Dấu hiệu pháp lý của Tội môi giới hối lộ tại Bộ luật Hình sự 2015

Tội mô giới hối lộ được quy định trong Điều 365 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
 

Điều 365. Tội môi giới hối lộ
1. Người nào môi giới hối lộ mà của hối lộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
b) Lợi ích phi vật chất.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;
c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
d) Biết của hối lộ là tài sản của Nhà nước;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
e) Phạm tội 02 lần trở lên;
g) Của hối lộ trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc trường hợp của hối lộ trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
4. Phạm tội thuộc trường hợp của hối lộ trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.
6. Người môi giới hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
7. Người nào môi giới hối lộ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tại Điều này.

 

1. Làm môi giới hối lộ là gì?

Làm môi giới hối lộ là hành vi làm trung gian tạo điều kiện (móc nối) để đưa hối lộ và bên nhận hối lộ(có thể theo yêu cầu của bên đưa hối lộ hoặc bên nhận hối lộ) thỏa thuận việc đưa và nhận hối lộ.

2. Các yếu tố cấu thành tội môi giới hối lộ

2.1. Mặt khách quan

– Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
a) Về hành vi. Có hành vi giới thiệu hoặc giúp cho bên đưa hối lộ và bên nhận hối lộ gặp nhau để thỏa thuận việc hối lộ (như chọn địa điểm, thời gian, chuyển lời đề nghị, yêu cầu…giữa hai bên), kể cả chuyển hoặc nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất hoặc phi vật chất khác cho bên đưa hối lộ hoặc nhận hối lộ;
– Thời diểm hoàn thành tội môi giới hối lộ được tính từ thời điểm bên nhận hối lộ và bên đưa hối lộ đạt được sự thỏa thuận đưa và nhận hối lộ.
b) Dấu hiệu khác. Có một trong các dấu hiệu sau:
– Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất trị giá 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
– Lợi ích phi vật chất.

2.2. Khách thể

– Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến hoạt đông đúng đắn của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế của Nhà nước.

2.3. Mặt chủ quan

– Người phạm tội môi giới hối lộ thực hiện tội phạm với lỗi cố ý.

2.4. Chủ thể

– Chủ thể của tội môi giới hối lộ là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

3. Những tình tiết được miễn trách nhiệm hình sự

– Theo quy định tại khoản 6 thì: Người môi giới hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự về hành vi môi giới hối lộ.
– Đây là quy định mang tính khoan hồng nhằm phòng ngừa chung, đồng thời tạo điều kiện để đấu tranh với các tội phạm tham nhũng (tội nhận hối lộ và tội đưa hối lộ).

4. Về hình phạt của tội môi giới hối lộ

Mức hình phạt của tội phạm này được chia thành 04 khung, cụ thể như sau:
a) Khung một (khoản 1)
Có mức phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
b) Khung hai (khoản 2)
Có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
c) Khung ba (khoản 3)
Có mức phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
d) Khung bốn (khoản 4)
Có mức phạt tù từ 08 năm đến 15 năm.

5. Hình phạt bổ sung

Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình phạt chính nêu trên, tùy từng trường hợp cụ thể người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.
Lưu ý: Theo quy định tại khoản 6 thì:
Người nào môi giới hối lộ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tại Điều này.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Dấu hiệu pháp lý của Tội đưa hối lộ tại Bộ luật Hình sự 2015

Tội đưa hối lộ quy định tại Điều 364 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
 

Điều 364: Tội đưa hối lộ
1. Người nào môi giới hối lộ mà của hối lộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
b) Lợi ích phi vật chất.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;
c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
d) Biết của hối lộ là tài sản của Nhà nước;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
e) Phạm tội 02 lần trở lên;
g) Của hối lộ trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc trường hợp của hối lộ trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
4. Phạm tội thuộc trường hợp của hối lộ trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.
6. Người môi giới hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
7. Người nào môi giới hối lộ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tại Điều này.

 

1. Đưa hối lộ là gì?

Đưa hối lộ là hành vi dùng tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác hoặc lợi ích phi vật chất trực tiếp hoặc qua trung gian đã đưa hoặc sẽ đưa cho người có chức vụ, quyền hạn, hoặc người khác hoặc tổ chức khác để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.

2. Các yếu tố cấu thành tội đưa hối lộ

2.1. Khách thể của tội phạm

– Là xâm phạm sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

– Là hành vi đưa hối lộ cho người có chức vụ quyền hạn.
– Một hành vi bị coi là hối lộ khi giá trị hối lộ từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc các loại giá trị phi vật chất khác (như tình dục, vị trí, việc làm,…). Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi đã loại bỏ tình tiết định tội “từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần”. Như vậy, theo Luật hình sự mới, mọi hành vi đưa của hối lộ có trị giá dưới 2.000.000 đồng bất luận gây hậu quả gì hoặc được thực hiện nhiều lần cũng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hối lộ.
– Hành vi ở đây được thể hiện dưới hình thức: đã đưa hoặc sẽ đưa trực tiếp hoặc qua trung gian. Như vậy, hành vi hối lộ cần phải được xác định trước hết bởi hai yếu tố: chủ thể “đưa của hối lộ” và “của hối lộ” của ai. Một điểm mới của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi so với Bộ luật hình sự năm 1999, đó là đã đưa ra định nghĩa cụ thể cho hành vi đưa hối lộ. Tuy nhiên, việc quy định hành vi hối lộ bao gồm cả hành vi “sẽ đưa” có thể sẽ gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố tội phạm liên quan đến xác định chứng cứ và thời điểm hoàn thành tội phạm này.
– Cũng cần phân biệt giữa hành vi đưa hối lộ với hành vi môi giới hối lộ.

2.3. Mặt chủ quan

Mặt chủ quan của tội phạm là lỗi cố ý trực tiếp.
– Nếu người đưa hối lộ đưa nhầm cho người không có chức vụ quyền hạn thì vẫn cấu thành tội đưa hối lộ, nếu người nhận biết đưa nhầm mình là người có chức vụ quyền hạn mà vẫn nhận của hối lộ thì người nhận sẽ bị xử lý về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
– Tội đưa hối lộ có động cơ vụ lợi. Mục đích là để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặ theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Tuy nhiên, động cơ không phải là dấu hiệu cấu thành bắt buộc của loại tội phạm này.
Tình tiết tăng nặng:
+ Có tổ chức;
+ Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
+ Dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ;
+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
+ Phạm tội 02 lần trở lên;
+ Của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng trở lên.

2.4. Chủ thể của tội phạm:

Bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm chịu trách nhiệm hình sự và đến một độ tuổi theo quy định của Bộ luật hình sự thì đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm này.

3. Về hình phạt tội đưa hối lộ

– Nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về tăng cường tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội, giảm khả năng áp dụng hình phạt tù, mở rộng khả năng áp dụng các hình phạt không tước tự do, tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án linh hoạt xem xét áp dụng hình phạt phù hợp đối với một số trường hợp phạm tội chức vụ ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi đã bổ sung hình phạt cải tạo không giam giữ và quy định phạt tiền là hình phạt chính đối với tội đưa hối lộ (khoản 1 điều 364). Đồng thời, khung hình phạt cũng được điều chỉnh xuống mức thấp hơn so với Bộ luật hình sự 1999.
– Khung cơ bản: phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
– Khung tăng nặng: so với Bộ luật hình sự năm 1999, khung tăng nặng đối với tội đưa hối lộ của Bộ luật hình sự năm 2015 cũng có sự điều chỉnh theo xu hướng giảm nhẹ hơn.
– Cụ thể:
+ Khung tăng nặng thứ nhất: phạt tù từ 02 đến 07 năm;
+ Khung tăng nặng thứ hai: phạt tù từ 07 năm đến 12 năm;
+ Khung tăng nặng thứ ba: phạt tù từ 12 năm đến 20 năm;
+ Như vậy mức khung “trần” cho tội đưa hối lộ theo Bộ luật hình sự năm 2015 là 20 năm.
Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

4. Miễn trách nhiệm hình sự

Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.
Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Yếu tố lỗi ảnh hưởng đển tỉ lệ tài sản được chia khi vợ chồng ly hôn

Khi ly hôn, theo nguyên tắc chung, vợ chồng có tranh chấp về tài sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi. Tuy nhiên, theo qui định hiện hành, Toà án còn phải tính đến một số yếu tố để xác định tỉ lệ tài sản mà vợ chồng được chia, trong đó có yếu tố lỗi của mỗi bên vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Thực tế, Toà án khó xác định được lỗi của mỗi bên (vợ, chồng) thậm chí là không thể. Mặt khác, yếu tố lỗi của mỗi bên không phải là căn cứ để quyết định cho hay không cho ly hôn.
Trong phạm vi bài viết, chúng tôi tập trung tìm hiểu, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ chia tài sảnchung của vợ chồng, thực tiễn về đường lối của Toà án về vấn đề này như thế nào. Đánh giá về tính khả thi của qui định về yếu tố lỗi của mỗi bên vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng phân tích một số định có liên quan để làm sáng tỏ hơn vấn đề.

1. Quy định về chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn

Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) năm 1959, không qui định về việc chia đôi tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn thành một nguyên tắc nhưng có qui định: Khi ly hôn, việc chia tài sản sẽ căn cứ vào sự đóng góp về công sức của mỗi bên, vào tình hình tài sản và tình trạng cụ thể của gia đình[1]. Nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng có tranh chấp sẽ được chia đôi khi ly hôn bắt đầu được qui định tại Luật HN&GĐ năm 1986[2], Luật HN&GĐ năm 2000[3] và hiện nay là Luật HN&GĐ năm 2014.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014 và điểm d khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ tư pháp về việc hướng dẫn thi hành một số qui định của Luật HN&GĐ năm 2014 (viết tắt là Thông tư số 01/2016) thì tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỉ lệ tài sản mà vợ chồng được chia: Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung; bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Chia đôi là nguyên tắc và sẽ “giữ vai trò chi phối” trong mối quan hệ với các yếu tố khác. Nhưng nếu có xuất hiện yếu tố khác: Chẳng hạn yếu tố công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung, hay yếu tố lỗi của một trong hai bên  trong việc vì phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng thì sẽ ảnh hưởng đến việc chia tài sản chung của vợ chồng như thế nào và tỉ lệ chia cho mỗi bên là bao nhiêu hay do Toà án tự quyết định? Quan điểm và đường lối chia tài sản khi ly hôncủa TANDTC về vấn đề này như thế nào?

2. Đường lối chia tài sản khi ly hôn của TANDTC

Tại Thông tư số 690-DS ngày 29-4-1960
Đối với tài sản thừa kế hay tặng cho một bên, tài sản riêng của mỗi bên trước khi kết hôn mà đem về, đồ đạc dùng cho cá nhân mà có giá trị và những tài sản do vợ chồng lao động chung mà tạo nên đều được coi là tài sản chung của vợ chồng và nên kiểm kê, đánh giá rồi căn cứ vào các tiêu chuẩn: Lao động góp sức vào gia đình nhiều hay ít, kết hôn lâu hay mới, con cái đông hay ít và trình trạng cụ thể của hai bên mà nhận xét để chia cho thoả đáng. Nếu xét lao động cả hai bên tương xứng thì mới chia bằng nhau. Nếu xét một bên lao động kém, lại có những hành vi phá tán, hoang phí sẽ chia cho sát theo sự đóng góp công sức của mỗi bên.
Lời tổng kết hội nghị tổng kết công tác năm 1977 của ngành Toà án nhân dân
Về tư trang… Đặc biệt ở Miền Nam, trong nhiều vụ án, các Toà án giải quyết chia vàng và đồ trang sức bằng vàng cho các đương sự, việc chia như vậy là hợp tình hợp lý, vì khi kết hôn, nhà trai và nhà gái tặng vợ chồng một số vàng vừa có tác dụng trang sức cho người phụ nữ, vừa có mục đích cho vợ chồng làm vốn liếng xây dựng gia đình. Vì vậy, khi xử lý loại việc này, các Toà án cần xác định là số ít đồ trang sức của riêng người phụ nữ không chia… còn những thứ chủ yếu là để dành làm vốn cho cả hai vợ chồng thì cần kiểm kê để chia cho cả hai người  theo những nguyên tắc đã qui định tại Điều 15 và Điều 29 Luật HN&GĐ (năm 1959).
Thông tư 60/TATC ngày 22 tháng 2 năm 1978 của TANDTC hướng dẫn giải quyết các việc tranh chấp về hôn nhân và gia đình của cán bộ, bộ đội có vợ, có chồng trong nam, tập kết ra bắc lấy vợ, lấy chồng khác
Về tài sản: Nếu cần xử chia tài sản trong các trường hợp ly hôn, tiêu hôn trên đây. Cũng như trong các vụ ly hôn trước đây chỉ mới xử ly hôn, còn gác lại vấn đề tài sản để xét sau, thì trước khi xử chia, phải điều tra, xác minh đầy đủ về nguồn gốc, về tình trạng tài sản còn nhiều hay ít, hiện ai giữ… để việc phân chia được chính xác, thoả đáng.
Chỉ thị số 69/TATC ngày 24 tháng 12 năm 1979 về việc giải quyết vấn đề nhà, đảm bảo chỗ ở cho các đương sự sau khi ly hôn
Nhà do hai vợ chồng tạo lập trong thời gian chung sống là tài sản chung của vợ chồng – việc chia nhà cho bên vợ hay chồng cần phải xem xét các mặt như: Hai người có thực sự ở nhà đó từ trước đến khi ly hôn hay vợ hoặc chồng có nơi ở khác… Nếu hai bên thực sự đều có khó khăn trong việc tạo lập chỗ ở mới thì ngăn chia nhà đó cho cả hai bên sử dụng. Diện tích chia cho mỗi bên sử dụng nhiều hay ít tuỳ thuộc cụ thể vào việc đảm nhận nuôi con cái, không nhất thiết chia đôi… Nhà gắn liền với đất – Trong trường hợp đất rộng thì có thể chia đất cho cả hai bên – Nếu trên đất có cây ăn trái thì cũng chia cho thoả đáng…
Báo cáo tổng kết công tác năm 1978 của ngành Toà án nhân dân
Đối với  các Toà án ở Miền Nam, Toà án  nhân dân tối cao đã lưu ý sự cảnh giác đối với những vụ án ly hôn có khối tài sản lớn, đề phòng thủ đoạn ly hôn giả tạo để phân tán tài sản, trốn tránh cải tạo… Trong quá trình giải quyết vụ án tranh chấp dân sự và hôn nhân gia đình, các Toà án còn phải chú ý thêm đến đặc điểm ở mỗi vùng miền, đặc điểm của từng địa phương … để có chủ trương đúng… Vì vậy, khi giải quyết các vụ án kiện ly hôn có chia tài sản (máy móc, nông cụ, ruộng đất, trâu bò…), các Toà án cần thận trọng. Đối chiếu kỹ với nội dung, tinh thần các văn bản kể trên tránh thiếu sót.
Lời tổng kết hội nghị tổng kết công tác năm 1975 của ngành Toà án nhân dân, lời tổng kết hội nghị tổng kết công tác năm 1979 của ngành Toà án nhân dân có đề cập đến vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn nhưng cũng không đề cập đến tỉ lệ cụ thể. Ngoài ra, các văn bản pháp luật có qui định về việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn từ năm 1986 đến trước trước ngày Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực thì không có qui định cụ thể về tỉ lệ nếu có xuất hiện yếu tố khác[4].
Luật HN&GĐ năm 2014 và Thông tư liên tịch số 01/2016 có đề cập đến một số yếu tố để xác định tỉ lệ tài sản mà vợ chồng được chia khi ly hôn nhưng không nói rõ là tỉ lệ cụ thể. Tháng 11 năm 2018, trong tài liệu tập huấn Luật HN&GĐ , TANDTC có đề cập: “trong thực tiễn xét xử, dù một bên có công sức rất lớn, có nhiều yếu tố khác để được chia nhiều hơn thì cũng không được chia nhiều gấp đôi bên kia, hay nói cách khác thì dù được chia nhiều cũng không đến 2/3 giá trị tài sản chung”[5].
Chúng tôi viện dẫn đường lối xét xử vụ án hôn nhân và gia đình có liên quan đến việc chia tài sản chung nêu trên để thấy được và đi đến kết luận là: bắt đầu từ  Luật HN&GĐ năm 1986 cho đến thời điểm hiện tại, khi xét xử vụ án ly hôn, nếu tài sản chung mà vợ chồng có tranh chấp thì căn cứ vào nguyên tắc là “chia đôi” nhưng cũng phải tính đến các yếu tố khác, nhưng không nói cụ thể tỉ lệ là bao nhiêu mà do Toà án quyết định trong từng vụ việc cụ thể.

3. Yếu tố lỗi ảnh hưởng đến tỉ lệ tài sản được chia khi vợ chồng ly hôn

Trong các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ tài sản được chia khi vợ chồng li hôn thì  lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng là một yếu tố mới bổ sung vào Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014. Theo Thông tư liên tịch số 01/2016 hướng dẫn thi hành Luật HN&GĐ năm 2014 thì “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.
Với việc qui định “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là một yếu tố để xác định tỉ lệ tài sản mà vợ chồng được chia thật sự không thể thi hành trên thực tế. Bởi những lý do sau đây:
Thứ nhất: Khó nhận diện và phân định rõ ràng vợ hay chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân; vi phạm quyền, nghĩa vụ về tài sản.
Về quyền và nghĩa vụ về nhân thân của vợ chồng được qui định, tại Mục 1, Chương III, từ Điều 17 đến Điều 23 trong Luật HN&GĐ năm 2014 là một qui định viện dẫn đến các quyền, nghĩa vụ cụ thể trong Luật HN&GĐ, Bộ luật Dân sự, các luật khác có liên quan và cả trong Hiến pháp. Đơn cử về điều luật qui định về tình nghĩa vợ chồng tại Điều 19 Luật HN&GĐ: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác. Nghĩa vụ yêu thương, nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, nghĩa vụ sống chung vv… như điều luật qui định là những thuật ngữ mang tính định tính, trừu tượng nên khi xét xử, Toà án khó xác định vợ chồng có vi phạm về quyền, nghĩa vụ về nhân thân, thậm chí không muốn nói là không thể.
Về vi phạm quyền, nghĩa vụ về tài sản: Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2014 qui định về nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng: Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Trong trường hợp việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường. Rõ ràng vấn đề bồi thường dân sự đã được đặt ra nếu vợ chồng có vi phạm về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản đối với người còn lại hoặc người thứ ba, vậy tại sao lại tiếp tục qui định vi phạm quyền, nghĩa vụ về tài sản tại điểm d khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016. Với qui định như thế, chúng tôi cho rằng một hành vi vi phạm phải chịu đến hai loại trách nhiệm pháp lý và theo chúng tôi qui định tại hướng dẫn của thông tư là không phù hợp với Điều 29 của Luật HN& GĐ.
Để làm rõ thêm về “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng”, Thông tư liên tịch số 01/2016 cho Ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên. Theo chúng tôi ví dụ này thực chất là làm sáng tỏ thêm nguyên nhân mâu thuẫn, mức độ trầm trọng của tình cảm vợ chồng và hoàn cảnh của vợ, con để có cách thức bảo vệ chủ thể yếu thế hơn đó là người vợ và trẻ chưa thành niên. Một số trong những cách thức hữu hiệu là giao cho họ với tỉ lệ nhiều hơn, không nên đồng nhất “lỗi” là yếu tố tác động, ảnh hưởng đến tỉ lệ được chia. Vấn đề này đã được đề cập tại Thông tư số 690-DS ngày 29-4-1960 của TANDTC: … căn cứ vào tiêu chuẩn: Lao động góp sức vào gia đình nhiều hay ít, kết hôn lâu hay mới, con cái đông hay ít và trình trạng cụ thể của hai bên mà nhận xét để chia cho thoả đáng. Nếu xét lao động cả hai bên tương xứng thì mới chia bằng nhau. Nếu xét một bên lao động kém, lại có những hành vi phá tán, hoang phí sẽ chia cho sát theo sự đóng góp công sức của mỗi bên.
Thứ hai: Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng không phải là căn cứ để Toà án giải quyết cho các bên ly hôn. Căn cứ để Toà án cho vợ chồng ly hôn được qui định tại Điều 55, 56 Luật Hôn nhân & Gia đình. Khoản 1 Điều 56 qui định: Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Với nội dung qui định này thì lỗi mỗi bên không phải là một căn cứ để Toà án giải quyết cho ly hôn. Nếu không phải là một căn cứ để cho ly hôn thì Toà án không nhận định trong bản án về lỗi nên không có cơ sở nhận định việc chia tài sản cho vợ hay chồng được hưởng nhiều hơn do người kia có lỗi trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Có quan điểm cho rằng “Lỗi” của vợ chồng là một trong những căn cứ cho ly hôn tại khoản 1 Điều 56 và đây là điểm mới của Luật HN&GĐ 2014 là không chính xác[6]. Thực chất đó là một nội dung được luật hoá vào trong khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ 2014 từ nội dung hướng dẫn thế nào “Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng”, “Đời sống chung không thể kéo dài được”, “Mục đích của hôn nhân không đạt được”  đã được nêu tại Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&GĐ năm 2000.
Về vấn đề lỗi của vợ chồng cũng đã được đề cập tại Báo cáo tổng kết công tác năm 1962 của ngành Toà án nhân dân: … Có một vài Toà án còn nêu lỗi của một bên trong phần quyết định của của bản án xử ly hôn là do chưa quán triệt đường lối, xét xử ly hôn phải căn cứ vào tình cảm vợ chồng hết hay còn để làm cơ sở phân tích cho ly hay không cho ly… Tất nhiên, khi phân tích, đánh giá tình cảm, Toà án phải xét nguồn gốc mâu thuẫn, động cơ đưa đến việc ly hôn để có hướng giúp đỡ thích hợp cho đương sự…  Với lời tổng kết này, TANDTC không xem lỗi không là căn cứ cho li hôn.
Thứ ba: Không thể cân đối lỗi giữa vợ và chồng trong cuộc sống khi xét xử, giải quyết vụ án li hôn. Thực tế xét xử tại Toà án cho thấy: Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn trong gia đình dẫn đến ly hôn khá đa dạng và hầu hết xuất phát từ cả hai phía, người vợ người chồng. Đến Toà án, người vợ khai người chồng thiếu quan tâm, chăm sóc, không sống chung (theo Điều 19 Luật HN&GĐ là vi phạm nghĩa vụ vợ chồng) người vợ mới đi ngoại tình (vì phạm nghĩa vụ vợ chồng). Người chồng khai người bị vợ thường xuyên xúc phạm nên người chồng không quan tâm đến người vợ (vi phạm nghĩa vụ vợ chồng) vvv… Rõ ràng, mỗi vợ chồng, mỗi gia đình là một hoàn cảnh, có nhiều nguyên nhân đang xen nhau, nguyên nhân này là tiền đề của mâu thuẫn gia đình, rồi chính mâu thuẫn đó lại là nguyên nhân, là tiền đề của mâu thuẫn mới nên không thể xác định được lỗi thuộc về ai, ai là người nhiều lỗi hơn, ai là người ít hơn. Nên việc qui định vấn đề xem xét lỗi của mỗi bên để tính toán quyết định tỉ lệ chia tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn như qui định tại điểm d khoản 2 Điều 59 Luật HN&GĐ hiện hành và điểm d khoản 4 Điều 7  Thông tư liên tịch số 01/2016  là thiếu tính thực tiễn, không khả thi trên thực tế.

4. Nhận xét, kiến nghị

Một trong những nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là phải đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật[7]. Văn bản quy phạm pháp luật phải đảm bảo tiêu chí: qui định phải dễ áp dụng, thi hành trên thực tế đời sống. Như phân tích ở trên, rõ ràng việc qui định yếu tố lỗi của mỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng để Toà án xem xét tính toán đến tỉ lệ chia tài sản chung khi ly hôn là không khả thi trên thực tế.
Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng không phải là căn cứ cho ly hôn tức là không được nhận định khẳng định vợ hay chồng có lỗi nhiều hay ít, tỉ lệ bao nhiêu mà hệ quả kéo theo là nhận định trong việc chia tài sản với tỉ lệ đó. Cả phương diện thực tiễn, chưa có qui định nào qui định khi có lỗi thì tỉ lệ được chia tài sản là bao nhiêu.
Trên cơ sở đã phân tích ở phần trên,  chúng tôi có kiến nghị sau:
Nên bãi bỏ điểm qui định tại điểm d khoản 2 Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014. Cụ thể là bãi bỏ nội dung:  “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng được qui định”.
Đồng thời, bãi bỏ điểm d khoản 4 Điều 7 tại Thông tư liên tịch 01/2016 và ví dụ hướng dẫn điểm khoản này, cụ thể bãi bỏ hướng dẫn: “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôm và bãi bỏ ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.
ThS. TRƯƠNG THANH HÒA (TAND huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi)
Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).


[1] Xem Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959.
[2] Xem Điều 42 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986.
[3] Xem Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
[4] Nghị quyết số 02/2004/HĐTP ngày 10 tháng 8 năm 2004 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 01/2003/HĐTP ngày 16 tháng 4 năm 2003 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết  một số loại tranh chấp án dân sự, hôn nhân và gia đình;  Nghị quyết số 02/2000/ HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng hướng dẫn áp dụng một số qui định của luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19 tháng 10 năm 1990 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng  một số qui định của pháp lệnh thừa kế; Nghị quyết 01/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 01 năm 1988 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng hướng dẫn áp dụng một số qui định của luật hôn nhân và gia đình (năm 1986). Nghị quyết sô 35/2000/NQ-QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc Hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình. Nghị định số 70/2001/NĐ ngày 03 tháng 10 năm 2001của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật hôn nhân và gia đình.
[5] Xem Tài liệu tập huấn giải quyết vụ việc hôn nhân gia đình năm 2018 của TANDTC, tr46,47.
[6] Xem tại http://www.sotuphapqnam.gov.vn/index.php/2017-03-13-06-49-51/2061-v-yu-t-li-trong-lut-hon-nhan-va-gia-inh-2014
[7] Xem Khoản 1 Điều 5 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Bình luận Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi tại Bộ luật hình sự 2015

Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 153 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tương ứng với Điều 121. Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi BLHS 1999.
 

Điều 153. Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ người dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp;
c) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;
d) Đối với từ 02 người đến 05 người;
đ) Phạm tội 02 lần trở lên;
e) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Đối với 06 người trở lên;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
d) Làm nạn nhân chết;
đ) Tái phạm nguy hiểm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

 
Bình Luận

1. Khái niệm

Chiếm đoạt người dưới 16 tuổi, được hiểu là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ người dưới 16 tuổi.

2. Các yếu tố cấu thành tội phạm chiếm đoạt người dưới 16 tuổi.

2.1. Mặt khách quan.
Mặt khách quan của tội phạm này có một trong các dấu hiệu sau:
– Có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác chiếm giữ người  dưới 16 tuổi.
– Có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác giao cho người khác chiếm giữ người dưới 16 tuổi.
Lưu ý:
–  Dùng vũ lực (xem giải thích ở tội cướp tài sản).
– Đe dọa dùng vũ lực (xem giải thích ở tội cưỡng đoạt tài sản).
– Dùng thủ đoạn khác (xem giải thích ở tội cưỡng đoạt tài sản).
2.2. Khách thể.
– Hành vi nêu trên xâm phạm đến quan hệ về quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng và sống chung với cha mẹ, quyền được bảo vệ của người dưới 16 tuổi.
2.3. Mặt chủ quan.
– Người phạm tội thực hiện tội phạm tên với lỗi cố ý.
2.4. Chủ thể.
– Chủ thể của ba tội nêu trên là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

3. Về hình phạt

– Mức hình phạt của tội phạm này được chia thành 3 khung, cụ thể như sau:
a) Khung 1 (Khoản 1).
– Có mức phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
b) Khung 2 (Khoản 2).
– Có mức phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
c) Khung 3 ( Khoản 3).
– Có mức phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.

4. Hình phạt bổ sung

Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình phạt chính nêu trên, tùy từng trường hợp cụ thể người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng; cấm đảm nhận nhiệm vụ, chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Hành vi quan hệ tình dục khác là những hành vi nào?

Trong Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015, các tội xâm phạm tình dục từ Điều 141 đến Điều 146, ngoài khái niệm giao cấu đã được quy định bổ sung khái niệm “hành vi quan hệ tình dục khác”. Hiểu thế nào là hành vi quan hệ tình dục khác là câu hỏi cần được giải đáp để có nhận thức thống nhất.
 
Các nội dung liên quan:

  • Các yếu tố cấu thành Tội hiếp dâm tại BLHS 2015
  • Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
  • Tội cưỡng dâm
  • Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
  • Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
  • Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

 
Giao cấu được hiểu là hình thức quan hệ tình dục bằng cách đưa bộ phận sinh dục nam vào bên trong bộ  phận sinh dục nữ. Hành vi quan hệ tình dục khác có thể bao gồm các hình thức quan hệ tình dục như: quan hệ tình dục qua đường hậu môn, quan hệ tình dục bằng miệng (đưa bộ phận sinh dục nam vào miệng nữ, miệng nam xâm nhập bộ phận sinh dục nữ), quan hệ sinh dục bằng tay (tay của nam xâm nhập bộ phận sinh dục nữ, tay của nữ  “ xóc “ bộ phận sinh dục nam), quan hệ tình dục bằng cách liếm hoặc hôn hít bộ phận sinh dục.
Như vậy, những hành vi không phải là hành vi quan hệ tình dục khác nhằm thoả mãn khoái lạc tình dục là hành vi dâm ô. Do đó, khái niệm về tội dâm ô như  sau: Dâm ô tức là có hành vi bỉ ổi đối với người khác, tuy không phải là hành vi giao cấu nhưng cũng nhằm thoả mãn tình dục của mình hoặc khêu gợi bản năng tình dục của người đó (ví dụ như: dùng tay sờ mó hoặc kích thích bộ phận sinh dục, tác động dương vật vào những chỗ khác trong thân thể người phụ nữ ngoài bộ phận sinh dục hoặc chỉ quệt bên ngoài bộ phận sinh dục không có ý định ấn vào trong , ấn dương vật vào sau quần,cho xuất tinh vào sau quần , bắt nạn nhân sờ mó bộ phận sinh dục của mình v.v…(1). Hoặc khái niệm về hành vi dâm ô đối với trẻ em là hành vi của người phạm tội, như sờ,bóp… vào những bộ phận kích thích tình dục của trẻ em hoặc buộc trẻ em phải có hành vi như sờ, bóp … vào những bộ phận kích thích tình dục của người đó hoặc của người khác ,nhưng không có việc giao cấu với trẻ em (2), đều không còn phù hợp với quy định của BLHS.
Theo đó, có thể hiểu tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 146 BLHS là hành vi của người đủ 18 tuổi trở lên sờ soạng lên thân thể của người  dưới 16 tuổi như: sờ đùi, sờ mông, sờ ngực, sờ bộ phận sinh dục mà không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện hành vi quan hệ tình dục qua đường hậu môn, qua đường miệng, hoặc quan hệ tình dục bằng tay , bằng cách liếm hoặc hôn hít bộ phận tình dục. (Ở Nhật Bản hành vi sờ soạng lên thân thể người chưa đủ 13 tuổi, kể cả trường hợp được nạn nhân đồng ý, bị coi là phạm tội dâm ô với mức hình phạt từ 6 tháng đến 10 năm tù; trong trường hợp người đủ 13 tuổi trở lên đồng ý thì không bị coi là phạm tội).
Việc xác định khái niệm hành vi quan hệ tình dục khác như nêu trên sẽ đáp ứng được yêu cầu xử lý đối với những hành vi xâm hại tình dục chỉ dùng tay hoặc dùng miệng … Nếu không, sẽ xử lý như thế nào đối với kẻ tấn công một người phụ nữ bằng cách chỉ dùng tay, dùng miệng … xâm nhập vào bộ phận sinh dục của họ ?
Tôi nghĩ rằng, TANDTC, VKSNDTC và BNV nên sớm hướng dẫn vấn đề này đáp ứng yêu cầu đấu tranh với loại tội phạm xâm phạm tình dục nói chung và xâm phạm tình dục đối với trẻ em nói riêng đang xảy ra rất phức tạp hiện nay.
NGÔ CƯỜNG (Nguyên Vụ trưởng Vụ HTQT- TANDTC)
Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)


(1)Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm và một số tội phạm khác về tình dục , số 329-HS2 ngày 11-5-1967 của TANDTC (theo hướng dẫn tại văn bản này , dâm ô với người dưới 16 tuổi tròn bị phạt từ 3 tháng đến 2 năm tù).
(2)Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT- TANDTC-VKSNDTC- BVN ngày 2-1-1998 của Toà án nhân dân tối cao- Viện kiểm sát nhân dân tối cao- Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an)hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự.

Các yếu tố cấu thành Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi quy định tại Điều 144 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sủa đổi, bổ sung năm 2017). 
 

Điều 144. Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
1. Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đang ở trong tình trạng lệ thuộc mình hoặc trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Có tính chất loạn luân;
b) Làm nạn nhân có thai;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
d) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;
đ) Phạm tội 02 lần trở lên;
e) Đối với 02 người trở lên;
g) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Nhiều người cưỡng dâm một người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;
d) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;
đ) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

 
Bình luận Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

1. Khái niệm

Đây là hành vi cưỡng dân trẻ em, được hiểu là hành vi dùng mọi thủ đoạn khiến trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi là người đang bị lệ thuộc vào người phạm tội hoặc đang ở trong tình trạng quẫn bách phải giao cấu với người phạm tội một cách miễn cưỡng. Nếu cưỡng dâm người dưới 13 tuổi thì sẽ phạm tội Hiếp dâm trẻ em Điều 142 Bộ luật hình sự.

2. Các yếu tố cấu thành Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

* Mặt khách quan: Mặt khách quan của tội này gồm có các dấu hiệu sau đây
Về hành vi. Có hành vi giao cấu trẻ em là người bị lệ thuộc hoặc cần sự giúp đỡ bằng việc sử dụng thủ đoạn như dụ dỗ, mua chuộc, đe dọa ….
Dấu hiệu khác : Trẻ em bị hại phải có mối quan hệ lệ thuộc voeis người phạm tội. Được hiểu là mối quan hệ lệ thuộc về nhiều mặt như : về vật chất (được nuôi dưỡng, được trợ giúp các điều kiện sinh sống, được chăm sóc….), về xã hội (giữa giáo viên với học sinh, giữa bác sĩ với bệnh nhân ), về tín ngưỡng (giữa tín đồ với nhiều chức sắc tôn giáo); về gia đình (giữa anh chị em cùng cha khác mẹ…).
Nhìn chung các dấu hiệu của mặt khách của tội này giống với tội cưỡng dâm nhưng chỉ khác đối tượng nạn nhân là trẻ em.
+ Tội phạm hoàn thành từ lúc trẻ em giao cấu với người phạm tội.
+ Trẻ em bị hại là người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.
+ Việc đe dọa không phải là đe dọa bằng vũ lực.
* Khách thể:  Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền được tôn trọng, bảo vệ về thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em, xâm phạm đến sức khỏe, sự phát triển bình thường của trẻ em.
* Mặt chủ quan: Người phạm tội cưỡng dâm trẻ em thực hiên tội phạm này với lỗi cố ý.
* Chủ thể: Chủ thể của tội cưỡng dâm trẻ em là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự. Đồng thời phải có quan hệ lệ thuộc với trẻ em hoặc có quan hệ nhất định trong việc giúp đỡ trẻ em thoát khỏi tình trạng quẫn bách.

3. Về hình phạt Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

Các tình tiết tăng nặng định khung của tội cưỡng dâm trẻ em giống với các tình tiết tăng nặng của tội hiếp dâm trẻ em. Điều 144 Bộ luật hình sự năm 2015.
– Làm rõ hành vi cưỡng dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi.
– Thêm trương hợp bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm, đó là các trường hợp:
+ Gây thương tích cho nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
+ Gây rối loạn tinh thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.
+ Phạm tội 02 lần trở lên (chuyển khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân thành khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm).
+ Đối với 02 người trở lên (chuyển khung hình phạt tù từ 12 đến 20 năm hoặc tù chung thân thành khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm).
– Thêm trường hợp bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
+ Gây thương tích cho nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên.
+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi cảu nạn nhân 46% trở lên.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

So sánh công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn

So sánh công ty cổ phần (CP) và công ty trách nhiệmhữu hạn (TNHH) theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 để chỉ rõ điểm giống và khác nhau giữa 2 loại hình doanh nghiệp này.

Sự giống nhau giữa công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn

– Thành viên có thể là cá nhân, tổ chức;
– Có sự tách bạch về tài sản của công ty và tài sản của các thành viên;
– Đều có tư cách pháp nhân;
– Đều là loại hình công ty đối vốn;
– Thành viên góp vốn chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp của mình;
– Thành viên công ty có quyền chuyển nhượng vốn theo quy định của pháp luật.

Phân biệt công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn

Tiêu chí Công ty Cổ phần Công ty trách nhiệm hữu hạn
Số lượng Không giới hạn cổ đông, tuy nhiên tối thiểu phải có 3 cổ đông trở lên. Thành viên giới hạn từ 1 đến 50 tùy thuộc TNHH 1 thành viên hoặc TNHH 2 thành viên trở lên.
Tính chất hoạt động – Công ty cổ phần là loại hình công ty có tổ chức phức tạp hơn so với công ty TNHH, hoạt động mang tính xã hội sâu rộng.– Dễ dàng huy động được nguồn vốn lớn thông qua việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu, do đó chia sẻ được rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Công ty TNHH chịu ít ràng buộc pháp lý hơn so với công ty cổ phần, có số vốn ít hơn do công ty TNHH chỉ có quyền phát hành trái phiếu, do vậy khả năng chịu rủi ro cao hơn.
Vốn – Được phép phát hành cổ phiếu để huy động vốn;
– Vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
– Góp vốn: Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua tối thiểu 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày công ty cổ phần được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
– Trường hợp cổ đông không thanh toán hoặc thanh toán không đủ vốn góp trong thời hạn trên => Xử lý theo quy định tại Khoản 3 Điều 112 Luật Doanh nghiệp 2014.
– Không được phép phát hành cổ phiếu;– Vốn điều lệ của Công ty TNHH tính theo tỷ lệ % vốn góp;
– Góp vốn: Thành viên phải góp vốn phần vốn góp cho công ty đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký thành lập Doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký Doanh nghiệp. Được cấp giấy chứng nhận phần vốn góp khi góp đủ và đúng loại tài sản như cam kết trong đúng thời gian đã quy định.
– Trường hợp không góp đủ và đúng hạn: công ty làm thủ tục điều chỉnh vốn điều lệ, tỷ lệ góp vốn của thành viên theo thực tế góp.
Chuyển nhượng phần vốn góp/cổ phần – Cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 của Luật Doanh nghiệp 2014 và Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần.
– Việc chuyển nhượng được thực hiện bằng hợp đồng theo cách thông thường hoặc thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán.
– Nếu thành viên muốn chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình thì trước tiên phải chào bán phần vốn góp đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty TNHH với cùng điều kiện.– Thành viên chỉ có thể chuyển nhượng cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty TNHH không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày chào bán.
Cơ cấu – Công ty cổ phần có Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), Hội đồng quản trị(HĐQT), Chủ tịch HĐQT, và Giám đốc/Tổng giám đốc.
– Công ty cổ phần có trên 11 cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty cổ phần phải có ban kiểm soát.
– Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất.
– Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý của công ty cổ phần.
– Công ty TNHH 2 thành viên có Hội đồng thành viên (HĐTV), Chủ tịch HĐTV, và Giám đốc/Tổng giám đốc. Công ty TNHHcó từ 11 thành viên trở lên phải thành lập Ban kiểm soát.– Hội đồng thành viên là cơ quan quyết định cao nhất của công ty.
Chế độ quản lý Việc thành lập và quản lý công ty cổ phần phức tạp hơn so với công ty TNHH do bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật.
Các trường hợp hoạt động đối kháng nhau về lợi ích luôn xảy ra ở các công ty này.
– Quyền quản lý công ty được gắn chặt với các thành viên tham gia thành lập công ty dựa theo số vốn đóng góp.– Các trường hợp hoạt động đối kháng nhau về lợi ích ít xảy ra hơn so với công ty cổ phần.
Căn cứ pháp lý Luật Doanh nghiệp 2014
Các yếu tố cấu thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015. tương ứng với Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ BLHS 1999.
 

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Làm chết 02 người;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%:
g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

 
Bình luận Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Khái niệm

Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, được hiểu là hành vi của người tham gia giao thông đường bộ đã không thực hiện, thực hiện không đúng các quy định pháp luật giao thông đường bộ.

2. Các yếu tố cấu thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

2.1. Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội này có một trong các dấu hiệu sau:
– Làm chết người;
– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.
– Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng
Lưu ý:
–  Hậu quả được quy định chung với từng trường hợp phạm tội cụ thể. Đây là các quy định mới so với BLHS 2009.
– Hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ của người tham gia giao thông đường bộ là hành vi không thưc hiện hoặc thực hiện không đúng các quy tắc giao thông đường bộ và hành vi này phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả về tính mạng, sức khỏe và tài sản.
– Trường hợp phương tiện giao thông đường bộ di chuyển, hoạt động nhưng không tham gia giao thông đường bộ (như di chuyển, hoạt động của trường học, công trường đang thi công hoặc đang khai khác) mà gây ra tai nạn thì người điều khiển phương tiện giao thông đường không bị truy cứu trách nhiệm trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về  tham gia giao thông đường bộ mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng khác nếu thỏa mãn dấu hiệu của tội phạm đó như tội vô ý làm chết người quy định tại Điều 128, tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính tại Điều 129 hoặc tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người quy định tại Điều 295.

2.2. Khách thể

– Hành vi  phạm tội xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông  đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác.

2.3. Mặt chủ quan

– Người phạm tội thực hiện tội này với lỗi cố ý.

2.4. Chủ thể

– Chủ thể của tội phạm là bất kỳ người nào tham gia giao thông đường bộ có năng lức trách nhiệm hình sự.

3. Về hình phạt

Mức hình phạt của tội được chia thành 4 khung, cụ thể như sau:
a) Khung một (Khoản 1):
– Có mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
b) Khung hai (Khoản 2):
– Có mức phạt từ 03 năm đến 10 năm.
c) Khung ba (Khoản 3):
– Có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
d) Khung bốn (Khoản 4):
– Có mức phạt từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

4. Hình phạt bổ sung

– Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình phạt chính nếu trên, tùy từng trường  hợp cụ thể người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn) 

Phương pháp nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự

Phương pháp nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự (trong giai đoạn xét xử) là cách thức tiến hành nghiên cứu hồ sơ vụ án của Thẩm phán, Hội thẩm.
 
Mục lục:

  1. Đọc, nghe, nhìn tài liệu
  2. Ghi chép, đánh dấu tài liệu
  3. So sánh, đối chiếu tài liệu
  4. Phân tích tài liệu

 
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, Thẩm phán, Hội thẩm đều có những cách thức riêng để nghiên cứu hồ sư vụ án. Tuy nhiên, từ thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự tại Tòa án, có thể rút ra các cách  thức cơ bản nghiên cứu hồ sơ vụ án sau đây:

1. Đọc, nghe, nhìn tài liệu

Đọc tài liệu, được áp dụng đối với tài liệu viết hoặc hình ảnh có chụp chữ viết.
Khi đọc tài liệu cần đọc chậm, đọc kỹ vầ đọc nhiều lần cùng một tài liệu. Cần thiết có thể gạch dưới những câu, chữ hoặc đoạn văn cần chú ý.
Không đọc qua loa tài liệu vì có thể sẽ không hiểu hết ý nghĩa của câu, chữ trong tài liệu hoặc bỏ sót những nội dung trong tài liệu.
Đối với những tài liệu mà chữ viết xấu hoặc khó hiểu thì cần mời người cung cấp tài liệu giải thích rõ.
Đối với những tài liệu là bản photo mà chũ viết mờ thì cần đoií chiếu với bản gốc để hiểu chính xác nội dung viết.
Nghe tài liệu (thường là nghe các thiết bị âm thanh như băng, đĩa ghi âm và các thiết bị điện tử khác)
Khi nghe các tài liệu ghi âm cần kèm theo văn bản ghi chi tiết nội dung (thương là giọng nói) gồm :

  • Thời gian diễn ra sự kiện.
  • Những người (nhân vật) tham gia sự kiện.
  • Nơi diễn ra sự kiện.
  • Nội dung cuộc trao đổi (nói chuyện) trong băng, đĩa ghi âm.

Sau khi nghe tài liệu ghi âm (kết hợp với đọc văn bản ghi nội dung), nếu nghe thấy khó hiểu hoặc không rõ thì yêu cầu người cung cấp tài liệu giải thích.
Thực chất việc nghe tài liệu là kết hợp nghe và đọc.
Nhìn tài liệu (hình ảnh, đĩa ghi hình, băng ghi hình và các thiết bị điện tử ghi hình khác) hoặc hiện vật.
Trong vụ án hình sự nhiều trường hợp người tham gia tố tụng cung cấp tài liệu là hình ảnh hoặc vật chứng để chúng minh. Do vậy việc nhìn tài liệu hoặc hiện vật là cần thiết không được xem nhẹ.
Việc nhìn tài liệu hoặc hiện vật cũng cần kết hợp với việc đọc tài liệu để có thể hiểu được ý nghĩa, gái trị cảu hình ảnh hoặc hiện vật.

2. Ghi chép, đánh dấu tài liệu

Một Thẩm phán có thể trong cùng một thời gian (như trong một tháng) phỉa nghiên cứu giải quyết nhiều hồ sơ và có những hồ sơ phức tạp, trong đó có số lượng tài liệu lớn (thậm chí có hồ sơ vụ án có hàng nghàn tài liệu). Vì vậy, ghi chép, đánh dấu tài liệu giúp nâng cao hiệu quả nghiên cứu hồ sơ vụ án cũng như nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án.
Việc ghi chép là ghi những thông tin cần chú ý khi đọc tài liệu như tên tài liệu,  số bút lục và những thông tin cần thiết để có thể dễ dàng tra cứu hồ sơ.
Việc đánh dấu tài liệu muc đích để dễ dàng tìm kiems tài liêu trong hồ sơ hoặc nột nội dung cụ thể  nào đó trong một tài liệu trong hồ sơ. Việc đánh dấu có thể là gạch dưới, khoanh dấu tròn số thứ tự ở đầu dòng hoặc tô đoạn chữ trong tài liệu bằng bút màu.

3. So sánh, đối chiếu tài liệu

So sánh, đối chiếu tài liệu so sánh, đói chiếu giữa tài liệu này với tài liệu khác hoặc giữu tài liệu gốc (bản chính) với tài liệu được sao chép lại.
Việc so sánh, đối chiếu tài liệu giá đánh giá chính xác nội dung cảu tài liệu, cũng như để phát hiện các mâu thuẫn trong nội dung của tài liệu.
Ví dụ 1: So sánh, đối chiếu các biên bản ghi lời khai của hai nhân chứng đã phát hiện lời khai của các nhân chứng có mâu thuẫn nhau.
Ví dụ 2: So sánh, đối chiếu giữa các biên bản hỏi cung của bị cáo (bị cáo có nhiều biên bản ghi lời khai) thì phát hiện nội dung trong các biên bản hỏi cung trong các biên bản có mâu thuẫn với nhau.

4. Phân tích tài liệu

Về mặt logic thì phân tích tài liệu là một thao tác tư duy của Thẩm phán và Hội thẩm trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được phân công,mà trong đó phân tích tài liệu chỉ là một trong nhiều thao tác tư duy cần có trong quá trình.
Trên cơ sở phân tích tài liệu mới có thể làm bộc lộ (hay thấy rõ) được nội dung của tài liệu, của hồ sơ vụ án  cũng như thấy rõ được bản chất củ sự việc.
Ví dụ : Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án Thảm phán phát hiệ tài liệu cơ quan điều tra thu thập có dấu vết bị cạo sửa nội dung.
Trong trường hợp này cần phân tích như sau :

  • Vết cạo sửa nội dung do ai thực hiện?
  • Mục đích cạo sửa để làm gì và có lợi cho người cạo sửa hay không?
  • Nội dung đã bị cạo sửa như thế nào?
  • Có cần thiết phải giám định hay không?

Nhưu vậy, đã có ít nhất bốn vấn đề cần phân tích xung quah tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập.
Với những vụ án hình sự đơn giản, chứng cứ rõ ràng thì việc phân tích tài liệu, phân tích hồ sơ không đòi hỏi phải mất nhiều thời gian và công sức.
Tuy nhiên đối với những vụ án phức tạp thì việc phân tích đòi hỏi phải thấu đáo, chi tiết, và mất nhiều thời gian.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội

Trong các quy định về xử lý người chưa thành niên phạm tội thì việc miễn trách nhiệm hình sự đối với đối tượng này là một vấn đề cần để nghiên cứu. Trong phạm vi bài viết này, người viết trình bày cách hiểu là chế định trên, quy định của nó trong pháp luật hình sự Việt Nam qua từng giai đoạn, hạn chế và đề xuất một số ý kiến có liên quan.
 

1. Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự

Miễn trách nhiệm hình sự (TNHS) là một quy định trong Bộ luật Hình sự (BLHS) Việt Nam, được hiểu là tùy theo giai đoạn tiến hành tố tụng, cơ quan có thẩm quyền (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) cho bị can, bị cáo không phải chịu trách nhiệm hình sự, được thể hiện dưới hình thức văn bản tố tụng nhất định, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
Miễn trách nhiệm hình sự không có nghĩa là bị can, bị cáo không phạm tội. Đối tượng này đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự, khi thỏa mãn điều kiện cấu thành tội phạm mà luật quy định, họ được miễn trách nhiệm hình sự. Nói cách khác, không thể miễn trách nhiệm hình sự đối với người không phạm tội hoặc không đủ căn cứ để xác định được hành vi của người đó là hành vi phạm tội. Việc miễn trách nhiệm hình sự này là do chính sách nhân đạo của Nhà nước, chứ không phải oan saido cơ quan tiến hành tố tụng gây ra, do đó, người được miễn trách nhiệm hình sự không được yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Bồi thường nhà nước.
Hình thức văn bản tố tụng thể hiện việc miễn trách nhiệm hình sự có thê là quyết định đình chỉ điều tra vụ án; Quyết định đình chỉ vụ án, Bản án, cụ thể như sau:
– Cơ quan điều tra có quyền miễn trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể, sau khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành điều tra vụ án, nếu xét thấy có đủ căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự thì mới ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án. Tại điểm a khoản 1 Điều 230 BLTTHS 2015 quy định về đình chỉ điều tra “Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp: … có căn cứ quy định tại …. khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự”.
Viện kiểm sát cũng có thẩm quyền đình chỉ vụ án khi có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự cho người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội. Khoản 1 Điều 248 BLTTHS 2015 khẳng định “Viện kiểm sát quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ ….quy định tại khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự”.
Tại phiên tòa xét xử công khai, Hội đồng xét xử nghị án nhiều vấn đề, trong đó có: Bị cáo có thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, hay không. Nếu đủ điều kiện, thì Hội đồng xét xử phải tuyên miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo trong phần quyết định của Bản án (Điều 326 BLTTHS năm 2015).

2. Quy định về miễn trách nhiệm hình sự trong lịch sử lập pháp Việt Nam

Quốc triều hình luật
Quốc triều Hình luật (còn gọi là Bộ luật Hồng Đức), mặc dù mang bản chất giai cấp phong kiến sâu sắc nhưng Bộ luật Hồng Đức lại có những điểm tiến bộ, nhân đạo cho các đối tượng yếu thế trong xã hội như người già, trẻ nhỏ, người bị tàn tật.
Miễn, giảm trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 18, 19, 450, 499, 553 của Bộ luật, cụ thể trong các trường hợp như tự vệ chính đáng, tình trạng khẩn cấp, tình trạng bất khả kháng, thi hành mệnh lệnh, tự thú (trừ thập ác, giết người). Pháp luật thời kỳ này không nêu rõ thế nào là miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên. Tuy nhiên, Điều 16 đã nêu rõ người 15 tuổi trở xuống, phạm từ tội lưu [1] trở xuống đều cho chuộc bằng tiền, phạm tội thập ác [2] thì không theo luật này. Người từ 10 tuổi trở xuống, phạm tội phản nghịch, giết người, đánh phải tội chết thì cũng phải tâu để vua xác định; ăn trộm đánh người bị thương thì cho chuộc, còn ngoài ra thì không bắt tội. Từ 7 tuổi trở xuống dầu có bị tội chết cũng không hành hình. Điều đó người viết có thể hiểu là, người từ đủ 7 tuổi đến dưới 10 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi phạm tội, trừ trường hợp đứa trẻ đó phạm tội phản nghịch, giết người, đáng phải tội chết; ăn trộm đánh người bị thương.
Hoàng Việt luật lệ: [3]
Hoàng Việt luật lệ hay còn được biết đến với tên Hoàng triều luật lệ (Bộ luật Gia Long). Cũng giống như Bộ luật Hồng Đức, bộ luật này cũng có những quy định nhân đạo đối với “đối tượng dễ bị tổn thương” trong xã hội. Việc tôn trọng người già, nhân từ với con trẻ và thương xót những người tàn tật là một trong những tôn chỉ của Bộ luật này. Theo đó, người từ 15 tuổi trở xuống phạm tội lưu trở xuống, cho thu tiền chuộc; người từ 10 tuổi trở xuống phạm việc giết người, thì phải tâu lên vua xem xét quyết định; nếu trộm, làm tổn thương người khác cho chuộc bằng tiền, ngoài ra các điều khác thì không bắt tội; người từ 7 tuổi trở xuống là người thiếu trí và lực, dù mắc tội phản nghịch vẫn không cũng không bị hành hình [4]. Bộ luật không quy định rõ từng câu chữ là miễn trách nhiệm hình sự như luật hiện hành, nhưng qua nội dung được trích dẫn ở trên, người làm luật tại thời nhà Nguyễn đã nhận thức rõ và phát huy tinh thần nhân đạo cao cả. Theo đó, người từ đủ 7 tuổi  đến dưới 10 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi phạm tội, trừ trường hợp đứa trẻ đó phạm việc giết người, thì phải tâu lên vua xem xét quyết định; nếu trộm, làm tổn thương người khác cho chuộc bằng tiền.
BLHS 1985 quy định người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra hoặc xét xử, do sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội.
Chủ thể có quyền quyết định miễn trách nhiệm nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội là Viện kiểm sát, Tòa án nếu xét thấy người đó phạm tội ít nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và nếu được gia đình và tổ chức xã hội nhận trách nhiệm giám sát, giáo dục.
BLHS 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 khẳng định người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.
Thẩm quyền miễn trách nhiệm hình sự cho người chưa thành niên thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Tuy nhiên, chế định này trong quá trình áp dụng bộc lộ những hạn chế như: cơ sở pháp lý chưa cụ thể, quy định miễn trách nhiệm hình sự nhưng không kèm theo biện pháp giáo dục, dẫn đến khả năng tái phạm cao từ người chưa thành niên.

3. Điều kiện được miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội

Điều kiện để người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS năm 2015 là:
Thứ nhất, người phạm tội là người chưa thành niên. Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến chưa thành niên đã có lỗi cố ý hoặc vô ý trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm.
Thứ hai, tội phạm mà người đó thực hiện phải thuộc một trong các trường hợp nêu tại khoản 2 Điều 91 BLHS năm 2015, cụ thể:
– Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ tội phạm quy định tại các điều 134, 141, 171, 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật này;
– Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ tội phạm quy định tại các điều 123, 134, 141, 142, 144, 150, 151, 168, 171, 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật này;
– Người chưa thành niên là người đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể trong vụ án (điểm c khoản 2 Điều 90).
Thứ ba: Người chưa thành niên phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả.

4. Hạn chế và đề xuất

Trong quá trình nghiên cứu, người viết nhận thấy quy định miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội là rất cần thiết; tuy nhiên để triển khai chế định này trong thực tiễn xét xử, TANDTC cần có văn bản hướng dẫn quy định cụ thể miễn trách nhiệm hình sự về điều kiện được miễn trách nhiệm cho người chưa thành niên về các phương diện như sau:
Thứ nhất: Nếu người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại tại khoản 1 của các Điều 134, 141, 171, 248, 249, 250, 251 và 252 và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả… thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp khiển trách, giáo dục tại xã phường, thị trấn, hòa giải tại cộng đồng. 8 điều luật nêu trên, mỗi điều luật có nhiều khoản, trong đó, Điều 134 – Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, khung hình phạt ở khoản 1 là từ 06 tháng đến 03 năm; Điều 141 – Tội hiếp dâm– khung hình phạt ở khoản 1 là từ 02 năm đến 07 năm; Điều 171 – Tội cướp giật tài sản –  khung hình phạt ở khoản 1 là từ 01 năm đến 05 năm; Điều 248 – Tội sản xuất trái phép chất ma túy – khung hình phạt ở khoản 1 là từ 02 năm đến 07 năm; Điều 249 – Tội tàng trữ trái phép chất ma túy – khung hình phạt ở khoản 1 là từ 01 năm đến 05 năm; Điều 250 – Tội vận chuyển trái phép chất ma túy – khung hình phạt ở khoản 1 là từ 02 năm đến 07 năm; Điều 251 – Tội mua bán trái phép chất ma túy – khung hình phạt ở khoản 1 là từ 02 năm đến 07 năm; Điều 252 – Tội chiếm đoạt chất ma túy – khung hình phạt ở khoản 1 là từ 01 năm đến 05 năm. Như vậy người từ đủ 16 tuổi đến chưa thành niên phạm tội quy định tại khoản 1 các điều này, có khung hình phạt cao nhất là 07 năm – loại tội phạm nghiêm trọng, nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả… thì có được miễn trách nhiệm hình sự hay không [5]. Theo người viết, trường hợp này sẽ không được miễn trách nhiệm hình sự. Bởi vì nội dung khoản 2 Điều 91 BLHS đã nêu rõ, không miễn trách nhiệm hình sự khi người từ đủ 16 tuổi đến chưa thành niên phạm tội thuộc 08 tội danh ở trên. Do đó, văn bản hướng dẫn của TANDTC nên khẳng định lại nội dung này, để tránh gây ra sự nhập nhằng trong việc áp dụng pháp luật.
Thứ hai: Cấp có thẩm quyền cần xác định rõ tình tiết “có nhiều tình tiết giảm nhẹ” là như thế nào, với số lượng là bao nhiêu tình tiết. Có thể áp dụng tương tự như hướng dẫn tình tiết “có nhiều tình tiết giảm nhẹ” theo Nghị quyết 02/2018 của Hội đồng thẩm phán TANDTC về án treo theo Điều 65 BLHS không. Tại tiểu mục 3 Điều 2 của Nghị quyết 02/2018/NQQ-HĐTP xác định: Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Người viết không ủng hộ quan điểm tương tự này, Nghị quyết 02/2018 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn về án treo theo Điều 65 BLHS, án treo được hiểu là không chấp hành hình phạt tù có thời hạn nhưng có điều kiện. Mức độ hưởng sự nhân đạo từ Nhà nước đối với người chấp hành án treo là thấp hơn so với miễn trách nhiệm hình sự, nên điều kiện về tình tiết giảm nhẹ của người được miễn trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn so với quy định số lượng tình tiết giảm nhẹ án treo.
Người viết đề xuất: Có từ 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Thứ ba: Một trong những điều kiện để miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội là việc tự nguyện khắc phụ phần lớn hậu quả được hiểu là như thế nào? Có bao gồm việc người thân của bị can, bị cáo khắc phục hậu quả dùm cho bị can, bị cáo hay không, vì sẽ có tình huống bị can, bị cáo còn nhỏ tuổi không có tài sản để khắc phục hậu quả nhưng người thân của họ thì có tài sản. Mặc khác, theo quy định tại Điều 599 BLDS năm 2015, người chưa đủ 15 tuổi gây ra thiệt hại thì cha mẹ, người giám hộ của họ phải bồi thường trừ trường hợp người dưới 15 tuổi thực hiện hành vi vi phạm trong thời gian  trường học trực tiếp quản lý. Người viết đề xuất văn bản hướng dẫn của cấp có thẩm quyền ghi nhận việc người thân bồi thường cho hành vi gây thiệt hại của họ bằng tài sản của người thân cũng là điều kiện cần để áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự, tương đồng với quy định của BLDS đã nêu ra ở trên.
Thứ tư: Việc phối hợp trong áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục đối với người chưa thành niên phạm tội khi được miễn trách nhiệm hình sự cũng chưa được pháp luật quy định cụ thể. Theo đó, Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đương nhiên quyết định miễn trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn có tiêu chí tại khoản 2 Điều 91 BLHS và áp dụng các biện pháp khiển trách, giáo dục tại xã phường, thị trấn, hòa giải tại cộng đồng hay phải có yêu cầu của người chưa thành niên phạm tội hoặc người đại diện của họ? Nếu có, hình thức yêu cầu là gì? Trường hợp, hòa giải tại cộng đồng mà không thành thì xử lý người chưa thành niên thực hiện hành vi như thế nào, có tiếp tục cho họ được miễn trách nhiệm hình sự hay không?
Những hạn chế đã được Thông tư 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BTP-BLĐTBTBXH về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên giải quyết. Thông tư này có hiệu lực vào ngày 05/02/2019, thay thế Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12/7/2011 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTHS đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên. Nội dung của văn bản này quy định Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng chỉ quyết định miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng biện pháp khiển trách, giáo dục tại xã, phường, thị trấn nếu người chưa thành niên phạm tội hoặc người đại diện của họ có văn bản đề nghị áp dụng; Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng chỉ quyết định miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng nếu người chưa thành niên phạm tội hoặc người đại diện của họ có văn bản đề nghị áp dụng; người bị hại và người đại diện của họ tự nguyện hòa giải và có văn bản đề nghị miễn trách nhiệm hình sự. Kết quả hòa giải thành là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định miễn trách nhiệm hình sự. Trường hợp hòa giải tại cộng đồng mà không thành thì xử lý người chưa thành niên thực hiện hành vi thì cơ quan tiến hành tố tụng tiếp tục tiến hành điều tra, truy tố, xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Kết luận: Miễn trách nhiệm hình sự thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với người thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời động viên, khuyến khích, tạo điều kiện cho người phạm tội tự giáo dục, cải tạo để hòa nhập với cộng đồng và giúp họ trở thành người có ích cho xã hội. Thực tiễn áp dụng chế định này trong thời gian qua mà đặc biệt là từ khi BLHS năm 2015 có hiệu lực đã phát sinh có nhiều cách hiểu khác nhau khi áp dụng việc miễn trách nhiệm hình sự. Do đó, cơ quan có thẩm quyền cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn để chế định này được áp dụng triệt để hơn trong thực tiễn xét xử.

Th.s NGUYỄN THỊ THANH VÂN (TAND huyện Cần Giuộc, Long An)

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).


[1] Tức lưu đày đi nơi xa.
[2] Thập ác: Là 10 trọng tội nguy hiểm nhất như: Các tội liên quan đến vương quyền: mưu phản, mưu đại nghịch (điều 2, 411), mưu bạn (phản bội tổ quốc-điều 412), đại bất kính (430, 431). Các tội liên quan đến quan hệ hôn nhân-gia đình: ác nghịch (điều 416), bất hiếu (nhiều điều, chẳng hạn điều 475), bất mục, bất nghĩa, nội loạn. Tội liên quan đến tiêu chí đạo đức hàng đầu của Nho giáo: bất đạo (Điều 420 và Điều 421).
[3] Viện khoa học xã hội Việt Nam (2009), Cổ luật Việt Nam Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
[4] Điều 1 Luật Danh lệ  Quốc triều hình luật.
[5] Về vấn đề phân loại tội phạm, tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại Điều 9 BLHS năm 2015.