫn hậu quả pháp lý trong trường hợp bị đơn không đồng ý với việc rút đơn khởi kiện này. Theo đó, việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn đương nhiên không được chấp nhận. Trường hợp này, bản án sơ thẩm được coi là không bị kháng cáo, kháng nghị và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị[6]. Như vậy, hướng dẫn tại Nghị quyết 06 đã giải quyết được vướng mắc của Tòa án trong trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm mà không có kháng cáo, kháng nghị (vì cả BLTTDS 2004 và BLTTDS 2015 đều không đề cập đến). Do đó, tác giả cho rằng văn bản hướng dẫn BLTTDS 2015 cần thiết kế thừa quy định này của Nghị quyết 06. Đối với việc nguyên đơn rút đơn khởi kiện trong giai đoạn sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, BLTTDS 2015 không quy định trực tiếp; khoản 4 Điều 217 quy định: “Trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì việc đình chỉ giải quyết vụ án phải có sự đồng ý của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. Thông qua quy định này có thể hiểu: Nếu bị đơn không đồng ý thì Tòa án không đình chỉ giải quyết vụ án, nghĩa là việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận, vụ án vẫn được tiếp tục giải quyết theo thủ tục thông thường. Vấn đề đặt ra, bị đơn có được quyền thay đổi ý kiến đối với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn không? Chẳng hạn, trước khi mở phiên tòa (sơ thẩm, phúc thẩm), bị đơn không đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn, do đó, Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Nhưng sau đó, tại phiên tòa, bị đơn đưa ra ý kiến đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Theo tác giả, văn bản hướng dẫn nên quy định theo hướng: Tại phiên tòa, bị đơn thay đổi ý kiến đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn (trước phiên tòa, bị đơn không đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn) thì trường hợp này, Hội đồng xét xử phải hỏi nguyên đơn còn muốn tiếp tục rút đơn khởi kiện hay không. Nếu nguyên đơn vẫn muốn rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét xử giải quyết như đối với trường hợp bị đơn đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn mà pháp luật tố tụng dân sự đã quy định. Trường hợp, trước khi mở phiên tòa, bị đơn đã có văn bản đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn, nhưng sau đó, bị đơn muốn thay đổi ý kiến theo hướng không đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn thì không chấp nhận việc thay đổi ý kiến này. Lý do tác giả đưa ra các hướng xử lý khác nhau khi bị đơn thay đổi ý kiến về việc nguyên đơn rút đơn khởi kiện như đã trình bày ở trên là vì: Một là, xuất phát từ hậu quả pháp lý của các trường hợp bị đơn đồng ý hay không đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp bị đơn đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn thì Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án[7], nếu bị đơn không đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn thì Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục thông thường. Như vậy, nếu ngay từ đầu bị đơn đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn thì Tòa án phải thực hiện các thủ tục để đình chỉ giải quyết vụ án. Trong khi đó, nếu ban đầu bị đơn không đồng ý cho nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì trên thực tế việc giải quyết vụ án không có gì thay đổi, không ảnh hưởng nhiều đến các đương sự khác cũng như cơ quan tiến hành tố tụng. Hai là, khuyến khích bị đơn đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Quan hệ dân sự là quan hệ mang tính chất tư, người ta thường nói “việc dân sự cốt ở đôi bên”. Giải quyết vụ án dân sự chính là giải quyết tranh chấp giữa các bên đương sự (mà chủ yếu là nguyên đơn và bị đơn) tại cơ quan tài phán Tòa án. Do đó, pháp luật tố tụng dân sự luôn đề cao sự thỏa thuận, tự nguyện của các bên. Điều này không những giúp cho bản án, quyết định của Tòa án “thấu tình, đạt lý”, hạn chế vụ án bị xét xử lại nhiều lần mà còn giúp cho việc thi hành án trên thực tế đạt hiệu quả. Chính vì vậy, nếu như nguyên đơn rút đơn khởi kiện và bị đơn cũng đồng ý với việc rút đơn này thì pháp luật nên tạo điều kiện. [1]gay từ BLTTDS 2004, bị đơn đã được ghi nhận cho quyền đồng ý hoặc không đồng ý với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn trong giai đoạn xét xử phúc thẩm (Điều 269 BLTTDS 2004). [2] Ngoài bị đơn, BLTTDS 2015 cũng quy định việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn trong giai đoạn xét xử sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm phải được sự đồng ý của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết tác giả chỉ trình bày về quyền của bị đơn đối với việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. [3] Bùi Thị Huyền (2016), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, NXB Lao động, tr. 297. [4] Khoản 2 Điều 18 Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp phúc thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự. [5] Khoản 4 Điều 217 BLTTDS 2015. [6] Điều 18 Nghị quyết số 06 ngày 03/12/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp phúc thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự. [7] Trình tự thủ tục cụ thể tác giả đã trình bày ở trên nên không nhắc lại ở đây.

PHẠM THỊ THÚY ( Khoa Luật Dân sự – ĐH Luật Tp HCM)

Nguồn:  Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)