Cách tính ngày nghỉ hàng năm của người lao động theo quy định mới nhất?

Theo quy định tại Bộ Luật lao động năm 2012 quy định về nghỉ hàng năm như sau: 
 

Điều 111. Nghỉ hằng năm
1. Người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:
a) 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;
b) 14 ngày làm việc đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có có điều kiện sinh sống khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành hoặc lao động chưa thành niên hoặc lao động là người khuyết tật;
c) 16 ngày làm việc đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống đặc biệt khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành.

 
Trong đó, thời gian được coi là thời gian làm việc của người lao động để tính số ngày nghỉ hàng năm như sau:
 

Điều 6. Thời gian được coi là thời gian làm việc của người lao động để tính số ngày nghỉ hằng năm
1. Thời gian học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động theo cam kết trong hợp đồng học nghề, tập nghề.
2. Thời gian thử việc theo hợp đồng lao động sau đó làm việc cho người sử dụng lao động.
3. Thời gian nghỉ việc riêng có hưởng lương theo Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật lao động.
4. Thời gian nghỉ việc không hưởng lương nếu được người sử dụng lao động đồng ý nhưng cộng dồn không quá 01 tháng.
5. Thời gian nghỉ do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nhưng cộng dồn không quá 6 tháng.
6. Thời gian nghỉ do ốm đau nhưng cộng dồn không quá 02 tháng.
7. Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
8. Thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn.
9. Thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động.
10. Thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc.
11. Thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội.

Về tính độc lập và quyền miễn trừ của thẩm phán

Quy định của luật pháp quốc tế và ở Việt Nam về tính độc lập và quyền miễn trừ của Thẩm phán.

I. Tính độc lập của Thẩm phán

1. Quy định của luật pháp quốc tế về tính độc lập của Thẩm phán

Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (Điều 10) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (khoản 1, Điều 14) đã tuyên bố rằng mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được thành lập trên cơ sở pháp luật. Như vậy, hệ thống Tòa án độc lập là điều kiện tiên quyết trong việc bảo đảm công lý, bảo vệ quyền con người và quyền tự do cơ bản của công dân.
Tuyên bố Bắc Kinh về các nguyên tắc độc lập tư pháp đã nêu rõ độc lập tư pháp có nghĩa là:
“a) Cơ quan tư pháp quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền dựa trên sự đánh giá khách quan của mình về các sự kiện của vụ án và trình độ hiểu biết pháp luật của mình mà không chịu sự tác động sai trái, trực tiếp hay gián tiếp của bất kỳ cá nhân, tổ chức, hay cơ quan nào;
 b) Cơ quan tư pháp có thẩm quyền giải quyết trực tiếp hoặc xem xét lại đối với tất cả những vấn đề mang tính chất tư pháp.”
Bản Tuyên bố cũng nhấn mạnh:
“Việc duy trì tính độc lập của cơ quan tư pháp là cần thiết để đạt được mục tiêu và thực hiện đúng chức năng của cơ quan tư pháp trong một xã hội tự do và tôn trọng pháp quyền. Sự độc lập này cần phải được Nhà nước đảm bảo và phải được quy định rõ trong Hiến pháp hoặc pháp luật”[1].
Hiệp hội Đoàn Luật sư Mỹ (the American Bar Association – ABA), cho rằng: “Tính độc lập của Tòa án bao gồm tính độc lập của cá nhân các Thẩm phán cũng như của toàn bộ hệ thống như một nhánh quyền lực nhà nước”[2].
Các cá nhân Thẩm phán là những người trực tiếp thực hiện chức năng xét xử của Tòa án, cho nên, ngoài những nội dung thuộc về tính độc lập của Tòa án, tính độc lập của các cá nhân Thẩm phán còn bao gồm việc thực hiện công việc chuyên môn của mình một cách tự do, độc lập, vô tư. Vì vậy, các văn kiện quốc tế và khu vực về quy chế Thẩm phán và đạo đức Thẩm phán đã được ban hành nhằm đưa ra những nguyên tắc căn bản để các quốc gia thành viên xây dựng chế định về Thẩm phán.
Năm 1985, Hội nghị Liên Hợp Quốc lần thứ 7 về Phòng chống tội phạm và đối xử với người phạm tội đã thông qua Các nguyên tắc cơ bản về tính độc lập của Tòa án và sau đó, được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc nhất trí thông qua bằng Nghị quyết 40/32 ngày 29-11-1985 và Nghị quyết 40/146 ngày 13-12-1985. Vì vậy, các nguyên tắc này có thể được coi là các quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc cùng nhau đưa ra tuyên bố về những vấn đề được chấp nhận trên toàn cầu về tính độc lập của Tòa án và những yêu cầu đối với cá nhân Thẩm phán[3].
Các nguyên tắc cơ bản về tính độc lập của Tòa án, năm 1985 đã chỉ rõ tính độc lập của Tòa án như sau:

1. Tính độc lập của Tòa án phải được nhà nước bảo đảm và được ghi nhận chính thức trong Hiến pháp hay pháp luật quốc gia. Nhiệm vụ của tất cả các cơ quan của chính phủ và những cơ quan khác là phải tôn trọng và tuân thủ tính độc lập của Tòa án.
2. Tòa án phải quyết định các vấn đề một cách vô tư, không thiên vị dựa trên sự việc và theo luật pháp mà không chịu những hạn chế, những ảnh hưởng không phù hợp, dụ dỗ, sức ép, đe dọa hay can thiệp sai trái, trực tiếp hay gián tiếp từ bất cứ một nguồn nào hay vì bất cứ một lý do nào.
3. Tòa án phải có quyền tài phán đối với mọi vấn đề có tính chất xét xử và phải có quyền lực riêng để quyết định xem một vấn đề được trình lên Tòa án có thuộc thẩm quyền của Tòa theo như luật pháp quy định hay không.
4. Không được can thiệp không thỏa đáng hay không có lý do xác đáng vào quá trình xét xử, cũng như không được xét lại các phán quyết của Tòa án. Nguyên tắc này không ảnh hưởng đến quá trình xét xử phúc thẩm hay việc các cơ quan có thẩm quyền giảm nhẹ các bản án mà Tòa án đã tuyên phù hợp với luật pháp.
5. Mọi người đều có quyền được xét xử bởi các Tòa án thông thường sử dụng những thủ tục pháp lý đã được ấn định. Tòa án nào không sử dụng những thủ tục đã được ấn định một cách hợp lệ trong quá trình xét xử sẽ không được thiết lập để thay thế quyền tài phán của Tòa án hoặc cơ quan xét xử thông thường.
6. Nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án cho phép và yêu cầu Tòa án bảo đảm rằng các thủ tục xét xử đều được tiến hành một cách đúng đắn và quyền của các bên đều được tôn trọng.
6. Nhiệm vụ của mỗi quốc gia thành viên là phải cung cấp đầy đủ các nguồn lực để ngành Tòa án có thể thực hiện tốt những chức năng của mình.

Tuyên bố Bắc Kinh về các nguyên tắc độc lập tư pháp, năm 1995; Hiến chương phổ quát về Thẩm phán năm 1999, Quy chế Thẩm phán IberoAmerica năm 2001, Nguyên tắc Bangalore về đạo đức tư pháp năm 2002 đã nêu cụ thể về nội dung tính độc lập của cá nhân Thẩm phán như sau:

  • Khi xét xử, các Thẩm phán độc lập và chỉ phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật;
  • Trong quá trình xét xử, các Thẩm phán phải độc lập với các Tòa án cấp trên và với các Thẩm phán khác;
  • Các phương tiện truyền thông không được tác động hoặc làm ảnh hưởng đến nội dung quyết định xét xử của Thẩm phán.

Sự độc lập này có nghĩa là cả hệ thống Tòa án và cá nhân Thẩm phán khi xét xử hoàn toàn có khả năng thực hiện công việc chuyên môn của mình mà không bị ảnh hưởng bởi những áp lực của bất cứ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào, bao gồm cả áp lực trong nội bộ hệ thống Tòa án.

2. Về tính độc lập của Thẩm phán ở Việt Nam

2.1. Điều 47 Sắc lệnh số 13/SL ngày 24-1-1946 quy định: “Tòa án tư pháp sẽ độc lập với các cơ quan hành chính. Các vị Thẩm phán sẽ chỉ trọng pháp luật và công lý. Các cơ quan khác không được can thiệp vào việc tư pháp”.
Điều thứ 69 Hiến pháp 1946[4] quy định: “Trong khi xét xử, các viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp”.
Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn sau khi giành được độc lập, pháp luật của Nhà nước ta đã quy định nguyên tắc Tòa án độc lập với cơ quan hành chính; khi xét xử Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
2.2. Sau khi hòa bình được lập lại, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Nhà nước ta đã sửa đổi Hiến pháp 1946 và ban hành Hiến pháp 1959. Điều 100 Hiến pháp 1959 quy định: “Khi xét xử, Tòa án nhân dân có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.
Điều 4 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 đã quy định lại nguyên văn Điều 100 của Hiến pháp.
Tập san Tư pháp số 2 năm 1964 đã đăng bài “Cần hiểu rõ và thực hiện đúng đắn nguyên tắc “Tòa án độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật” của ông Lê Giản, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Đây là bài viết thể hiện quan điểm chính thống của Tòa án nhân dân tối cao về tính độc lập của Thẩm phán, nội dung chủ yếu như sau:
+ Thẩm phán độc lập:
– “là Thẩm phán được tự do nghiên cứu, phân tích, đánh giá bằng chứng và tự do quyết định về một vụ án cụ thể, mà không một cơ quan Nhà nước nào, một tổ chức xã hội nào hoặc bất cứ một ai được can thiệp hoặc ra chỉ thị cho họ phải giải quyết một vụ án theo hướng này hay hướng kia”.
– “Thẩm phán độc lập với ngành Công an, Kiểm sát và các đương sự, nghĩa là đối với những bằng chứng, những kết luận mà các cơ quan và đương sự trình bày trước phiên toà thì Tòa án không bắt buộc phải theo”. Sau khi thẩm tra, đánh giá tại phiên toà, Thẩm phán có quyền chấp nhận hay bác bỏ.
– Khi phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm, Tòa án cấp trên không được xâm phạm đến sự độc lập xét xử của Tòa án cấp dưới, như định hướng việc xét xử lại vụ án.
– Khi xét xử, các Thẩm phán phải độc lập với nhau và với Hội thẩm nhân dân.
+ Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật:
– Khi xét xử, Thẩm phán phải căn cứ vào pháp luật hiện hành. Nếu luật pháp thiếu sót hoặc không đầy đủ thì phải tuân theo “ý thức pháp quyền xã hội chủ nghĩa”
2.3. Tiếp theo, các bản Hiến pháp 1980, 1992, 2013 và các Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981, 1992, 2002, 2014 cũng đều quy định: Khi xét xử, Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
2.4. Đối chiếu với quy định của pháp luật quốc tế đã nêu ở mục 1, Phần I ở trên, thì từ năm 1946 cho đến nay, pháp luật Việt Nam mới chỉ chú ý quy định về sự “độc lập của Thẩm phán” chứ chưa quan tâm về sự “độc lập của Tòa án”. Điều 2 Hiến pháp 1992 (sửa đổi) quy định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Và khoản 3 Điều 2 Hiến pháp 2013 đã quy định bổ sung quy định này như sau: “3. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Như vậy, Hiến pháp 2013 đã quy định việc “kiểm soát” trong việc thực hiện quyền lực giữa các nhánh quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, vẫn chưa rõ cách thức “kiểm soát” như thế nào để tăng cường tính độc lập của Tòa án.
Trong đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước “Phân công, phối hợp quyền lực và kiểm soát quyền lực trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, các tác giả đã nêu ý kiến như sau: “Về quyền tư pháp là quyền bảo vệ ý chí chung của Quốc gia. Quyền này được giao cho Tòa án. Hiến pháp nước ta quy định có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính, lao động… Nội dung của quyền xét xử như vậy là chưa đầy đủ. Có những thẩm quyền, theo lý luận về Hiến pháp và tổ chức chính quyền, vốn được quan niệm thuộc quyền của Tòa án nhưng chưa được trao cho Tòa án. Tòa án không được xét xử tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật thay vì quyền này được giao cho nhiều cơ quan khác nhau như Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ. Ngoài ra, quyền giải thích Hiến pháp và pháp luật, theo nguyên lý vốn thuộc quyền của Tòa án, nhưng được Hiến pháp và pháp luật phân công quyền tư pháp nên quyền này được thực hiện rất ít trên thực tế. Sẽ hợp lý hơn nếu Tòa án được trao những quyền: xét xử tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật, giải thích hiến pháp và pháp luật.
… Việc Viện kiểm sát có quyền kiểm sát hoạt động tư pháp là không phù hợp trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Bởi vì, việc thực hiện thẩm quyền kiểm sát hoạt động tư pháp, chủ yếu là hoạt động xét xử sẽ ảnh hưởng đến nguyên tắc độc lập của Tòa án”[5].
Chúng tôi cho rằng, nếu Tòa án được trao quyền xét xử tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật, giải thích Hiến pháp và pháp luật; và nếu bãi bỏ quyền kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát như ý kiến đề xuất nêu trên sẽ góp phần rất quan trọng trong việc tăng cường tính độc lập của Tòa án.
Một vấn đề quan trọng khác là trong các bộ luật tố tụng ban hành năm 2015 đều có một chương về “Thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao”: Chương XXVII Bộ luật Tố tụng hình sự, Chương XXII Bộ luật Tố tụng dân sự, Chương XVII Luật Tố tụng hành chính. Theo đó, “Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cùng với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có quyền yêu cầu, kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại quyết định của mình. Khi có căn cứ xác định quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không biết được khi ra quyết định đó”[6].
Chúng tôi cho rằng, quy định Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân có quyền yêu cầu, kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại quyết định của mình như nêu trên là không hợp lý, làm ảnh hưởng đến tính độc lập của Tòa án.
Nhiều quốc gia trên thế giới đều tổ chức nhà nước theo nguyên tắc tam quyền phân lập, do đó, tính độc lập của Tòa án được xác định rõ ràng. Việt Nam không tổ chức nhà nước theo nguyên tắc đó, do vậy, cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ cơ chế “phân công, phối hợp, kiểm soát” trong việc thực hiện quyền lực nhà nước để bảo đảm tăng cường tính độc lập của Tòa án.

II. Về quyền miễn trừ của Thẩm phán

1. Quyền miễn trừ của Thẩm phán theo quy định của luật pháp quốc tế

1.1. Nguyên tắc thứ 16 của Các nguyên tắc cơ bản về tính độc lập của Tòa án năm 1985, quy định:

Phù hợp với luật pháp quốc gia, Thẩm phán được hưởng quyền miễn trừ trong các vụ kiện dân sự vì những thiệt hại về tiền bạc gây ra bởi những hành động không đúng hoặc những sai sót trong khi thực hiện chức năng xét xử, và việc được hưởng quyền miễn trừ này không ảnh hưởng gì đến bất kỳ thủ tục kỷ luật nào hoặc quyền kháng cáo nào cũng như đến việc bồi thường từ phía nhà nước.

1.2. Tuyên bố Bắc Kinh về các nguyên tắc độc lập tư pháp cũng nêu rõ:

32. Thẩm phán được hưởng quyền miễn trừ trách nhiệm cá nhân đối với các vụ kiện dân sự đòi bồi thường những thiệt hại về vật chất gây ra do hành vi sai trái hoặc những sai sót của mình khi thực hiện chức năng xét xử. Quy định này không ảnh hưởng đến việc thực hiện các thủ tục thi hành kỷ luật đối với Thẩm phán, hoặc quyền khiếu nại cũng như yêu cầu bồi thường từ phía nhà nước theo quy định của pháp luật nước đó.

1.3. Điều 10 Hiến chương phổ quát về Thẩm phán cũng quy định về trách nhiệm dân sự và hình sự của Thẩm phán như sau:

Tại các quốc gia khi điều này được chấp nhận, hành vi dân sự, hình sự, bắt giữ Thẩm phán chỉ được cho phép trong trường hợp bảo đảm không làm ảnh hưởng đến sự độc lập của họ.

1.4. Điều 19 Quy chế Thẩm phán IberoAmerica quy định về nguyên tắc trách nhiệm pháp lý của Thẩm phán như sau:

Các Thẩm phán có thể bị chịu trách nhiệm hình sự, dân sự và kỷ luật theo quy định của pháp luật…

Điều này có nghĩa rằng, quy định về trách nhiệm dân sự, hình sự của Thẩm phán phải bảo đảm không ảnh hưởng đến sự độc lập của họ.

2. Quyền miễn trừ theo quy định của Việt Nam

Việc quy định Thẩm phán phải có nghĩa vụ hoàn trả khoản bồi thường trong những vụ án oan sai “do lỗi” của mình là quy định không hợp lý, không phù hợp với quy định của luật pháp quốc tế về quyền miễn trừ của Thẩm phán. Quy định này làm Thẩm phán lo ngại về một trách nhiệm kinh tế và làm nảy sinh mối nghi ngờ của công chúng là Thẩm phán ra bản án nhằm tránh rủi ro về hậu quả kinh tế cá nhân, chứ không phải dựa trên nội dung vụ án. Chúng tôi cho rằng quy định này cần phải được bãi bỏ.
 


[1] Tuyên bố Bắc Kinh về các nguyên tắc độc lập tư pháp (Tuyên bố này được thông qua bởi Chánh án Toà án tối cao của 20 nước, trong đó có Việt Nam, ngày 19-8-1995, tại Hội nghị của Chánh án Toà án tối cao khu vực Châu Á-Thái Bình Dương lần thứ 6 tổ chức tại Bắc Kinh)
[2] Dẫn theo Tô Văn Hoà – Tính độc lập của Toà án – NXB Lao động – Hà Nội, 2007, tr79
[3] Cao uỷ Liên hợp quốc về quyền con người – Sổ tay về quyền con người dành cho Thẩm phán, Công tố viên và Luật sư
[4] Bản Hiến pháp này đã được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà thông qua ngày 09-11-1946. Tuy nhiên, bản Hiến pháp này chưa được ban hành vì chỉ hơn một tháng sau (19-12-1946) toàn quốc đi vào kháng chiến nên không tổ chức được tổng tuyển cử bầu Quốc hội mới và tổ chức bộ máy Nhà nước như quy định của bản Hiến pháp này.
[5] Đề tài do GS. TS. Trần Ngọc Đường và TS. Lê Thanh Vân thực hiện năm 2010 (điểm a, 1.1, 1, II, Chương II, Phần thứ ba)
[6] Vấn đề cũng đã được quy định tại Luật tố tụng hành chính năm 2010, Luật sửa đổi một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự (ngày 29-3-2011)
 

NGÔ CƯỜNG – Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế TANDTC

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)

 

Đối tượng của quyền hưởng dụng trong pháp luật Việt Nam

Quyền hưởng dụng là một trong ba quyền khác đối với tài sản được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Những công trình nghiên cứu về quyền hưởng dụng cho thấy nhận thức về đối tượng của quyền hưởng dụng còn chưa thống nhất. Bài viết nghiên cứu về đối tượng của quyền hưởng dụng ở Việt Nam và cho thấy, đối tượng của quyền hưởng dụng không chỉ giới hạn ở “vật” và còn có thể là tài sản tiêu hao.

1. Dẫn nhập

Trước đây, Phần thứ hai của Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2015) có tiêu đề “Tài sản và quyền sở hữu”. Hiện nay, Phần thứ hai của BLDS 2015 có tiêu đề là “Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản”.
Với tiêu đề mới nêu trên, chúng tôi hiểu rằng, quyền đối với tài sản bao gồm: “quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản”. “Quyền khác đối với tài sản” được định nghĩa tại khoản 1 Điều 159 BLDS 2015, theo đó, “quyền khác đối với tài sản là quyền của chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác”. Thực tế, khoản 2 Điều 159 BLDS 2015 làm rõ những “quyền khác đối với tài sản” theo đó “Quyền khác đối với tài sản bao gồm: a) Quyền đối với bất động sản liền kề; b) Quyền hưởng dụng; c) Quyền bề mặt”. “Quyền đối với bất động sản liền kề” trong BLDS 2015 không mới vì nội hàm của nó được kế thừa từ “Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề” trong BLDS năm 2005. Tuy nhiên, “quyền bề mặt” và “quyền hưởng dụng” là hai quyền mới được ghi nhận.
Sau khi BLDS 2015 được thông qua, đã có những công trình và hội thảo liên quan đến “quyền hưởng dụng” nhưng nội dung các công trình và hội thảo này cho thấy nhận thức về đối tượng của quyền hưởng dụng còn được hiểu chưa thống nhất. Nghiên cứu cho thấy, đối tượng của quyền hưởng dụng rất rộng, nó không giới hạn ở “vật” và còn có thể là tài sản “tiêu hao”.

2. Đối tượng của quyền hưởng dụng không giới hạn ở “vật”

Khoản 1 Điều 105 BLDS 2015 quy định:  “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”. Tuy nhiên, hiện nay có quan điểm cho rằng, đối tượng của quyền hưởng dụng chỉ có thể là “vật”, bởi lẽ, “khi chủ sở hữu chuyển giao vật cho người khác thông qua giao dịch hoặc do pháp luật quy định để người được chuyển giao khai thác, hưởng hoa lợi, lợi tức từ vật thì người được chuyển giao có một số quyền đối với vật” và “quyền hưởng dụng chỉ có thể được xác lập trên vật không tiêu hao”[1].
Quan điểm trên làm cho người đọc hiểu rằng chỉ vật (sẽ bàn về loại vật tiêu hao ở phần sau) mới có thể là đối tượng của quyền hưởng dụng. Ngoài vật, phải chăng các tài sản khác như “tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” không thể là đối tượng của quyền hưởng dụng? Nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài cho thấy, tài sản khác vật hoàn toàn có thể là đối tượng của quyền hưởng dụng trong pháp luật nước ngoài cũng như trong pháp luật Việt Nam. Ví dụ, BLDS Pháp (được xây dựng từ năm 1804) ghi nhận quyền hưởng dụng ở Điều 578 và đề cập tới đối tượng của quyền hưởng dụng với thuật ngữ “choses” nhưng không có định nghĩa cho thuật ngữ này.
Khi bàn về đối tượng của quyền hưởng dụng, các chuyên gia về tài sản của Pháp khẳng định “quyền hưởng dụng có thể được xác lập đối với tất cả các loại tài sản, động sản hay bất động sản. Quyền hưởng dụng có thể có đối tượng không chỉ là vật hữu hình mà còn cả quyền vô hình như quyền đòi nợ, quyền tác giả, sáng chế, sản nghiệp thương mại…”[2]. Ở đây, “quyền hưởng dụng có thể liên quan đến tất cả các loại tài sản. BLDS đặc biệt quan tâm tới bất động sản” và “phạm vi của quyền hưởng dụng đã được mở rộng đến tài sản vô hình như sản nghiệp thương mại, sở hữu trí tuệ, quyền đòi nợ hay một khoản tiền…”[3].
Trong thực tiễn xét xử, bên cạnh việc ghi nhận quyền hưởng dụng đối với bất động sản là nhà đất (một dạng vật)[4], Toà án Pháp còn ghi nhận quyền hưởng dụng đối với đối tượng khác như quyền đòi nợ, cổ phần, cổ phiếu (một dạng tài sản ở Việt Nam) hay đối với một khoản tiền (cũng là một dạng tài sản ở Việt Nam).
Ở Việt Nam, theo quy định của Điều 257 BLDS 2015, “Quyền hưởng dụng là quyền của chủ thể được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác trong một thời hạn nhất định”. Ở điều luật này, chúng ta thấy đối tượng của quyền hưởng dụng là “tài sản” chứ không giới hạn ở “vật” nên, ở góc độ văn bản, không có cơ sở để khẳng định đối tượng của quyền hưởng dụng “chỉ là vật” mà cần phải hiểu đối tượng của quyền hưởng dụng là “tài sản” nói chung nên vật hay loại tài sản khác hoàn toàn có thể là đối tượng của quyền hưởng dụng.
Với quy định hiện nay trong BLDS 2015, ngoài vật như nhà hay xe, quyền hưởng dụng hoàn toàn có thể được xác lập đối với tài sản khác “vật”. Chẳng hạn, trên cơ sở Điều 258 BLDS 2015, chủ sử dụng đất hoàn toàn có thể tạo lập cho người khác quyền hưởng dụng đối với quyền sử dụng đất của mình thông qua di chúc[5] trong khi đó quyền sử dụng đất là tài sản trên cơ sở Điều 105 và 115 BLDS 2015[6] nhưng không phải là “vật”.

3. Đối tượng của quyền hưởng dụng bao gồm cả tài sản “tiêu hao”

Điều 112 BLDS 2015 quy định về “vật tiêu hao” và “vật không tiêu hao”. Theo đó, “vật tiêu hao là vật khi đã qua một lần sử dụng thì mất đi hoặc không giữ được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu” và “vật không tiêu hao là vật khi đã qua sử dụng nhiều lần mà cơ bản vẫn giữ được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu”. Như vậy, tính chất “tiêu hao” hay “không tiêu hao” chỉ được đề cập đến đối với “vật”. Tuy nhiên, trong phần sau, BLDS 2015 còn đề cập tới tính “không tiêu hao” cho “tài sản” nói chung. Cụ thể, theo quy định của Điều 495 BLDS 2015, “tất cả những tài sản không tiêu hao đều có thể là đối tượng của hợp đồng mượn tài sản”. Như vậy, tính “không tiêu hao” được đề cập tới “tài sản” nói chung chứ không chỉ cho “vật”. Sự không thống nhất này đã dẫn đến những cách hiểu khác nhau của Tòa án trong thực tiễn giải quyết các quan hệ dân sự. Ví dụ, trong một vụ án giải quyết tranh chấp vay tiền của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh, Toà sơ thẩm xác định đây là tranh chấp hợp đồng “mượn tài sản”, tuy nhiên, Toà án phúc thẩm quyết định: “Xác định quan hệ pháp luật dân sự tranh chấp giữa hai bên đương sự là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” với lập luận: Đối tượng của hợp đồng mượn tài sản là những vật không tiêu hao; “Bên mượn” chỉ được “Bên cho mượn” giao tài sản để sử dụng (giao quyền sử dụng tài sản), và khi kết thúc hợp đồng, “Bên mượn” phải trả lại tài sản đó cho “Bên cho mượn”; Đối tượng của hợp đồng vay tài sản là những vật tiêu hao, vật cùng loại  và “Bên vay” sẽ trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận được tài sản đó; khi kết thúc hợp đồng, nếu tài sản vay là tiền thì “Bên vay” sẽ phải trả lại cho “Bên cho vay” bằng tiền, nếu tài sản vay là vật thì phải trả lại bằng vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng. Vì những lý do nêu trên, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ sửa lại bản án sơ thẩm về việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và về việc áp dụng điều luật cụ thể giải quyết vụ án[7]. Ở đây, Toà án coi đối tượng của vay – “tiền” – là “tiêu hao” và áp dụng theo hướng hợp đồng cho vay “tiền”, trong khi đó “tiền” không là “vật”.
Chúng tôi chia sẻ với quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh coi tính chất tiêu hao hay không tiêu hao không chỉ giới hạn ở “vật” vì có tài sản không tiêu hao mà không là vật như trường hợp của quyền sử dụng đất (là tài sản không tiêu hao nhưng không là vật). Tương tự, tính tiêu hao không chỉ dành riêng cho “vật” và tài sản khác “vật” hoàn toàn cũng có tính tiêu hao như “tiền” (không là “vật” theo quy định trên nhưng vẫn là tài sản).
Nghiên cứu pháp luật nước ngoài cho thấy tài sản tiêu hao hoàn toàn có thể là đối tượng của quyền hưởng dụng. Ví dụ, Điều 587 BLDS Pháp quy định: “nếu quyền hưởng dụng từ tài sản tiêu hao như tiền, ngũ cốc, rượu, người hưởng dụng có quyền dùng tài sản đó, nhưng khi quyền hưởng dụng kết thúc thì phải hoàn trả tài sản bằng hiện vật theo cùng số lượng và chất lượng hoặc bằng tiền tương ứng với giá trị vào thời điểm hoàn trả”. Thực tế, tài sản tiêu hao được sử dụng nhiều trong hưởng dụng ở Pháp là một khoản tiền, tức “tài sản tiêu hao tiêu biểu nhất”[8]. Trong trường hợp người hưởng dụng một khoản tiền (tài sản tiêu hao) chết, “chủ sở hữu là người có quyền đòi hoàn trả đối với thừa kế. Yêu cầu này chỉ được tiến hành đối với người hưởng dụng hoặc thừa kế của họ. Do đó, yêu cầu đối với người ngoài thừa kế không được chấp nhận”[9].
BLDS Đức cũng theo hướng ghi nhận quyền hưởng dụng đối với tài sản tiêu hao. Điều 1067 BLDS Đức quy định: “Sau khi sử dụng hết, người hưởng dụng phải hoàn trả cho người cấp khoản giá trị mà mọi thứ đã có trong thời điểm tạo ra lợi ích” và thậm chí điều luật này còn quy định rõ “nếu vật dụng tiêu hao là đối tượng hưởng dụng, thì người hưởng dụng lại trở thành chủ sở hữu của vật”[10].
Ở Việt Nam, có quan điểm cho rằng quyền hưởng dụng chỉ áp dụng cho đối tượng là tài sản không tiêu hao, theo đó: (i) Vật không tiêu hao là tài sản có thể qua nhiều lần sử dụng mà không mất đi trạng thái vật chất ban đầu. Tuy nhiên, nó có thể bị giảm chất lượng hoặc bị hư hỏng một cách tự nhiên qua nhiều lần sử dụng theo thời gian, như nhà cửa, các phương tiện giao thông, các đồ gia dụng khác; (ii) Vật tiêu hao là tài sản qua một vài lần sử dụng sẽ làm mất đi trạng thái vật chất ban đầu, bị hao mòn hoặc thay đổi chất, như các loại tài sản tồn tại dưới dạng chất lỏng, tiền, lương thực, thực phẩm… Sự phân biệt này có ý nghĩa về hệ quả của việc thoả thuận cấp cho quyền hưởng dụng và thời hạn hưởng quyền hết. Nếu quyền hưởng dụng được xác lập trên vật tiêu hao thì tài sản có được từ quyền hưởng dụng này người hưởng dụng có thể tiêu dùng, chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc dùng tài sản đó để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Nếu tài sản bị hưởng dụng (đối tượng của quyền hưởng dụng) là vật tiêu hao thì người hưởng dụng không thể trả lại vật đó”[11].
Thực ra, trước khi có BLDS 2015, có quan điểm khẳng định: “quyền hưởng dụng được thiết lập trên cả tài sản tiêu hao và tài sản không tiêu hao”[12]. Bản thân BLDS 2015 cũng chỉ sử dụng thuật ngữ “tài sản” mà không có bất kỳ khẳng định nào theo hướng chỉ vật, tài sản không tiêu hao mới có thể là đối tượng của quyền hưởng dụng. Điều 266 BLDS 2015 quy định: “Tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng phải được hoàn trả cho chủ sở hữu khi chấm dứt quyền hưởng dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”. Tuy nhiên, điều luật này không đòi hỏi phải hoàn trả đúng tài sản đã giao nhận khi xác lập quyền hưởng dụng như trường hợp của hợp đồng thuê[13], hợp đồng mượn tài sản[14] nên việc hoàn trả tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng hoàn toàn có thể được tiến hành bằng hiện vật bằng cách giao tài sản cùng loại tương đương[15]hay được tiến hành bằng cách thanh toán giá trị của tài sản hưởng dụng.
Tóm lại, có thể nói rằng, theo quy định của pháp luật dân sự, ở Việt Nam, tài sản tiêu hao hay tài sản không tiêu hao đều có thể là đối tượng của quyền hưởng dụng.
Lưu ý khi hưởng dụng tài sản tiêu hao. Những phân tích nêu trên cho thấy quyền hưởng dụng hoàn toàn có thể được xác lập ngay cả đối với tài sản tiêu hao và lúc này người có quyền hưởng dụng được bảo vệ trên cơ sở quy định “chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó” (khoản 2 Điều 166 BLDS 2015) hay trên cơ sở quy định “chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại” (khoản 2 Điều 164 BLDS 2015)[16]. Trong trường hợp xác lập quyền hưởng dụng đối với tài sản tiêu hao, chúng tôi lưu ý một số điểm sau:
Thứ nhất, quyền hưởng dụng không là quyền sở hữu mà chỉ là “quyền khác đối với tài sản” nên tài sản vẫn thuộc quyền sở hữu của người khác người hưởng dụng và người có quyền hưởng dụng chỉ được trao một số quyền năng giống như một số quyền năng của chủ sở hữu. Ở đây, người có quyền hưởng dụng tiêu huỷ tài sản thông qua sử dụng do đối tượng của quyền hưởng dụng là tài sản tiêu hao (vì tính chất tiêu hao, tài sản sẽ mất đi trong quá trình khai thác công dụng, lúc này tiêu huỷ và sử dụng tài sản không tách rời nhau) nên quyền của người hưởng dụng có phần nào quyền giống chủ sở hữu[17] và đây chỉ là một quyền trong các quyền của quyền sở hữu được chuyển sang cho người hưởng dụng (quyền của người hưởng dụng tài sản tiêu hao đã “tiệm cận” quyền của chủ sở hữu hơn so với quyền của người hưởng dụng tài sản không tiêu hao) còn các quyền khác của quyền sở hữu không được chuyển cho người hưởng dụng. Cụ thể, người có quyền hưởng dụng không thể bán hay chuyển nhượng tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng cho người khác. Người hưởng dụng cũng không thể sử dụng tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ[18] (tuy nhiên, bản thân quyền hưởng dụng có thể được sử dụng để bảo đảm hay không thì chúng ta vẫn chưa có câu trả lời rõ ràng). Do đó, người hưởng dụng tài sản tiêu hao chưa được coi là chủ sở hữu đối với tài sản hưởng dụng mà họ chỉ là người có “quyền khác đối với tài sản” (nên nếu tài sản bị rủi ro trước khi được sử dụng thì chủ sở hữu chịu rủi ro nếu không có quy định khác[19]).
Thứ hai, khi tài sản tiêu hao đã được người hưởng dụng sử dụng thì quan hệ giữa chủ sở hữu và người hưởng dụng phải xử lý như thế nào? Đây là một điểm chưa rõ trong BLDS 2015 khi Điều 265 quy định: “Quyền hưởng dụng chấm dứt trong trường hợp sau đây: Thời hạn của quyền hưởng dụng đã hết; Tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng không còn”. Quyền hưởng dụng chấm dứt ngay sau khi người hưởng dụng sử dụng tài sản với lý do tài sản không còn (do đã tiêu hao) hay chỉ chấm dứt sau khi thời hạn của quyền hưởng dụng hết? Với quy định trên, về mặt lý luận, quyền hưởng dụng chấm dứt khi tài sản tiêu hao được sử dụng và tài sản phải hoàn trả trên cơ sở Điều 266 BLDS, theo đó “Tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng phải được hoàn trả cho chủ sở hữu khi chấm dứt quyền hưởng dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”. Tuy nhiên, do BLDS chỉ quy định nghĩa vụ hoàn trả mà không ấn định cụ thể thời điểm hoàn trả nên phải chăng chúng ta định hướng việc hoàn trả chỉ phải tiến hành khi thời hạn quyền hưởng dụng hết cho dù đã có việc sử dụng tài sản tiêu hao trước thời điểm hết thời hạn của quyền hưởng dụng./.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

 


[1] Nguyễn Văn Cừ và Trần Thị Huệ  (chủ biên), Bình luận khoa học BLDS 2015, Nxb. Công an nhân dân 2017, tr.420 và 423.
[2] F. Terré và Ph. Simler, Droit civil-Les biens, Nxb. Précis-Dalloz 2010, phần số 788.
[3]Ph. Malaurie và L. Aynès, Les biens, Nxb. Defrénois 2013, phần số 813 và 814.
[4]Xem Đỗ Văn Đại, Quyền hưởng dụng nhìn từ pháp luật về bồi thường thiệt hại, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp tháng 4/2017.
[5]Kinh nghiệm ở nước ngoài cho thấy, việc lập di chúc xác lập quyền hưởng dụng là rất phổ biến. Trước đây, dưới sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp, nhiều người dân ở Việt Nam cũng đã lập di chúc tạo lập quyền hưởng dụng. Hiện  nay, với BLDS 2015, chủ sở hữu hoàn toàn có thể lập di chúc tạo quyền hưởng dụng mà không chuyển quyền sở hữu tài sản.
[6] Theo khoản 1 Điều 105 và Điều 115 BLDS 2015, “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” và “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”.
[7] Bản án số 23/2012/DSPT ngày 10/1/2012 của Toà án nhân dân TP. Hồ Chí Minh.
[8] Ph. Malaurie và L. Aynès, Les biens, Nxb. Defrénois 2013, phần số 813.
[9] CA de Besancon du 3 novembre 2015, Numéro de rôle: 14/00743.
[10] Nguyên gốc: “If consumable things are the subject of the usufruct, then the usufructuary becomes the owner of the things; after the usufruct ends, he must reimburse the grantor the value that the things had at the time of the creation of usufruct”.
[11] Nguyễn Văn Cừ và Trần Thị Huệ (chủ biên), Tlđd, tr.423.
[12] Ngô Huy Cương, Ý tưởng về chế định quyền hưởng dụng trong BLDS tương lai của Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, tháng 9/2010.
[13] Khoản 1 Điều 482 BLDS 2015 quy định: “Bên thuê phải trả lại tài sản thuê trong tình trạng như khi nhận, trừ hao mòn tự nhiên hoặc theo đúng như tình trạng đã thoả thuận; nếu giá trị của tài sản thuê bị giảm sút so với tình trạng khi nhận thì bên cho thuê có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ hao mòn tự nhiên”.
[14] Điều 498 BLDS 2015 quy định: “Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, bên mượn phải trả lại tài sản đókhi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được”.
[15] Lưu ý là hay có nhầm lẫn giữa tài sản tiêu hao và tài sản cùng loại. Thực tế, hai tài sản này không luôn đồng nhất với nhau. Ví dụ, một cuốn sách được phát hành nhiều bản là tài sản cùng loại nhưng không là tài sản tiêu hao. Ngược lại, một chai rượu đặc biệt là tài sản tiêu hao nhưng lại không là tài sản cùng loại (vì nó đặc biệt nên không có chai thứ hai).
[16] Ở Pháp, khi một người cản trở người hưởng dụng được sử dụng một khoản tiền là đối tượng của quyền hưởng dụng, Toà án đã theo hướng người xâm phạm phải để cho người hưởng dụng được nhận khoản tiền này và phải chịu lãi cho đến khi chuyển tiền cho người hưởng dụng. Chẳng hạn, bà M đã để lại cho chồng mình (ông L) quyền hưởng dụng khi bà M chết. Sau khi bà M chết, ông L đã chấp nhận hưởng thừa kế nhưng ông G (công chứng viên) đang giữ tiền có từ việc thừa kế mà không giao cho ông L xuất phát từ người con gái của bà M (cô C). Khi có tranh chấp, Toà án Pháp đã xét rằng “công chứng viên phụ trách phân chia di sản phải khoản tiền cho ông L” và “ông L có quyền yêu cầu buộc cô C bồi thường thiệt hại do không hưởng dụng được khoản tiền trên và xuất phát từ việc từ chối của cô này, khoản bồi thường được Toà án xác định hàng tháng là 227,47 euros cho giai đoạn từ ngày 9/12/2014 cho đến khi tiền được giao cho ông L hay đưa vào một tổ chức tín dụng” (CA de Paris du 13/01/2016, n° 14/25292).
[17] Điều 158 và 192 BLDS 2015 quy định “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật” và “Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản”.
[18] Bởi lẽ khoản 1 Điều 295 BLDS quy định: “Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu”; Điều 309 BLDS quy định: “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”; khoản 1 Điều 317 BLDS quy định: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)”.
[19] Theo khoản 1 Điều 162 BLDS 2015, “Chủ sở hữu phải chịu rủi ro về tài sản thuộc sở hữu của mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”.
 

Đỗ Văn Đại, PGS,TS. Khoa Luật Dân sự, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh; Nguyễn Nhật Thanh, Khoa Luật Dân sự, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Áp dụng tình tiết giảm nhẹ nào với trường hợp trả lại giá trị tài sản trộm cắp?

Liệu việc bố, mẹ trả thay cho người trộm cắp tài sản không phải là bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả mà là nghĩa vụ hoàn trả tiền cho chủ sở hữu có phù hợp?
 

Nội dung vụ việc:
Ngày 02/01/2018, Nguyễn Văn A trộm cắp 01 chiếc xe máy có giá trị 5.000.000 đồng. Sau khi trộm cắp được tài sản thì Nguyễn Văn A đem đi cầm cố tài sản cho anh B được 6.000.000 đồng.
Quá trình theo dõi, B biết là tài sản do phạm pháp mà có nên mang nộp cho cơ quan điều tra. A tiêu xài hết số tiền trên và về nói với bố, mẹ về việc trộm cắp tài sản. Biết sự việc, gia đình A đã bồi thường cho anh B. Bị hại, người liên quan không có ý kiến gì về bồi thường dân sự.

 
Trong giai đoạn xét xử, Tòa án áp dụng khoản 2, Điều 51 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là: “Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án”, mà không áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015: “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”, với lý do: Đây là trách nhiệm của đương sự phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra, việc bố, mẹ A trả tiền cho anh B không phải là bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả mà đây là nghĩa vụ hoàn trả tiền cho người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Qua nghiên cứu Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 02/5/2006 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao và thực tiễn xét xử, tôi cho rằng: Theo quy định tại điểm b, đ tiểu mục 1.1, Mục 1 Nghị quyết số 01/2006 hướng dẫn về tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b, khoản 1, điều 46 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) tương ứng là điểm b, khoản 1, Điều 51 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) thì trong trường hợp này A là người chưa đủ 18 tuổi nên việc A tác động đến gia đình để bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, người liên quan đủ căn cứ để áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) cho A. Vì vậy, áp dụng khoản 2, Điều 51 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với A là chưa phù hợp. Theo tôi, cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS 2015.
Mong nhận được ý kiến trao đổi của quý đồng nghiệp và bạn đọc.

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)

Điều kiện, hồ sơ, thủ tục và mức hưởng chế độ thai sản mới nhất

Chế độ thai sản là một trong những vấn đề pháp lý căn bản được mọi lao động nữ quan tâm, bài viết tổng hợp những quy định pháp lý mới nhất, cụ thể và chi tiết về những quyền lợi mà lao động nữ được hưởng khi sinh con, nhận nuôi con nuôi, mang thai hộ:

1. Văn bản pháp luật quy định giải quyết chế độ thai sản: 

– Luật bảo hiểm xã hội năm 2014
– Nghị định 115/2015/NĐ-CP hướng dẫn luật bảo hiểm xã hội năm 2014 về chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc
– Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH Hướng dẫn chi tiết Luật bảo hiểm xã hội năm 2014​
– Quyết định 636/QĐ-BHXH ngày 22/04/2016 của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam

2. Điều kiện hưởng chế độ thai sản:

Đối tượng được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật không chỉ là người lao động nữ mang thai mà còn là người mang thai hộ, người mẹ nhờ mang thai hộ, người nhận nuôi con nuôi và Chồng/cha của lao động nữ mang thai. Theo quy định hiện nay thì đối tượng được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây (gồm 06 nhóm đối tượng chính):
1. Lao động nữ mang thai;
2. Lao động nữ sinh con;
3. Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ;
4. Người lao động nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi;
5. Lao động nữ đặt vòng tránh thai, người lao động thực hiện biẹn pháp triệt sản;
6. Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội có vợ sinh con
Bạn có thể tham khảo quy định chi tiết về điều kiện hưởng thai sản tại điều 31, Luật bảo hiểm xã hội năm 2014.
Lưu ý:
Không phải cứ đóng, tham gia bảo hiểm xã hội là đương nhiên được hưởng chế độ thai sản mà người lao động phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
+ Người lao động nữ sinh con, Lao động nữ mang thai hộ, người mẹ mang thai hộ, người lao động nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận con nuôi (Khoản 2, điều 31, Luật bảo hiểm xã hội năm 2014).
+ Đối với trường hợp lao động nữ sinh con đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con (Khoản 3, điều 31, Luật bảo hiểm xã hội năm 2014).
+ Người lao động khi đáp ứng đủ hai điều kiện trên mà chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận nuôi con dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản (căn cứ theo điều 34, 36, 38 và khoản 1 điều 39 của luật bảo hiểm xã hội năm 2014)
Khái niệm về thời gian đóng bảo hiểm xã hội 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được xác định cụ thể như sau:
1. Trường hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi trước ngày 15 của tháng, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi không tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi (căn cứ điểm a, điều 9 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH);
2. Trường hợp sinh con hoặc nhận con nuôi từ ngày 15 trở đi của tháng và tháng đó có đóng bảo hiểm xã hội, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tính vào thời gian 12 tháng trước sinh con hoặc nhận con nuôi con nuôi. Trường hợp tháng đó không đóng bảo hiểm xã hội thì thời gian sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi không tính vào thời gian 12 tháng trước sinh (căn cứ điểm b, điều 9 thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH)
Ví dụ thứ nhất: Chị A sinh con ngày 18/01/2017 và tháng 01/2017 có đóng bảo hiểm xã hội, thời gian 12 tháng trước khi sinh con được tính từ tháng 02/2016 đến tháng 01/2017, nếu trong thời gian này chị A đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên hoặc từ đủ 3 tháng trở lên trong trường hợp khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì chị A được hưởng chế độ thai sản theo quy định.
Ví dụ thứ hai: Tháng 8/2017, chị B chấm dứt hợp đồng lao động và sinh con ngày 14/12/2017, thời gian 12 tháng trước khi sinh con được tính từ tháng 12/2016 đến tháng 11/2017, nếu trong thời gian này chị B đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên hoặc từ đủ 3 tháng trở lên trong trường hợp khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì chị B được hưởng chế độ thai sản theo quy định.
Xem thêm nội dung tư vấn chuyên sâu: Lao động nữ nghỉ việc trước khi sinh con hưởng chế độ thai sản như thế nào?
Điều kiện hưởng trợ cấp một lần khi sinh con được quy định cụ thể (tại khoản 2 điều 9 thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH) như sau:
+ Đối với trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội thì cha phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con;
+ Đối với người chồng của người mẹ nhờ mang thai hộ thì phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng tính đến thời điểm nhận con.
XIN LƯU Ý: Trong thời gian đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con mà lao động nữ phải nghỉ việc để khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu, phá thai bệnh lý, thực hiện các biện pháp tránh thai thì được hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các điều 32 về thời gian hưởng chế độ khi khám thai, điều 33 về thời gian hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý và điều 37 về thời gian hưởng chế độ khi thực hiện các biện pháp tránh thai của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014.

3. Thủ tục và hồ sơ đăng ký hưởng bảo hiểm thai sản

Theo quy định tại điều 101của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 thì hồ sơ hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ sinh con bao gồm:
– Bản sao giấy khai sinh hoặc bản sao giấy chứng sinh của con;

– Bản sao giấy chứng tử của con trong trường hợp con chết, bản sao giấy chứng tử của mẹ trong trường hợp sau khi sinh con mà mẹ chết;- Giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về tình trạng người mẹ sau khi sinh con mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con;- Trích sao hồ sơ bệnh án hoặc giấy ra viện của người mẹ trong trường hợp con chết sau khi sinh mà chưa được cấp giấy chứng sinh;- Giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc lao động nữ phải nghỉ việc để dưỡng thai đối với trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 31 của Luật BHXH năm 2014.Lưu ý:+ Trường hợp lao động nữ đi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý, người lao động thực hiện biện pháp tránh thai  phải có giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội đối với trường hợp điều trị ngoại trú, bản chính hoặc bản sao giấy ra viện đối với trường hợp điều trị nội trú.+ Trường hợp người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi phải có giấy chứng nhận nuôi con nuôi.+ Trường hợp lao động nam nghỉ việc khi vợ sinh con phải có bản sao giấy chứng sinh hoặc bản sao giấy khai sinh của con và giấy xác nhận của cơ sở y tế đối với trường hợp sinh con phải phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi.+  Danh sách người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản do người sử dụng lao động lập.

Theo hướng dẫn chi tiết nhất của Cơ quan bảo hiểm xã hội tại  Quyết định 636/QĐ-BHXH thì đối với lao động nữ sinh con đang đóng BHXH sinh con hoặc đối với chồng/lao động nam có vợ sinh con thì hồ sơ đăng ký hưởng chế độ bảo hiểm thai sản gồm những giấy tờ sau:
+ Giấy khai sinh hoặc trích lục khai sinh hoặc giấy chứng sinh của con trừ trường hợp con chết mà chưa được cấp giấy chứng sinh;
Lưu ý:
– Trường hợp con chết: Giấy chứng tử hoặc trích lục khai tử của con hoặc trích sao hồ sơ bệnh án hoặc giấy ra viện của người mẹ trong trường hợp con chết sau khi sinh mà chưa được cấp giấy chứng sinh;
– Trường hợp mẹ chết: Giấy chứng tử hoặc trích lục khai tử của mẹ;
– Trường hợp xin nghỉ dưỡng thai trước sinh: Giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc lao động nữ phải nghỉ việc để dưỡng thai trong trường hợp lao động nữ khi mang thai phải nghỉ việc dưỡng thai (mẫu và thẩm quyền cấp theo quy định của Bộ Y tế);
– Giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về tình trạng người mẹ sau khi sinh con mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con trong trường hợp người mẹ sau khi sinh con không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con (mẫu và thẩm quyền cấp theo quy định của Bộ Y tế).
– Hồ sơ hưởng chế độ thai sản đối với trường hợp lao động nam có vợ sinh con hoặc chồng của lao động nữ mang thai hộ cũng nộp các hồ sơ tương tự như trên.
>> Tham khảo một số biểu mẫu cơ bản cần thiết khi thực hiện thủ tục đăng ký hưởng bảo hiểm thai sản:
– Mẫu danh sách người lao động đề nghị hưởng chế độ thai sản (Mẫu C70a-HD)
– Mẫu giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội (Mẫu số C65-HD1 và Mẫu số C65-HD2)
– Mẫu đơn xin nghỉ việc hưởng chế độ thai sản

4. Trình tự và các bước giải quyết thủ tục hưởng bảo hiểm thai sản:

Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ, giấy tờ cần thiết nộp cho người sử dụng lao động:  
Trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày người lao động trở lại làm việc (có thể trở lại trước hoặc sau khi hết thời gian nghỉ thai sản) người lao động có trách nhiệm nộp đầy đủ hồ sơ cho người sử dụng lao động để tiến hành thủ tục đăng ký hưởng bảo hiểm thai sản.
Trường hợp, người lao động nghỉ việc, thôi việc trước thời điểm sinh con, nhận nuôi con nuôi thì cần nộp hồ sơ và xuất trình sổ bảo hiểm xã hội cho cơ quan BHXh nơi đăng ký hưởng chế độ thai sản. Trình tự thực hiện thủ tục hưởng bảo hiểm thai sản theo quy định.
Bước 2: Người sử dụng lao động lập và nộp hồ sơ đăng ký hưởng bảo hiểm thai sản
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ của người lao động, chủ sử dụng lao động có trách nhiệm lập hồ sơ nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội.
Bước 3: Giải quyết chế độ thai sản cho người lao động:
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ do người dử dụng lao động (thường là công ty/doanh nghiệp, cơ quan nhà nước …). Cơ quan bảo hiểm xã hội phải giải quyết chế độ và chi trả tiền cho người lao động thông qua việc chuyển khoản qua tài khoản đóng bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động.
Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ của người lao động thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi phải giải quyết hoặc chi trả trực tiếp cho người lao động.

5. Thời gian đăng ký hưởng chế độ thai sản:

Theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội hiện nay thì người lao động được hưởng những chế độ cụ thể sau:

5.1 Thời gian hưởng chế độ khám thai định kỳ:

Trong thời kỳ mang thai, lao động nữ được nghỉ việc đi khám thai 05 lần, mỗi lần 01 ngày; đối với những trường hợp ở xa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người mang thai bị các bệnh lý hoặc thai di có dị tật, không bình thường thì được nghỉ mỗi lần khám thai là 02 ngày.

5.2 Thời gian hưởng chế độ khi sảy thai, nạo hút thai, thai chết lưu, hoặc buộc phải phá thai vì các bệnh lý:

Theo quy định khi lao động nữ bị sảy thai, nạo hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai vì các bệnh lý thì người lao động nghỉ việc được hưởng chế độ thai sản theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền. Thời gian nghỉ tối đa theo quy định hiện nay được tính như sau:
– Được nghỉ 10 ngày nếu thai dưới 05 tuần tuổi;
– Được nghỉ 20 ngày nếu thai từ 05 tuần tuổi đến dưới 13 tuần tuổi;
– Được nghỉ 40 ngày nếu thai từ 13 đến dưới 25 tuần tuổi;
– Được nghỉ 50 ngày nếu thai từ 25 tuần tuổi trở lên.

5.3 Thời gian nghỉ hưởng chế độ khi sinh con:

Lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.
Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng.
Pháp luật bảo hiểm xã hội cũng quy định cụ thể về những trường hợp ngoại lệ (đặc biệt), cụ thể:
– Trong thời gian lao động nữ nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước khi sinh mà thai chết lưu, nếu lao động nữ đủ điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 31 của Luật bảo hiểm xã hội thì ngoài chế độ thai sản đối với thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước khi sinh, lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ quy định tại Điều 33 của Luật bảo hiểm xã hội tính từ thời điểm thai chết lưu.
Ví dụ 15: Chị C liên tục tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được 3 năm, mang thai đến tháng thứ 8 thì nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước khi sinh, một tháng sau khi nghỉ việc thì thai bị chết lưu. Như vậy, chị C ngoài việc được hưởng chế độ thai sản cho đến khi thai chết lưu, còn được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền nhưng tối đa không quá 50 ngày tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.
– Trường hợp lao động nữ nghỉ hưởng chế độ thai sản trước khi sinh, sau khi sinh con mà con bị chết, nếu lao động nữ đủ điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 31 của Luật bảo hiểm xã hội thì ngoài chế độ thai sản đối với thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản trước khi sinh, lao động nữ được hưởng chế độ quy định tại khoản 3 Điều 34 của Luật bảo hiểm xã hội.

5.4 Thời gian nghỉ áp dụng với chồng/Lao động nam đóng bảo hiểm khi vợ sinh con:

Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như sau:
+ Được nghỉ 05 ngày làm việc;
+ Được nghỉ 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi;
+ Trường hợp vợ sinh đôi thì được nghỉ 10 ngày làm việc, từ sinh ba trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 03 ngày làm việc;
+ Trường hợp vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc.
Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản này được tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con.
Lưu ý:
– Trường hợp sau khi sinh con, nếu con dưới 02 tháng tuổi bị chết thì mẹ được nghỉ việc 04 tháng tính từ ngày sinh con; nếu con từ 02 tháng tuổi trở lên bị chết thì mẹ được nghỉ việc 02 tháng tính từ ngày con chết, nhưng thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản không vượt quá thời gian quy định tại khoản 1 Điều này; thời gian này không tính vào thời gian nghỉ việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động.
– Trường hợp chỉ có mẹ tham gia bảo hiểm xã hội hoặc cả cha và mẹ đều tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của người mẹ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp mẹ tham gia bảo hiểm xã hội nhưng không đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 31 của Luật này mà chết thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.
– Trường hợp cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng tham gia bảo hiểm xã hội mà không nghỉ việc theo quy định tại khoản 4 Điều này thì ngoài tiền lương còn được hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của mẹ theo quy định tại khoản 1 Điều này.
– Trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con hoặc gặp rủi ro sau khi sinh mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con theo xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.

5.5 Thời gian nhận chế độ thai sản khi nhận nuôi con nuôi:

Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được nghỉ hưởng chế độ thai sản cho đến khi con nuôi đủ 06 tháng tuổi. Trường hợp cả cha và mẹ đều tham gia bảo hiểm xã hội và đủ điều kiện hưởng bảo hiểm thai sản thì chỉ một trong hai người được hưởng chế độ thai sản.

5.6 Thời gian hưởng chế độ khi áp dụng các biện pháp tránh thai:

Khi thực hiện các biện pháp tránh thai (đặt vòng, triệt sản…) thì người lao động được nghỉ thai sản theo chỉ định của cơ quan khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ tối đa được quy định như sau:
– Được nghỉ 07 ngày làm việc đối với phụ nữ đặt vòng tránh thai;
– Được nghỉ 15 ngày đối với người lao động thực hiện các biện pháp triệt sản;

5.7 Trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận con nuôi:

Lao động nữ sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi, thì được nhận trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 tháng lương cơ sở tại tháng lao động nữ sinh con hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi.
Trong trường hợp sinh con, chỉ có người chồng/cha tham gia bảo hiểm xã hội thì người chồng/cha được nhận trợ cấp một lần bằng 02 tháng lương cơ sở cho mỗi con tại thời điểm vợ sinh con hoặc nhận con nuôi.
Tiền lương cơ sở được áp dụng như sau:
+ Từ ngày 01/07/2017 mức lương cơ sở là: 1.300.000 đ/tháng (Một triệu ba trăm ngàn đồng chẵn);
+ Từ ngày 01/07/2017 mức lương cơ sở là: 1.390.000 đ/tháng (Một triệu ba trăm chín mươi ngàn đồng chẵn);
Notes: Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được hiểu là tính theo ngày làm việc không bao gồm các ngày nghỉ, ngày lễ, ngày tết theo quy định.

6. Mức hưởng chế độ thai sản

7. Chế độ nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau sinh:

Điều 12. Mức hưởng chế độ thai sản
1. Mức hưởng chế độ thai sản được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Luật bảo hiểm xã hội và được hướng dẫn cụ thể như sau:
a) Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội làm cơ sở tính hưởng chế độ thai sản là mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề gần nhất trước khi nghỉ việc. Nếu thời gian đóng bảo hiểm xã hội không liên tục thì được cộng dồn.
Trường hợp lao động nữ đi làm cho đến thời điểm sinh con mà tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi thì mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng trước khi nghỉ việc, bao gồm cả tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.
Ví dụ 16: Chị C sinh con vào ngày 16/3/2016, có quá trình đóng bảo hiểm xã hội như sau:
– Từ tháng 10/2015 đến tháng 01/2016 (4 tháng) đóng bảo hiểm xã hội với mức lương 5.000.000 đồng/tháng;
– Từ tháng 02/2016 đến tháng 3/2016 (2 tháng) đóng bảo hiểm xã hội với mức lương 6.500.000 đồng/tháng.
Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc của chị C được tính như sau:

 

Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc
=
(5.000.000 x 4) + (6.500.000 x 2)
6
 
=
5.500.000 (đồng/tháng)

 

Như vậy, mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc để làm cơ sở tính hưởng chế độ thai sản của chị C là 5.500.000 đồng/tháng.
Ví dụ 17: Chị D sinh con ngày 13/5/2017 (thuộc trường hợp khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền), có quá trình đóng bảo hiểm xã hội như sau:
– Từ tháng 5/2014 đến tháng 4/2016 (24 tháng) đóng bảo hiểm xã hội với mức lương 8.500.000 đồng/tháng;
– Từ tháng 5/2016 đến tháng 8/2016 (4 tháng) đóng bảo hiểm xã hội với mức lương 7.000.000 đồng/tháng;
– Từ tháng 9/2016 đến tháng 4/2017 (8 tháng), nghỉ dưỡng thai, không đóng bảo hiểm xã hội.
Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc của chị D được tính như sau:

 

Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc
=
(7.000.000 x 4) + (8.500.000 x 2)
6
 
=
7.500.000 (đồng/tháng)
Như vậy, mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc để làm cơ sở tính hưởng chế độ thai sản của chị D là 7.500.000 đồng/tháng.
b) Đối với trường hợp người lao động hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Điều 32, Điều 33, các khoản 2, 4, 5 và 6 Điều 34, Điều 37 của Luật bảo hiểm xã hội ngay trong tháng đầu thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội thì mức hưởng chế độ thai sản được tính trên tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của chính tháng đó.
2. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội quy định tại khoản 2 Điều 39 của Luật bảo hiểm xã hội được hướng dẫn như sau:
a) Trường hợp hợp đồng lao động hết thời hạn trong thời gian người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản thì thời gian hưởng chế độ thai sản từ khi nghỉ việc đến khi hợp đồng lao động hết thời hạn được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội, thời gian hưởng chế độ thai sản sau khi hợp đồng lao động hết thời hạn không được tính là thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.
b) Thời gian hưởng chế độ thai sản của người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi quy định tại khoản 4 Điều 31 của Luật bảo hiểm xã hội không được tính là thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.
c) Trường hợp lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con theo quy định thì thời gian hưởng chế độ thai sản từ khi nghỉ việc đến khi đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội, kể từ thời điểm đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con thì lao động nữ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi hết thời hạn quy định tại khoản 1 hoặc khoản 3 Điều 34 của Luật bảo hiểm xã hội nhưng người lao động và người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
d) Trường hợp người cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng, người mẹ nhờ mang thai hộ, người cha nhờ mang thai hộ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng hưởng chế độ thai sản mà không nghỉ việc thì người lao động và người sử dụng lao động vẫn phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
3. Mức hưởng chế độ thai sản của người lao động không được điều chỉnh khi Chính phủ điều chỉnh tăng mức lương cơ sở, mức lương tối thiểu vùng.
4. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội quy định tại khoản 2 Điều này, được ghi theo mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản. Trường hợp trong thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản người lao động được nâng lương thì được ghi theo mức tiền lương mới của người lao động từ thời điểm được nâng lương.
Người lao động đang làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên nghỉ việc hưởng chế độ thai sản thì thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên.
Điều 13. Dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản
1. Lao động nữ, lao động nữ mang thai hộ được nghỉ việc hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe theo quy định tại Điều 41 của Luật bảo hiểm xã hội và điểm c khoản 3 Điều 3 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP.
2. Lao động nữ đủ điều kiện nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe trong năm nào thì thời gian nghỉ việc hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe được tính cho năm đó.
Ví dụ 18: Chị Th đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, ngày 15/12/2016 trở lại làm việc sau thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con, đến ngày 10/01/2017 do sức khỏe chưa phục hồi nên chị Th được cơ quan giải quyết nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe 05 ngày.
Trường hợp chị Th được nghỉ việc hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe 05 ngày và thời gian nghỉ này được tính cho năm 2016.

Vì vậy nếu bạn thuộc trường hợp khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con. Nếu không thuộc trường hợp đó thì bạn phải đáp ứng điều kiện như trên là phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.

Ly hôn khi vợ mới mang thai được 03 tháng?

Xin chào luật sư, em muốn hỏi: Hai vợ chồng em kết hôn được 07 năm rồi. Chúng em đã có được một cháu 05 tuổi và vợ em thì đang mang thai cháu thứ hai mới được 03 tháng. Nhưng do đời sống vợ chồng không được hòa hợp nên em muốn ly hôn. Em biết thời gian này không thể đơn phương ly hôn nếu không có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.
Nhưng nếu cả hai cùng đồng ý thì em có thể giành được quyền nuôi đứa con 05 tuổi không? Cô ấy thì ở nhà không đi làm và cô ấy có khoản thu cho thuê nhà hàng tháng là 3 triệu đồng, trình độ học vấn là 9/12. Còn em thì đi làm thu nhập hàng tháng với mức lương 7 triệu đồng/tháng, trình độ học vấn là 12/12. Em thì muốn ly hôn, nhưng em sợ em muốn quyền được nuôi con 05 tuổi cô ấy không đồng ý. Nên em muốn hỏi hoàn cảnh em như vậy thì Tòa án sẽ giải quyết như thế nào? Mong sớm nhận được câu trả lời của luật sư. Em xin cảm ơn.
 
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Văn Phòng Luật Sư Hoàng Hưng. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

2. Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau:

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Theo đó, bạn hoặc vợ bạn hoặc cả hai vợ chồng bạn đều có thể yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề ly hôn cho vợ chồng bạn. Thậm chí, cha, mẹ hoặc người thân thích khác của vợ chồng bạn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề ly hôn của hai vợ chồng bạn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ. Tuy nhiên, trường hợp này của bạn thì vợ bạn mới mang thai được 03 tháng, chính vì vậy, bạn không được phép ly hôn đơn phương khi vợ bạn đang mang thai, vì ở thời điểm này vợ bạn cần có người để chăm sóc, quan tâm để đảm bảo quyền lợi chính đáng và hợp pháp nhất cho vợ bạn cũng như con bạn. Nếu bạn muốn ly hôn thì bạn cần phải có sự đồng ý của vợ bạn hoặc ít nhất bạn phải đợi vợ bạn sinh con xong và con bạn đã đủ 12 tháng tuổi, khi đó, bạn mới có thể nộp đơn ly hôn đơn phương.
Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:

“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Như vậy, con của bạn bây giờ đã được 05 tuổi, nằm trong độ tuổi từ đủ 36 tháng tuổi đến dưới 07 tuổi thì giữa bạn và vợ bạn có quyền ngang nhau trong việc giành quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn. Lúc này, nếu bạn muốn giành được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn thì bạn cần thỏa thuận với vợ bạn và vợ bạn đồng ý chấp nhận giao con cho bạn nuôi dưỡng. Hoặc, kể cả trong trường hợp vợ bạn không đồng ý giao con cho bạn nuôi dưỡng thì bạn cần chứng minh được bạn có thu nhập ổn định với mức lương 07 triệu đồng/tháng cao hơn nhiều so với vợ bạn (03 triệu đồng/tháng thông qua việc cho thuê nhà). Bên cạnh đó, bạn cần chứng minh bạn có nhiều thời gian để chăm sóc con, có điều kiện tài chính thông qua những tài sản khác như đất đai, nhà cửa, ô tô, xe máy, sổ tiết kiệm,… gia đình bên nội cũng có đủ điều kiện để chăm sóc con bạn trong thời gian bạn đi làm việc, còn vợ bạn không đáp ứng được những điều kiện trên như bạn. Khi đó, Tòa án sẽ căn cứ vào những bằng chứng bạn nêu ra thì Tòa án sẽ xem xét bạn hoặc vợ bạn đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp nhất, tốt nhất cho con thì Tòa án sẽ giao con cho người đó trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc sau khi ly hôn.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua page Văn Phòng Luật Sư Hoàng Hưng để được giải đáp.
Trân trọng./.

Giải pháp tăng cường trách nhiệm, tính chủ động của Kiểm sát viên trong giải quyết án hình sự

Muốn bảo vệ tốt quan điểm truy tố của Viện kiểm sát, chúng ta phải có được một kết quả điều tra tốt, phải có được một hồ sơ điều tra hoàn thiện, không có vi phạm và phải rõ ràng về chứng cứ, để từ đó, trên cơ sở nắm chắc các quy định của pháp luật, Kiểm sát viên có đủ tự tin tranh luận với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa, bảo vệ thành công các quan điểm đúng đắn của Viện kiểm sát.
 

Qua công tác thụ lý, giải quyết các vụ án hình sự theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, hàng năm, Vụ thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát xét xử hình sự (KSXXHS) Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao (Vụ 7) đã ban hành nhiều thông báo rút kinh nghiệm về công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hình sự để Viện kiểm sát địa phương, Viện kiểm sát cấp cao cùng nghiên cứu, tham khảo.

 

1. Những hạn chế, thiếu sót

Một là, trong một số trường hợp, Kiểm sát viên chưa phát hiện các vi phạm, thiếu sót trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử để yêu cầu sửa chữa kịp thời
Chẳng hạn vụ án Hoàng Văn Ban, về tội “giết người” và “cố ý làm hư hỏng tài sản” ở Bình Phước.
Quá trình giải quyết vụ án có một số vi phạm, việc điều tra, truy tố, xét xử chưa đầy đủ, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Kiểm sát viên đã không phát hiện được các vi phạm thiếu sót nêu trên để có biện pháp xử lý sớm từ giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và phúc thẩm. Qua công tác thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, Chánh án Tòa án nhân dân (TAND) tối cao đã kháng nghị bản án phúc thẩm của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh (nay là TAND cấp cao) và Hội đồng Thẩm phán đã quyết định hủy các bản án phúc thẩm và sơ thẩm để điều tra lại. Ngày 28/11/2016, Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự (Vụ 7) Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông báo rút kinh nghiệm về việc giải quyết vụ án trên.
Hai là, Kiểm sát viên đưa ra các quan điểm xử lý chưa phù hợp với quy định của pháp luật: Ví dụ, vụ Phan Văn Trường và đồng phạm về tội “giết người” ở Quảng Trị. Trong vụ án này, Viện kiểm sát có thiếu sót khi truy tố các bị cáo không áp dụng tình tiết tăng nặng “có tính chất côn đồ” và chưa xem xét, làm rõ vai trò đồng phạm. Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên có quan điểm chưa phù hợp khi cho rằng cấp sơ thẩm đã xét xử đúng với hành vi nguy hiểm của các bị cáo và không đề nghị xem xét trách nhiệm hình sự của bốn đối tượng nêu trên.
Nguyên nhân những thiếu sót, hạn chế của Kiểm sát viên qua các vụ án đã được thông báo rút kinh nghiệm nêu trên, có thể nhận thấy một số Kiểm sát viên chưa thực hiện đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình, còn thụ động trong công tác THQCT và kiểm sát việc giải quyết vụ án hình sự, nên đã để xảy ra các vi phạm, thiếu sót trong công tác điều tra, xét xử vụ án. Một số chưa nhận thức đúng các quy định của pháp luật nên đề xuất quan điểm xử lý không phù hợp.
Vì vậy, cần phải tăng cường các biện pháp nâng cao vai trò, trách nhiệm, tính chủ động của Kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết các vụ án hình sự, bao gồm cả kiểm sát điều tra, truy tố và kiểm sát xét xử.

2. Một số biện pháp tăng cường trách nhiệm, tính chủ động của Kiểm sát viên trong giải quyết án hình sự

Thứ nhất, về mặt nhận thức, cần xác định rõ, muốn thực hiện tốt công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự thì vấn đề có tính chất quyết định là phải thực hiện tốt công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và truy tố đối với các bị can.
Quan điểm chủ đạo của Đảng coi Tòa án là trung tâm và việc xét xử là trọng tâm của cải cách tư pháp (Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020). Qua xét xử, Tòa án sẽ trực tiếp đưa ra phán quyết cuối cùng về vụ án, quyết định sinh mệnh pháp lý của các đối tượng tội phạm, vì vậy, nó rất hệ trọng. Tuy nhiên, điều tra và truy tố là cơ sở cho việc xét xử, có điều tra, truy tố đúng đắn thì mới đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, tính chất, mức độ nghiêm trọng nhất của các vi phạm phần lớn lại nằm trong giai đoạn điều tra, như các ví dụ nêu trên đã thể hiện. Cho nên ngay trong giai đoạn điều tra, Kiểm sát viên phải thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm, tính chủ động của mình khi việc thực hiện các nhiệm vụ cụ thể trong chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, phải đảm bảo công tố thực sự gắn với điều tra, đúng như yêu cầu của Đảng (Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI).
Thứ hai, Kiểm sát viên cần chủ động trao đổi với Điều tra viên việc phòng ngừa các vi phạm xảy ra hơn là để nó xảy ra, thậm chí gây hậu quả trên thực tế rồi mới phát hiện được và phải khắc phục, sửa chữa.
Để phòng ngừa được các vi phạm xảy ra thì yêu cầu việc điều tra phải tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật, phải chấp hành nghiêm ngặt các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và luật hình sự trong từng thao tác nghiệp vụ cụ thể. Trường hợp chưa phòng ngừa được vi phạm, Kiểm sát viên cần chủ động xem xét, phát hiện kịp thời các vi phạm, thiếu sót trong việc điều tra ngay sau khi nó xảy ra thì việc khắc phục, sửa chữa các vi phạm này sẽ đơn giản hơn rất nhiều, nếu như để đến khi vụ án đã kết thúc điều tra, chuyển đến Viện kiểm sát, hơn nữa đã qua xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và thậm chí để đến cấp giám đốc thẩm mới phát hiện được thì việc khắc phục, sửa chữa sẽ khó khăn gấp bội phần, thậm chí có trường hợp không thể khắc phục được.
Thứ ba, trong giai đoạn xét xử, Kiểm sát viên phải thực sự nghiêm túc kiểm tra lại toàn bộ việc điều tra, truy tố vụ án. Trong cơ chế thông khâu, việc kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử vụ án do cùng một Kiểm sát viên thực hiện. Điều này rất thuận lợi cho Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án tại phiên tòa vì đã nắm chắc vụ án từ giai đoạn điều tra. Tuy nhiên, Kiểm sát viên cần hết sức tránh tâm lý chủ quan, xuôi chiều với kết quả điều tra, dẫn đến việc không phát hiện được những vi phạm, thiếu sót trong công tác điều tra và truy tố vụ án.
Khi vụ án còn những vi phạm, thiếu sót nhưng đã được truy tố chuyển hồ sơ cho Tòa án thì hoặc Tòa án sẽ trả lại Viện kiểm sát để điều tra bổ sung hay điều tra lại, do Tòa án hay người tham gia tố tụng phát hiện được vi phạm hoặc Tòa án sẽ đưa ra một phán quyết sai trái nếu như không phát hiện được các vi phạm đó. Cho đến cấp phúc thẩm, nếu Kiểm sát viên, Tòa án, người tham gia tố tụng cũng không phát hiện được các vi phạm thì lại tiếp tục có một bản án phúc thẩm sai trái.
Vì vậy, Kiểm sát viên khi làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án phải chủ động và thận trọng rà soát, kiểm tra lại để phát hiện các vi phạm, thiếu sót trong quá trình điều tra, truy tố và có biện pháp xử lý phù hợp. Trường hợp có vi phạm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến tính khách quan, đúng đắn trong việc giải quyết vụ án thì chủ động đề xuất với Lãnh đạo Viện, yêu cầu Tòa án trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc điều tra lại, khắc phục, sửa chữa vi phạm đó, như hai vụ án nêu trên.
Kết quả điều tra, truy tố vụ án cũng chính là sản phẩm của Kiểm sát viên trong công tác kiểm sát điều tra, nếu Kiểm sát viên bảo thủ theo ý chủ quan của mình từ trước thì rất dễ để lại những sai lầm đáng tiếc, cho nên Kiểm sát viên cần thật sự cầu thị và nhạy cảm, đứng ở các góc nhìn khác nhau mà xem xét thì mới phát hiện được các vi phạm, thiếu sót trong việc điều tra, truy tố vụ án để sửa chữa.
Thứ tư, Kiểm sát viên hết sức tránh việc đưa ra các quan điểm xử lý sai lầm, không có căn cứ hoặc trái với quy định của pháp luật. Đây là vấn đề tối kỵ, vì Kiểm sát viên là người đại diện cho Viện kiểm sát có chức năng THQCT, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra, xét xử vụ án, là người giám sát, yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện đúng theo quy định của pháp luật mà lại đưa ra các quan điểm sai trái thì sẽ rất ảnh hưởng đến uy tín, khó giành được sự tôn trọng thực sự của các cơ quan tiến hành tố tụng và công luận nói chung. Trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng cũng đơn giản đi theo các quan điểm sai trái của Viện kiểm sát thì việc giải quyết vụ án càng sai lầm nguy hại.
Muốn đưa ra các quan điểm đúng đắn, hợp tình, hợp lý thì Viện kiểm sát phải cùng với Cơ quan điều tra thực hiện đúng quy định của pháp luật để điều tra đầy đủ, khách quan, toàn diện đối với vụ án, hồ sơ vụ án phải đủ độ tin cậy để xem xét tại phiên tòa. Quá trình điều tra có nhiều vi phạm, thiếu sót, chứng cứ không đầy đủ, mâu thuẫn, không đảm bảo tính xác thực thì không thể có được những quan điểm chính xác và toàn diện về vụ án. Mặt khác, Kiểm sát viên phải thực sự chịu khó, kiên trì nghiên cứu, cập nhật để nắm chắc các kiến thức pháp luật, phải nhận thức đúng đắn về các quy định của pháp luật để áp dụng sao cho đúng nguyên tắc, song có sự linh hoạt cần thiết, tránh máy móc cứng nhắc.
Thứ năm, cần xác định và thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quan trọng trong công tác THQCT, kiểm sát xét xử tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm là bảo vệ cáo trạng, bảo vệ quan điểm truy tố của Viện kiểm sát.
Trong nhiều năm qua, mặc dù về cơ bản chúng ta vẫn thực hiện mô hình tố tụng thẩm vấn, song các yếu tố tranh tụng đã và sẽ được áp dụng nhiều hơn, nhất là trong việc xét xử vụ án tại phiên tòa, quy mô, tính chất, mức độ tranh tụng sẽ ngày càng mở rộng và phức tạp hơn nhiều. Điều đó đòi hỏi bản lĩnh, kỹ năng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa phải được nâng cao hơn bao giờ hết.
Mặc dù tranh tụng sẽ phức tạp hơn, song nhiệm vụ bảo vệ cáo trạng thì vẫn vậy, Kiểm sát viên không vì thế mà dễ dàng từ bỏ mục tiêu bảo vệ quan điểm truy tố của Viện kiểm sát.
Muốn bảo vệ tốt quan điểm truy tố của Viện kiểm sát, chúng ta phải có được một kết quả điều tra tốt, phải có được một hồ sơ điều tra hoàn thiện, không có vi phạm và phải rõ ràng về chứng cứ, để từ đó, trên cơ sở nắm chắc các quy định của pháp luật, Kiểm sát viên có đủ tự tin tranh luận với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa, bảo vệ thành công các quan điểm đúng đắn của Viện kiểm sát.
(Trích bài viết: “Nâng cao vai trò, trách nhiệm, tính chủ động của Kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án hình sự” của Thạc sĩ Phạm Văn An, Phó Vụ trưởng Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự (Vụ 7), Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Tạp chí Kiểm sátS số 15/2017).

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)

Án lệ – Một số vấn đề về giải thích pháp luật ở Việt Nam

Trên thực tế, vì các nhà làm luật không thể dự liệu hết được mọi trường hợp có thể xảy ra theo thời gian, nhất là trong tương lai, vì vậy, có những quy định nhà làm luật quy định có tính chất chung chung, nhiều nghĩa, bên cạnh đó, nhu cầu giải thích pháp luật là rất lớn. Án lệ là một công cụ hữu hiệu trong việc giải thích pháp luật trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng.

1. Các cơ quan có quyền giải thích pháp luật

Trong hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đặc biệt trong Nhà nước pháp quyền thì pháp luật luôn có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng. Giải thích pháp luật với nhiệm vụ làm sáng tỏ hơn các quy phạm pháp luật, có vai trò quan trọng.
Tuy nhiên, cho đến nay, khái niệm về giải thích pháp luật vẫn chưa có sự thống nhất. Một số khái niệm nhấn mạnh tính mục đích của giải thích pháp luật, đó là “đưa ra nghĩa” hoặc tìm ra “thông điệp” của một văn bản pháp luật; một số khái niệm nhấn mạnh việc tìm nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật, nghĩa đó phải đảm bảo ý định của tác giả văn bản; hay giải thích pháp luật chính là việc tìm ra ý định của nhà lập pháp; có khái niệm tập trung xác định các trường hợp và phạm vi của giải thích pháp luật hoặc đưa ra cách hiểu về giải thích pháp luật với một yêu cầu lớn, nhưng trừu tượng, rất khó xác định, đó là nhằm đạt đến “sự hợp lý” của pháp luật.
Thuật ngữ “giải thích pháp luật” ở Việt Nam lần đầu tiên được đề cập trong Hiến pháp 1959, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một quy định pháp lý nào diễn giải, hoặc đưa ra khái niệm về giải thích pháp luật.
Hiến pháp 2013 quy định việc “giải thích pháp luật” tại khoản 2, Điều 74 về cơ quan có thẩm quyền giải thích pháp luật chỉ có Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH), hình thức sản phẩm giải thích là Nghị quyết. UBTVQH chỉ giải thích về Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, Điều ước quốc tế. Đây là mô hình được xây dựng cho chủ thể giải thích pháp luật thuộc hệ thống cơ quan lập pháp. Với mô hình này, UBTVQH giải thích pháp luật trong khuôn khổ lập pháp nên khó thực hiện được thường xuyên và không đáp ứng được kịp thời nhu cầu của giải thích pháp luật.
Tuy nhiên, bằng thực tế hoạt động của mình, các cơ quan pháp luật nhà nước Việt Nam đều tham gia quá trình vào việc giải thích pháp luật, ví dụ như hoạt động ban hành các Nghị định quy định chi tiết các quy định của Luật của Chính phủ, trong đó có thể đưa ra các định nghĩa về một số thuật ngữ mà Luật chưa giải thích chi tiết.
Tương tự, theo quy định của pháp luật Việt Nam, Tòa án không có thẩm quyền giải thích pháp luật. Tuy nhiên, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 62/2014/QH13 ngày 24/11/2014 đã ngầm trao cho Tòa án quyền giải thích pháp luật thông qua quy định “(Tòa án nhân dân tối cao) tổng kết thực tiễn xét xử của các tòa án, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử” và “Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ lựa chọn Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án quyết định pháp luật đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu và áp dụng trong xét xử”. Thực tế,  trong thời gian qua, Tòa án đã thực hiện việc giải thích pháp luật thông qua hoạt động diễn giải, làm rõ các quy định của pháp luật bằng các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền, thể hiện rõ nhất trong các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC và 10 án lệ được Chánh án TANDTC ban hành trong Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06/04/2016 về việc công bố án lệ của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016.

2. Giá trị pháp lý của án lệ trong hoạt động giải thích pháp luật

Trên thực tế, vì các nhà làm luật không thể dự liệu hết được mọi trường hợp có thể xảy ra theo thời gian, nhất là trong tương lai, vì vậy, có những quy định nhà làm luật quy định có tính chất chung chung, nhiều nghĩa, bên cạnh đó, nhu cầu giải thích pháp luật là rất lớn. Án lệ là một công cụ hữu hiệu trong việc giải thích pháp luật trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng.
Theo Từ điển Black’s Law thì, án lệ (precedent) có hai nghĩa:
“Một là sự làm luật bởi toà án trong việc nhận thức và áp dụng những quy định mới trong khi thi hành công lý. Hai là một vụ việc đã được quyết định mà cung cấp cơ sở để quyết định cho những vụ việc sau liên quan đến các sự kiện hoặc vấn đề tương tự.
Trong pháp luật, án lệ là một vụ việc đã được xét xử hoặc quyết định của toà án được xem như sự cung cấp quy định hoặc quyền lực cho quyết định của một vụ việc giống hoặc tương tự xảy ra về sau, hoặc cho một vấn đề tương tự của pháp luật, hoặc khi nếu các sự kiện là khác nhau thì nguyên tắc chi phối vụ việc đầu tiên có thể áp dụng được cho các sự kiện khác nhau chút ít. 
Một án lệ là một quyết định của toà án chứa đựng trong nó một nguyên tắc. Nguyên lý cơ bản giống như mẫu mà phần có căn cứ đích xác của nó thường được gọi là nguyên tắc pháp lý cho một phán quyết trong một trường hợp cụ thể. Một quyết định cụ thể là bắt buộc đối với các bên, nhưng nó là bản tóm tắt của nguyên tắc pháp lý cho một phán quyết trong một trường hợp cụ thể mà chỉ có nó có hiệu lực pháp luật. 
Cũng có thể nói một cách khái quát là, một vụ việc trở thành án lệ vì quy định chung như vậy là cần thiết đối với quyết định thực tế có thể được đưa ra là sự biến dạng trong những trường hợp phụ.
Thường cũng có thể chấp nhận, tôn trọng một án lệ không phải bởi nó bao quát một logic ổn định mà bởi từ các phần của nó có thể nảy sinh ra ý tưởng về mẫu mới của quyết định”.[i]
Tương tự, pháp luật Việt Nam cũng quy định án lệ phải đáp ứng được các tiêu chí sau đây:
1. Chứa đựng lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể;
Có tính chuẩn mực;
Có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý như nhau thì phải được giải quyết như nhau.[ii]
Qua đó ta thấy giá trị giải thích pháp luật của án lệ là án lệ đã đề cập đến các vụ việc đã xảy ra trong thực tế, chứ không phải là những giả thuyết có tính lý luận về những tình huống có thể xảy ra trong tương lai, nên đã góp phần giải thích, bổ sung những thiếu sót, những lỗ hổng của pháp luật thành văn và khắc phục tình trạng thiếu pháp luật, tạo điều kiện cho việc áp dụng pháp luật dễ dàng, thuận lợi và thống nhất.
Thông thường, án lệ sẽ có ba loại: Án lệ bắt buộc, Án lệ để giải thích và Án lệ gốc. Từ điển Black’s Law định nghĩa:
“Án lệ bắt buộc là án lệ mà toà án bắt buộc phải tuân theo, ví dụ, toà án cấp thấp hơn bị giới hạn bởi một cách áp dụng của một toà án cấp cao hơn trong một vụ xét xử tương tự.
Án lệ để giải thích là án lệ chỉ có thể được áp dụng cho một quy định pháp luật hiện đã có rồi.
Án lệ gốc là án lệ tạo ra và áp dụng một quy định mới của pháp luật. Án lệ có sức thuyết phục là một án lệ mà toà án có thể hoặc là tuân theo hoặc là từ chối, nhưng điều khoản của nó phải được tôn trọng và cân nhắc cẩn thận”.
Do đó, mức độ linh động trong việc áp dụng án lệ là khác nhau, việc này khiến cho pháp luật được giải thích một cách linh hoạt, không bị cứng nhắc.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

3.1. Mở rộng chủ thể có thẩm quyền giải thích pháp luật

Như đề cập ở trên, hiện nay, cơ quan có thẩm quyền giải thích pháp luật chỉ có UBTVQH, đây là quy định có tính bất cập và tính vận dụng trên thực tế ít hiệu quả.
Quyền giải thích pháp luật được trao cho Tòa án là xu thế phát triển của hệ thống pháp luật trên thế giới hiện nay. Khi án lệ ở Việt Nam đã được công bố, thì đã đến lúc Việt Nam cần có quy phạm chính thức để ghi nhận quyền giải thích pháp luật của Tòa án, nhằm nâng cao tính hiệu quả và tính pháp lý trong hoạt động giải thích pháp luật.
Để phù hợp với thực tiễn và tạo tính thống nhất trong hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam, Hiến pháp Việt Nam cần bổ sung, mở rộng các chủ thể có thẩm quyền “giải thích pháp luật”, trong đó có Tòa án với sản phẩm là án lệ.

3.2. Cấu trúc bản án mới cho tất cả các Thẩm phán

Án lệ được lựa chọn phải đáp ứng được tiêu chí “Chứa đựng lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể…”.
Cần  làm  rõ   thế  nào  là  án  lệ  “chứa đựng lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau” bởi trong một bản án của Tòa án có rất nhiều lập luận. Để giải quyết vấn đề này, các cơ quan nhà nước cần cân nhắc một cấu trúc bản án mới cho tất cả các Thẩm phán. Trong đó, bản án này phải chỉ ra các lập luận mà bản thân Thẩm phán thấy mình đã đưa ra phán quyết mới để làm rõ quy định của pháp luật có cách hiểu khác nhau,  hoặc chưa có quy định pháp luật. Việc làm này vừa tạo thuận lợi cho các bên liên quan (nguyên đơn, bị đơn, bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, Tòa án, Viện kiểm sát, …) nắm được nội dung phán quyết khi một bản án bị kháng cáo, kháng nghị, đồng thời giúp rút ngắn thời gian cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc hệ thống hóa các bản án để  nâng lên thành án lệ.

3.3. Cụ thể hóa thời gian báo cáo đề xuất án lệ

Thực tiễn xét xử cho thấy, khi một vấn đề pháp lý không được giải thích hoặc có thể giải thích theo nhiều cách hiểu khác nhau, thì trong một thời gian ngắn các Tòa án xét xử ở các địa phương khác nhau hoặc các cấp khác nhau đều có thể gặp phải.
Do đó, TANDTC cần quy định cụ thể thời gian hoặc thời điểm để các Chánh án TAND cấp tỉnh, Chánh án Tòa án Quân khu và tương đương, Chánh án TANDTC, Chánh án Tòa án quân sự Trung ương báo cáo với Tòa án nhân dân tối cao việc có hay không có đề xuất án lệ liên quan tới hoạt động xét xử của Tòa án các cấp do mình quản lý.

3.4. Bổ sung thêm quyền giải thích pháp luật cho các chủ thể khác

Nếu theo quy định hiện nay, thì tất cả các bản án của Tòa án các cấp đều có thể trở thành Án lệ sau khi được Chánh án TANDTC công bố là án lệ.
Theo Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP ngày 16/3/2017: Từ ngày 01/7/2017, các bản án, quyết định của Tòa án đáp ứng yêu cầu của án lệ sẽ được công bố công khai trên cổng thông tin điện tử của Tòa án. Đây là một điểm mới tiến bộ vượt bậc trong hoạt động tư pháp của Việt Nam. Tuy nhiên, điều này đặt ra một vấn đề là có nên tạo thêm một cơ chế nữa cho các chủ thể khác như các nhà nghiên cứu pháp luật, luật sư…. được quyền gửi văn bản tới Tòa án có thẩm quyền đề nghị cơ quan này xem xét để đề xuất với Tòa án nhân dân tối cao xem xét, nhằm để đưa một vụ án cụ thể trở thành thành án lệ.

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)

 


[i] Blacks Law Dictionary. Seventh Edition. Bryan A, Garner. Editor in Chief. ST. PAUL, MINN., 1999, tr. 1195.
[ii] Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28 tháng 10 năm 2015, của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ.

Một số vấn đề về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định của pháp luật hình sự

Đất nước ta đang trong thời kì xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa diễn ra mạnh mẽ, các giao dịch dân sự, kinh doanh thương mại phát sinh ngày càng phong phú và đa dạng. Nhằm làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội, góp phần bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân, từng bước loại bỏ tình trạng “hình sự hóa” các giao dịch dân sự, kinh doanh thương mại hay “dân sự hóa” các hành vi phạm tội. Vì vậy, việc nhận diện đúng quan hệ dân sự với hành vi phạm tội để từ đó áp dụng pháp luật một cách đúng đắn, khách quan, đầy đủ và chính xác là vô cùng quan trọng. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi đi sâu phân tích về các hành vi, đồng thời giúp độc giả nhận thức rõ về “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015.

1. Khái niệm 

Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định lần đầu tiên tại Điều 140 Bộ luật Hinh sự năm 1999, đây là tội được nhập từ tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân quy định tại Điều 158, Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa quy định tại Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1985, nhưng chỉ đến khi Bộ luật Hình sự năm 2015 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành thì Tội này mới được quy định khá chặt chẽ và cụ thể. Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. 
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;  đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;       e) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;  b) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Theo quy định trên thì tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi: vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó, hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có khả năng nhưng cố tình không trả; hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt: tài sản phải có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên thì mới phạm vào tội này, nếu dưới bốn triệu đồng thì phải hội đủ các điều kiện khác của điều luật như đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và điều 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ thì mới phạm vào tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

2. Các dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Thứ nhất, dấu hiệu về mặt chủ thể của tội phạm
Có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi từ 16 tuổi trở lên. Đây là một trong các điểm mới của Bộ luật hình sự 2015 so với Bộ  luật hình sự 1999, bộ luật mới đã có sự tách bạch rõ ràng hơn về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Thứ hai, dấu hiệu về mặt khách thể của tội phạm
Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng tương tự như các tội có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, đây cũng là một điểm khác với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, đặc điểm này được thể hiện trong cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ là tình tiết định khung hình phạt. Vì vậy, nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Thứ ba, dấu hiệu về mặt chủ quan của tội phạm
Cũng như đối với tội có tính chất chiếm đoạt, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng được thực hiện do cố ý. Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản. Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, ngoài mục đích chiếm đoạt, người phạm tội còn có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hoặc chấp nhận mục đích chiếm đoạt của người đồng phạm khác thì người phạm tội cũng  bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Thứ tư, dấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm
Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được cấu thành khi thuộc một trong các trường hợp sau: (i) Giá trị của tài sản chiếm đoạt của người khác từ 4.000.000 đồng trở lên; (ii) Giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội về xâm phạm sở hữu khác: tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp, tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; (iii) Tài sản bị chiếm đoạt là phương tiện kiếm sống của chính người bị hại hoặc gia đình họ.
Những hành vi khách quan cần có những điểm đáng lưu ý sau: (i) Người phạm tội có được tài sản một cách hợp pháp thông qua các hợp đồng vay, mượn thuê tài sản của người khác hoặc bằng hình thức khác. Sau khi có được tài sản người phạm tội mới dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; (ii) Nếu người phạm tội không dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn nhưng sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản thì cũng bị coi là lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

3. Những thay đổi tiến bộ về tội lạm dụng tín nhiệm tài sản trong pháp luật hình sự nước ta (cụ thể tại Bộ luật Hình sự năm 2015)

So với Điều 140 Bộ luật hình sự 1999 thì Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 đã có những thay đổi mang tính hoàn thiện hơn hành lang pháp lý đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. 
Thứ nhất, thay đổi về nội hàm của khái niệm “hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
Theo Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định 03 loại hành vi là hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đó là: Sau khi vay, mượn, thuê, tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng, chủ thể đã thực hiện một trong 03 hành vi sau:  Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đó; Bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó; Sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
Tuy nhiên, Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định thêm 01 loại hành vi là hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đó là hành vi “đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả”, đồng thời bỏ hành vi “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” ra khỏi khái niệm “hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Đây chính là một bước hoàn thiện rõ rệt của Bộ luật Hình sự năm 2015 so với Bộ luật Hình sự năm 1999.
Hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt và phải là chiếm đoạt được. Khác với hành vi chiếm đoạt ở các tội phạm khác, hành vi chiếm đoạt ở tội này là sự vi phạm nghĩa vụ trả lại tài sản bằng hành vi chiếm đoạt. Có thể hiểu: Chiếm đoạt là hành vi cố ý (trực tiếp) làm cho chủ tài sản mất hẳn khả năng thực tế thực hiện quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt đối với tài sản của mình và tạo ra cho người phạm tội khả năng thực hiện việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trái pháp luật tài sản đó.
Dựa trên cơ sở đó, xem xét đến hành vi của người nhận được tài sản thông qua các hình thức hợp đồng ngay thẳng (vay, mượn, thuê… tài sản) sau đó khi đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả. Hành vi “cố tình không trả” là hành vi vi phạm nghĩa vụ trả lại tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi này làm cho chủ tài sản mất hẳn khả năng thực hiện quyền sở hữu của mình trên thực tế và tạo cho chủ thể (vay, mượn, thuê… tài sản) khả năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó như tài sản của mình; Như vậy, hành vi đó là hành vi chiếm đoạt và mang bản chất của hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tuy vậy, hành vi này chưa được quy định là một hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm tài sản chính là một bất cập của Bộ luật Hình sự năm 1999. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã hình sự hóa hành vi nói trên, không chỉ là một bước hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, mà qua đó còn tạo cơ sở pháp lý để đấu tranh với các thực trạng đang rất “nóng bỏng” hiện nay như: “quỵt nợ”, “vỡ tín dụng”, “đòi nợ thuê”…
Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Như vậy cần lưu ý, việc chuyển giao tài sản từ người bị hại sang người phạm tội xuất phát từ một hợp đồng hợp pháp như vay, mượn, thuê tài sản.
Sau khi đã nhận được tài sản, người phạm tội mới dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đang do mình quản lý; về thủ đoạn gian dối cũng được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản như đối với thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Nếu người phạm tội không dùng thủ đoạn gian dối mà sau khi đã nhận tài sản một cách hợp pháp rồi bỏ trốn với ý thức không thanh toán, không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản ( ý thức chiếm đoạt tài sản ) thì cũng là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Khi đánh giá hành vi bỏ trốn của người phạm tội phải xem xét một cách khách quan, toàn diện, nếu người phạm tội bỏ trốn hoặc tránh mặt chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản vì nguyên nhân khác thì không coi là bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản.
Nếu người phạm tội không có hành vi gian dối, không bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản nhưng lại dùng tài sản đó (tài sản nhận từ chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản một cách hợp pháp) vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản thì cũng bị coi là lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Hiểu như thế nào là dùng tài sản vào mục đích bất hợp pháp là một vấn đề không đơn giản, nếu theo khái niệm thông thường thì “bất hợp pháp” là không đúng với pháp luật không phân biệt đó là pháp luật gì và nếu hiểu bất hợp pháp theo nghĩa rộng như vậy thì hấu hết các trường hợp mất khả năng thanh toán nợ cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đều là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Tuy nhiên, xem xét đến hành vi “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản”, ta thấy Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã không quy định hành vi này là hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là đúng đắn, bởi lẽ: Trên thực tế, những người nhận được tài sản thông qua các hình thức hợp đồng ngay thẳng (vay, mượn, thuê… tài sản) sau đó “bỏ trốn” (trốn khỏi nơi cư trú, nơi làm việc) sẽ thuộc một trong hai trường hợp:
Một là, người (vay, mượn, thuê… tài sản) vì một lý do nào đó đã không còn khả năng trả lại tài sản
Trong trường hợp lý do đó là khách quan (như: Kinh doanh thua lỗ…), hành vi “không trả lại tài sản” của người đó không có lỗi cố ý trực tiếp nên không phải là hành vi chiếm đoạt, việc người đó bỏ trốn chỉ là “bất đắc dĩ” do “vỡ nợ” chứ không phải là một thủ đoạn để chiếm đoạt tài sản. Còn trong trường hợp lý do dẫn đến việc người đó không có khả năng trả lại tài sản là do lỗi chủ quan: Người đó đã sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp (ví dụ: Đánh bạc, buôn lậu…), thì hành vi này là hành vi chiếm đoạt, vì hành vi sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp là sự định đoạt trái pháp luật của chủ thể đối với tài sản không phải của mình (người đó đương nhiên nhận thức rõ được tính trái pháp luật này và do đó, hành vi này được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp) và làm cho chủ tài sản mất hẳn tài sản; nhưng trường hợp này đã được quy định là một hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Hai là, người (vay, mượn, thuê… tài sản) có khả năng trả lại tài sản nhưng bỏ trốn cùng với số tài sản nhận được
Trường hợp này trùng với trường hợp “đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả”, chính hành vi bỏ trốn cùng số tài sản nhận được đã thể hiện thái độ “cố tình không trả” của chủ thể.
Như vậy, việc Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã hình sự hóa “hành vi khi đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả” thành một hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đồng thời phi hình sự hóa “hành vi bỏ trốn” trong tội này, là một bước tiến rõ rệt trong việc hoàn thiện các quy định của luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 còn bỏ chữ “để” trong cụm từ “dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đó” tại khoản 1 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999, thành “dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó”, đây cũng là một bước tiến của Bộ luật Hình sự năm 2015, nhằm tránh việc dấu hiệu chiếm đoạt trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bị nhầm lẫn thành “mục đích chiếm đoạt” thay vì là “hành vi chiếm đoạt được” như đúng bản chất pháp lý của tội này.
Thứ hai, thay đổi về các dấu hiệu định khung hình phạt
Điểm e khoản 2, điểm b khoản 3, điểm b khoản 4 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 sử dụng các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” làm tình tiết định khung hình phạt của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Nhưng cũng như ở các tội khác, Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định các tình tiết này làm tình tiết định khung hình phạt, đây cũng chính là một điểm mới mang tính tiến bộ của Bộ luật Hình sự năm 2015, bởi lẽ:
Một là, đây là những “hậu quả gián tiếp” do hành vi phạm tội gây ra, mà việc định tội, định hình phạt đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải căn cứ vào hậu quả trực tiếp của hành vi nguy hiểm cho xã hội, chứ không phải là hậu quả gián tiếp (hậu quả mang tính chất suy diễn và nằm ngoài khả năng dự đoán của người phạm tội).
Hai là, những “hậu quả nghiêm trọng” hay “rất nghiêm trọng”, “đặc biệt nghiêm trọng” như trên mang tính không cụ thể, nếu quy định vào trong luật như Bộ luật Hình sự năm 1999, thì sẽ dẫn đến việc phải có văn bản hướng dẫn dưới luật thì mới thi hành được luật, mà luật hình sự thì phải cụ thể và rõ ràng, dễ hiểu để mọi người đều có thể hiểu và thi hành, tránh phát sinh nhiều văn bản hướng dẫn dưới luật. Như vậy, quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 cụ thể hơn và mang tính tiên liệu thực tiễn cao hơn Bộ luật Hình sự năm 1999.
Bên cạnh đó, điểm b khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định thêm tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” làm tình tiết định khung hình phạt, quy định này là hợp lý và cần thiết để răn đe, trừng trị đối với những người mà tính “bất tín” đã trở thành bản tính.
Thứ ba, thay đổi về các mức hình phạt
Các mức hình phạt quy định tại khoản 3, 4, 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 đều theo hướng có lợi hơn cho người phạm tội so với khoản 3, 4, 5 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Khoản 3 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mức hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù, không có khoảng giao thoa với khoản 2. Còn khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định mức hình phạt từ 05 năm đến 12 năm tù, có khoảng giao thoa với khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 và nhẹ hơn khoản 3 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Khoản 4 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mức hình phạt từ 12 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân. Khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định mức hình phạt từ 12 năm đến 20 năm tù, không áp dụng tù chung thân, có lợi hơn cho người phạm tội so với khoản 4 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999, nhưng lại không có khoảng giao thoa với khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015. Việc không có khoảng giao thoa này cần phải xem xét lại, vì rõ ràng hành vi “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có giá trị 499.999.000 đồng và có thêm tình tiết tăng nặng khác” nguy hiểm hơn hành vi “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có giá trị 500.000.000 đồng và không có thêm tình tiết tăng nặng” (thậm chí là có thể có thêm 01 tình tiết giảm nhẹ), nhưng mức hình phạt cho hành vi thứ nhất không thể quá 12 năm, còn mức hình phạt cho hành vi thứ hai thì lại không thể dưới 12 năm.
Khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 về cơ bản là giống với khoản 5 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999, chỉ khác ở chỗ: Khoản 5 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt “bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm” có thể được áp dụng đồng thời với hình phạt “bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, tức là người phạm tội có thể vừa bị mất tài sản lại vừa bị “mất nghề”, nhưng theo khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, thì chỉ được áp dụng một trong hai hình phạt bổ sung này, như vậy là nhân đạo hơn với người phạm tội.
Tóm lại, có thể nói, đối với tội lạm dụng tín nhiệm tài sản, Bộ luật Hình sự năm 2015 có nhiều điểm mới mang tính khoa học, hợp lý, cụ thể, rõ ràng, nhân đạo và hoàn thiện hơn hơn so với Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, việc quy định khung hình phạt ở khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 không có khoảng giao thoa với khung hình phạt ở khoản 3 thì cần phải xem xét lại, để các quy định của luật hình sự ngày một hoàn thiện hơn./.

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn)
Áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Giáo dục tại xã, phường, thị trấn là một trong các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Xuất phát từ đặc điểm về độ tuổi, tâm sinh lý của người dưới mười tám tuổi phạm tội (người chưa thành niên phạm tội), thì việc nhận thức về xã hội, pháp luật của họ cũng chưa đầy đủ so với người trưởng thành trong nhìn nhận, đánh giá mọi vấn đề. Vì vậy, yêu cầu tăng cường trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giám sát giáo dục người dưới mười tám tuổi phạm tội là cần thiết.
Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 qui định thay thế việc áp dụng hình phạt và biện pháp tư pháp bằng biện pháp giáo dục tại xã phường thị trấn là hoàn toàn phù hợp, nhưng vẫn đảm bảo được mục đích giáo dục, vẫn giúp họ nhận thức rõ lỗi lầm và có cơ hội khắc phục sửa chữa những sai phạm đối với dưới mười tám tuổi phạm tội trong giai đoạn hiện nay.
Giáo dục tại xã, phường, thị trấn là một trong các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội. Đây là những qui định mới hết sức tiến bộ được qui định tại Điều 95 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, với mục đích tăng khả năng áp dụng các qui định về miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội, hạn chế thấp nhất việc áp dụng hình phạt và các biện pháp tư pháp đối vớicác đối tượng này.
Theo qui định tại Điều 429 BLTTHS năm 2015 thì khi miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội mà xét thấy có đủ điều kiện áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo qui định tại Điều 92 và Điều 95 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, thì Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường thị trấn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong vụ án do cơ quan mình thụ, lý giải quyết.
Như vậy, theo qui định tại Điều 95 BLHS thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án có thể áp dụng các biệp pháp giáo dục tại xã phường thị trấn từ 1 đến 2 năm đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:
– Phạm tội ít nghiêm trọng, hoặc phạm tội nghiêm trọng thuộc trường hợp qui định tại điểm a khoản 2 điều 91 BLHS.
– Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng thuộc trường hợp qui định tại điểm b khoản 2 điều 91 BLHS.
Khi được giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức giám sát, giáo dục thì các đối tượng phải thực hiện các nghĩa vụ sau:
+ Chấp hành đầy đủ nghĩa vụ về học tập, lao động.
+ Chịu sự giám sát, giáo dục của gia đình, xã phường, thị trấn.
+ Không đi khỏi nơi cư trú khi không được phép.
+ Tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc.
+ Trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu.
+ Tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp.
Nếu người được giám sát giáo dục tại xã phường thị trấn đã chấp hành một phần hai thời hạn và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của UBND cấp xã nơi được giao giám sát giáo dục, cơ quan đã áp dụng biện pháp này có thể quyết định chấm dứt thời hạn giáo dục tại xã phường thị trấn.
Đây là những qui định mới, hết sức tiến bộ với mục đích tăng khả năng áp dụng các qui định về miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội, hạn chế đến mức thấp nhất việc việc phải áp dụng hình phạt và các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội, thể hiện tính nhân đạo cao trong việc xử lý người chưa thành niên phạm tội tạo điều kiện cho họ nhận thức rõ lỗi lầm có cơ hội khắc phục sai phạm nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng. Vì vậy: gia đình, nhà trường, xã hội cần tăng cường trách nhiệm trong việc giám sát, giáo dục họ để biện pháp này đạt hiệu quả.

Phạm Thị Kim Liên

VKSND tỉnh Quảng Ngãi

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)