Chuẩn bị phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015

Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện, thành lập, tham gia nhóm tội phạm hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm. Nội dung này được quy định tại Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Điều 14. Chuẩn bị phạm tội
1. Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.
2. Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.
3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

 

Bình luận về Chuẩn bị phạm tội trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

– Tội phạm có thể thực hiện đến cùng khi người phạm tội đã đạt được mong muốn của họ. Tuy nhiên cũng nhiều trường hợp tội phạm không thực hiện được đến cùng (không như mong muốn ban đầu của họ) vì những nguyên nhân khách quan khác. Để phân hóa trách nhiệm hình sự đảm bảo nguyên tắc công bằng, Luật hình sự phân chia quà trình thực hiện tội phạm thành các giai đoạn tương ứng với mỗi giai đoạn thì trách nhiệm hình sự không giống nhau bởi lẽ, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hộicủa mỗi giai đoạn là khác nhau.
– Các giai đoạn thực hiện phạm tội là quá trình thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp thể hiện mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và kéo theo đó là mức độ trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải gánh chịu tương ứng với các giai đoạn thực hiện tội phạm.
– Như vậy, việc xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc của mỗi giai đoạn phạm tội là rất quan trọng. Xác định không đúng thời điểm này sẽ hoặc xử lý quá nặng hoặc quá nhẹ không tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Các giai đoạn thực hiện phạm tội chỉ xảy ra đối với lỗi cố ý trực tiếp. Lỗi cố ý gián tiếp và vô ý không có giai đoạn mà chỉ có việc có hoặc không phạm tội. Bên cạnh đó, phải xác định biểu hiện khách quan của các hành vi phạm tội trong mỗi giai đoạn đó
– Điều luật đang bình luận quy định về giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình phạm tội thể hiện ra ngoài thế giới khách quan và trách nhiệm hình sự được đặt ra (giai đoạn hình thành âm mưu, dự định, toan tính… diễn ra trong ý thức người phạm tội thì không đặt ra vấn đề trách nhiệm hình sự cho dù nó có nguy hiểm đến đâu.

– Về thời điểm của giai đoạn chuẩn bị phạm tội:

+ Thời điểm bắt đầu của chuẩn bị phạm tội: là thời điểm người phạm tội bắt đầu có hành vi thể hiện ra bên ngoài thế giới khách quan bằng hành vi chuẩn bị tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hiện phạm tội.
+ Thời điểm chấm dứt của giai đoạn chuẩn bị phạm tội: Là thới điểm ngay trước khi thực hiện hành vi được mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm hoặc ngay trước khi thực hiện hành vi liền trươcs hành vi khách quan. Ở đây cần giải thích khái niệm “hành vi liền trước hành vi khách quan”. Giữa giai đoạn chuẩn bị phạm tội và giai đoạn phạm tội chưa đạt có một giai đoạn chung gian được gọi là giai đoạn thực hiện hành vi liền trước hành vi khách quan . Hành vi này không phải là hành vi chuẩn bị cũng không phải hành vi khách quan của cấu thành tội phạm mà nó mang tính chất hỗ trợ hành vi khách quan. Ví dụ A giơ súng lên chuẩn bị bóp cò. Giơ súng lên không phải là hành vi chuẩn bị như liệt kê các hành vi chuẩn bị ở Điều này cũng không phải hành vi khách quan của tội giết người(bóp cò).

– Các hành vi bị coi là hành vi chuẩn bị bao gồm:

+ Tìm kiếm, sửa soạn công cụ phương tiện: Công cụ phạm tội là những vật, bộ phận của thế giới khách quan tách rời người phạm tội mà họ dùng để tác động vào đối tượng phạm tội, ví dụ: vũ khí, hung khí, gậy guộc, dây trói… Phương tiện phạm tội là những vật dùng để tạo điều kiện cho việc phạm tội được thuận lợi như xe máy dùng để cướp giật, thang để leo vào nhà… Tìm kiếm công cụ, phương tiện là biện pháp có được công cụ phương tiện, ví dụ: đi mua súng để giết người. Sửa soạn công cụ phương tiện là việc người phạm tội tự chế tạo công cụ phương tiện
+ Tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm: Chuẩn bị kế hoạch phạm tội, thăm dò quy luật sinh hoạt của người bị hại, tìm người giúp đỡ, tìm nơi cất giấu tang vật của tội phạm…
+ Thành lập, tham gia nhóm tội phạm: là hành vi rủ rê, lôi kéo, cưỡng bức, lừa gạt, tụ tập người khác tham gia vào nhóm tội phạm hoặc tham gia với tư cách là thành viên của nhóm tội phạm. Ở đây, loại trừ trường hợp thành lập, tham gia tổ chức tội phạm đã cấu thành tội độc lập quy định tại Điều 109, Điểm a Khoản 2 Điều 299 của Bộ luật hình sự.

– Trách nhiệm ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội:

+ Mặc dù hành vi đã thực hiện ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội chưa tác động vào đối tượng tác động của tội phạm để gây thiệt hại cho xã hộ nhưng họ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Bởi vì:
+ Bản chất của chuẩn bị phạm tội là hành bi tiền đề tạo điều kiện cho việc thực hiện tội phạm. Hành vi này luôn tới việc đạt một mục đích nhất định. Chính nó quyết định tội phạm có xảy ra hay không và xảy ra như thế nào.
+ Một tội phạm khi thực hiện mà có sự chuẩn bị thì tính nguy hiểm cho xã hội của nó cao hơn so với trường hợp không có sự chuẩn bị. Trong ý thức chủ quan của can phạm là mong muốn tiếp tục thực hiện tội phạm đến cùng. Việc dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn.
– Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Người chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng. Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn đầu của quá trình phạm tội tuy nhiên, tính chất mức độ nguy hiểm còn thấp, người phạm tội mới thực hiện hành vi chuẩn bị, chưa thực hiện hành vi phạm tội quy định trong cấu thành tội phạm, khách thể chưa bị xâm phạm, hậu quả chưa xảy ra… Chính vì vậy, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 đã thu hẹp phạm vi các tội mà người phạm tội chuẩn bị thực hiện phải chịu trách nhiệm hình sự. Theo khoản 2, khoản 3 Điều luật này, người chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự được chia thành hai nhóm:
+ Nhóm 1: Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các Điều 108, 109, 120, 121, 122, 123, 134, 168, 207, 299, 300, 301, 302, 303, và 324 của Bộ luật hình sự.
+ Nhóm 2: Người từ 14 tuổi đến 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 Bộ luật hình sự.
– Trách nhiệm hình sự của người phạm tội ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội cũng nhẹ hơn so với các giai đoạn sau nó được quy định cụ thể trong từng điều luật quy định về tội phạm cụ thể.
– Lưu ý: Nếu hành vi chuẩn bị phạm tội đã cấu thành một tội độc lập thì người phạm tội chịu trách nhiệm hình sự về tội độc lập đó và tội họ định thực hiện ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội.
Ví dụ: A có ý định giết B. A đã mua một khẩu súng với mục đích để giết B, nhưng chưa kịp hành động giết B thì bị phát hiện. Trường hợp A phải chịu trách nhiệm về tội mua bán trái phép vũ khí quân dụng và tội giết người ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Chấm dứt quyền bề mặt theo quy định của Bộ luật dân sự 2015

Chấm dứt quyền bề mặt được quy định tại Điều 272 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015.
 

Điều 272. Chấm dứt quyền bề mặt
Quyền bề mặt chấm dứt trong trường hợp sau đây:
1. Thời hạn hưởng quyền bề mặt đã hết.
2. Chủ thể có quyền bề mặt và chủ thể có quyền sử dụng đất là một.
3. Chủ thể có quyền bề mặt từ bỏ quyền của mình.
4. Quyền sử dụng đất có quyền bề mặt bị thu hồi theo quy định của Luật đất đai.
 5. Theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của luật.

 
Bình luận:
Một nguyên tắc chung được pháp luật các quốc gia trên thế giới ghi nhận khi quy định về quyên bề mặt là: Quyền bề mặt không bị chấm dứt bởi sự mất đi hay phá hủy nhà, công trình xây dựng hoặc cây trồng. Nhìn chung pháp luật các quốc gia thường quy định theo hướng quyền bề mặt có thẻ chấm dứt thoe thỏa thuận giữa hai bên hoặc do một bên đơn phương chấm dứt khi đáp ứng những điều kiện do pháp luật quy định. Chủ đất sẽ có quyền đơn phương chấm dứt khi người thuê quyền bề mặt đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền (thường là chậm trả 02 năm) hoặc có hành vi gây tổn hại đối với đất; còn người thuê quyền bề mặt có thể đơn phương chấm dứt vào bất kỳ thời điểm nào nếu giữa các bên không có thỏa thuận về hời hạn của quyền, thậm chí BLDS Đài Loan còn cho pháp người thuê quyền bề mặt trả trước tiền thuê cho 03 năm tiếp theo để từ bỏ một quyền bề mặt đã được xác định thời hạn hoặc nếu đất không đắp ứng được mục đích sử dụng mà không phải mục đích của họ. Do những khác biệt xuất phát từ hình sở hữu đất đai (thời hạn sử dụng đất, thu hồi đất,..) nên việc quy định căn cứ chấm dứt quyền bề mặt theo pháp luật Việt Nam quy định với số lượng nhiều hơn, bao gồm các căn cứ sau:
– Thời hạn hưởng quyền bề mặt đã hết 
Thời hạn hưởng quyền bề mặt theo quy định tại điều 270 BLDS 2015 được xác định theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc di chúc. thời hạn là khoảng thời gian mà trong khoảng thời gian đó một chủ thể có quyền bề mặt. khi thời hạn này đã hết thì chủ thể đó cũng chấm dứt việc hưởng quyền( xem thêm Điều 270)
– Chủ thể có quyền bề mặt và chủ thể có quyền sử dụng đất là một
Điều 267 BLDS năm 2015 quy định: Quyền bề mặt là quyền của một chủ thể đối với mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt mặt đất, mặt nước và lòng đất mà quyền sử dụng đất dó thuộc về chủ thể khác.
Điều đó có nghĩa chủ thể có quyền bề mặt và chủ thể có quyền sử dụng đất không thể là một mà là hai chủ thể riêng biệt. Trường hợp khoản 2 đưa ra là khi chủ thể có quyền bề mặt “mua ” lai diện tích đất mà ban đầu anh ta chỉ có quyền bề mặt. Lúc này, chủ thể có quyền bề mặt lại trở thành chủ thể sử dụng đất. Từ thời điểm đó, việc sử dụng đất của chủ thể này sẽ dựa trên cơ sở là quyền sử dụng đất chứ không còn là quyền bề mặt nữa. Quyền bề mặt sẽ chấm dứt do điều kiện về chủ thể không còn được thỏa mãn.
– Chủ thể có quyền bề mặt từ bỏ quyền của mình
Chủ thể có quyền bề mặt tư bỏ quyền của mình nghĩa là họ tự mình đơn phuơng chấm dứt quyền. Như vậy, việc đơn phương chấm dứt quan hệ giữa người sử dụng đất và người hưởng quyền bề mặt chỉ được công nhận đối với chủ thể có quyền bề mặt. Điều này có thể được hiểu là một quy định khá “hợp tình” vì khi người có quyền bề mặt đã xác định là họ sẽ sử dụng đất theo một khoảng thời gian theo thỏa thuận thì trên cơ sở đó họ tạo lập các tài sản, công trình phù hợp với thời gian sử dụng của mình. Nhưng đột nhiên người sử dụng đất lại muốn đơn phương chấm dứt thì sẽ gây thiệt hại cho họ.
Tuy nhiên, quy định này lại có một sự bất hợp lí nếu đặt trong mối tương quan với quy định của khoản 2 Điều 270 về Thời hạn của quyền bề mặt. Khoản 2 quy định: “Trường hợp thỏa thuận hoặc di chúc không xác định thời hạn của quyền bề mặt thì mỗi bên có quyền chấm dứt quyền này bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên kia biết trước ít nhất là 06 tháng”. Như vậy, với quy định này thì người sử dụng đất cũng có quyền đơn phương chấm dứt quyền bề mặt. Vậy mà Điều 272 lại không đưa trường hợp người sử dụng đất đơn phương chấm dứt quyền và một trong các căn cứ chấm dứt của quyền bề mặt. Đây có thể đánh giá là một điểm chưa thực sự hoàn thiện của BLDS năm 2015, đặc biệt là khi các quy định mâu thuẫn này lại nằm cách nhau chỉ đúng hai điều luật.
– Quyền sử dụng đất có quyền bề mặt bị thu hồi theo quy định của Luật đất đai
Khi thu hồi đất, UBND cấp tỉnh hoặc cấp huyện (theo thẩm quyền) sẽ ban hành quyết định thu hồi đất. Đây là căn cứ chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai, từ thời điểm ban hành quyết định này, quyền sử dụng đất của chủ sở hữu không còn. quyền bề mặt là quyền được hình thành trên cơ sở chủ thể ban đầu phải có quyền sử dụng đất. chính vì vậy khi chủ thể ban đầu không còn quyền sử dụng đất thì quyền bề mặt cũng sẽ chấm dứt theo bởi nó không thể tồn tại khi không có cơ sở là người sử dụng đất.
-Theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của luật
Ngoài bốn trường hợp đã được đưa ra ở trên, BLDS còn mở rộng căn cứ chấm dứt của quyền bề mặt trên cơ sở tôn trọng thỏa thuận của các của các chủ thể. Thỏa thuận về việc chấm dứt quyền bề mặt có thể diễn ra theo hai phương thức:
+ Thỏa thuận từ đầu ngay trong hợp đồng: Trường hợp này quyền bề mặt sẽ chấm dứt theo căn cứ quy định tại khoản 1 đó là “Thời hạn hưởng quyền bề mặt đã hết”.
+ Trong hợp đồng ban đầu các chủ thể không đề cập đến thời điểm chấm dứt của quyền bè mặt nhưng sau này, sau khi quyền bề mặt đã được thực hiện một thơi gian thì các bên có thỏa thuận chấm dứt: Trường hợp này quyền bề mặt sẽ chấm dứt theo căn cứ tại khoản 5 Điều này.
+ Trong hợp đồng ban đầu các chủ thể có thỏa thuận rõ thời điểm chấm dứt của quyền bề mặt nhưng sau này, sau khi quyền bề mặt đã thực hiện một thời gian thì các bên thống nhất bỏ thỏa thuận ban đầu và có thỏa thuận mới về thời điểm chấm dứt của quyền bề mặt, có thể chấm dứt ngay vào thời điểm đạt được thỏa thuận hoặc thời điểm khác trong tương lai: Trường hợp này quyền bề mặt sẽ chấm dứt theo căn cứ quy định tại khoản 5 Điều này.
Riêng trường hợp quyền bề mặt được xác lập theo quy định của luật thì thời điểm chấm dứt quyền bề mặt sẽ theo quy định của luật. Hoặc trường hợp các bên có thỏa thuận về thời điểm chấm dứt của quyền bề mặt nhưng thỏa thuận đó không đúng pháp luật thì cũng áp dụng quy định của luật. Ví dụ: Quyền bề mặt được xác lập theo thỏa thuận của hai bên vói thời hạn 30 năm. tuy nhiên, thời hạn sử dụng đất còn lại của chủ sử dụng đất theo quy định của luật đất đai chỉ còn 15 năm thì khi quyền sử dụng đất chấm dứt mà không được gia hạn thì quyền bề mặt cũng phải chấm dứt theo chứ không được kéo dài đến 30 năm.

Quy định về Ủy thác thu nhập chứng cứ trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Ủy thác thu thập chứng cứ được quy định tại Điều 105 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015. 
 

Điều 105. Ủy thác thu thập chứng cứ
1. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có thể ra quyết định ủy thác để Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều này lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, thẩm định tại chỗ, tiến hành định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự.
2. Trong quyết định ủy thác phải ghi rõ tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, quan hệ tranh chấp và những công việc cụ thể ủy thác để thu thập chứng cứ.
3. Tòa án nhận được quyết định ủy thác có trách nhiệm thực hiện công việc cụ thể được ủy thác trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác và thông báo kết quả bằng văn bản cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác; trường hợp không thực hiện được việc ủy thác thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác.
4. Trường hợp việc thu thập chứng cứ phải tiến hành ở nước ngoài thì Tòa án làm thủ tục ủy thác thông qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này.
5. Trường hợp không thực hiện được việc ủy thác theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này hoặc đã thực hiện việc ủy thác nhưng không nhận được kết quả trả lời thì Tòa án giải quyết vụ án cơ sở chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ việc dân sự.

 

Ủy thác thu thập chứng cứ là gì?

Ủy thác thu nhập chứng cứ là việc trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án thụ lý và giải quyết vụ việc có thể yêu cầu Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 105 BLTTDS 2015 lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, thẩm định tại chỗ, tiến hành định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu nhập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự. Việc ủy thác này như Bộ luật quy định, chỉ có thể xảy ra trong trường hợp Tòa án đang giải quyết vụ việc không có đủ điều kiện để tiến hành thu nhập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự hoặc có thể tự mình tiến hành được nhưng không thuận lợi bằng Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền theo quy định.
Việc ủy thác thu nhập chứng cứ phải được tiến hành bằng việc Tòa án đang giải quyết vụ việc phải ra một quyết định ủy thác. Trong quyết định ủy thác phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, quan hệ tranh chấp và những công việc cụ thể để ủy thác thu nhập chứng cứ. Tòa án được ủy thác có trách nhiệm thực hiện công việc cụ thể trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác và thông báo kết quả bằng văn bản cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác; trường hợp không thực hiện được việc ủy thác thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác.
Trong trường hợp việc thu nhập chứng cứ phải tiến hành ở nước ngoài thì Tòa án làm thủ tục ủy thác thông qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này.
Qua các các quy định của Điều luật này có thể thấy, nghĩa vụ thu thập, cung cấp và giao nộp tài liệu, chứng cứ của đương sự, Tòa án đang giải quyết vụ việc chỉ tiến hành trong những trường hợp cần thiết theo quy định của BLTTDS 2015 (Điều 97), do đó, việc ủy thác thu thập chứng cứ chỉ xảy ra trong trường hợp đương sự và cả Tòa án đang giải quyết vụ án không có điều kiện thuận lợi hoặc hoàn toàn không có khả năng thu thập tài liệu, chứng cứ. Bộ luật này chưa có quy định về việc Tòa án giải quyết vụ việc khi đã có quyết định ủy thác nhưng không nhận được kết quả thì Tòa án nhận ủy thác hoặc cơ quan có thẩm quyền nhận được ủy thác phải chịu trách nhiệm như thế nào. Đây cũng là vấn đề cần có hướng dẫn cụ thể, vì nếu không chịu bất kỳ một trách nhiệm gì khi nhận được ủy thác mà không tiến hành các công việc được ủy thác thì Tòa án hoặc cơ quan được ủy thác có thể không làm tròn trách nhiệm của mình. Trong lúc đó, kết quả của việc ủy thác thu nhập chứng cứ có thể ảnh hưởng rất lớn đến kết quả giải quyết vụ việc dân sự, trong lúc đó, các đương sự không thể tự mình tiến hành thu nhập tài liệu, chứng cứ được.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Khái niệm, đặc điểm của công ty hợp danh

Hiện nay, Công ty hợp danh là loại hình doanh nghiệp ít phổ biến ở Việt Nam. Song loại hình doanh nghiệp này vẫn được một số bộ phận không nhỏ các nhà đầu tư lựa chọn để hoạt động kinh doanh. Luật doanh nghiệp 2014 quy định chi tiết và cụ thể về thành viên và cơ cấu tổ chức bộ máy công ty. 

1. Khái niệm công ty Hợp danh

Khái niệm công ty hợp danh theo Luật doanh nghiệp 2014 quy định tại Điều 172 như sau:
“1. Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:
a) Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh). Ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn;
b) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty;
c) Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
2. Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
3. Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.”
Như vậy, Công ty hợp danh phải có ít nhất 2 thành viên hợp danh; luật không quy định giới hạn số lượng thành viên hợp danh; ngoài ra còn có thể có thêm thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh buộc phải là cá nhân, chịu trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn có thể là cá nhân hoặc tổ chức; chịu trách nhiễm hữu hạn theo tỷ lệ số vốn đã góp vào công ty. Công ty hợp danh có Tư cách pháp nhân kể từ thời điểm thành lập và không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.

2. Đặc điểm công ty hợp danh

  • Về thành viên hợp danh và trách nhiệm của thành viên hợp danh:

(1) Thành viên hợp danh của công ty không được là Chủ doanh nghiệp tư nhân; không được là thành viên hợp danh của công ty khác, nếu không được sự đồng ý của tất cả các thành viên hợp danh trong công ty.
(2) Các thành viên hợp danh đều là các đồng sở hữu trong công ty và họ có quyền quyết định ngang nhau trong quá trình quản lý, điều hành công ty mà không tính đến phần vốn góp vào công ty nhiều hay ít.
(3) Liên đới chịu trách nhiệm thanh toán hết nghĩa vụ tài chính công ty nếu tài sản của công ty không đủ để trang trải số nợ của công ty.

  • Về thành viên góp vốn và trách nhiệm của thành viên góp vốn:

(1) Thành viên góp vốn, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Việc huy động thêm thành viên góp vốn, giúp tháo gỡ được khó khăn tài chính mà công ty hợp danh gặp phải.
(2)Thành viên góp vốn được quyền tham gia họp, thảo luận và biểu quyết tại phiên họp Hội đồng thành viên. Nhưng những lá phiếu của họ không có giá trị ảnh hưởng đến nội dung của cuộc họp.

  • Tư cách pháp nhân:

(1) Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được đăng ký doanh nghiệp
(2) Có sự tách bạch rõ ràng về tài sản của Công ty và tài sản của thành viên hợp danh.

  • Huy động vốn:

(1) Công ty hợp danh không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào.
(2) Huy động vốn bằng các hình thức như: tăng vốn góp của thành viên hoặc tiếp nhận vốn góp của thành viên mới; vay vốn;…

  • Chuyển nhượng phần vốn góp:

(1) Thành viên hợp danh chỉ được chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình nếu được tất cả các thành viên hợp danh khác đồng ý.
(2) Nếu thành viên hợp danh chết, người thừa kế chỉ có thể trở thành thành viên hợp danh nếu được ít nhất ba phần tư số thành hợp danh còn lại đồng ý.

  • Cơ cấu tổ chức:

(1) Tất cả thành viên hợp lại thành Hội đồng thành viên. Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm Chủ tịch Hội đồng thành viên, đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác.
(2) Về nguyên tắc, cơ cấu tổ chức quản lý của công ty hợp danh do các thành viên thoả thuận quy định trong Điều lệ công ty, song phải bảo đảm các thành viên hợp danh đều được quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty.

3. Ưu điểm, nhược điểm của Công ty Hợp danh

  • Ưu điểm

(1) Công ty hợp danh là loại hình công ty đối nhân. Với loại hình công ty này, có thể kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều người (Các thành viên công ty) để tạo dựng hình ảnh cho công ty.
(2) Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh mà công ty hợp danh dễ dàng tạo được sự tin cậy của các đối tác kinh doanh.
(3) Việc điều hành quản lý công ty không quá phức tạp do số lượng các thành viên ít và là những người có uy tín, tuyệt đối tin tưởng nhau.
(4) Ít chịu sự điều chỉnh của pháp luật.
(5) Lợi thế khi hoạt động kinh doanh những ngành nghề chỉ Công ty hợp danh mới được đăng ký kinh doanh.

  • Nhược điểm

(1) Các thành viên hợp danh phải liên đới chịu trách nhiệm vô hạn đối với hoạt động kinh doanh của công ty nên mức độ rủi ro về vốn trong quá trình của các thành viên hợp danh là rất cao.
(2) Không được phát hành cổ phiếu để huy động nguồn vốn.
(3) Loại hình doanh nghiệp này không có tính phổ biến gây khó khăn trong việc phát triển và cạnh tranh.
Chính vì vậy, trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, hầu hết các nhà kinh doanh đều lựa chọn thành lập loại hình công ty Trách nhiệm hữu hạn hoặc Công ty cổ phần.

Các trường hợp được và không được phép viết tắt

Dưới đây là nội dung liệt kê các trường hợp được phép viết tắt và không được phép viết tắt, các bạn có thể tham khảo:

1. Những trường hợp được phép viết tắt

– Trong văn bản hành chính:

STT Quy định Ví dụ
1 Tên của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản phải được ghi đầy đủ hoặc được viết tắt theo quy định tại văn bản thành lập, quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy, phê chuẩn, cấp giấy phép hoạt động hoặc công nhận tư cách pháp nhâncủa cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
2  Tên của cơ quan, tổ chức chủ quản trực tiếp có thể viết tắt những cụm từ thông dụng như Ủy ban nhân dân (UBND), Hội đồng nhân dân (HĐND), Việt Nam (VN), UBND TỈNHQUẢNG BÌNH
SỞ NỘI VỤ
3  Ký hiệu của văn bản có tên loại bao gồm chữ viết tắt tên loại văn bản theo bảng chữ viết tắt tên loại văn bản và bản sao kèm theo Thông tư này (Phụ lục I) và chữ viết tắt tên cơ quan, tổ chức hoặc chức danh nhà nước (áp dụng đối với chức danh Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ) ban hành văn bản Nghị quyết của Chính phủ ban hành được ghi như sau: Số: …/NQ-CP
4  Ký hiệu của công văn bao gồm chữ viết tắt tên cơ quan, tổ chức hoặc chức danh nhà nước ban hành công văn và chữ viết tắt tên đơn vị (vụ, phòng, ban, bộ phận) soạn thảo hoặc chủ trì soạn thảo công văn đó (nếu có) Công văn của Chính phủ do Vụ Hành chính Văn phòng Chính phủ soạn thảo: Số: …/CP-HC
5 Chỉ được viết tắt những từ, cụm từ thông dụng, những từ thuộc ngôn ngữ tiếng Việt dễ hiểu. Đối với những từ, cụm từ được sử dụng nhiều lần trong văn bản thì có thể viết tắt, nhưng các chữ viết tắt lần đầu của từ, cụm từ phải được đặt trong dấu ngoặc đơn ngay sau từ, cụm từ đó Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (BLTTHS 2015)
6  Trường hợp ký thay người đứng đầu cơ quan, tổ chức thì phải ghi chữ viết tắt “KT.” (ký thay) vào trước chức vụ của người đứng đầu KT. HIỆU TRƯỞNGPHÓ HIỆU TRƯỞNG
7 Trường hợp ký thừa ủy quyền thì phải ghi chữ viết tắt “TUQ.” (thừa ủy quyền) vào trước chức vụ của người đứng đầu cơ quan TUQ. GIÁM ĐỐC
TRƯỞNG PHÒNG TỔ CHỨC CÁN BỘ
8 Trường hợp ký thừa lệnh thì phải ghi chữ viết tắt “TL.” (thừa lệnh) vào trước chức vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức TL. CHỦ TỊCH
CHÁNH VĂN PHÒNG
9 Trường hợp ký thay mặt tập thể thì phải ghi chữ viết tắt “TM.” (thay mặt) vào trước tên tập thể lãnh đạo hoặc tên cơ quan, tổ chức TM. HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
10 Mục Nơi nhận trong văn bản hành chính:Viết tắt “VT” (Văn thư cơ quan, tổ chức), dấu phẩy, chữ viết tắt tên đơn vị (hoặc bộ phận) soạn thảo văn bản và số lượng bản lưu (chỉ trong trường hợp cần thiết). Nơi nhận:– ..
– Lưu: VT, NVĐP.

(Căn cứ: Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật 2015)
– Tên viết tắt của Doanh nghiệp (Điều 39 Luật Doanh nghiệp 2014)
Ví dụ: Công ty TNHH Anh Anh
– Kế toán:
Trường hợp tên, địa chỉ người mua quá dài, trên hóa đơn người bán được viết ngắn gọn một số danh từ thông dụng như: “Phường” thành “P”; “Quận” thành “Q”, “Thành phố” thành “TP”, “Việt Nam” thành “VN” hoặc “Cổ phần” là “CP”, “Trách nhiệm Hữu hạn” thành “TNHH”, “khu công nghiệp” thành “KCN”, “sản xuất” thành “SX”, “Chi nhánh” thành “CN”… nhưng phải đảm bảo đầy đủ số nhà, tên đường phố, phường, xã, quận, huyện, thành phố, xác định được chính xác tên, địa chỉ doanh nghiệp và phù hợp với đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế của doanh nghiệp.
Căn cứ: Điểm b Khoản 2 Điều 16 Thông tư 39/2014/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định51/2010/NĐ-CP và Nghị định 04/2014/NĐ-CP quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (được sửa đổi, bổ sung bởi Điểm b Khoản 7 Điều 3 Thông tư 26/2015/TT-BTC hướng dẫn thuế giá trị gia tăng và quản lý thuế tại Nghị định 12/2015/NĐ-CP, sửa đổi Thông tư 39/2014/TT-BTC về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ)

2. 03 trường hợp không được viết tắt

– Chữ viết trong văn bản công chứng không được viết tắt
Điều 45. Chữ viết trong văn bản công chứng_Luật công chứng 2014
1. Chữ viết trong văn bản công chứng phải rõ ràng, dễ đọc, không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, không được viết xen dòng, viết đè dòng, không được tẩy xoá, không được để trống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
– Không được viết tắt trong nội dung của di chúc
Điều 631. Nội dung của di chúc_Bộ luật dân sự 2015
…
3. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.
– Nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính trên chứng từ kế toán không được viết tắt
Điều 18. Lập và lưu trữ chứng từ kế toán_Luật kế toán 2015
…
3. Nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính trên chứng từ kế toán không được viết tắt, không được tẩy xóa, sửa chữa; khi viết phải dùng bút mực, số và chữ viết phải liên tục, không ngắt quãng, chỗ trống phải gạch chéo. Chứng từ bị tẩy xóa, sửa chữa không có giá trị thanh toán và ghi sổ kế toán. Khi viết sai chứng từ kế toán thì phải hủy bỏ bằng cách gạch chéo vào chứng từ viết sai.

Nguồn: Danluat.vn

Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật dân sự

1. Khái niệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trong lịch sử pháp luật thế giới, Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế địnhđược hình thành sớm nhất trong hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật dân sự nói riêng. Trải qua các thời kỳ lịch sử và ở những quốc gia khác nhau, quy định về người phải bồi thường, cách thức bồi thường, thiệt hại phải bồi thường cũng như mức bồi thường…có sự khác biệt. Vấn đề này phụ thuộc vào quan điểm giai cấp, điều kiện kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia khác nhau.
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn gọi là trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại. Việc áp dụng trách nhiệm này trong các thời kỳ lịch sử loài người nói chung và pháp luật, luật tục La Mã nói riêng theo hướng: từ sự trả thù cá nhân nhằm vào nhân thân của người gây ra thiệt hại do người thiệt hại và những người thân của họ áp dụng. Phương thức này được chuyển dần sang hình thức nộp phạt cho người bị thiệt hại, do người bị thiệt hại quy định (cưỡng chế cá nhân) đến phạt tiền bồi thường thiệt hại do các pháp quan hay mặt nhà nước quy định được áp dụng theo trình tự tố tụng. Mức độ và cách thức bồi thường cũng được quy định rất khác nhau từ phương thức “máu trả máu, nước mắt trả nước mắt” đến hình thức phạt tiền theo một tiêu chí chung do pháp luật quy định.
Các bộ luật cổ của Việt Nam cũng quy định về trách nhiệm dân sự theo hình thức tương tự nhưng không quy định riêng về trách nhiệm dân sự. Trong các quy định của luật cổ, quy định về hình phạtcủa hình sự và phạt mang tính chất dân sự theo hướng có lợi cho người bị thiệt hại như một khoản bồi thường. Mức độ bồi thường còn tùy thuộc vào nhân thân người bị thiệt hại. Theo Điều 299 Bộ luật Hồng Đức thì tiền đền mạng được ấn định tùy theo phẩm trật của người bị chết như sau: nhất phẩm, tong nhất phẩm được đền 15.000 quan; nhị phẩm, tong nhị phẩm 9.000 quan; tam phẩm, tong tam phẩm 7.000 quan; tứ phẩm, tòng tứ phẩm 5.000 quan, ngũ phẩm, tòng ngũ phẩm 2.000 quan; lục phẩm, tòng lục phẩm 1.000 quan; thất phẩm, tòng thất phẩm 500 quan; bát phẩm đến cửu phẩm 300 quan, thứ nhân trở xuống 150 quan.
Trong trường hợp đánh người gây thương tích thì người phạm tội ngoài hình phạt bị đánh roi thì còn phải bồi thường cho nạn nhân theo mức đã được quy định trong Điều 466 Bộ luật Hồng Đức như sau: “Sưng phù thì phải đền tiền thương tổn 3 tiền, chảy máu thì phải 1 quan, gãy một ngón tay, một răng thì đền 10 quan, đâm chém bị thương thì 15 quan. Đọa thai chưa thành hình thì 30 quan, đã thành hình thì 50 quan, gãy một chân một tay, mù một mắt thì 50 quan, đứt lưỡi và hỏng âm, dương vật thì đền 100 quan. Về người quyền quý phải xử khác”.
Riêng trong Bộ luật Gia Long, tiền bồi thường không được đề cập. Trong Bộ luật Gia Long chỉ có Điều 201 quy định về tiền bồi thường cho gia đình nạn nhân trong trường hợp phạm tội giết người, phạm nhân bị phạm tội chiếu theo điều luật cố ý đả thương nhân chí tử nhưng cho chuộc tội. Tiền chuộc tội thì giao cho gia đình nạn nhân để lo việc chôn cất. Nếu nạn nhân bị phạt tội giảo thì số tiền chuộc là 12 lạng bạc, đối với người điên giết người thì số tiền này cũng như vậy.
Nếu kẻ giết người được ân xá, y phải trả cho gia đình nạn nhân 20 lạng bạc. Nếu nghèo túng thì chỉ phải trả nửa số tiền ấy. Đối với trường hợp gây thương tích, Điều 271 Bộ luật Gia Long cũng quy định tỉ mỉ các hình phạt tùy theo thương tích từ nhẹ đến nặng nhưng đó là những chế tài về hình sự mà không đề cập bồi thường như trong Điều 466 Bộ luật Hồng Đức. Điều 271 Bộ luật Gia Long dự liệu bồi thường trong các trường hợp nặng nhất như hỏng mắt, gãy chân tay, làm hỏng bộ phận trong cơ thể…thì ngoài hình phạt lưu 300 lí, 100 trượng thì ½ tài sản kẻ phạm tội còn phải bồi thường cho nạn nhân những thiệt hại mà họ đã gây ra. Vì mang tính chất hình phạt nên số tiền bồi thường được ấn định gấp đôi, gấp ba, gấp bốn lần thiệt hại thực tế đã xảy ra.
Do sự phát triển của xã hội, các chế định pháp luật cũng dần thay đổi và hoàn thiện, trách nhiệm bồi thường thiệt hại không còn được coi là hình phạt mà là nghĩa vụ, bổn phận của người bị thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại nhằm phục hồi tình trạng tài sản của người bị thiệt hại.
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng trong Luật Dân sự. Theo quy định tại Điều 275 BLDS năm 2015 thì một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” và tương ứng với căn cứ này là các quy định tại Chương XX, Phần thứ ba BLDS “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”. Sự kiện gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong trường hợp này, trách nhiệm được hiểu là bổn phận, nghĩa vụ của người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Nhà làm luật trong trường hợp này đã đồng nghĩa trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với nghĩa vụ phát sinh do hành vi trái pháp luật. Điều 584 BLDS đã xác định sự đồng nghĩa này bằng quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường…”. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường và từ nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại tạo ra quan hệ nghĩa vụ tương ứng với khái niệm nghĩa vụ được quy định tại Điều 274 BLDS: “Nghĩa vụ là việc mà theo đó một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật,chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền).
Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là một loại quan hệ dân sự, trong đó người xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây ra thiệt hại thì phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra.
Trong quan hệ nghĩa vụ này, chủ thể tham gia có thể là cá nhân, pháp nhân. Chủ thể bị thiệt hại (người có quyền) và chủ thể gây thiệt hại (người có nghĩa vụ) là các bên tham gia vào các quan hệ đó. Bên có quyền cũng như bên có nghĩa vụ có thể có một hoặc nhiều người tham gia. Nghĩa vụ hoặc quyền của họ có thể là liên đới, riêng rẽ hoặc theo phần tùy điều kiện, hoàn cảnh và đối tượng bị xâm hại.
Khách thể của quan hệ nghĩa vụ này luôn thể hiện dưới dạng “hành động” phải thực hiện hành vi “bồi thường” cho người bị thiệt hại. Cơ sở phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” cho các chủ thể khác. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại thể hiện trong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại được gọi là trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, để phân biệt với trách nhiệm theo hợp đồng. Cơ sở của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do pháp luật quy định xuất phát từ nguyên tắc chung của Hiến pháp (các quy định từ Điều 14 đến Điều 21 Hiến pháp năm 2013) và các nguyên tắc được quy định trong BLDS năm 2015 (Điều 3). Khoản 4 Điều 3 BLDS năm 2015 quy định: “Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. Nguyên tắc được quy định trong điều luật này buộc các chủ thể “không được xâm phạm”, bởi vậy nếu “xâm phạm” sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế  với mục đích khắc phục những hậu quả về tài sản cũng như nhân thân do hành vi thiệt hại tạo ra.
Trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói riêng mang đặc tính của trách nhiệm dân sự. Đó là trách nhiệm tài sản nhằm khôi phục tình trạng tài sản của người bị thiệt hại do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng. Tuy nhiên, việc khôi phục tình trạng tài sản bằng biện pháp bồi thường thiệt hại của người gây ra thiệt hại không phải bao giờ cũng mang lại hậu quả như mong muốn. Vì rất nhiều nguyên nhân khác nhau, người gây ra thiệt hại không thể bồi thường và người bị thiệt hại không thế “phục hồi lại tình trạng tài sản ban đầu” như trước khi bị thiệt hại. Bởi vậy, cần có các cơ sở và các hình thức khác để khắc phục tình trạng tài sản của người bị thiệt hại (các loại hình bảo hiểm đang đi theo hướng này và ngày càng đóng vai trò quan trọng, có hiệu quả nhằm phục hồi, hạn chế thiệt hại của người bị thiệt hại do các hành vi trái pháp luật gây ra).
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại không chỉ nhằm bảo đảm việc đền bù tổn thất đã gây ra mà còn giáo dục mọi người về ý thức tuân thủ pháp luật, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Hậu quả của việc áp dụng trách nhiệm này luôn mang đến những bất lợi về tài sản của người gây ra thiệt hại để bù đắp những thiệt hại mà họ đã gây ra cho các chủ thể khác, đặc biệt với các hành vi phạm tội với động cơ vụ lợi. Vì vậy, trong pháp luật dân sự không thể coi trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là việc áp dụng một biện pháp hình sự hay hình phạt phụ. Điều 46 Bộ luật Hình sự quy định bồi thường thiệt hại mà một trong những biện pháp tư pháp mà không quy định nó trong danh mục hình phạt chính hay phụ (1).
Trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khác với trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được áp dụng với mọi cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác. Trong đó, hình thức lỗi (yếu tố lỗi) đóng vai trò đặc biệt quan trọng, nhiều tội phạm không cần có dấu hiệu thiệt hại vật chất. Tòa án không thể tuyên phạt một chủ thể nào đó về một hành vi mà Luật Hình sự không quy định đó là tội phạm. Trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng dựa trên cơ sở thiệt hại đã xảy ra, lỗi chỉ là cơ sở của trách nhiệm chứ không phải là thước đo để xác định mức độ trách nhiệm. Việc xem xét đến mức độ lỗi được đặt ra trong trường hợp thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây ra thiệt hại. Mặt khác, lỗi là yếu tố cấu thành trách nhiệm dân sự nhưng ngoại trừ trường hợp cố ý, còn tất cả trường hợp khác chỉ cần người gây ra thiệt hại nhận thức được hành vi của họ trái với những quy tắc xử sự chung, có thể bị mọi người lên án là trái đạo đức đều bị coi là có lỗi. Do đó, trong Luật Dân sự quy định một nguyên tắc tổng quát về trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà không quy định những hành vi nào là có lỗi và phải chịu chế tài. Nếu người có hành vi vi phạm pháp luật gây ra thiệt hại cho cá nhân hoặc các tổ chức thì họ phải bồi thường những thiệt hại đã gây ra.
Trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khác với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là THDS phát sinh do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo hợp đồng. Đặc điểm của loại trách nhiệm này là giữa hai bên (bên chịu trách nhiệm và bên bị thiệt hại) có quan hệ hợp đồng và  phải do hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã gây ra. Trong trường hợp các bên có quan hệ hợp đồng nhưng thiệt hại về tính mạng, sức khỏe dù hai bên có quan hệ hợp đồng hay không có quan hệ hợp đồng, trong thực tiễn xét xử đều áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Đây là áp dụng tương tự pháp luật, vì trong các quy định chung về nghĩa vụ không có các quy định cụ thể về cách tính thiệt hại.
Qua những phân tích trên, tác giả cũng đưa ra khái niệm về trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự phát sinh khi một người có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định ngoài hợp đồng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra”

2. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Thứ nhất, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra.
Khoản 1 Điều 584 BLDS quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Theo quy định tại khoản 1, thì chỉ cần có hành vi gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã có thể phát sinh, bất kể hành vi đó là trái pháp luật hay không trái pháp luật. Mặc dù vậy, căn cứ trên quan điểm lập pháptrong các văn bản pháp luật trước đó, có thể nhận thấy trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có các điều kiện cơ bản như: có thiệt hại xảy ra; có hành vi gây thiệt hại; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra; có lỗi của người thực hiện hành vi gây thiệt hại. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng cần phải có đầy đủ 4 điều kiện này thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại mới phát sinh, mà có những trường hợp trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh ngay cả khi không có yếu tố lỗi (ví dụ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường).
Thứ hai, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra.
Khoản 3 Điều 584 BLDS quy định: “Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữutài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này”. Đây là lần đầu tiên, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra được tách biệt rạch ròi với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ra. Theo quy định tại khoản 3 Điều này, khi tài sản gây thiệt hại mà không thuộc các trường hợp loại trừ thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường. Tuy nhiên, trong những trường hợp cụ thể xảy ra trên thực tế, khi giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại, cơ quan có thẩm quyền cũng phải xác định các điều kiện cụ thể làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như: có thiệt hại xảy ra; có sự kiện tài sản gây ra thiệt hại; có mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động của tài sản và thiệt hại xảy ra. Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, không nên coi lỗi là một trong các điều kiện phát sinh trách nhiệm, bởi về mặt lý luận, lỗi chỉ gắn với hành vi có ý thức của con người (hoạt động của tài sản không phải là hành vi có ý thức), nhưng điều này cũng không thể khẳng định khi tài sản gây thiệt hại, chủ sở hữu, người chiếm hữu không có lỗi, nhưng lỗi của họ chỉ là lỗi trong việc quản lý tài sản, nếu họ có lỗi trong việc sử dụng tài sản gây ra thiệt hại thì đó phải là hành vi gây ra thiệt hại chứ không phải tài sản gây thiệt hại (như hành vi phóng nhanh vượt ẩu gây ra tai nạn).
Thứ ba, căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại được áp dụng chung cho cả hành vi gây thiệt hại và tài sản gây thiệt hại. Đây là cơ sở để xác định người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có được loại trừ trách nhiệm hay không. Trách nhiệm chứng minh các căn cứ loại trừ này thuộc về người phải bồi thường thiệt hại.

3. Bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể

Khi một người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại, thỏa mãn các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật thì về nguyên tắc, chúng ta sẽ áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo các nguyên tắc chung. Tuy nhiên, trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng rất đa dạng, tính đa dạng này có thể thể hiện ở chủ thể gây thiệt hại, đối tượng bị thiệt hại, hoàn cảnh gây thiệt hại…nên BLDS có quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể.
Thứ nhất, bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Xuất phát từ nguyên tắc được quy định tại Điều 3 BLDS năm 2015: “Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” (khoản 4). Do đó, mọi hành vi gây thiệt hại cho các đối tượng được pháp luật bảo vệ đều không được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, để khuyến khích các cá nhân tự bảo vệ, chủ động ngăn chặn các hành vi trái pháp luật làm tổn hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, pháp luật coi việc chống trả các hành vi xâm phạm đến các đối tượng nên trên trong chừng mực nhất định là phòng vệ chính đáng. Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, chế định phòng vệ chính đáng được đề cập chủ yếu trong pháp luật hình sự. Phòng vệ chính đáng trong pháp luật dân sự được tiếp thu trên cơ sở lý luận và thực tiễn theo pháp luật hình sự.
Điều 22 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm”.
Nếu một người có hành vi chống trả lại hành vi gây thiệt hại của người khác và hành vi chống trả lại này được coi là phòng vệ chính đáng thì hành vi chống trả đó không bị coi là hành vi trái pháp luật, do đó, người thực hiện hành vi chống trả không phải bồi thường thiệt hại. Chính vì vậy, Điều 594 BLDS năm 2015 quy định: “Người gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng không phải bồi thường cho người bị thiệt hại; Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại”.
Cũng giống như trường hợp thiệt hại xảy ra do thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng, người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong phạm vi yêu cầu của tình thế cấp thiết không phải bồi thường thiệt hại. Bởi vì, hành vi gây thiệt hại trong phạm vi yêu cầu của tình thế cấp thiết không phải là hành vi trái pháp luật, người thực hiện hành vi không bị coi là có lỗi. Trong trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tình thế cấp thiết cũng có những điểm khác biệt so với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong phòng vệ chính đáng, cụ thể:
Một là, đối với thiệt hại xảy ra trong giới hạn của phòng vệ chính đáng, người bị thiệt hại sẽ không được bồi thường. Song đối với thiệt hại xảy ra trong phạm vi yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người bị thiệt hại vẫn được bồi thường. Tuy nhiên, người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không phải là người gây thiệt hại mà là người gây ra tình thế cấp thiết;
Hai là, người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra. Người gây thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết chỉ phải bồi thường phần thiệt hại vượt quá yêu cầu.
Ba là, trong tình thế cấp thiết, việc xác định thiệt hại vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết sẽ căn cứ vào nhiều yếu tố, trong đó đặc biệt là hậu quả của hành vi, tức là thiệt hại xảy ra lớn hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Trong phòng vệ chính đáng, việc xác định vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thường dựa vào tính chất, mức độ của hành vi gây thiệt hại.
Tuy nhiên, nếu căn cứ vào điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì hành vi gây thiệt hại do phòng vệ chính đáng không bị coi là hành vi trái pháp luật, do đó người thực hiện hành vi này không bị coi là có lỗi. Để xác định một hành vi gây thiệt hại được coi là phòng vệ chính đáng thì phải đáp ứng các điều kiện: (1) Có hành vi trái pháp luật, xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc xâm phạm tới lợi ích của chính bản thân người phòng vệ chính đáng; (2) Hành vi trái pháp luật của người khác đang gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho đối tượng bị xâm hại. Nếu thiệt hại đã xảy ra mà người bị thiệt hại mới có hành vi chống trả và gây thiệt hại ngược trở lại thì không thể coi là phòng vệ chính đáng; (3) Hành vi phòng vệ chính đáng phải gây thiệt hại cho chính người có hành vi xâm hại (trước tiên là tính mạng, sức khỏe; trong những trường hợp nhất định có thể là tài sản của người có hành vi xâm phạm); (4) Hành vi gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng phải là cần thiết và tương xứng với hành vi xâm hại, nếu không cần thiết hoặc không tương xứng thì người gây thiệt hại vẫn phải bồi thường thiệt hại.
Thứ hai, bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết
Theo quy định tại Điều 595 BLDS thì: “1. Trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại; 2. Người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại”.
BLDS không đưa ra khái niệm tình thế cấp thiết. Tuy nhiên, Điều 23 BLDS năm 2015 quy định: “1. Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Hành vì gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm; 2. Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự”.
Khoản 1 Điều 614 BLDS năm 2005 quy định: “Người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải bồi thường cho người bị thiệt hại”. Nhưng BLDS năm 2015 đã bỏ quy định này, tuy nhiên chúng ta có thể hiểu nếu như người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải chịu TNHS thì dưới góc độ pháp luật dân sự, họ cũng không phải bồi thường. Chỉ coi là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết và người gây thiệt hại không phải bồi thường thiệt hại khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
Một là, có một nguy cơ thực tế đe dọa cho lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Tuy nhiên, tình thế cấp thiết chỉ là “nguy cơ” đe dọa gây thiệt hại nhưng thiệt hại chưa xảy ra. Do đó, bản thân người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết phải cân nhắc, tính toán về nguy cơ này. Nguy cơ gây thiệt hại với đối với lợi ích được pháp luật bảo vệ có thể xuất phát từ hành vi trái pháp luật của con người, tác động của thiên nhiên (bão, lũ lụt, hỏa hoạn…), súc vật tấn công..
Hai là, nguy cơ phải có thực, tức là phải đang bắt đầu, đang diễn ra và chưa kết thúc. Nếu nguy cơ không có thực, đã xảy ra rồi thì không thể tồn tại tình thế cấp thiết.
Ba là, nguy cơ đe dọa lợi ích được pháp luật bảo vệ, điều đó có nghĩa là những lợi ích này phải hợp pháp. Đối với các lợi ích không hợp pháp thì không thể viện dẫn gây thiệt hại do yêu cầu của tình thế cấp thiết.
Bốn là, việc gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết là biện pháp tốt nhất để ngăn chặn thiệt hại có nguy cơ xảy ra.
Trong khi có một nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích hợp pháp cần được bảo vệ, với các yếu tố khách quan và chủ quan thì bản thân người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không còn cách nào khác là phải gây thiệt hại cho một đối tượng khác.
Năm là, thiệt hại trong tình thế cấp thiết phải là thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Khi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết, bản thân người gây thiệt hại phải cân nhắc, tính toán giữa một bên là hậu quả có thể xảy ra cho đối tượng được pháp luật bảo vệ khi có nguy cơ đe dọa gây thiệt hại với thiệt hại mà mình sẽ gây ra trong tình thế cấp thiết. Do đó, chỉ coi là thiệt hại do yêu cầu của tình thế cấp thiết nếu thiệt hại xảy ra là nhỏ hơn so với thiệt hại cần ngăn ngừa.
Trên thực tế, có những trường hợp một người gây thiệt hại do yêu cầu của tình thế cấp thiết thỏa mãn đầy đủ bốn điều kiện trên đây, tuy nhiên điều kiện thứ năm lại không được thỏa mãn, tức là thiệt hại gây ra trong tình thế cấp thiết lớn hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.
Trong trường hợp người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết nhưng có sự sai lầm trong việc đánh giá giữa hậu quả của nguy cơ đe dọa với thiệt hại sẽ xảy ra, do đó họ gây ra một thiệt hại lớn hơn thiệt hại cần ngăn ngừa thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được giải quyết như thế nào? Khoản 1 Điều 595 BLDS quy định: “1. Trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại; 2. Người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại”.
Người gây thiệt hại do yêu cầu của tình thế cấp thiết đã có sự sai lầm trong việc đánh giá mức độ gây thiệt hại của “nguy cơ đe dọa” nên họ đã gây thiệt hại vượt quá so với yêu cầu của tình thế cấp thiết. Lỗi của người gây thiệt hại được xác định là lỗi đối với phần vượt quá nên họ chỉ phải bồi thường thiệt hại đối với phần vượt quá mà thôi.
Nguyên tắc chung là không buộc người gây thiệt hại trong trong tình thế cấp thiết phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp họ gây thiệt hại vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì họ phải bồi thường vượt quá.
Khoản 2 Điều 595 BLDS quy định: “Người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại”. Theo quy định này, người gây ra tình thế cấp thiết sẽ phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại. Mặc dù bản thân người này không phải là người trực tiếp gây thiệt hại cho các lợi ích được pháp luật bảo vệ, tuy nhiên họ là người đã tạo ra “nguy cơ đe dọa gây thiệt hại” cho các lợi ích đó, do vậy họ phải là người chịu trách nhiệm bồi thường.
Pháp luật dân sự chỉ quy định người gây ra tình thế cấp thiết phải bồi thường thiệt hại do tình thế cấp thiết gây ra (họ không phải bồi thường phần vượt quá vì phần này người gây thiệt hại do yêu cầu của tình thế cấp thiết sẽ phải là người bồi thường), tuy nhiên nếu “nguy cơ đe dọa gây thiệt hại” – tức là tình thế cấp thiết không phải do con người gây ra (do thiên nhiên mang lại) thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với thiệt hại xảy ra trong tình thế cấp thiết không đặt ra mà phải coi là rủi ro mà bản thân người bị thiệt hại phải gánh chịu.
Thứ ba, bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra
Pháp luật nói chung, pháp luật dân sự nói riêng buộc con người phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó. Tuy nhiên, pháp luật cũng không buộc một người phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình khi họ gây thiệt hại. Điều này không đồng nghĩa với việc trong mọi trường hợp pháp luật đều miễn trách nhiệm cho người thực hiện hành vi gây thiệt hại, Nếu người gây thiệt hại tự đặt mình vào tình trạng không nhận thức và làm chủ hành vi của mình thì họ phải chịu trách nhiệm về hậu quả của hành vi đó. Đây chính là trường hợp người dùng chất kích thích (rượu, bia…) gây thiệt hại.
Điều 596 BLDS quy định: “1.Người do uống rượu hoặc do dùng chất kích thích khác mà lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường; 2. Khi một người cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích khác làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại”.
Mặc dù người uống rượu hoặc dùng chất kích thích khác gây thiệt hại trong tình trạng không có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, tức là tại thời điểm đó họ không có nhận thức về hành vi và hậu quả của hành vi mà mình thực hiện. Tuy nhiên, trước khi uống rượu hoặc dùng các chất kích thích, bản thân họ có nhận thức về việc sử dụng chất kích thích cũng như hậu quả của việc sử dụng chất kích thích, nên bản thân họ bị coi là cói lỗi đã để mình rơi vào tình trạng không có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi. Do đó, việc buộc người dùng chất kích thích gây thiệt hại phải bồi thường là hoàn toàn phù hợp với căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại khoản 1 Điều 585 BLDS.
Nếu một người cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích khác làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Người cố ý được đề cập trong trường hợp này phải cố ý cả về ý chí và hành vi, tức là bản thân họ mong muốn người khác sử dụng chất kích thích và và sử dụng mọi cách thức để có thể đưa chất kích thích vào cơ thể người khác, làm cho người đó không thể phản kháng. Ví dụ, A và B khống chế và đổ rượu vào miệng C cho đến khi C say, nếu C gây thiệt hại cho D thì A và B phải bồi thường thiệt hại cho D. Bên cạnh đó, nếu một người sử dụng một điểm mạnh nào đó (địa vị xã hội, vị trí công tác, quan hệ bất bình đẳng) để buộc người khác uống rượu hoặc dùng chất kích thích khác sẽ không coi là cố ý như quy định tại khoản 2 Điều luật này. Ví dụ, vì là sếp của B nên A đã buộc B phải uống rượu cho đến khi say, A đe dọa B nếu không uống say sẽ bị đuổi việc nên B đã uống say và gây thiệt hại cho C. Trường hợp này, B phải bồi thường cho C, bởi vì B vẫn có sự tự do về mặt ý chí tại thời điểm sử dụng chất kích thích, tức là khi bị A ép buộc, B hoàn toàn có quyền và có thể từ chối sử dụng rượu.
Thứ tư, bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Trong thế giới tự nhiên, có những vật luôn tiềm ẩn trong nó khả năng gây thiệt hại cho thế giới vật chất xung quanh mà bản thân con người rất khó kiểm soát. Tự bản thân nguồn nguy hiểm cao độ luôn tạo ra mối nguy hiểm cho những người xung quanh, mặc dù chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ đã áp dụng các biện pháp phòng ngừa nhưng không thể kiểm soát được một cách tuyệt đối khả năng gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ. BLDS đã quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ là một “loại trách nhiệm dân sự nâng cao”.
Điều 601 BLDS năm 2015 đã đưa ra khái niệm về nguồn nguy hiểm cao độ: “Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định”.
Khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể là chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng tài sản, cụ thể:
Một là, trách nhiệm của chủ sở hữu: chủ sở hữu là người được thực hiện các quyền năng đối với tài sản, trong đó có quyền khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Theo lẽ công bằng, khi tài sản mang lại lợi ích, chủ sở hữu được hưởng, thì khi tài sản gây ra thiệt hại, chủ sở hữu phải bồi thường là hoàn toàn phù hợp. Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại  của chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ xuất phát từ việc chủ sở hữu được hưởng lợi ích mà tài sản mang lại, bất kể trong việc quản lý nguồn nguy hiểm cao độ, chủ sở hữu có lỗi hay không có lỗi (1);
Chủ sở hữu có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngay cả khi không trực tiếp chiếm hữu, sử dụng tài sản. Đó là các trường hợp: chủ sở hữu giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng để phục vụ cho lợi ích của chính mình (công ty chịu trách nhiệm bồi thường do xe ô tô mà nhân viên lái gây ra tai nạn); chủ sở hữu cho người khác thuê, cho mượn nhưng có thỏa thuận với người về việc chủ sở hữu chịu trách nhiệm bồi thường khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại; chủ sở hữu có lỗi để cho nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật (2).
Hai là, trách nhiệm của người được giao chiếm hữu, sử dụng: Người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có thể là người được giao thông qua một giao dịch dân sự, hoặc có thể thông qua một quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, quyết định của người sử dụng lao động…Vấn đề đặt ra là người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo căn cứ nào thì phải bồi thường thiệt hại khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại thì ở đây cả BLDS năm 2005 và 2015 đều không quy định cụ thể, nhưng Nghị quyết số 03/2006 thì lại có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này. Theo Nghị quyết số 03/2006, điểm đ, tiểu mục 2 mục III: người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra phải là người được giao thông qua một giao dịch. Các nhà làm luật đã đồng nhất quan điểm với hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2006, theo đó, chỉ những người được giao thông qua giao dịch như người thuê, người mượn…mới phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi không có lỗi trong việc chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ.
Ba là, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ:
Người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ là những người chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác mà không thông qua việc được chuyển giao và không thuộc các trường hợp chiếm hữu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, họ phải chịu trách nhiệm bồi thường và cơ sở xác định trách nhiệm của họ luôn xuất phát từ sự vi phạm, ngay cả khi nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thiệt hại mà họ quản lý nghiêm ngặt thì họ vẫn bị coi là vi phạm, bởi vì sự vi phạm này xảy ra ngay khi họ chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ của người khác.
Thứ năm, bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra
Khi súc vật gây thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể thuộc về chủ sở hữu, về người được giao chiếm hữu, sử dụng súc vật, về người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật cũng như người thứ ba có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại (Điều 603 BLDS).
Một là, chủ sở hữu súc vật phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp: (1) Trong trường hợp chủ sở hữu đang trực tiếp quản lý, sử dụng súc vật mà súc vật gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm bồi thường, bất kể chủ chủ sở hữu có lỗi trong việc quản lý súc vật hay không, bởi vì chủ sở hữu súc vật là người được thực hiện các quyền năng đối với súc vật, trong đó có quyền khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức mà súc vật mang lại. Do đó, theo lẽ công bằng thì khi súc vật gây ra thiệt hại, chủ sở hữu phải bồi thường là hoàn toàn phù hợp. Như vậy trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu súc vật cũng xuất phát từ việc chủ sở hữu được quyền khai thác công dụng và hưởng lợi ích mà súc vật mang lại. Trong trường hợp này, chủ sở hữu phải bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế xảy ra đối với người bị thiệt hại, trừ trường hợp giữa chủ sở hữu với người bị thiệt hại có thỏa thuận khác về mức bồi thường;
(2) Trong trường hợp súc vật gây thiệt hại khi không thuộc sự quản lý của chủ sở hữu thì chủ sở hữu vẫn phải bồi thường thiệt hại khi: (i) súc vật gây thiệt hại khi súc vật đang do người được chủ sở hữu, sử dụng (người thuê, người mượn súc vật, người trông giữ súc vật theo hợp đồng với chủ sở hữu). Trong trường hợp này, về nguyên tắc thì trách nhiệm bồi thường thuộc về người được giao quản lý, sử dụng súc vật, tuy nhiên nếu có thỏa thuận thì trách nhiệm bồi thường lại thuộc về chủ sở hữu; (ii) theo quy định tại khoản 2 Điều 603, nếu việc súc vật gây thiệt hại do sự tác động của người thứ ba mà chủ sở hữu cũng có lỗi thì chủ sở hữu súc vật và người thứ bag phải liên đới trong trong việc bồi thường cho người bị thiệt hại; (iii) súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật mà gây thiệt hại. Trường hợp này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu phát sinh khi chủ sở hữu có lỗi trong việc quản lý súc vật. Chính vì chủ sở hữu quản lý không tốt nên súc vật mới bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật và gây ra thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này không xuất phát từ việc chủ sở hữu được quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức do súc vật mang lại mà phát sinh từ sự vi phạm nghĩa vụ quản lý tài sản của chủ sở hữu;
(3) Trong trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường theo tập quán nhưng không trái pháp luật, đạo đức xã hội. Có thể thấy, quy định này hướng tới việc giải quyết vấn đề: (i) Chủ thể bồi thường thiệt hại chỉ có thể là chủ sở hữu; (ii) Vấn đề bồi thường thiệt hại được áp dụng theo tập quán ở địa phương.
Hai là, trách nhiệm của người được giao chiếm hữu, sử dụng súc vật: Người chiếm hữu, sử dụng súc vật trong quy định này được hiểu là những người được chủ sở hữu súc vật chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng thông qua giao dịch, chẳng hạn như người thuê, người mượn súc vật, người trông giữ súc vật…Theo đó, họ có quyền chiếm hữu, sử dụng súc vật để phục vụ cho các nhu cầu của mình (lấy sức kéo, sữa, thực phẩm…), hoặc họ sẽ được hưởng một khoản tiền công từ việc quản lý gia súc thay cho chủ sở hữu, hoặc họ sẽ là người có quyền quản lý, giám sát hoạt động của súc vật mà chủ sở hữu chuyển giao. Do đó, khi súc vật gây thiệt hại thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Nếu súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật mà người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng súc vật có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường cùng với người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật.
Ba là, trách nhiệm bồi thường của người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật: Người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật được hiểu là những người chiếm hữu, sử dụng súc vật của người khác mà không dựa trên cơ sở các quy định pháp luật về chiếm hữu, cũng như về sử dụng. Ngay khi họ thực hiện hành vi chiếm hữu, sử dụng súc vật của người khác thì đã bị coi là trái pháp luật và đương nhiên trách nhiệm dân sự của họ đã phát sinh từ thời điểm thực hiện hành vi, kể cả súc vật chưa gây ra thiệt hại. Tuy nhiên, nếu súc vật chưa gây ra thiệt hại thì trách nhiệm của họ với chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không phải là trách nhiệm bồi thường, mà có thể là trách nhiệm hoàn trả súc vật và hoa lợi, lợi tức. Trong trường hợp súc vật gây thiệt hại cho người thứ ba thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường, thậm chí họ có thể quản lý chặt chẽ súc vật đó. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại không phải là trách nhiệm với chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp súc vật mà với người bị thiệt hại. Hành vi chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật không phải là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại, nhưng hành vi chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật có thể bị coi là đã tạo ra môi trường, điều kiện thuận lợi để súc vật gây ra thiệt hại. Do đó, cơ sở chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật chính là hành vi chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật mà họ đã thực hiện.
Bốn là, trách nhiệm bồi thường của người thứ ba: Người thứ ba được nhắc đến trong quy định này không phải là chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật, cũng không phải là người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật. Tại thời điểm súc vật gây thiệt hại, người thứ ba không được xác định là người đang quản lý, sử dụng súc vật mà họ là người thực hiện hành vi tác động, kích động súc vật khiến cho súc vật gây thiệt hại. Trong trường hợp này, súc vật không tự nhiên gây ra thiệt hại mà do có tác động của người thứ ba dẫn đến súc vật gây thiệt hại, nên việc súc vật gây ra thiệt hại là hoàn toàn bị động. Chúng không chủ động tấn công người và tài sản mà chỉ đơn giản là đang thực hiện một hành động tự vệ hoặc chạy trốn khỏi sự tác động của người thứ ba được coi là nguyên nhân dẫn đến việc súc vật gây thiệt hại cho người khác. Thực chất, đây là bồi thường thiệt hại do hành vi của người thứ ba tác động đến súc vật gây ra, chứ không chỉ đơn thuần là do súc vật tự gây ra. Do đó, cơ sở của trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thứ ba chính là hành vi trái pháp luật mà họ thực hiện.
Như vậy, Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự do hành vi gây ra thiệt hại phát sinh giữa các chủ thể, bên có hành vi trái pháp luật phải bồi thường cho bên bị thiệt hại theo quy định của pháp luật.

ThS. Đoàn Thị Ngọc Hải
Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn) 
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Xem, Bộ luật Hồng Đức;
2. Xem, Bộ luật Gia Long;
3. Xem, Bộ luật Dân sự năm 2005;
4. Xem, Bộ luật Dân sự năm 2015;
5. Xem, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
6. Xem, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, năm 2017;
7. Xem, PGS. TS Nguyễn Văn Cừ – PGS. TS Trần Thị Huệ, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015, NXB Công an nhân dân, năm 2017.
Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

So với Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 thì BLDS 2015 có nhiều sửa đổi, bổ sung trong đó có quy định về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu.

1. So sánh quy định về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu của BLDS 2005 và BLDS 2015.

Bộ luật Dân sự 2005Điều 138. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu
1. Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 257 của Bộ luật này.
2. Trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.
 
Bộ luật Dân sự 2015Điều 133. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu
1. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 167 của Bộ luật này.
2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nướccó thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.
Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.
3. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.

Trong bảng so sánh phần in nghiêng, đậm là phần được sửa đổi, bổ sung của BLDS 2015 so với BLDS 2005. Qua bảng so sánh nêu trên có thể thấy:
– Quy định tại khoản 1 Điều 133 BLDS 2015 giữ nguyên nội dung của khoản 1 Điều 138 BLDS 2005; sự sửa đổi rất nhỏ chỉ mang tính kỹ thuật.
– So với khoản 2 Điều 138 BLDS 2005 thì khoản 2 Điều 133 BLDS 2015 có sự sửa đổi, bổ sung lớn về nội dung nhằm bảo vệ tốt hơn cho người thứ ba ngay tình. Đó là, khoản 2 Điều 138 BLDS 2005 và khoản 2 Điều 133 BLDS 2015 đều có quy định là giao dịch dân sự ban đầu bị vô hiệu nhưng giao dịch chuyển giao tài sản là đối tượng của giao dịch vô hiệu cho người thứ ba ngay tình lại có 02 hậu quả pháp lý khác nhau. Đó là, theo quy định của BLDS 2015, nếu tài sản giao dịch đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch chuyển giao tài sản có hiệu lực, quyền lợi của người thứ ba ngay tình vẫn được bảo vệ ngay cả khi giao dịch dân sự ban đầu vô hiệu. Trường hợp này, nếu theo BLDS 2005 thì giao dịch chuyển giao tài sản cho người thứ ba ngay tình bị xác định là vô hiệu.
– Điều 133 BLDS 2015 bổ sung thêm quy định chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.

2. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu và việc áp dụng điều khoản chuyển tiếp (Điều 688) BLDS 2015

Vấn đề đặt ra là khi xem xét áp dụng khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 thì giao dịch dân sự được xác lập trước ngày BLDS 2015 có hiệu lực được hiểu là giao dịch chuyển giao tài sản cho người thứ ba ngay tình, vì đây là giao dịch trực tiếp dẫn đến hệ quả pháp lý người thứ ba ngay tình có được bảo vệ hay không.
Khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 quy định:
“1. Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì việc áp dụng pháp luậtđược quy định như sau:
a) Giao dịch dân sự chưa được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định của Bộ luật này thì chủ thể giao dịch tiếp tục thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11, trừ trường hợp các bên của giao dịch dân sự có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung nội dung, hình thức của giao dịch để phù hợp với Bộ luật này và để áp dụng quy định của Bộ luật này.
Giao dịch dân sự đang được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11; 
b) Giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật này; 
c) Giao dịch dân sự được thực hiện xong trước ngày Bộ luật này có hiệu lực mà có tranh chấp thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luậtDân sự số 33/2005/QH11 để giải quyết; 
d) Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này”.
Với quy định tại khoản 1 Điều 688 BLDS năm 2015 nêu trên, theo tác giả, tùy từng trường hợp cụ thể mà có thể xử lý như sau:
(1) Trường hợp giao dịch chuyển giao tài sản cho người thứ ba ngay tình được xác lập trước ngày BLDS 2015 có hiệu lực nhưng chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định của BLDS 2015 và có tranh chấp thì phải áp dụng quy định của BLDS 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết BLDS 2005 để xác định giao dịch chuyển giao tài sản cho người thứ ba ngay tình bị vô hiệu (điểm a khoản 1 Điều 688).
(2) Trường hợp giao dịch chuyển giao tài sản cho người thứ ba ngay tình được xác lập trước ngày BLDS 2015 có hiệu lực nhưng chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà giao dịch này thỏa mãn đầy đủ các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 133 BLDS 2015, các nội dung khác và hình thức của giao dịch cũng phù hợp với quy định của BLDS 2015 thì giao dịch chuyển giao tài sản cho người thứ ba ngay tình không bị vô hiệu (điểm b khoản 1 Điều 688).
(3) Trường hợp giao dịch chuyển giao tài sản cho người thứ ba ngay tình được xác lập và thực hiện xong trước ngày BLDS 2015 có hiệu lực mà có tranh chấp thì mặc dù nội dung và hình thức của giao dịch hoàn toàn phù hợp với BLDS 2015 nhưng việc giải quyết vẫn phải căn cứ vào quy định của BLDS 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết BLDS 2005. Điều đó có nghĩa là giao dịch chuyển giao tài sản cho người thứ ba ngay tình sẽ bị xác định là vô hiệu (điểm c khoản 1 Điều 688).
Như vậy, quy định mới  của BLDS 2015 đã góp phần bảo đảm tốt hơn, công bằng, hợp lý hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay tình trong giao lưu dân sự, vốn luôn bị yếu thế khi tham gia vào các giao dịch dân sự và góp phần bảo đảm sự ổn định trong các quan hệ dân sự.

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Thế nào là “cán bộ chủ chốt” quy định tại Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự?

Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố. Tuy nhiên, “lãnh đạo chủ chốt” là những chức danh nào thì chưa có nhận thức thống nhất.
Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 268 BLTTHS 2015 về thẩm quyền xét xử của Tòa án, Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án: “Vụ án hình sự thuộcthẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người.”
Quy định của BLTTHS năm 2015 đã có sự tách biệt rõ ràng giữa thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc Tòa án quân sự khu vực và thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự Quân khu. Theo đó TAND cấp tỉnh và TAQS quân khu xét xử vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người.
Tuy nhiên khái niệm “cán bộ chủ chốt” hiện nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn nên trong thực tiễnáp dụng gặp rất nhiều khó khăn. Qua tham khảo Công văn số 5024/VKSTC-V14 ngày 19/11/2018 của VKSNDTC về việc giải đáp vướng mắc liên quan đến quy định của BLTTHS và nghiệp vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ án hình sự trong ngành Kiểm sát nhân dân xác định “Hiện nay không có văn bản chuyên ngành nào hướng dẫn “lãnh đạo chủ chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương” gồm những ai. Tuy nhiên, tham khảo Quy định số 90-QĐ/TW ngày 04/8/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành trung ương, Bộ chính trị, Ban Bí thư quản lý thì lãnh đạo chủ chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương có thể gồm bí thư, phó bí thư cấp ủy cấp huyện, chủ tịch hội đồng nhân dân, chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện. Theo Quy định số 105-QĐ/TW ngày 19/12/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử thì lãnh đạo chủ chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương có thể gồm bí thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ huyện ủy, quận ủy và tương đương; chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện.”
Như vậy, theo tinh thần của Công văn thì cán bộ chủ chốt bao gồm “bí thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ huyện ủy, quận ủy và tương đương; chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện.”, mặc dù vậy trong thực tiễn ngoài các chức danh nêu trên thì ở các địa phương còn có một số cơ quan, ban ngành được xem là chủ chốt tại địa phương như sở, phòng nội vụ, sở, phòng tài nguyên và môi trường… Ngoài ra, hiện nay chưa có văn bản chính thức nào xác định thế nào là “Cán bộ chủ chốt” làm cơ sở cho việc hướng dẫn cho các văn bản luật hướng dẫn khái niệm này nên trong thực tiễn áp dụng gặp nhiều khó khăn.
Từ những vấn đề nêu trên thiết nghĩ cần sớm có văn bản hướng dẫn thế nào là cán bộ chủ chốt để trong thực tiễn áp dụng cho đúng thẩm quyền xét xử của các Tòa án./.
Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Kiểm sát quyết định khởi tố vụ án hình sự

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng quan trọng mở đầu cho các hoạt động điều tra, đồng thời kết thúc giai đoạn tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra.
Theo quy định tại Điều 166 BLTTHS năm 2015, Quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố (Điều 12) và Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT- VKSTC- BCA- BQP (Điều 7), hoạt động kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự được tiến hành như sau:
Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ khi nhận được quyết định khởi tố vụ án của CQĐT hoặc cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (gọi tắt là CQĐT), Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị có thẩm quyền kiểm sát điều tra phải cử Kiểm sát viên tiến hành kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án.
Kiểm sát viên được cử kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án phải kiểm tra chặt chẽ các tài liệu, chứng cứ để xác định xem quyết định khởi tố vụ án  hình sự của CQĐT có căn cứ, có hợp pháp hay không?
Kiểm tra tính có căn cứ của quyết định khởi tố vụ án hình sự
– Kiểm sát viên phải vào sổ thụ lý vụ án hình sự.
– Nghiên cứu kỹ các tài liệu dùng làm căn cứ để khởi tố vụ án hình sự bao gồm: Tài liệu về tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp; các tài liệu khi CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành kiểm tra, xác minh thu thập được; biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, biên bản khám xét, biên bản bắt ngườiphạm tội quả tang… cùng các tài liệu, vật chứng thu thập được khi tiến hành khám nghiệm; đơn yêu cầu khởi tố, kết luận giám định, biên bản lấy lời khai bị hại, người làm chứng.
Kiểm tra tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án hình sự
– Kiểm sát viên kiểm tra trình tự, thủ tục tiến hành thu thập các tài liệu, chứng cứ làm căn cứ để khởi tố vụ án hình sự của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có đúng quy định của BLTTHS hay không?
– Kiểm tra thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, hình thức và nội dung quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT có đúng quy định của BLTTHS hay không?
Sau khi kiểm tra tính có căn cứ, tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT, Kiểm sát viên cần tổng hợp, phân tích, đánh giá xem có hay không vụ việc có tính chất hình sự xảy ra trên thực tế. Các tài liệu, chứng cứ thu thập được có đủ để chứng minh sự việc xảy ra có dấu hiệu tội phạmhay chưa? Nếu có thì thuộc điều, khoản nào của BLHS? Phương thức, thủ đoạn thực hiện hành vi ra sao? Mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra như thế nào? Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự còn hay hết…
Đối với những trường hợp CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại, thì khi kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, Kiểm sát viên cần phải nghiên cứu, xem xét quyết định khởi tố và các tài liệu có liên quan đến việc khởi tố để xác định xem việc khởi tố vụ án hình sự của CQĐT có thuộc các trường hợp quy định tại Điều 155 BLTTHS hay không? Trường hợp bị hại có yêu cầu rút đơn thì phải làm rõ tính khách quan, tính đúng đắn trong nội dung đề nghị rút đơn yêu cầu khởi tố của bị hại, xem xét việc bị hại rút đơn có tự nguyện hay trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức.
Sau khi kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố, Kiểm sát viên phải báo cáo kết quả nghiên cứu, đánh giá quyết định khởi tố với Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra để xem xét, xử lý.
Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra căn cứ vào báo cáo kết quả nghiên cứu quyết định khởi tố của Kiểm sát viên, căn cứ Quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố (Điều 12) và Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT- VKSTC- BCA- BQP (Điều 7) để xử lý như sau:
– Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án hình sự có căn cứ và hợp pháp thì ra quyết định phân công Kiểm sát viên, Kiểm tra viên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra vụ án và gửi cho Cơ quan điều tra;
–  Nếu thấy chưa rõ căn cứ để khởi tố vụ án thì có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung chứng cứ, tài liệu để làm rõ;
– Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ thì có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ quyết định đó; trường hợp Cơ quan điều tra không nhất trí hoặc là quyết định khởi tố vụ án hình sự của Thủ trưởng Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại khoản 6 Điều 159 và khoản 1 Điều 161 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp Kiểm sát viên sau khi nghiên cứu quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT nếu thấy tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội hoặc còn có tội phạm khác chư­a được khởi tố thì Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu cơ quan đã ra quyết định khởi tố không nhất trí thì báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung, Kiểm sát viên gửi các quyết định này cho cơ quan đã ra quyết định khởi tố để tiến hành điều tra theo quy định tại khoản 2 Điều 156 Bộ luật Tố tụng hình sự./.

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)