Toàn bộ quy định cần biết về thuế giá trị gia tăng 2019

Thuế giá trị gia tăng (GTGT) tác động đến hầu hết các đối tượng trong xã hội. Luật Thuế giá trị gia tăng 2008, được sửa đổi, bổ sung 2016 điều chỉnh trực tiếp lĩnh vực này. Bài viết dưới đây tổng hợp các vấn đề pháp lý cơ bản, liên quan mật thiết đến đời sống người dân của pháp luật thuế GTGT.

1. Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là gì?

Thuế giá trị gia tăng trong Tiếng Anh là Value Added Tax (VAT) hay còn được biết đến là Goods and Services Tax. Thuế GTGT có nguồn gốc từ nước Pháp, đến nay đã được áp dụng rộng rãi tại khoảng 130 quốc gia trên thế giới.
Theo quy định tại Luật Thuế giá trị gia tăng 2008, thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Thuế GTGT chỉ áp dụng trên phần giá trị tăng thêm mà không phải đối với toàn bộ giá trị hàng hóa, dịch vụ.
Một điểm đặc trưng khác, thuế GTGT là một loại thuế gián thu, được cộng vào giá bán hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng trả khi sử dụng sản phẩm đó. Mặc dù người tiêu dùng mới chính là người chi trả thuế GTGT, nhưng người trực tiếp thực hiện nghĩa vụ đóng thuế với Nhà nước lại là đơn vị sản xuất, kinh doanh.

2. Đối tượng nào không phải nộp thuế GTGT?

Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng 2008 quy định về đối tượng có nghĩa vụ nộp thuế trực tiếp với cơ quan Nhà nước. Theo đó, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế chính là người có nghĩa vụ đóng thuế.
Theo quy định Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế 2016, hầu hết các sản phẩm tiêu dùng, sản xuất hiện nay đều là đối tượng chịu thuế GTGT.
Một số đối tượng không chịu thuế quy định cụ thể tại Thông tư 219/2013/TT-BTC, được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư 26/2015/TT-BTC, gồm: Nông, thủy sản chưa chế biến; vật nuôi, giống cây trồng; muối; dịch vụ tín dụng; dịch vụ vận chuyển hành khách công cộng;…
Ngoài ra, Thông tư 219/2013/TT-BTC cũng quy định một số trường hợp cụ thể mà tổ chức, cá nhân không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT, gồm:
– Nhận các khoản thu bồi thường bằng tiền;
– Tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế GTGT bán tài sản;
– Tổ chức, cá nhân chuyển nhượng dự án đầu tư để sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT cho doanh nghiệp, hợp tác xã;
Thông tư 193/2015/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư 219/2013/TT-BTC cũng liệt kê một số trường hợp cơ sở kinh doanh không phải kê khai, nộp thuế GTGT theo quy định:
– Góp vốn bằng tài sản để thành lập doanh nghiệp;
– Điều chuyển tài sản giữa các đơn vị hạch toán phụ thuộc trong doanh nghiệp;
– Thu đòi người thứ 3 của hoạt động bảo hiểm;
– Nhận các khoản thù lao từ cơ quan Nhà nước do thực hiện hoạt động thu hộ, chi hộ các cơ quan Nhà nước …

3. Căn cứ tính thuế GTGT cho hàng hóa, dịch vụ

Thuế GTGT được tính dựa trên giá tính thuế và thuế suất.

Giá tính thuế

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng 2013 quy định giá tính thuế bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh, sản xuất được hưởng. Đơn vị tính thuế GTGT là đồng Việt Nam.
Chi tiết giá hàng hóa, dịch vụ được sử dụng làm căn cứ tính thuế GTGT quy định trong một số trường hợp cụ thể như sau:
– Sản phẩm do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra, giá tính thuế là giá bán chưa có thuế GTGT; Sản phẩm chịu thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc/và thuế bảo vệ môi trường là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc/và thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế GTGT;
– Hàng hóa nhập khẩu: Giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu hoặc/và thuế bảo vệ môi trường hoặc/và thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có);
– Hoạt động cho thuê tài sản: Số tiền cho thuê chưa có thuế GTGT;
– Hàng hóa bán trả góp, trả chậm: Giá bán theo phương thức trả một lần chưa có thuế GTGT, không gồm lãi trả góp, trả chậm;
– Gia công hàng hóa: Giá gia công chưa có thuế GTGT;
– Hàng hoá, dịch vụ được sử dụng chứng từ thanh toán ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì tính theo công thức:

Giá chưa có thuế GTGT    = Giá thanh toán
1 + Thuế suất của hàng hoá, dịch vụ (%)

3 mức thuế suất 0%, 5% và 10% áp dụng ra sao?

Thuế suất được hiểu là mức thuế phải nộp trên một đơn vị khối lượng chịu thuế. Định mức thu thuế tính trên khối lượng thu nhập hoặc giá trị tài sản chịu thuế.
Luật Thuế GTGT hiện hành quy định áp dụng 03 mức thuế suất: 0%, 5% và 10% với những quy định cụ thể như sau:
– Thuế suất 0% được áp dụng đối với sản phẩm xuất khẩu, vận tải quốc tế và hàng hóa không chịu thuế GTGT. Thông tư 130/216/TT-BTC hướng dẫn cụ thể các trường hợp không áp dụng mức thuế suất 0%: Tái bảo hiểm; chuyển giao công nghệ ra nước ngoài; thuốc lá, rượu, bia nhập khẩu; …
– Thuế suất 5%: Áp dụng với các sản phẩm quy định tại Điều 10, Thông tư 219/2013/TT-BTC và được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư 26/2015/TT-BTC như sau: Nước sạch sinh hoạt, phân bón, nông sản, thủy sản, quặng, dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp, …
– Thuế suất 10%: Được áp dụng đối với các sản phẩm, dịch vụ không áp dụng 2 mức thuế suất 0% và 5%.

4. Cách tính thuế GTGT phải nộp của doanh nghiệp

Luật Thuế giá trị gia tăng 2008 quy định 02 phương pháp tính thuế GTGT bao gồm: Phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng 2013 quy định cụ thể tại khoản 4 Điều 1 về đối tượng áp dụng, cách tính đối với mỗi phương pháp:

Phương pháp khấu trừ thuế

– Đối tượng áp dụng là các cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định pháp luật: Cơ sở kinh doanh có doanh thu hàng năm từ bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ từ 01 tỷ đồng trở lên, trừ hộ, cá nhân kinh doanh; Cơ sở kinh doanh đăng ký áp dụng tự nguyện.
– Cách tính:
Thuế GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra – Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ

Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT

– Đối tượng áp dụng: Doanh nghiệp, hợp tác xã có doanh thu hàng năm dưới 01 tỷ đồng; hộ, cá nhân kinh doanh; người nước ngoài kinh doanh, không thường trú nhưng có doanh thu tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ…
– Cách tính:
Số thuế GTGT phải nộp  =       Doanh thu                   x        Tỷ lệ %
Trong đó, tỷ lệ % được quy định như sau:
– Phân phối và cung cấp hàng hóa: 1%;
– Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 5%;
– Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: 3%;
– Hoạt động kinh doanh khác: 2%.
Thông tư số 219/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định 209/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư 119/2014/TT-BTCcũng quy định cách tính đối với hoạt động mua bán, chế tác vàng, bạc, đá quý, như sau:
Số thuế GTGT phải nộp  =      (Giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý bán ra – Giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý mua vào)  x  Thuế suất thuế GTGT
Như vậy, hộ, cá nhân kinh doanh chỉ có thể thực hiện phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT. Doanh nghiệp có doanh thu dưới 01 tỷ đồng có thể lựa chọn 1 trong 2 phương pháp trên, trường hợp chọn phương pháp khấu trừ thuế thì phải đăng ký trước.

5. 3 trường hợp hoàn thuế GTGT phổ biến nhất

Các trường hợp được hoàn thuế GTGT quy định tại Luật Thuế giá trị gia tăng 2008, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế 2016, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng 2013 và một số văn bản hướng dẫn liên quan.

Trường hợp 1: Cơ sở kinh doanh chưa được khấu trừ hết thuế

Theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế 2016 thì cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng hoặc trong quý thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo.
Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế GTGT mà được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo đối với các trường hợp:
– Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng ký; kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật đầu tư hoặc không bảo đảm duy trì đủ điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động;
– Dự án đầu tư khai thác tài nguyên, khoáng sản được cấp phép từ ngày 01/07/2016 hoặc dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hàng hóa mà tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên theo dự án đầu tư.
Trường hợp này được hướng dẫn cụ thể tại Mục II Chương III Thông tư 219/2013/TT-BTC(đã được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 3 Điều 1 Thông tư 130/2016/TT-BTC).

Trường hợp 2: Đơn vị xuất khẩu chưa được khấu trừ thuế từ 300 triệu đồng

Cơ sở kinh doanh trong tháng, quý có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa khấu trừ từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT theo tháng, quý, trừ trường hợp hàng hóa nhập khẩu để xuất khẩu, hàng hóa xuất khẩu không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan.
Thực hiện hoàn thuế trước, kiểm tra sau đối với người nộp thuế sản xuất hàng hóa xuất khẩu không vi phạm pháp luật về thuế, hải quan trong thời gian hai năm liên tục; người nộp thuế không thuộc đối tượng rủi ro cao theo quy định của Luật Quản lý thuế.

Trường hợp 3: Đơn vị kinh doanh thực hiện dự án đầu tư

Về việc hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư, khoản 3 Điều 1 Thông tư 130/2016/TT-BTCquy định:
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư cùng tỉnh, thành phố, đang trong giai đoạn đầu tư thì thực hiện kê khai riêng và phải kết chuyển thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư để bù trừ với việc kê khai thuế GTGT của hoạt động kinh doanh đang thực hiện, trừ trường hợp:
– Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế GTGT mà được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo đối với 04 trường hợp quy định cụ thể tại Thông tư;
– Dự án đầu tư xây dựng nhà để bán hoặc cho thuê mà không hình thành tài sản cố định.
Sau khi bù trừ nếu số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư, nếu nhỏ hơn 300 triệu đồng thì kết chuyển vào số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư của kỳ kê khai tiếp theo…
Bên cạnh 03 trường hợp phổ biến trên, khoản 7 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng 2013 còn quy định 04 trường hợp khác được hoàn thuế GTGT.

6. Chậm nộp hồ sơ khai thuế, phạt đến 5 triệu đồng

Mức xử phạt hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế được Bộ Tài chính quy định tại Điều 9 Thông tư 166/2013/TT-BTC, cụ thể:
– Phạt cảnh cáo đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định từ 01-05 ngày mà có tình tiết giảm nhẹ…;
– Phạt tiền 3,5 triệu đồng, nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu không thấp hơn 2 triệu đồng hoặc có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa không quá 5 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
+ Nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định từ trên 40-90 ngày;
+ Nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định trên 90 ngày nhưng không phát sinh số thuế phải nộp hoặc trường hợp quy định tại khoản 9 Điều 13 Thông tư;
+ Không nộp hồ sơ khai thuế nhưng không phát sinh số thuế phải nộp (trừ trường hợp pháp luật có quy định không phải nộp hồ sơ khai thuế);
+ Nộp hồ sơ khai thuế tạm tính theo quý quá thời hạn quy định trên 90 ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp Hồ sơ khai thuế nhưng chưa đến thời hạn nộp hồ sơ khai quyết toán thuế năm.
Thời hạn nộp hồ sơ quy định tại Điều này bao gồm cả thời gian được gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Không áp dụng các mức xử phạt quy định Điều này đối với trường hợp người nộp thuế trong thời gian được gia hạn thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, gia hạn thời hạn nộp thuế.

Hậu quả của việc mua bán nhà đất qua hình thức lập “Vi bằng”

Hậu quả pháp lý và những rủi ro có thể gặp; tránh nhầm lẫn việc lập “Vi bằng” có giá trị pháp luật như công chứng, chứng thực hợp đồng mua bán nhà, chuyển nhượng quyền sử dụng đất…
Theo quy định Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, Thừa phát lại là người được Nhà nước bổ nhiệm để làm các công việc, đó là: (1) Thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc Cơ quan thi hành án dân sựvề thi hành án dân sự; (2) Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức; (3) Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự; (4). Trực tiếp tổ chức thi hành án các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự.
Nghị định số 61/2009/NĐ-CP có các quy định liên quan đến việc lập vi bằng của Thừa phát lại, đó là:
Thứ nhất, theo quy định tại Điều 25 thì Thừa phát lại được lập vi bằng các sự kiện, hành vi xảy ra trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại; Thừa phát lại có quyền lập vi bằng đối với các sự kiện, hành vi theo yêu cầu của đương sự. Thừa phát lại không được lập vi bằng trong các trường hợp: vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng; vi phạm bí mật đời tư theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Dân sự; các trường hợp thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng hoặc thuộc thẩm quyền chứng thực của UBND các cấp và các trường hợp pháp luật cấm Thừa phát lại không được làm.
Thứ hai, theo quy định tại Điều 28, thì vi bằng do Thừa phát lại lập chỉ có giá trị pháp lý trong các trường hợp: (i) là chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án; (ii) là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, theo quy định tại khoản 5 Điều 28, thì vi bằng được coi là hợp lệ khi được đăng ký tại Sở Tư pháp.
Theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014, Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì việc mua bán nhà, chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản (hợp đồng) và phải được công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc chứng thực tại UBND cấp có thẩm quyền; sau đó phải làm thủ tục kê khai nộp thuế, lệ phí trước bạ và đăng ký sang tên (đăng ký biến động) cho bên mua, nhận chuyển nhượng tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đặt các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Trong khi đó, “Vi bằng” là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi mà Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến được dùng làm chứng cứ trong xét xử và để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Giá trị của vi bằng chỉ là ghi nhận những sự kiện, hành vi mà Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến, nhưng những sự kiện, hành vi được ghi nhận đó phải là các giao dịch hợp pháp được pháp luật công nhận.
Do đó, việc lập vi bằng liên quan đến việc ghi nhận hành vi, sự kiện giao nhận tiền, giao nhận giấy tờ, nhà đất giữa các bên có thể được thực hiện đối với các trường hợp nhà, đất có giấy tờ hợp lệ được pháp luật công nhận (như: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,…), nhưng vi bằng được lập trong trường hợp này không có giá trị thay thế hợp đồng được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật; tức là vi bằng không phải là cơ sở để thực hiện sang tên, đổi chủ, đăng ký biến động cho bên mua nhà, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đồng thời, theo quy định của pháp luật, Sở Tư pháp có quyền từ chối vi bằng do Văn phòng Thừa phát lại lập không đúng quy định; vi bằng bị từ chối sẽ không có giá trị chứng cứ để tòa án xem xét khi giải quyết vụ án liên quan đến tranh chấp nhà, đất; không là căn cứ để thực hiện các giao dịch về nhà, đất không phù hợp quy định của pháp luật.
Thực tế thời gian qua, trong giao dịch mua bán nhà, chuyển nhượng đất đai, nếu không thể công chứng, chứng thực hợp đồng mua bán nhà, chuyển nhượng đất, người dân vẫn thường thực hiện thông qua hình thức mua bán nhà, chuyển nhượng đất bằng giấy tờ tay. Nhưng hiện nay, do có thêm hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại với chức năng lập “Vi bằng”, lợi dụng sự thiếu hiểu biết pháp luật của người dân, để tạo lòng tin hơn cho người có nhu cầu mua nhà đất, các đối tượng đầu nậu bán nhà đất không có giấy tờ hợp pháp, xây dựng không phép, không phù hợp với quy hoạch,… sẽ dùng hình thức đề nghị Văn phòng Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận hành vi, sự kiện giao nhận tiền, giao nhận giấy tờ, nhà đất giữa các bên, nhằm che giấu các giao dịch không phù hợp với quy định của pháp luật, khiến người dân nhầm lẫn việc “mua bán nhà đất” qua vi bằng có giá trị giống như hợp đồng mua bán nhà, chuyển nhượng đất được cơ quan thẩm quyền công chứng, chứng thực; hoặc sẽ dẫn đến tình trạng một số chủ sở hữu, sử dụng tài sản đã thế chấp, cầm cố tài sản ở ngân hàng hoặc chuyển nhượng cho người khác vẫn lập vi bằng mua bán nhà, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, dẫn đến nhiều hệ lụy, hậu quả pháp lý xấu xảy ra do tranh chấp tài sản của các bên liên quan hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền không công nhận việc “mua bán nhà đất” qua vi bằng khi người mua đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Chính vì vậy, trong thời gian tới các cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật liên quan đến hoạt động của Thừa phát lại để người dân biết các trường hợp Thừa phát lại được lập vi bằng, hiểu rõ, đầy đủ về giá trị pháp lý của vi bằng do Thừa phát lại lập, tránh trường hợp do thiếu hiểu biết mà thực hiện “mua bán nhà đất” qua vi bằng có tiềm ẩn rủi ro cao, dẫn đến nguy cơ phát sinh tranh chấp, gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong quá trình xử lý vụ việc và gây thiệt hại lớn đến tài sản của người dân./.

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát

Bảo đảm quyền của bị can, bị cáo khi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Vấn đề đảm bảo quyền của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự đã được nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu và pháp điển hóa trong phápluật tố tụng hình sự. Theo đó, pháp luật tố tụng hình sự cần đảm bảo sự quyền con người của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự vừa đảm bảo mục tiêu đấu tranh tội phạm. Với tinh thần đó, nội dung bài viết chỉ đề cập đến vấn đề đảm bảo quyền của bị can, bị cáo khi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự.

1. Quy định hiện hành liên quan đến việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Như đã biết, trình tự, thủ tục giải quyết các tranh chấp dân sự được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTHS). Trong vụ án hình sự cũng có những tranh chấp dân sự liên quan đến hành vi phạm tội. Vấn đề giải quyết vấn đề dân sự này lại được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự BLTTHS). Theo đó, tại Điều 30 BLTTHS năm 2015 có quy định: “Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự. Trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì vấn đề dân sự có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.”
Theo quy định tố tụng hình sự hiện hành, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử khi nghiên cứu hồ sơ, nếu xét thấy bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có yêu cầu về dân sự rõ ràng và có đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh thì Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, phần dân sự sẽ được giải quyết tại phiên tòa.
Còn nếu chưa có yêu cầu hoặc yêu cầu chưa rõ ràng, chưa cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh thì tùy trường hợp Thẩm phán yêu cầu họ cung cấp hoặc trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung ( ).
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sẽ tiến hành xem xét yêu cầu về dân sự cũng như tiến hành thỏa thuận giữa bị cáo và người yêu cầu.

2. Những quy định trên chưa đảm bảo quyền của bị can, bị cáo khi giải quyết vấn đề dân sự

Ngoài quy định vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự, thì Bộ luật Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 không có quy định nào khác quy định cụ thể trình tự, thủ tục giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng các quyền trong tố tụng dân sự của bị can, bị cáo khi giải quyết vấn đề dân sự chưa được đảm bảo ở các khía cạnh cụ thể như sau:

2.1. Bị can, bị cáo chưa được đảm bảo quyền được biết các yêu cầu dân sự cụ thể của người yêu cầu

Việc biết trước các yêu cầu dân sự sẽ làm cơ sở cho bị can, bị cáo thực hiện quyền phản bác, củng cố chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình. Theo quy đinh trên thì đến tại phiên tòa bị cáo mới có thể biết được bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu những gì. Chính vì vậy, họ không có điều kiện để xem xét tính hợp lý, hợp pháp của các yêu cầu được phó mặc hoàn toàn cho hội đồng xét xử.

2.2. Bị can, bị cáo chưa được đảm bảo quyền được biết các tài liệu, chứng cứ do người yêu cầu cung cấp kèm theo yêu cầu về dân sự

Các tài liệu, chứng cứ kèm theo là cơ sở để xem xét, giải quyết các yêu cầu về dân sự. Hiện nay, chưa có quy định nào buộc cơ quan tiến hành tố tụng phải công bố, thông báo cho bị can, bị cáo biết trước nội dung những tài liệu này. Tại phiên tòa, cũng không có quy định buộc Hội đồng xét xử phải công bố những chứng cứ này. Chính vì không được biết được người yêu cầu đã cung cấp các tài liệu gì nên bị cáo cũng chưa được đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình khi tham gia thỏa thuận dân sự tại phiên tòa.

2.3. Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự chưa đảm bảo sự công bằng cho bị can, bị cáo

Theo các quy định nêu trên thì việc giải quyết vần đề dân sự trong vụ án hình sự được giải quyết chủ yếu tại phiên tòa, nơi diễn ra hoạt động xem xét, đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo. Chính vì vậy, tạo tâm lý e ngại cho bị cáo khi chủ động giải quyết vấn đề dân sự. Nếu bị cáo phản bác, không đồng ý các yêu cầu này thì lo sợ sẽ bị ảnh hưởng đến mức hình phạt vì cho rằng bị cáo chưa có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội mà bị bị truy tố. Do vậy, thực tiễn trong các vụ án hình sự, tại phiên tòa, bị cáo thường chọn giải pháp đồng ý với các yêu cầu bồi thường thiệt hại của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dù biết yêu cầu này là vô lý. Và như vậy, việc thỏa thuận vấn đề dân sự tại phiên tòa giữa bị cáo và người yêu cầu vô hình dung sẽ không được đặt lên một cán cân công bằng, không tạo ra được sự bình đẳng giữa các bên tham gia thỏa thuận.

2.4. Bất cập về án phí dân sự sơ thẩm

Tại điểm f và điểm g khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án có quy định về án phí sơ thẩm trong vụ án hình sự liên quan đến phần dân sự như sau:
“f) Trước khi mở phiên tòa, đương sự, bị cáo thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại và đề nghị Tòa án ghi nhận việc bồi thường thiệt hại thì họ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tại phiên tòa, đương sự, bị cáo thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại thì họ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp Tòa án đưa ra xét xử vụ án đó;
g) Trường hợp bị cáo tự nguyện nộp tiền bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên tòa thì không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền đã tự nguyện nộp.”
Về án phí cho phần dân sự thì có những bất cập như sau:
Thứ nhất, đối chiếu các quy định trên đây như đã trình bày thì hầu như các yêu cầu bồi thường thiệt hại đều được giải quyết tại phiên tòa mà không có quy định cụ thể để Tòa án, hoặc cơ quan tiến hành tố tụng tổ chức hòa giải, thỏa thuận về vấn đề dân sự. Do vậy, việc thỏa thuận nếu có hầu như chỉ được tiến hành tại phiên tòa. Và như vậy, bị cáo phải chịu toàn bộ án phí. Đối với vụ án có số tiền bồi thường lớn thì án phí sẽ là gánh nặng cho bị cáo, đặc biệt là các bị cáo không có tài sản, hoàn cảnh kinh tế khó khăn.
Thứ hai, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 thì trước khi mở phiên tòa bị cáo được quyền tự nguyện nộp tiền bồi thường thiệt hại và không phải nộp án phí đối với số tiền này. Tuy nhiên, hiện nay lại chưa có hướng dẫn bị cáo nộp tiền ở đâu, cơ quan nào có trách nhiệm thu số tiền này? Thực tiễn hiện nay Cơ quan thi hành án dân sự có nơi thu số tiền này, có nơi từ chối thu vì chưa có hướng dẫn. Vì vậy quyền lợi của bị cáo chưa được đảm bảo.

3. Một số kiến nghị

Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án một cách toàn diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị hành vi phạm tội của bị can, bị cáo xâm phạm. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến vấn đề dân sự trong vụ án hình sự chưa đầy đủ, rõ ràng dẫn đến quyền lợi của bị can, bị cáo chưa được đảm bảo; chưa tạo ra sự công bằng, bình đẳng (một nguyên tắc quan trọng khi giải quyết tranh chấp dân sự) cho bị can, bị cáo khi tham gia giải quyết vấn đề dân sự. Do vậy, cần có sự nghiên cứu hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến việc giải quyết vấn đề dân sự ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, cần quy định người bị hại, người yêu cầu vấn đề dân sự phải có đơn yêu cầu giải quyết vấn đề dân sự, trong đó nêu cụ thể, rõ ràng các yêu cầu dân sự đối với bị can, bị cáo và cung cấp các tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền lợi cho mình.
Thứ hai, các cơ quan tiến hành tố tụng khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, cần có thông báo cụ thể, rõ ràng cho bị can, bị cáo biết nội dung yêu cầu dân sự và các tài liệu chứng cứ kèm theo.
Thứ ba, trước khi mở phiên tòa, Tòa án cần tiến hành thủ tục hòa giải, thỏa thuận giữa bị hại, người yêu cầu và bị can, bị cáo về các vấn đề dân sự. Kết quả hòa giải là cơ sở cho việc giải quyết tại phiên tòa (trong đó có cả vấn đề án phí).
Thứ tư, nếu sau khi nhận thông báo nội dung yêu cầu dân sự, nếu bị can, bị cáo có nhu cầu nộp tiền bồi thường thì cơ quan tiến hành tố tụng phát hành thông báo nộp tiền để cơ quan thi hành án dân sự có cơ sở thu tiền của bị can, bị cáo.
Trên đây là một số ý kiến đóng góp, rất mong các đồng nghiệp cùng trao đổi./.

Ths. NGUYỄN THỊ THU HIẾU (TAND Tp Cam Ranh) 

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)

Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai có Sổ đỏ

Tranh chấp đất đai xảy ra ngày càng phổ biến, nhất là khi giá trị quyền sử dụng đất ngày một tăng cao. Để giúp người dân biết về quá trình giải quyết tranh chấp đất đai, sau đây là thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai có Sổ đỏ theo quy định mới nhất.

Hòa giải tranh chấp tại UBND cấp xã

Hiện nay, tất cả các trường hợp tranh chấp đất đai thì Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.
Theo khoản 2 Điều 202 Luật Đất đai 2013 khi các bên không hòa giải được hoặc không hòa giải tại thôn, xóm…thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất để yêu cầu hòa giải.
Lưu ý: Hòa giải tại UBND cấp xã là thủ tục bắt buộc. Nếu không qua hòa giải tại UBND cấp xã mà gửi đơn yêu cầu Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp tỉnh giải quyết hoặc khởi kiện tại Tòa thì sẽ bị trả lại đơn.
– Thời hạn hòa giải tại UBND cấp xã: Không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu.
Theo khoản 4 Điều 202 Luật Đất đai, việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ kỹ của các bên tranh chấp và có xác nhận là hòa giải thành hoặc không thành của UBND cấp xã.
Biên bản hòa giải được gửi ngay cho các bên tranh chấp và lưu tại UBND cấp xã.
– Hòa giải tranh chấp đất đai ở UBND cấp xã sẽ xảy tra 1 trong 2 trường hợp:
Trường hợp 1: Hòa giải thành (kết thúc tranh chấp đất đai)
+ Nếu có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì UBND cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường.
+ Phòng Tài nguyên và Môi trường trình UBND cấp huyện quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Sổ đỏ cho hộ gia đình, cá nhân.
Trường hợp 2: Hòa giải không thành
Khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai 2013 quy định: Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết.
Xem thêm: Các giấy tờ tại Điều 100 Luật Đất đai 2013.
Như vậy, trong trường hợp các bên tranh chấp có Sổ đỏ hoặc một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất…nếu muốn giải quyết tranh chấp thì chỉ có sự lựa chọn duy nhất là phải khởi kiện tại Tòa án.

Thủ tục khởi kiện tại Tòa án nhân dân

Bước 1. Chuẩn bị đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ

Chuẩn bị 01 bộ hồ sơ khởi kiện, gồm:
– Đơn khởi kiện theo mẫu.
– Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất như: Sổ đỏ hoặc một trong các loại giấy tờ theo quy định tại Điều 100.
– Biên bản hòa giải có chứng nhận của UBND xã và có chữ ký của các bên tranh chấp.
– Giấy tờ của người khởi kiện: Sổ hộ khẩu; chứng minh thư nhân dân hoặc thẻ căn cước nhân dân.
– Các giấy tờ chứng minh khác (Tùy theo yêu cầu khởi kiện của bên khởi kiện – vì theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, ai khởi kiện vấn đề gì thì phải có tài liệu, chứng cứ, chứng minh cho chính yêu cầu khởi kiện đó của mình).
Ví dụ: Tranh chấp ranh giới về thửa đất giữa các hộ gia đình, cá nhân thì phải có:
+ Văn bản đo đạc, xác minh về việc thửa đất bị lấn chiếm;
+ Trích lục hồ sơ địa chính đối với thửa đất có tranh chấp…

Bước 2. Nộp đơn khởi kiện

– Nơi nộp: Tòa án nhân dân cấp huyện có đất đang tranh chấp.
– Hình thức nộp: Nộp bằng 1 trong 3 hình thức sau (khoản 1 Điều 90 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).
+ Nộp trực tiếp tại Tòa án;
+ Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính;
+ Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

Bước 3. Tòa thụ lý và giải quyết

– Nếu hồ sơ chưa đủ mà đúng thẩm quyền của Tòa án thì Tòa án yêu cầu bổ sung.
– Nếu hồ sơ đủ:
+ Tòa thông báo nộp tạm ứng án phí.
+ Người khởi kiện nộp tạm ứng án phí tại cơ quan thuế theo giấy báo tạm ứng án phí và mang biên lai nộp cho Tòa.
+ Sau đó Tòa sẽ thụ lý.
Lưu ý:
– Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo, người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí và nộp lại biên lai cho Tòa án
– Trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán sẽ thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.

Thủ tục chuẩn bị xét xử và xét xử

– Chuẩn bị xét xử: Thời hạn 04 tháng, vụ việc phức tạp được gia hạn không quá 02 tháng (Tổng 06 tháng – Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự).
Trong giai đoạn này Tòa sẽ tổ chức hòa giải tại Tòa, nếu các bên không hòa giải thành thì sẽ Tòa sẽ đưa vụ án tranh chấp ra xét xử sơ thẩm (nếu không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc đình chỉ).
– Sau khi có bản án sơ thẩm các bên tranh chấp có quyền kháng cáo nếu không đồng ý với bản án nếu có căn cứ.
Trên đây là thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai có Sổ đỏ hoặc các giấy tờ khác. Theo đó, có thể thấy việc giải quyết tranh chấp đất đai sẽ nhanh chóng và đơn giản hơn rất nhiều nếu các bên tự hòa giải hoặc hòa giải thành tại UBND cấp xã.

Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai khi không có giấy tờ

Hiện nay, tranh chấp đất đai xảy ra phổ biến, trong đó có tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhânvới nhau. Để các bên nắm rõ quá trình giải quyết, dưới đây là thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai khi không có giấy tờ của hộ gia đình, cá nhân.

Hòa giải tại UBND cấp xã là bắt buộc

Theo Điều 202 Luật Đất đai 2013 và được hướng dẫn bởi Điều 88 Nghị định 43/2014/NĐ-CPthì hòa giải khi xảy ra tranh chấp giữa các hộ gia đình, cá nhân như sau:
– Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đaitự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.
– Các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất để yêu cầu hòa giải (đây là thủ tục bắt buộc).
– Thời hạn: Không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu.
Kết quả hòa giải:
– Kết quả hòa giải phải được lập thành biên bản và được gửi ngay cho các bên tranh chấp và lưu tại UBND cấp xã.
– Kết quả hòa giải tại UBND cấp xã xảy ra một trong hai trường hợp.
Trường hợp 1: Hòa giải thành (sẽ kết thúc tranh chấp)
+ Có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì UBND cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường.
+ Phòng Tài nguyên và Môi trường trình UBND cấp huyện quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới sổ đỏ.
Trường hợp 2: Hòa giải không thành (chưa kết thúc tranh chấp)
Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013 thì chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp sau:
1 – Theo thủ tục hành chính (yêu cầu Chủ tịch UBND cấp huyện nơi có đất giải quyết).
2 – Theo thủ tục tố tụng dân sự (khởi kiện tại tòa án nhân dân có thẩm quyền)

Thủ tục giải quyết tại UBND và Tòa án nhân dân

Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai tại UBND cấp huyện:

Hộ gia đình, cá nhân cần chuẩn bị hồ sơ với giấy tờ như sau:
1 – Đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai;
2 – Biên bản hòa giải tại UBDN cấp xã; biên bản làm việc với các bên tranh chấp và người có liên quan; biên bản kiểm tra hiện trạng đất tranh chấp; biên bản cuộc họp các ban, ngành có liên quan để tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai đối với trường hợp hòa giải không thành; biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết tranh chấp;
3 – Trích lục bản đồ, hồ sơ địa chính qua các thời kỳ liên quan đến diện tích đất tranh chấp và các tài liệu làm chứng cứ, chứng minh trong quá trình giải quyết tranh chấp;
4 – Báo cáo đề xuất và dự thảo quyết định giải quyết tranh chấp hoặc dự thảo quyết định công nhận hòa giải thành.
Bước 1. Nộp hồ sơ
Hộ gia đình, cá nhân có đơn yêu cầu nộp hồ sơ tại UBND cấp huyện.
– Trường hợp nhận hồ sơ chưa đầy đủ, chưa hợp lệ thì không quá 03 ngày làm việc, cơ quan tiếp nhận, xử lý hồ sơ phải thông báo và hướng dẫn người nộp hồ sơ bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định.
Bước 2. Chủ tịch UBND cấp huyện giao trách nhiệm cơ quan tham mưu giải quyết.
Bước 3. Cơ quan tham mưu có nhiệm vụ:
+ Thẩm tra, xác minh vụ việc, tổ chức hòa giải giữa các bên tranh chấp, tổ chức cuộc họp các ban, ngành có liên quan để tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai (nếu cần thiết)
+ Hoàn chỉnh hồ sơ trình Chủ tịch UBND ban hành quyết định giải quyết tranh chấp.
Bước 4. Chủ tịch UBND cấp huyện ban hành kết quả giải quyết
Chủ tịch UBND cấp huyện ban hành quyết định giải quyết tranh chấp hoặc quyết định công nhận hòa giải thành, gửi cho các bên tranh chấp.
1 – Nếu đồng ý kết quả giải quyết tranh chấp thì kết thúc tranh chấp.
2 – Không đồng ý kết quả giải quyết thì:
+ Khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh
hoặc
+ Khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính (khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của Chủ tịch UBND cấp huyện).
– Thời hạn giải quyết: Không quá 45 ngày;
Đối với các xã miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn thì thời gian thực hiện được tăng thêm 10 ngày.

Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án

Bước 1. Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện
Bước 2. Nộp hồ sơ tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có bất động sản
Bước 3. Tòa thụ lý và giải quyết
Trên đây là thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai khi không có giấy tờ của hộ gia đình, cá nhân. Theo đó, nếu các bên tự hòa giải được hoặc hòa giải thành tại UBND cấp xã thì sẽ nhanh chóng kết thúc tranh chấp. Nếu yêu cầu giải quyết tại UBND cấp huyện hoặc tại Tòa án thì thủ tục và thời gian sẽ phức tạp và kéo dài hơn nhiều.

Những vướng mắc, bất cập trong thực hiện Luật thi hành án hình sự năm 2010
Sau 8 năm đi vào thực hiện, đến nay Luật thi hành án hình sự năm 2010 đã bộc lộ một số điểm hạn chế cần sửa đổi, bổ sung để phù hợp với các quy định của các đạo luật liên quan như Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật tố tụng hình sự 2015…
Luật thi hành án hình sự năm 2010 được Quốc hộikhoá XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17/6/2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011, Luật gồm có 15 chương, 182 Điều, quy định cụ thể trình tự, thủ tụctrong thi hành bản án, quyết định về thi hành án; quyền, nghĩa vụ của của người chấp hành án; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trong thi hành án hình sự và biện pháp tư pháp. Luật thi hành án hình sự ra đời là sự pháp điển hóa Pháp lệnh thi hành án phạt tù, Nghị định 60, 61 về thi hành án treo, cải tạo không giam giữ, là sự tiến bộcủa pháp luật đối với công tác thi hành án hình sự, đưa hoạt động thi hành án hình sự đi vào quy củ, thống nhất.
Sau 8 năm đi vào thực hiện, đến nay Luật thi hành án hình sự năm 2010 đã bộc lộ một số điểm hạn chế cần sửa đổi, bổ sung, cụ thể:
Thứ nhất: Theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự hiện hành, trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo. Đây là quy định mới của Bộ luật hình sự, tương ứng với đó là một nhiệm vụ mới của Ủy ban nhân dân xã, phường, Cơ quan tổ chức được giao giám sát người chấp hành án treo trong giám sát, giải quyết; trường hợp này, cần thông tin, báo cáo với Cơ quan thi hành án hình sự để kịp thời lập hồ sơ khi người chấp hành án có vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, vì Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan tổ chức liên quan là cơ quan quản lý người chấp hành án treo nhưng Luật thi hành án hình sự hiện hành chưa có quy định về nội dung xử lý chuyển án treo thành hình phạt tù khi người chấp hành án treo vi phạm nghĩa vụ chấp hành án.
Bên cạnh đó, hiện chưa có hướng dẫn về cách xác định số lần vi phạm nghĩa vụ của người chấp hành án theo Điều 64 Luật thi hành án hình sự năm 2010; vì theo Điều 64 của Luật thi hành án hình sự thì người chấp hành án có nhiều nghĩa vụ khác nhau, như:
“1. Chấp hành nghiêm chỉnh cam kết của mình trong tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, làm việc; tích cực tham gia lao động, học tập; chấp hành đầy đủ các hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại.
2. Phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục.
3. Trường hợp người được hưởng án treo đi khỏi nơi cư trú từ 01 ngày trở lên thì phải khai báo tạm vắng.
4. Ba tháng một lần trong thời gian thử thách người được hưởng án treo phải nộp bản tự nhận xét về việc chấp hành pháp luật cho người trực tiếp giám sát, giáo dục; trường hợp đi khỏi nơi cư trú từ 3 tháng đến 06 tháng thì phải có nhận xét của Công an cấp xã nơi người đó đến lưu trú hoặc tạm trú để trình với Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục người đó.”.
Theo quy định trên thì không xác định được thế nào là một lần người chấp hành án vi phạm nghĩa vụ chưa chấp hành hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Do vậy, để có cơ sở pháp lý thì cần pháp điển hóa quy định về xử lý người chấp hành án cố tình vi phạm nghĩa vụ chấp hành án vào Luật thi hành án hình sự và có sự hướng dẫn cách xác định số lần vi phạm nghĩa vụ của người chấp hành án.
Thứ hai: Cũng là một nội dung mới theo Bộ luật Hình sự hiện hành và tinh thần của Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/4/2018 của Tòa án nhân dân tối cao thì Ủy ban nhân dân xã, phường còn có thêm một nhiệm vụ mới nữa là quản lý, giám sát người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, trong đó người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải chấp hành một số nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Tuy nhiên, nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân cấp xã và nghĩa vụ của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện lại chưa được quy định trong Luật thi hành án hình sự năm 2010 hoặc đạo luật nào khác. Do đó, trong thời gian tới, khi sửa đổi Luật thi hành án hình sự cần bổ sung thêm quy định về nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân cấp xã và nghĩa vụ của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, tạo cơ sở pháp lý trong thực thi pháp luật về thi hành án hình sự.
Thứ ba: Luật thi hành án hình sự năm 2010 không quy định cơ chế giải quyết trường hợp người được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ chết trong thời gian chấp hành hình phạt, do đó khi thực tế xảy ra Quyết định thi hành án đối với người đó vẫn tồn tại và chưa có quy định giải quyết.
Thứ tư: Luật thi hành án hình sự năm 2010 cũng chưa quy định cụ thể trường hợp người chấp hành án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú trong thời gian chấp hành án, nên thực tế xảy ra thường phải vận dụng Điều 69 Luật thi hành án hình sự về án treo, dẫn đến xung đột về quan điểm trong xử lý, giải quyết.
Ngoài ra, trong Luật thi hành án hình sự hiện hành quy định người được hoãn thi hành án được giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú quản lý; tuy nhiên không quy định Tòa án ra quyết định hoãn thi hành án phải gửi quyết định hoãn cho Ủy ban nhân dân cấp xã đó trong luật nên trong thực tế, Ủy ban nhân dân cấp xã thường không nắm được để quản lý./.
Nguồn: Tạp chí Kiểm sát