Quyền được sống trong môi trường trong lành – Những vấn đề pháp lý và thực tiễn
Điều 43 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người đều có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”. Điều này có nghĩa là quyền được sống trong môi trường trong lành là một quyền hiến định ở Việt Nam. Việc ghi nhận này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nhận thức về quyền con người, thiết lập cơ sở pháp lý cao nhất cho những hành động bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành ở Việt Nam. Tuy nhiên, việc đảm bảo thực thi quyền hiến định này cũng đối mặt với các thách thức to lớn cả ở khía cạnh pháp lý và thực tiễn.

Bài viết này cung cấp những thông tin khái quát về quyền được sống trong môi trường trong lành cũng như việc hiến định quyền này trên thế giới và Việt Nam, đồng thời phân tích những thách thức về mặt pháp lý và thực tiễn cho việc đảm bảo quyền này ở Việt Nam với tư cách là quyền hiến định.

1. Quyền được sống trong môi trường trong lành – một số vấn đề khái quát

Quyền con người nói chung được phát triển cùng với sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội. Cho đến giữa thế kỷ 20, quyền được sống trong môi trường trong lành là một khái niệm mang tính lý thuyết, thậm chí còn được coi là quá khích[1]. Tuy nhiên, cho đến nay, nó đã được thừa nhận rộng rãi như một nội dung cơ bản của quyền con người.

Quyền con người được sống trong môi trường trong lành (human right to healthy environment) là một phần của nhóm quyền con người liên quan đến môi trường. Nội dung của quyền này là tất cả phụ nữ, nam giới, thanh niên và trẻ em đều có quyền được hưởng một môi trường trong lành và an toàn, và được hưởng những quyền cơ bản liên quan tới hoặc phụ thuộc vào việc có một môi trường trong lành[2].

Mặc dù nhận thức về quyền này còn có những tranh luận, thực tế là quyền được sống trong môi trường trong lành đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện, công ước quốc tế quan trọng về quyền con người.[3] Chẳng hạn, Tuyên ngôn về nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1948 ghi nhận “Tất cả mọi người, với tư cách là thành viên trong xã hội, … đều được hiện thực hoá… các quyền về kinh tế, văn hoá, xã hội thiết yếu đối với nhân phẩm của mình… Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống đảm bảo về sức khoẻ và phúc lợi…”[4].
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua bởi Nghị quyết số 2200A (XXI) ngày 16/12/1966 và có hiệu lực ngày 3/1/1976 ghi nhận “Các quốc gia… ghi nhận quyền của tất cả mọi người được thụ hưởng ở mức cao nhất có thể đạt được về sức khoẻ thể chất và tinh thần … Một trong những bước… để đạt được điều này… bao gồm … cải thiện tất cả các mặt của vệ sinh môi trường và công nghiệp”[5].

Các quy định này đều thể hiện những cách diễn đạt khác nhau về quyền của tất cả mọi người được sống trong môi trường trong lành và trách nhiệm của các quốc gia trong việc đảm bảo các quyền này.

Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên của Liên hợp quốc tổ chức về môi trường sống của con người (United Nations Conference on the Human Environment) tại Stockhom, Thuỵ Điển từ ngày 5-16/6/1972 cũng đưa ra Tuyên bố Stockholm với 26 nguyên tắc liên quan đến môi trường và phát triển và một Chương trình hành động với 109 khuyến nghị nêu ra những những vấn đề cơ bản của mối quan hệ giữa con người và môi trường[6]. Nguyên tắc 1 của Tuyên bố này nói rằng: Được hưởng tự do, bình đẳng và điều kiện sống đầy đủ, trong một môi trường có chất lượng phù hợp với phẩm giá và phúc lợi là một trong những quyền cơ bản của con người[7]. Đây được xem là văn bản đầu tiên ghi nhận một cách rõ ràng quyền của con người được sống trong môi trường trong lành[8].
Quyền con người được sống trong môi trường trong lành có mối quan hệ chặt chẽ với yêu cầu về bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường xuất phát từ yêu cầu bảo vệ các điều kiện sống của con người, không chỉ cho hiện tại mà cho cả các thế hệ tương lai. Trong nội dung hoạt động bảo vệ môi trường, bảo vệ chất lượng của các thành phần môi trường như đất, nước, không khí là những nội dung quan trọng. Kết quả của các hoạt động này cũng chính là việc người dân được sống trong môi trường trong lành. Do vậy, việc đảm bảo thực thi quyền con người được sống trong môi trường trong lành phải được thực thi thông qua các hoạt động bảo vệ môi trường.

2. Quyền được sống trong môi trường trong lành trong pháp luật các quốc gia

Ở bình diện quốc gia, số lượng các quốc gia ghi nhận quyền được sống trong môi trường trong lành đã vượt qua con số 100. Tính đến năm 2012, có 177 trong số 193 quốc gia thành viên của Liên hợp quốc công nhận quyền này. Việc ghi nhận này có thể thông qua hiến pháp, các văn bản pháp luật về môi trường, quyết định của toà án hoặc phê chuẩn các điều ước quốc tế. Cụ thể, 108 quốc gia hiến định quyền này. Hơn 100 quốc gia có quy định minh thị về quyền này trong pháp luật quốc gia và 120 nước đã ký kết các điều ước quốc tế ràng buộc trách nhiệm của quốc gia trong việc bảo vệ quyền con người, trong đó có quyền được sống trong môi trường trong lành. Số ít các nước chậm trễ trong vấn đề này bao gồm Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản, Úc, New Zealand, Trung Quốc, Oman, Afghanistan, Kuwait, Brunei Darussalam, Li-băng, Lào, Myanmar, Bắc Triều Tiên, Malaysia và Cam-pu-chia.
Sự gia tăng nhanh chóng của các quốc gia công nhận quyền con người được sống trong môi trường thể hiện những chuyển biến đáng kể trong nhận thức của các quốc gia về quyền này.

Tuy nhiên, việc một số quốc gia, trong đó có nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới chậm trễ trong việc ghi nhận một cách minh thị quyền con người được sống trong môi trường trong lành cho thấy đây là vấn đề vẫn còn gây tranh cãi. Những yếu tố ngăn cản việc ghi nhận quyền này có thể liên quan đến những quan ngại về tính khả thi (do cảm thấy rằng chưa đủ các điều kiện để đảm bảo quyền này), hoặc cho rằng việc này không tách rời các hoạt động bảo vệ môi trường nói chung, hoặc nhà nước chỉ muốn hành động trong phạm vi nhìn nhận của mình và không muốn ràng buộc trách nhiệm dẫn đến phải chịu sức ép của các tổ chức xã hội trong việc phải đảm bảo môi trường trong lành cho người dân.

Thực tế cho thấy, việc công nhận, đặc biệt là hiến định quyền được sống trong môi trường trong lành đem lại những ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc đảm bảo thực thi quyền này ở nhiều quốc gia. Nó không chỉ thể hiện việc lấy con người làm trung tâm của phát triển, thiết lập một cách tiếp cận nhân văn đối với công tác bảo vệ môi trường mà còn tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các cơ chế pháp lý hữu hiệu để phát huy vai trò của người dân trong công tác bảo vệ môi trường. Các chuyên gia đã chỉ ra những bằng chứng cho thấy việc hiến định quyền và trách nhiệm bảo vệ quyền thúc đẩy việc ban hành những đạo luật bảo vệ môi trường mạnh mẽ hơn cũng như thực thi các đạo luật này được hiệu quả hơn và tăng cường được sự tham gia của công chúng vào hoạt động quản lý môi trường. Các bằng chứng cũng cho thấy có sự tương quan giữa việc đặt ra các yêu cầu về bảo vệ môi trường trong hiến pháp với những biện pháp bảo vệ môi trường hiệu quả. Chẳng hạn như những quốc gia có hiến pháp chú trọng đến vấn đề môi trường có lượng tác động sinh thái nhỏ hơn và giảm được một số loại ô nhiễm không khí nhanh hơn 10 lần so với các quốc gia không có quy định về bảo vệ môi trường trong hiến pháp. Điều này rõ ràng tác động tích cực đến việc thực thi quyền môi trường bởi nhờ đó, “người dân được hít thở không khí sạch hơn, uống nước an toàn hơn và sống trong môi trường trong lành hơn”[9]. Cụ thể như ở Ác-hen-ti-na, người dân sống ở những khu vực từng là nơi ô nhiễm nhất của quốc gia này đã sử dụng quyền hiến định được sống trong môi trường trong lành để yêu cầu chính quyền liên bang, các tỉnh và thành phố phải tiến hành những nỗ lực làm sạch và phục hồi môi trường lớn chưa từng có. Tổng thể, chính quyền các cấp đã chi phí hơn một tỷ đô la hàng năm trong giai đoạn mười năm để nâng cấp hệ thống hạ tầng nước sinh hoạt và nước thải, cải thiện hệ thống giám sát và thực thi pháp luật môi trường, chữa bệnh cho người dân và khôi phục lại chất lượng nước của dòng sông Riachuelo. Trong khi đó, ở Canada, một nước chưa hiến định quyền được sống trong môi trường trong lành, các nỗ lực của để làm sạch các khu vực bị nhiễm bẩn ở vùng Hồ Lớn rất chậm chạp và không đầy đủ, gây ra những phiền phức về mặt môi trường cho người dân sống ở vùng này[10].

3. Hiến định quyền được sống trong môi trường trong lành trong bối cảnh Việt Nam

Việc hiến định quyền được sống trong môi trường trong lành thông qua Hiến pháp 2013 được thực hiện trong bối cảnh các quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam ngày càng được đề cao và những vấn đề môi trường đang ngày càng nổi cộm trong xã hội. Tuy nhiên, cũng giống như việc hiến định quyền sống trong môi trường trong lành ở các quốc gia khác, việc hiến định quyền này ở Việt Nam không tạo ra một quyền mới. Trước khi có Hiến pháp 2013, quyền này đã được thể hiện trong Luật Bảo vệ môi trường 2005. Việc thực thi quyền này cũng được đảm bảo bởi hệ thống các biện pháp về bảo vệ môi trường, thông qua các biện pháp bảo vệ môi trường, trách nhiệm của nhà nước, tổ chức và cá nhân trong bảo vệ môi trường, thông qua các công cụ môi trường như lập đánh giá tác động môi trường hoặc cam kết bảo vệ môi trường của doanh nghiệp, các công cụ cấp phép xả thải, các quy định về diện tích cây xanh và mặt nước ở đô thị, các biện pháp quản lý ô nhiễm v.v.

Do vậy, việc hiến định quyền sống trong một môi trường trong lành trong Hiến pháp 2013 không được coi là tạo ra một quyền mới mà phải được nhìn nhận ở ý nghĩa chính trị- pháp lý của nó. Nó thể hiện sự đề cao quyền này, đồng thời cũng thể hiện cam kết lớn hơn của nhà nước trong việc vệ quyền môi trường của người dân. Về mặt pháp lý, nó cho phép người dân có những đòi hỏi lớn hơn đối với nhà nước và ở phía ngược lại, nó ràng buộc những trách nhiệm chặt chẽ hơn đối với nhà nước trong việc đảm bảo cho người dân quyền được sống trong môi trường trong lành.

Tuy nhiên, giống như nhiều quyền hiến định, các điều kiện đảm bảo là hết sức quan trọng để quyền môi trường của người dân được thực thi một cách hiệu quả. Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng ở Việt Nam, việc đảm bảo thực thi quyền môi trường đang gặp những thách thức hết sức to lớn. Những thách thức cơ bản nhất là:

Điều kiện kinh tế xã hội: Trong điều kiện một quốc gia ở trình độ phát triển khá thấp so với nhiều quốc gia trên thế giới, các điều kiện cơ sở hạ tầng chưa được phát triển, chất lượng cuộc sống chưa được đảm bảo, việc đảm bảo thực thi quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân bị ảnh hưởng đáng kể.

Sức ép phát triển kinh tế: giống như nhiều nước đang phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá, Việt Nam đang đứng trước những sức ép to lớn để đẩy nhanh tốc độ phát triển. Tuy nhiên, trong khi hệ luỵ môi trường của quá trình tăng tốc phát triển vẫn chưa được khắc phục thì những áp lực đối với môi trường từ phát triển kinh tế chưa hề có dấu hiệu giảm bớt, thậm chí ngày càng gia tăng. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa thể đạt được điểm cân bằng giữa hai yêu cầu là phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.

Về trách nhiệm giải trình của nhà nước: Trong điều kiện chưa có những biện pháp hữu hiệu để đảm bảo trách nhiệm giải trình của nhà nước thì rất khó có để đảm bảo trách nhiệm của nhà nước trong việc đảm bảo quyền của người dân được sống trong môi trường trong lành.

Về nhận thức xã hội đối với quyền được sống trong môi trường trong lành: nhận thức xã hội chưa đầy đủ cũng đang là một trong những yếu tố đáng kể đối với việc thực thi quyền này. Đối với doanh nghiệp, mục tiêu lợi nhuận vẫn là ưu tiên số 1 và mục tiêu này thường lấn át các trách nhiệm môi trường. Đối với người dân, những quan sát thực tế cho thấy người dân nhận thức về quyền đối với môi trường trong lành của mình nhưng chưa nhận thức một cách đầy đủ về những ảnh hưởng từ hành vi của chính mình đối với việc thực hiện quyền này. Do vậy, cả doanh nghiệp và các cá nhân hiện nay đều là những tác nhân gây ra tổn hại đối với quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân.
Chính những yếu tố chưa thuận lợi nói trên đã dẫn đến những hạn chế trong cơ chế pháp lý để bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân cũng như việc thực thi các cơ chế này trên thực tế.

Về cơ chế pháp lý: Những yếu tố nêu trên tạo ra những lực cản cho việc đưa ra những cơ chế bảo vệ môi trường hữu hiệu hơn, những chế tài môi trường nghiêm khắc hơn, những tiêu chuẩn môi trường cao hơn hay những cơ chế mạnh mẽ hơn để người dân phát huy vai trò của mình. Hiện nay, những cơ chế pháp lý để người dân có thể giám sát có hiệu quả và áp dụng các biện pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành vẫn còn vắng bóng. Hiện nay, việc phản biện của người dân chủ yếu được thực hiện thông qua việc tham vấn về các báo cáo ĐTM, nhưng thực tế cho thấy việc tham vấn này chỉ mang tính hình thức và hoàn toàn không hiệu quả. Trên thực tế, người dân có thể phát hiện các hành vi ô gây ô nhiễm, nhưng từ việc phát hiện đến việc đưa cơ quan chức năng vào xử lý là cả một khoảng cách và đa số các trường hợp là không xử lý được. Cơ chế kiện tập thể chưa được quy định cũng là yếu tố khiến người dân khó khăn trong việc khởi kiện để khôi phục quyền môi trường khi bị xâm phạm. Chính vì điều này mà người dân hay sử dụng những biện pháp là phản đối, chặn đường xe đi, rào cổng … Đây là những biện pháp tự phát và gây ảnh hưởng không tốt cho cả người dân, doanh nghiệp và trật tự an toàn xã hội nói chung.

Về cơ chế thực thi: Thực tế cho thấy là ngay cả với những quy định pháp luật đã có thì việc thực thi cũng hết sức khó khăn trên thực tế do những thách thức đã nêu ở trên. Trong rất nhiều trường hợp, yêu cầu thu hút đầu tư để phát triển kinh tế xã hội, tạo việc làm và gia tăng thu nhập cho người dân khiến cho việc đảm bảo thực thi quyền môi trường cho người dân không thể triệt để. Có rất nhiều trường hợp khi một doanh nghiệp vi phạm các tiêu chuẩn về môi trường, cơ quan nhà nước không thể xử lý mạnh do đứng trước bài toán về khả năng mất việc làm của lao động, mất nơi tiêu thụ sản phẩm của người nông dân v.v.

Như vậy, chúng ta thấy rằng việc hiến định quyền được sống trong môi trường trong lành thể hiện tư tưởng hết sức tiến bộ của nhà nước trong bảo vệ quyền con người. Tuy nhiên, sẽ cần nhiều những nỗ lực và thời gian để quyền này có thể trở thành hiện thực. Trong điều kiện Việt Nam, quyền này có lẽ cần được coi là một mục tiêu cần đạt đến hơn là một quyền thực tế và đã được đảm bảo.

TS. Trần Thị Quang Hồng
Trưởng Ban Nghiên cứu Pháp luật Dân sự – Kinh tế, Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp


[1]  Xem David R. Boyd, Quyền được sống trong môi trường trong lành theo hiến pháp, 28/2/2013 tại https://www.lawnow.org/right-to-healthy-environment/ (truy cập ngày 20/9/2018)

[2]     Xem website của Phong trào giáo dục quyền con người tại http://www.pdhre.org/rights/environment.html.

[3]     Xem Trịnh Xuân Thắng, Vai trò của Nhà nước trong việc đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành, tại http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat.aspx?ItemID=211 (truy cập ngày 20/9/2018).

[4]     Điều 22, 25 và 27 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền [Universal Declaration of Human Rights] 1948.

[5]     Xem Điều 1, 6, 7, 11, 12, 13, 15 International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights 1966

[6]     Xem Tuyên bố Stockholm 1972 tại http://webarchive.loc.gov/all/20150314024203/http%3A//www.unep.org/Documents.Multilingual/Default.asp?documentid%3D97%26articleid%3D1503

[7]     Nguyên văn: “Man has the fundamental right to freedom, equality and adequate conditions of life, in an environment of a quality that permits a life of dignity and well-being”.

[8]     Anthony Astrachan (17 March 1972), Goals for Environment Talks Listed, The Washington Post, Times Herald.

[9]     Trích David R. Boyd, Quyền được sống trong môi trường trong lành theo hiến pháp, 28/2/2013 tại https://www.lawnow.org/right-to-healthy-environment/ (truy cập ngày 20/9/2018).

[10]    Xem David R. Boyd, tlđd.

Một số điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 về tài sản

Bộ luật Dân sự năm 2015 được ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017. Các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về tài sản, quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản có sự thay đổi khá lớn về mặt kỹ thuật lập pháp, cho đến một số nội dung của điều luật. Trong phạm vi bài viết này tác giả đưa ra các điểm mới cơ bản của Bộ luật Dân sự năm 2015 về tài sản.

1. Bộ luật Dân sự năm 2015 đổi mới về kỹ thuật lập pháp trong việc thiết kế vị trí các quy định về tài sản trong Bộ luật Dân sự

Từ Bộ luật Dân sự năm 1995 đến Bộ luật Dân sự năm 2005, quy định về tài sản đều có vị trí tại Phần thứ hai: Tài sản và quyền sở hữu. Theo đó, tài sản được điều chỉnh trong các Bộ luật Dân sự này với tư cách là đối tượng của quyền sở hữu và quyền của các chủ thể không phải là chủ sở hữu tài sản, trong khi tài sản cũng là đối tượng của giao dịch dân sự (bao gồm hành vi pháp lý đơn phương, quan hệ nghĩa vụ, hợp đồng). Ngay tại Điều 1 Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng đã khẳng định phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự là: “… quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động…”.
Xuất phát từ phạm vi điều chỉnh[1], Bộ luật Dân sự năm 2015 đã tách chế định tài sản và quy định thành một chương riêng, cụ thể là Chương VII (gồn 11 điều luật từ Điều 105 đến Điều 115[2]) thuộc Phần thứ nhất – Những quy định chung. Việc thiết kế như trên đã khẳng định rằng chế định tài sản là chế định trung tâm của Bộ luật Dân sự, là đối tượng của nhiều quan hệ dân sự khác nhau (không chỉ là quan hệ sở hữu như cách thể hiện của Bộ luật Dân sự năm 2005 trước đây). Đồng thời, việc quy định này đã tạo nên sự nhận thức thống nhất về vị trí vai trò của chế định tài sản, tránh sự tranh cãi không cần thiết về lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật[3].

2. Phân loại tài sản

Tài sản là một trong những vấn đề trung tâm, cốt lõi của các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật dân sự nói riêng. Khái niệm tài sản đã được đề cập rất nhiều trong thực tiễn cũng như trong khoa học pháp lý. Tài sản trên thực tế tồn tại ở rất nhiều dạng khác nhau, vô cùng phong phú và đa dạng. Chính vì vậy, việc phân loại và đưa ra một khái niệm có thể bao trùm được tất cả các tài sản trên thực tế là một vấn đề hết sức cần thiết.
Ở Bộ luật Dân sự năm 1995 (Điều 172), Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 163) không đưa ra khái niệm về tài sản. Bộ luật dân sự năm 1995 cũng như Bộ luật dân sự năm 2005 đều dựa vào tiêu chí tài sản là đối tượng của quyền sở hữu phải trị giá được bằng tiền và có thể đưa được vào giao lưu dân sự[4] nên đã liệt kê các loại tài sản là đối tượng của quyền sở hữu? Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã mở rộng hơn loại tài sản là đối tượng của quyền sở hữu, trong đóL tài sản bao gồm: “vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” (Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005) đã được thay thế cho “vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản” (Điều 172 Bộ luật Dân sự năm 1995). Như vậy, ta có thể hiểu tài sản là “vật được hình thành trong tương lai” cũng được coi là đối tượng của quyền sở hữu. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự năm 2005 chưa xác định rõ “giấy tờ có giá” là những giấy tờ nào.
Kế thừa các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về việc xác định những gì được coi là tài sản và được pháp luật bảo vệ, đồng thời trên cơ sở xác định tài sản là đối tượng của các quan hệ dân sự, Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã vẫn liệt kê các loại tài sản như trong quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 (tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản). Đồng thời, Bộ luật Dân sự năm 2015 bổ sung quy định mới nhằm khẳng định:
Thứ nhất, tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai (khoản 2 Điều 105);
Thứ hai, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bổ sung một điều luật mới để khẳng định: tài sản hình thành trong tương lai là một loại tài sản được điều chỉnh trong Bộ luật Dân sự. Theo đó, Điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“1. Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch.
2. Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm:
a) Tài sản chưa hình thành;
b) Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch”.
Như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015, tài sản hình thành trong tương lai không chỉ giới hạn là vật; cũng không chỉ giới hạn trong giao dịch bảo đảm như Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định trước đây. Tài sản hình thành trong tương lai có thể có vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản; đồng thời, tài sản hình thành trong tương lai có thể là đối tượng của các giao dịch dân sự khác.
Với cách quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 đã nêu rõ khái niệm về tài sản hiện có; đối với khái niệm “tài sản hình thành trong tương lai” thì Bộ luật mới chỉ là quy định mang tính khái quát. Việc áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2015 vẫn cần được hướng dẫn cụ thể hơn để áp dụng pháp luật một cách thống nhất.

3. Quy định về đăng ký tài sản

Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định rất đơn giản về việc đăng lý tài sản, theo đó Điều 174 quy định “Những tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, thì phải được đăng ký”. Như vậy, Bộ luật đã để ngỏ quyền quy định những tài sản nào phải đăng ký quyền sở hữu cho các văn bản pháp luật chuyên ngành khác.
Bộ luật Dân sự năm 2005 đã xác định rõ bất động sản là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu. Còn đối với tài sản là động sản, chỉ những động sản nào mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, thì chủ sở hữu phải thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu. Quy định này có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền của chủ sở hữu đối với bất động sản và động sản phải đăng ký quyền sở hữu, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chiếm hữu ngay tình (Điều 167). Tuy nhiên, vì tài sản được điều chỉnh trong Bộ luật Dân sự được xác định là đối tượng của quyền sở hữu, nên Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng chỉ quy định về đăng ký quyền sở hữu tài sản. Trong khi đó, đăng ký tài sản có nội hàm rộng hơn đăng ký quyền sở hữu.
Bộ luật Dân sự năm 2015 sửa đổi quy định về đăng ký quyền sở hữu tài sản tại Điều 167 Bộ luật Dân sự năm 2005 thành một điều luật mới – Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2015 không định nghĩa thế nào là đăng ký tài sản. Theo tôi, đăng ký tài sản là việc chính thức ghi vào văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền những thông tin cần thiết liên quan đến tài sản để làm cơ sở phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp lý của chủ thể (bao gồm chủ sở hữu và các chủ thể khác) đối với một tài sản nhất định.
Việc đăng ký quyền sở hữu tài sản mà Bộ luật Dân sự điều chỉnh nhằm thực hiện ba mục tiêu cơ bản sau đây: Thứ nhất, phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước đối với tài sản nói chung, các tài sản mà pháp luật bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu nói riêng. Thứ hai, công nhận quyền và bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của chủ sở hữu, bảo vệ quyền đối với tài sản của các chủ thể khác; Thứ ba, góp phần bảo đảm sự minh bạch của các giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản đó. Trên tinh thần đó, Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có những điểm mới về đăng ký tài sản như sau:
Một là, việc quy định đăng ký tài sản không chỉ bó hẹp trong phạm vi quyền sở hữu đối với tài sản, mà còn bao gồm các quyền khác đối với tài sản. Quy định này được xây dựng trên cơ sở sự tương thích với quy định tại Phần thứ hai Bộ luật Dân sự năm 2015 – Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản, đặc biệt là quy định xác định khái niệm và phân loại các quyền khác đối với tài sản (Điều 159 Bộ luật Dân sự năm 2015 và các quy định về nôi dung của các quyền khác đối với tài sản (Chương XIV – Phần thứ hai Bộ luật Dân sự năm 2015). Việc đăng ký quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản được thực hiện bắt buộc đối với bất động sản, không bắt buộc đối với động sản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2015)
Hai là, để bảo đảm tính minh bạch, công khai, huy động và phát huy được hết các nguồn lực vật chất trong xã hội, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bổ sung quy định “việc đăng ký tài sản phải được công khai” (khoản 3 Điều 106).
Tuy nhiên, quy định về đăng ký tài sản của Bộ luật Dân sự năm 2015 vẫn chỉ là những quy định mang tính chất nguyên tắc chung. Vì vậy, đòi hỏi Luật Đăng ký tài sản cần được nhanh chóng xây dựng và phải làm rõ hơn về các tài sản phải đăng ký, đặc biệt là loại động sản nào bắt buộc phải đăng ký; trình tự thủ tục đăng ký và cung cấp thông tin; các thông tin về tài sản đã đăng ký phải được công khai, các thông tin về tài sản đã đăng ký được cung cấp cho các cá nhân, tổ chức khi có yêu cầu. Các quy định về cung cấp thông tin về tài sản phải phù hợp với Luật Tiếp cận thông tin năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2018).

4. Bộ luật Dân sự năm 2015 làm rõ hơn khái niệm “quyền tài sản”

Một trong những thay đổi quan trọng và được mong đợi nhất của vấn đề tài sản chính là khái niệm về quyền tài sản. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã làm rõ hơn nội hàm khái niệm quyền tài sản theo đó “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”. Như vậy, điều luật này đã chỉ rõ phạm vi những quyền được coi là quyền tài sản, tránh được sự nhầm lẫn với một số quyền nhân thân. Mặt khác, một điểm nổi bật mà chúng ta có thể thấy rõ đối với khái niệm quyền tài sản mới, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã sửa đổi điều kiện phi lý vốn tồn tại trong Bộ luật Dân sự năm 2005, đó là quy định quyền tài sản phải thỏa mãn điều kiện “có thể chuyển giao được”. Sự thay đổi này là một bước tiến trong việc mở rộng khái niệm tài sản, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cũng như lý luận[5].
Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là cần xác định “quyền sử dụng đất” có phải bất động sản hay không? Để xác định vấn đề này thì cần áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 107 hay điểm d khoản 1 Điều 107 Bộ luật Dân sự năm 2015? Theo quan điểm của tác giả “quyền sử dụng đất” là quyền tài sản gắn liền với đất cần được xác định là bất động sản theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 107 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Từ sự phân tích ở trên cho chúng ta thấy, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có một số đổi mới cơ bản khi điều chỉnh các quy định về tài sản. Theo đó, quy định về tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015 không chỉ là cơ sở để xác định quyền sở hữu, mà còn là cơ sở để xác lập, thực hiện các quan hệ dân sự, trong đó có quan hệ sở hữu. Tuy nhiên, các quy định này vẫn là những quy định chung và phải được cần phải được hướng dẫn cụ thể để áp dụng thống nhất.

Nguyễn Xuân Anh

Viện Khoa học pháp lý


[1] Bộ luật Dân sự năm 2015 đã sửa đổi Điều 1 quy định về phạm vi điều chỉnh như sau:
“Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Bộ luật này quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự)”.
[2] Điều 105 – Tài sản; Điều 106 – Đăng ký tài sản; Điều 107 – Bất động sản và động sản; Điều 108 – Tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai; Điều 109 – Hoa lợi, lợi tức; Điều 110 – Vật chính và vật phụ; Điều 111 – Vật chia được và vật không chia được; Điều 112 – Vật tiêu hao và vật không tiêu hao; Điều 113 – Vật cùng loại và vật đặc định; Điều 114 – Vật đồng bộ; Điều 115 – Quyền tài sản.
[3] Xem thêm: ThS. Huỳnh Trung Hậu – Giảng viên Bộ môn Pháp luật, Trường Đại học CSND. “Tìm hiểu một số điểm mới về chế định tài sản trong Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015” tại http://pup.edu.vn/index.php/news/Nghien-cuu-Trao-doi/Tim-hieu-mot-so-diem-moi-ve-che-dinh-tai-san-trong-Bo-luat-dan-su-Viet-Nam-nam-2015-362.html.
[4] PGS. TS. Hoàng Thế Liên (chủ biên). Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005. Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp. Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật. Hà Nội, 2008, tập I, tr 357.
[5] Xem thêm: ThS. Huỳnh Trung Hậu – Giảng viên Bộ môn Pháp luật, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân. “Tìm hiểu một số điểm mới về chế định tài sản trong Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015”. Tạp chí Khoa học giáo dục Cảnh sát nhân dân số 72 tháng 2/2016.

Chế định “hợp đồng” trong Bộ luật Dân sự 2015

Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 24-11-2015 và có hiệu lực từ ngày 1-7-2016. Trong BLDS 2015 có nhiều điểm mới tiến bộ hơn so với BLDS 2005, đặc biệt là những điểm mới liên quan đến hợp đồng. Và bài viết dưới đây không ngoài mục đích giúp bạn đọc hiểu rõ hơn những quy định mới về hợp động trong BLDS 2015.

Về khái niệm hợp đồng: Theo Điều 385 BLDS 2015: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”. Điều 388 BLDS năm 2005: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Còn tại Điều 385 của BLDS 2015 thì quy định như sau: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Như vậy, điểm mới ở đây là trong BLDS hiện hành đã chọn cụm từ “hợp đồng” thay vì “ hợp đồng dân sự” trong BLDS 2005. Và điểm mới này không chỉ là sửa đổi về kỹ thuật lập pháp mà còn thể hiện tính minh bạch. Đồng thời, nó phù hợp với thực tiễn áp dụng, mở rộng phạm vi điều chỉnh: Hợp đồng dân sự, hợp đồng thương mại, hợp đồng đầu tư, hợp đồng kinh doanh bảo hiểm,…
Về đề nghị giao kết hợp đồng (Khoản 1 Điều 386 BLDS 2015):  Theo quy định tại Khoản 1 Điều 386 BLDS 2015: Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị). Như vậy, so với quy định trong BLDS 2005, điểm mới trong BLDS 2015 là mở rộng và rõ hơn về bên được đề nghị giao kết hợp đồng. Có thể có nhiều bên nhận được đề nghị trong giao kết hợp đồng. Và điều này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn áp dụng ở nước ta hiện nay.
Thông tin giao kết hợp đồng: Theo quy định tại Điều 387 BLDS 2015, đối với trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết. Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác. Bên vi phạm quy định trên mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Đây là điều hoàn toàn mới, nhằm quản lý chặt chẽ thông tin trong quá trình giao kết hợp đồng và là cơ sở để giải quyết các tranh chấp phát sinh.
Thời điểm giao kết hợp đồng: Tại Khoản 1 điều 388 trong BLDS 2015 có quy định: Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được xác định như sau: Do bên đề nghị ấn định. Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Ở đây, BLDS năm 2015 đã bổ sung thêm chế định loại trừ “Trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác”, phù hợp với thực tiễn áp dụng ở nước ta. Và quy định như vậy là để tránh mâu thuẫn giữa các đạo luật khác, đồng thời ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành.
Chế định chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng: Theo Điều 391 trong BLDS 2015, thì việc đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt trong trường hợp sau đây: Bên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng; Bên được đề nghị trả lời không chấp nhận; Hết thời hạn trả lời chấp nhận; Khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực; Khi thông báo về việc hủy bỏ đề nghị có hiệu lực; Theo thỏa thuận của bên đề nghị và bên được đề nghị trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời. Như vậy, ở chế định này đã bổ bổ sung thêm trường hợp: Bên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng. Và việc bổ sung quy định này vừa đúng về mặt lý luận và phù hợp với thực tiễn áp dụng.
Im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng: Theo quy định tại Điều 393 của BLDS 2015, sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên. Đây là quy định làm rõ hơn trường hợp nào thì im lặng được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và trường hợp im lặng nào thi không. Với việc bổ sung nội dung này đã hạn chế những tranh chấp phát sinh từ sự im lặng.
Về chế định nội dung hợp đồng: Theo Điều 398 của BLDS 2015 thì các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng. Hợp đồng có thể có các nội dung sau đây: Đối tượng của hợp đồng; Số lượng, chất lượng; Giá, phương thức thanh toán; Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; Quyền, nghĩa vụ của các bên; Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; Phương thức giải quyết tranh chấp. Như vậy, trong BLDS mới đã bổ sung thêm quy định: “Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng”. Đây được xem là bổ sung thêm phương thức giải quyết tranh chấp.
Thời điểm giao kết hợp đồng: Theo Điều 400 trong BLDS 2015, trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản. Quy định này đã bổ sung thời điểm giao kết hợp đồng bằng hình thức chấp nhận khác. Và quy định như vậy sẽ rõ ràng, dễ vận dụng và hạn chế xảy ra tranh chấp từ chế định “sự im lặng” khi giao kết. Đồng thời, phù hợp thực tiễn áp dụng với việc bổ sung thêm quy định những hình thức khác được thể hiện trên văn bản.
Hiệu lực của hợp đồng: Theo Điều 401 của BLDS 2015, hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác. Như vậy, từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết. Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật. Và quy định này là nhẳm đảm bảo việc thực hiện hợp đồng của các bên, đồng thời rõ ràng hơn trong việc thay đổi nội dung hợp đồng (tức là phải có sự thỏa thuận giữa các bên).

Thế chấp tài sản – biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, các giao dịch dân sự diễn ra ngày càng nhiều, rủi ro phát sinh ngày càng cao, vì vậy để đảm bảo lợi ích chính đáng giữa các bên thì các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự luôn được đề cao và quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật. Sự ra đời của Bộ luật Dân sự năm 2015 đã tạo ra tính chủ động, kịp thời của các chủ chương trong quan hệ dân sự, vừa tạo ra hành lang pháp lý khi có tranh chấp xảy ra trong các mối quan hệ đó, đặc biệt là các tranh chấp liên quan đến kinh tế, các tranh chấp liên quan đến ngân hàng trong việc cho vay, giải ngân, cầm cố, thế chấp tài sản. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đi sâu phân tích về biện pháp thế chấp tài sản theo quy định của pháp luật dân sự, đây là một trong 9 biện pháp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự nhằm tránh những rủi ro khi tham gia vào các quan hệ dân sự, đặc biệt là các hoạt động tín dụng, ngân hàng.

1. Khái niệm thế chấp tài sản

Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “(1) Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên thế chấp); (2) Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp”.
Tức là bên thế chấp tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận thế chấp và không phải chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp. Ví dụ: Ông Nguyễn Văn A có căn nhà ba tầng đứng tên ông, vì ông A đang rất cần một khoản tiền tương đối lớn nhưng ông lại không có và không có khả năng xoay sở nên ông đã thế chấp căn nhà này cho Ngân hàng để ông có tiền. Việc ông thế chấp căn nhà này bằng cách ông sẽ chuyển giấy tờ đứng tên ông (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và Quyền sở hữu nhà ở) cho Ngân hàng để đảm bảo về mặt pháp lý rằng nếu ông A không có khả năng thanh toán khoản tiền mà ông đã vay tại ngân hàng trong một khoảng thời gian đã được quy định thì Ngân hàng sẽ tiến hành phát mãi tài sản đó.
Do tài sản thế chấp đều có đăng ký quyền sở hữu nên người nhận thế chấp không thể xác lập quyền sở hữu đối với tài sản này. Người nhận thế chấp phải yêu cầu bán đấu giá tài sản để đảm bảo nghĩa vụ dân sự được thực hiện. Nhưng trên thực tế thì người nhận thế chấp phải trải qua giai đoạn khởi kiện và thi hành bản án mới có thể bán được tài sản thế chấp. Thực trạng này làm cho người nhận thế chấp tốn nhiều thời gian và chi phí, bởi lẽ các cơ quan bán đấu giá tài sản không dám nhận bán đấu giá các tài sản chưa có bản án và quyết định bán đấu giá của cơ quan thi hành án. Trong trường hợp mà người thế chấp không có khả năng để thực hiện nghĩa vụ để nhận lại tài sản thế chấp thì sẽ gây nhiều khó khăn cho bên nhận thế chấp. Trong thực tế đã có không ít những trường hợp mà bên thế chấp không có khả năng thực hiện nghĩa vụ dẫn đến bên nhận thế chấp phải giải quyết tài sản đó theo quy định của pháp luật.
Thực tế trong môi trường kinh doanh của nền tài chính hiện đại như hiện nay, thì các giao dịch bảo đảm được thiết lập trên cơ sở bên cho vay không cần trực tiếp nắm giữ tài sản, nghĩa là bên vay vẫn giữ tài sản đã được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên cho vay, đồng thời tiếp tục sử dụng nó để phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Do đó, thế chấp tài sản là giải pháp linh hoạt cho việc vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, vừa tiếp tục sử dụng tài sản thế chấp để tiếp tục phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, đảm bảo tính sinh lời của tài sản, giúp bên thế chấp có nguồn vốn để trả nợ cho bên nhận thế chấp.
Thế chấp là việc một bên (bên thế chấp) dùng một hoặc nhiều tài sản để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự. Tài sản thế chấp thường là bất động sản hoặc động sản nhưng không chuyển giao hoặc việc chuyển giao cho bên nhận thế chấp giữ sẽ gặp khó khăn trong việc giao nhận, giữ gìn và bảo quản. Bên thế chấp sẽ chuyển giao cho bên nhận thế chấp giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu cho bên nhận thế chấp nếu các bên có thỏa thuận. Việc giữ giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng tài sản hạn chế bên thế chấp định đoạt tài sản. Trường hợp bên thế chấp không thực hiện nghĩa vụ thì bên có quyền (bên nhận thế chấp) sử xử lý tài sản bảo đảm để thanh toán nghĩa vụ.
Do tài sản thế chấp khó chuyển giao và việc bảo quản sẽ gặp nhiều khó khăn, thậm chí bên nhận thế chấp không có điều kiện để bảo quản. Ví dụ: tài sản thế chấp là thực phẩm đông lạnh…cho nên bên nhận thế chấp giữ tài sản thế chấp. Trường hợp bên nhận thế chấp xét thấy nếu tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ thì có thể bị bên thế chấp định đoạt trong thời hạn thế chấp, các bên có thể thỏa thuận gửi tài sản cho người thứ ba giữ. Trường hợp tài sản thế chấp đang được gửi tại kho hàng của người thứ ba, nếu xác lập thế chấp tài sản đó thì tài sản có thể tiếp tục gửi người thứ ba giữ.

2. Tài sản thế chấp

Thứ nhất, Điều 318 quy định, tài sản thế chấp gồm: “(1). Trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; (2) Trường hợp thế chấp một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ gắn với tài sản đó thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; (3) Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp thì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; (4) Trường hợp tài sản thế chấp được bảo hiểm thì bên nhận thế chấp phải thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết về việc tài sản bảo hiểm đang được dùng để thế chấp. Tổ chức bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm trực tiếp cho bên nhận thế chấp khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Trường hợp bên nhận thế chấp không thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết về việc tài sản bảo hiểm đang được dùng để thế chấp thì tổ chức bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm và bên thế chấp có nghĩa vụ thanh toán cho bên nhận thế chấp”.
Như vậy, đối tượng của thế chấp ở đây có thể là động sản hoặc bất động sản. Khi thế chấp thì toàn bộ bất động sản hoặc động sản là tài sản thế chấp. Một bất động sản là quyền sử dụng đất thì toàn bộ quyền sử dụng đất của người thế chấp là tài sản thế chấp. Tuy nhiên, có những bất động sản có vật phụ kèm theo như một tòa nhà có máy phát điện dự trữ, máy phát điện này cần sử dụng khi tòa nhà mất điện cho nên nếu tòa nhà có những vật phụ kèm theo thì các vật phụ đó là tài sản thế chấp. Đối với động sản mà có vật phụ kèm theo khi thế chấp động sản đó thì vật phụ là tài sản thế chấp, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận là vật phụ không thế chấp.
Trường hợp thế chấp một phần bất động sản, động sản mà có vật phụ gắn với phần tài sản thế chấp thì vật phụ cũng là tài sản thế chấp, cho nên khi thế chấp một phần bất động sản hoặc một phần động sản mà có vật phụ thì vật phụ là tài sản thế chấp. Ví dụ: chủ dự án thế chấp 1/3 số căn hộ của tòa nhà chung cư, thì toàn bộ trang thiết bị phòng cháy chữa cháy gắn với 1/3 số căn hộ đó là tài sản thế chấp. Hoặc một lô hàng gồm nhiều thùng, nhiều kiện, nếu thế chấp một phần lô hàng đó thì những vật phụ đóng gói, bao bì…là tài sản thế chấp.
Thông thường tài sản gắn liền với đất là thuộc quyền sở hữu của người có quyền sử dụng đất. Trường hợp này, nếu quyền sử dụng đất là đối tượng của thế chấp thì tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất cũng là đối tượng của hợp đồng thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Quy định này xuất phát từ quan điểm tiếp cận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là vật chính và vật phụ, đồng thời, quy định này còn nhằm tạo cơ chế để khuyến khích người sử dụng đất đưa tài sản gắn liền với đất vào lưu thông thông qua việc thế chấp để khai thác tối đa giá trị kinh tế của tài sản, đáp ứng nhu cầu nguồn vốn để phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, nếu tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thuộc quyền sở hữu của người khác (quyền bề mặt) thì tài sản đó không thuộc đối tượng của hợp đồng thế chấp.
Nếu tài sản thế chấp được bảo hiểm thì bên nhận thế chấp phải thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết, trường hợp này nếu xảy ra sự kiện bảo hiểm thì tổ chức bảo hiểm sẽ chi trả cho bên nhận thế chấp. Nếu bên nhận thế chấp không thông báo cho tổ chức bảo hiểm thì tổ chức bảo hiểm sẽ chi trả theo hợp đồng bảo hiểm.
Thứ hai, Đối với thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất: (1) Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thoả thuận khác; (2) Trường hợp chỉ thế chấp quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ vơi chủ sở hữu tài sản gắn liền với đấy được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thoả thuận khác (Điều 325).
Ở đây, tài sản gắn liền với đất có thể là cây lâu năm, công trình xây dựng…những tài sản này thuộc quyền sở hữu của người thế chấp. Trường hợp các bên thoả thuận thế chấp quyền sử dụng đất mà không thoả thuận về thế chấp tài sản gắn liền với đất, nếu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thì những tài sản này được xử lý như tài sản thế chấp. Quy định này xuất phát từ thực tế, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thường là một thể thống nhất về hiện trạng và tình trạng pháp lý, do đó việc chuyển dịch quyền (bao gồm quyền sở hữu) đối với tài sản gắn liền với đất luôn gắn với việc chuyển dịch quyền sử dụng đất. Mặt khác, việc xây dựng cơ chế xử lý đồng thời sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý tài sản bảo đảm, giảm thiểu những vướng mắc, khó khăn trong việc mua bán, chuyển nhượng bất động sản trên thực tế sau khi có kết quả xử lý tài sản.
Đối với trường hợp quyền sử dụng đất thuộc về bên thế chấp và tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người khác (quyền bề mặt), thì khi xử lý tài sản thế chấp, người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất kế thừa các quyền và nghĩa vụ của người chuyển quyền sử dụng đất đối với người có quyền bề mặt trên diện tích đất chuyển nhượng.
Thứ ba, ngược lại với vấn đề trên, đối với thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất.
“(1) Trường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đồng thời là người sử dụng đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thoả thuận khác; (2) Trường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không đồng thời là người sử dụng đất thì khi xử lý tài sản gắn liền với đất, người nhận chuyển quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao, trừ trường hợp có thoả thuận khác” (Điều 236).
Ở đây, nếu trường hợp người sử dụng đất có quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là nhà ở, công trình xây dựng khác, rừng sản xuất là rừng trồng, cây lâu năm…thế chấp những tài sản này mà không thoả thuận thế chấp quyền sử dụng đất. Nếu tài sản thế chấp bị xử lý thì quyền sử dụng đất cũng được xử lý như tài sản bảo đảm. Trừ trường hợp các bên có thoả thuận chỉ xử lý tài sản gắn liền với đất mà không được xử lý quyền sử dụng đất.
Trường hợp tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người có quyền bề mặt là đối tượng của thế chấp, nếu xử lý tài sản bảo đảm thì người nhận chuyển quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất sẽ kế tiếp quyền và nghĩa vụ của người có quyền bề mặt đã chuyển quyền sở hữu tài sản cho mình. Quy định này nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của bên mua tài sản gắn liền với đất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý (bán tài sản bảo đảm).

3. Nghĩa vụ và quyền của các bên

3.1. Nghĩa vụ và quyền của bên thế chấp
Thứ nhất, nghĩa vụ của bên thế chấp. Bên thế chấp có nghĩa vụ: (1) Giao giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp trong trường hợp các bên có thoả thuận, trừ trường hợp luật có quy định khác; (2) Bảo quản, giữ gìn tài sản thế chấp; (3) Áp dụng các biện pháp cần thiết để khác phục, kể cả phải ngừng việc khai thác công dụng tài sản thế chấp nếu do việc khai thác đó mà tài sản thế chấp có nguy cơ mất giá trị hoặc giảm sút giá trị; (4) Khi tài sản thế chấp bị hư hỏng thì trong một thời gian hợp lý, bên thế chấp phải sửa chữa hoặc thay thế bằng tài sản khác có giá trị tương đương, trừ trường hợp có thoả thuận khác; (5) Cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp; (6) Giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp để xử lý khi thuộc một trong các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm quy định tại Điều 299 của Bộ luật; (7)  Thông báo cho bên nhận thế chấp về các quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp, nếu có, trường hợp không thông báo thì bên nhận thế chấp có quyền huỷ hợp đồng thế chấp tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp; (8) Không được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp, trừ trường hợp hợp quy định tại khoản 4, 5 Điều 321 của Luật (Điều 320 Bộ luật Dân sự).
Thứ hai, về quyền của bên thế chấp. Bên thế chấp có quyền: (1) Khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản thế chấp, trừ trường hợp hoa lợi, lợi tức cũng là tài sản thế chấp theo thoả thuận; (2) Đầu tư để làm tăng giá trị của tài sản thế chấp; (3) Nhận lại tài sản thế chấp do người thứ ba giữ và giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp do bên nhận thế chấp giữ khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác; (4) Được bán, thay thế, trao đổi tài sản thế chấp, nếu tài sản đó là hàng hoá luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Trong trường hợp này, quyền yêu cầu bên mua thanh toán tiền, số tiền thu được, tài sản hình thành từ số tiền thu được, tài sản được thay thế hoặc được trao đổi trở thành tài sản thế chấp. Trường hợp tài sản thế chấp là kho hàng thì bên thế chấp được quyền thay thế hàng hoá trong kho nhưng phải bảo đảm giá trị của hàng hoá trong kho đúng như thoả thuận; (5) Được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hoá luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh, nếu được bên nhận thế chấp đồng ý hoặc theo quy định của pháp luật; (6) Được cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp nhưng phải thông báo cho bên thuê, bên mượn biết biết về việc tài sản cho thuê, cho mượn đang được dùng để thế chấp và  phải thông báo cho bên nhận thế chấp biết (Điều 321 Bộ luật Dân sự).
3.2. Nghĩa vụ và quyền của bên nhận thế chấp
Thứ nhất, nghĩa vụ của bên nhận thế chấp. Bên nhận thế chấp có nghĩa vụ: (1) Trả các giấy tờ cho bên thế chấp sau khi chấm dứt thế chấp đối với trường hợp các bên thoả thuận bên nhận thế chấp giữ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp; (2) Thực hiện thủ tục xử lý tài sản thế chấp theo đúng quy định của pháp luật.
Thứ hai, quyền của bên nhận thế chấp. Bên nhận thế chấp có quyền: (1) Xem xét, kiểm tra trực tiếp tài sản thế chấp, nhưng không được cản trở hoặc gây khó khăn cho việc hình thành, sử dụng, khai thác tài sản thế chấp; (2) Yêu cầu bên thế chấp phải cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp; (3) Yêu cầu bên thế chấp áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo toàn tài sản thế chấp, giá trị tài sản trong trường hợp có nguy cơ làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản do việc khai thác, sử dụng; (4) Thực hiện việc đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật; (5) Yêu cầu bên thế chấp hoặc người thứ ba giữ tài sản thế chấp giao tài sản đó cho mình để xử lý khi bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; (6) Giữ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp trong trường hợp các bên có thoả thuận, trừ trường hợp luật có quy định khác; (7) Xử lý tài sản thế chấp khi thuộc trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật này (Điều 323 Bộ luật Dân sự).

4. Hiệu lực của thế chấp tài sản

Hợp đồng thế chấp tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật có quy định khác; Thế chấp tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thờ điểm đăng ký (Điều 319 Bộ luật Dân sự).
Như vậy, thời điểm giao kết hợp đồng phụ thuộc vào hình thức của hợp đồng (Điều 400 Bộ luật Dân sự). Trong khi đó, Bộ luật Dân sự không quy định hình thức của thế chấp tài sản phải bằng văn bản, cho nên các bên có quyền lựa chọn một hình thức của hợp đồng phù hợp theo Điều 119 của Bộ luật. Trường hợp luật liên quan có quy định thế chấp phải công chứng hoặc chứng thực và đăng ký thì các bên phải tuân theo (Khoản 2 Điều 119 Bộ luật Dân sự).
Bên cạnh đó, thế chấp tài sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký. Trường hợp luật không quy định hợp đồng thế chấp phải công chứng hoặc chứng thực mà các bên không đăng ký thì hợp đồng thế chấp chỉ có hiệu lực đối với các bên, bởi vì các bên tư nguyện xác lập thế chấp và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng thực thì có giá trị pháp lý đối với các bên. Quy định này đã khắc phục được việc hành chính hoá các giao dịch dân sự và trái với nguyên tắc tự do, tự nguyện của pháp luật dân sự.

5. Chấm dứt thế chấp tài sản

Thế chấp tài sản chấm dứt trong trường hợp: (1) Nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt; (2) Việc thế chấp tài sản được huỷ bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác; (3) Tài sản thế chấp đã được xử lý; (4) Theo thoả thuận của các bên.
Quy định về căn cứ chấm dứt thế chấp tài sản có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ thế chấp. Trường hợp chấm dứt thế chấp, các bên không còn bị ràng buộc bởi hợp đồng thê chấp. Bên thế chấp có thể bán tài sản đã thế chấp hoặc đưa tài sản đã thế chấp vào lưu thông mà không cần có sự đồng ý của bên nhận thế chấp. Đồng thời, bên nhận thế chấp không có quyền yêu cầu bên thế chấp giao tài sản thế chấp cho mình để xử lý khi đã giải quyết thế chấp theo quy định của Luật.
Thông thường thì khi các bên thực hiện xong nghĩa vụ thì nghĩa vụ chấm dứt. Hoặc một số trường hợp pháp luật quy định nghĩa vụ chấm dứt theo Điều 72 Bộ luật Dân sự thì các pháp nhân bảo đảm cho các nghĩa vụ đó cũng chấm dứt. Trong thời hạn thực hiện nghĩa vụ, các bên có thể huỷ bỏ thoả thuận thế chấp hoặc thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác như cầm cố, bảo lãnh…thì thế chấp chấm dứt. Trường hợp bên thế chấp không thực hiện, thực hiện không đúng nghĩa vụ mà bị xử lý tài sản thế chấp để thanh toán nghĩa vụ chính, thì sau khi xử lý tài sản bảo đảm thì thế chấp cũng chấm dứt.
Thế chấp là một hợp đồng, do vậy căn cứ chấm dứt thế chấp phù hợp với căn cứ chấm dứt hợp đồng, cho nên các bên thoả thuận chấm dứt thế chấp, thì nghĩa vụ chính là nghĩa vụ không có bảo đảm.
Như vậy, thế chấp tài sản là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được áp dụng nhiều trong đời sống xã hội. Đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển mạnh như hiện nay thì biện pháp này đang ngày càng phát huy những ưu điểm của mình trong việc xác lập các giao dịch dân sự và thương mại. Qua việc tìm hiểu biện pháp trên sẽ giúp cho chúng ta thấy một cái nhìn cụ thể và thấu đáo hơn về biện pháp bảo đảm này trong quan hệ nghĩa vụ dân sự; giúp cho các cá nhân, kể cả pháp nhân tránh được những rủi ro khi xác lập các giao dịch dân sự.

ThS. Đoàn Thị Ngọc Hải
Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn) 

Tài liệu tham khảo:
1. Bộ luật Dân sự năm 2015, các Điều từ Điều 317 – 327;
2. Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của PGS.TS Nguyễn Văn Cừ – PGS.TS Trần Thị Huệ, NXB Công an nhân dân;
3. Nghị định 163/2006/NĐ – CP về giao dịch bảo đảm;
4. Luật Đất đai năm 2014;
5. Luật Nhà ở năm 2014.

Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong Bộ luật Tố tụng hình sự

Áp dụng biện pháp ngăn chặn (BPNC) là một trong những hoạt động tố tụng thường xuyên được các cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Theo quy định tại Mục I, Chương VII – Phần thứ Nhất của Bộ luật TTHS năm 2015, có thể chia các BPNC thành 03 nhóm gồm: Các trường hợp bắt như bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt quả tang, bắt truy nã, bắt bị can bị cáo để tạm giam…; các trường hợp giữ như giữ người trong trường hợp khẩn cấp, quả tang, đầu thú, tự thú…; các biện pháp ngăn chặn khác như bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú…Các căn cứ để áp dụng các BPNC trên cũng đã được quy định cụ thể tại Điều 109 BLTTHS cũng như tại các điều luật quy định cụ thể của mỗi BPNC. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng các quy định trên vào thực tiễn, tại một số địa phương cũng như giữa các cơ quan THTT, người tiến hành tố tụng vẫn có những nhận thức và cách hiểu khác nhau về việc áp dụng các BPNC nói trên.
Thứ nhất, có nhiều ý kiến cho rằng, cùng với việc khởi tố bị can các cơ quan THTT bắt buộc phải áp dụng một trong các BPNC nêu trên, ít nhất cũng là áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Tuy nhiên, cá nhân tôi không đồng tình với quan điểm trên bởi lẽ: Về quy định thì hiện nay không có quy định nào mang tính chất bắt buộc trong mọi trường hợp các cơ quan THTT phải áp dụng biện pháp ngăn chặn sau khi khởi tố bị can. Trong khi đó, theo quy định tại Điều 109 BLTTHS thì “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội …” thì các cơ quan THTT “..có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh”. Như vậy, rõ ràng các cơ quan THTT chỉ có thể áp dụng các BPNC khi có một trong các căn cứ trên hoặc các căn cứ đối với từng BPNC cụ thể, hay nói cách khác, nếu không có các căn cứ để áp dụng các BPNC thì không thể và không được phép áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị can.
Thứ hai, tại các Điều 121 và Điều 122 BLTTHS quy định về Bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm đều quy định “là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam”. Vậy, nên hiểu quy định này như thế nào cho đúng khi ý kiến cho rằng các cơ quan THTT chỉ được áp dụng biện pháp này sau khi đã áp dụng biện pháp tạm giam và thấy biện pháp tạm giam không còn cần thiết nữa nên ra quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng một trong hai biện pháp này để thay thế. Ý kiến khác lại cho rằng ngay từ đầu, cơ quan THTT nhận thấy đã có đủ các căn cứ để tạm giam, nhưng lại không áp dụng biện pháp tạm giam mà sử dụng một trong hai biện pháp trên để thay thế. Thực tế hiện nay ở một số địa phương khác nhau thậm chí là trong cùng một cơ quan THTT đều chấp nhận và áp dụng cả hai cách hiểu trên. Cá nhân tôi nhận thấy quan điểm thứ hai là không phù hợp bởi lẽ: Lý do các cơ quan THTT tạm giam bị can vì có căn cứ quy định tại Điều 109 cũng như Điều 119 BLTTHS. Còn căn cứ cho bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm được quy định tại 02 điều luật khác với các căn cứ khác nhau. Do đó, không thể nói rằng bị can đó có căn cứ tạm giam nhưng lại áp dụng biện pháp cho bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm để thay thế. Ví dụ, bị can A bị khởi tố về tội Cố ý gây thương tích và có căn cứ cho rằng bị can có thể tiếp tục phạm tội. Như vậy, nếu các cơ quan THTT không áp dụng biện pháp tạm giam mà áp dụng biện pháp bảo lĩnh để thay thế thì rõ ràng không đảm bảo và không có căn cứ. Trong khi đó hiện nay chế tài để xử lý đối với cá nhân, tổ chức nhận bảo lĩnh khi để bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ thì chưa có chế tài tương xứng.
Về thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo lĩnh, nếu việc áp dụng biện pháp bảo lĩnh theo quan điểm thứ nhất thì sau khi Viện kiểm sát ra quyết định thay thế BPNC, thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp cho bảo lĩnh và vụ án vẫn đang trong giai đoạn điều tra thì, cơ quan nào sẽ ban hành quyết định cho bảo lĩnh? Ý kiến thứ nhất cho rằng, Cơ quan điều tra sẽ ra quyết định cho bảo lĩnh sau đó sẽ gửi quyết định đó sang Viện kiểm sát để phê chuẩn, nhưng cũng có ý kiến cho rằng sau khi Viện kiểm sát ra quyết định thay thế BPNC thì Viện Kiểm sát sẽ ra quyết định cho bảo lĩnh luôn, vì tại Khoản 2 Điều 125 BLTTHS quy định: “…Đối với những biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn trong giai đoạn điều tra thì việc hủy bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác phải do Viện kiểm sát quyết định…”. Nếu theo ý kiến Viện kiểm sát sẽ ra quyết định bảo lĩnh luôn, vậy thì Cơ quan điều tra sẽ ra quyết định bảo lĩnh khi nào? Do đó, theo tôi nên hiểu quy định tại Khoản 2 Điều 125 BLTTHS theo hướng, Viện kiểm sát sẽ quyết định việc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác, còn BPNC khác là biện pháp gì thì do Cơ quan điều tra ra quyết định áp dụng và đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn là phù hợp với thực tiễn cũng như tinh thần của điều luật.
Thứ ba, về vấn đề thời hạn: BLTTHS hiện nay đã quy định khá cụ thể về vấn đề thời hạn đối với tất cả các vấn đề trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên, quy định về thời hạn trong việc áp dụng các BPNC thì vẫn còn một số nội dung chưa rõ, chưa cụ thể như: Không đề cập việc gia hạn thời hạn áp dụng các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, tạm hoãn xuất cảnh. Trong trường hợp vụ án phải gia hạn thời hạn điều tra lần 1, lần 2, thậm chí lần 3 mà trước đó đã áp dụng một trong các biện pháp trên thì sẽ phải xử lý như thế nào? Trong khi đó hiện nay, hệ thống biểu mẫu quyết định áp dụng đối với 04 BPNC trên của các cơ quan THTT đều chỉ cho phép áp dụng không quá thời hạn giải quyết vụ án. Với quy định chưa rõ ràng như vậy đã dẫn đến việc lúng túng và thực hiện không thống nhất giữa các cơ quan THTT.
Theo quy định tại Điều 134 BLTTHS, thời hạn trong BLTTHS được tính theo đơn vị là giờ, ngày, tháng và năm. Đêm được tính từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau. Khi tính thời hạn theo ngày thì thời hạn sẽ hết vào lúc 24 giờ ngày cuối cùng của thời hạn. Nhưng tại Khoản 1 Điều 118 BLTTHS lại quy định “Thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải người bị giữ, người bị bắt về trụ sở của mình hoặc kể từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ người phạm tội tự thú, đầu thú.”
Vậy, nếu một người có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và bị Cơ quan điều tra bắt quả tang lúc 12 giờ ngày 01/4/2018 và đưa về trụ sở Cơ quan điều tra lúc 12 giờ 30 phút cùng ngày. Theo quy định tại Điều 118 BLTTHS thì thời hạn tạm giữ sẽ là 03 ngày, kể từ lúc 12 giờ 30 phút ngày 01/4/2018 đến 12 giờ 30 phút ngày 04/4/2018. Nếu có căn cứ để khởi tố và tạm giam thì thời hạn tạm giam (đã trừ tạm giữ) được tính bắt đầu từ thời điểm nào? Nếu theo Điều 118 BLTTHS thì thời hạn tạm giam sẽ được tính tiếp từ lúc 12 giờ 30 phút ngày 04/4/2018. Nếu tính theo quy định tại Điều 134 BLTTHS thì thời hạn tạm giữ sẽ hết vào lúc 24 giờ ngày 04/4/2018, như vậy từ 12 giờ 30 phút ngày 04/4/2018 đến 24 giờ ngày 04/4/2018 người đó bị giữ/ tạm giam mà không có quyết định/ Lệnh và thời hạn tạm giam trong trường hợp này sẽ phải tính tiếp từ lúc 00 giờ ngày 05/4/2018. Thời hạn trong tạm giam được tính bằng tháng (01 tháng được tính bằng 30 ngày), do đó nếu theo Điều 134 BLTTHS thì sẽ không có lợi cho bị can khi bị thiệt 01 ngày tạm giam.
Thứ tư, một số đơn vị sau khi ra quyết định khởi tố bị can, đã áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng cũng đồng thời áp dụng cả biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với bị can vì cho rằng: Việc xuất cảnh là do Cục quản lý xuất nhập cảnh quyết định, còn cấm đi khỏi nơi cư trú thì được quản lý bởi chính quyền địa phương (cấp xã). Do đó, nếu không áp dụng cả biện pháp tạm hoãn xuất cảnh thì sợ bị can sẽ bỏ trốn ra nước ngoài và BLTTHS cũng không cấm áp dụng 02 BPNC cùng trong một khoảng thời gian. Theo tôi cách hiểu trên là không đúng bởi lẽ, nói về mặt không gian thì khi bị can bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại một xã/ phường nào đó rồi thì họ sẽ không được phép đi khỏi xã/phường đó khi chưa được sự đồng ý của đơn vị đã ra quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc của chính quyền địa phương nơi họ được cư trú. Bên cạnh đó, nếu Cơ quan THTT có căn cứ cho rằng bị can đó có dấu hiệu sẽ bỏ trốn ra nước ngoài thì căn cứ vào Điều 119 BLTTHS để áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can.
Trên đây là một số ý kiến mang tính chất cá nhân về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS, xin nêu ra để các đồng chí và các bạn cùng trao đổi./.

Đào Đức Hữu

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn) 

Về thủ tục khởi kiện đối với doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật

Khác với Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014 có quy định cụ thể, tại Điều 13, về Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Theo quy định này thì Doanh nghiệp là công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật.

1. Đặt vấn đề

Quy định tại Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2014 (Luật DN) đã tạo thêm nhiều thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp; bởi vì, trong giai đoạn hội nhập và đổi mới hiện nay, ngày càng có nhiều doanh nghiệp lớn hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh tế, làm phát sinh nhiều nhu cầu giao dịch nhằm thực hiện các hoạt động quản trị, sản xuất, kinh doanh… mà một người đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp không thể đảm nhận hết các vai trò quan trọng này.
Tuy nhiên, nếu quy định nêu trên không được các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn thống nhất, có thể gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong một số lĩnh vực hoạt động, trong đó có lĩnh vực khởi kiện vụ án; bởi các lẽ sau:
– Luật DN không có quy định cụ thể về thủ tục khởi kiện vụ án đối với các doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật, mà chỉ có quy định chung chung là :“Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân… đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án…” (khoản 1 Điều 13) và “…Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp” (khoản 2 Điều 13).
Trong khi đó, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan cũng không có quy định và hướng dẫn cụ thể về thủ tục khởi kiện vụ án đối với doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật; mà chỉ quy định chung chung là “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án…” (Điều 186), “Cơ quan, tổ chức là người khởi kiện thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án” (khoản 3 Điều 189)…
Do Luật DN và các văn bản pháp luật về tố tụng dân sự chưa có quy định và hướng dẫn cụ thể về thủ tục khởi kiện vụ án đối với doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật, nên về vấn đề này đang có các quan điểm áp dụng pháp luật khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng:
Tại khoản 1 Điều 13 Luật DN quy định: “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân… đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án…”, nên đối với doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật, bất cứ người đại diện theo pháp luật nào cũng có quyền đại diện cho doanh nghiệp thực hiện thủ tục khởi kiện vụ án.
Quan điểm thứ hai cho rằng:
Tại khoản 2 Điều 13 Luật DN quy định:“…Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”,do đó, đối với doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật, chỉ người nào được Điều lệ công ty quy định có quyền khởi kiện vụ án thì người đó mới có quyền đại diện cho doanh nghiệp thực hiện thủ tục khởi kiện vụ án; nếu Điều lệ công ty không có quy định người có quyền khởi kiện vụ án thì tất cả những người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cùng phải có văn bản ủy quyền cho một người đại diện cho doanh nghiệp thực hiện thủ tục khởi kiện vụ án.

2. Vướng mắc trong thực tiễn

Do còn có quan điểm khác nhau như trên nên trong thực tiễn đã có trường hợp doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật gặp khó khăn, vướng mắc khi làm thủ tục khởi kiện vụ án; cụ thể là vụ việc sau đây:
– Việc khởi kiện vụ án của Tổng công ty LN:
Tổng công ty LN là Công ty cổ phần và là cổ đông của Công ty cổ phần LS.
Tại Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty LN có quy định hai người đại diện theo pháp luật là:
– Ông CVT là Chủ tịch Hội đồng quản trị, đại diện theo pháp luật khi thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Hội đồng quản trị;
– Ông PVC là Tổng giám đốc, đại diện theo pháp luật khi thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng giám đốc.
– Các quyết định của bất cứ người đại diện theo pháp luật nào đều có giá trị thực hiện nhân danh Tổng công ty.
Ngày 21/9/2016 Tổng công ty LN làm thủ tục khởi kiện yêu cầu TAND quận H ra quyết định hủy bỏ một phần Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông của Công ty cổ phần LS; hồ sơ khởi kiện gồm có:
– Đơn khởi kiện có chữ ký của Tổng giám đốc PVC, có đóng dấu của Tổng công ty LN;
– Giấy ủy quyền của Tổng giám đốc PVC ủy quyền cho bà VMT, đại diện cho Tổng công ty LN tham gia tố tụng tại Tòa án;
– Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Tổng công ty LN, trong đó xác định Tổng công ty có hai người đại diện theo pháp luật là ông CVT (Chủ tịch Hội đồng quản trị) và ông PVC (Tổng giám đốc).
– Một số tài liệu chứng minh cho yêu cầu khởi kiện.
Việc Tòa án thụ lý đơn khởi kiện của Tổng công ty LN:
Ngày 18/10/2016, TAND quận H thụ lý đơn khởi kiện của Tổng công ty LN.
Ngày 26/10/2016, TAND quận H có Thông báo số 287/TBBS-ĐKK gửi Tổng công ty LN về việc yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, trong đó có nội dung:
“… Làm lại đơn khởi kiện: Tiêu đề kính gửi: Tòa án nhân dân quận H, bổ sung chữ ký của người đại diện theo pháp luật (ông CVT) tại đơn khởi kiện và văn bản ủy quyền cho bà VMT hoặc văn bản đồng ý với nội dung đơn khởi kiện và văn bản ủy quyền do ông PVC ký…”
(Sau đó, Tổng công ty LN đã sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo hướng dẫn).
Có thể thấy, việc TAND quận H giải quyết yêu cầu khởi kiện của Tổng công ty LN là theo quan điểm thứ hai, vì đã cho rằng Điều lệ và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Tổng công ty LN quy định hai người đại diện theo pháp pháp luật (là Chủ tịch Hội đồng quản trị CVT và Tổng giám đốc PVC), mà không có quy định cụ thể người nào có quyền khởi kiện vụ án, nên chỉ một Tổng giám đốc PVC ký đơn khởi kiện là không hợp lệ, mà còn cần phải có sự ủy quyền bằng văn bản của Chủ tịch Hội đồng quản trị CVT nữa.

3. Nhận xét

Theo nhận xét của chúng tôi, cả hai quan điểm về thủ tục khởi kiện vụ án đối với doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật nêu trên đều xuất phát từ nhận thức và vận dụng quy định của Luật DN. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào hoạt động của các doanh nghiệp trong thực tiễn, có thể thấy quan điểm thứ nhất là phù hợp, còn quan điểm thứ hai có phần máy móc và sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp; bởi vì, việc doanh nghiệp khởi kiện vụ án là quan hệ tố tụng giữa Tòa án với các đương sự của vụ án (được điều chỉnh bởi BLTTDS), khác hoàn toàn với quan hệ về dân sự, kinh doanh thương mại và lao động – vốn là các mối quan hệ chủ yếu, thường xuyên và hết sức quan trọng trong hoạt động của các doanh nghiệp (được điều chỉnh bởi Luật DN và các luật chuyên ngành có liên quan):
+ Về quan hệ tố tụng, tại BLTTDS (mà phạm vi điều chỉnh là quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động…(Điều 1 BLTTDS 2015)) có quy định: đơn khởi kiện của doanh nghiệp phải do người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp ký tên và có đóng dấu doanh nghiệp (khoản 3 Điều 189), sau khi Tòa án đã thụ lý đơn khởi kiện vụ án đương sự có quyền giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu khởi kiện (khoản 4 Điều 70).
Như vậy, đối với doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật, chỉ cần một trong số những người đại diện theo pháp luật ký tên và có đóng dấu doanh nghiệp trong đơn khởi kiện là thủ tục khởi kiện vụ án hợp lệ và Tòa án phải thụ lý để giải quyết, trường hợp Tòa án đã thụ lý đơn khởi kiện vụ án của doanh nghiệp rồi, nếu doanh nghiệp thấy yêu cầu khởi kiện chưa đúng hoặc không cần thiết khởi kiện, thì doanh nghiệp vẫn có quyền chủ động làm thủ tục thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu khởi kiện mà không bị bất cứ sự ràng buộc nào về mặt pháp lý. Do đó, đối với doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật, Điều lệ công ty không cần thiết phải quy định cụ thể một người nào đó mới được quyền đại diện cho doanh nghiệp khởi kiện vụ án.
Mặt khác, nếu doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật buộc phải quy định cụ thể trong Điều lệ công ty là chỉ một người nào đó mới được quyền khởi kiện vụ án và chỉ khi người này thực hiện thủ tục khởi kiện thì việc khởi kiện vụ án mới được Tòa án chấp nhận, là rất bất cập; vì như vậy sẽ có rất nhiều trường hợp người đại diện cho doanh nghiệp thực hiện thủ tục khởi kiện vụ án nhưng lại không có hiểu biết về hoạt động của doanh nghiệp trong lĩnh vực có tranh chấp (do có nhiều trường hợp người được quyền khởi kiện vụ án theo quy định tại Điều lệ công ty lại không phải là người có thẩm quyền phụ trách điều hành lĩnh vực xảy ra tranh chấp mà doanh nghiệp khởi kiện).
+ Về các quan hệ dân sự, kinh doanh thương mại và lao động, khi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tham gia giao kết hợp đồng là đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ về tài sản của các bên; nếu hợp đồng có hiệu lực pháp luật, bên nào vi phạm hợp đồng sẽ phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho bên kia.
Chính vì vậy, Luật DN (mà phạm vi điều chỉnh là quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp…(Điều 1 Luật DN 2014), khi quy định: doanh nghiệp là công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật (nhằm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau), thì đồng thời cũng có quy định: Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp (nhằm tránh trường hợp doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật có thể nại ra lý do hợp đồng vô hiệu vì người đại diện cho doanh nghiệp tham gia giao kết hợp đồng không có thẩm quyền quản lý và điều hành trong lĩnh vực đã giao kết, để từ chối trách nhiệm bồi thường thiệt hại).
Như vậy, đối với doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật, Điều lệ công ty buộc phải có quy định cụ thể từng người đại diện theo pháp luật có thẩm quyền quản lý và điều hành trong từng lĩnh vực hoạt động quản trị, sản xuất, kinh doanh… và khi những người này đại diện cho doanh nghiệp giao kết hợp đồng trong lĩnh vực thuộc thẩm quyền được Điều lệ công ty quy định thì hợp đồng có hiệu lực pháp luật (trừ trường hợp hợp đồng bị vô hiệu vì lý do khác); còn nếu người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được Điều lệ công ty quy định có thẩm quyền quản lý và điều hành trong lĩnh vực hoạt động này, nhưng lại đại diện cho doanh nghiệp giao kết hợp đồng trong lĩnh vực khác, thì giao dịch đó không có hiệu lực pháp luật.
Từ nhận xét như trên, để việc khởi kiện vụ án được giải quyết thống nhất theo hướng thuận lợi cho doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật, chúng tôi đề nghị Tòa án nhân dân tối cao cùng các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn về thủ tục khởi kiện đối với doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật, theo hướng sau đây:
Đối với doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo pháp luật nào có tên trong Điều lệ công ty cũng được quyền đại diện cho doanh nghiệp thực hiện thủ tục khởi kiện vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)

Quyền khởi kiện lại vụ án trong quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Khoản 1, Điều 218 BLTTDS: Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Tác giả đề cập đến một số quan điểm và phân tích một vài khía cạnh pháp lý có liên quan đến quyền khởi kiện lại vụ án và có có nên ghi hay không ghi quyền này trong quyết định đình chỉ vụ án (Phần hậu quả) để trao đổi với các đồng nghiệp, nhằm áp dụng được thống nhất pháp luật.
Tại biểu Mẫu số 45-DS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC), có hướng dẫn: Tuỳ vào từng trường hợp đình chỉ vụ án cụ thể mà ghi hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 218 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) (kể cả về tiền tạm ứng án phí). Tuy nhiên, thực tiễn khi ban hành quyết định đình chỉ vụ án dân sự vẫn còn chưa có nhận thức thống nhất về việc có nên ghi tại phần hậu quả của quyết định về quyền khởi kiện lại vụ án dân sự hay không và cách thức diễn đạt như thế nào.

1. Một số quan điểm về việc ghi hay không ghi quyền khởi kiện của đương sự trong quyết định đình chỉ vụ án dân sự

 Quan điểm thứ nhất phải ghi đương sự có quyền khởi kiện lại vụ án hay không có quyền khởi kiện lại vụ án ngay trong trong phần hậu quả của quyết định đình chỉ vụ án:
Quan điểm này căn cứ phần hướng dẫn của Mẫu số 45-DS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC): Tuỳ vào từng trường hợp đình chỉ vụ án cụ thể mà ghi hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 218 của Bộ luật tố tụng dân sự, (kể cả về tiền tạm ứng án phí). Nếu không ghi hậu quả về việc có quyền khởi kiện lại hay không có quyền khởi kiện lại vụ án là thiếu sót.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Không cần phải ghi hậu quả về quyền khởi kiện lại vụ án của đương sự trong quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Vì không có điều khoản nào của BLTTDS bắt buộc phải ghi. Đương sự có quyền hay không có quyền khởi kiện lại vụ án là tuỳ vào trường trường hợp sau khi có quyết định đình chỉ vụ án và đương sự có khởi kiện lại vụ án. Lúc đó, Toà án sẽ căn cứ vào việc khởi kiện lại của đương sự, căn cứ vào qui định khoản 1 Điều 218 BLTTDS sẽ đánh giá và quyết định đương sự có quyền khởi kiện lại vụ án hay không. Đây cũng chính là quan điểm của tác giả.
TANDTC chưa có hướng dẫn cụ thể vấn đề này, nhưng Điều 25 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng thẩm phán TANDTC (NQ số 05/2012/NQ-HĐTP), hướng dẫn về Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự quy định tại khoản 1 Điều 193[1] của BLTTD năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011, với nội dung hướng dẫn :… trường hợp đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 192 của BLTTDS thì trong quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Tòa án phải nêu rõ hậu quả pháp lý của việc đình chỉ giải quyết vụ án là các đương sự sẽ không có quyền khởi kiện lại vụ án đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp. Tuy nhiên điểm d, đ khoản 1 Điều 192[2] (Điều luật đình chỉ giải quyết vụ án dân sự) BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 không còn qui định trong Điều 217 BLTTDS năm 2015 (Điều luật tương ứng về chỉ giải quyết vụ án dân sự). Hơn nữa, hướng dẫn tại Điều 25 NQ số 05/2012/NQ-HĐTP là hướng dẫn cho hai trường hợp cụ thể các điểm d, đ của Điều 192 nên các trường hợp đình chỉ khác không bắt buộc phải ghi vào quyết định về đương sự có quyền khởi kiện lại vụ án hay không và cũng không bắt buộc phải giải thích hậu quả cho đương sự trước khi đình chỉ giải quyết vụ án như hướng dẫn tại Điều 25 NQ số 05/2012/NQ-HĐTP.

2. Có sự bất cập, vướng mắc nếu ghi vào phần hậu quả của quyết định về việc đương sự có quyền khởi kiện lại hay không có quyền khởi kiện lại vụ án.

Thứ nhất: Khó khăn xác định chính xác đương sự nào có quyền khởi kiện lại vụ án, đương sự nào không có quyền khởi kiện lại vụ án.
Theo qui định tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu… . Theo khoản 1 Điều 68 BLTTDS đương sự là nguyên đơn, bị đơn, (bị đơn có yêu cầu phản tố hoặc  không), người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (có yêu cầu độc lập) hay chỉ là người có quyền lợi nghĩa đứng về phía nguyên đơn hay bị đơn. Vấn đề đặt ra là nếu ghi đương sự có quyền khởi kiện lại vụ án hay không có quyền khởi kiện lại vụ án là cụ thể những ai? Chỉ có nguyên đơn hay có cả bị đơn có yêu cầu phản tố, hay có cả người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hoặc không có yêu cầu độc lập.
Một ví dụ: Nguyên đơn bà H khởi kiện yêu cầu ông T trả lại đất với lý do ông T ở trong đất của bà bất hợp pháp. Bị đơn ông T phản tố yêu cầu Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông và bà X là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (Không có yêu cầu độc lập và bà X là mẹ ruột của bà H). Toà án yêu cầu bà H đóng tiền chi phí định giá tài sản, chi phí tố tụng khác nhưng bà H không thực hiện, ông T cũng không thực hiện. Toà án căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 217 đình chỉ vụ án. Vậy, đương sự trong vụ án này gồm có bà H, ông T, bà X nếu ghi vào phần hậu quả của quyết định đình chỉ vụ án thì ai là người không có quyền khởi kiện lại vụ án, ai là người có quyền khởi kiện lại vụ án? Có ghi bà X là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền hay không có quyền khởi kiện lại vụ án hay không?
Thứ hai: Hiểu thế nào là việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn
A,B khởi kiện C, D, E. Sau khi đình chỉ vụ án, A  và B chỉ khởi kiện C, D mà không khởi kiện E hoặc chỉ có A khởi kiện của C, D, E. Việc khởi kiện lại vụ án sau có khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn không? Toà án phải thụ lý vụ án hay từ chối thụ lý vụ án. Theo quan điểm cá nhân, bởi lẽ nguyên đơn được hiểu là giải thiết cho rằng quyền và lợi ích mình bị xâm phạm, có thể có nhiều nguyên đơn nhưng chỉ có một nguyên đơn khởi kiện, còn những người khác không khởi kiện đó là quyền của họ, Toà án phải thụ lý vụ án và có trách nhiệm đưa những người còn lại tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (nếu có căn cứ). Tình huống này có thể minh chứng là hầu hết các vụ án sẽ có thể khởi kiện lại vụ án và sẽ làm vô hiệu hoá đối qui định tại khoản 1 Điều 218 BLDS bằng cách thêm hay bỏ bớt người khởi kiện, người bị kiện như ví dụ.
Thứ ba: Khó khăn xác định về quan hệ pháp luật có tranh chấp.
Cũng theo qui định tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS, ngoài những yếu tố về nguyên đơn, bị đơn, để đánh giá đương sự có quyền khởi kiện lại vụ án hay không thì phải xem xét đến yếu tố là quan hệ pháp luật có tranh chấp, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về quan hệ pháp luật có tranh chấp thì đương sự sẽ không có quyền khởi kiện lại vụ án. Tuy nhiên, trên thực tế quan hệ có tranh chấp là do Toà án xác định khi thụ lý vụ án và dựa trên yêu cầu của đương sự. Trong vụ án có thể là có nhiều quan hệ tranh chấp. Trong quyết định đình chỉ vụ án thông tin về số, ngày tháng năm thụ lý vụ án và quan hệ có tranh chấp là đều bắt buộc không thể thiếu sót. Vấn đề đặt ra là không phải Toà án nào khi thụ lý vụ án cũng xác định chính xác quan hệ tranh chấp. Nhưng khi đương sự khởi kiện lại vụ án chỉ thay đổi cách trình bày, cách yêu cầu và đôi khi phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Thẩm phán xử lý đơn thì lúc này quan hệ tranh chấp sẽ được xác định khác và Toà án sẽ phải thụ lý vụ án. Hơn nữa, thực trạng hiện nay khái niệm về tranh chấp còn nhiều vấn đề tranh luận, đơn cử như tranh chấp đất đai hay là tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đât, đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất vv…
Ví dụ: A, B khởi kiện C, D yêu cầu trả tháo dỡ (dỡ dọn) công trình trên đất lấn chiếm và trả lại phần đất lấn chiếm. Có Thẩm phán xác định “Đòi lại sản là quyền sử dụng đất, buộc tháo dỡ công trình trên đất”; có Thẩm phán xác định “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trái phép trên đất”.
Một ví dụ khác: A khởi kiện B hai quan hệ tranh chấp, vụ án được đình chỉ vì một lý do tại điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS, nay A khởi kiện một hay nhiều hai hơn hai quan hệ tranh chấp. Các tình huống đưa ra có được coi được xem là việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về quan hệ pháp luật có tranh chấp thì đương sự sẽ không có quyền khởi kiện lại vụ án (hay là có khác thì đương sự có quyền khởi kiện lại vụ án)?

3. Trao đổi và kiến nghị

Đây cũng là vấn đề tác giả cần trao đổi của tác giả Võ Thị Xuân (TAND huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang) đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử ngày 06/8/2018[3] và tác giả Dương Tấn Thanh[4] (TAND thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh) đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử ngày 07/8/2018 và tác giả Nguyễn Văn Dũng (TAND Tp Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam) đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử ngày 11/7/2018.
Như đã phân tích tại mục 2, nếu khi ghi quyền khởi kiện (được quyền khởi kiện hay không được quyền khởi kiện) vào phần hậu quả của quyết định đình chỉ sẽ gặp nhiều vướng mắc. Chỉ cần có sự sơ suất, bất cẩn Toà án vô tình đã cấm đương sự quyền khởi kiện vụ án. Nếu có khiếu nại, kháng nghị thì chỉ còn cách huỷ quyết định đình chỉ đó để phục hồi quyền khởi kiện của đương sự. Đây là điều mà Thẩm phán không bao giờ mong muốn xảy ra với chính mình. Nhưng thực tế, có quan điểm hướng dẫn và yêu cầu Thẩm phán phải ghi quyền khởi kiện lại vụ án ngay trong phần hậu quả của quyết định. Để đối phó, Thẩm phán thường chọn giải pháp an toàn và ghi: Đương sự có quyền khởi kiện lại vụ án theo qui định của pháp luật, việc ghi như vậy được hiểu: Đương sự không được quyền khởi kiện lại vụ án hay được quyền khởi kiện lại là phụ thuộc vào việc khởi kiện sau đó của đương sự và do Thẩm phán xử lý đơn tại thời điểm đó quyết định. Đây là công việc khả thi của Thẩm phán. Bởi lẽ: Trong quyết định đình chỉ vụ án dân sự chứa đựng các nội dung về nguyên đơn, bị đơn, (bị đơn có yêu cầu phản tố hay không), người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (có yêu cầu độc lập) hay chỉ là người có quyền lợi nghĩa đứng về phía nguyên đơn hay bị đơn; thể hiện rõ quan hệ các bên có tranh chấp (quan hệ được xác định theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và quan hệ theo yêu cầu phản tố nếu có). Với những thông tin này, nếu giả định rằng nguyên đơn tiếp tục khởi kiện lại vụ án tại Toà án thì Toà án phải có trách nhiệm kiểm tra nội dung của vụ án đã bị đình chỉ với nội dung của đơn khởi kiện yêu cầu mới của đương sự. Nếu thông qua kiểm tra, Toà án đánh giá người khởi kiện có quyền khởi kiện lại vụ án hay theo tiêu chí qui định khoản 1, Điều 218 BLTTDS, với nội dung: Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.Nếu không thoả mãn thì Toà án thông báo trả lại đơn khởi kiện.
Tóm lại, để có sự thống nhất trong nhận thức và áp dụng thống nhất, thiết nghĩ: TAND cần có hướng dẫn, giải đáp về vấn đề này. Và để tránh sự vướng mắc, theo tác giả nên cần hướng dẫn, giải đáp theo hướng không nên ghi vào phần hậu quả của quyết định định đình chỉ vụ án dân sự về việc có được quyền khởi kiện lại vụ án hay không có quyền khởi kiện lại vụ án. Đồng thời kiến nghị TANDTC, có hướng dẫn giải thích đối với khoản 1 Điều 218 BLTTDS năm 2015.

ThS. TRƯƠNG THANH HÒA (TAND huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi)

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)

 


[1] Điều luật này qui định hậu quả của việc đình chỉ vụ án dân sự và Điều 218 BLTTDS năm 2015 cũng qui định về vấn đề hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, tuy nhiên không phải giống hoàn toàn mà có sự khác nhau.
[2]Điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 192 của BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011, cụ thể là: d) Cơ quan, tổ chức rút văn bản khởi kiện trong trường hợp không có nguyên đơn hoặc nguyên đơn yêu cầu không tiếp tục giải quyết vụ án; đ) Các đương sự đã tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án;
[3]Xem tại https://tapchitoaan.vn/bai-viet/trao-doi-y-kien/nguyen-don-khong-nop-chi-phi-to-tung-khac-co-duoc-khoi-kien-lai
[4] Toàn bộ nội dung bài viết là quan điểm của tác giả để trao đổi với đồng nghiệp Dương Tấn Thanh, nhưng khi xem bài viết của đồng nghiệp về: 10 trường hợp đương sự có quyền nộp lại đơn khởi kiện của đồng nghiệp, đăng ngày 14/3/2018 tại trang điện tử Kiểm sát online thì nhận thấy trường hợp thứ 6: Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án với lý do người khởi kiện không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, tiền tạm ứng chi phí giám định, tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản. (Điều 151 BLTTDS năm 2015) như vậy chính ngay tác giả đã mâu thuẫn với chính mình về quyền khởi kiện lại vụ án của đương sự. Xem tại:http://kiemsat.vn/10-truong-hop-duong-su-co-quyen-nop-lai-don-khoi-kien-49235.html
 

Bị hại có nghĩa vụ chứng minh giá trị tài sản bị trộm?

Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Tuy nhiên, trong thực tiễn giải quyết các vụ án thì vấn đề bị hại có nghĩa vụ phải chứng minh về tài sản bị mất trộm không, hiện vẫn còn quan điểm khác nhau.
Ngày 12/4/2017, Trần Văn T đột nhập vào nhà của ông Nguyễn Văn B lấy trộm tài sản là vàng và tiền mặt. Sau đó, ông B báo với cơ quan điều tra bị mất tổng cộng 15 chỉ vàng 24K (gồm một sợi dây chuyền 01 lượng vàng 24K; 01 chiếc nhẫn trơn 02 chì vàng 24K và 01 chiếc lắc đeo tay 02 chỉ vàng 24K) và 70 triệu đồng.
Khi cơ quan điều tra huyện X bắt được Trần Văn T thì T khai nhận chỉ lấy trộm của ông B 05 chỉ vàng 24K (gồm 01 chiếc nhẫn trơn 02 chì vàng 24K và 01 chiếc lắc đeo tay 02 chỉ vàng 24K) và 15 triệu đồng nhưng đã tiêu xài hết 05 triệu đồng. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không chứng minh được T đã trộm tiền và vàng của ông B như ông B khai báo. Còn ông B thì cho rằng mình đã bị mất trộm tiền và vàng như trình báo với cơ quan chức năng và đã chứng minh được nguồn tài sản bị mất trộm. Nếu giá trị tài sản bị mất trộm như ông B khai thì T bị truy tố về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015 nhưng nếu giá trị tài sản bị mất trộm như T khai thì T bị truy tố về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS năm. 

Quan điểm thứ hai, cũng là quan điểm của tác giả. Mặc dù ông B chứng minh được nguồn tài sản bị mất trộm như đã khai báo. Cơ quan điều tra chứng minh được thời gian, không gian, địa điểm bị mất trộm là trùng khớp với lời khai của ông B và T. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra không chứng minh được số tài sản T đã trộm như là ông B khai. Vì vậy, chỉ lấy giá trị tài sản mà T khai đã lấy trộm của ông B là 05 chỉ vàng 24K và 15 triệu đồng làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T. Vì vậy, T chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015.Quan điểm thứ nhất, cho rằng: Ông B đã chứng minh được số tài sản bị mất như ông đã trình với với cơ quan điều tra. Việc bị cáo khai báo chỉ lấy trộm của ông B 05 chỉ vàng 24K và 15 triệu đồng là nhằm mục đích che đậy hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã chứng minh được thời gian, không gian, địa điểm bị mất trộm là trùng khớp với lời khai của ông B và T. Vì vậy, phải khởi tố T theo khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015.
Rất mong nhận được ý kiến trao đổi, thảo luận của bạn đọc.
Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiémat.vn)

Tác động của việc phát triển án lệ đối với công tác xây dựng, áp dụng pháp luật dân sự

Một số tác động của việc phát triển án lệ trong 3 năm qua đối với công tác xây dựng, áp dụng pháp luật dân sự.

Công nhận và áp dụng án lệ ở nước ta đã có một quá trình nghiên cứu, vận dụng khá lâu dài ở những cấp độ khác nhau.[1]Tuy nhiên, trên tinh thần Hiến pháp năm 2013, cùng với nền tảng pháp lý về áp dụng, viện dẫn án lệ được ghi nhận tại Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Bộ luật dân sự năm 2015, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Luật tố tụng hành chính năm 2015, Luật phá sản năm 2014 và việc HĐTPTANDTC ban hành Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ (Nghị quyết số 03/2015) thì mặc dù vẫn còn nhiều vấn đề cần được hoàn thiện, nhưng có thể khẳng định việc công nhận, áp dụng án lệ ở nước ta đã bước sang nhận thức mới, tầm nhìn mới có tính chiến lược, bài bản hơn. Sự thay đổi này cũng góp phần tạo bước ngoặt quan trọng, khả thi hơn trong cải cách tư pháp, trong thực hiện vai trò bảo vệ công lý, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án nhân dân và trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật.[2]

Theo một nghĩa hẹp, tại tham luận này, tôi xin đề cập đến một số tác động của việc phát triển án lệ trong 3 năm qua đến công tác xây dựng, áp dụng pháp luật dân sự.[3]

1. Với tiêu chí trong lựa chọn án lệ là “chứa đựng lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần được áp dụng trong một vụ việc cụ thể” (Điều 2.1 Nghị quyết số 03/2015) và với thực tiễn công nhận, áp dụng án lệ (thông qua hiệu quả của xây dựng thể chế, của công tác lựa chọn, công bố, áp dụng tại TANDTC) đã góp phần thay đổi (hoặc đòi hỏi có sự thay đổi) trong nhận thức của cá nhân, cơ quan có thẩm quyền về lập đề nghị, xây dựng chính sách, xây dựng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về dân sự, thẩm định hoặc thẩm tra văn bản.

Những điều, khoản hoặc chính sách có tính “ô đồm”, liệt kê chi tiết, máy móc, cứng nhắc hoặc “nghĩ thay” ứng xử mà người dân có thể tự lựa chọn được trong tham gia các quan hệ dân sự… đã dần được thay thế (hoặc yêu cầu được thay thế) bằng những điều khoản, chính sách bao quát, ổn định hơn, mang tính định hướng chuẩn mực ứng xử pháp lý chung. Những vấn đề có tính biến động cao, không thể dự báo đầy đủ hoặc không thể áp đặt một ứng xử pháp lý chung cho mọi quan hệ trong giao lưu dân sự thì cũng đã dần để (hoặc yêu cầu để) thực tiễn xét xử của Tòa án định hình phù hợp với từng nội dung, tính chất, loại quan hệ, chủ thể quan hệ. Thực tế qua kết quả công bố 16 án lệ và công tác hướng dẫn áp dụng pháp luật[4] cũng như công tác hướng dẫn nghiệp vụ có liên quan (như Công văn giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC…) mặc dù còn ít so với như cầu của cuộc sống và còn có những dấu hỏi đặt ra nhưng chúng đã dần tạo niềm tin cho các cơ quan đề nghị xây dựng pháp luật, cơ quan lập pháp để đổi mới hiệu quả xây dựng pháp luật dân sự gắn với phát huy vai trò của TAND.

…

TRA CỨU BÀI VIẾT ĐẦY ĐỦ TẠI ĐÂY


[1] Trong đời sống chính trị – pháp lý ở Việt Nam, việc phát triển và áp dụng án lệ cũng không phải là vấn đề mới. Trước năm 1945 (ở miền Bắc) và trước năm 1975 (ở miền Nam) việc nghiên cứu và áp dụng áp lệ đã khá phổ biến trong hệ thống Tòa án dưới các chế độ cũ. Trong những năm 1950-1960, Nhà nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã từng ghi nhận việc áp dụng án lệ theo hướng: Để xét xử các vụ án hình sự và dân sự, cần áp dụng luật pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành, áp dụng đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, áp dụng án lệ của các tòa án, của Tòa án tối cao; Tòa án nhân dân phúc thẩm chỉ đạo công việc xét xử của các tòa án nhân dân cấp dưới thông qua án lệ của mình (Thông tư số 19-VHH ngày 30/6/1955 của Bộ Tư pháp, Chỉ thị số 772-TATC ngày 10/7/1959 của Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư số 92-TC ngày 11/11/1959 của Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao; Tập san Tư pháp của Tòa án tối cao trong những năm 1960 cũng đã mở mục bình luận án lệ). Trong suốt thời gian sau đó, mặc dù không có ghi nhận chính thức, nhưng thông qua hoạt động tổng kết công tác xét xử cho thấy việc áp dụng án lệ của ngành Tòa án vẫn được “ẩn” trong các hướng dẫn công tác xét xử của TANDTC. Xem thêm Nguyen Hong Hai, “Court precedents in Vietnam: a view from the building of the 2015 Civil Code”. Vietnam Law and Legal Forum, No 275/Jul 2017.

[2] Thực ra thành tựu về thể chế trong phát triển án lệ của TANDTC không chỉ dừng lại ở Nghị quyết số 03/2015 mà còn thể hiện ở một loạt các nghị quyết có liên quan của HĐTPTANDTC giúp thúc đẩy hình thành, nguồn phát triển án lệ chất lượng hoặc bảo đảm việc áp dụng án lệ có hiệu quả hơn, như: Nghị quyết số 03/2017 về công bố bản án, quyết định trên cổng Thông tin điện tử của Tòa án, hai Nghị quyết về ban hành biểu mẫu trong tố tụng dân sự, Nghị quyết số 03/2016 về hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật phá sản, Nghị quyết số 03/2018 về hướng dẫn áp dụng một số quy định pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu; các công văn của TANNDTC hướng dẫn nghiệp vụ trong lĩnh vực dân sự, hành chính…

Một kết quả cũng đáng ghi nhận thể hiện qua cách làm dân chủ, khoa học, bài bản của Chánh án, HĐTPTANTC và đội ngũ tham mưu, thu hút được tham gia khá đông đảo của nhiều Bộ, ngành, chuyên gia trong và ngoài nước; qua việc minh bạch, công khai trên trang điện tử về án lệ, trong bình luận án lệ; công tác tập huấn viết bản án, quyết định…

[3] Mặc dù mới ở mức khiêm tốn.

[4] Xem chú thích 2


NGUYỄN HỒNG HẢI – Vụ Pháp luật dân sự – kinh tế, Bộ Tư pháp

SOURCE: Hội nghị Sơ kết 03 năm thực hiện Công tác phát triển án lệ của TANDTC. TP.HCM, 17/9/2018 (Sử dụng bản dự thảo đầy đủ, một số câu, chữ khác với bản trong kỷ yếu Hội nghị)