Nhận diện tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản theo Điều 178 BLHS 2015

Tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản là hai tội danh độc lập nhưng được quy định chung trong một điều luật là Điều 178 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) do có những đặc điểm tương đồng nhau. Cũng chính vì như vậy, mà hiện nay trong nhiều vụ án vẫn còn quan điểm khác nhau giữa tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản.
Hành vi hủy hoại tài sản có thể hiểu là hành vi làm cho tài sản của người khác bị thiệt hại đến mức làm mất hẳn giá trị hoặc mất hẳn công năng, giá trị sử dụng hoặc bị tiêu hủy hoàn toàn. Hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản là hành vi làm tài sản của người khác bị mất một phần hoặc giảm giá trị hoặc giảm giá trị sử dụng nhưng ở mức độ có thể khôi phục, sửa chữa lại được. Khi phân biệt tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản, thường phải căn cứ vào một số dấu hiện sau:
Thứ nhất, về mục đích của người thực hiện hành vi. Đây có thể xem là căn cứ quan trọng nhất. Nếu quá trình điều tra, truy tố, xét xử làm rõ được mục đích của người thực hiện hảnh vi phạm tội là làm cho tài sản bị hư hỏng, tiêu hủy hoàn toàn hoặc làm cho tài sản không còn giá trị hoặc mất giá trị sử dụng thì phạm tội hủy hoại tài sản. Còn nếu mục đích của người phạm tội là chỉ muốn làm hư hỏng một phần nào đó của tài sản hoặc làm cho tài sản đó bị mất một phần hoặc giảm giá trị hoặc giảm giá trị sử dụng nhưng thực tế tài sản đó có thể khôi phục, sửa chữa lại được thì phạm tội cố ý làm hư hỏng tài sản. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc làm rõ mục đích của người phạm tội đôi khi gặp khó khăn, có thể mục đích của họ ban đầu là muốn hủy hoại tài sản nhưng họ lại khai là chỉ muốn làm hư hỏng một phần tài sản hoặc ngược lại. Điều này đòi hỏi người tiến hành tố tụng cần nhận định, đánh giá hết sức thận trọng và khách quan. Vì nếu không xác định và không chứng minh được mục đích của người phạm tội thì có thể xác định tội danh không chính xác.
Thứ hai, xác định thiệt hại thực tế của tài sản bị xâm hại là như thế nào. Nếu hành vi của người phạm tội làm cho tài sản bị hư hỏng toàn bộ hoặc không còn sử dụng được… thì hành vi đó phạm tội hủy hoại tài sản mà không phải là tội cố ý làm hư hỏng tài sản. Nếu hành vi của người phạm tội rõ rảng chỉ làm hư hỏng một phần của tài sản hoặc làm giảm một phần giá trị tài sản thì hành vi đó phạm tội cố ý làm hư hỏng tài sản. Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng, có những trường hợp mục đích của người phạm tội là muốn hủy hoại tài sản nhưng vì lý do nào đó tài sản chỉ bị hư hỏng một phần thì hành vi đó phải là hành vi hủy hoại tài sản. Ví dụ: Một người dùng xăng đốt nhà của người khác nhưng do phát hiện và ngăn chặn kịp thời nên căn căn nhà chỉ bị chấy một phần nhỏ. Tuy nhiên phải xác định hành vi này là hủy hoại tài sản.
Thứ ba, tài sản mà người phạm tội muốn gây thiệt hại là gì. Thực tiễn hiện nay, khi phân biệt tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản, điều khó khăn nhất là tài sản bị thiệt hại là vật đồng bộ. Theo Điều 114 BLDS năm 2015 thì “Vật đồng bộ là vật gồm các phần hoặc các bộ phận ăn khớp, liên hệ với nhau hợp thành chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc có phần hoặc bộ phận không đúng quy cách, chủng loại thì không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút.”. Tuy nhiên, đối với tài sản là vật đồng bộ như xe máy, xe ô tô… thì thông thường người phạm tội chỉ gây thiệt hại cho một bộ phận của chiếc xe như gương chiếu hậu, kính chắn gió… mà không nhằm vào toàn bộ chiếc xe thì hành vi này phạm tội hủy hoại tài sản hay cố ý làm hư hỏng tài sản.
Điển hình như vụ án như sau: “Do mâu thuẫn va chạm trên đường, nên Nguyễn Văn A đã chạy theo sau xe ô tô của anh T. Khi anh T đậu xe cặp lề đường đi vào một cửa hàng thì A chạy tới dùng một đoạn sắt mang theo đạp bể toàn bộ kính của hai gương chiếu xe ô tô anh T. Kết quả giám định, giá trị thiệt hại tài sản là 2.500.000 đồng”. Có quan điểm cho rằng, hành vi của A là hủy hoại tài sản, vì đối tượng tài sản là A nhắm vào là kính của gương chiếu hậu. Do hai tấm kính bị bể toàn bộ nên A phạm tội hủy hoại tài sản. Nhưng cũng có quan điểm cho rằng xe ô tô là vật đồng bộ. Gương chiếu hậu là một phần của chiếc xe ô tô. Nếu gương chiếu hậu bị bể thì xe vẫn có thể chạy và lưu thông trên đường được trong một điều kiện nhất định nào đó. Vì vậy, A chỉ phạm tội cố ý làm hư hỏng tài sản.
Về mặt lý luận, có thể phân biệt tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản theo những tiêu chí nêu trên. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay vẫn còn tranh luận và chưa thống nhất về xác định tội danh đối với hành vi gây thiệt hại đối với tài sản là vật đồng bộ do chưa có hướng dẫn hoặc quy định một cách rõ ràng. Vì vậy, rất mong Tòa án nhân dân tối cao cần hướng dẫn hoặc giải đáp cụ thể hơn về vấn đề nay để việc hiểu và áp dụng pháp luật cho thống nhất trong thực tiễn.

DƯƠNG TẤN THANH (TAND thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh)

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Cần thống nhất cách hiểu thời điểm xác định “người dưới 18 tuổi bị kết án” theo quy định tại Điều 107 Bộ luật hình sự 2015
Thực tế có nhiều vụ án có những cách hiểu khác nhau về cách tính thời điểm “người dưới 18 tuổi bị kết án”; dẫn đến áp dụng quan điểm giải quyết khác nhau khi tính toán để xác định bị cáo có tái phạm, tái phạm nguy hiểm hay không khi phạm tội mới.
Điều 107 Bộ luật hình sự năm 2015 về xóa án tíchquy định:
“1. Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi;
b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý;
c) Người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 Chương này.
2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đương nhiên được xóa án tích nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
a) 06 tháng trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;
b) 01 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;
c) 02 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;
d) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm.”.
Điều luật có quy định cụm từ người dưới 18 tuổi bị kết án, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án hay người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án, vậy cần xác định  tuổi (dưới 18 tuổi, đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi) vào thời điểm nào khi xét xử bị kết án hay thời điểm khi người đó phạm tội? Trong thực tế, có một số vụ án do hiểu quy định này khác nhau nên áp dụng quan điểm giải quyết khác nhau khi tính toán để xác định tái phạm hay tái phạm nguy hiểm, cụ thể:
Quan điểm thứ nhất:
Thời điểm xác định độ tuổi dưới 18 tuổi theo Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 là vào thời điểm người đó bị kết án, tức là vào thời điểm bị xét xử, vì:
Theo cấu trúc từ ngữ trong câu tại Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định rõ: “Người dưới 18 tuổi bị kết án” ở đây quy định là kết án chứ không phải là phạm tội khác với các quy định tại Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 nêu rõ “người dưới 18 tuổi phạm tội”. Kết án nói lên một trình tự thủ tục tố tụng, còn phạm tội là thời điểm thực hiện  hành vi trái pháp luật, bị xử lý theo Bộ luật Hình sự.
Trong Bộ luật Hình sự năm 2015 có nhiều từ ngữ ở các điều luật xác định thời điểm tính tuổi người dưới 18 tuổi khác nhau. Độ tuổi theo từ, ngữ quy định tại Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 là tính thời điểm phạm tội, còn độ tuổi theo quy định tại Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 là tính đến thời điểm người bị kết án.
Mặt khác, tại Khoản 7 Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “Án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm”. Quy định này bao hàm cả quy định tại điểm a khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 vì: “không tính để xác định tái phạm”, “đương nhiên xóa án tích”, “coi như không có án tích” đều có thể hiểu giống nhau.
Như vậy, chỉ khi bị kết án mà người đó dưới 18 tuổi mới được hưởng các quy định theo Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015; Quy định tại Điều 107 này không áp dụng đối với trường hợp người khi phạm tội dưới 18 tuổi nhưng khi bị kết án đã trên 18 tuổi (người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng các quy định tại Điều 91). Quy định này chỉ nhằm xem xét giảm nhẹ tội đối với người khi bị kết án là người dưới 18 tuổi.
Quan điểm thứ hai:
Thời điểm xác định độ tuổi dưới 18 tuổi là  vào thời điểm phạm tội  bởi vì:
Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì “người chưa thành niên phạm tội” tức vào thời điểm phạm tội chưa thành niên, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “người  dưới 18 tuổi bị kết án” tuy không nêu rõ thời điểm xác định độ tuổi dưới dưới 18 là vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội hay thời điểm bị kết án, nhưng theo hướng có lợi cho người phạm tội, đồng thời để đảm bảo sự công bằng trong xử lý thì cần coi thời điểm để xác định độ tuổi dưới 18 là vào thời điểm người đó thực hiện hành vi phạm tội (ngày phạm tội), khi kết án họ cần được hưởng các quy định nhân đạo của Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Quan điểm thứ hai này cũng đồng thời là quan điểm của tác giả bài viết, bởi:
Người dưới 18 tuổi khi phạm tội có những hạn chế về nhận thức, về mặt tâm sinh lý cũng chưa phát triển hoàn thiện ổn định;, họ phải chịu trách nhiệm theo pháp luật về hành vi phạm tội của mình nhưng cũng cần có những quy định khác với người đã thành niên phạm tội để họ có thể dễ dàng hòa nhập với cộng đồng sau khi chấp hành xong bản án về hành vi họ gây ra khi dưới 18 tuổi.
Với từ ngữ dùng trong quy định Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 thể hiện dưới 18 tuổi tính  đến thời điểm người đó bị kết án; như vậy phải đến thời điểm bị kết án mà chưa 18 tuổi mới được hưởng quy định tại Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015, thì pháp luật được áp dụng hay không sẽ phụ thuộc vào các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết nhanh hay chậm vụ án, phụ thuộc vào các yếu tố khách quan, chủ quan khác,  từ đó tạo nên sự không công bằng, thống nhất trong áp dụng pháp luật.
Đồng thời, khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng quy định thời hạn đương nhiên xóa án tích đối với người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (ngắn hơn người đã thành niên). Nếu là hiểu chỉ khi bị kết án dưới 18 tuổi mới được hưởng quy định này, thì người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi ở thời điểm phạm tội không được hưởng chính sách gì về xóa án tích (như vậy sẽ bất lợi so với quy định đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, chưa đúng với chủ trương, đường lối của Bộ luật Hình sự năm 2015 là sửa đổi quy định có lợi hơn so với Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với người chưa thành niên phạm tội).
Thiết nghĩ, trong thời gian tới, các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu, hướng dẫn thống nhất cách hiểu để áp dụng phù hợp; đồng thời sửa đổi từ, ngữ dùng trong Điều 107 Bộ luật Hình sự thay cụm từ “người dưới 18 tuổi bị kết án” bằng “người dưới 18 tuổi phạm tội” đảm bảo thực hiện quy định của pháp luật được rõ ràng, cụ thể.
Nguồn: Tạp chí Kiểm sát
Xác định tiền sự thế nào cho đúng?

Xác định tiền sự cho đúng để bảo đảm phán quyết của Tòa án được đúng đắn, khách quan và công bằng. Vấn đề này trong thực tế cũng nảy sinh những nhận thức khác nhau.

1. Một tình huống cụ thể

Ngày 06/3/2015, do thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng chưa đến mức xử lý hình sự nên chính quyền địa phương đã ra Quyết định xử phạt vi phạmhành chính số 05/QĐ-XPHC, để xử phạt đối với Nguyễn Văn Thiện với mức phạt 500.000 đồng.
Đến ngày 24/8/2016, Thiện tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và đã bị Tòa án nhân dân huyện TM, tỉnh ĐT xét xử với mức án là 06 tháng tù, trong bản án này đã xác định bị cáo Thiện không có tiền sự. Sau đó, bị cáo Thiện kháng cáo xin được hưởng án treo thì bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh ĐT đã xác định bị cáo Thiện có một tiền sự nên án sơ thẩm xét xử đã có lợi cho bị cáo và TAND tỉnh ĐT đã tuyên y án sơ thẩm và Thiện đã chấp hành xong bản án vào ngày 16/4/2018.
Ngày 12/01/2019, Thiện lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là chiếc xe mô tô trị giá 3 triệu đồng tại huyện C, tỉnh T.
Khi ban hành cáo trạng để truy tố bị cáo thì Viện kiểm sát huyện C đã xác định bị cáo Thiện có một tiền sự (theo quan điểm của TAND tỉnh ĐT). Tuy nhiên, Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án này đã xác định bị cáo Thiện không có tiền sự (theo quan điểm của TAND huyện TM).
Vậy vấn đề đặt ra là xác định tiền sự của bị cáo Thiện như thế nào cho phù hợp?

2. Thế nào là có tiền sự

Khoản 1, Điều 7 của Luật Xử lý vi phạm hành chính đã quy định các trường hợp được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính để làm xác định tiền sự như sau:
Một là, Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo.
Hai là, Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính nếu trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác (khác quyết định xử phạt cảnh cáo)
Ba là, Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính nếu hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Trong trường hợp này, bị cáo Thiện không có chấp hành đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên chỉ có thể áp dụng trường hợp thứ ba để xem xét bị cáo Thiện có tiền sự hay không.
Các yếu tố để xác định bị cáo Thiện không có tiền sự trong trường hợp này bao gồm: hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và không tái phạm:
Bị cáo Thiện bị xử phạt vi phạm hành chính vào ngày 06/3/2015, đến ngày 24/8/2016, bị cáo đã phạm tội trộm cắp tài sản và đã được hai cấp TAND tỉnh ĐT xét xử bị cáo. Sau khi ra quyết định xử phạt, Cơ quan có thẩm quyền cũng không tiến hành cưỡng chế thi hành án đối với Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã ban hành nên không thể cho rằng người vi phạm cố tình trốn tránh, trì hoãn để được tính thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Như vậy, căn cứ vào Điều 74 của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp này đã hết thời hiệu.
Mặt khác, căn cứ vào khoản 1, Điều 53 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý”. Áp dụng tương tự pháp luật thì tái phạm trong trường hợp vi phạm hành chính được hiểu là trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm hành chính. Trường hợp này, bị cáo Thiện vi phạm hành chính và bị xử phạt vào ngày 06/3/2015 và đã được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính vào ngày 07/3/2016. Việc bị cáo Thiện phạm tội vào ngày 24/8/2016 không được xem là bị cáo tái phạm trong vi phạm hành chính.
Sở dĩ, quan điểm của Viện Kiểm sát huyện C và TAND tỉnh ĐT xác định bị cáo Thiện có tiền sự là vì họ đã đánh đồng quan điểm không chấp hành quyết định xử phạt với việc cố tình trốn tránh, trì hoãn việc thi hành quyết định xử phạt để tính thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính lại. Điều này là không chính xác bởi vi sau khi ra quyết định xử phạt nếu người vi phạm không chấp hành thì Cơ quan có thẩm quyền có quyền cưỡng chế thi hành đối với bị cáo nhưng trong trường hợp này, Cơ quan có thẩm quyền đã không tiến hành cưỡng chế là chưa làm hết trách nhiệm của mình nên không thể khẳng định bị cáo cố tình trốn tránh, trì hoãn việc thi hành quyết định xử phạt.
Từ những phân tích trên có cơ sở vững chắc để xác định rằng bị cáo Thiện không có tiền sự theo như quan điểm của TAND huyện TM, tỉnh ĐT và TAND huyện C, tỉnh T. Rất mong nhận được ý kiến trao đổi của bạn đọc.

HUỲNH MINH KHÁNH (TAND huyện Cái Bè, Tiền Giang)

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Một số vấn đề khúc mắc về pháp luật thừa kế

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã dành phần thứ tư để quy định về thừa kế, theo đó phần thứ tư bao gồm 04 chương và 54 điều (từ Điều 609- đến Điều 662). Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ các quy định của BLDS về thừa kế, chúng tôi cũng còn băn khoăn về một số quy định, xin nêu để các bạn tham khảo.
Bộ luật Dân sự năm 2015 đã dành phần thứ tư để quy định về thừa kế, theo đó phần thứ tư bao gồm 04 chương và 54 điều (từ Điều 609- đến Điều 662). BLDS không đưa quy định và khái niệm thừa kế.
Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác, việc chuyển dịch tài sản này có thể bằng di chúc hoặc theo trình tự mà pháp luật dân sự quy định.
Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân. Khoản 2 Điều 32 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa thế được pháp luật bảo hộ”. Bảo hộ quyền thừa kế tức là bảo hộ quyền sở hữu tư nhân hay chỉ khi có quyền sở hữu tư nhân thì mới có quyền thừa kế.
Về cơ bản các quy định trong 04 chương (những quy định chung, thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật, thanh toán và phân chia tài sản) của BLDS là tương đối rõ ràng, đầy đủ và đã khắc phục được một số vướng mắc, hạn chế của BLDS năm 2005. Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ các quy định của BLDS về thừa kế, chúng tôi cũng còn băn khoăn về một số quy định.

1. Về quy định tại khoản 3 Điều 615 thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

Người được hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kếthực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Như vậy, Luật chỉ quy định phần di sản thừa kế đã chia ở thời điểm chia thừa kế mà không quy định việc phát minh hoa lợi, lợi tức từ di sản thừa kế mà người thừa kế đã nhận. Vậy, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại có được tính cả hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần di sản mà người thừa kế đã nhận không?
Chúng tôi cho rằng hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản (di sản) mà người thừa kế được chia là tài sản hình thành trong tương lai của cả người để lại thừa kế và người nhận thừa kế nên được coi là phần tài sản thanh toán nghĩa vụ của người chết đã để lại di sản.

2. Về thời hiệu thừa kế

Khoản 1 Điều 623 BLDS quy định: “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế.Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó”.
Vậy người thừa kế đang quản lý di sản có phải tính đến hàng thừa kế không? Thời hạn nêu trên được tính như thế nào?
-Luật không quy định hàng thừa kế, trong trường hợp này người thừa kế đang quản lý di sản có thể là ở hàng thứ nhất, hàng thứ hai hoặc hàng thứ ba.
Ví dụ: Một người thừa kế ở hàng thứ ba đang quản lý di sản thừa kế và họ đã quản lý hơn 30 năm đối với bất động sản và hơn 10 năm đối với động sản thì họ là chủ sở hữu của di sản đó. Những người thừa kế ở hàng thứ nhất hoặc hàng thứ hai không còn quyền khởi kiện chia thừa kế hoặc đòi tài sản.
Nếu người thừa kế đang quản lý di sản nhưng chưa quá 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản thì những người thừa kế có quyền khởi kiện chia thừa kế.
-Trường hợp người thừa kế đã qua quản lý di sản xấp xỉ 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản nhưng lại giao quyền quản lý di sản cho người thừa kế khác (là đồng thừa kế) và người này mới chỉ mới chỉ đang quản lý di sản theo quy định thì họ được hưởng toàn bộ di sản thừa kế. Như vậy có thiệt thòi cho người thừa kế trước đó không? Rõ ràng là không hợp lý bởi trong khối di sản đó còn có công duy trì, tôn tạo của người thừa kế trước đó. Do đó, nếu không thỏa thuận được thì người thừa kế có quyền kiện đòi những công sức này.
-Trường hợp người quản lý di sản không phải là người thừa kế nhưng họ chiếm hữu (người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai) trong thời hạn 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ ngày chiếm hữu tài sản. Nếu người chiếm hữu di sản thừa kế chưa đủ các thời hạn nêu trên và thời hiệu thừa kế vẫn còn thì người thừa kế vẫn có quyền kiện thừa kế.
Tuy nhiên, nếu người chiếm hữu di sản thừa kế đã quá các thời hạn nêu trên nhưng thời hiệu khởi kiện thừa thế vẫn còn thì giải quyết thế nào?
Ví dụ: A chiếm hữu di sản thừa kế từ năm 1985, đến năm 2018 thì các thừa kế kiện thừa kế kiện thừa kế vì thừa kế còn trong thời hiệu khởi kiện thừa kế mở năm 2018.
Như vậy A đã chiếm hữu di sản thừa kế 33 năm và thời hiệu thừa kế thì mới chỉ có 01 năm.
Theo chúng tôi, khi thời hiệu thừa kế còn thì các thừa kế vẫn có quyền thừa kế, có quyền yêu cầu chia thừa kế. Người chiếm hữu chỉ có thể được trở thành chủ sở hữu khi mà hết thời hiệu thừa kế, việc họ chiếm hữu di sản bao nhiêu năm không còn ý nghĩa để xác định sở hữu. Đây là một vấn đề mới quy định trong BLDS cần có hướng dẫn cụ thể của Hội động Thẩm phán TANDTC.

3. Về di chúc miệng Điều 629 BLDS

Theo chúng tôi, quy định về di chúc miệng khó thực hiện trong thực tiễn, nhất là trong những trường hợp mà hai người làm chứng không thể ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ và trong thời hạn 05 ngày phải thực hiện thủ tục công chứng, chứng thực. Người lập di chúc miệng thường là người đang ở trong tình trạng tình trạng nguy kịch đến tính mạng như bện nặng sắp chết hoặc khi gặp hoạn nạn. Chẳng hạn bị đắm tàu giữa biển, lời của họ nhắn gửi lại thường được coi là trăn trối. Giả sử có hai người cùng bị đắm tàu nghe được lời trăn trối đó thì họ cũng không thể ghi chép, chứng thực, chứng nhận theo quy định của Luật, nếu họ không được cứu thoát và trở về trong vòng 05 ngày.
Như vậy, di chúc miệng không đảm bảo về mặt hình thức và sẽ không được chấp nhận. Người để lại di sản thừa kế không thể thực hiện hoặc được thực hiện ý chí của họ bởi thừa kế được thực hiện theo luật.
Theo đó, luật cần cân nhắc thời hạn mà những người làm chứng có thể ghi chép chứng nhận, chứng thực cho phù hợp với thực tế cuộc sống.

4. Về hình thức của di chúc

Khoản 3 Điều 631 BLDS quy định “Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc”.
Quy trình này phù hợp với di chúc được lập thành văn bản do người để lại di chúc, tự đánh máy, nhờ người đánh máy hoặc nhờ người khác viết hộ. Người để lại di chúc ký hoặc điểm chỉ vào từng trang để xác nhận đó là ý chí của họ.
Tuy nhiên, di chúc bằng văn bản do chính người để lại di chúc viết cũng phải ký tên, điểm chỉ trong từng trang di chúc có lẽ không cần thiết bởi ý chí của họ đã thể hiện trên từng chữ của di chúc.
Sẽ là trái ý chí của người để lại di chúc khi họ chỉ ký vào trang cuối cùng của di chúc mà không ký từng trang. Vậy những trang không ký là không có giá trị pháp lý về hình thức. Giả sử trang cuối cùng chỉ có vài câu như “Tôi để lại di chúc này, mong các con thực hiện đúng tâm nguyện của tôi” và ký tên (hết trang). Nội dung của di chúc lại nằm ở các trang trước đó và những trang đó lại không có chữ ký, điểm chỉ của người viết (thông thường thì người đã viết di chúc, chỉ ký mà không sử dụng hình thức điểm chỉ) thì toàn bộ di chúc cũng không có giá trị và thừa kế được chia theo pháp luật.
Chúng tôi cho rằng, di chúc viết tay là di chúc có giá trị cao nhất, thể hiện đầy đủ, chính xác ý chí của người để lại di chúc. Nếu xác định di chúc là do chính người để lại di chúc viết ra thì việc họ không ký trong từng trang hoặc quên không đánh số thứ tự cũng không ảnh hưởng đến ý chí của họ và di chúc đó phải được chấp nhận.
Cũng sẽ có trường hợp di chúc có trang ký, có trang không ký hoặc đánh số thứ tự của trang.Trang ký, có số thứ tự thì được chấp nhận, trang không ký không có số thứ tự thì không được chấp nhận. Phần di chúc không được chấp nhận vì vi phạm hình thức được chia theo luật. Rõ ràng là quyền và lợi ích của người thừa kế rơi vào trang không có chữ ký hoặc điểm chỉ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi phần thừa kế của họ bị chia cho các thừa kế khác đã có phần thừa kế được chấp nhận tại các trang có chữ ký, điểm chỉ . Có nghĩa là ý chí của người để lại di chúc không được tôn trọng và thực hiện đầy đủ.

5. Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

Điều 644 BLDS quy định: “Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ trường hợp họ là người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng thừa kế di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của BLDS.
a. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động”
Điều luật chỉ quy định mức tối thiểu mà những người đương nhiên được hưởng thừa kế mà không quy định mức tối đa được hưởng là bao nhiêu. Quy định này có thể dẫn đến người đương nhiên được hưởng thừa kế nhiều hơn người thừa kế.
Ví dụ: Ông A không có con, chỉ có một người cháu. Ông A kết hôn với bà B nhưng mục đích hôn nhân không đạt được. Ông A xin ly hôn. Trong khi Tòa đang giải quyết việc ly hôn thì ông A viết di chúc cho toàn bộ tài sản riêng của mình cho người cháu. Ông A chết.
Theo quy định tại Điều 655 thì bà B vẫn được hưởng thừa kế của ông A và theo quy định tại Điều 644 thì bà B (là vợ) được hưởng ít nhất là 2/3 suất của người thừa kế, tức là 2/3 của toàn bộ di sản của ông A – của một suất thừa kế.
Như vậy, bà B được hưởng 2/3 di sản của ông A và cháu của ông A chỉ được 1/3 khối di sản mà lẽ ra theo ý chí của ông A thì được hưởng toàn bộ.
Nếu điều luật quy định mức độ tối đa hoặc quy định không được nhiều hơn một suất thừa kế thực tế được hưởng thì mới phù hợp.

6.Về trường hợp có nhiều di chúc

Khoản 5 Điều 643 quy định: “Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực pháp luật”.
Điều luật quy định “Đối với một tài sản” là không chính xác khi di chúc đề cập đến nhiều tài sản. Lẽ ra chỉ quy định là “đối với tài sản” là phù hợp. Người lập nhiều bản di chúc nhưng nội dung của các di chúc đó không mâu thuẫn với nhau thì các bản di chúc đó đều có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, nếu có tranh chấp thì Tòa án chỉ căn cứ vào bản di chúc được lập sau cùng, các bản di chúc trước đó có thể được coi là chứng cứ thể hiện thống nhất ý chí của người để lại di chúc.
Trong trường hợp có nhiều bản di chúc nhưng không xác định được thời điểm lập di chúc mà nội dung của các bản di chúc này không thống nhất, có mâu thuẩn với nhau tức là không xác định được đâu là bản di chúc sau cùng thì giải quyết như thế nào? Đây là vấn đề mà điều luật không quy định rõ.
Đối với trường hợp này, có thể áp dụng Điều 648 BLDS giải thích nội dung di chúc vì nội dung di chúc được coi là không rõ ràng, có những mâu thuẩn giũa các bản di chúc. Nếu những người thừa kế không thống nhất được về giải quyết mâu thuẩn của các bản di chúc thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, tức là chia thừa kế theo pháp luật. Như vậy, trường hợp không xác định được chia di chúc sau cùng khi có nhiều di chúc khác nhau, có nội dung mâu thuẩn với nhau mà không thể giải thích thống nhất được, phải yếu cầu Tòa án giải quyết thì các bản di chúc đó đều không có hiệu lực pháp luật.

8. Về di chúc chung của vợ chồng

Điều 663 BLDS năm 2005 quy định về di chúc chung của vợ, chồng: “Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung”.
BLDS năm 2015 đã bỏ quy định này, do vậy về nguyên tắc thì di chúc chung của vợ, chồng không có hiệu lực vì pháp luật không còn thừa nhận. Tuy nhiên, trước khi BLDS năm 2015 có hiệu lực pháp luật mà vợ, chồng đã lập di chúc định đoạt tài sản chung thì giải quyết thế nào nếu họ không lập các di chúc khác.
Theo chúng tôi nên phân định ra các trường hợp sau:
-Nếu di chúc vợ, chồng được lập trước ngày 01/01/2017 và thời điểm mở thừa kế đều vào trước ngày 01/01/2017 thì di chúc vợ, chồng vẫn có hiệu lực pháp luật.
-Nếu di chúc vợ, chồng được lập trước ngày 01/01/2017 và thời điểm mở thừa kế của người chết (vợ hoặc chồng) trước ngày 01/01/2017 thì di chúc vẫn có hiệu lực đối với phần tài sản chung mà vợ chồng định đoạt.
-Nếu thời điểm mở thừa kế sau ngày 01/01/2017 mà không có sự thay đổi, bổ sung di chúc chung thành di chúc cá nhân cho phù hợp với sự thay đổi của pháp luật thì bản di chúc chung vợ, chồng không có hiệu lực pháp luật.

7. Về thừa kế quyền sử dụng đất

BLDS năm 2015 không quy định về thừa kế quyền sử dụng đất, khi giải quyết việc chia thừa kế quyền sử dụng đất, Tòa án phải căn cứ vào quy định thừa kế tài sản và quy định của Luật Đất đai năm 2013 để giải quyết.
Điểm đ khoản 1 Điều 179 Luật Đất đai năm 2013 quy định “cá nhân sử dụng đất có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật”.
Đất đai do người chết để lại (không phân biệt có tài sản hay không có tài sản gắn liền với đất đai đó) mà đất đai này đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 thì quyền sử dụng đất là di sản thừa kế.
Ngoài các giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013 thì điểm g khoản 1 Điều 100 quy định “Các loại giấy tờ xác lập trước ngày 15/10/1993 theo quy định của Chính phủ”.
Các loại giấy tờ khác đã được Chính phủ quy định tại Điều 18 Nghị quyết số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013.
Khi giải quyết thừa kế về đất đai, các Tòa án phải căn cứ vào quy định về điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, đó là:
“ a. Có giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của luật này:
b.Đất không có tranh chấp;
c.Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
d.Trong thời hạn sử dụng đất.
Ngoài ra các điều kiện nêu trên quy định tại Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 thì thừa kế về đất đai còn phải bảo đảm các điều kiện khác quy định tại các Điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật Đất đai.
Ví dụ: Việc thừa kế đất nông nghiệp, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng…
Người được thừa kế quyền sử dụng đất phải đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.
Trường hợp người chết để lại đất đai mà đất đai đó không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất thì đất đai đó không phải là di sản thừa kế vì chưa có quyền sử dụng đất.
Nếu có tranh chấp về đất không có giấy tờ thì đó là tranh chấp đất đai và đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết là nộp đơn tại Ủy ban nhân dân có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 hoặc nộp đơn khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết của cơ quan hành chính thì đương sự có quyền khởi kiện tại Tòa án và Tòa án giải quyết theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Trên đây là một số ý kiến của chúng tôi về một số quy định của BLDS năm 2015 về thừa kế để các bạn tham khảo và rất mong nhận được các ý kiến phản hồi.

NGUYỄN QUANG LỘC (Nguyên Thẩm phán TANDTC) 

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Nguyên tắc để thu được chứng cứ tốt nhất đối với nhân chứng dễ bị tổn thương trong vụ án xâm hại trẻ em

Tại Tọa đàm “Trao đổi kinh nghiệm hoạt động và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên” , Shelley Casey, Chuyên gia UNICEF tại Việt Nam đã trình bày tham luận “CÁC NGUYÊN TẮC CHUNG ĐỂ THU ĐƯỢC CHỨNG CỨ TỐT NHẤT TỪ NHỮNG NHÂN CHỨNG DỄ TỔN THƯƠNG ĐỐI VỚI TỘI PHẠM VỀ BẠO LỰC TÌNH DỤC VÀ GIỚI TÍNH”. Tapchitoaan.vn lược ghi tham luận rất hữu ích này.

1. Tài liệu dành cho công tố viên và tòa án

NHÓM CÔNG TÁC PILON SGBV (Samoa- Chủ tịch),Úc, Quần đảo Cook, Liên bang Micronesia,Kiribati, Nauru,Quần đảo Marshall,Papua New Guinea,Quần đảo Solomon,Tonga,Tuvalu và Vanuatu) tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện cam kết của Diễn đàn Quần đảo Thái Bình Dương về “xóa bỏ Bạo lực tình dục và giới (BLTD&G) tại khu vực Thái Bình Dương và để đảm bảo rằng mọi cư dân Thái Bình Dương đều bình đẳng trong việc tiếp cận công lý và được bảo vệ theo quy định của pháp luật”. Tuân thủ cam kết này, tại cuộc họp vào tháng 5/2016, Nhóm công tác PILON BLTD&G đã quyết địnhbiên soạn một tài liệu dành cho công tố viên và tòa án thuộc các Quốc gia thành viên (QGTV) của PILON về các thực hành tốt trong ứng xử với các nạn nhân hay nhân chứng của BLTD&G là trẻ emhoặc đối tượng dễ bị tổn thương khác.
Một điều đã được chứng minh rõ ràng đó là trẻ em và nhân chứng bị suy giảm khả năng nhận thứccó thể gặp phải những khó khăn nhất định khi cần phải cung cấp lời khai đáng tin cậy tại tòa án. Họ có thể phải chịu đựng cảm giác lo lắng; gặp khó khăn trong việc nhớ lại các sự kiện đã xảy ra từ lâu; và/hoặc phải vật lộn với những chuỗi câu hỏi phức tạp. Các nạn nhân và nhân chứng của tội phạm BLTD&G là người trưởng thành cũng dễ mắc phải cảm giác bồn chồn, lo sợ và tự nghi ngờ bản thân, làm ảnh hưởng tới khả năng cung cấp chứng cứ một cách xác thực. Những vấn đề này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến năng lực của hệ thống tư pháp hình sự trong việc đảm bảo công lý được thực thi đối với các tội phạm BLTD&G.
Mặc dù không có một định nghĩa thống nhất nào về khái niệm “nhân chứng dễ bị tổn thương” và không phải tất cả các nạn nhân và nhân chứng của tội phạm BLTD&G là người trưởng thành đều được coi là dễ bị tổn thương, việc đương nhiên áp dụng sớm các biện pháp đặc biệt khi giải quyết các vụ án về BLTD&G sẽ có nhiều ích lợi.
Bộ Nguyên tắc chung trong tài liệu này được xây dựng dựa trên những nguyên tắc trong Hướng dẫn của Liên hợp quốc về hoạt động tư pháp liên quan đến nạn nhân và nhân chứng là trẻ em trong các vụ phạm tội. Chúng xác định các khái niệm rộng làm nền tảng cho những chính sách về xây dựng phương pháp tốt cũng như các thủ tục để bảo vệ lợi ích của nhân chứng dễ bị tổn thương của tội phạm BLTD&G trong quá trình tố tụng.
Mục đích việc thực hiện Bộ Nguyên tắc chung này nhằm tối đa hóa khả năng cung cấp chứng cứ xác thực và đáng tin cậy của các nhân chứng dễ bị tổn thương trong quá trình xét xử các vụ án BLTD&G. Để thực hiện điều đó, các Nguyên tắc hướng đến việc bảo đảm rằng thủ tục tố tụng hình sự không làm tổn hại thêm cho những người này và rằng sự an toàn của họ được ưu tiên trong khi vẫn đảm bảo cho bị cáo được xét xử một cách công bằng. Tối đa hóa khả năng của nhân chứng dễ bị tổn thương để họ cung cấp những chứng cứ tốt nhất và tránh làm tổn thương họ thêm nữa cũng có thể giúp tăng cường lòng tin vào công tác xét xử của tòa án, qua đó nâng cao ý thức tố cáo các hành vi phạm tội BLTD&G.

2. Các nguyên tắc cụ thể

2.1.Nguyên tắc thông tin tốt nhất
Cung cấp thông tin về các cách tốt nhất để tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ nào, như hỗ trợ y tế, tư vấn hoặc hỗ trợ tài chính và nhà ở khẩn cấp. Giải thích rõ ràng về quy trình thủ tục tư pháp hình sự và vai trò của nhân chứng đó trong quy trình này.
Thông báo đầy đủ về tiến triển của vụ án, bao gồm cả việc thả tự do cho người phạm tội (có thể là nhiều năm sau khi vụ án kết thúc).
Việc tham gia tố tụng được lên kế hoạch và giải thích rõ ràng để nhân chứng có thể chuẩn bị và biết được những gì sẽ diễn ra.
Công tố viên nên giải thích quá trình xét xử và thông báo cho nhân chứng dễ bị tổn thương về từng giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, bao gồm thời gian và địa điểm xét xử, vai trò của nhân chứng trong phiên tòa, liệu bị cáo có nộp đơn xin tại ngoại hay không, quyết định của tòa án có thể được đưa ra xem xét lại theo cách nào và bất kỳ biện pháp bảo vệ nào có thể áp dụng cho nhân chứng dễ tổn thương.
Cũng có thể cân nhắc để chỉ định một cán bộ đủ năng lực để làm đầu mối liên lạc để trao đổi với nhân chứng dễ tổn thương và hỗ trợ họ (cùng người hỗ trợ riêng hay người giám hộ của họ) khi thích hợp và trả lời bất kỳ câu hỏi nào họ có thể hỏi. Một đầu mối liên lạc có thể đặc biệt hữu ích nếu các công tố viên bị phân tâm bởi những yêu cầu của công việc và phiên tòa đang sắp diễn ra cũng như thiếu thời gian để dành cho nhiệm vụ quan trọng này. Đầu mối liên lạc, ngoài việc giải thích quy trình tố tụng hình sự, cần mở rộng vai trò của họ để đảm bảo rằng người nhân chứng cũng được thông báo về các dịch vụ hỗ trợ và y tế sẵn có và nên điều phối và tạo điều kiện cho người nhân chứng đó tiếp cận các dịch vụ nói trên.
Làm quen với Tòa án và gặp gỡ công tố viên. Cần cân nhắc, cho phép các nhân chứng dễ bị tổn thương và người hỗ trợ của họ có cơ hội đến tòa án trước phiên tòa, để họ có thể làm quen với phòng xét xử, gặp gỡ công tố viên và nhận được lời giải thích rõ ràng và toàn diện về cách thức họ sẽ cung cấp chứng cứ, cách tòa án hoạt động và nơi các bên quan trọng sẽ ngồi. Các nước thành viên PILON cũng nên xem xét việc đảm bảo rằng có một người sẵn sàng chào đón nhân chứng dễ bị tổn thương (và người hỗ trợ của họ) khi những người này đến tòa án và là người có thể hướng dẫn họ trong ngày làm việc. Người hướng dẫn này nên là chính đầu mối liên lạc để đảm bảo sự hỗ trợ liên tục. Cần cân nhắc để cho nghỉ giải lao thường xuyên và việc tổ chức các phiên xét xử vào những thời điểm khác nhau trong ngày là rất phù hợp, đặc biệt là đối với trẻ em.
Cập nhật về tiến triển của vụ án Công tố viên hoặc đầu mối liên lạc cần đảm bảo rằng nhân chứng dễ bị tổn thương được thông báo vụ việc đang tiến triển thế nào. Quan trọng là họ phải được báo trước càng sớm càng tốt về việc thủ phạm được phóng thích sau khi nộp tiền bảo lãnh hoặc sau khi đã chấp hành xong án phạt tù.
Thông tin được chuẩn bị sẵn sàng ở định dạng phù hợp. Các nước thành viên PILON nên xem xét việc xây dựng tài liệu truyền thông hoặc tài liệu khác có thể cung cấp cho nhân chứng dễ tổn thương trong các vụ phạm tội BLTD&G. Nếu thích hợp, có thể cầnthiết phải trực tiếp đưa những người này đến các cơ sở dịch vụ họ cần. Có thể bố trí một số điện thoại chuyên dụng mà các nhân chứng dễ tổn thương có thể gọi đến bất cứ lúc nào để được • Chuyên gia hỗ trợ nhân chứng dễ tổn thương nên được đào tạo và có kinh nghiệm phù hợp.hỗ trợ.
2.2.Nguyên tắc hỗ trợ có điều phối
Các dịch vụ hỗ trợ do các chuyên gia khác nhau thực hiện, nếu có thể, nên có sự liên kết với nhau để giảm thiểu sự cần thiết phải buộc nhân chứng khơi lại nỗi đau của họ.
Việc hỗ trợ nên được cung cấp kịp thời và, nếu có thể, chỉ do một người thực hiện miễn là cần thiết.
Ngoài việc đào tạo về các kỹ thuật giao tiếp phù hợp và các yếu tố thúc đẩy của BLTD&G, tất cả các chuyên gia và nhà cung cấp dịch vụ liên quan đến việc chăm sóc và hỗ trợ các nhân chứng dễ tổn thương nên được hỗ trợ, đào tạo một cách phù hợp và cập nhật về lĩnh vực chuyên môn của họ. Các chuyên gia cũng cần nhận được sự đào tạo hoặc hỗ trợ thường xuyên nhằm giúp họ chú ý đến các hậu quả nghiêm trọng về thể chất, tâm lý và cảm xúc mà BLTD&G gây ra. Các chuyên gia y tế có thể được đào tạo để viết báo cáo y tế theo cách mà có thể được sử dụng làm bằng chứng tại tòa án.
Các dịch vụ hỗ trợ được liên kết và có tính liên tục. Các nước thành viên PILON nên xem xét việc xây dựng một khung khổ thống nhất để làm rõ vai trò, duy trì mối quan hệ công tác hiệu quả và đảm bảo sự phối hợp giữa các cơ quan tham gia vào hoạt động điều tra, truy tố và xét xử các tội phạm BLTD&G, cũng như cung cấp các dịch vụ tư vấn và hỗ trợ. Khung khổ nói trên nên bao gồm các quy trình chia sẻ thông tin khi thích hợp và không vi phạm quyền riêng tư của đối tượng. Một số vấn đề khác cần được xem xét bao gồm việc bố trí các cơ sở dịch vụ tại cùng một địa điểm và sử dụng các trang thiết bị phù hợp, đặc biệt là khi có liên quan đến trẻ em. Điều này rất hữu ích để giảm thiểu số lần nhân chứng dễ bị tổn thương phải tiếp xúc với quy trình tố tụng hình sự và số lượng các cuộc thẩm vấn, các bản tường trình và các phiên điều trần mà họ cần tham gia. Cũng rất hữu ích khi việc chăm sóc được tiến hành liên tục, nếu có thể, để cho nhân chứng bị tổn thương cơ hội phát triển mối quan hệ và lòng tin với các công tố viên, chuyên gia tư vấn điều trị, nhân viên y tế và các nhà cung cấp dịch vụ khác. Công việc này có thể được hỗ trợ thông qua việc có một đầu mối liên lạc trợ giúp nhân chứng qua từng giai đoạn của quy trình y tế, quy trình tố tụng hình sự và quy trình hỗ trợ cũng như cung cấp thông tin rõ ràng liệt kê các dịch vụ hỗ trợ hiện có và thông tin liên hệ với các .dịch vụ này.
Ghi âm ghi hình trước lời khai của nhân chứng dễ tổn thương. Các nước thành viên PILON nên xem xét cho phép công nhận bản ghi âm-ghi hình các cuộc thẩm vấn của cảnh sát là bằng chứng chính yếu của nhân chứng dễ bị tổn thương. Thực tiễn này hiện được áp dụng tại nhiều quốc gia theo truyền thống thông luật cũng như dân luật và cần được cân nhắc áp dụng để hạn chế việc yêu cầu nhân chứng phải kể lại một câu chuyện và để đảm bảo rằng lời khai được đưa ra không chậm trễ. Để tạo điều kiện cho thủ tục này, các nước thuộc PILON có thể xem xét đào tạo cho các điều tra viên thuộc lực lượng cảnh sát về những loại thông tin mà công tố viên sẽ yêu cầu phải được đề cập trong cuộc thẩm vấn.
Giảm thiểu việc trì hoãn Điều tra và truy tố các tội phạm liên quan đến nhân chứng dễ bị tổn thương, đặc biệt là trẻ em, cần được tiến hành khẩn trương và giải quyết càng sớm càng tốt, bao gồm cả việc lên lịch xét xử, trừ khi có lý việc trì hoãn là vì lợi ích tốt nhất của nhân chứng dễ bị tổn thương. Nên tránh hoặc giảm thiểu sự chậm trễ tại tòa án bất cứ khi nào có thể nhằm giảm thiểu sự lo lắng và mệt mỏi của nhân chứng.
Trợ giúp kịp thời và liên tục Các dịch vụ hỗ trợ cần được cung cấp kịp thời, không chậm trễ và phù hợp với nhu cầu cũng như mong muốn của đối tượng và miễn là nó cần thiết.
2.3.Nguyên tắc an toàn
An toàn về thân thể của nhân chứng dễ bị tổn thương cần được quan tâm và phải cân nhắc tất cả các biện pháp bảo vệ có thể.
Ngăn ngừa việc bị cáo không có người đại diện đối chất trực tiếp với nhân chứng dễ tổn thương.
Môi trường thoải mái và an toàn tại tòa án. Ngăn ngừa việc bị cáo đe dọa nhân chứng. An toàn thân thể cần luôn được chú ý. Phải luôn đặc biệt quan tâm đến an toàn thể chất của nhân chứng dễ tổn thương ý và áp dụng mọi biện pháp bảo vệ có thể ở mức độ phù hợp nhất. Các biện pháp bảo vệ nói trên có thể bao gồm ra lệnh bắt giữ bị cáo trước khi xét xử, khi cho tại ngoại thì kèm theo điều kiện đặc biệt là “cấm tiếp xúc”, sử dụng các lệnh cấm hoặc lệnh bắt giữ, đặt bị cáo dưới sự quản thúc tại gia hoặc yêu cầu họ sống ở nơi khác, bảo vệ nhân chứng và không tiết lộ nơi ở của nhân chứng. Ngoài ra, hệ thống tư pháp hình sự và các chuyên gia liên quan nên phối hợp để xây dựng các chiến lược phù hợp được thiết kế toàn diện và đặc biệt để giảm nguy cơ nhân chứng dễ tổn thương bị làm hại bởi cả người phạm tội và/hoặc nhóm gia đình/cộng đồng rộng lớn hơn trong tương lai.
Ngăn ngừa việc bị cáo không có người đại diện đối chất trực tiếp với nhân chứng dễ tổn thương
Bất cứ khi nào có thể, tòa án nên ngăn không cho bị cáo trực tiếp đối chất với nhân chứng dễ tổn thương. Điều này có thể đạt được thông qua việc cung cấp trợ giúp pháp lý hoặc luật sư chỉ định, ngay cả khi họ chỉ có thể tham gia một phần nhất định của phiên tòa. Các sáng kiến khác có thể bao gồm việc sử dụng một trợ lý giao tiếp, tòa án trực tiếp thẩm vấn hoặc cấm đối chất. Trong trường hợp không thể ngăn chặn việc đối chất trực tiếp của bị cáo, tòa án cần hết sức cẩn trọng trong việc không cho phép hỏi các câu hỏi không phù hợp và thực hiện bất kỳ phương thức khả dụng nào để đảm bảo rằng các câu hỏi được sử dụng theo một âm điệu và thứ tự phù hợp.
Người hỗ trợ có thể đi kèm nhân chứng dễ tổn thương. Nên cho phép người hỗ trợ, là thành viên của gia đình hoặc cộng đồng của nhân chứng dễ tổn thương mà họ tin tưởng, ở cạnh nhân chứng trong suốt quá trình tố tụng, bao gồm cả trong các cuộc lấy lời khai và tham gia phiên tòa. Người hỗ trợ nên được phép ngồi cạnh nhân chứng tại tòa, bất cứ khi nào có thể.
Đối với trẻ em, người này có thể có hoặc có thể không phải là cha mẹ hoặc người giám hộ của trẻ. Sự hiện diện của người hỗ trợ phải luôn theo nguyện vọng ý của nhân chứng.
Môi trường thoải mái và an toàn tại tòa án. Những nước thuộc PILON cần nghiên cứu chiến lược để đảm bảo rằng môi trường tòa án ít đáng sợ hơn đối với các nhân chứng dễ tổn thương. Ví dụ, đảm bảo có các phòng chờ riêng biệt, an toàn và thoải mái tại tòa, các thẩm phán nên xem xét việc ngồi ngang hàng với những người tham gia tố tụng khác thay vì trên ghế hội đồng xét xử, thẩm phán và luật sư nên xem xét việc không đội tóc giả và mặc áo choàng trong các phiên tòa xét xử tội phạm BLTD&G liên quan đến các nhân chứng dễ bị tổn thương, đặc biệt là trẻ em.
Không cho phép tiếp xúc trực tiếp giữa bị cáo và nhân chứng dễ tổn thương. Cần ngăn không cho bị cáo tiếp xúc trực tiếp với nhân chứng dễ tổn thương tại bất kỳ thời điểm nào trong quá trình tố tụng, đặc biệt là trong phiên tòa. Nên đặt một màn che giữa bị cáo và nhân chứng dễ tổn thương để đảm bảo rằng nhân chứng không bị đe dọa bởi ánh mắt, khuôn mặt hoặc cử chỉ khác của bị cáo. Các phương thức khác có thể thực hiện là tạo điều kiện cho nhân chứng có thể cung cấp lời khai từ xa bằng camera quan sát một chiều hoặc các phương tiện khác (ví dụ như ghi âm buổi lấy cung từ trước hoặc Skype). Công tố viên nên thảo luận về các lựa chọn với nhân chứng và đưa ra các ứng dụng thích hợp cho Tòa án trước phiên tòa.
2.4.Nguyên tắc quyền riêng tư
Sử dụng tên giả hoặc bí danh. Cấm công bố hoặc phát tán thông tin xác định danh tính của nhân chứng dễ bị tổn thương. Tổ chức xét xử kín. Sử dụng biệt danh hoặc tên viết tắt.
Các tòa án nên xem xét việc nhắc đến những nhân chứng dễ tổn thương bằng tên viết tắt hoặc biệt danh thay vì tên thật của họ để bảo vệ danh tính cho họ.
Tổ chức xét xử kín Các nước thành viên PILON nên xem xét việc liệu có thể tổ chức phiên tòa xét xử kín, không cho công chúng và phương tiện truyền thông tham gia được hay không. Điều này có thể áp dụng cho toàn bộ phiên tòa, hoặc chỉ cho các phần của phiên tòa khi nhân chứng đang cung cấp lời khai. Nếu chỉ áp dụng cho một phần của phiên tòa, biệt danh hoặc tên viết tắt cần được cân nhắc sử dụng nếu trong các phần công khai của phiên xét xử .
Cấm công bố và phát tán các thông tin nhận dạng. Để ngăn chặn việc công bố thông tin nhận dạng trên các phương tiện truyền thông, việc cấm công bố thông tin nhận dạng nhân chứng dễ tổn thương có thể được đưa vào luật. Để tăng cường hiệu quả của quy định cấm này, cần hình sự hóa hành vi công bố thông tin về nhân chứng dễ bị tổn thương Ngay cả khi không có luật, tòa án có thể xem xét đưa ra các lệnh không công bố hoặc cấm công bố đối với các vụ án BLTD&G, nếu vi phạm có thể cấu thành hành vi khinh thường tòa án.
Thông tin cá nhân cần được bảo vệ ở mức độ tối đa. Thông tin cá nhân của nhân chứng dễ bị tổn thương chỉ nên được chia sẻ với sự cho phép của họ (trừ khi luật pháp yêu cầu hoặc cần thiết cho sự an toàn của họ) và chỉ trong phạm vi mà việc chia sẻ thông tin sẽ có lợi cho người đó. Nên tránh tiết lộ các chi tiết cá nhân không cần thiết trong quá trình tố tụng và đặc biệt là tại tòa án.
2.5.Nguyên tắc không phân biệt đối xử
Không phân biệt đối xử với các nhân chứng dễ tổn thương vì lý do chủng tộc, giới tính, màu da, tôn giáo, tín ngưỡng, tuổi tác, tình trạng gia đình, văn hóa, ngôn ngữ, dân tộc, nguồn gốc quốc tịch hoặc xã hội, quyền công dân, khuynh hướng tình dục, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, khuyết tật, tình trạng sinh ra, tài sản hoặc điều kiện khác.
Sử dụng phiên dịch Công tố viên và tòa án nên xem xét sử dụng dịch vụ của một phiên dịch có trình độ phù hợp khi giao tiếp với nhân chứng dễ tổn thương, người gặp khó khăn trong việc nói và hiểu ngôn ngữ chính thức hoặc ngôn ngữ lãm việc của quá trình tố tụng.
2.6.Nguyên tắc biểu đạt cá nhân
Nhân chứng dễ bị tổn thương nên được phép và được khuyến khích đưa ra chứng cứ cũng như kể lại sự việc bằng chính lời lẽ của mình.
Nhân chứng cần được cảm thấy thoải mái bày tỏ quan điểm và quan ngại của họ về quy trình tố tụng hình sự và sự tham gia của họ.
Sử dụng người hỗ trợ chuyên nghiệp được tòa án chấp nhận Thẩm phán và công tố viên sử dụng ngôn ngữ phù hợp. Các chuyên gia tư pháp hình sự cần đảm bảo rằng ngôn ngữ được sửa đổi, đặc biệt là khi giao tiếp với trẻ em hoặc người bị suy giảm nhận thức, để họ có thể hiểu và tham gia đầy đủ trong quá trình tương tác với cơ quan tư pháp hình sự. Điều quan trọng là tránh ngôn ngữ phức tạp không cần thiết hoặc câu hỏi dài dòng. Điều này cần được thúc đẩy thông qua việc đào tạo chuyên biệt về kỹ thuật giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ phù hợp đối với trẻ em và các nhân chứng bị tổn thương cho những chuyên gia tư pháp hình sự hoặc đào tạo chuyên sâu cho một số ít các chuyên gia tư pháp hình sự chuyên được mời làm việc với các nhân chứng dễ bị tổn thương.
Tránh sử dụng các câu hỏi định hướng và đặt câu hỏi quá nhanh. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những câu hỏi đóng và câu hỏi định hướng có nhiều khả năng gợi ra những câu trả lời không chính xác và chứng cứ không đáng tin cậy, đặc biệt là từ trẻ em và nhân chứng bị suy giảm nhận thức. Quan trọng là phải tránh các câu hỏi đóng hoặc câu hỏi định hướng và việc đặt câu hỏi theo nhịp độ quá nhanh mà có thể khiến nhân chứng dễ tôn thương cảm thấy lo lắng hơn.
Cho phép nhân chứng kể lại sự việc theo tốc độ của riêng họ và bằng lời lẽ của chính họ. Một số cách để khuyến khích một người kể câu chuyện của họ bằng lời của chính họ và theo tốc độ của riêng họ là cung cấp một môi trường an ninh và an toàn cho họ, sử dụng trợ lý giao tiếp, các phương thức hỗ trợ lấy lời khai hoặc câu hỏi mở và không định hướng để khuyến khích việc tường thuật tự do đến mức tối đa có thể.
Tòa án một số nước sử dụng những người trung gian là chuyên gia về kỹ thuật giao tiếp để chuyển tải câu hỏi và câu trả lời giữa nhân chứng và luật sư. Những trợ lý giao tiếp này có thể có nhiều vai trò khác nhau. Họ có thể không được phép thay đổi cách diễn đạt của câu hỏi và chỉ làm nhẹ giọng điệu xuống, họ có thể tự mình thẩm tra nhân chứng với việc luật sư chỉ định hướng cho họ về những vấn đề cần làm sáng tỏ, hoặc họ có thể làm việc với tòa án thông qua việc can thiệp khi có một câu hỏi không phù hợp được sử dụng và tư vấn giúp viết lại câu hỏi hoặc tự đặt lại câu hỏi bằng ngôn ngữ phù hợp.
Trợ lý giao tiếp có thể hỗ trợ một người kể lại câu chuyện bằng lời của chính họ thông qua việc giúp người đó tránh được các câu hỏi mang tính định hướng và những câu hỏi đóng đồng thời đề xuất áp dụng các thiết bị hỗ trợ lấy lời khai.
Tạo cơ hội cho nhân chứng dễ tổn thương thể hiện bản thân mình. Các nhà chuyên môn trong lĩnh vực tư pháp hình sự nên cung cấp không gian và cơ hội để nhân chứng dễ tổn thương có thể bày tỏ bất kỳ mối quan tâm, khiếu nại hoặc quan điểm nào mà họ có thể có về quy trình tố tụng, vai trò hoặc sự tham gia của họ vào quy trình đó hoặc cảm nghĩ của họ về kết quả. Chuyên gia nên hạn chế đánh giá những người này về bất kỳ quan điểm tiêu cực nào họ có thể có và khiến cho họ cảm thấy rằng mình đang được lắng nghe và xem xét. Trong một số trường hợp, có thể hữu ích khi đưa ra lý do mà không cần bào chữa về việc tại sao một số thứ lại như vậy.
2.7.Nguyên tắc ảnh hưởng của tội phạm đối với nạn nhân và việc bồi thường
Nạn nhân/người bị hại có quyền trình bày bằng lời nói hoặc đệ trình cho công tố viên để chuyển cho thẩm phán xét xử một bản trình bày có chữ ký về ảnh hưởng của tội phạm đối với bản thân mình, trong đó chỉ rõ tổn thất và thiệt hại của cá nhân họ nhằm phục vụ cho mục đích ra phán quyết.
Công tố viên cần cung cấp cho nạn nhân thông tin về bất kỳ thủ tục bồi thường hoặc khắc phục hậu quả nào.
Cho phép công tố viên thay mặt nhân chứng dễ tổn thương nộp yêu cầu bồi thường nêu trên.
Nạn nhân của BLTD&G được quyền thông qua công tố viên trình bày bằng lời những tác động của tội phạm đối với mình hoặc đệ trình trước tòa một bản tường trình về tác động của tội phạm.
Tường trình về tác động của tội phạm đối với nạn nhân có ý nghĩa như là liều thuốc tẩy và giúp các nạn nhân của BLTD&G khép lại mọi việc và có cảm giác là mọi việc đã qua. Đây là một công cụ tốt để nạn nhân / người bị hại về các thỏa thuận bồi thường trong một cuộc họp đặc biệt trước khi tuyên án.
Đảm bảo rằng nạn nhân cảm thấy được lắng nghe trong quá trình tố tụng. Việc được trao một cơ hội để phát biểu về những tác động mà tội phạm gây ra có thể rất hữu ích cho nạn nhân và vì vậy cần cho phép nạn nhân có cơ hội này, mặc dù không bắt buộc.
Cung cấp cho nạn nhân thông tin về bất kỳ quy trình bồi thường hoặc khắc phục hậu quả nào có thể được áp dụng. Nạn nhân/người bị hại của BLTD&G cần được cung cấp thông tin về bất kỳ hình thứcbồi thường hoặc khắc phục hậu quả nào có thể áp dụng cho các nạn nhân của tội phạm. Nếu có thể được bồi thường, công tố viên hoặc đầu mối liên lạc nên thay mặt nhân chứng dễ tổn thương nộp yêu cầu bồi thường nếu được phép và được yêu cầu thực hiện việc đó, thông báo đầy đủ và thường xuyên cho nạn nhân về tiến trình giải quyết yêu cầu bồi thường và cung cấp bất kỳ trợ giúp nào có thể.

Các hình thức thừa kế và thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án

Quyền thừa kế hiểu theo nghĩa chủ quan là quyền của người để lại di sản và quyền của người nhận di sản. Quyền chủ quan này phải phù hợp với các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về thừa kế nói riêng. Trong thực tế vẫn xảy ra những vướng mắc, tranh chấp trong lĩnh vực thừa kế và quá trình giải quyết tại Tòa án cũng có những nhận thức, đánh giá chứng cứ khác nhau…
Điều 609 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, đã đưa ra khái niệm về quyền thừa kế: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật; Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc”.
Tác giả có quan điểm của mình về quyền thừa kế: “Quyền thừa kế là quyền để lại tài sản của mình cho người khác sau khi chết gồm quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản cho người thừa kế theo pháp luật và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”.

1. Các hình thức thừa kế

Pháp luật thừa kế của nhiều quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam thường quy định có hai hình thức thừa kế đó là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Trên cơ sở quy định của pháp luật dân sự, tác giả sẽ đi sâu phân tích về hai hình thức thừa kế trên.

1.1. Thừa kế theo di chúc

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Quyền lập di chúc của cá nhân là một trong những quyền quan trọng của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình, được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện. Vì vậy, di chúc là phương tiện phản ánh trung thực ý nguyện cuối cùng của cá nhân trong việc dịch chuyển tài sản của họ cho người khác sau khi chết. Theo quy định này thì di chúc phải có các yếu tố sau: (1) Đó là sự thể hiện ý chí của cá nhân mà không phải là của bất cứ chủ thể nào khác; (2) Mục đích của việc lập di chúc là chuyển tài sản là di sản cho người khác; (3) Chỉ có hiệu lực sau khi người đó chết.

1.2. Thừa kế theo pháp luật

Thừa kế theo pháp luật là sự dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống theo hàng thừa kế. Như phân tích ở trên, cá nhân có quyền sở hữu đối với tài sản của mình, sau khi cá nhân chết, số tài sản còn lại được chia đều cho những người thừa kế. Người được thừa kế theo pháp luật là những người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản thừa kế. Những người được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật không phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi. Mọi người đều bình đẳng trong việc hưởng di sản thừa kế của người chết, thực hiện nghĩa vụ mà người chết chưa thực hiện trong phạm vi di sản nhận.
Như vậy, thừa kế theo pháp luật được hiểu một cách đơn giản là quá trình dịch chuyển di sản của người chết sang những người còn sống theo quy định của pháp luật về thừa kế. Mặt khác, theo quy định của pháp luật thì khi không có căn cứ để dịch chuyển di sản của người chết theo ý chí của họ thì di sản đó phải dịch chuyển theo quy định của pháp luật về hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế. Điều 649 BLDS năm 2015 đã định nghĩa về thừa kế theo pháp luật như sau: “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”.

1.3. Thừa kế thế vị

Ngoài hai hình thức thừa kế trên, pháp luật thừa kế nước ta còn quy định trường hợp khi con của người để lại di sản chết trước người để lại di sản thì cháu của người đó được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ cháu được hưởng nếu còn sống. Nếu cháu cũng đã chết trước người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống. Những trường hợp này gọi là thừa kế thế vị. Ngoài ra, pháp luật còn quy định trường hợp đặc biệt đó là: cha, mẹ chết cùng thời điểm với ông hoặc bà thì cháu thay thế vị trí của cha hoặc mẹ nhận di sản của ông, bà (Điều 652 BLDS năm 2015).
Vậy, thừa kế thế vị là việc các con (cháu, chắt) được thay vào vị trí của bố hoặc mẹ (ông, bà) để hưởng di sản của ông bà (hoặc cụ) trong trường hợp bố hoặc mẹ (ông hoặc bà) chết trước hoặc chết cùng ông, bà (hoặc cụ). Những người thừa kế thế vị được hưởng phần di sản mà bố, mẹ mình (hoặc ông bà) đáng lẽ được hưởng nếu còn sống, được chia đều di sản với những người thừa kế khác. Cháu phải sống vào thời điểm ông, bà chết là người thừa kế thế vị của ông, bà. Chắt cũng phải sống vào thời điểm cụ chết là người thừa kế thế vị tài sản của cụ.
Điều 653 BLDS quy định về quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ: “Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định của bộ luật này”. Khoản 3 Điều 68 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con được quy định tại Luật này, Luật Nuôi con nuôi, Bộ luật Dân sự và các luật khác có liên quan”.
Luật Nuôi con nuôi quy định về hệ quả của việc nuôi con nuôi tại khoản 1 Điều 24: “1. Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.
Theo quy định tại Điều 78 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về quyền, nghĩa vụ của cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi: “Cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi có quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ, con được quy định trong Luật này kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi được xác lập theo quy định của Luật Nuôi con nuôi”.

2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp về thừa kế tại Tòa án

Các tranh chấp dân sự xảy ra trong đời sống thực tiễn hết sức đa dạng trong đó tranh chấp về thừa kế nói chung, tranh chấp về thừa kế theo di chúc nói riêng xảy ra ngày một nhiều. Trước đây, do cuộc sống vật chất còn đơn giản, di sản thừa kế mà người chết để lại chỉ đơn thuần là các vật phẩm tiêu dùng, cao hơn nữa là nhà cửa, đất đai. Các danh tranh chấp đó là: (1) Tranh chấp giữa người thừa kế theo luật với người thừa kế theo di chúc; (2) Tranh chấp giữa người khác với người thừa kế theo di chúc; (3) Tranh chấp giữa những người thừa kế theo di chúc với nhau; (4) Tranh chấp giữa những người thừa kế theo luật với nhau vì việc phân chia di sản không đồng đều; (5) Tranh chấp về thừa kế vì những người thừa kế cho rằng có người thừa kế không được quyền hướng di sản; (6) Tranh chấp thừa kế do xác định không chính xác về di sản thừa kế.
Tuy nhiên, ở đây, tác giả xin đưa ra một số tranh chấp thường xảy ra trong thực tiễn cuộc sống hàng ngày để minh chứng cho bài viết của mình như sau:

Thứ nhất, tranh chấp về hiệu lực của di chúc do di chúc lập không đúng thủ tục mà pháp luật đã quy định.

Bản án số 02/DSST ngày 10/10/2015 của TAND huyện S đã xét xử việc chia thừa kế giữa nguyên đơnlà ông N.H.T, sinh năm 1945 trú tại thôn L, xã T, huyện S, tỉnh Y. Sauk hi kết hôn, vợ chồng ông về sống tại thôn thôn L, xã T, huyện S. Nguồn gốc nhà đất là của bố mẹ bà T cho vợ chồng ông. Năm 1980, ông bà có làm một căn nhà cấp 4 , đến năm 1995 vợ chồng ông lại xây tiếp nhà hai tầng nằm trên diện tích đất 736m2. Năm 1983, vợ chồng ông đón anh M (là con riêng của ông về ở). Năm 2006, vợ chồng ông nhận chị Nh làm con nuôi.
Khối tài sản của vợ chồng ông gồm 736m2 đất thổ cư, 112,55m2 nhà hai tầng, 42092m2 nhà cấp bốn, 32,3m2 bếp, chuồng lợn, 12.6m2 công trình phụ, một giếng nước, 39,52m2 sân gạch, 146,52m2 tường rào và tường hoa, 25 loại tài sản khác cùng với 26.317.000 đồng tiền mặt.
Chị Nh xuất trình một bản di chúc lập ngày 01/8/2014 với nội dung bà T định đoạt toàn bộ nhà đất cho chị Nh.
Ông T yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật vì ông cho rằng di chúc mà chị Nh xuất trình không có hiệu lực pháp luật.
Tòa sơ thẩm xét thấy di chúc mà chị Nh xuất trình là do chị Nh trực tiếp viết và có hai người và có hai người là ông Tr và ông Đ ký làm chứng. Tại lời khai ngày 14/9/2015 (bút lục số 15), ông Tr xác nhận di chúc của bà T là do gia đình chị Nh đưa cho ông ký làm chứng sau khi bà T đã chết và nay ông xác định chữ ký của ông tại bản di chúc là không có giá trị. Tòa sơ thẩm không chấp nhận di chúc do chị Nh xuất trình nên di sản của bà T được chia thừa kế theo pháp luật.
Qua vụ tranh chấp trên, tác giả thấy rằng bản di chúc mà chị Nha xuất trình trước Tòa án là di chúc tự lập nhưng trái với thủ tục mà pháp luật đã quy định đối với loại di chúc này (di chúc tự lập phải do chính người để lại di sản viết). Ngoài ra, di chúc định đoạt toàn bộ nhà đất cho chị Nh là đã định đoạt cả tài sản của người khác (tài sản của ông T) nên nội dung của di chúc cũng không đúng pháp luật. Vì thế, Tòa sơ thẩm không chấp nhận di chúc trên là hoàn toàn chính xác.
Bản án dân sự sơ thẩm bị đương sự kháng cáo và đã được TAND tỉnh xét xử lại theo trình tự phúc thẩm bằng bản án số 56/DSPT ngày 20/3/2016. Tại bản án này, Hội đồng xét xử cũng không chấp nhận di chúc của bà T lập ngày 01/8/2014 do chị Nh xuất trình. Di sản của bà T được chia thừa kế theo pháp luật.

Thứ hai, tranh chấp về hiệu lực của di chúc do người làm chứng di chúc không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật

Bản án số 03/DSST ngày 20/11/2016 của TAND Quận T đã xử chia thừa kế giữa nguyên đơn là bà Ng với bị đơn là anh L (sinh năm 1976).
Tóm tắt nội dung vụ án như sau: Sau khi ly hôn với vợ là bà Ch, ông T đã bán ngôi nhà ở phố B, mua căn nhà ở mặt đường C và sống chung cùng chị Ng, đến ngày 22/4/2007 đăng ký kết hôn và tiếp tục sống chung nhưng không có con chung, giấy tờ mua bán nhà nói trên là viết tay và đứng tên ông T. Ngày 20/12/2015, ông T chết do bị ung thư gan. Trước khi chết 4 tiếng, ông T có bảo chị Ng viết hộ di chúc do ông đọc. Sauk hi viết xong di chúc, chị Ng có đưa bút cho ông T ký vào bản di chúc đó. Di chúc có chữ ký của ông M (là người làm chứng). Trong di chúc, ông T định đoạt cho bà Ng và anh L (là con riêng của ông T) mỗi người ½ căn nhà ở mặt đường C. Sau khi ông T chết, bà Ng yêu cầu chia thừa kế khối di sản mà ông T để lại. Tòa sơ thẩm đã chấp nhận di chúc miệng của ông C và cho bà Ng cùng anh L hưởng theo di chúc ngôi nhà ở mặt đường C. Phần di sản còn lại của ông T được chia theo pháp luật.
Anh L và anh S (là con riêng của ông T) kháng cáo vì cho rằng bà Ng không được hưởng theo di chúc vì đó là bản di chúc không có hiệu lực pháp luật.
Vụ án trên đã được TAND thành phố K xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Tại bản án số 110/DSPT ngày 26/5/2016, Hội đồng xét xử nhận định: Di chúc miệng do ông T lập được chị Ng viết hộ chỉ có một người làm chứng là ông M (chị Ng có ký trong di chúc nhưng không có tư cách là người làm chứng di chúc vì chị là người thừa kế của ông T). Trong khi Điều 630 và 632 BLDS năm 2015 quy định di chúc miệng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận di chúc này nên đã sửa bản án sơ thẩm. Di sản thừa kế mà ông T để lại được chia theo pháp luật.
Qua vụ án trên, tác giả nhận thấy rằng, di chúc miệng của ông T cũng có hai chữ ký của hai người làm chứng là chữ ký của ông M và chữ ký của bà Ng. Sai lầm của Tòa sơ thẩm là không xác định được chị Ng là người không được làm chứng cho di chúc của ông T. Việc Hội đồng xét xử sửa phần này của án sơ thẩm là hoàn toàn chính xác.

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn

Từ 2020, hàng loạt viên chức phải ký hợp đồng có thời hạn?

Đây là tinh thần của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức được Bộ Nội vụ chủ trì soạn thảo.

Ngoài việc điều chỉnh nhiều quy định liên quan đến cán bộ, công chức, dự thảo này còn sửa đổi quy định liên quan đến viên chức.

Nhiều viên chức phải ký hợp đồng làm việc có thời hạn

Dự thảo sửa đổi Điều 25 của Luật Viên chức hiện hành như sau: Kể từ ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức có hiệu lực (01/01/2020), tất cả các trường hợp chưa thực hiện hợp đồng làm việc không xác định thời hạn phải ký kết hợp đồng xác định thời hạn.
Chỉ có cá biệt 03 trường hợp dưới đây được ký kết hợp đồng làm việc không xác định thời hạn:
– Viên chức đã ký hợp đồng xác định thời hạn trước ngày 01/01/2020,
– Cán bộ, công chức chuyển thành viên chức
– Viên chức đã thực hiện xong hợp đồng làm việc xác định thời hạn tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.
Như vậy, nếu như đề xuất nêu trên được thông qua, hàng loạt viên chức hiện nay chưa ký hợp đồng không xác định thời hạn đều phải ký loại hợp đồng xác định thời hạn (thời hạn từ 12 – 36 tháng). Chế độ “viên chức suốt đời” sẽ dần được xóa bỏ.

Thêm trường hợp viên chức bị cắt hợp đồng làm việc

Dự thảo Luật cũng bổ sung thêm một trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức, là “Viên chức không đạt yêu cầu sau thời gian tập sự”.
Cũng theo dự thảo này, khi đơn vị sự nghiệp công lập đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc, viên chức được hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm hoặc chế độ bảo hiểm thất nghiệp (trừ một số trường hợp đặc biệt).
Hiện nay, Luật Viên chức chỉ quy định chung chung là khi chấm dứt hợp đồng làm việc, viên chức được hưởng các chế độ nêu trên.
Đáng chú ý, dự thảo kéo dài thời hiệu xử lý kỷ luật với viên chức lên 60 tháng, thay vì chỉ có 24 tháng như hiện nay. Với một số hành vi vi phạm đặc biệt nghiêm trọng không áp dụng thời hiệu như: Viên chức là Đảng viên có vi phạm đến mức bị khai trừ; Vi phạm về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; Sử dụng bằng giả, chứng chỉ không hợp pháp…

Thực trạng tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam

Việt Nam đang hội nhập và tham gia sâu vào “sân chơi” của khu vực và thế giới, điều đó mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức cho nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàngnói riêng.

Thế giới chúng ta đang bước vào kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức, trong đó khoa học và công nghệ giữ vai trò chủ đạo. Sản phẩm của khoa học và công nghệ chiếm phần lớn giá trị của nhiều hàng hóa, dịch vụ. Khoa học và công nghệ đang tạo ra sự khác biệt to lớn trong sự phát triển giữa các quốc gia với nhau.
Việt Nam đang hội nhập và tham gia sâu vào “sân chơi” của khu vực và thế giới, điều đó mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức cho nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng. Cuộc cách khoa học và công nghệ diễn ra, kèm theo dịch vụ ngân hàng số nở rộ, tội phạm công nghệ cao tấn công vào lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam có xu hướng gia tăng cả về số lượng và mức độ ngày càng tinh vi hơn.
Bài viết này khái quát về thực trạng tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Namtrong thời gian qua, đồng thời đưa ra những dự báo về nguy hại mà tội phạm này mang lại, từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng trong thời gian tới.

Thực trạng tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam

Trên thế giới, có khoảng 3,9 tỷ người (tương đương khoảng 60% dân số toàn cầu) sử dụng internet. Công nghệ thông tin, viễn thông trở thành một lĩnh vực mà các đối tượng tội phạm tập trung khai thác, sử dụng.
Theo báo cáo của Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (INTERPOL), tội phạm sử dụng công nghệ cao đang trở thành mối nguy hại lớn trên giới với thiệt hại gây ra hàng năm khoảng 400 tỷ đô la Mỹ, cao hơn số tiền mà tội phạm buôn bán ma túy thu được và cứ 14 giây lại xảy ra 01 vụ phạm tội sử dụng công nghệ cao.
Ở Việt Nam, theo Công ty mạng Bkav, thiệt hại do loại tội phạm công nghệ cao gây ra năm 2018 là 14.900 tỷ đồng, đặc biệt, chiếm tỷ trọng lớn trong đó là những thiệt hại xảy ra trong những lĩnh vực ngân hàng, tài chính. Nhóm tội phạm này thường tập trung tại một số tỉnh, thành phố trọng điểm, nơi diễn ra hoạt động kinh tế lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, Hồ Chí Minh, Bình Dương…
Về đối tượng phạm tội, ban đầu chỉ có một số ít người nước ngoài hoặc Việt kiều, nhưng đến nay, loại tội phạm này đã mở rộng đến từ nhiều quốc gia như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Anh… Thậm chí, việc người Việt Nam sử dụng công nghệ cao để phạm tội trong lĩnh vực ngân hàng đã gia tăng, đặc biệt, có cả sinh viên có hiểu biết sâu về công nghệ thông tin.
Tội phạm này có tổ chức, liên kết các cá nhân từ khắp nơi trên thế giới, sử dụng “lính đánh thuê” với mục tiêu tấn công vào hệ thống máy chủ của các ngân hàng, từ đó hình thành lên các nhóm như: nhóm viết mã độc, phát tán mã độc, thu thập lợi ích, tái phân phối; nhóm lắp đặt thiết bị sao chép dữ liệu; nhóm sử dụng thiết bị làm giả thẻ ngân hàng; nhóm sử dụng thẻ giả để rút tiền…
Về phương tiện phạm tội trong lĩnh vực ngân hàng, nhóm tội phạm này đã sử dụng công nghệ cao làm phương tiện thực hiện tội phạm trong khi công nghệ ngày một phát triển, đổi mới. Thủ đoạn phạm tội diễn ra ngày càng phức tạp, tinh vi dưới một số hình thức phổ biến sau:
Xâm phạm thiết bị điện tử, thiết bị số của ngân hàng, cá nhân, tổ chức
Nhóm tội phạm này đã xâm phạm an ninh, an toàn thiết bị điện tử (máy tính, mạng máy tính), thiết bị số của ngân hàng hoặc doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có thực hiện mua bán – thanh toán trực tuyến bằng hình thức phát tán virus, phần mềm gián điệp, mã độc hại với nhiều biến thể qua thư điện tử, đường link website, diễn đàn, mạng xã hội hoặc các phần mềm miễn phí, phần mềm được sử dụng phổ biến (Unikey, phần mềm đọc file PDF/ảnh…) để thu thập, trộm cắp, thay đổi/phá hủy trái phép cơ sở dữ liệu; chiếm quyền điều khiển máy chủ, sau đó thay đổi giao diện của trang web bị tấn công, tạo website giả…. Theo Bkav, năm 2018, Việt Nam có 9.300 website bị hacker xâm nhập và 30% website các ngân hàng Việt Nam có lỗ hổng.
Lừa đảo nhằm lấy cắp thông tin cá nhân
Nhóm tội phạm này đã sử dụng phần mềm gửi thư rác có nội dung khuyến mại, trúng thưởng… giả danh các ngân hàng gửi đến khách hàng với yêu cầu người dùng phải đăng nhập tài khoản ngân hàng của mình và cung cấp mã xác thực mật khẩu (OTP) để nhận được phần thưởng, khi khách hàng làm theo hướng dẫn thì máy tính sẽ bị cài virus, mã độc.
Ngoài ra, còn có hình thức giả mạo như thông qua Facebook gửi cảnh báo đến người dùng Facebook và đề nghị bấm vào đường dẫn để chuyển hướng đến website giả mạo. Một số khách hàng của các ngân hàng như HSBC, Vietcombank, BIDV, ACB… cũng nhận được các cuộc gọi đến xưng danh là cán bộ của ngân hàng thông báo việc khách đã trúng thưởng, đề nghị khách hàng chuyển tiền để làm thủ tục nhận thưởng; hoặc thông báo thẻ tín dụng có vài vấn đề và yêu cầu cung cấp những thông tin liên quan để điều chỉnh; xưng danh là cán bộ điều tra yêu cầu nộp tiền vào một tài khoản khác để bảo lãnh, phục vụ việc điều tra…
Trộm cắp, mua bán và sử dụng trái phép thẻ ngân hàng giả
Nhóm tội phạm này thường sử dụng thiết bị hiện đại gắn vào máy ATM/POS; cài phần mềm gián điệp, mã độc tấn công máy ATM và hệ thống thẻ; bẻ khóa hệ thống bảo mật, đánh cắp thông tin của chủ thẻ rồi chế tạo thẻ ngân hàng giả để sử dụng bất hợp pháp dưới thủ đoạn mua bán thẻ ngân hàng giả; rút tiền tại các máy ATM/POS; thanh toán trực tuyến…
Hack sim điện thoại của khách hàng để lấy thông tin hoặc lấy tiền
Nhóm tội phạm này thông qua các công đoạn như: tìm kiếm mục tiêu, thông qua các kỹ thuật hỗ trợ lừa đảo, tráo đổi thẻ sim, truy cập vào các tài khoản trực tuyến từ đó chiếm quyền sở hữu các tài khoản. Thủ đoạn phạm tội này không chỉ nhằm lấy được tiền trong tài khoản mà còn có thể bán tài khoản ấy cho người khác hoặc lấy hết tiền trong ngân hàng khi sim được liên kết với tài khoản ngân hàng.

Dự báo nguy cơ và thách thức tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam

Quá trình hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới của Việt Nam cho thấy tình hình phạm tội công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng dự báo sẽ còn diễn biến khó lường với hành vi ngày càng phức tạp, tinh vi hơn bởi những yếu tố sau:
Thứ nhất, chỉ số an toàn về thông tin ở Việt Nam đang còn thấp.
Theo Công ty Phần mềm Hoa Kỳ (Symantec), Việt Nam đứng thứ 11 thế giới về các hoạt động đe dọa tấn công mạng. Theo Hiệp hội An toàn thông tin số Việt Nam (VNISA), chỉ số an toàn thông tin năm 2018 là 45,6% mặc dù chỉ số an toàn thông tin của Việt Nam đã cải thiện qua các năm (năm 2015 là 47,4%; năm 2016 là 59,9%; năm 2017 đạt 46,8%) nhưng vẫn được dự báo là nước có tỷ lệ lây nhiễm phần mềm độc hại, mã độc ở mức cao.
Thứ hai, chiến lược phát triển ngành ngân hàng trong thời đại 4.0.
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra dự báo rằng, ngân hàng số sẽ là tương lai của ngành ngân hàng và là mảnh đất màu mỡ để tội phạm công nghệ cao khai thác phi pháp theo phương thức và công cụ ngày càng tinh vi hơn. Tại Việt Nam, năm 2018 có 47 ngân hàng cung cấp dịch vụ internet banking, 27 tổ chức cung cấp hơn 3,5 triệu tài khoản ví điện tử nhưng đến 2020, Việt Nam sẽ có 95% ngân hàng triển khai dịch vụ internet banking, mobile banking và 30% ngân hàng sẽ triển khai ngân hàng số.
Thứ ba, sự bùng nổ của thương mại điện tử và thị trường thiết bị số.
Xu hướng tấn công bằng mã độc sẽ tiếp diễn mạnh mẽ, thậm chí bùng nổ bởi thương mại điện tử và thị trường thiết bị số đang tăng lên nhanh chóng cùng với các dịch vụ tài chính số ngày càng được sử dụng rộng rãi. Hiện nay, hơn 60% người dân (khoảng 55 triệu người) dùng internet ở Việt Nam, có 58 triệu người dùng Facebook.
Theo hãng Ericsson dự báo đến năm 2018, tại Việt Nam tỷ lệ thuê bao smartphone sẽ tăng mạnh lên khoảng 70% và khoảng 10% tỷ lệ người dùng điện thoại sẽ dùng mạng 4G; đến năm 2021, số lượng thuê bao smartphone sẽ tăng gấp hơn 3 lần so với năm 2015 trong khi xét ở thời điểm cuối năm 2015, tỷ lệ thuê bao di động băng rộng đạt gần 40%.
Như vậy, nguy cơ dường như sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn. Theo Kaspersky và Symantec, Việt Nam được xếp đứng thứ 3 về số người dùng di động bị mã độc tấn công nhiều nhất trên thế giới; thứ 6 trên thế giới về số lượng địa chỉ IP trong nước được dùng trong các mạng máy tính ma tấn công nước khá và đứng thứ 12 trên thế giới về các hoạt động tấn công mạng.
Thứ tư, phát triển thanh toán không dùng tiền mặt.
Theo Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2545/QĐ-TTg ngày 30/12/2016, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2020, có 100% các siêu thị, trung tâm mua sắm và cơ sở phân phối hiện đại có POS; 50% cá nhân, hộ gia đình ở các thành phố lớn sử dụng phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt; toàn thị trường có trên 300.000 thiết bị chấp nhận thẻ POS.
Tuy nhiên, sự tiện lợi này lại tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho chủ thẻ, trong đó phổ biến nhất là thủ đoạn lắp đặt thiết bị tại máy ATM/POS để sao chép, trộm cắp dữ liệu, làm giả thẻ ngân hàng.

Kiến nghị giải pháp nhằm phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển mạnh của các dịch vụ ngân hàng điện tử cùng các thiết bị điện tử thông minh sẽ là những điều kiện thuận lợi để tội phạm công nghệ cao tấn công. Cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm công nghệ cao là cuộc chiến “không tiếng súng”, cuộc chiến của trí tuệ và công nghệ từ 3 bên: Nhà nước, ngân hàng và khách hàng. Từ đó tác giả kiến nghị một số giải pháp sau:
Phòng, chống tội phạm công nghệ cao từ các cơ quan quản lý nhà nước
Để phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng đòi hỏi sự quyết liệt, mạnh mẽ từ các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương thông qua các nhóm giải pháp sau:
Một là, kịp thời ban hành các chính sách, biện pháp cụ thể bảo đảm an ninh trật tự trong phát triển các lĩnh vực khoa học và công nghệ để phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao nói chung và trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng.
Hai là, hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực công nghệ cao thông qua các văn bản như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính… Cần phải tăng nặng chế tài hình sự và chế tài hành chính đối với nhóm vi phạm pháp luật về công nghệ cao.
Ba là, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sớm ban hành văn bản về phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng. Đồng thời, có sự phối hợp chặt chẽ với các bộ, ban, ngành khác nhằm phòng chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng.
Bốn là, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao nói chung và lĩnh vực ngân hàng nói riêng. Tập trung trao đổi thông tin tội phạm, nhận sự tài trợ các thiết bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại và đào tạo cán bộ trình độ cao từ các tổ chức quốc tế, phục vụ cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao.
Phòng, chống tội phạm công nghệ cao từ ngân hàng
Trong thời gian tới, các ngân hàng phải tiến hành các nhóm giải pháp sau:
Một là, triển khai áp dụng sớm và đồng bộ các biện pháp bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng điện tử với các công nghệ bảo mật tiên tiến như xác thực sinh trắc học, công nghệ chống tấn công, công nghệ phát hiện giao dịch gian lận, hệ thống bảo mật ba lớp… Bên cạnh đó, cần rà soát, kiểm tra thường xuyên tình hình bảo mật, an ninh để sớm phát hiện các lỗ hổng bảo mật, mã độc… có nguy cơ làm lộ, lọt thông tin khách hàng.
Hai là, triển khai áp dụng các biện pháp bảo đảm an toàn hoạt động thanh toán thẻ của máy ATM/POS như trang bị POS không dây có tính năng định vị qua GPS; kiểm tra, giám sát chặt chẽ các chủ thể thanh toán thẻ. Triển khai các biện pháp bảo vệ dữ liệu khách hàng và bảo đảm hoạt động liên tục của hệ thống thông tin trong ngân hàng.
Ba là, đào tạo nguồn nhân lực có nghiệp vụ trong lĩnh vực ngân hàng và lĩnh vực công nghệ cao nói riêng nhằm ứng phó khi bị nhóm tội phạm này xâm nhập. Ngoài ra, tăng cường trách nhiệm của từng cá nhân trong ngân hàng tham gia phòng ngừa, phát hiện kịp thời, tố giác tội phạm công nghệ cao.
Phòng, chống tội phạm công nghệ cao từ khách hàng
Trong hoạt động phòng, chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng không thể thiếu khách hàng, vì nếu Nhà nước và ngân hàng dù có nỗ lực bao nhiêu mà khách hàng không tuân thủ thì cũng không hạn chế được loại tội phạm trên. Vì vậy, khách hành cần có các nhóm giải pháp sau:
Cần tuân thủ các quy định pháp luật về lĩnh vực công nghệ cao theo quy định; tuân thủ quy định của ngân hàng khi tham gia vào các giao dịch liên quan đến ngân hàng. Từ đó, nếu có thiệt hại do tội phạm công nghệ cao gây ra thì sẽ xác định được trách nhiệm của các bên theo quy định pháp luật.
Tăng cường công tác tuyên truyền cho khách hàng nâng cao ý thức và trách nhiệm phòng chống tội phạm công nghệ cao; cảnh báo khách hàng cần cẩn trọng trong việc cung cấp thông tin cá nhân, mật khẩu khi thực hiện các giao dịch thanh toán hoặc thực hiện bất kỳ yêu cầu thay đổi thông tin trên mạng xã hội, website, email, điện thoại…
ThS. Trần Thế Hệ
Nguồn: Luật sư Việt Nam Online

Vấn đề áp dụng pháp luật đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm có diễn biến phức tạp trong thời gian vừa qua, gây ra những hoang mang trong quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử đối với loại tội phạm này còn có nhiều vướng mắc, nhất là việc đánh giá xác định tội danhkhông thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và giữa các Tòa án.

Điều này phần nào đã làm giảm hiệu quả công tác phòng ngừa và đấu tranh, chống tội phạm đối với loại tội phạm này. Trong phạm vi bài viết, tác giả đi sâu phân tích làm rõ khái niệm, phân tích dấu hiệu pháp lý và nêu quan điểm tranh luận đối với một số vụ án phức tạp có liên quan đến tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.

1. Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là gì?

Theo khoản 1 Điều 169 BLHS năm 2015 quy định: “Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Về kỹ thuật lập pháp, nhà làm luật không mô tả hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trong điều luật. Do đó, dưới khía cạnh nghiên cứu, có nhiều quan điểm khác nhau được đưa ra khi định nghĩa về hành vi phạm tội này như: “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là bắt đem giấu đi để làm con tin nhằm buộc gia đình, người thân phải nộp tiền chuộc“.
Tội phạm hoàn thành khi đã có hành vi bắt cóc và đòi tiền chuộc không kể là có lấy được tiền hay không. Nếu vì không đạt được mục đích đòi tiền chuộc mà kẻ phạm tội xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của con tin thì tùy hành vi thực hiện mà xử thêm tội giết người hoặc cố ý gây thương tíchcùng với tội bắt cóc theo nguyên tắc phạm nhiều tội”; “Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bắt, giữ người khác làm con tin do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý nhằm buộc người muốn chuộc phải nộp cho mình tiền hoặc tài sản thì mới thả người bị bắt, giữ”; “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bắt người làm con tin nhằm buộc người khác phải nộp cho mình một khoản tiền hoặc tài sản thì mới thả người bị bắt”…
Trên phương diện lý luận có thể thấy, các quan điểm trên đã nêu ra được một số dấu hiệu pháp lý đặc trưng của hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Điều này đã góp phần làm rõ lý luận và định hướng tích cực cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, giải quyết các vụ án bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trên thực tế.
Tuy nhiên, theo quy định của một số văn bản pháp luật hiện hành có liên quan và thực tiễn công tác phòng ngừa và đấu tranh, chống tội phạm này cho thấy: Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”.  Do đó, tiền cũng là tài sản nên việc sử dụng cụm từ “tiền hoặc tài sản” là chưa thật phù hợp. Khoản 1 Điều 169 BLHS quy định: “Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Tức là hành vi phạm tội thể hiện bằng việc “bắt cóc người khác” nhưng một số quan điểm chưa nêu ra được điều này. Ví dụ: Vụ án xảy ra tại Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, do nợ tiền thua số đề hàng trăm triệu đồng, đối tượng nảy sinh ý định “moi” tiền cha mẹ bằng chiêu giả bị bắt cóc. Anh ta nhờ bạn trói tay chân, bịt mặt, cầm cưa doạ nạt khi gọi điện thoại video về cho gia đình đòi một tỷ đồng tiền chuộc. Gia đình K năn nỉ giảm xuống còn 800 triệu đồng và được “nhóm bắt cóc” đồng ý nhưng phải đưa trước 100 triệu qua ATM. Số tiền còn lại được hẹn giao nhận tại gần siêu thị Lotte Biên Hòa. Khi chúng vừa lấy tiền từ gia đình K thì bị lực lượng công an bắt giữ. Vụ án trên, “nhóm bắt cóc” bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản quy định tại Điều 170 BLHS, mà không phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 169 BLHS. Do đó, khái niệm về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản cần phải nêu rõ dấu hiệu pháp lý này.
– Một số quan điểm trên chưa cắt nghĩa được thuật ngữ “bắt cóc” hoặc điểm khác biệt của hành vi “bắt, giữ người khác làm con tin” trong tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với các tội phạm khác. Thực tế đã xảy ra vụ án, nửa đêm đối tượng đột nhập vào nhà của hai mẹ con (đứa con còn nhỏ). Đối tượng đã bắt, giữ, kề dao vào cổ đứa con làm con tin để uy hiếp, yêu cầu người mẹ phải đưa cho đối tượng 30 triệu đồng thì mới thả đứa con, nếu không đứa con sẽ bị nguy hiểm đến tính mạng. Xung quanh vụ án này, có nhiều quan điểm tranh luận giữa các cơ quan tiến hành tố tụng khi định tội danh, đối tượng phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản hay cướp tài sản?
Theo Từ điển Tiếng Việt, “bắt cóc là bắt người một cách đột ngột và đem giấu đi”. Chúng tôi cho rằng, việc giải thích thuật ngữ “bắt cóc” trong Từ điển Tiếng Việt là tương đối sát nghĩa, thể hiện được bản chất của hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản so với các tội phạm khác.
Bắt cóc người khác phải thể hiện việc đưa người bị bắt giấu đi ở một nơi nào đó mà không muốn cho người khác biết, đặc biệt là đối với người thân, gia đình của người bị bắt (người muốn chuộc con tin). Do đó, trong vụ án trên, nếu xử lý đối tượng về hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là chưa thật sự phù hợp, chưa đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Với những phân tích trên, chúng tôi cho rằng, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bắt người khác đem giấu ở một địa điểm nào đó để làm con tin, nhằm uy hiếp buộc người muốn chuộc con tin (có thể là người thân trong gia đình, bạn bè của người bị bắt…) phải giao tiền hoặc tài sản khác thì mới thả người bị bắt.

2. Một số vấn đề cần chú ý trong quá trình áp dụng pháp luật đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

2.1. Vấn đề xác định thời điểm hoàn thành đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Dưới khía cạnh nghiên cứu lý luận, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được xác định là tội phạm có cấu thành hình thức. Tội phạm hoàn thành khi đối tượng thực hiện được hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác. Việc người phạm tội có chiếm đoạt được tài sản của người khác hay không thì không có ý nghĩa trong việc định tội. Tuy nhiên, việc xác định thời điểm hoàn thành của tội phạm vẫn có một số quan điểm khác nhau.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, khi người phạm tội đã bắt đầu thực hiện hành vi bắt cóc, không phụ thuộc vào việc đã bắt cóc được người khác làm con tin hay chưa và chứng minh được hành vi bắt cóc đó nhằm chiếm đoạt tài sản thì tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản đã hoàn thành. Quan điểm thứ hai cho rằng, khi người phạm tội đã thực hiện được hành vi bắt cóc người khác làm con tin và hành vi đó nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác thì tội phạm đã hoàn thành.
Quan điểm thứ ba cho rằng, khi người phạm tội đã thực hiện được hành vi bắt cóc và đe dọa, có yêu sách về tài sản, không phụ thuộc vào việc họ có chiếm đoạt được tài sản hay không thì tội phạm đã hoàn thành. Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai, khi xác định rằng, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản hoàn thành khi người phạm tội thực hiện được hành vi bắt cóc người khác làm con tin và hành vi đó nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.
Điều này sẽ phù hợp về mặt kỹ thuật lập pháp vì khi đó hành vi của người phạm tội đã thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý được mô tả trong cấu thành tội phạm. Khi người phạm tội đã bắt đầu thực hiện hành vi bắt cóc nhưng chưa bắt cóc được người khác làm con tin thì hành vi đó chưa thỏa mãn dấu hiệu pháp lý được mô tả trong cấu thành cơ bản của tội phạm “Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản…” (Khoản 1 Điều 169) nên tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản chưa hoàn thành. Còn việc đối tượng đã thực hiện hành vi đưa ra yêu sách về tài sản, đe dọa đòi tiền chuộc hay chưa, điều đó không phải dấu hiệu pháp lý được mô tả trong cấu thành tội phạm, mà nó thuộc về vấn đề chứng minh tội phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án hình sự.

2.2. Thời gian giam giữ con tin trong tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Trong thực tiễn xét xử hiện vẫn còn đang có sự tranh cãi về thời gian giam giữ người bị hại. Quan điểm thứ nhất cho rằng, nếu có hành vi bắt và giam giữ con tin nhằm chiếm đoạt tài sản thì có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, bất kể thời gian giam giữ là bao lâu. Quan điểm thứ hai cho rằng, nếu thời gian giam giữ con tin không nhiều, chẳng hạn như chỉ vài phút, thì không thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được mà phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản.
Chúng tôi cho rằng, việc phân biệt giữa tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản không phải dựa trên thời gian giam giữ người bị hại như một số quan điểm được nêu ra. Việc phân biệt các tội phạm với nhau cần được dựa trên dấu hiệu pháp lý đặc trưng của mỗi tội phạm theo luật định. Khoản 1 Điều 170 BLHS quy định: “Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
Người phạm tội cưỡng đoạt tài sản có thể dùng bất cứ phương thức, thủ đoạn nào để uy hiếp tinh thần của người khác nhằm chiếm đoạt tài sản nhưng họ không thực hiện hành vi bắt cóc người khác làm con tin để uy hiếp tinh thần người khác. Nếu người phạm tội có hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản thì không kể thời gian giam, giữ con tin là bao lâu thì vẫn phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, ngay cả trong trường hợp đối tượng chưa bắt cóc được người khác làm con tin nhưng đủ căn cứ chứng minh đối tượng có ý định bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản.

2.3. Nếu người phạm tội bắt cóc người khác làm con tin nhưng không đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản nên đã có hành vi xâm hại tính mạng, sức khỏe của con tin thì có cấu thành tội phạm độc lập hay không?

Hành vi khách quan của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bắt cóc người khác làm con tin và hành vi chiếm đoạt tài sản. Thiệt hại do những hành vi này gây ra cho quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu là hậu quả của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, đó là những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác.
Hành vi bắt cóc là tiền đề, cơ sở và là thủ đoạn quyết định đến việc đối tượng có thể thực hiện được hành vi chiếm đoạt tài sản và những thiệt hại do hành vi bắt cóc gây ra cho con tin cũng nhằm hướng đến việc thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
Do đó, những thiệt hại nào xuất hiện trong quá trình thực hiện hành vi bắt cóc gây ra cho con tin mà không hướng đến việc thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản thì không phải là hậu quả của tội phạm và hành vi gây thiệt hại đó cũng không phải là hành vi khách quan của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, nếu người phạm tội không đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản nên đã có hành vi xâm hại tính mạng, sức khỏe của con tin thì hành vi này sẽ bị truy cứu theo cấu thành tội phạm độc lập. Điều này thể hiện đúng bản chất của hành vi phạm tội, nó giống như một hành vi trả thù nạn nhân khi không chiếm đoạt được tài sản.

2.4. Vấn đề mấu chốt để phân biệt tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản

Đối với tội cướp tài sản, người phạm tội thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Hành vi của người phạm tội hướng đến việc tấn công, uy hiếp, đe dọa trực tiếp đối với người đang quản lý tài sản hoặc đối với người có thể gây cản trở việc chiếm đoạt tài sản của đối tượng. Với hành vi của mình, người phạm tội mong muốn đặt người bị tấn công vào tình trạng không thể chống cự được, để chiếm đoạt được tài sản ngay tức khắc (tại thời điểm thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác).
Người bị tấn công thường không có nhiều thời gian để suy nghĩ, lựa chọn việc có nên giao tài sản cho đối tượng hay không. Đây chính là thủ đoạn quyết định đến việc đối tượng chiếm đoạt được tài sản. Trong trường hợp, nếu người bị tấn công có hành vi chống trả lại đối tượng thì điều đó là những yếu tố khách quan, nằm ngoài ý muốn chủ quan của các đối tượng phạm tội và điều này không ảnh hưởng đến việc định tội, nhưng có ý nghĩa trong việc xem xét về mức độ trách nhiệm hình sự.
Đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, người phạm tội có hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản. Người phạm tội đã thực hiện hành vi bắt người khác đem giấu ở một địa điểm nào đó để làm con tin, nhằm uy hiếp buộc người muốn chuộc con tin (có thể là người thân trong gia đình, bạn bè của người bị bắt…) phải giao tiền hoặc tài sản khác thì mới thả người bị bắt. Cụm từ “đem giấu ở một địa điểm nào đó” thể hiện việc người phạm tội không muốn cho người muốn chuộc con tin hoặc cơ quan chức năng biết được địa điểm “giấu con tin” và dùng nó để uy hiếp người khác nhằm chiếm đoạt tài sản.
Đây chính là thủ đoạn quyết định đến việc đối tượng chiếm đoạt được tài sản. Thông thường, người phạm tội sẽ hẹn người muốn chuộc con tin ở một địa điểm nào đó (khác địa điểm giấu con tin) để chiếm đoạt tài sản của họ. Hành vi của người phạm tội chưa đến mức làm cho người bị đe dọa tê liệt ý chí, mất sức phản kháng ngay tức khắc mà họ vẫn có điều kiện để thỏa thuận, thương lượng về giá trị tài sản chuộc; vẫn có điều kiện cân nhắc xem có nên giao tài sản cho đối tượng hay không; vẫn có điều kiện nhờ sự can thiệp của các cơ quan chức năng trong việc giải cứu con tin, bắt giữ đối tượng… Chính vì vậy, dưới phương diện lý luận và kỹ thuật lập pháp, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được xác định là có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với tội cướp tài sản.
Đối với tội cưỡng đoạt tài sản, người phạm tội có hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản. Người phạm tội không có hành vi bắt cóc người khác làm con tin; không có hành vi dùng vũ lực đối với người khác nhằm chiếm đoạt tài sản; không có hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, mà chỉ là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực để uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản.
Người bị hại không bị tê liệt hoàn toàn về ý chí, không bị lâm vào tình trạng không thể chống cự được mà vẫn có thời gian suy nghĩ có nên giao tài sản cho đối tượng hay không; vẫn có điều kiện để thỏa thuận, thương lượng về giá trị tài sản giao cho đối tượng; vẫn có điều kiện nhờ sự can thiệp của các cơ quan chức năng, của người khác trong việc ngăn chặn hành vi của đối tượng, bắt giữ đối tượng…
Tội cưỡng đoạt tài sản xâm phạm đến quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân, nếu quan hệ nhân thân có bị xâm phạm cũng chỉ gây thiệt hại về tinh thần mà không gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe. Do đó, điều luật không quy định dấu hiệu gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe là dấu hiệu định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Do đó, nếu không chiếm đoạt được tài sản mà người phạm tội có hành vi dùng vũ lực, tấn công hoặc bắt, giữ, giam người khác làm con tin để trả thù hoặc gây thêm áp lực cho người khác nhằm chiếm đoạt bằng được tài sản thì tùy theo từng trường hợp mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm độc lập khác.
Trên đây là một số kết quả nghiên cứu, quan điểm trao đổi của tác giả về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 169 BLHS năm 2015, xin được nêu ra để cùng được trao đổi.
Hy vọng các vấn đề trao đổi trên sẽ tiếp tục được nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa và đấu tranh, chống tội phạm bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trong thời gian tới.

Nguyễn Thị Hải Yến

(Khoa Luật – Học viện Cảnh sát nhân dân)

Nguồn: Luật sư Việt Nam Online

Phân biệt các từ ngữ dễ nhầm lẫn trong lĩnh vực thuế

Trong lĩnh vực thuế có nhiều từ ngữ dễ gây nhầm lẫn. Để góp phần khắc phục những khó khăn đó, dưới đây là bảng phân biệt các từ ngữ dễ nhầm lẫn trong lĩnh vực thuế.

Căn cứ:
– Luật Quản lý thuế 2006;
– Luật Thuế giá trị gia tăng 2008 (sửa đổi, bổ sung 2013, 2016);
– Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 (sửa đổi, bổ sung 2012);
– Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 (sửa đổi, bổ sung 2013);
– Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2016;
– Thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn Luật Thuế giá trị gia tăng.

Bảng phân biệt các từ ngữ dễ nhầm lẫn

STT

Các thuật ngữ

1

Thuế trực thu

Là loại thuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế.
– Có đặc điểm là người nộp thuế đồng thời là người chịu thuế.
Ví dụ:
– Thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp.

Thuế gián thu

Là thuế điều tiết gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ.
– Người nộp thuế không phải là người chịu thuế. Người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là người chịu thuế (giá mua hàng đã bao gồm thuế gián thu) còn người nộp thuế là nhà sản xuất, kinh doanhhàng hóa, dịch vụ.
Ví dụ:
Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng..

2

Người nộp thuế

Người chịu thuế

Lưu ý: Giống nhau khi đó là thuế trực thu: Người nộp thuế đồng thời là người chịu thuế.

– Người nộp thuế là người mang thuế đến nộp cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.Theo Điều 2 Luật Quản lý thuế 2006 gồm:
– Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế, phí, lệ phí hoặc các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;
– Tổ chức được giao nhiệm vụ thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước;
– Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế;
– Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế;cá nhân làm thủ tục về thuế thay người nộp thuế…
– Tổ chức, cá nhân thực tế phải nộp thuế cho Nhà nước khi có thu nhập chịu thuế hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ mà hàng hóa, dịch vụ đó là đối tượng chịu thuế.Với thuế trực thu:
– Là cá nhân có thu nhập chịu thuế;
– Doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế;
Với thuế gián thu:
Là người mua, sử dụng hàng hóa.
Ví dụ: Thuế giá trị gia tăng:
+ Người nộp thuế là doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh khác;
+ Người chịu thuế là người mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ.

3

Người chịu thuế

Tổ chức, cá nhân thực tế phải nộp thuế cho Nhà nước khi có thu nhập chịu thuế hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ mà hàng hóa, dịch vụ đó là đối tượng chịu thuế.

Đối tượng chịu thuế

– Là hàng hóa, dịch vụ, thu nhập hoặc những lợi ích vật chất khác mà thuế tác động đến làm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế.
Tùy thuộc vào từng loại thuế mà đối tượng chịu thuế là khác nhau:
Ví dụ:
– Thuế giá trị gia tăng là hàng hóa, dịch vụ.
– Thuế thu nhập cá nhân là thu nhập chịu thuế.

4

Hoàn thuế

– Là việc hoàn trả lại số tiền thuế đã nộp trong các trường hợp theo pháp luật quy định với từng loại thuế.
Ví dụ: Doanh nghiệp nộp thuế đã nộp thuế giá trị gia tăng nhưng khi xuất khẩu thì sẽ được hoàn thuế khi đủ điều kiện về thời gian khấu trừ (vì thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa nhưng với điều kiện là tiêu thụ trên lãnh thổ Việt Nam).

Khấu trừ thuế

– Thuế khấu trừ tại nguồn chi trả (còn có cách gọi khác là thuế thu tại nguồn…) là một hình thứccủa các loại thuế thu nhập mà cơ quan thuế sẽ thu bằng cách khấu trừ ngay vào khoản tiền mà người trả thu nhập trả cho người nhận thu nhập.
Ví dụ: Trong thuế thu nhập cá nhân.
– Cá nhân ký HĐLĐ có thời hạn dưới 03 tháng hoặc không ký HĐLĐ mà có thu nhập trên 02 triệu đồng thì sẽ bị nơi trả thu nhập khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân trước khi chi trả (trừ trường hợp làm đơn cam kết).
– Đối với cá nhân không cư trú thường là người nước ngoài khi trả thu nhập thì sẽ bị khấu trừ 20%.

5

Thuế tương đối (thuế suất tương đối)

– Thuế tương đối là mức thuế được tính bằng một tỉ lệ % trên một đơn vị giá trị đối tượng chịu thuế.

Thuế tuyệt đối (thuế suất tuyệt đối)

– Theo khoản 4 Điều 3 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2016 quy định phương pháp tính thuế tuyệt đối là việc ấn định số tiền thuế nhất định trên một đơn vị hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Hay nói cách khác, thuế tuyệt đối hay còn gọi là định suất thuế là mức thuế được tính bằng số tuyệt đối theo một đơn vị vật lý của đối tượng chịu thuế.

6

Thuế suất 0%Là một trong ba mức thuế suất của thuế giá trị gia tăng, áp dụng với:
+ Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu;
+ Hoạt động xây dựng, lắp đặt công trình ở nước ngoài và ở trong khu phi thuế quan;
+ Vận tải quốc tế;
+ Hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng khi xuất khẩu (theo Điều 9 Thông tư 219/2013/TT-BTC).
– Vẫn thuộc đối tượng chịu thuế nên doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh khác phải kê khai thuế giá trị gia tăng.
Không chịu thuếLà những sản phẩm hàng hóa không thuộc đối tượng chịu thuế như sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác..
– Vì không phải đối tượng chịu thuế nên doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không phải thực hiện kê khai thuế giá trị gia tăng với những sản phẩm hàng hóa này.

7

Thu nhập chịu thuế

Thu nhập tính thuế

Thu nhập tính thuế bao gồm cả thu nhập chịu thuế (phạm vi rộng hơn), tùy thuộc vào mỗi loại thuế thu nhập mà có cách tính khác nhau, cụ thể:

Thuế thu nhập cá nhân

– Thu nhập chịu thuế bằng tổng thu nhập trừ đi các khoản miễn thuế. – Thu nhập tính thuế là bằng tổng thu nhập chịu thuế trừ đi các khoản giảm trừ (giảm trừ gia cảnh…).

Thuế thu nhập doanh nghiệp

– Thu nhập chịu thuế bằng doanh thu và các khoản thu nhập khác trừ đi chi phí được trừ. – Thu nhập tính thuế bằng thu nhập chịu thuế trừ đi thu nhập được miễn thuế và các khoản lỗ kết.

Nguồn: Luatvietnam.vn