05 điều cần lưu ý khi đọc hiểu văn bản pháp luật

Tra cứu văn bản pháp luật là một kỹ năng quan trọng mà dân luật cần phải biết, tuy nhiên sau khi tìm được văn bản rồi, việc đọc hiểu văn bản như thế nào lại là một vấn đề còn quan trọng hơn.
Thỉnh thoảng tôi có nhận được một số câu hỏi liên quan đến vấn đề này, chẳng hạn như: Tại sao văn bản quy định như vậy mà cơ quan có thẩm quyền bảo không áp dụng được cho tôi? Quy định này có áp dụng được trường hợp của tôi không?… Gần đây nhất tôi có nhận được một câu hỏi của một bạn liên quan đến quy định về người có công với cách mạng, trong đó bạn ấy cũng đã tìm được tương đối đầy đủ các quy định cần thiết nhưng khi áp dụng thì lại có một chút nhầm lẫn, mà hoàn toàn không phải do bạn ấy.
Vậy nên bài viết hôm nay tôi sẽ chia sẻ 05 lưu ý cơ bản khi đọc một văn bản pháp luật để áp dụng được văn bản đó vào trường hợp cụ thể.

Thứ nhất: Phạm vi điều chỉnh

Khi bạn tìm được một nội dung tư vấn trên mạng, trong đó có trích dẫn một điều khoản trong 1 văn bản luật nào đó có vẻ giống trường hợp của mình, hoặc khi bạn tìm được một văn bản có vẻ phù hợp với việc mình đang cần giải quyết, bạn đừng vội đọc ngay vào nội dung của điều luật hoặc nội dung quy định vấn đề của bạn trong văn bản đó. Mà trước tiên bạn nên xem đó là văn bản nào, cụ thể là số hiệu và tên của văn bản

  • Ví dụ: Nghị định 99/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở

Sau đó bạn tìm và tra cứu ra toàn văn nội dung văn bản đó (chỉ cần tìm thôi chứ không phải đọc toàn văn đâu nhé). Bạn nhìn ngay mấy điều đầu tiên của văn bản, thường là tại Điều 1 sẽ có tên là Phạm vi điều chỉnh:

  • Ví dụ: Luật nhà ở 2014 có Phạm vi điều chỉnh như sau:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về sở hữu, phát triển, quản lý, sử dụng nhà ở; giao dịch về nhà ở; quản lý nhà nước về nhà ở tại Việt Nam.
Đối với giao dịch mua bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở thương mại của các doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh bất động sản thì thực hiện theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản.

Như vậy, chỉ với VD trên bạn đã có thể thấy được sự cần thiết phải đọc nội dung Điều này phải không. Nếu như giao dịch mua bán, cho thuê nhà ở thương mại của các doanh nghiệp mà bạn tìm ở trong luật nhà ở thì có thể bạn sẽ không tìm được đúng điều mà bạn đang cần rồi.
Thêm một VD nữa để bạn thấy rõ hơn, đó là tại Nghị định 99/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở (bạn chú ý hơn vào khoản 2 của Điều dưới đây nhé)

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều, khoản về sở hữu nhà ở, phát triển nhà ở, quản lý, sử dụng nhà ở, giao dịch về nhà ở và quản lý nhà nước về nhà ở tại Việt Nam quy định tại Luật Nhà ở số65/2014/QH13(sau đây gọi là Luật Nhà ở).
2. Việc quy định chi tiết một số điều, khoản về phát triển nhà ở xã hội; quản lý, sử dụng nhà ở xã hội không thuộc sở hữu nhà nước; cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư; xây dựng, quản lý và sử dụng hệ thống thông tin về nhà ở; giao dịch mua bán, thuê, thuê mua nhà ở thương mại của doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh bất động sản; thanh tra, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực nhà ở được thực hiện theo các Nghị định khác của Chính phủ.

Vậy đó, trước tiên bạn nên đọc Phạm vi áp dụng của 1 văn bản pháp luật (thông thường nằm ngay Điều 1 của đa số văn bản), điều này quy định chung và khái quát thôi nhưng đọc cũng dễ hiểu và giúp bạn có hình dung cơ bản về văn bản mình sắp đọc.
Một số Bộ luật đặc thù như Bộ luật hình sự chẳng hạn, sẽ không theo nguyên tắc sắp xếp điều luật phổ biến trên, bởi vì điều đó không phù hợp và cũng không cần thiết, và tôi nghĩ chắc bạn cũng không thấy cần quan tâm lắm đến vấn đề đặc thù này.

Thứ hai: Đối tượng áp dụng

Cũng như Phạm vi áp dụng, Đối tượng áp dụng quy định các chủ thể sẽ chịu sự điều chỉnh hoặc không chịu sự điều chỉnh của văn bản bạn đang đọc. Nội dung này không nằm đâu xa, thường là ở ngay Điều 2 của một văn bản, cũng có trường hợp nằm chung luôn với Điều 1, đối với những văn bản mà đối tượng áp dụng đã quá rõ ràng, có thể đôi lúc bạn thấy nó nằm ở Điều 3, nói chung không đi đâu xa được.

  • Ví dụ: Tại Điều 2, Luật xây dựng 2014 quy định như sau:

Điều 2. Đối tượng áp dụng
Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động đầu tư xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam.
Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

Đa phần tên Điều này sẽ là Đối tượng áp dụng như VD tôi nêu trên, nhưng cũng có những trường hợp là tên khác.

  • Ví dụ: Tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng

Điều 2. Những trường hợp không áp dụng
Nghị định này không áp dụng đối với những trường hợp sau:
1. Đào ngũ, đầu hàng, phản bội, chiêu hồi.
2. Đang chấp hành án tù giam, tù chung thân hoặc bị kết án về một trong các tội về xâm phạm an ninh quốc gia.
3. Bị tước danh hiệu quân nhân, danh hiệu công an nhân dân, danh hiệu dân quân tự vệ; bị buộc thôi việc.

Đó là một cách quy định khác của phần Đối tượng áp dụng
Phần Đối tượng áp dụng đối với Luật, Bộ luật mà nói thì quy định khá tổng quát, có thể bạn chưa cần đọc cũng sẽ hình dung được phần nào, nhưng bạn sẽ thấy rất cần thiết khi đọc các Nghị định, Thông tư hoặc các văn bản dưới luật khác.

Thứ ba: Hiệu lực văn bản

Phần này ai cũng biết là quan trọng, có điều vị trí của nó nằm hơi xa các điều trên nên có lẽ nhiều người quên mất. Thêm nữa là khi bạn đọc một câu trả lời giải đáp pháp luật ở trên mạng thường thì trong đó ít khi nhắc đến hiệu lực của văn bản mà họ đang trích dẫn, có thể câu trả lời đó tại thời điểm trả lời thì văn bản đang có hiệu lực, nhưng tại thời điểm bạn tra cứu thì lại có văn bản mới thay thế mà họ chưa cập nhật chẳng hạn.
Lưu ý nhỏ nữa là nếu như bạn đọc nguyên văn một văn bản, thì cái ngày ở ngay phía bên phải trên đầu văn bản đó chỉ là ngày ban hành văn bản thôi, không phải là ngày văn bản có hiệu lực.

  • Ví dụ nhé: Phần đầu của Nghị định 99/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở bạn sẽ thấy
CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Số: 99/2015/NĐ-CP Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2015
NGHỊ ĐỊNH
QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT NHÀ Ở

Bạn có nhìn thấy dòng Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2015 không? Đó là ngày ban hành văn bản thôi. Còn hiệu lực của văn bản, tuy không nằm gần nhưng rất dễ tìm, bạn chỉ cần kéo xuống Điều khoản cuối cùng hoặc gần Điều cuối cùng của văn bản, Ví dụ luôn trong Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ở trên, phần hiệu lực nằm ở Điều 87 trên tổng số 88 Điều của Nghị định 99

Điều 87. Hiệu lực thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2015.
2. Các Nghị định sau đây hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành:
– …
3. Các nội dung liên quan đến phát triển nhà ở (bao gồm cả việc quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư dự án xây dựng nhà ở), sở hữu nhà ở, quản lý, sử dụng nhà ở, giao dịch về nhà ở, quản lý nhà nước về nhà ở được quy định trong các Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, các văn bản quy phạm pháp luật do các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mà khác với các quy định thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này thì thực hiện theo quy định của Nghị định này.

Như vậy kể từ ngày 10/12/2015 thì Nghị định 99 trên mới bắt đầu được áp dụng
Với các bộ luật và luật cũng vậy thôi, bạn có thể thấy rằng:

Bộ luật Lao động 2012 có hiệu lực thi hành vào ngày 01/5/2013
Luật Đất đai 2013 có hiệu lực thi hành vào ngày 01/7/2014
Luật Doanh nghiệp 2014 có hiệu lực thi hành vào ngày 01/7/2015
Mới đây nhất, Bộ luật hình sự 2015, đáng ra có hiệu lực thi hành vào 01/7/2016 đã phải lùi thời hạn hiệu lực đến ngày 01/01/2018.

Điều khoản hiệu lực không chỉ quy định mỗi ngày có hiệu lực của văn bản, mà còn nhiều nội dung có ích khác có thể cần thiết cho bạn, VD như văn bản nào bị thay thế, hết hiệu lực, trường hợp đặc biệt của việc áp dụng hiệu lực ..v..v..

Thứ tư: Điều khoản chuyển tiếp

Không phải văn bản nào cũng có Điều khoản chuyển tiếp, nhưng khi đã có thì đó lại là một nội dung rất quan trọng của việc áp dụng. Một văn bản có Điều khoản chuyển tiếp thì bạn đọc Điều khoản về hiệu lực thôi là chưa đủ, mà buộc phải đọc thêm cả điều khoản chuyển tiếp nữa mới áp dụng chính xác được. Điều khoản này cũng không ở đâu xa, ngay trước hoặc ngay sau Điều khoản về hiệu lực.

  • Ví dụ: Điều khoản chuyển tiếp của Luật nhà ở 2014 (nằm ngay sau Điều khoản hiệu lực)

Điều 182. Điều khoản chuyển tiếp
1. Các dự án đầu tư xây dựng nhà ở được phê duyệt trước ngày Luật này có hiệu lực thì không phải thực hiện phê duyệt lại theo quy định của Luật này, trừ trường hợp thuộc diện phải điều chỉnh lại nội dung của dự án do Nhà nước điều chỉnh lại quy hoạch đã phê duyệt hoặc trường hợp phải dành diện tích đất trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại để xây dựng nhà ở xã hội hoặc phải dành diện tích nhà ở xã hội để cho thuê theo quy định của Luật này.
Đối với dự án phát triển nhà ở xã hội không có trong chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở của địa phương nhưng đã được chấp thuận chủ trương đầu tư dự án thì được tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật này.
…
(dài quá nên chỉ trích dẫn khoản 1 thôi)

Điều 80. Điều khoản chuyển tiếp
1. Các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản đang hoạt động mà chưa đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của Luật này thì phải bổ sung đủ các điều kiện trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
2. Các dự án đầu tư kinh doanh bất động sản đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc đầu tư, đã được giao đất, cho thuê đất, đã có văn bản cho phép chuyển nhượng dự án hoặc đã ký hợp đồng chuyển nhượng, bán, cho thuê, cho thuê mua trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì không phải làm lại thủ tục theo quy định của Luật này
…
(dài quá nên cũng chỉ trích dẫn 2 khoản thôi)

Bạn chỉ cần đọc thôi là thấy Điều khoản chuyển tiếp có ích như thế nào rồi, chắc tôi không cần giải thích dài dòng thêm.

Khi bạn tra cứu Điều luật theo mục lục trong sách, nếu bạn muốn nhớ đó là điều bao nhiêu, bạn hãy tra cứu và tìm theo số điều, đừng tra cứu và tìm theo số trang trong mục lục.

Thứ năm: Văn bản dẫn chiếu

Lưu ý cuối cùng, sau khi đọc đầu đọc đuôi văn bản rồi, biết đúng là nó áp dụng cho trường hợp nào rồi, bạn bắt đầu tìm đến nội dung văn bản, những nội dung quy định rõ ràng rồi thì không cần bàn thêm, nhưng có một số trường hợp, quy định ở văn bản này lại dẫn chiếu đến một văn bản khác

  • Ví dụ: Điều 37 Luật kinh doanh bất động sản quy định như thế này:

Điều 37. Nguyên tắc chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất
1. Việc chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất phải đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật này.
2. Việc chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất phải tuân thủ các quy định của pháp luật đất đai về mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất và đăng ký đất đai.

Quy định như thế này thì đơn giản rồi, bạn chỉ cần tra cứu và tìm trong các văn bản luật đất đai là được.

  • Nhưng VD như thế này: Tại Khoản 1, Điều 7 của Nghị định 86/2015 NĐ-CP Quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015 – 2016 đến năm học 2020 – 2021

Điều 7. Đối tượng được miễn học phí
1. Người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11ngày 29 tháng 6 năm 2005, Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13ngày 16 tháng 7 năm 2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng.

Bạn có thể thấy cụm từ “theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng”, nhưng điều này không có nghĩa là tất cả người có công với cách mạng và thân nhân của họ là được miễn học phí mà bạn phải dẫn chiếu đến những quy định cụ thể trong Pháp lệnh để xem đó là những đối tượng cụ thể nào, được những ưu đãi cụ thể gì, trong đó có miễn học phí hay không, chứ không phải là áp dụng cho tất cả đối tượng trong Pháp lệnh đó
Chính nhờ thắc mắc này của một bạn gửi cho tôi, mà tôi mới có ý tưởng cho bài viết này  ?
Lưu ý nhỏ cuối cùng, nhỏ quá nên không tách riêng 1 phần, đó là khi bạn đọc nội dung văn bản mà có một từ hay cụm từ nào đó mà bạn thấy chưa rõ, bạn có thể  thử tìm ở Điều Giải thích từ ngữ trong văn bản, thường thì nó hay nằm ở phần đầu văn bản (Điều 3, 4…) và không phải văn bản nào cũng cần hoặc cũng có. Nhưng bạn cứ thử tìm xem.

Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Bộ luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.
2. Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
….
(dài quá nên lại trích dẫn thôi)

Đó là 5 điều lưu ý theo kinh nghiệm của tôi khi bạn muốn tự nghiên cứu, đọc hiểu và áp dụng văn bản pháp luật. Tất nhiên đó là 5 điều rất cơ bản thôi, nhưng cũng có thể giúp bạn bước đầu tiếp cận văn bản một cách dễ dàng hơn. Còn các vấn đề phức tạp hơn nữa, bạn hãy dành cơ hội cho các luật sư và chuyên gia pháp luật được giúp đỡ bạn nhé.
Đọc thì dài như vậy, nhưng thực ra số điều luật cần đọc trong một văn bản là không nhiều, chủ yếu ở phần đầu và phần cuối. Còn trường hợp văn bản quá ngắn như  1 công văn của Tổng cục thuế chẳng hạn, thì thôi bạn cứ đọc hết luôn cho gọn.
Hy vọng bài viết này sẽ phần nào giúp ích cho những ai quan tâm. Nếu có ý kiến hay câu hỏi liên quan, các bạn có thể gửi phản hồi ở dưới bài viết này.
Nguồn: Blue & Tansy (https://bluentansy.com/5-dieu-can-luu-y-khi-doc-hieu-van-ban-phap-luat)

Các bước để làm thủ tục thừa kế nhà, đất đã có sổ đỏ

Bạn sẽ phải làm thủ tục thừa kế nhà, đất khi có một người có quyền sử dụng nhà đất theo sổ đỏ đã chết.
Khi đó bạn muốn mua bán / chuyển nhượng / tặng cho / thế chấp hay làm bất cứ giao dịch nào khác liên quan đến nhà đất có sổ đỏ đó thì bạn phải làm thủ tục thừa kế cho nhà, đất đó đã. Cụ thể là bạn sẽ phải làm thủ tục sang tên sổ đỏ cho một hoặc những người thừa kế hợp pháp. Bởi vì người thừa kế không nghiễm nhiên được công nhận là chủ sử dụng đất, mà họ buộc phải thực hiện các thủ tục pháp lý để được pháp luật công nhận điều này
Đó là trường hợp rất đơn giản thôi, không có gì bàn cãi. Nhưng cuộc sống vốn không đơn giản như vậy, tôi sẽ đưa ra 2 ví dụ phổ biến trên thực tế và cũng là những thắc mắc mà nhiều bạn gửi câu hỏi về cho tôi, như thế này:
Ví dụ 1: Bạn mua nhà, đất đã có sổ đỏ. Sổ đỏ tên ông A và bà B, ông A và bà B là vợ chồng hợp pháp và chỉ có duy nhất một người con là ông C. Thời điểm bạn mua nhà, đất đó thì ông A và bà B đã chết, bạn cho rằng chắc chắn ông C có toàn quyền với nhà, đất đó rồi nên lập Hợp đồng mua bán viết tay với ông C, hai bên thanh toán hết tiền và giao giấy tờ gốc đầy đủ, đàng hoàng. Bạn về nhà, đất đó ở một thời gian thì muốn làm thủ tục sang tên sổ đỏ cho nhà đất đó.
Lúc đó bạn phát hiện ra rằng: Phải làm thủ tục thừa kế, sang tên cho ông C đã rồi ông C mới được bán cho bạn. Nếu may mắn thì bạn vẫn còn liên lạc với ông C và ông C cũng rất thiện chí hợp tác làm thủ tục cho bạn, còn nếu không may thì… bạn biết sẽ như thế nào rồi đấy
Ví dụ 2: Bạn mua nhà, đất đã có sổ đỏ. Sổ đỏ tên ông A và bà B, ông A và bà B là vợ chồng hợp pháp và có 3 người con là ông C, bà D và ông E. Thời điểm bạn mua nhà, đất đó thì ông A và bà B còn sống nhưng bạn không lập Hợp đồng công chứng mà chỉ mua bán bằng hình thức Hợp đồng viết tay. Hai bên thanh toán hết tiền và giao giấy tờ gốc đầy đủ, đàng hoàng. Bạn về nhà, đất đó ở một thời gian thì muốn làm thủ tục sang tên sổ đỏ cho nhà đất đó.
Khi bạn chuẩn bị làm thủ tục sang tên thì mới biết ông A đã chết, vậy là phải làm thủ tục thừa kế. Khi đó sổ đỏ phải được sang tên của một hoặc những người thừa kế hợp pháp của ông A, sau đó một hoặc những người đó mới làm thủ tục bán và sau đó sang tên cho bạn.
Nếu may mắn thì những người thừa kế đoàn kết và thiện chí làm thủ tục cho bạn, còn nếu không may thì… bạn biết sao rồi đấy.
Đó là 2 ví dụ phổ biến liên quan đến thủ tục thừa kế nhà, đất mà có nhiều bạn vướng mắc trên thực tế. Các trường hợp khác bạn có thể xác định đơn giản và dễ dàng hơn. Tôi chỉ ví dụ bên mua vì trong trường hợp này bên mua luôn là bên gặp nhiều rủi ro hơn. Còn nếu bạn là bên bán thì cũng lưu ý là phải làm thủ tục thừa kế và sang tên cho người thừa kế xong mới được mua bán, chuyển nhượng.
Chắc hẳn khi xem 2 ví dụ trên, có bạn sẽ thắc mắc trường hợp mua bán bằng giấy viết tay vẫn được công nhận thì sao? Đúng vậy, pháp luật vẫn công nhận giấy mua bán viết tay trong một số trường hợp và điều kiện nhất định, tuy nhiên tôi có thể chắc chắn với bạn rằng việc làm thủ tục sang tên bằng giấy mua bán viết tay khó khăn và phức tạp hơn rất nhiều so với việc làm thủ tục thừa kế. Vì vậy, việc sang tên bằng giấy mua bán viết tay chỉ nên là phương án sau cùng được tính đến, khi không còn cách nào khác để làm thủ tục thừa kế.
Như vậy, bạn đã xác định được tại sao phải làm thủ tục thừa kế nhà đất trước tiên rồi, phần tiếp theo tôi sẽ hướng dẫn từng bước để bạn có thể hình dung được về thủ tục thừa kế phải làm như thế nào.
Nói đến thừa kế thì sẽ nói đến 2 trường hợp, đó là CÓ DI CHÚC và KHÔNG CÓ DI CHÚC. Trường hợp thừa kế phổ biến hơn đó là thừa kế không có di chúc, vì vậy tôi sẽ nói đến trường hợp này trước
Về pháp lý bạn có thể hiểu một cách cơ bản thế này: khi người để lại tài sản chết và không có di chúc thì tài sản của người đó sẽ được chia theo pháp luật, tức là tất cả những người thừa kế hợp pháp thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người đó sẽ được hưởng những phần bằng nhau hoặc những phần khác nhau nếu như những người thừa kế cùng thống nhất thỏa thuận được việc chia thừa kế. Nếu người để lại di sản không có hàng thừa kế thứ nhất thì sẽ xác định tiếp đến hàng thừa kế thứ 2 và sau đó là hàng thừa kế thứ 3. Và những người thừa kế này phải còn sống tại thời điểm khai nhận / phân chia di sản thừa kế.
Các xác định hàng thừa kế được quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, như sau:
Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Như vậy, khi bạn đã xác định được cuối cùng là có những người nào sẽ phải làm thủ tục thừa kế nhà, đất rồi thì bạn bắt đầu thực hiện các bước sau:
Bước 1: Chuẩn bị các giấy tờ cần thiết
Thực ra bình thường thì bạn chỉ cần mang trước một vài giấy tờ photo như sổ đỏ, CMND, giấy chứng tử…v..v.. đến một Văn phòng công chứng để hỏi thủ tục thừa kế thì Văn phòng công chứng đó sẽ hướng dẫn cho bạn. Tuy nhiên, vì đây là bài viết để hướng dẫn bạn tự đi làm nên tôi để bước 1 là bước chuẩn bị giấy tờ để bạn có thể tự chuẩn bị trước khi đến văn phòng công chứng.
Để làm thủ tục thừa kế bạn cần các giấy tờ cơ bản sau:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), Sổ tiết kiệm, Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần, Giấy đăng ký xe và các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản (nếu có và muốn làm luôn)
Giấy chứng tử của người/những người chủ sử dụng đất
CMND/căn cước công dân/hộ chiếu, hộ khẩu của những người thừa kế còn sống tại thời điểm làm thủ tục
Giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn, giấy tờ xác nhận / chứng minh quan hệ của người thừa kế với người đã chết
Giấy chứng tử, xác nhận phần mộ, giấy tờ xác nhận / chứng minh quan hệ của những người thừa kế đã chết tại thời điểm làm thủ tục
Đó là các giấy tờ cơ bản mà bạn cần chuẩn bị cho để làm thủ tục thừa kế. Mỗi trường hợp thừa kế lại có thể thêm/bớt hoặc thay thế các giấy tờ khác nhau, việc này phải có hồ sơ cụ thể mới xác định được. Tuy nhiên bạn cứ chuẩn bị được các giấy tờ nêu trên là cũng đủ … mệt rồi. Các giấy tờ thêm/bới hoặc thay thế (nếu có) cũng sẽ rất ít thôi.
Bước 2: Lựa chọn Văn phòng công chứng (VPCC)
Việc thực hiện các thủ tục thừa kế bắt buộc phải qua Văn phòng công chứng, vì vậy sau khi chuẩn bị các giấy tờ cần thiết, bạn sẽ lựa chọn một VPCC để thực hiện các thủ tục về thừa kế cho bạn.
Bước 3: Lập và niêm yết thông báo thừa kế
Sau khi đã lựa chọn được Văn phòng công chứng, bạn mang các giấy tờ đã chuẩn bị (có thể chỉ cần bản photo cũng được) hoặc bạn cũng có thể scan/chụp ảnh các giấy tờ gửi cho VPCC. Cách làm như thế nào tùy thuộc vào sự lựa chọn của bạn và VPCC.
Ở bước này bạn chưa cần phải có đầy đủ toàn bộ các giấy tờ mà chỉ cần có đầy đủ và chính xác thông tin để VPCC lập Thông báo về việc khai nhận / phân chia di sản thừa kế. Nếu như VPCC nào yêu cầu bạn cung cấp đầy đủ giấy tờ thì có lẽ họ cũng chỉ muốn bạn làm 1 lần để đỡ tốn thời gian hơn sau này thôi.
Sau khi VPCC lập Thông báo thừa kế, họ sẽ đưa cho một trong số những người thừa kế hoặc cũng có thể chính VPCC đó sẽ đi niêm yết Thông báo thừa kế này tại những UBND cấp xã sau:
UBND phường, xã nơi thường trú cuối cùng của những người để lại di sản
UBND phường, xã nơi có tài sản
Thời gian niêm yết Thông báo thừa kế theo quy định là 15 ngày kể từ ngày bạn gửi được cho UBND phường, xã.
Bước 4: Lập văn bản khai nhận / phân chia di sản thừa kế
Đủ 15 ngày niêm yết, nếu không có ai thắc mắc hay tranh chấp gì thì bạn hoặc VPCC sẽ đến UBND phường, xã để lấy Thông báo thừa kế đã đóng dấu xác nhận của UBND. Bạn mang Thông báo đó về lại VPCC.
Như vậy là VPCC đã đủ điều kiện để lập Văn bản khai nhận / phân chia di sản thừa kế.
Bạn không cần phải tự chuẩn bị nội dung của Văn bản thừa kế, toàn bộ Văn bản sẽ do VPCC soạn thảo nội dung theo đúng quy định của pháp luật và theo thỏa thuận của những người thừa kế hợp pháp. Sau khi soạn thảo xong, VPCC sẽ đưa cho tất cả những người thừa kế cùng đọc lại (bạn nhớ đọc kỹ nhé). Sau khi tất cả những người thừa kế đã thống nhất, họ sẽ cùng ký tên và điểm chỉ vào Văn bản thừa kế. Cuối cùng VPCC sẽ đóng dấu công chứng.
Như vậy là bạn đã hoàn thành xong những bước quan trọng nhất và có lẽ là nhiều người sẽ thấy tốn thời gian và vất vả nhất của thủ tục thừa kế. Sau khi xong bước này, bạn chỉ còn 1 bước cuối cùng nữa thôi, đó là:
Bước 5: Làm thủ tục sang tên sổ đỏ
Bạn hãy tham khảo và áp dụng nhé. Còn nếu bạn không có thời gian thì bạn có thể thuê dịch vụ làm sổ đỏ của các Văn phòng công chứng hoặc Văn phòng luật sư, Công ty luật tùy vào nhu cầu của bạn.
Sau khi sang tên sổ đỏ xong rồi thì bạn có thể thực hiện các giao dịch khác như mua bán, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp..v..v..
Đó là toàn bộ quy trình và các bước để thực hiện thủ tục thừa kế KHÔNG CÓ DI CHÚC. Vậy còn trường hợp người chết để lại di sản và CÓ DI CHÚC thì sao. Thực ra trường hợp có di chúc thì trình tự thủ tục cũng không khác gì so với thủ tục thừa kế không có di chúc mà tôi đã nêu ở trên. Tuy nhiên ở đây có 2 vấn đề cần xác định phức tạp hơn một chút:
1. Di chúc có hợp pháp hay không?
Việc di chúc như thế nào là hợp pháp được quy định khá rõ ràng ở trong Bộ luật dân sự 2015. Tuy nhiên nếu mà có sự tranh chấp về việc di chúc hợp pháp hay không hợp pháp thì chỉ có Tòa án mới có quyền ra phán quyết cuối cùng. Vậy nên, trường hợp này bạn cứ hiểu một cách đơn giản cho đỡ đau đầu, đó là: VPCC có đồng ý làm thủ tục thừa kế cho bạn theo Di chúc đó không. Nếu VPCC đồng ý, bạn không cần băn khoăn về vấn đề này nữa. Nếu VPCC không đồng ý thì tùy từng trường hợp những người thừa kế có thể lựa chọn phương án khai nhận thừa kế theo pháp luật (không có di chúc) hoặc khởi kiện / yêu cầu Tòa án công nhận di chúc hợp pháp.
2. Có người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc hay không?
Người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc bạn có thể hiểu một cách cơ bản đó là những người mà cho dù họ không có tên trên trong di chúc, không được người lập di chúc cho hưởng di sản nhưng họ vẫn được quyền hưởng một phần di sản của người lập di chúc,
Điều này được quy định tại Điều 644 Bộ luật dân sự 2015, cụ thể như sau:
Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật dân sự 2015.
Hai vấn đề nêu trên của việc thừa kế theo di chúc sẽ trở nên cực kỳ đơn giản nếu như tất cả những người thừa kế… đoàn kết.
Vấn đề thứ 1: Nếu thấy việc công nhận di chúc hợp pháp quá khó khăn, những người thừa kế có thể đồng ý để làm thủ tục thừa kế theo pháp luật và sẽ thỏa thuận phân chia di sản theo đúng ý nguyện trong di chúc. Việc làm này vừa nhanh, gọn, thuận tiện, hợp tình, hợp lý và không hề có lỗi với người đã khuất.
Vấn đề thứ 2: Những người được thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc có thể làm Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế. Như vậy thì người được thừa kế theo di chúc sẽ được hưởng toàn bộ di sản thừa kế và làm thủ tục thừa kế như bình thường.
Còn nếu những người thừa kế không đoàn kết, thì việc này đã nằm ngoài phạm vi của bài viết rồi.
Thực ra quan hệ pháp luật thừa kế có những trường hợp tương đối phức tạp mà có lẽ sẽ rất khó khăn để bạn có thể tự xác định được. Vì vậy, với bài viết này tôi cũng chỉ hy vọng sẽ giúp cho bạn phần nào đó. Nếu như sau khi đọc xong bài viết này.

Tội đe dọa giết người tại Bộ luật hình sự năm 2015

Tội đe dọa giết người được quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tương ứng với Điều 113 Tội đe dọa giết người BLHS 1999.
 

Điều 133. Tội đe dọa giết người
1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Đối với 02 người trở lên;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
d) Đối với người dưới 16 tuổi;
đ) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.

 
Bình luận Tội đe dọa giết người tại BLHS 2015

1. Khái niệm

Đe dọa giết người được hiểu là hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp làm cho người bị dọa biết được khả năng tính mạng của của họ sẽ bị xâm phạm tới (tức sẽ bị giết chết).

2. Các yếu tố cấu thành tội Đe dọa giết người tại Bộ luật hình sự 2015

2.1. Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội phạm này có các dấu hiệu sau:
a) Về hành vi: Có hành vi làm cho người bị đe dọa biết được khả năng tính mạng của họ sẽ bị phạm phạm (bị giết chết).
Ví dụ: De dọa người khác nhiều lần bằng lời nói sẽ giết chết họ.
Hành vi này được thể hiện trực tiếp (như bằng lời nói trước mặt, nói trực tiếp với người bị đe dọa) hoặc bằng gián tiếp (như qua thư, qua điện thoại hoặc nhắn qua người khác).
b) Dấu hiệu khác: Có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ thực hiện.
Vấn đề xác định có hay không có căn cứ cho rằng người đe dọa có khả năng hành động thực sự trên thực tế là rất khó xác định và cần phải xét một cách toàn diện trên các mặt sau:

  • Phương pháp, thủ đoạn thực hiện hành vi đe dọa.
  • Nguyên nhân của việc xảy ra hành vi đe dọa, mâu thuẫn người có hành vi đe dọa với người bị đe dọa.
  • Trạng thái tâm lý, xử sự của người bị đe dọa sau khi bị đe dọa.

Lưu ý: người có hành vi đe dọa giết người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu xác định căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ thực sự là việc đe dọa hoàn toàn có khả năng sẽ được thực hiện, đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

  • Dấu hiệu cơ bản để phân biệt giữa hành vi đe dọa giết người với tội giết người là ở giai đoạn chuẩn bị là sự công khai hoặc không công khai hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng của người khác. cả hai tội nêu trên đều chuẩn bị công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi giết người.
    Tuy nhiên ở tội đe dọa giết người thì người phạm tội cố ý để cho người bị hại hoặc người khác biết và tin rằng người đó sẽ thực hiện lời đe dọa giết. Còn ở trường hợp giết người chưa đạt, thông thường người phạm tội thực hiện việc chuẩn bị phạm tội một cách lén lúc, bí mật.

2.2. Khách thể

Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến quyền được bảo vệ về tính mạng của công dân.

2.3. Mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp).
Lưu ý: Trường hợp đe dọa giết người mà có động cơ mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản của người bị đe dọa thì không cấu thành tội này. Trong trường hợp này người có hành vi đe dọa người bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản.

3. Về hình phạt của tội đe dọa giết người

Mức hình phạt của tội phạm này được chia thành 02 khung, cụ thể như sau:
a) Khung một (khoản 1)
Có mức phạt cải tại không giam giữ từ 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
b) Khung hai (khoản 2)
Có mức phạt tù từ 02 đến 07 năm.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác tại BLHS 2015

Tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tương ứng với Điều 104 Tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác người BLHS 1999.
 

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
đ) Có tổ chức;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
i) Có tính chất côn đồ;
k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Làm chết 02 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

 
Bình luận Tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác tại BLHS 2015
Điều luật quy định hai tội phạm gồm:

  • Tội cố ý gây thương tích
  • Tội cố ý gây tổn hại cho sức khỏe người khác

1. Khái niệm

a) Cố ý gây thương tích được hiểu là hành vi dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác gây tổn thương cơ thể của người khác (như chém đứt tay, đánh gãy xương).
b) Cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn tác động lên cơ thể nạn nhân dẫn đến làm mất hoặc giảm chức năng của các bộ phận (cơ quan) trên cơ thể của họ (như cho uống thuốc độc,  tạt axit vào người nạn nhân…).

2. Các yếu tố cấu thành Tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác

2.1. Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội phạm này có các dấu hiệu sau:
a) Về hành vi:

  • Đối  với tội cố ý gây thương tích. Được thể hiện qua hành vi dùng vũ lực (có sử dụng hung khí hoặc không sử dụng hung khí) hoặc thủ đoạn khác tác động lên cơ thể người khác gây tổn thương cho họ (như gãy chân, thủng bụng, lòi mắt…) Các thương tích nhìn chung có thể thấy rõ.
    Việc sử dụng vữ lực có thể chỉ bằng sức mạnh cơ thể (như dùng tay đấm, dùng chân đá) hoặc có kèm theo hung khí (như gậy gộc, dao, búa…) tác động lên cơ thể của nạn nhân.
    Việc dùng thủ đoạn khác (gian tiếp) có thể là ép cho nạn nhân tự gây thương tích hoặc xô đẩy làm cho nạn nhân ngã, va vào vật cứng dẫn đến thương tích…
  • Đối với tội cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Được thể hiện qua hành vi dùng thủ đoạn tác động vào cơ thể nạn nhân làm cho một số bộ phận cơ thể nạn nhân bị mất hoặc bị suy giảm chức năng (như đánh vào huyện gây liệt bán thân, cho uống thuốc độc gây tổn hại nội tạng, tạt axit gây mù mắt…) mặc dù các bộ phân (cơ quan) của cơ thể vẫn còn nguyên vẹn.
    Tổn hại gồm tổn hại đối với cơ thể và tổn hại đối với thần kinh (sức khỏe tâm thần).

Lưu ý: Người chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, axit nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tha, gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác thì vẫn phải chịu TNHS.
b) Dấu hiệu khác

  • Về hậu quả: Hậu quả gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân từ 11% trở lên là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

Lưu ý: Trường hợp tỷ lệ thương tật dưới 11% nêu thuộc vào một trong các trường hợp sau đây thì người có hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác vẫn phải chịu TNHS cụ thể là:

  • Dùng vữ khí (tham khảo Điều 304), vật liệu nổ (tham khảo Điều 305). hung khí gây nguy hiểm (xem Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 của Hội đồng thẩm phán) hoặc thủ đoạn khác có khả năng gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;
  • Dùng axit huy hiểm (như axit sunfuric – H2S04) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác;
  • Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vện;
  • Đối với ông, bà, cha, me, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
  • Có tổ chức. Tức là có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.
  • Lợi dụng chức vụ quyền hạn. Tức sử dụng chức vụ, quyền hạn như một phương tiện để phạm tội.
  • Phạm tội trong thời gian đang bị giữ, tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào sở cai nghiện bắt buộc.
  • Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe do được thuê;
  • Có tính chất côn đồ. Được hiểu là hành vi phạm tội được thực hiện tính chất hung hãn, coi thường pháp luật hoặc vì những lý do nhỏ nhặt;
  • Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2.2. Khách thể

Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến sức khỏe của người khác.

2.3. Mặt khách quan

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý, có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp.

2.4. Chủ thể

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

3. Về hình phạt

Mức hình phạt của tội phạm này được thành 06 khung, cụ thể như sau:
a) Khung một (khoản 1)
Có mức phạt cải tạo không giam giữ từ 01 đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
b) Khung hai (khoản 2)
Có mức phạt tù từ 02 đến 06 năm.
c) Khung ba (khoản 3)
Có mức phạt tù từ 05 đến 10 năm.
d) Khung bốn (khoản 4)
Có mức phạt tù từ 07 đến 14 năm.
d) Khung năm (khoản 5)
Có mức phạt tù từ 12 đến 20 năm hoặc tù chung thân.
e) Khung sáu (khoản 6)
Có mức phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm (áp dụng đối với người chuẩn bị phạm tội).

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Tội vô ý làm chết người tại Bộ luật Hình sự 2015

Tội vô ý làm chết người được quy định tại Điều 128 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tương ứng với Điều 98. Tội vô ý làm chết người BLHS 1999).
 
Các nội dung liên quan được tìm kiếm:

 

Điều 128. Tội vô ý làm chết người
1. Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

 
Bình luận Tội vô ý làm chết người tại Bộ luật Hình sự 2015

1. Khái niệm

Vô ý làm chết người được hiểu là hành vi nguy hiểm được thực hiện vì quá tự tin hoặc vì cẩu thả đã gây hậu quả làm chết người khác (tuy không mong muốn hậu quả xảy ra).

2. Các yếu tố cấu thành tội vô ý làm chết người

2.1. Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
a) Về hành vi: Có hành vi nguy hiểm cho xã hội là nguyên nhân trực tiếp gây chết người khác mặc dù bản thân họ không muốn.
Hành vi nguy hiểm cho xã hội nêu trên là hành vi vi phạm các quy tắc thông thường trong cuộc sống hành ngày (không phải quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính) nhằm đảm bảo an toàn thông tính mạng, sức khỏe, tài sản của chính người có hành vi đó và của người khác.
Ví dụ: Khi chặt cây dừa lớn, mặc dù thấy có nhiều trẻ em chơi đùa gần đó nhưng người chặt cây đã không chú ý và không đuổi những đứa trẻ đi (một quy tắc đảm bảo an toàn thông thường mà ai cũng biết) nhằm đảm bảo an toàn, do đó khi cây ngã làm một đứa trẻ chết.
b) Về hậu quả: Hậu quả chết người là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này (mặc dù người có hành vi nêu trên không mong muốn hậu quả xảy ra).

2.2. Khách thể

Hành vi nêu trên xâm phạm đến tính mạng của người khác.

2.3. Mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý vì cẩu thả.
a) Vô ý vì quá tự tin: Trường hợp này người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể dẫn đến hậu quả chết người nhưng lại chủ quan (tự tin) cho rằng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.
Ví dụ: Một người đào hố làm giếng tuy thấy là rất nguy hiểm (nếu không rào chắn xây thành giếng) nhưng đã không làm vật báo hiệu hoặc vật cản để phòng có người rơi xuống vì cho rằng giếng không ở gần đường đi nên không thể xảy ra khả năng đó, nhưng trời tối có người do không nhìn thấy đã rơi xuống và chết.
b) Vô ý vì cầu thả: Trường hợp này người phạm tội không thấy trước được hành vi của mình có thể gây chết người mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
Ví dụ: Một người đang bổ củi ở gần chỗ đông người đã làm tuột đầu búa bay trúng người khác và làm người đó chết.

2.4. Chủ thể

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

3. Về hình phạt của tội vô ý làm chết người

Mức phạt của tội phạm này được chia làm 02 khung, cụ thể như sau:
a) Khung một (khoản 1)
Có mức phạt cải tạp không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
b) Khung hai (khoản 2)
Có mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát tại Bộ luật hình sự 2015

Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát được quy định Điều 131 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tương ứng với Điều 101. Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát BLHS 1999).
 

Điều 131. Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác tự tước đoạt tính mạng của họ;
b) Tạo điều kiện vật chất hoặc tinh thần cho người khác tự tước đoạt tính mạng của họ.
2. Phạm tội làm 02 người trở lên tự sát, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

 
Bình luận Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát tại Bộ luật hình sự 2015

1. Khái niệm

– Xúi giục người khác tự sát được hiểu là là hành vi của một người có những lời nói nhằm kích động, dụ dỗ, khuyến khích, thúc đẩy…người khác tự sát.
– Giúp người khác tự sát được hiểu là hành vi tạo điều kiện cần thiết cho người khác để tự chấm dứt cuộc sống của chính họ.

2. Các yếu tố cấu thành tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát

2.1. Mặt khách quan:

a) Về hành vi. Có một trong các dấu hiệu sau đây:
– Xúi giục người khác tự sát: người phạm tội có hành vi kích động, dụ dỗ, khuyến khích người khác tự sát. Kích động người khác tự sát là có những lời lẽ nhằm thúc đẩy bằng cách tác động tâm lý làm cho người bị kích động tự ái đến mức cao độ nên đã tự sát. Nếu không có những lời lẽ kích động đó thì nạn nhân dù có chán đời, có uẩn khúc trong cuộc sống cũng chưa tới mức tự sát. Dụ dỗ người khác tự sát là người phạm tội đã có những lời lẽ khuyên bảo một cách khéo léo để làm cho người khác tự sát theo ý muốn của mình. Những lời nói kích động, dụ dỗ của người phạm tội là nhằm thúc đẩy nạn nhân đến chỗ tự sát. Vì vậy, ý thức của người phạm tội là là mong muốn làm sao cho nạn nhân tự sát.Cần xác định rằng, nếu không có hành vi xúi giục thì hậu quả tự sát không xảy ra.
– Giúp người khác tự sát: người phạm tội có hành vi tạo ra những điều kiện vật chất hoặc tinh thần để người khác tự sát. Được thể hiện thông qua việc tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt như cung cấp công cụ, phương tiện hoặc hướng dẫn về cách thức, phương pháp để nạn nhân dễ dàng thực hiện hành vi tự sát hoặc mang lại sự tự tin và quyết tâm tự sát.
– Tội phạm hoàn thành khi người bị xúi giục hoặc giúp đỡ có hành vi tự sát. Việc nạn nhân chết hay không chết không có ý nghĩa định tội danh mà chỉ có ý nghĩa trong lượng hình hoặc xem xét đến việc có truy tố hay không.
b) Về hậu quả: Hậu quả tự sát của nạn nhân là điều kiện bắt buộc, không kể hậu quả chết người có xảy ra hay không. Cả hai trường hợp xúi giục và giúp người khác tự sát, chỉ cần người bị xúi giục hoặc được giúp đỡ có hành vi tự sát là tội phạm đã hoàn thành, còn nạn nhân có chết hay không, điều đó chỉ có ý nghĩa khi xem xét quyết định hình phạt chứ không có ý nghĩa định tội. Tội phạm này cũng không có giai đoạn phạm tội chưa đạt, bởi vì dù có bị xúi giục hoặc được giúp đỡ đến mức nào đi nữa mà người bị xúi giục, người được giúp đỡ không tự sát thì vẫn chưa là tội phạm.

2.2. Khách thể:

Các hành vi nêu trên đã xâm phạm (một cách gián tiếp) đến tính mạng của người khác.

2.3. Chủ quan

Người phạm tội phải có ý thức rằng hành vi của mình là xúi giục hoặc giúp người khác tự sát và mong muốn qua sự xúi giục hoặc giúp sức của mình, nạn nhân sẽ tự sát. Nếu chỉ qua lời nói nhất thời hay sự giúp đỡ nhất thời, không xuất phát từ ý thức rằng lời nói hay hành vi của mình sẽ dẫn đến hậu quả tự sát hoặc tạo điều kiện để nạn nhân tự sát nhưng nạn nhân do bức xúc trước mà tự sát thì không thỏa mãn mặt chủ quan của tội phạm này.

2.4. Chủ thể

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

3. Hình phạt của tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát

Hình phạt chia làm 2 khung:
– Xúi giục hoặc giúp một người tự sát: người phạm tội có thể bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
– Xúi giục hoặc giúp nhiều người tự sát: người phạm tội có thể bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Chế định chiếm hữu trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Chiếm hữu là một chế định quan trọng trong Luật Dân sự, được pháp điển trong nhiều bộ luật dân sự các quốc gia trên thế giới, mà sớm nhất phải kể đến Luật La Mã. Chế định chiếm hữu trong luật La Mã đã có những ảnh hưởng mạnh mẽ đối với pháp luật Dân sự của rất nhiều quốc gia theo truyền thống Dân luật.

Tuy nhiên, do ảnh hưởng của trường phái pháp luật Sô viết (vốn được xây nhựng trên những nền tảng khác hẳn với luật La Mã) nên BLDS Việt Nam 2005 quy định chiếm hữu là một quyền nằm trong nội dung của quyền sở hữu, bảo vệ chiếm hữu theo cách thức bảo vệ quyền sở hữu.

BLDS 2015 với sự hỗ trợ học thuật từ chính phủ Nhật Bản[1] đã sửa đổi chế định chiếm hữu theo hướng gần gũi hơn với quan điểm của nền luật học Tây phương.

Bài viết này nhằm cố gắng (1) trình bày sơ lược về chế định chiếm hữu trong pháp luật thế giới và (2) đặc điểm của chế định chiếm hữu trong BLDS 2015, từ đó (3) bình luận về chế định này.

I. Quan niệm về chiếm hữu trong pháp luật dân sự thế giới

1. Chiếm hữu phân biệt với sở hữu

Ngay từ những buổi đầu của nền pháp luật, các luật gia La Mã đã phân biệt sở hữu và chiếm hữu. Trong khi sở hữu là quan hệ pháp lý giữa chủ sở hữu và vật, thì chiếm hữu có thể hiểu là “sự thống trị thực tế đối với vật”[2].

Trong thực tế, có những người xuất hiện với dáng vẻ, tư thế của chủ sở hữu đích thực của vật: người buôn ngựa dắt mũi con ngựa; người nông dân đóng cọc dựng hàng rào quanh trang trại; chủ nhà treo bức tranh quý lên tường nhà mình; v.v… Thông thường, những người có dáng vẻ, tư thế đường hoàng kia đồng thời cũng là chủ sở hữu đích thực của những tài sản đó. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp mà người đang kiểm soát vật không phải chủ sở hữu của vật đó. Họ có thể chỉ là những người nhặt được của rơi, những người mua nhầm phải đồ trộm cắp, thậm chí chính họ cũng có thể chỉ là một tên trộm.

Như vậy rõ ràng là, cái gọi là dáng vẻ, tư thế đường hoàng kia không nói lên mối quan hệ pháp lý giữa chủ thể và tài sản, cũng như một quả táo có vỏ trơn láng không có nghĩa là ruột quả táo không có sâu. Hay diễn đạt đúng hơn, trong khi chiếm hữu là tình trạng dễ dàng thấy được khi nhìn từ bên ngoài vào mối quan hệ giữa chủ thể và vật, thì sở hữu (trả lời cho câu hỏi: chủ thế có quyền pháp lý đối với vật hay không?) lại là nội dung thực sự của mối quan hệ đó.

Theo cách hiểu trên về chiếm hữu, thì chiếm hữu rõ ràng phải xuất hiện trước cả khi có nhà nước và pháp luật. Từ rất sớm khi tư hữu xuất hiện trong xã hội loài người, con người đã bắt đầu có mong muốn bảo vệ sự thống trị của mình đối với vật. Sự thống trị này có thể đạt được một cách hòa bình và chính đáng, nhưng cũng có thể thông qua bạo lực. Chỉ đến khi nhà nước và pháp luật ra đời, nhu cầu phát xét tính chính đáng của sự thống trị đó mới bắt đầu được đặt ra. Khi tính chính đáng của việc chiếm hữu được công nhận, quyền sở hữu của chủ thể được thiết lập.

Do chiếm hữu và sở hữu là 2 vấn đề khác nhau, mà luật Dân sự các nước tiên tiến quy định chúng trong những chế định khác nhau, và dành cho chúng những cách thức bảo vệ riêng biệt.

2. Thiết lập quan hệ chiếm hữu

Luật La Mã quy định, nếu một mối quan hệ tài sản đáp ứng 2 tiêu chí: (1) animus và (2) corpus thì quan hệ chiếm hữu được xác lập. Sự quy định này đã có một ảnh hưởng lớn đến nhiều BLDS trên thế giới.[3]

Corpus, yếu tố vật chất hay yếu tố khách quan, được hiểu là việc thực hiện trên thực tế các hành vi mang tính chất thể hiện quyền năng đối với tài sản.[4] Corpus có thể mang tính trực tiếp (như cất giữ, khai thác công năng, thu hoa lợi từ vật, v.v…), nhưng cũng có thể mang tính gián tiếp (thu tiền thuê nhà của người thuê, nộp thuế cho cơ quan nhà nước, v.v…).

Animus, yếu tố tâm lý hay yếu tố chủ quan, được hiểu là thái độ tâm lý thể hiện thành cung cách cư xử phù hợp với các quyền năng mà người chiếm hữu tự cho là có được đối với tài sản.[5] Cũng có thể hiểu animus là ý chí muốn hành xử như thể mình là chủ sở hữu đích thực của tài sản, trong mối quan hệ với tài sản, trước mắt những người khác.

Ta cần phân biệt animus với sự ngay tình. Trong khi animus là thái độ tâm lý, là ý chí bày tỏ đối với thế giới bên ngoài theo cung cách như thể chủ thể là người thực sự có quyền, thì sự ngay tình lại là niềm tin nội tâm của chủ thể rằng mình có quyền đối với tài sản. Như vậy, ta thấy rằng một người không có niềm tin rằng mình là chủ sở hữu của tài sản, vẫn có thể có animus, mà ví dụ điển hình là tên trộm.

Ta cũng có thể thấy, có những người có sự kiểm soát vật trong tay nhưng không phải người chiếm hữu. Những người quản lý hay sử dụng tài sản thông qua một sự ủy quyền hoặc một hợp đồng đều không phải người chiếm hữu, bởi vì họ không có thái độ tâm lý xem mình là chủ sở hữu thực sự của vật.[6]

Người thuê nhà trả tiền nhà cho người cho thuê, nên đã công nhận tư cách sở hữu của người cho thuê và đồng thời không có ý chí xem mình là chủ sở hữu, nên không phải là người chiếm hữu.

3. Hiệu lực của chiếm hữu nhìn từ góc độ người chiếm hữu

Một khi quan hệ chiếm hữu được xác lập, sự chiếm hữu ấy sẽ phát sinh hiệu lực một cách độc lập với chế định sở hữu. Các hiệu lực của chiếm hữu được thừa nhận phổ biến nhất là: 1. Nó có tác dụng tạo ra sự suy đoán có lợi cho người chiếm hữu mỗi khi có tranh chấp về quyền đối với tài sản; 2. Nó cho phép người chiếm hữu được hưởng sự bảo vệ chống mọi quấy nhiễu từ bên ngoài; 3. Nó cho phép người chiếm hữu, trong những hoàn cảnh được dự kiến, xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu.[7]

Hiệu lực suy đoán có lợi cho người chiếm hữu khi có tranh chấp: Khi mỗi quan hệ chiếm hữu hiện có bị đặt vào sự thử thách của một cuộc tranh chấp chiếm hữu, pháp luật các quốc gia trao cho người chiếm hữu một số sự suy đoán có lợi.

Ví dụ: BLDS Pháp suy đoán người đang chiếm hữu là chiếm hữu với tư cách chủ sở hữu (sự suy đoán này cho phép người chiếm hữu được hưởng thời hiệu xác lập sở hữu) nếu không có phản chứng (Điều 2230); nếu người chiếm hữu chứng minh được rằng trước đây đã chiếm hữu, thì được suy đoán rằng đã chiếm hữu từ thời điểm đó tới này, trừ trường hợp có phản chứng (Điều 2234). BLDS Hà Lan suy đoán là người chiếm hữu là ngay tình, người khác muốn nại rằng người đó không ngay tình thì phải chứng minh (Điều 118)[8].

Như vậy, với những suy đoán trên, khi đối diện với một tranh chấp chiếm hữu, người chiếm hữu được loại khỏi mọi nghĩa vụ chứng minh để bảo vệ tình trạng chiếm hữu của mình. Nghĩa vụ chứng minh thuộc về người đi kiện. Việc này đảm bảo cho người chiếm hữu ở trong một tình trạng ổn định, để anh ta có thể yên tâm khai thác các giá trị kinh tế của tài sản mà anh ta chiếm hữu.

Hiệu lực bảo vệ người chiếm hữu khỏi mọi sự quấy nhiễu đến từ bên ngoài, xâm phạm đến tình trạng chiếm hữu đang tồn tại. Theo đó, nếu người chiếm hữu cho rằng một người đang xâm phạm đến sự chiếm hữu của anh ta, anh ta có thể kiện ra tòa để xin tòa buộc người xâm phạm dừng hành vi xâm phạm của mình lại. Ví dụ: Cây từ nhà ông A ngả cành sang nhà ông B, thì ông B có quyền yêu cầu ông A chặt cành đó đi, hoặc kiện ra tòa để xin bảo vệ chiếm hữu, buộc ông A phải thực hiện yêu cầu phải chặt nhành cây lấn sang không gian nhà mình. Hành vi kiện này gọi là kiện bảo vệ chiếm hữu (possessory action).

Xác lập sở hữu theo thời hiệu là một hiệu lực của chiếm hữu, theo đó trong những trường hợp cụ thể, nếu sự chiếm hữu là liên tục, công khai và ngay tình sau một thời hiệu nhất định (thường là 10 năm đối với động sản và 30 năm đối với bất động sản), thì người chiếm hữu sẽ được xác lập quyền sở hữu trên tài sản, được bảo vệ bằng một cách thức mạnh mẽ hơn.

4. Chiếm hữu như một tình trạng – nhìn từ góc độ người đi kiện đòi tài sản

Có nhiều nguyên nhân ngoài ý muốn mà tình trạng chiếm hữu không còn nằm trong tay chủ sở hữu. Trong những tình huống đó, nếu chủ sở hữu biết được tài sản của mình đang nằm trong quan hệ chiếm hữu với một người cụ thể, chủ sở hữu có 2 lựa chọn để đòi lại vật.

Cách thứ nhất, chủ sở hữu có thể đâm một đơn kiện đòi bảo vệ quyền sở hữu (Petitory action), lúc này một tranh chấp về quyền sẽ xảy ra giữa chủ sở hữu và người đang chiếm hữu. Muốn được bảo vệ quyền sở hữu của mình, chủ sở hữu phải chứng minh mình có quyền sở hữu. Nếu quốc gia nơi xảy ra tranh chấp có hệ thống đăng ký vật quyền đã hoàn thiện, lúc đó thì chủ sở hữu chỉ cần trình ra chứng cứ đăng ký vật quyền, thì ngay lập tức sự chứng minh quyền sở hữu hoàn tất. Ngược lại, nếu không có một hệ thống đăng ký vật quyền hoàn thiện như thế, thì về nguyên tắc, chủ sở hữu sẽ phải đi ngược thời gian, lần về tới tận khi quyền sở hữu được xác lập lần đầu tiên trên tài sản đó, thậm chí, tới tận khi tài sản được tạo ra, để chứng minh mình thực sự là chủ sở hữu. Điều này là rất không khả thi trong thực tế. Sẽ đến một lúc nào đó, quá trình lần ngược về quá khứ này sẽ phải dừng lại. Do vậy, nếu chọn tranh chấp về quyền, thì chủ sở hữu sẽ rất khó khăn để đòi lại tài sản của mình.

Cách thứ hai, chủ sở hữu có thể kiện đòi bảo vệ chiếm hữu (possessory action), và tranh chấp giữa chủ sở hữu và người đang chiếm hữu là tranh chấp về tình trạng chiếm hữu. Trong lựa chọn này, chủ sở hữu không cần đi tìm hiểu và chứng minh quan hệ pháp lý của sự chiếm hữu, mà chỉ cần chứng minh: (1) tình trạng chiếm hữu của mình đã từng tồn tại; và (2) tình trạng chiếm hữu của mình bị chấm dứt một cách trái với ý chí. Nếu bên bị là người đang chiếm hữu tài sản không phản tố, thì chủ sở hữu sẽ đòi lại được tài sản mà không buộc phải chứng minh quyền của mình.

Như vậy, việc xem chiếm hữu là tình trạng đã mở ra cho các chủ thể một khả năng được bảo vệ tốt hơn tình trạng chiếm hữu ấy của mình. Khác với cách thức bảo vệ quyền (một khi chủ thể chứng minh được anh ta có vật quyền, anh ta sẽ được bảo vệ vật quyền ấy chừng nào anh ta còn vật quyền), pháp luật chỉ bảo vệ sự chiếm hữu như một giải pháp tạm thời: nghĩa là bất cứ khi nào mà sự chiếm hữu không vượt qua được thử thách, thì người chiếm hữu hiện tại phải “nhường bước” cho người có quyền và đã chứng minh được quyền, hoặc người đã có tình trạng chiêm hữu trước đó.

5. Bảo vệ người thứ ba ngay tình

Trong thực tế sẽ có những trường hợp, chủ sở hữu A bị B trộm tài sản rồi đem bán cho C (ngay tình). Nếu tranh chấp xảy ra giữa A và C thì vấn đề đặt ra là, nếu A chứng minh được quyền sở hữu và bảo vệ quyền sở hữu của A một cách quá mạnh mẽ, thì C sẽ là người chịu thiệt hại, trong khi C hoàn toàn không biết tài sản mình mua là đồ ăn cắp. Sự thiệt hại của C thể hiện ở 2 điểm sau: 1. C đang chiếm hữu và khai thác tài sản một cách hòa bình, nhưng C luôn ở trong một trạng thái không an toàn về pháp lý, rằng chừng nào quyền sở hữu theo thời hiệu chưa được xác lập thì chủ sở hữu A vẫn có thể đòi lại tài sản từ C; Và 2. C muốn đòi bồi thường thiệt hại, phải tìm đến B là kẻ trộm. Trong thực tế, nhất là khi mua bán động sản, ta không dễ gì tìm lại người bán nếu người đó không phải là người quen. Do đó, việc đòi bồi thường cũng không hề đơn giản chút nào. Chưa kể đến việc C phải chứng minh được lỗi của người bán.

Do tình trạng như trên không phù hợp với nhu cầu được vận hành ổn định của các quan hệ dân sự, cũng như lẽ công bằng, cho nên các nhà làm luật đã đặt ra các hạn chế đối với việc đòi lại tình trạng chiếm hữu để bảo vệ người thứ 3 ngay tình. Giải pháp phổ biến nhất, là đặt ra một thời hiệu để kiện đòi lại tình trạng chiếm hữu. Vì dụ: BLDS Pháp quy định thời hiệu để kiện đòi lại vật là 3 năm kể từ ngày đánh mất hoặc mất trộm (Điều 2279). Thời hạn tương ứng đối trong BLDS Nhật Bản là 1 năm (Điều 201), nhưng chỉ áp dụng cho tố quyền đòi khôi phục tình trạng chiếm hữu.

Như vậy, BLDS các quốc gia trên thế giới bằng cách quy định và bảo vệ chiếm hữu như một tình trạng, đã dung hòa được các nhu cầu được bảo vệ của nhiều chủ thể trong các mối quan hệ dân sự.

II. Lý giải và bình luận về chế định chiếm hữu trong BLDS Việt Nam 2015

1. Quyền chiếm hữu và Chiếm hữu

Quyền chiếm hữu: Tiếp nối BLDS 2005, BLDS 2015 quy định quyền chiếm hữu là một nội dung nằm bên trong quyền sở hữu, bên cạnh quyền sử dụng và quyền định đoạt. Quy định này khiến cho chế định sở hữu của BLDS Việt Nam trở nên kì lạ, khác biệt hẳn đổi với chế định quyền sở hữu trong truyền thống pháp luật Dân sự thế giới, mà khởi nguyên từ luật La Mã, vốn chỉ quy định quyền sở hữu gồm có quyền sử dụng, hưởng hoa lợi và định đoạt. Chính từ nền tảng này, BLDS tiếp tục quy định các chủ thể có quyền chiếm hữu như sau: (1) Chủ sở hữu; (2) Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản; (3) Người được giao tài sản thông qua hành vi pháp lý (Điều 186, 187, 188). Sự chiếm hữu của 3 loại chủ thể nêu trên được định nghĩa là chiếm hữu có căn cứ pháp luật.[9]

Chiếm hữu. Không như BLDS 2005 chỉ xem chiếm hữu là một nội dung của quyền sở hữu, BLDS 2015 còn công nhận rằng bên cạnh quyền chiếm hữu, tồn tại một tình trạng thực tế là Chiếm hữu. Điều 179 quy định, “Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản”. Như vậy ngay trong điều 179, ta đã thấy sự xuất hiện (tuy chưa rõ ràng nhưng rất đáng mừng) của 2 yếu tố corpus (nắm giữ, chi phối thực tế) và animus (như chủ thể có quyền đối với tài sản) trong cấu thành chiếm hữu của BLDS 2015, cho thấy rằng luật Dân sự Việt Nam đang dần tiệm cận với các quan niệm mang tính học thuyết của luật Dân sự trên thế giới.

2. Chiếm hữu có căn cứ pháp luật và không có căn cứ pháp luật

Vì cách tiếp cận chiếm hữu như một vật quyền, cho nên các nhà làm luật Việt Nam luôn muốn thẩm đỉnh xem bản chất của mối quan hệ chiếm hữu là “có quyền” hay “không có quyền”, theo đó chỉ người có quyền mới được bảo vệ. Cụ thể, điều 165 quy định 5 trường hợp chiếm hữu có căn cứ pháp luật. Trong 5 trường hợp này, không có chiếm hữu ngay tình.

Thực ra cách phân loại chiếm hữu có hay không có căn cứ pháp luật là cách phân loại rất riêng của Việt Nam, còn luật dân sự của các nước không có sự phân biệt như vậy. Pháp luật các nước trên thế giới từ lâu đã thừa nhận nguyên tắc: sự ngay tình bao giờ cũng được suy đoán; người nào viện dẫn sự không ngay tình thì phải có nghĩa vụ chứng minh.[10] Chính vì cách tiếp cận quá khắt khe và không thực tế của các nhà làm luật Việt Nam mà quyền lợi của người chiếm hữu ngay tình không được bảo vệ một cách thích đáng.

3. Bảo vệ chiếm hữu trong BLDS 2015

BLDS 2015 cùng với việc quy định chiếm hữu trong một chương riêng, đã đưa ra một giải pháp giúp bảo về chiếm hữu theo một phương thức độc lập với chế định sở hữu. Điều 184 đã trao cho người chiếm hữu 2 suy đoán: (1) Người chiếm hữu được suy đoán là ngay tình, người nào phản đối phải chứng mình; và (2) Trong trường hợp có tranh chấp, người chiếm hữu được suy đoán là người có quyền, người nào phản đối phải chứng minh.

Như vậy, trong BLDS 2015, người chiếm hữu đã không còn phải chứng minh quyền của mình để được bảo vệ như ở BLDS 2005 nữa. Đây là một điểm tiến bộ rất lớn trong quy định về chiếm hữu của BLDS 2015. Ta sẽ cùng phân tích hiệu quả của sự bảo vệ này dưới góc độ người chiếm hữu và người kiện đòi khôi phục chiếm hữu.

Đối với người chiếm hữu, nhờ suy đoán ngay tình mà người chiếm hữu được nhận hoa lợi, lợi tức mà không cần chứng minh sự ngay tình của mình; được hưởng thời hiệu xác lập sở hữu mà không cần chứng minh. Đứng trước một sự xâm phạm trực tiếp vào tình trạng chiếm hữu (mà tranh chấp về cành cây vươn lấn sang không gian là một ví dụ), người chiếm hữu có thể kiện yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền buộc người xâm phạm phải chấm dứt hành vi, khôi phục tình trạng ban đầu, trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại. Đứng trước một tranh chấp về chiếm hữu, người chiếm hữu cũng được bảo vệ mà không cần chứng minh mình có quyền. Như vậy, BLDS 2015 đã bảo vệ tốt đối với người chiếm hữu.

Tuy nhiên, đối với người đi kiện đòi khôi phục chiếm hữu thì BLDS 2015 lại bày tỏ những bất cập. Như phân tích ở phần trước, người đi kiện đòi tài sản có thể tranh chấp về tình trạng, cũng có thể tranh chấp về quyền với người chiếm hữu. Tuy nhiên, dường như BLDS 2015 không cho phép người đi kiện được phát một đơn kiện để đòi khôi phục tình trạng chiếm hữu. Khoản 1 điều 166 về quyền đòi lại tài sản quy định “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật”. Như vậy, luật chỉ cho phép người có quyền được đòi lại tài sản của mình. Xét ví dụ: B ăn cắp xe máy từ A bán cho C, C ngay tình và lại bị ăn cắp chiếc xe máy đó bởi D. Như vậy, trong khi luật pháp các nước trên thế giới cho phép C kiện D để đòi khôi phục tình trạng chiếm hữu (không quan tâm đến việc C có phải là chủ sở hữu không) thì luật Việt Nam chỉ cho phép người có quyền, tức là A được phép kiện C thông qua hình thực kiện bảo vệ quyền sở hữu (vốn có nghĩa vụ chứng minh rất khó khăn).

Như vậy, chủ sở hữu nếu mất tài sản, khi đi kiện phải chứng minh mình là chủ sở hữu đích thực. Điều này là hoàn toàn không khả thi đối với thực tế hiện nay của Việt Nam, vì 2 lý do như sau:

Thứ nhất, hệ thống đăng ký quyền sở hữu của Việt Nam mới được xây dựng nên còn rất thiếu sót. Đơn cử như đối với tài sản là bất động sản, hiện nay có 2 hình thức đăng ký là đăng ký quyền sử dụng đất (sổ đỏ) và đăng ký quyền sở hữu nhà và các tài sản khác trên đất (sổ hồng), do (1) những yêu cầu ngặt nghèo về chứng minh quyền sở hữu; (2) thủ tục hành chính phức tạp; và (3) lệ phí đăng kí và tiền thuế phải đóng khi đăng ký là lớn, cho nên phần lớn các chủ sở hữu đất ở Việt Nam vẫn không đăng ký các vật quyền này.[11] Mặt khác, trong thực tế động sản phải đăng ký nhiêu lúc được chuyển giao qua rất nhiều mà không có bất kỳ sự đăng ký nào.[12]

Như vậy, các chủ sở hữu ở Việt Nam muốn chứng minh quyền của mình, không thể dễ dàng dẫn chứng bằng chứng thư đăng ký vật quyền như ở các nước tiên tiến.

Thứ hai, nếu chủ sở hữu chứng minh tư cách sở hữu của mình bằng cách lần ngược về quá khứ, thì điều này là không khả thi. Điều này lại càng đặc biệt đúng khi xét đến điều kiện kinh tế (do thương mại không có lịch sử lâu đời, cho nên việc buôn bán ở nước ta cũng rất đơn giản, việc buôn bán dựa trên niềm tin là chủ yếu cho nên không để lại nhiều giấy tờ ghi chép lại các giao dịch dân sự)[13]và điều kiện lịch sử (do trải qua chiến tranh và chia cắt cho nên các quan hệ tài sản trong xã hội bị xáo trộn rất nhiều). Cho nên, thật khó mà tin được rằng, chủ sở hữu có thể chứng minh được tư cách sở hữu của mình bằng cách lần ngược về quá khứ.

Như vậy, rõ ràng rằng BLDS 2015 đã không thể tạo điều kiện cho người đi kiện bảo vệ lợi ích của mình.

Đứng trước một tranh chấp mà ta thấy rõ ràng rằng có một người bị thiệt hại, thì dù BLDS thất bại trong việc bảo vệ người bị thiệt hại ấy, thì ta vẫn có thể đặt ra câu hỏi rằng, thực tế diễn ra như thế nào?

PGS. TS. Nguyễn Ngọc Điện cho rằng, nghĩa vụ chứng minh quyền sở hữu của người đi kiện phần chỉ là thủ tục: nhà chức tranh có thể yêu cầu người đi kiện chứng minh nguồn gốc của tài sản, nhưng người đó vẫn có thể trả lời vu vơ rằng mình không còn giấy tờ gì để chứng minh nguồn gốc của tài sản tranh chấp, thì nhà chức trách vẫn trả lại tài sản cho người đi kiện chứ không tịch thu vào công quỹ.[14]

Có rất nhiều ví dụ cho thấy rằng trong thực tế, tòa án luôn tìm cách giải quyết các vấn đề mà luật dân sự chưa giải quyết được.[15]

Tóm lại, mặc dù trong thực tế đã có những giải pháp nhất định, nhưng BLDS 2015 đã thất bại trong việc cung cấp cho người chiếm hữu một khả năng khả thi để bảo vệ tình trạng chiếm hữu của mình.

Đối với người thứ ba ngay tình, BLDS 2015 dành một sự bảo vệ rất yếu cho người thứ 3 ngay tình. Cũng theo điều 166 về quyền đòi vật, ta thấy rằng dù người chiếm hữu là ngay tình, chừng nào quyền sở hữu do thời hiệu chưa được xác lập thì kể cả khi thời dài chiếm hữu đã tương đối dài và tình trạng chiếm hữu của anh ta là ổn định, anh ta luôn có thể bị chủ sở hữu đòi lại tài sản. Về lý thuyết, một người mua một mảnh đất về xây nhà, kinh doanh buôn bán ổn định trong 29 năm, vẫn có thể bị đòi lại tài sản; một người chiếm hữu một động sản, thì sau 9 năm tình trạng chiếm hữu của anh ta vẫn bấp bênh. Đáng nói là khi anh ta bị đòi lại tài sản, anh là có một quyền lợi bị thiệt hại, thì chính anh ta lại phải tự mình tìm để kiện đòi bồi thường người đã chuyển giao tài sản cho mình bằng cách chứng minh thiệt hại và lỗi của người đó. Điều này thật là bất công đối với người thứ 3 ngay tình. Trong khi luật pháp các quốc gia khác trên thế giới quy định một thời hạn để kiện đòi tài sản, thì luật Việt Nam lại bảo vệ quyền sở hữu một cách tuyệt đối như thế. Sự bảo vệ tuyệt đối này không chỉ đem lại bất công, mà còn làm cho chủ sở hữu không có ý thức giữ gìn và bảo vệ tài sản của mình.

Như vậy, chế định bảo vệ chiếm hữu trong BLDS Việt Nam vừa khó thực thi, lại vừa bất công. Sự bảo vệ như vậy không thể nào giúp cho các mối quan hệ dân sự được vận hành một cách ổn định, gây nguy hại đến niềm tin của các chủ thể đối đối với sự bảo vệ của luật pháp, khiến cho nền kinh tế cứ vướng mắc vào tranh chấp quyền lợi mà không thể phát triển nhanh.

III. Đề xuất

1. Quy định chiếm hữu như một tình trạng

Nếu đem so sánh chế định chiếm hữu trong BLDS Việt Nam và luật Dân sự các nước trên thế giới trên 2 tiêu chí: tính chặt chẽ về mặt lý thuyết; và tính hiệu quả trong việc bảo vệ lợi ích của các chủ thể có liên quan, thì ta thấy rõ ràng rằng, Luật Dân sự Việt Nam đang thua kém rất nhiều. Nguyên do chính ở quan niệm kì lạ về chiếm hữu của các nhà lập pháp, họ không phân biệt được sự khác biệt giữa cái vỏ của mối quan hệ chiếm hữu (tình trạng) và các nội dung pháp lý của mối quan hệ đó (sở hữu).

Một biện minh được đưa ra để bảo vệ cho quan điểm xem chiếm hữu như quyền, là “bởi xưa nay đã thế rồi”. Tuy nhiên, dễ dàng phản bác biện minh trên bằng 2 lý lẽ: Một là, chế định chiếm hữu vốn không có lịch sử lâu đời trong xã hội và nền pháp lý của nước ta. Chính vì lý do đó, nhà lập pháp có một tự do tương đối rộng rãi trong việc lựa chọn lý thuyết nào về chiếm hữu là khoa học nhất để áp dụng, chứ không bị ràng buộc bởi tập quán xã hội (như luật hôn nhân gia đình là một ví dụ). Thứ hai, quan niệm về chiếm hữu như hiện nay vốn xuất phát từ trường phái Pháp luật Sô viết, vốn chịu nhiều yếu tố chính trị và triết học, mà không xuất phát từ thực tế các mối quan hệ dân sự trong xã hội như quan niệm chiếm hữu như là tình trạng (có nguồn gốc trong Luật La Mã). Vì vậy, không có lý do gì duy trì một quan niệm làm rối rắm các chế định Tài sản và không giúp bảo vệ lợi ích của các chủ thể một cách tốt đẹp hơn như trên.

2. Bảo vệ người thứ ba ngay tình một cách xứng đáng hơn

Quan niệm chiếm hữu như một tình trạng có thể dẫn tới việc, người đi kiện đòi tài sản có thể được bảo vệ tốt hơn. Tuy nhiên, cần phải bổ sung thời hiệu khởi kiện đòi tài sản, quy định kĩ hơn về các hình thức suy đoán để quyền lợi của người thứ 3 ngay tình được bảo vệ tốt hơn. Việc này giúp cho người mua có một thái độ yên tâm trong việc hành xử tài sản để khai thác tối đa các lợi ích kinh tế đến từ tài sản ấy, do vậy mà tạo tiền đề cho nền kinh tế được phát triển.[16]

3. Xây dựng hệ thống đăng ký biến động vật quyền hoàn thiện

Điều kiện cần để một quyền chủ thể được tôn trọng và được bảo đảm thực thi bằng sức mạnh của công lực là nó phải được xã hội biết đến.[17] Việc đăng ký tài sản rất quan trọng, một mặt là cơ sở để chủ sở hữu bảo vệ quyền lợi của mình và đối kháng với người thứ ba khi có tranh chấp phát sinh; mặt khác tạo điều kiện rất thuận lợi cho Toà án trong việc xác định chứng cứ để xét xử các tranh chấp.

Bộ luật dân sự cần đưa ra những nguyên tắc chung về đăng kỳ tài sản, giá trị pháp lý của việc đăng ký… Sau đó, cần ban hành Luật về đăng ký tài sản (hoặc nếu chưa có điều kiện thì trước mắt cần ban hành Luật về đăng ký bất động sản) như kinh nghiệm của Nhật Bản và nhiều nước trên thế giới.

Do đó, xây dựng một hệ thống đăng ký vật quyền và thông tin vật quyền đóng một vai trò vô cùng quan trọng, giúp bảo vệ tốt hơn quyền tài sản của các chủ thể, giải quyết tranh chấp dễ dàng và đảm bảo sự án toàn pháp lý trong các giao dịch dân sự.

Tiểu kết

Xã hội Việt Nam ngày càng phát triển, cùng với đó là biết bao nhiêu nhu cầu chính đáng được đặt ra. Thiết nghĩ rằng nhà làm luật cần phải dẹp bỏ các định kiến ý thức hệ viển vông, lắng nghe chân thành tiếng nói của xã hội, và đầu tư nhiều tâm huyết để xây dựng một bộ luật dân sự khoa học và chất lượng. Chiếm hữu và sở hữu là hai chế định vô cùng quan trọng trong luật tài sản của các quốc gia. Sự vận hành tốt đẹp của một xã hội phụ thuộc nhiều vào chất lượng của các chế định ấy.


Tài liệu tham khảo

1. Khái luận về quyền chiếm hữu (2013). Nguyễn Thị Quế Anh. Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà Nội, Tập 29.

2. Xây dựng lại chế định chiếm hữu bằng chất liệu khoa học phù hợp (2010). Nguyễn Ngọc Điện. Nghiên cứu Lập pháp, Tập 14.

3. Nguyễn Hữu Huyên, Song Huy. Bảo vệ quyền sở hữu nhìn từ góc độ luật so sánh. Bộ Tư Pháp. [Trực tuyến] 2009. http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=1239.

4. Nguyễn Ngọc Điện. Bình luận về chế định Tài sản trong BLDS 1995. 2001.

5. Đề xuất mô hình chế định tài sản cho Bộ luật Dân sự Việt Nam tương lai. Bùi Thị Thanh Hằng. 2014, Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà Nội, Tập 30.

6. Quyền sở hữu và quyền chiếm hữu – Bài học về tình huống luật xa rời thực tế. Nguyễn Ngọc Điện. Nghiên cứu lập pháp.

7. Nguyễn Ngọc Điện. Giáo trình Luật La Mã. Cần Thơ : NXB Chính trị Quốc gia, 2009.

8. —. Giáo trình Luật Dân sự – Quyển 1 – ĐH Kinh Tế Luật, ĐHQG TP.HCM. TP. HCM : NXB ĐHQG TP.HCM, 2013.

Nguồn: nguyenhuytuquan.wordpress.com


Chú thích

[1] “Ông Kawanishi, Cố vấn trưởng Dự án JICA, Công tố viên – Luật sư công Bộ Tư pháp Nhật Bản bày tỏ sự vui mừng được đóng góp vào quá trình xây dựng Bộ luật Dân sự 2015 của Việt Nam”, Xem thêm: http://www.moj.gov.vn/qt/cacchuyenmuc/ctv/news/Pages/tin-hoat-dong.aspx?ItemID=147

[2] Nguyễn Thị Quế Anh, “Khái luận về quyền chiếm hữu”, Tạp chí Khoa học ĐHQG, Luật Học, Tập 29, Số 2 (2013)

[3] Ví dụ: Điều 113 BLDS Hà Lan quy định: “A person takes possession of an asset (occupation) by gaining the actual control of the underlying thing with the intention to hold it for himself as if it belongs to his property”

[4] Nguyễn Ngọc Điện, “Xây dựng lại chế định chiếm hữu bằng chất liệu khoa học phù hợp”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 14 (2010)

[5] Nguyễn Ngọc Điện, “Xây dựng lại chế định chiếm hữu bằng chất liệu khoa học phù hợp”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 14 (2010)

[6] BLDS Pháp phân biệt giữa người chiếm hữu cho người khác và người chiếm hữu cho chính mình (chiếm hữu với danh nghĩa chủ sở hữu), theo đó thì người chiếm hữu cho người khác ngay từ đầu thì luôn được suy đoán là chiếm hữu cho người khác, trừ khi có phản chứng (Điều 2231); và người chiếm hữu cho người khác sẽ không được hưởng thời hiệu để xác lập quyền sở hữu (Điều 2236).

[7] Nguyễn Ngọc Điện, “Xây dựng lại chế định chiếm hữu bằng chất liệu khoa học phù hợp”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 14 (2010)

[8] Nguyên văn: “Good faith is presumed to be present; the absence of good faith has to be proven.”

[9] 2 loại chủ thể sau không được hưởng thời hiệu. Như vậy, quy định này có phần giống với quy định của BLDS Pháp khi phân biệt chiếm hữu cho mình (được hưởng thời hiệu) và chiếm hữu cho người khác (không được hưởng thời hiệu).

[10] “Bảo vệ quyền sở hữu dưới góc độ luật so sánh”, Nguyễn Văn Huyên

[11] Rất nhiều người dân Việt Nam sinh sống ở nông thôn không chịu kê khai đất mình đang ở để làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất (cấp bìa đỏ),  vì họ suy nghĩ rất đơn giản rằng: “đất này là đất thổ cư do cha ông để lại, cần gì phải đăng ký cho phiền phức và tốn kém!”

[12] Có một tình trạng thực tế ở Việt Nam hiện nay là có những tài sản đã bị chuyển dịch một cách bất hợp pháp qua tay nhiều người, rất khó xác định được cụ thể đã qua tay những ai. Điển hình là xe máy: tìnhtrạng mua bán trao tay không qua thủ tục sang tên trước bạ diễn ra khá phổ biến.

[13] Xem: Chương I, Phần 2 “Kinh tế sinh hoạt”, “Xã Hội Việt Nam từ sơ sử đến cận đại” – Lương Đức Thiệp, NXB Tri Thức, 2016, Hà Nội

[14] “Giáo trình Luật Dân sự – Quyển 1 – Khoa Luật, ĐH Kinh Tế – Luật, ĐHQG TP. Hồ Chí Minh”, Nguyễn Ngọc Điện chủ biên

[15] Vụ kiện đòi nhà giữa ông T và ông B tại tỉnh Tiền Giang. Vụ án có nội dung cụ thể như sau:

Ngôi nhà tại ấp 4, xã An Hữu, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang được toạ lạc trên tổng diện tích 86,12 m2 nguyên thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn B (diện tích này ông B chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Vào năm 1978, ông B cho ông Huỳnh Văn T mượn nền nhà và đất trên để ở tạm. Nay có nhu cầu sử dụng, ông B yêu cầu ông T phải trả nền nhà và đất mà ông đã cho mượn năm 1978, nhưng ông T không thực hiện.

Sau khi thụ lý và điều tra vụ việc, Toà án nhân dân huyện Cái Bè đã đưa vụ án ra xét xử và đã ra phán quyết (bản án số 129/STDS ngày 22/8/1996) với nội dung: buộc ông T phải trả cho ông B toàn bộ nền nhà trên diện tích đất 86,12m2. Ông B có trách nhiệm thanh toán lại cho ông T tiền chi phí nâng cấp nền nhà, lấp ao, xây dựng… với tổng số tiền là 3.152.920 đồng.

[16] Ví dụ: Điều 2268 BLDS Pháp quy định “Việc mua bất động sản luôn được suy đoán là ngay tình, người nào viện dẫn sự không ngay tình thì có trách nhiệm chứng mình”

[17] “Đăng ký bất động sản tại Việt Nam, các vấn đề lý luận và thực tiễn”, PGS. TS. Nguyễn Ngọc Điện, Thông tin pháp luật Dân sự, website:thongtinphapluatdansu.com.

Xác định pháp luật áp dụng đối với hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài

Hợp đồng xây dựng là một loại hợp đồng dân sự có đối tượng rất rộng và chủ thể có thể là các pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại (nhà nước, cơ quan nhà nước…). Trường hợp hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài thì việc lựa chọn pháp luật áp dụng chưa được pháp luật Việt Nam quy định một cách thống nhất.
 

1. Quyền lựa chọn luật áp dụng đối với hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài

Khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài và lựa chọn áp dụng pháp luật nước ngoài đối với hợp đồng xây dựng chỉ xảy ra khi đó là hợp đồng có yếu tố nước ngoài. Vì vậy, trước khi xem xét quyền lựa chọn áp dụng đối với hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài, cần xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng xây dựng.

1.1 Căn cứ xác định  hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài

Hợp đồng xây dựng là một loại hợp đồng dân sự khá phức tạp có đối tượng rất rộng và chủ thể có thể là các pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại (nhà nước, cơ quan nhà nước…). Hợp đồng xây dựng có bản chất là một hợp đồng dịch vụ nhằm “thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng”[1], nhưng đối tượng chịu sự tác động của dịch vụ lại thường là bất động sản. Hợp đồng dịch vụ là lĩnh vực trong đó các bên có thể tự do định đoạt nội dung của hợp đồng, cũng như cơ quan giải quyết tranh chấp và pháp luật áp dụng, nếu hợp đồng đó có yếu tố nước ngoài. Nhưng hợp đồng xây dựng lại liên quan đến bất động sản nên rất có thể quyền tự do lựa chọn pháp luật bị giới hạn, thậm chí bị triệt tiêu.
Tùy theo tiêu chí được sử dụng mà có thể phân chia hợp đồng thành các loại khác nhau[2].
Nếu dựa trên đối tượng, tính chất, nội dung của hợp đồng, đó có thể là hợp đồng tư vấn xây dựng, hợp đồng thi công xây dựng công trình, hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ, hợp đồng thiết kế và thi công xây dựng công trình, hợp đồng thiết kế và cung cấp thiết bị công nghệ, hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình, hợp đồng thiết kế – cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình, hợp đồng chìa khóa trao tay, hợp đồng cung cấp nhân lực, máy và thiết bị thi công… Nếu dựa trên hình thức giá hợp đồng, có thể chia thành hợp đồng trọn gói, hợp đồng theo đơn giá cố định, hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh, hợp đồng theo thời gian, hợp đồng theo giá kết hợp. Nếu dựa trên mối quan hệ của các bên tham gia trong hợp đồng, có thể chia thành hợp đồng thầu chính, hợp đồng thầu phụ, hợp đồng giao khoán nội bộ và hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài.
Theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 3 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng (Nghị định 37), hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài là hợp đồng “được ký kết giữa một bên là nhà thầu nước ngoài với nhà thầu trong nước hoặc chủ đầu tư trong nước”. Như vậy, căn cứnước ngoài của hợp đồng xây dựng được dựa trên quốc tịch của chủ thể. Hợp đồng xây dựng có sự tham gia của nhà thầu nước ngoài thì được coi là hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài.
Cách quy định dựa trên tiêu chí quốc tịch của nhà thầu nước ngoài là hẹp so với quy định tại khoản 2 Điều 663 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS). Cụ thể, theo quy định này, hợp đồng có thể được coi là hợp đồng có yếu tố nước ngoài nếu thỏa mãn một trong các điều kiện sau: a) Có ít nhất một bên trong hợp đồng là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; b) Các bên trong hợp đồng đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng xảy ra tại nước ngoài; c) Các bên tham gia hợp đồng là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của hợp đồng ở nước ngoài.
Có thể nói rằng, quy định của Nghị định 37 dựa trên tiêu chí quốc tịch của nhà thầu nước ngoài là quá hẹp và không phù hợp với tính chất của một số loại hợp đồng xây dựng, như hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ, hợp đồng cung cấp máy và thiết bị… Đối với các hợp đồng này, theo quy định của Nghị định 37, nếu bên cung cấp thiết bị, máy móc, công nghệ là doanh nghiệp Việt Nam thì những hợp đồng này không có yếu tố nước ngoài, nhưng theo quy định của BLDS và Luật Thương mại năm 2005 lại là các hợp đồng có yếu tố nước ngoài, nếu có sự dịch chuyển hàng hóa từ nước ngoài vào Việt Nam[3].
Theo quy định của khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, “trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn”. Trong trường hợp nêu trên, BLDS là “văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn” Nghị định 37, nên việc xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng xây dựng được dựa trên quy định của khoản 2 Điều 663 BLDS.

1.2 Khả năng lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài

Quy định của BLDS về quyền lựa chọn pháp luật được chia thành hai nhóm sau:
– Nhóm thứ nhất đặt ra nguyên tắc chung, theo đó “pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo lựa chọn của các bên” (khoản 2 Điều 664).
– Nhóm thứ hai bao gồm các quy định cho từng lĩnh vực chuyên biệt. Cụ thể, theo quy định của khoản 1 Điều 683, “các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng…”. Như vậy, cứ hợp đồng có yếu tố nước ngoài là các bên được quyền tự do lựa chọn pháp luật mà không cần phân biệt đó là hợp đồng dân sự hay hợp đồng thương mại, hợp đồng mua bán hàng hóa hay hợp đồng cung cấp dịch vụ. Ngoài ra, theo quy định của đoạn 2 khoản 1 Điều 769 BLDS năm 2005, hợp đồng được giao kết và thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam thì các bên không được phép lựa chọn áp dụng pháp luật nước ngoài, vì hợp đồng đó “phải tuân theo pháp luật Cộng hoà XHCN Việt Nam”. BLDS hiện hành đã sửa đổi quy định này. Vì vậy, chỉ cần hợp đồng có yếu tố nước ngoài là các bên có thể lựa chọn pháp luật áp dụng, mà không cần quan tâm đến việc hợp đồng đó có giao kết và thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam hay không.
Theo quy định của BLDS, các bên trong hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài có quyền lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng của mình. Tuy nhiên, quyền tự do lựa chọn pháp luật là một quyền có giới hạn[4]. Cụ thể, trong trường hợp hợp đồng có đối tượng là bất động sản, theo khoản 4 Điều 683 BLDS, “pháp luật áp dụng đối với việc chuyển giao quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản, thuê bất động sản hoặc việc sử dụng bất động sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là pháp luật của nước nơi có bất động sản”. Như vậy, ngay cả khi hợp đồng xây dựng có liên quan đến bất động sản ở Việt Nam (xây dựng một công trình chẳng hạn), nhưng không thuộc trường hợp bị giới hạn lựa chọn pháp luật áp dụng (tức liên quan đến “chuyển giao quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản, thuê bất động sản hoặc việc sử dụng bất động sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”) thì các bên vẫn được quyền lựa chọn pháp luật áp dụng.
Tuy nhiên, Điều 11 Nghị định 37 quy định, hợp đồng xây dựng “phải áp dụng hệ thống pháp luật của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và tuân thủ các quy định của Nghị định này”. Nói cách khác, các bên tham gia hợp đồng xây dựng không được quyền lựa chọn pháp luật áp dụng. Điều này mâu thuẫn với BLDS.
Ngoài ra, khoản 1 Điều 664 BLDS năm 2015 quy định: “Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo […] luật Việt Nam”. Như vậy, chỉ có văn bản luật (chứ không bao gồm văn bản dưới luật) được quy định về xác định luật áp dụng cho các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Nói cách khác, việc xác định luật áp dụng phải dựa trên văn bản luật, chứ không phải dựa trên Nghị định, là văn bản dưới luật.
Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 663 BLDS quy định: “Trường hợp luật khác có quy định về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không trái với quy định từ Điều 664 đến Điều 671 của Bộ luật này thì luật đó được áp dụng, nếu trái thì quy định có liên quan của Phần thứ năm của Bộ luật này được áp dụng”.
Quy định nêu trên trù liệu cho hai tình huống:
Thứ nhất, nếu pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định trong các luật chuyên ngành không trái với quy định của BLDS năm 2015 thì phải ưu tiên áp dụng quy định của luật chuyên ngành so với quy định của BLDS;
Thứ hai, nếu quy định của luật chuyên ngành trái với quy định của BLDS thì phải áp dụng quy định của BLDS.
Có quan điểm cho rằng, quy định như trên của BLDS năm 2015 là nhằm xây dựng BLDS thành một bộ luật gốc của hệ thống luật tư[5]. Vì vậy, việc xác định xem các bên có được quyền lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng xây dựng hay không phải dựa vào BLDS, chứ không phải dựa vào văn bản luật chuyên ngành (vì văn bản luật chuyên ngành “trái” với các quy định của BLDS).
Theo chúng tôi, hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự nên việc BLDS năm 2015 cho phép các bên trong hợp đồng được quyền lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng của mình là hợp lý. Tuy nhiên, hợp đồng xây dựng rất đa dạng về đối tượng và hình thức, nên việc cho phép các bên lựa chọn pháp luật áp dụng đối với mọi loại hợp đồng là không phù hợp với yêu cầu bảo vệ các giá trị cơ bản của hệ thống pháp luật Việt Nam. Ví dụ, việc cho phép các bên lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng xây dựng một tòa nhà tại Việt Nam là không phù hợp do hợp đồng này có liên quan đến bất động sản, vốn là một lĩnh vực thuộc chủ quyền quốc gia và pháp luật của nước nơi có bất động sản cần phải được áp dụng. Ngoài ra, hợp đồng này còn liên quan đến các quy định về tiêu chuẩn xây dựng, an toàn lao động,… nên việc cho phép các bên lựa chọn áp dụng pháp luật nước ngoài cũng là không phù hợp. Trong trường hợp này, cần phải áp dụng các quy phạm có tính chất áp dụng bắt buộc. Tòa án có thể sẽ xem xét loại trừ áp dụng pháp luật nước ngoài mà các bên lựa chọn đối với một số hợp đồng có đối tượng là bất động sản và liên quan đến các quy chuẩn xây dựng và an toàn lao động dựa trên yêu cầu về bảo vệ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 670 BLDS năm 2015[6].

2. Xác định luật áp dụng đối với hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài theo quy phạm xung đột

Trên thực tế, có thể xảy ra trường hợp các bên được quyền chọn nhưng đã không lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng của mình. Trong trường hợp này, việc xác định pháp luật áp dụng phải dựa trên các quy phạm xung đột trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc trong pháp luật Việt Nam.
Hiện nay, Việt Nam chưa tham gia bất kỳ điều ước quốc tế nào về luật áp dụng đối với hợp đồng xây dựng. Trên bình diện song phương, Việt Nam đã ký kết 17 Hiệp định tương trợ tư pháp song phương[7], trong đó 11 hiệp định được ký kết trước năm 2008 có phạm vi điều chỉnh rộng, tức điều chỉnh cả vấn đề luật áp dụng và thẩm quyền xét xử[8]. Như vậy, đối với hợp đồng xây dựng mà nhà thầu có quốc tịch của quốc gia là thành viên hiệp định, thì cần phải áp dụng dụng các quy phạm xung đột trong các hiệp định liên quan để xác định pháp luật áp dụng.
Theo quy định của khoản 1 Điều 683 BLDS, “trường hợp các bên không có thoả thuận về pháp luật áp dụng thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó được áp dụng”. Tuy nhiên, BLDS không định nghĩa thế nào là “nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng” mà sử dụng phương pháp liệt kê một số trường hợp tiêu biểu. Liên quan đến hợp đồng dịch vụ thì nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng là “Pháp luật của nước nơi người cung cấp dịch vụ cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập” (điểm b khoản 2). Như vậy, do có bản chất là hợp đồng dịch vụ, nên trong trường hợp các bên không lựa chọn pháp luật áp dụng thì pháp luật áp dụng đối với hợp đồng xây dựng sẽ là pháp luật của nước mà nhà thầu cư trú hoặc thành lập. Quy định này sẽ dẫn tới việc áp dụng pháp luật nước ngoài nếu một bên là nhà thầu nước ngoài. Nói cách khác, nhà thầu nước ngoài là nhà cung cấp dịch vụ và vì vậy pháp luật của nước của người cung cấp dịch vụ được áp dụng. Quy định này không phù hợp với tất cả các loại hợp đồng xây dựng, bởi như đã phân tích ở trên, hợp đồng xây dựng có thể có đối tượng là bất động sản trên lãnh thổ Việt Nam hoặc có liên quan đến các quy định về tiêu chuẩn xây dựng, an toàn lao động của Việt Nam nên không thể áp dụng pháp luật nước ngoài.
Vì vậy, chúng tôi cho rằng, khi giải quyết các vụ việc dân sự về hợp đồng xây dựng, Tòa án cũng cần vận dụng quy định cho phép loại trừ áp dụng pháp luật nước ngoài như đã nêu ở trên. Ngoài ra, Tòa án cũng cần vận dụng khoản 3 Điều 683 BLDS để loại trừ áp dụng pháp luật nước ngoài. “Trường hợp chứng minh được pháp luật của nước khác với pháp luật được nêu tại khoản 2 Điều này có mối liên hệ gắn bó hơn với hợp đồng thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước đó” (khoản 3 Điều 683). Nội dung của quy định này cho thấy, mặc dù pháp luật cần phải được áp dụng là pháp luật của nước mà nhà thầu có quốc tịch (theo khoản 2), nhưng pháp luật của nước đó sẽ không được áp dụng mà thay vào đó là áp dụng pháp luật Việt Nam, nếu chứng minh được rằng, hợp đồng xây dựng có mối liên hệ gắn bó hơn với Việt Nam.
Trong thời gian xa hơn, khi Việt Nam xây dựng luật tư pháp quốc tế, chúng tôi cho rằng, cần bổ sung quy định về loại trừ áp dụng pháp luật nước ngoài do phải áp dụng các quy phạm bắt buộc của nước có Tòa án xét xử vụ việc. Quy phạm bắt buộcđược quy định trong văn bản pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới và khu vực,được gọi bằng các tên khác nhau như: quy phạm mệnh lệnh hay quy phạm cảnh bị (règles impératives hay lois de police et de sûreté trong hệ thống pháp luật Pháp); quy phạm ưu tiên bắt buộc (madatory rules tại một số quốc gia thuộc Common Law và overriding mandatory provisions tại Liên minh châu Âu). Về bản chất, các quy phạm này được Tòa án áp dụng trực tiếp để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, mà không cần tính đến pháp luật được áp dụng theo sự lựa chọn của các bên hay theo sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột. Quy phạm bắt buộc sẽ giúp cho Tòa án vận dụng khi cần thiết để loại trừ việc áp dụng pháp luật nước ngoài đối với hợp đồng xây dựng mà các bên lựa chọn hoặc quy phạm xung đột của Việt Nam dẫn chiếu tới[9]./.
Bùi Thị Thúy Hà – Thị ủy Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 17/2018.


[1] Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/04/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng.
[2] Việc phân loại hợp đồng xây dựng được quy định tại Điều 3 Nghị định 37.
[3] Khoản 1 Điều 27 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu”. Điều 28 Luật Thương mại sau đó đưa ra các định nghĩa về xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa cho phép xác định rõ hơn yếu tố quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa. Cụ thể, khoản 1 quy định rằng “xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Trong khi đó, theo khoản 2, “nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Yếu tố quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện thông qua sự dịch chuyển qua biên giới của hàng hóa.
[4] Về các giới hạn của quyền lựa chọn pháp luật áp dụng, xem: Ngô Quốc Chiến, “Về điều kiện có hiệu lực của điều khoản lựa chọn pháp luật áp dụng cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 17 năm 2016.
[5] Vụ Pháp luật Quốc tế – Bộ Tư pháp, 2014, “Báo cáo Định hướng sửa đổi phần thứ Bảy BLDS năm 2005”, Tọa đàm góp ý sửa đổi BLDS, Hà Nội, 25/02/2014. Xem thêm: Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, 2015, “Báo cáo số: 3301/BC-UBPL13 ngày 17/8/2015 về Một số vấn đề lớn và dự kiến tiếp thu, giải trình về dự thảo BLDS (sửa đổi)”.
[6] Quy định rằng pháp luật nước ngoài sẽ không được áp dụng nếu “Hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”.
[7] Có thể xem danh sách và nội dung của các hiệp định này tại: https://lanhsuvietnam.gov.vn/Lists/BaiViet (truy cập ngày 16/05/2018).
[8] Đó là các hiệp định với Ba Lan, Bê-la-rút, Hungary, Bungary, Cu Ba, Lào, Mông Cổ, Nga, Tiệp Khắc (Séc và Slovakia kế thừa), Triều Tiên, Ucraina. Sáu hiệp định còn lại được ký kết sau năm 2008 và chỉ điều chỉnh vấn đề xác định thẩm quyền. Đó là các hiệp định với Pháp, Trung Quốc, Đài loan, An-giê-ri, Campuchia, Ca-dắc-xtan.
[9] Chẳng hạn, Tòa Tối cao Pháp (Cass., ch. mixte, 30 novembre 2007, Agintis et a. c. Basell, n° 06-14006) đã y chuẩn bản án của Tòa án Phúc thẩm không áp dụng pháp luật của Đức mà các bên trong hợp đồng xây dựng đã lựa chọn. Cụ thể, Công ty Basell của Pháp, chủ thầu, ký hợp đồng thầu phụ với công ty Salzgitter Anlagenbau GmbH của Đức để thực hiện việc xây dựng một nhà xưởng tại Pháp. Các bên đã thỏa thuận lựa chọn pháp luật của Đức. Thỏa thuận lựa chọn pháp luật này phù hợp với Công ước Roma năm 1980 về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng mà cả Pháp và Đức đều là thành viên. Tuy nhiên, khi tranh chấp xảy ra và được xét xử trước Tòa án Pháp, Tòa án đã không áp dụng pháp luật của Đức mà các bên đã lựa chọn, vì “liên quan đến việc xây dựng một căn nhà tại Pháp, các quy định bảo vệ nhà thầu phụ của Luật ngày 31/12/1975 về thầu phụ phải được coi là luật cảnh bị theo nghĩa của Điều 3 và Điều 7 của Công ước Roma năm 1980 về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng, và vì vậy phải được áp dụng trực tiếp”. Bản thân trong nội luật của Pháp cũng có quy định về loại trừ pháp luật áp dụng pháp luật nước ngoài do phải áp dụng quy phạm cảnh bị. Cụ thể, Cụ thể, Điều 3 BLDS 1804 quy định: “Các luật cảnh bị bắt buộc tất cả những người sống trên lãnh thổ [Pháp]. Các bất động sản, kể cả được nắm giữ bởi người nước ngoài, đều phải tuân theo pháp luật Pháp”.

Hoàn thiện Luật đất đai 2013 nhằm bảo đảm lợi ích người sử dụng đất nông nghiệp

Tính từ năm 1987 đến nay, chỉ trong vòng 30 năm, Luật Đất đai đã được sửa đổi, bổ sung 5 lần (vào các năm 1993, 1998, 2001, 2003 và 2013), trong đó, nội dung quy định về quyền sử dụng đất nông nghiệp luôn được chú trọng. Tiếp nối các Luật Đất đai năm 1993 và 2003, Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2014) đã có nhiều sửa đổi quan trọng trong chính sách pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội, thực tiễn thi hành pháp luật về đất đai luôn phát sinh những đòi hỏi sửa đổi, cải cách trong xây dựng và thi hành pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp.

1. Về hạn mức tích tụ và tập trung đất nông nghiệp

Ở Việt Nam, vấn đề hạn mức tích tụ ruộng đất và tập trung đất nông nghiệp luôn là vấn đề phức tạp, gây ra nhiều tranh cãi trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Luật Đất đai. Với tư cách là đại diện sở hữu toàn dân đối với đất đai, Nhà nước một mặt phải thúc đẩy việc tích tụ ruộng đất hợp lý để phục vụ cho sản xuất lớn1, nhưng mặt khác cũng phải ngăn chặn những hiện tượng tập trung ruộng đất một cách tiêu cực, dẫn đến độc quyền sử dụng đất đai, bóc lột người lao động, làm giảm hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (SDĐNN). Nghiên cứu pháp luật của các nước trên thế giới cho thấy, ngay cả những quốc gia thừa nhận nhiều hình thức sở hữu về đất đai (trong đó có sở hữu tư nhân) cũng vẫn xây dựng các quy định pháp luật về hạn điền, như Nhật Bản, Hàn Quốc2, những quốc gia thuộc khu vực Đông Á, có điểm tương đồng với Việt Nam là đất chật, người đông. Quỹ đất nông nghiệp hạn chế, khó có khả năng tăng thêm, và thậm chí còn phải chia sẻ cho quá trình phát triển thương mại, công nghiệp đòi hỏi các quốc gia này phải có một chế độ sử dụng đất đai hợp lý.

Ở Việt Nam, Luật Đất đai năm 1993 đưa ra quy định về hạn mức SDĐNN của cá nhân, hộ gia đình theo hướng khống chế diện tích đất tối đa mà mỗi cá nhân, hộ gia đình được phép sử dụng dưới mọi hình thức (bao gồm cả đất được giao, được nhận chuyển quyền…). Đến Luật Đất đai năm 2003, cách hiểu về hạn mức sử dụng đất được thay đổi theo hướng không hạn chế diện tích sử dụng, mà chỉ hạn chế diện tích đất được giao (hạn mức giao đất) và được chuyển nhượng, tặng cho… (hạn mức nhận chuyển quyền). Cách quy định như vậy tỏ ra linh hoạt và hợp lý hơn so với việc khống chế diện tích đất sử dụng thực tế: một cá nhân, hộ gia đình nếu như có nhu cầu sử dụng đất nhiều hơn hạn mức giao đất, sẽ phải chuyển sang thuê đất, và phải chịu nghĩa vụ tài chính với Nhà nước nặng hơn so với đất trong hạn mức. Điều đó sẽ buộc người SDĐNN phải tính toán, suy nghĩ, tìm ra giải pháp khai thác diện tích đất nông nghiệp thực sự hiệu quả, mang lại năng suất cao.

Về hạn mức giao đất nông nghiệp, Luật Đất đai năm 2013 tiếp tục kế thừa gần như toàn bộ các quy định của Luật Đất đai năm 2003. Cụ thể hơn, Điều 129 Luật Đất đai năm 2013 chỉ là kết quả của việc luật hóa các quy định của Điều 69 Nghị định 181/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003. Có khác chăng, thay vì chỉ đưa ra giới hạn trần của hạn mức giao đất và giao cho Chính phủ quy định chi tiết hạn mức giao đất với từng loại đất và từng vùng bằng Nghị định như quy định tại khoản 6 Điều 70 Luật Đất đai năm 2003 thì Luật Đất đai năm 2013 đã để Quốc hội trực tiếp quy định. Đây là điều dễ hiểu, vì sau 10  năm thi hành Luật Đất đai năm 2003, thực tiễn cho thấy, hạn mức giao đất nông nghiệp được đặt ra tại Nghị định 181/2004/NĐ-CP là phù hợp, do đó cần phải được quy định cứng trong luật như một sự đảm bảo pháp lý chắc chắn hơn cho việc giao đất nông nghiệp của Nhà nước hiện nay.

Về hạn mức nhận chuyển quyền SDĐNN, đây là bước tiến có tính đột phá của Luật Đất đai năm 2013, khi cho phép hạn mức nhận chuyển quyền SDĐNN lên đến mức không quá 10 lần hạn mức giao đất. So với quy định trong Nghị quyết 1126/2007/NQ-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, hạn mức nhận chuyển quyền SDĐNN của cá nhân, hộ gia đình đã tăng lên từ 3 đến 5 lần (tùy loại đất và tùy vùng). Điều này mở ra khả năng tích tụ ruộng đất để nâng cao trình độ canh tác và hiệu quả kinh tế. Nhằm đảm bảo sự linh hoạt của chính sách tích tụ ruộng đất, quy định về hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất trước đây do Chính phủ trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định3, nay đã được quy định khung trong Luật Đất đai năm 2013, và Quốc hội giao cho Chính phủ quy định cụ thể đối với từng vùng và từng thời kỳ.

Tóm lại, so với Luật Đất đai năm 2003, quy định về hạn mức giao đất trong Luật Đất đai năm 2013 không thay đổi về nội dung, nhưng về hình thức thể hiện thì đã có sự thay đổi lớn. Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, Quốc hội đã “thu hồi” lại thẩm quyền quy định hạn mức giao đất nông nghiệp của Chính phủ. Đây là biện pháp phù hợp, nhất là trong bối cảnh quỹ đất nông nghiệp chưa được Nhà nước giao cho cá nhân, hộ gia đình chỉ còn rất hạn chế4, trong khi đa số nông dân vẫn chưa có khả năng tiếp cận với quyền SDĐNN thông qua thị trường bất động sản (cho thuê, chuyển nhượng quyền sử dụng đất…). Hạn mức giao đất nông nghiệp (đã trải qua kiểm nghiệm thực tiễn 10  năm thi hành Luật Đất đai 2003) vẫn được giữ nguyên, song việc giao đất cần được quản lý chặt chẽ hơn, tránh sự tùy tiện. Vì vậy, cần thiết phải có chế tài mạnh dành cho cả chủ thể sử dụng đất và chủ thể có thẩm quyền giao đất, nhằm đảm bảo đất nông nghiệp được giao đúng đối tượng có nhu cầu canh tác.

2. Về thời hạn sử dụng đất nông nghiệp

Bên cạnh những thay đổi về hạn mức tích tụ ruộng đất, Luật Đất đai năm 2013 cũng có một thay đổi đáng kể liên quan đến thời hạn sử dụng đất, đó là nâng thời hạn giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối cho cá nhân, hộ gia đình trực tiếp sản xuất từ 20 lên 50 năm. Một mặt, quy định này thể hiện rõ quan điểm của Đảng trong Nghị quyết 19-NQ/TW ngày 03/10/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật về đất đai, theo đó “tiếp tục giao đất, cho thuê đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng có thời hạn theo hướng kéo dài hơn quy định hiện hành”. Mặt khác, quy định này còn đảm bảo sự bình đẳng giữa người sử dụng đất trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, làm muối với người sử dụng đất trồng cây lâu năm hay đất rừng sản xuất (đã được hưởng thời hạn sử dụng đất lên đến 50 năm từ Luật Đất đai năm 2003); cũng như giữa hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất với các tổ chức kinh tế sử dụng đất (được hưởng thời hạn sử dụng đất 50 năm, thậm chí lên đến 70 năm đối với dự án có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm, dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hay đặc biệt khó khăn). Rõ ràng, không thể chỉ căn cứ vào cách thức canh tác cây ngắn ngày hay dài ngày, hay giữa cá nhân, hộ gia đình với tổ chức kinh tế để quy định thời hạn sử dụng đất. Trong nhiều trường hợp, đầu tư vào canh tác cây hàng năm hay nuôi trồng thủy sản còn tốn kém hơn so với đầu tư cây lâu năm, do đó thời hạn sử dụng đất quá ngắn sẽ làm người nông dân hạn chế đầu tư vào đất đai, thậm chí còn có thể làm cho họ khai thác một cách quá mức dẫn đến sự kiệt quệ của đất đai. Nâng cao thời hạn sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối lên 50 năm sẽ giúp tạo tâm lý gắn bó, lâu dài cho người sử dụng, thúc đẩy việc đầu tư vào canh tác trên đất, nhằm mang lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn.

Tuy nhiên, Luật Đất đai năm 2013 vẫn còn những bất cập về vấn đề thời hạn sử dụng đất. Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, thời hạn sử dụng các nhóm đất nông nghiệp nói chung đều đã nâng lên đến 50 năm, tuy nhiên, Điều 37 vẫn giữ quy định kỳ quy hoạch là 10 năm. Điều này cho thấy, tầm nhìn quy hoạch vẫn chưa theo kịp với tốc độ phát triển của nền kinh tế, dễ dẫn đến sự mất ổn định trong sử dụng, khai thác đất đai, trong đó có đất nông nghiệp. Nhìn rộng ra, mặc dù đã được gia tăng thời hạn sử dụng đất, song ở Việt Nam hiện nay, đa số đất nông nghiệp vẫn là đất sử dụng có thời hạn. Có chuyên gia nhận định, so với đất ở, đất kinh doanh được Nhà nước công nhận là ổn định lâu dài, thì đất nông nghiệp thường chỉ có thời hạn sử dụng là 50 năm, lại bị hạn chế bởi hạn mức giao đất, nên quyền tài sản của nông hộ đối với đất nông nghiệp đang được Nhà nước bảo hộ ở mức kém hơn, dễ bị Nhà nước thu hồi hơn5. Đã xuất hiện những quan điểm cho rằng, để phù hợp với quy định pháp luật của Cộng đồng kinh tế chung ASEAN (AEC) mà Việt Nam là thành viên, nên kéo dài thời hạn SDĐNN đến 99 năm, thậm chí là vĩnh viễn6.

Từ kinh nghiệm quốc tế, cũng như những bài học của lịch sử, có thể thấy rằng, việc gia tăng thời hạn SDĐNN lên mức cao hơn so với quy định hiện hành của Luật Đất đai năm 2013 là hoàn toàn khả thi và có thể mang lại nhiều lợi ích như: thúc đẩy việc đầu tư, gia tăng giá trị sản phẩm, nâng cao hiệu quả canh tác và bồi dưỡng đất đai.

3. Về định giá đất và thu hồi đất nông nghiệp

Một trong những vấn đề nóng bỏng, nhức nhối trong suốt 10  năm thi hành Luật Đất đai năm 2003 là vấn đề định giá đất và thu hồi đất nông nghiệp. Chính cơ chế định giá đất chưa phù hợp đã góp phần tạo ra nhiều bất cập trong thu hồi đất, đặc biệt là đất nông nghiệp.

So với Luật Đất đai năm 2003, các quy định về định giá đất của Luật Đất đai năm 2013 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng, cụ thể là:

Thứ nhất, bổ sung Điều 112 quy định về các nguyên tắc định giá đất: (i) theo mục đích sử dụng đất hợp pháp tại thời điểm định giá; (ii) theo thời hạn sử dụng đất; (iii) phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường của loại đất có cùng mục đích sử dụng đã chuyển nhượng, giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với những nơi có đấu giá quyền sử dụng đất hoặc thu nhập từ việc sử dụng đất; (iv) cùng một thời điểm, các thửa đất liền kề nhau có cùng mục đích sử dụng, khả năng sinh lợi, thu nhập từ việc sử dụng đất tương tự như nhau thì có mức giá như nhau. Chính phủ quy định cụ thể các phương pháp định giá đất như phương pháp so sánh, phương pháp chiết trừ, phương pháp thu nhập, phương pháp thặng dư, phương pháp hệ số điều chỉnh và hoàn cảnh áp dụng các phương pháp7.

Thứ hai, bổ sung quy định về khung giá đất. Khung giá đất được Chính phủ ban hành định kỳ 05 năm một lần đối với từng loại đất, theo từng vùng. Trong thời gian thực hiện khung giá đất mà giá đất phổ biến trên thị trường tăng từ 20% trở lên so với giá tối đa hoặc giảm từ 20% trở lên so với giá tối thiểu trong khung giá đất thì Chính phủ điều chỉnh khung giá đất cho phù hợp.

Thứ ba, sửa đổi quy định về xây dựng bảng giá đất tại Điều 114: “Căn cứ nguyên tắc, phương pháp định giá đất và khung giá đất, UBND cấp tỉnh xây dựng và trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua bảng giá đất trước khi ban hành. Bảng giá đất được xây dựng định kỳ 05 năm một lần và công bố công khai vào ngày 01 tháng 01 của năm đầu kỳ”.

Tuy nhiên, có thể nói rằng, nhìn tổng thể, cách định giá đất theo Luật Đất đai năm 2013 vẫn chưa thể bám sát diễn biến của thị trường, do: (1) thị trường đất nông nghiệp hoạt động rất èo uột và chưa có tổ chức nên hầu như không thể thu thập được thông tin tin cậy về giá đất, ngoại trừ cách lấy giá quy định từ bảng giá đất của UBND tỉnh8; (2) quản lý nhà nước về đất đai chưa ngăn chặn được tình trạng đầu cơ, đặc biệt là đầu cơ đất nông nghiệp ở những khu vực sắp được thu hồi để xây dựng khu đô thị, khu công nghiệp… dẫn đến tình trạng bong bóng bất động sản, giá đất bị đẩy lên quá cao so với giá trị thực.

Nhìn rộng ra, các quy định về căn cứ thu hồi đất của Luật Đất đai năm 2013 dù đã thu hẹp nhiều so với Luật Đất đai 2003 nhưng vẫn đang cho phép nhiều chủ thể có thẩm quyền thu hồi đất, cũng như nhiều trường hợp thu hồi đất, đặc biệt là thu hồi đất để phục vụ phát triển kinh tế. Về việc sử dụng cơ chế thu hồi đất để thực hiện các dự án phục vụ phát triển kinh tế, có một lập luận thường được người nông dân sử dụng trong các tranh chấp đất đai diễn ra trong quá trình 10 năm thi hành Luật Đất đai năm 2003 là: nếu như Nhà nước thu hồi đất để xây dựng các công trình công cộng, vì lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng như trường học, bệnh viện, nghĩa trang, doanh trại bộ đội… thì người dân sẵn sàng chấp hành quyết định thu hồi, sẵn sàng nhận tiền đền bù theo khung giá Nhà nước quy định. Nhưng nếu như Nhà nước thu hồi đất để giao cho doanh nghiệp xây dựng khu đô thị, nhà chung cư… thì người dân phải được đền bù theo giá thỏa thuận với doanh nghiệp. Nhà nước chỉ có thể đứng ra làm trung gian đàm phán, chứ không thể dùng quyền lực nhà nước để áp đặt, gây thiệt thòi cho người dân. Dĩ nhiên, lập luận này chỉ nên được xem như một nguyên tắc chung của Luật Đất đai, và có thể xây dựng một số ngoại lệ nhất định. Nhưng khi nhìn lại những tranh chấp đất đai nóng bỏng trong thời gian vừa qua, không thể không thấy sự cần thiết phải sửa đổi lại các quy định về căn cứ thu hồi đất của Luật Đất đai năm 2013, theo hướng hạn chế, tiến tới chấm dứt việc thu hồi đất để thực hiện dự án phục vụ phát triển kinh tế – nguyên nhân chính dẫn đến đa số các tranh chấp về đất đai giữa người nông dân với Nhà nước.

Trong quá trình thu hồi đất nông nghiệp, cũng cần đặc biệt chú ý đến chuyển đổi việc làm và tái định cư cho người nông dân. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, cứ mỗi ha đất bị thu hồi sẽ làm 10 lao động nông thôn mất việc làm. Mỗi năm có khoảng 73,3 ngàn ha đất nông nghiệp bị thu hồi, nghĩa là chừng 70 vạn lao động nông nghiệp phải thay đổi việc làm9. Đây là một vấn đề cần đặc biệt chú ý trong quá trình thu hồi đất. Ngay cả khi đền bù cho người nông dân một số tiền lớn, mà không chú trọng việc chuyển đổi việc làm cho họ, sẽ dễ dẫn đến những tệ nạn, bất ổn xã hội ở chính những gia đình vừa được đền bù.

Qua phân tích trên, có thể thấy rằng: để chính sách pháp luật về quyền SDĐNN có thể thực sự đi vào đời sống và phát huy hiệu quả, rất cần những biện pháp đồng bộ, nhằm tăng cường sự bảo hộ của Nhà nước đối với đất nông nghiệp, cũng như gia tăng địa vị pháp lý của người SDĐNN trong một thị trường đất đai cởi mở và minh bạch. Theo chúng tôi, cần thiết phải lưu ý đến các biện pháp:

Thứ nhất, cần từng bước mở rộng hạn mức tích tụ đất nông nghiệp theo hướng gia tăng hạn mức nhận chuyển quyền SDĐNN.

Thứ hai, cần tăng thêm thời hạn SDĐNN, chú trọng xây dựng các quy hoạch dài hạn để bảo đảm sử dụng ổn định, lâu dài cho người SDĐNN.

Thứ ba, sửa đổi, bổ sung các quy định, cơ chế định giá đất nông nghiệp, hạn chế các trường hợp thu hồi đất không vì lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng. Trao thêm cho người nông dân quyền được đàm phán, thương lượng giá đất với chủ đầu tư dự án phát triển kinh tế, hướng tới xây dựng thị trường đất nông nghiệp rộng rãi, lành mạnh và minh bạch./.

NCS Nguyễn Thành Luân – Trường Đại học Luật Hà Nội
Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 17/2018.


1 Điều này cũng phù hợp với quan điểm của Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020 tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI: “Khuyến khích tập trung ruộng đất, phát triển trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp phù hợp về quy mô và điều kiện của từng vùng”.
2 Nguyễn Thị Kiều Oanh, Về hạn mức đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân theo dự thảo Luật Đất đai sửa đổi, Tạp chí Khoa học Pháp lý, Số Đặc san 01/2013.
3 Khoản 3, Điều 71 Luật Đất đai năm 2003.
4 Quyết định số 2282/QĐ-BTNMT ngày 08/12/2011 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về phê duyệt và công bố kết quả kiểm kê diện tích đất đai tính đến ngày 01/01/2011 xác định: 25,07 triệu ha đất nông nghiệp trên tổng số 26,23 triệu ha đất nông nghiệp trên cả nước đã được giao cho các đối tượng sử dụng (chiếm 95,6%).
5 Phạm Duy Nghĩa, Giáo trình Luật Kinh tế, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 119-120.
6 Trần Thị Cúc, Nguyễn Phúc Thiện, Bảo đảm thực thi quyền SDĐNN trong quá trình hội nhập quốc tế, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 06/2016.
7 Điều 4, Điều 5 Nghị định số 44/2014/NĐ-CP.
8 Trần Thị Minh Châu, Chính sách đất nông nghiệp ở Việt Nam, Tạp chí Cộng sản số 06/2011.
9 Phạm Thu Thủy, Những vấn đề đặt ra thực tiễn áp dụng pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 03/2014.

Các loại nguồn của pháp luật Việt Nam hiện nay

“Nguồn của pháp luật là tất cả các căn cứ được các chủ thể có thẩm quyền sử dụng làm cơ sở để xây dựng, ban hành, giải thích pháp luật cũng như để áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực tế”[1].

Nguồn của pháp luật bao gồm: nguồn nội dung và nguồn hình thức; nguồn chủ yếu (nguồn cơ bản) và nguồn thứ yếu, tùy vào căn cứ phân biệt. Khi xem xét về nguồn của pháp luật Việt Nam hiện nay, cần phải quan tâm cả nguồn nội dung và nguồn hình thức của nó, trong đó, “nguồn nội dung của pháp luật là xuất xứ, là căn nguyên của pháp luật bởi vì nó được các chủ thể có thẩm quyền dựa vào đó để xây dựng, ban hành và giải thích pháp luật”[2]; “nguồn hình thức của pháp luật được hiểu là phương thức tồn tại của các quy phạm pháp luật trong thực tế hay là nơi chứa đựng, nơi có thể cung cấp các quy phạm pháp luật, tức là những căn cứ mà các chủ thể có thẩm quyền dựa vào đó để giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực tế”[3]. Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ có tính chất tương đối.

1. Một số nguồn nội dung của pháp luật Việt Nam

Đường lối, chính sách của Đảng

Đường lối, chính sách của Đảng được coi là nguồn nội dung của pháp luật bởi vì chúng định ra mục tiêu, phương hướng phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong một giai đoạn nhất định cũng như những phương pháp, cách thức cơ bản để thực hiện những mục tiêu, phương hướng này. Và những mục tiêu, phương hướng, phương pháp và cách thức đó sẽ được Nhà nước thể chế hoá thành pháp luật và tổ chức thực hiện trong thực tế. Nội dung các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), từ Hiến pháp, luật cho đến các văn bản dưới luật đều phải phù hợp, không được trái với đường lối, chính sách của Đảng. Về mặt lý luận, đường lối, chính sách của Đảng chỉ có thể là nguồn nội dung mà không thể là nguồn hình thức của pháp luật; song, trong thực tế có lúc nó cũng được coi là nguồn hình thức của pháp luật như việc áp dụng thẳng Nghị quyết 10 và Chỉ thị 100 của Đảng về khoán sản phẩm trong nông nghiệp ở một số địa phương trước đây. Nói chung, việc áp dụng thẳng đường lối, chính sách của Đảng vào các lĩnh vực của xã hội là một hạn chế cần khắc phục, vì về mặt nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng chỉ có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện nghiêm chỉnh đối với các đảng viên và các tổ chức đảng. Và dĩ nhiên, đường lối, chính sách đó chỉ có thể có giá trị bắt buộc phải tôn trọng và thực hiện đối với toàn xã hội khi nó được Nhà nước thể chế hoá thành pháp luật.

Nhu cầu quản lý kinh tế – xã hội của đất nước

Đây cũng là một trong những nguồn nội dung quan trọng của pháp luật, một trong những cơ sở để xây dựng, ban hành pháp luật. Để tổ chức, quản lý và điều hành nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước phải ban hành các quy định pháp luật cụ thể nhằm xây dựng đồng bộ các loại thị trường (thị trường lao động, thị trường hàng hoá, thị trường bất động sản, thị trường tài chính…); cụ thể hoá các chính sách tài chính, thuế, tiền tệ, giá cả, đầu tư, thu nhập…; sắp xếp, cơ cấu lại các ngành kinh tế, điều chỉnh các quan hệ kinh tế theo chiều hướng mà Nhà nước mong muốn, chiều hướng vừa thúc đẩy sự tăng trưởng, vừa bảo đảm sự cân đối và ổn định của nền kinh tế – xã hội.

Các tư tưởng, học thuyết pháp lý

Các tư tưởng, học thuyết pháp lý cũng có thể trở thành nguồn nội dung của pháp luật. Chẳng hạn, theo Điều 2 của Hiến pháp hiện hành của nước ta thì, “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Quy định này của Hiến pháp được xây dựng trên cơ sở sự kế thừa tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; tư tưởng chủ quyền nhân dân; tư tưởng nhà nước pháp quyền và tiếp nhận các yếu tố hợp lý của học thuyết phân chia quyền lực nhà nước.

2. Các loại nguồn hỗn hợp

Bên cạnh các nguồn nội dung kể trên, còn có các nguồn vừa là nguồn nội dung, vừa là nguồn hình thức của pháp luật. Đó là các nguồn cơ bản sau:

Các nguyên tắc chung của pháp luật

Đây là những nguyên lý, những tư tưởng cơ bản làm cơ sở cho toàn bộ quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật trong thực tế. Có những nguyên tắc chỉ là nguồn nội dung của pháp luật. Chẳng hạn, theo Điều 8 của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì, “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự …”. Quy định này xuất phát từ một nguyên tắc chung của pháp luật là không ai bị coi là có tội nếu tội đó không được quy định trong luật hình. Hoặc quy định của Điều 130 của Hiến pháp năm 1992 rằng, “khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là xuất phát từ nguyên tắc bảo đảm tính độc lập của toà án.

Song, có những nguyên tắc vừa là nguồn nội dung, vừa là nguồn hình thức của pháp luật. Ví dụ, nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc này được coi là nguồn nội dung của pháp luật vì các quy định của pháp luật trong nhiều lĩnh vực được ban hành ra nhằm thực hiện các chính sách xã hội của Nhà nước phục vụ cho sự phát triển tự do, toàn diện của mỗi cá nhân, bảo đảm công bằng xã hội, xoá đói, giảm nghèo… Với tư cách là nguồn hình thức của pháp luật, nguyên tắc này đòi hỏi khi xác định mức bồi thường thiệt hại xảy ra trong thực tế phải tuỳ từng trường hợp cụ thể của nạn nhân và của người gây thiệt hại, có trường hợp chỉ yêu cầu bồi thường những thiệt hại trực tiếp; song, có trường hợp lại phải yêu cầu bồi thường cả những thiệt hại trực tiếp lẫn những thiệt hại gián tiếp.

Văn bản quy phạm pháp luật

Đây là loại nguồn hình thức chủ yếu, cơ bản và quan trọng nhất của pháp luật, bởi lẽ, các cơ quan nhà nước ở Việt Nam khi giải quyết các vụ việc pháp lý thực tế thuộc thẩm quyền của mình đều chủ yếu dựa vào các VBQPPL. VBQPPL là văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung được Nhà nước bảo đảm thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

VBQPPL ở nước ta bao gồm nhiều loại với giá trị pháp lý cao, thấp khác nhau. Đứng đầu thang bậc giá trị pháp lý trong hệ thống VBQPPL là Hiến pháp, đạo luật gốc, luật cơ bản của Nhà nước. Tiếp đó là các đạo luật và các nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội,…

VBQPPL được hình thành do kết quả của hoạt động xây dựng pháp luật, thể hiện trí tuệ của tập thể nên tính khoa học tương đối cao. Các quy định của nó được trình bày thành văn nên thường rõ ràng, cụ thể, bảo đảm có thể được hiểu và được thực hiện thống nhất ở phạm vi rộng; nhờ vậy, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc đáp ứng các yêu cầu cơ bản của nguyên tắc pháp chế. Hơn nữa, VBQPPL cũng có thể đáp ứng được kịp thời các yêu của cuộc sống nên nó được coi là loại nguồn hình thức cơ bản, chủ yếu và quan trọng nhất của pháp luật nước ta hiện nay. Tuy nhiên, VBQPPL không phải là loại nguồn hình thức duy nhất của pháp luật bởi VBQPPL vẫn có những điểm hạn chế nhất định cần được khắc phục như: các quy định của nó thường mang tính khái quát cao nên nhiều khi không dự kiến được hết các tình huống, điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra trong cuộc sống để điều chỉnh, vì thế có thể dẫn đến tình trạng thiếu pháp luật hoặc tạo ra những lỗ hổng, khoảng trống trong pháp luật. VBQPPL có tính ổn định tương đối cao nên nhiều khi kém linh hoạt hơn các nguồn khác. Quy trình xây dựng và ban hành VBQPPL cũng lâu dài và tốn kém hơn một số nguồn khác.

VBQPPL không chỉ là nguồn hình thức mà còn có thể là nguồn nội dung của pháp luật, bởi, nếu xét về nội dung thì các quy định trong các văn bản có giá trị pháp lý cao hơn lại có thể trở thành nguồn nội dung cho các văn bản có giá trị pháp lý thấp hơn. Chẳng hạn, các quy định của Hiến pháp là nguồn nội dung của tất cả các VBQPPL khác vì các quy định trong các văn bản ấy được xây dựng, ban hành dựa trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, trong nhiều trường hợp là sự cụ thể hoá, chi tiết hoá nhằm thực hiện Hiến pháp trong thực tế… Hoặc một đạo luật nào đó có thể trở thành nguồn nội dung cho các nghị định hướng dẫn thi hành nó.

Các điều ước quốc tế

“Theo cách tiếp cận của Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc tế ký kết giữa các quốc gia và các quy định của luật quốc tế hiện hành thì điều ước quốc tế được xác định là thoả thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và các chủ thể luật quốc tế và được luật quốc tế điều chỉnh, không phụ thuộc vào việc thoả thuận đó được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hay hai hoặc nhiều văn kiện có quan hệ với nhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của những văn kiện đó”[4]. Nói chung, các điều ước quốc tế do Việt Nam ký kết, phê chuẩn hoặc gia nhập thực tế vừa là nguồn nội dung, vừa là nguồn hình thức của pháp luật nước ta. Nó là nguồn nội dung trong trường hợp các quy định của nó được chuyển hóa thành các quy định trong các VBQPPL. Ví dụ, việc chúng ta gia nhập Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) đã dẫn đến việc ban hành Luật Bình đẳng giới trong đó có nhiều nội dung là sự cụ thể hóa các quy định của Công ước này. Nhiều quy định của các điều ước quốc tế khác đã được chuyển hóa thành các quy định trong các đạo luật của Việt Nam, nhất là khi chúng ta đã gia nhập WTO.

Điều ước quốc tế trở thành nguồn hình thức của pháp luật trong trường hợp nó được áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần vào việc giải quyết các vụ việc xảy ra trong thực tế. Việc áp dụng này đã được thừa nhận trong Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 của nước ta.

Nói chung, trong lĩnh vực luật quốc tế thì điều ước quốc tế là nguồn cơ bản, chủ yếu và quan trọng nhất. Còn đối với pháp luật quốc gia, vai trò của điều ước quốc tế ngày càng quan trọng và có vị thế ngày càng cao hơn, nhất là trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay. Điều đó được thể hiện rõ trong các quy định được nêu trong nhiều VBQPPL hiện hành của nước ta là: “Trong trường hợp điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của văn bản này thì tuân theo các quy định của điều ước quốc tế đó”.

Phong tục tập quán

Có nhiều quan niệm khác nhau về phong tục tập quán, song dưới góc độ coi nó là một dạng quy phạm xã hội thì có thể hiểu phong tục tập quán là những cách ứng xử hay những thói quen ứng xử hoặc những quy tắc xử sự chung được hình thành một cách tự phát trong một cộng đồng dân cư nhất định, được bảo đảm thực hiện bằng thói quen, bằng sức thuyết phục của chúng, bằng dư luận xã hội và có thể bằng cả một số biện pháp cưỡng chế phi nhà nước.

Theo Từ điển Black’s Law thì tập quán (custom) là “thực tế mà bằng sự thừa nhận chung và lâu dài đối với nó, thói quen không thay đổi đã trở thành có hiệu lực như pháp luật”[5]. Sau đó, Từ điển này đề cập đến một số loại tập quán như: tập quán thông thường là một tập quán chỉ được thực hiện trực tiếp thông qua sự môi giới của các sự thoả thuận để nó được chấp nhận và được làm theo trong trường hợp cá biệt của cá nhân như là pháp luật thông thường giữa các bên trong những thoả thuận này – cũng còn được gọi là phong tục; tập quán chung có hai nghĩa, một là một tập quán thịnh hành khắp đất nước và tạo nên một trong các nguồn của pháp luật của đất nước, hai là một tập quán mà được công nhận và tuân theo trong thương mại; tập quán pháp luật là tập quán được thực hiện như là một quy định bắt buộc của pháp luật, không phụ thuộc vào một thoả thuận nào của các chủ thể liên quan đến nó – thường là sự thu hẹp của tập quán; tập quán địa phương là tập quán chỉ thịnh hành ở một số địa phương nhất định như là một thành phố hoặc một tỉnh và tạo thành nguồn của pháp luật chỉ trong địa phương đó – cũng còn được gọi là tập quán đặc biệt, tập quán riêng biệt. Từ điển này còn đề cập đến cụm từ tập quán và phong tục (custom and usage) và giải thích đó là những quy định, những thực tiễn chung đã được công chúng công nhận thông qua thói quen không thay đổi và thói quen chung.

Theo quan niệm trên thì tất cả các loại tập quán như tập quán thông thường, tập quán chung, tập quán pháp luật và tập quán địa phương đều có thể trở thành nguồn của pháp luật.

Phong tục tập quán vừa có thể là nguồn nội dung, vừa có thể là nguồn hình thức của pháp luật. Những phong tục tập quán tiến bộ, tốt đẹp, phù hợp với ý chí của Nhà nước, được Nhà nước thừa nhận sẽ trở thành nguồn nội dung của pháp luật. Ví dụ, việc Nhà nước thừa nhận phong tục ăn Tết Nguyên đán, phong tục Giỗ tổ Hùng Vương ngày 10 tháng 3 âm lịch đã dẫn đến quy định cho phép người lao động, cán bộ, công chức, học sinh, sinh viên… được nghỉ làm việc, học tập trong những ngày này.

Ngoài ra, trong một số lĩnh vực, các quy tắc và quan niệm đạo đức chính thống, các truyền thống tốt đẹp của dân tộc cũng có thể trở thành nguồn nội dung của pháp luật. Các quy định về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con cái, của ông bà và các cháu, của vợ và chồng, của các thành viên khác trong gia đình với nhau trong pháp luật hôn nhân và gia đình là sự thể chế hóa các quan niệm đạo đức truyền thống, là sự thừa nhận các quy tắc đạo đức thịnh hành trong xã hội;…

Ngược lại, có những phong tục tập quán cổ hủ, lạc hậu, phản tiến bộ khiến Nhà nước ban hành VBQPPL nhằm xóa bỏ, loại trừ dần chúng khỏi đời sống xã hội. Ví dụ, sự tồn tại của phong tục đốt pháo gây lãng phí tiền bạc, tai nạn thương tâm dẫn đến việc Nhà nước ban hành quy định cấm sản xuất và đốt pháo để loại trừ phong tục này.

   Phong tục tập quán là nguồn hình thức của pháp luật trong những trường hợp nó được áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc xảy ra trong thực tế. Việc thừa nhận phong tục tập quán là nguồn hình thức của pháp luật đã được thể hiện cụ thể trong một số đạo luật của nước ta. Ví dụ, Điều 3 Bộ luật Dân sựnăm 2005 quy định: “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thoả thuận thì có thể áp dụng tập quán;… Tập quán… không được trái với những nguyên tắc quy định trong Bộ luật này”; hoặc theo Điều 6 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì, “trong quan hệ hôn nhân và gia đình, những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với những nguyên tắc quy định tại Luật này thì được tôn trọng và phát huy”.

Trong loại nguồn này còn bao gồm cả các tập quán quốc tế đã được thừa nhận và áp dụng tại Việt Nam như các tập quán thương mại quốc tế.

Nói chung, phong tục tập quán chỉ được coi là nguồn thứ yếu của pháp luật Việt Nam bởi các quy định của nó chủ yếu tồn tại dưới dạng bất thành văn nên thường chỉ được hiểu một cách ước lệ, thiếu rõ ràng, cụ thể, khó bảo đảm cho việc hiểu và áp dụng thống nhất trong phạm vi rộng. Song, ưu điểm của phong tục tập quán là hình thành từ thực tiễn cuộc sống, từ những thói quen ứng xử hàng ngày nên rất gần gũi với nhân dân và thường được nhân dân tự giác thực hiện. Vì vậy, phong tục tập quán có thể góp phần bổ sung cho chỗ thiếu của pháp luật, khắc phục những lỗ hổng của pháp luật nên cần được tiếp tục sử dụng cùng với các VBQPPL. Điều cần thiết hiện nay là phải có hình thức xác định cụ thể những tập quán được Nhà nước thừa nhận để bảo đảm cho việc áp dụng pháp luật được thống nhất và bảo đảm công bằng xã hội.

Trên đây là các loại nguồn đã được chính thức thừa nhận trong pháp luật và trong thực tế ở nước ta. Ngoài ra, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 còn nêu “nghiên cứu về khả năng khai thác, sử dụng án lệ,… và quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp, góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật”. Theo tinh thần của Nghị quyết này, thì trong tương lai, pháp luật Việt Nam có thể có thêm hai nguồn sau:

Án lệ hay các quyết định, bản án của tòa án

Theo Từ điển Black’s Law thì, án lệ (precedent) có hai nghĩa:

“Một là sự làm luật bởi toà án trong việc nhận thức và áp dụng những quy định mới trong khi thi hành công lý. Hai là một vụ việc đã được quyết định mà cung cấp cơ sở để quyết định cho những vụ việc sau liên quan đến các sự kiện hoặc vấn đề tương tự.

Trong pháp luật, án lệ là một vụ việc đã được xét xử hoặc quyết định của toà án được xem như sự cung cấp quy định hoặc quyền lực cho quyết định của một vụ việc giống hoặc tương tự xảy ra về sau, hoặc cho một vấn đề tương tự của pháp luật, hoặc khi nếu các sự kiện là khác nhau thì nguyên tắc chi phối vụ việc đầu tiên có thể áp dụng được cho các sự kiện khác nhau chút ít.

Một án lệ là một quyết định của toà án chứa đựng trong nó một nguyên tắc. Nguyên lý cơ bản giống như mẫu mà phần có căn cứ đích xác của nó thường được gọi là nguyên tắc pháp lý cho một phán quyết trong một trường hợp cụ thể. Một quyết định cụ thể là bắt buộc đối với các bên, nhưng nó là bản tóm tắt của nguyên tắc pháp lý cho một phán quyết trong một trường hợp cụ thể mà chỉ có nó có hiệu lực pháp luật.

Cũng có thể nói một cách khái quát là, một vụ việc trở thành án lệ vì quy định chung như vậy là cần thiết đối với quyết định thực tế có thể được đưa ra là sự biến dạng trong những trường hợp phụ.

Thường cũng có thể chấp nhận, tôn trọng một án lệ không phải bởi nó bao quát một logic ổn định mà bởi từ các phần của nó có thể nảy sinh ra ý tưởng về mẫu mới của quyết định”[6].

Từ điển này còn giải thích: án lệ bắt buộc là án lệ mà toà án bắt buộc phải tuân theo, ví dụ, toà án cấp thấp hơn bị giới hạn bởi một cách áp dụng của một toà án cấp cao hơn trong một vụ xét xử tương tự. Án lệ để giải thích là án lệ chỉ có thể được áp dụng cho một quy định pháp luật hiện đã có rồi. Án lệ gốc là án lệ tạo ra và áp dụng một quy định mới của pháp luật. Án lệ có sức thuyết phục là một án lệ mà toà án có thể hoặc là tuân theo hoặc là từ chối, nhưng điều khoản của nó phải được tôn trọng và cân nhắc cẩn thận.

Từ quan niệm trên, có thể hiểu án lệ là quyết định hoặc lập luận, nguyên tắc hoặc sự giải thích pháp luật do toà án đưa ra khi giải quyết một vụ việc cụ thể được nhà nước thừa nhận làm mẫu hoặc làm cơ sở để toà án dựa vào đó đưa ra quyết định hoặc lập luận để giải quyết vụ việc khác xảy ra về sau có nội dung hoặc tình tiết tương tự. Án lệ được coi là nguồn của pháp luật cũng bao gồm nhiều loại như: án lệ bắt buộc, án lệ để giải thích, án lệ gốc.

Án lệ là loại nguồn rất quan trọng của pháp luật ở các nước thuộc hệ thống thông luật. Nó có một số ưu điểm sau: đề cập đến các vụ việc đã xảy ra trong thực tế mà không phải là những giả thuyết có tính lý luận về những tình huống có thể xảy ra trong tương lai, vì vậy, nó thường phong phú và đa dạng hơn pháp luật thành văn; góp phần bổ sung cho những thiếu sót, những lỗ hổng của pháp luật thành văn và khắc phục được tình trạng thiếu pháp luật; tạo điều kiện cho việc áp dụng pháp luật được dễ dàng, thuân lợi hơn. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, án lệ vẫn chưa được thừa nhận một cách chính thức; song, nếu theo tinh thần của Nghị quyết số 48 thì trong tương lai gần, án lệ có thể được coi là một trong các nguồn hình thức của pháp luật nước ta. Vấn đề cần phải nghiên cứu ở nước ta hiện nay là những bản án loại nào và của toà nào có thể trở thành án lệ? Chủ thể, nguyên tắc, trình tự, thủ tục thừa nhận nó ra sao? Nếu một bản án được thừa nhận là án lệ thì phần nào trong bản án sẽ bị bắt buộc phải tuân theo hoặc phải tôn trọng? Đây là những câu hỏi mà các nhà chuyên môn, các nhà hoạt động thực tiễn phải trả lời. Theo chúng tôi, đó nên là các bản án của Toà án nhân dân tối cao.

Quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp

Loại nguồn dự kiến này mới chỉ được đề cập đến trong Nghị quyết số 48 nói trên mà dường như chưa có tiền lệ ở Việt Nam và cũng chưa được thừa nhận chính thức về mặt Nhà nước. Chỉ mới có quy định của các tổ chức chính trị – xã hội là đã được thừa nhận một cách gián tiếp trong một số văn bản. Ví dụ, Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung năm 2003) đã thừa nhận một cách gián tiếp rằng quy định của các tổ chức chính trị – xã hội cũng có thể được thừa nhận là một trong các nguồn hình thức của pháp luật thông qua việc thừa nhận những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ, người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội cấp xã… cũng là cán bộ, công chức. Theo đó, những cán bộ, công chức thuộc loại này nếu vi phạm kỷ luật của các tổ chức đó thì khi xử lý họ, quy định của các tổ chức đó cũng sẽ được viện dẫn và áp dụng.

Đối với các quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp thì vấn đề cần làm sáng tỏ cả về mặt lý luận và thực tiễn là quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp nào có thể được thừa nhận là một trong các loại nguồn của pháp luật? Đó là những quy tắc điều chỉnh những quan hệ xã hội nào, về những vấn đề gì? Nói chung, đây là vấn đề khá mới mẻ, cần phải được cân nhắc cẩn thận trước khi quyết định thừa nhận nó là một trong các loại nguồn của pháp luật nước ta.

Bài viết được đăng tải trên Tạp chí nghiên cứu Lập pháp số 12 (128) tháng 8/2008


Chú thích:

[1],2,3 TS. Nguyễn Thị Hồi, Về khái niệm nguồn của pháp luật, Tạp chí Luật học, số 2/2008, tr. 29, 30.

[4] Xem: Giáo trình Luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,  2004, tr. 26.

[5] Black/s Law Dictionary. Seventh Edition. Bryan A, Garner. Editor in Chief. ST. Paul, Minn., 1999, tr. 390.

[6] Black/s Law Dictionary. Seventh Edition. Bryan A, Garner. Editor in Chief. ST. PAUL, MINN., 1999, tr. 1195.