Thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là cách thức hữu hiệu để bảo đảm các quyết định xử phạt được thi hành trên thực tế. Để việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt có tính hợp pháp đòi hỏi người ban hành quyết định cưỡng chế phải có đầy đủ thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Bài viết này[1] phân tích một số vấn đề lý luận, pháp lý cũng như thực tiễn thi hành các quy định về thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, chỉ ra một số bất cập và đề xuất kiến nghị hoàn thiện.

1. Khái quát về thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Trong pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính (VPHC), thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC là một chế định pháp lý bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của những chức danh có thẩm quyền trong việc quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế: (i) Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm; (ii) Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá; (iii) Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản; (iv) Buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả[2].
Về mặt lý luận, thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC có một số đặc trưng nổi bật sau đây:
Thứ nhất, thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC chỉ phát sinh khi cá nhân, tổ chức bị xử phạt không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt. Điều này đồng nghĩa với việc, nếu cá nhân, tổ chức VPHC đã tự nguyện chấp hành đầy đủ các nội dung của quyết định xử phạt thì thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt sẽ không phát sinh trên thực tế. Qua đó, có thể thấy thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt là loại thẩm quyền phát sinh không thường xuyên.
Thứ hai, giữa thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt với thẩm quyền xử phạt VPHC có mối liên hệ mật thiết với nhau. Trong mối liên hệ này, thẩm quyền xử phạt phát sinh trước, còn thẩm quyền cưỡng chế phát sinh sau. Do vậy, những chức danh có thẩm quyền cưỡng chế bắt buộc phải là những chức danh có thẩm quyền xử phạt VPHC. Tuy nhiên, không phải mọi chức danh có thẩm quyền xử phạt đều có thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt[3]. Các điều từ Điều 38 đến Điều 51 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật năm 2012) quy định thẩm quyền xử phạt VPHC cho 185 chức danh, trong đó có 176 chức danh làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước (chiếm khoảng 95% số lượng các chức danh có thẩm quyền xử phạt), 9 chức danh thuộc Tòa án không nằm trong cơ quan hành chính (chiếm khoảng 5% các chức danh có thẩm quyền xử phạt)[4]. Trong khi đó, Điều 87 Luật năm 2012 chỉ quy định cho 110 chức danh có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC.
Sự khác biệt này được lý giải bởi mục đích sử dụng thẩm quyền trong từng trường hợp cụ thể. Đối với việc xử phạt VPHC, nhu cầu quản lý nhà nước đòi hỏi việc xử phạt phải được tiến hành nhanh chóng để bảo đảm VPHC được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời nhằm giữ gìn trật tự quản lý của Nhà nước. Vì vậy, Luật năm 2012 đã trao thẩm quyền xử phạt cho rất nhiều các chức danh khác nhau, đặc biệt là chức danh trực tiếp thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước (chiến sĩ công an đang thi hành nhiệm vụ, kiểm soát viên quản lý thị trường, công chức hải quan đang thi hành công vụ, chiến sĩ bộ đội biên phòng, kiểm lâm viên…). Trong khi đó, việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích của người bị cưỡng chế, do đó đòi hỏi người ra quyết định phải giữ vị trí nhất định (các chức danh giữ chức vụ cấp trưởng) để bảo đảm mỗi quyết định cưỡng chế khi ban hành có tính pháp lý cao, hạn chế khiếu nại, kiện tụng. Một lý do khác mà các chức danh có thẩm quyền cưỡng chế là những chức danh được “chọn lọc” cao vì tính trách nhiệm của mỗi quyết định cưỡng chế buộc người có thẩm quyền cưỡng chế phải cân nhắc kỹ lưỡng trước khi ra quyết định, đặc biệt đó là những trường hợp ra quyết định cưỡng chế nhằm thi hành quyết định xử phạt của những chức danh khác chứ không phải để thi hành quyết định xử phạt của mình[5].
Thứ ba, những người có thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt có thể giao quyền cho cấp phó. Việc giao quyền chỉ được thực hiện khi cấp trưởng vắng mặt và phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn được giao quyền. Cấp phó được giao quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật. Người được giao quyền không được giao quyền, ủy quyền tiếp cho bất kỳ cá nhân nào khác.
Luật năm 2012 quy định 03 trường hợp cấp trưởng có thể giao quyền cho cấp phó thực hiện một số thẩm quyền của mình: giao quyền xử phạt[6], giao quyền quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt[7] và giao quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính[8]. Tuy nhiên, về điều kiện giao quyền thì có sự khác nhau trong 03 trường hợp này. Nếu việc giao quyền xử phạt có thể được thực hiện thường xuyên hoặc theo vụ việc thì việc giao quyền quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt và giao quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính chỉ được thực hiện khi cấp trưởng vắng mặt. Điều này cũng cho thấy sự “thận trọng” của nhà làm luật khi quy định về giao quyền cưỡng chế so với giao quyền xử phạt vì hoạt động cưỡng chế đòi hỏi những yêu cầu khắt khe hơn nhiều so với hoạt động xử phạt.

2. Một số bất cập về thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và kiến nghị hoàn thiện

2.1. Về các chức danh có thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Điều 87 Luật năm 2012 đã sử dụng phương pháp liệt kê để quy định một cách chi tiết và cụ thể tên gọi của các chức danh có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế để thi hành quyết định xử phạt VPHC. Việc quy định chi tiết về thẩm quyền cưỡng chế vừa giúp chủ thể quản lý xác định được phạm vi và giới hạn thẩm quyền cưỡng chế của mình, vừa giúp cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế và các chủ thể có liên quan biết được việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế của các chủ thể có thẩm quyền có phù hợp với quy định của pháp luật hay không để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thông qua việc thực hiện quyền khiếu nại hoặc khởi kiện. Tuy nhiên, trước những thay đổi về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, quy định về thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC của một số chức danh đã không còn phù hợp, đặt ra yêu cầu cần phải sửa đổi, bổ sung để đảm bảo sự tương thích với các quy định mới.
Đối với các chức danh trong lực lượng Công an nhân dân: Ngày 19/01/2015, Bộ Công an quyết định sáp nhập Cục Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt và Cục Cảnh sát giao thông đường thủy thành Cục Cảnh sát giao thông, nên từ thời điểm này, sẽ không còn chức danh Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt và Cục trưởng Cục Cảnh sát đường thủy mà đổi thành Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông[9]. Sau đó, ngày 6/8/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2018/NĐ-CP để quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an thay thế cho Nghị định trước đây. Theo nội dung của Nghị định này, cơ cấu tổ chức của Bộ Công an có sự thay đổi một cách rõ rệt dẫn đến thay đổi lớn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị trực thuộc. So với trước đây, cơ cấu tổ chức của Bộ Công an giảm 6 Tổng cục, giảm gần 60 đơn vị cấp Cục và gần 300 đơn vị cấp Phòng. Một số Cục mới được hình thành trên cơ sở sáp nhập các Cục trước đây như Cục An ninh mạng và Cục Phòng chống tội phạm công nghệ cao được sáp nhập thành Cục An ninh mạng và Phòng chống tội phạm công nghệ cao. Ở địa phương, lực lượng công an sáp nhập 20 Sở Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy vào Công an cấp tỉnh và tinh gọn tổ chức Công an cấp tỉnh, cấp huyện, giảm hơn 500 đơn vị cấp Phòng, gần 1.000 đơn vị cấp Đội[10].
Đối với các chức danh trong lực lượng hải quản: Luật năm 2012 trao thẩm quyền cưỡng chế cho năm chức danh gồm: Chi cục trưởng Chi cục Hải quan; Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan; Cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu thuộc Tổng cục Hải quan; Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan. Tuy nhiên, đối chiếu với quy định về thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt trong lĩnh vực hải quan, ngoài các chức danh được nêu tên trong Luật năm 2012, Nghị định số 127/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 45/2016/NĐ-CP) (Nghị định 127) còn quy định thêm thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt trong lĩnh vực hải quan cho “Chi cục trưởng Chi cục kiểm tra sau thông quan”[11]. Như vậy, Nghị định số 127 đã bổ sung thêm các chức danh có thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt, thực tế này ở một góc độ nhất định có thể được xem là hợp lý nhằm giải quyết kịp thời nhu cầu của hoạt động quản lý, song ở góc độ pháp lý thì không phù hợp với nguyên tắc pháp quyền và phá vỡ tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Đối với các chức danh trong lực lượng quản lý thị trường: Luật năm 2012 quy định thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC cho hai chức danh là Chi Cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường và Cục trưởng Cục Quản lý thị trường. Tuy nhiên, đến ngày 10/8/2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 34/2018/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng Cục Quản lý thị trường trực thuộc Bộ Công thương. Theo nội dung Quyết định này, cơ cấu bộ máy của lực lượng quản lý thị trường trên toàn quốc có sự thay đổi như sau: ở trung ương có Tổng cục Quản lý thị trường trực thuộc Bộ Công thương; ở địa phương có Cục Quản lý thị trường cấp tỉnh trực thuộc Tổng cục Quản lý thị trường và Đội Quản lý thị trường cấp huyện trực thuộc Cục Quản lý thị trường cấp tỉnh[12]. Như vậy, từ ngày Quyết định này có hiệu lực, trong cơ cấu tổ chức của lực lượng quản lý thị trường sẽ không còn chức danh Chi Cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường và chức danh Cục trưởng Cục Quản lý thị trường. Do vậy, quy định về thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC đối với hai chức danh nay hiện nay cũng không còn phù hợp trên thực tế.
Đối với các chức danh thuộc hệ thống Tòa án nhân dân: Luật năm 2012 quy định thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC cho năm chức danh là: Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự khu vực, Chánh án Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Chánh toà chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao. Trong số các chức danh nêu trên, chức danh “Chánh toà chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao” nay đã bị bãi bỏ theo quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 bởi trong cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao hiện nay không còn các tòa chuyên trách như trước đây[13]. Trong khi đó, một số chức danh mới được thành lập như Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp cao[14] lại chưa được quy định thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC.
Để bảo đảm tính ổn định của văn bản quy phạm pháp luật trước những thay đổi về tổ chức bộ máy nhà nước, chúng tôi cho rằng, cần sửa đổi Luật năm 2012 theo hướng, bên cạnh việc liệt kê các chức danh có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế, bổ sung quy định một điều trù liệu các trường hợp thay đổi về tên gọi của các chức danh này. Cụ thể như sau:
“Điều…: Thay đổi tên gọi, nhiệm vụ, quyền hạn của chức danh có thẩm quyền quyết định cưỡng chế
1. Trường hợp chức danh có thẩm quyền quyết định cưỡng chế quy định tại Luật này có sự thay đổi về tên gọi thì chức danh đó có thẩm quyền cưỡng chế theo tên gọi mới.
2. Trường hợp chức danh có thẩm quyền quyết định cưỡng chế quy định tại Luật này có sự thay đổi về tên gọi, đồng thời, có sự thay đổi về nhiệm vụ, quyền hạn do có sự thay đổi về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cưỡng chế thì chức danh đó có thẩm quyền cưỡng chế theo tên gọi, nhiệm vụ, quyền hạn mới.
3. Trường hợp chức danh có thẩm quyền quyết định cưỡng chế quy định tại Luật này không có sự thay đổi về tên gọi nhưng có sự thay đổi về nhiệm vụ, quyền hạn do có sự thay đổi về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cưỡng chế thì chức danh đó có thẩm quyền cưỡng chế theo nhiệm vụ, quyền hạn mới”.

2.2. Về giao quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Để đáp ứng yêu cầu của hoạt động cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC, Luật năm 2012 quy định người có thẩm quyền cưỡng chế có thể giao cho cấp phó quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế. Đồng thời, Luật này cũng quy định rõ hai điều kiện để được giao quyền cưỡng chế là: (i) Chỉ được thực hiện khi cấp trưởng vắng mặt; (ii) Phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó, xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn giao quyền. Cấp phó được giao quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật. Người được giao quyền không được giao quyền, ủy quyền tiếp cho bất kỳ cá nhân nào khác[15]. Có thể thấy rằng, trong quản lý nhà nước, hoạt động ủy quyền hành chính là cần thiết nhằm bảo đảm cho hoạt động chấp hành – điều hành được diễn ra liên tục, nhịp nhàng, điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, nếu không được kiểm soát chặt chẽ thì ủy quyền dễ dẫn đến sự tùy tiện, lạm quyền[16]. Để kiểm soát hoạt động ủy quyền trong thực hiện giao quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC, pháp luật đã có những quy định khá chặt chẽ về điều kiện thực hiện giao quyền cưỡng chế.  Tuy nhiên, vấn đề này vẫn còn một số điểm bất cập như sau:
Thứ nhất, về điều kiện khi “cấp trưởng vắng mặt”
Nếu như việc giao quyền xử phạt VPHC có thể được thực hiện “thường xuyên” hoặc “theo vụ việc” tùy thuộc vào quyền quyết định của người cấp trưởng thì việc giao quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC chỉ được thực hiện khi “cấp trưởng vắng mặt”. Thế nhưng, vấn đề có tính thực tiễn đặt ra là “sự vắng mặt” của cấp trưởng cần được hiểu như thế nào cho đúng với tinh thần của Luật năm 2012, đó là sự vắng mặt thường xuyên, lâu dài hay là sự vắng mặt tạm thời. Câu hỏi này hiện nay không được quy định một cách rõ ràng trong Luật năm 2012. Về mặt lý luận, có thể thấy rằng việc quy định cấp trưởng chỉ được giao quyền quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt khi cấp trưởng vắng mặt là quy định hợp lý vì tính chất nghiêm trọng của quyết định cưỡng chế so với quyết định xử phạt. Một khi chủ thể có thẩm quyền cưỡng chế đã được “chọn lọc” thì việc giao quyền lại càng phải hạn chế. Nói cách khác, chỉ nên đặt ra vấn đề giao quyền trong hoàn cảnh không thể không giao quyền mới bảo toàn được ý nghĩa của việc chỉ trao quyền cưỡng chế cho một số chức danh quan trọng và do chỉ được giao quyền khi cấp trưởng vắng mặt nên đây là giao quyền theo vụ việc chứ không phải giao quyền thường xuyên, lâu dài[17].
Thứ hai, về hình thức văn bản giao quyền cưỡng chế
Mặc dù Luật năm 2012 quy định việc giao quyền cưỡng chế phải được thể hiện bằng văn bản, nhưng Luật không đề cập đến hình thức của văn bản giao quyền cưỡng chế là gì, từ đó dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong thực tế.
Quan điểm thứ nhất cho rằng: tên loại của văn bản giao quyền là “công văn”[18]vì công văn dùng để thông tin trong hoạt động giao dịch, trao đổi công tác hàng ngày trong các cơ quan như giao dịch, nhắc nhở, trả lời, đề nghị, mời họp, hướng dẫn thực hiện văn bản cấp trên, xin ý kiến, thăm hỏi, cảm ơn, phúc đáp.
Quan điểm thứ hai cho rằng: tên loại văn bản giao quyền trong Luật năm 2012 là “thông báo”[19] vì thông báo nhằm mục đích thông tin về hoạt động, thông tin nhanh cho người quản lý của mình biết thi hành và những thông tin về những tin tức khác mà người có liên quan cần biết.
Quan điểm thứ ba cho rằng: văn bản giao quyền là văn bản hành chính vì văn bản hành chính mang thông tin quy phạm nhà nước và nó cụ thể hóa việc thi hành văn bản pháp quy, giải quyết những vụ việc cụ thể trong khâu quản lý. Chính vì lẽ đó, mà văn bản giao quyền phải là “quyết định”[20]. Vì nó thể hiện quyền lực nhà nước, đảm bảo cơ sở pháp lý để nhà nước giữ vững quyền lực của mình, truyền đạt ý chí của cơ quan nhà nước tới nhân dân và các chủ thể pháp luật khác.
Để khắc phục bất cập nêu trên, ngày 18/8/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 97/2017/NĐ-CP để sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP, trong đó sửa đổi, bổ sung quy định về tên gọi của văn bản giao quyền. Theo đó, khoản 3 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP sửa đổi khoản 4 Điều 5 của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP như sau:
“4. Quyết định giao quyền quy định tại Điều 54, khoản 2 Điều 87 và khoản 2 Điều 123 Luật XLVPHC phải xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn giao quyền.
Quyết định giao quyền phải được đánh số, ghi rõ ngày, tháng, năm, trích yếu, ký và đóng dấu; trường hợp cơ quan, đơn vị của người giao quyền không được sử dụng dấu riêng, thì đóng dấu treo của cơ quan cấp trên.
Phần căn cứ pháp lý ra quyết định xử phạt VPHC của cấp phó được giao quyền phải thể hiện rõ số, ngày, tháng, năm, trích yếu của quyết định giao quyền”.
Như vậy, Nghị định số 97/2017/NĐ-CP đã quy định rõ tên gọi của văn bản giao quyền cưỡng chế phải thể hiện dưới hình thức là “Quyết định giao quyền” chứ không thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như hướng dẫn của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP. Đồng thời, Nghị định số 97/2017/NĐ-CP cũng ban hành Phụ lục mới về một số biểu mẫu trong xử lý VPHC thay thế cho Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 81/2013/NĐ-CP[21]. Đối với vấn đề giao quyền cưỡng chế, Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP đã quy định biểu mẫu số 30 với tên gọi “Quyết định về việc giao quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC”. Do đó, kể từ thời điểm Nghị định số 97/2017/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành là “ngày 05 tháng 10 năm 2017” trở đi thì tất cả các văn bản giao quyền cưỡng chế đều phải thể hiện thống nhất dưới hình thức “Quyết định về việc giao quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC”.

2.3. Về thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt của cấp trên đối với quyết định xử phạt của cấp dưới

Nhằm cụ thể hóa các quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC trong Luật năm 2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định về các biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm thi hành quyết định xử phạt VPHC (Nghị định số 166). Để đảm bảo tính hợp pháp của việc cưỡng chế, Nghị định này quy định nguyên tắc áp dụng các biện pháp cưỡng chế như sau: “Việc cưỡng chế chỉ được thực hiện khi có quyết định cưỡng chế bằng văn bản của người có thẩm quyền”[22]. Tuy nhiên, Luật năm 2012 chỉ liệt kê các chức danh có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế chứ không nói rõ là thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt chỉ thuộc về người ban hành quyết định xử phạt VPHC hay cấp trên của người ban hành quyết định xử phạt VPHC có được ban hành quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế khi quyền cưỡng chế vượt thẩm quyền của người xử phạt hay không? Đây là một vấn đề mà ngay cả Luật năm 2012 cũng như Nghị định số 166 còn bỏ ngỏ, từ đó tạo ra nhiều cách hiểu khi áp dụng trong thực tiễn.
Điều 5 Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ quy định về áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC (Nghị định số 37) quy định, cấp trên có quyền ra quyết định cưỡng chế và tổ chức việc cưỡng chế thi hành đối với quyết định xử phạt của cấp dưới trong các trường hợp sau:
– Cấp dưới không có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế;
– Cấp dưới có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế nhưng không đủ điều kiện về lực lượng, phương tiện để tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế và có văn bản đề nghị cấp trên ra quyết định cưỡng chế;
– Việc thi hành quyết định xử phạt liên quan đến nhiều địa phương, tổ chức, cá nhân hoặc cá nhân bị cưỡng chế là những người có chức sắc tôn giáo, có uy tín trong xã hội, cấp trên xét thấy cần thiết phải ra quyết định cưỡng chế.
Trong thực tế, có nhiều trường hợp cấp trên có quyền ban hành quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế để thi hành quyết định xử phạt VPHC của cấp dưới như hướng dẫn của Nghị định số 37  nêu trên. Tuy nhiên, Luật năm 2012 cũng như Nghị định số 166 lại không quy định cụ thể cấp trên có được quyền ban hành quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế để thi hành quyết định xử phạt VPHC của cấp dưới hay không? Điều này đã ra gây nhiều tranh cãi trong quá trình áp dụng pháp luật.
Quy định của pháp luật hiện hành dẫn đến hai cách hiểu khác nhau: Cách hiểu thứ nhất, cấp trên có quyền ban hành quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế để thi hành quyết định xử phạt VPHC của cấp dưới trong những trường hợp Nghị định số 37 đã liệt kê. Cách hiểu thứ hai, chỉ có người ban hành quyết định xử phạt VPHC mới có quyền ban hành quyết định cưỡng chế. Bởi vì, Luật năm 2012 không quy định cấp trên có quyền ban hành quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế để thi hành quyết định xử phạt VPHC của cấp dưới. Do vậy, để việc áp dụng pháp luật được thống nhất, cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn cụ thể việc ban hành quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong những trường hợp nêu trên.
Chúng tôi cho rằng,nếu không cho phép cấp trên ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC của cấp dưới thì cần quy định rõ ràng: “người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế là người có thẩm quyền xử phạt VPHC”; ngược lại, nếu cho phép cấp trên ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC của cấp dưới thì cần hướng dẫn cụ thể trường hợp nào cấp trên có quyền ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC của cấp dưới như hướng dẫn của Nghị định số 37./.

ThS. NGUYỄN NHẬT KHANH

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Theo: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Dẫn nguồn từ Chuyên trang học luật trực tuyến


[1] Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ đề tài Nghiên cứu khoa học cấp trường “Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt tiền đối với vi phạm hành chính” do Thạc sĩ Nguyễn Nhật Khanh làm chủ nhiệm.
[2] Khoản 2 Điều 86 Luật xử lý VPHC năm 2012.
[3] Nguyễn Cảnh Hợp (Chủ biên), “Bình luận khoa học Luật XLVPHC năm 2012” (Tái bản lần thứ 1), Nxb. Hồng Đức, 2017, tr. 591.
[4] Mai Thị Lâm (2016), Thẩm quyền xử phạt VPHC, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, tr. 29.
[5] Nguyễn Cảnh Hợp (Chủ biên), “Bình luận khoa học Luật XLVPHC năm 2012” (Tái bản lần thứ 1), Nxb. Hồng Đức, 2017, tr. 592.
[6] Điều 54 Luật năm 2012.
[7] Khoản 2 Điều 87 Luật năm 2012.
[8] Khoản 2 Điều 123 Luật năm 2012.
[9] M. Quang, Báo Tuổi trẻ online, Ra mắt Cục Cảnh sát giao thông, tại https://tuoitre.vn/ra-mat-cuc-canh-sat-giao-thong-701082.htm, truy cập ngày 06/02/2020.
[10] Việt Hưng, Báo điện tử Công an nhân dân, Giảm 6 Tổng cục, gần 60 đơn vị cấp Cục và gần 300 đơn vị cấp Phòng, tại http://cand.com.vn/Su-kien-Binh-luan-thoi-su/Giam-6-Tong-cuc-gan-60-don-vi-cap-Cuc-va-gan-300-don-vi-cap-Phong-504992/, truy cập ngày 07/02/2020.
[11] Khoản 1 Điều 29 Nghị định số 127/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 45/2016/NĐ-CP).
[12] Khoản 2 Điều 3 Quyết định số 34/2018/QĐ-TTg còn quy định rõ Cục Quản lý thị trường cấp tỉnh trực thuộc Tổng cục Quản lý thị trường gồm: Cục Quản lý thị trường tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Cục Quản lý thị trường liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Còn Đội Quản lý thị trường cấp huyện trực thuộc Cục Quản lý thị trường cấp tỉnh gồm: Đội Quản lý thị trường huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; Đội Quản lý thị trường liên huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; Đội Quản lý thị trường chuyên ngành; Đội Quản lý thị trường cơ động.
[13] Điều 21 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao gồm Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Bộ máy giúp việc; Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng. Tòa án nhân dân tối cao có Chánh án, các Phó Chánh án, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, công chức khác, viên chức và người lao động.
[14]Điều 30, Điều 33, Điều 35 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.
[15] Khoản 2 Điều 87 Luật năm 2012.
[16] Cao Vũ Minh (2019), “Những nội dung cần sửa đổi trong Luật XLVPHC năm  2012”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1 (369).
[17] Nguyễn Cảnh Hợp (Chủ biên), “Bình luận khoa học Luật XLVPHC năm 2012” (Tái bản lần thứ 1), Nxb. Hồng Đức, 2017, tr. 593.
[18] Công văn số 1734/UBND-TH ngày 18/5/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh Long An về việc ủy quyền điều hành, xử lý công việc của UBND tỉnh.
[19] Thông báo số 07/TB-UBND, Thông báo số 08/TB-UBND, Thông báo số 09/TB-UBND ngày 12/01/2015 của Chủ tịch UBND huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định về giao quyền xử lý VPHC cho các Phó chủ tịch UBND huyện gồm Lương Ngọc Anh, Phạm Ngọc Trình, Nguyễn Huỳnh Huyện.
[20] Quyết định số 3369/QĐ-CTUBND ngày 20/11/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa về giao quyền xử phạt VPHC và cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC.
[21] Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP.

[22] Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP.
Hoàn thiện quy định về lấy ý kiến người dân trong quá trình lập quy hoạch xây dựng đô thị

Lấy ý kiến của người dân là một trong những giai đoạn của quá trình lập quy hoạch đô thị. Pháp luật về quy hoạch đã bao hàm những quy định cụ thể về quy trình này. Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện pháp luật cho thấy, còn có một số vấn đề cần được hoàn thiện nhằm bảo đảm quyền của người dân trong quá trình lập và thực hiện quy hoạch xây dựng đô thị.

1. Tổng quan về quyền tiếp cận thông tin

1.1 Khái niệm thông tin trong quy hoạch xây dựng đô thị

“Thông tin” là một khái niệm cơ bản của khoa học cũng là khái niệm trung tâm của xã hội trong thời đại chúng ta. Mọi quan hệ, mọi hoạt động của con người đều dựa trên một hình thức giao lưu thông tin nào đó. Mọi tri thức đều bắt nguồn bằng một thông tin về những điều đã diễn ra, về những cái người ta đã biết, đã nói đã làm[1].
Theo Từ điển tiếng Việt, “thông tin” là sự truyền đạt tin tức cho nhau về một vấn đề, sự việc, hiện tượng nào đó[2]. Theo quy định của pháp luật, “thông tin” là tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan Nhà nước tạo ra[3]. Dựa vào hai khái niệm trên ta có thể hiểu “Thông tin” là sự truyền đạt, thông báo tin tức từ một cơ quan, tổ chức, cá nhân đến một cơ quan, tổ chức, cá nhân khác về một vấn đề, sự việc, hiện tượng nào đó.
Trong lĩnh vực quy hoạch xây dựng đô thị, chủ thể thông báo tin tức là cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đối tượng được nhận thông báo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quy hoạch. Như vậy, ta có thể hiểu Thông tin quy hoạch xây dựng đô thị là sự thông báo tin tức từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về các vấn đề trong quy hoạch xây dựng đô thị.

1.2 Quyền tiếp cận thông tin của người dân trong quy hoạch xây dựng đô thị

Quyền tiếp cận thông tin
Quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền năm 1948. Điều 19 của Tuyên ngôn này quy định: “Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia” và tại Khoản 2 Điều 19 Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị năm 1966 quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận”. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ[4]. Hai văn kiện này là nền tảng cho việc ghi nhận các quyền cơ bản của con người về dân sự, chính trị, mà quyền tiếp cận thông tin được coi là quyền cơ bản nhất trong nhóm các quyền dân sự, chính trị đó, và rất nhiều công ước quốc tế sau này tiếp tục ghi nhận[5].
Ở Việt Nam, quyền được thông tin được ghi nhận lần đầu tiên trong Hiến pháp năm 1992 tại Điều 69: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình”[6]. Đến Hiến pháp năm 2013, quyền tiếp cận thông tin được quy định theo hướng chủ động hơn. Điều 25 Hiến pháp quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”[7].
Để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, Quốc hội đã thông qua Luật tiếp cận thông tin năm 2016. Sự ra đời của Luật tiếp cận thông tin năm 2016 đã giúp cho quyền tiếp cận thông tin của công dân được đảm bảo thực hiện một cách tốt hơn.
Trong lĩnh vực quy hoạch xây dựng đô thị, việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của người dân cũng được quan tâm đến. Cụ thể, khoản 1 Điều 55 Luật Quy hoạch đô thị (QHĐT) năm 2009  quy định: “Cơ quan quản lý quy hoạch đô thị các cấp có trách nhiệm cung cấp thông tin về quy hoạch đô thị đã được phê duyệt cho các tổ chức, cá nhân khi có yêu cầu”[8]. Việc cung cấp thông tin về quy hoạch xây dựng được thực hiện dưới các hình thức sau: “giải thích trực tiếp, qua phương tiện thông tin đại chúng và cấp chứng chỉ quy hoạch”[9].

2. Quy định pháp luật về lấy ý kiến người dân trong quá trình lập quy hoạch xây dựng đô thị

2.1 Đối tượng được lấy ý kiến

Hiện nay, các đối tượng được lấy ý kiến trong quá trình lập quy hoạch đã được quy định cụ thể theo từng nhóm. Theo quy định của Luật quy hoạch đô thị năm 2009, “Cơ quan tổ chức lập quy hoạch đô thị, chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng tổ chức lập quy hoạch chi tiết khu vực được giao đầu tư có trách nhiệm lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan về nhiệm vụ và đồ án quy hoạch đô thị”[10], đồng thời, “Cơ quan, chủ đầu tư tổ chức lập quy hoạch xây dựng có trách nhiệm lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan về nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng”[11].
Quy định trên cho thấy, đối tượng được lấy ý kiến trong quá trình lập quy hoạch xây dựng đô thị là: Cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan tại khu vực lập quy hoạch. Có thể chia các đối tượng được lấy ý kiến thành các nhóm sau:
Nhóm thứ nhất, cơ quan, tổ chức. Nhóm này thường bao gồm những cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội có chức năng, nhiệm vụ liên quan đến hoạt động quy hoạch xây dựng đô thị.
Nhóm thứ hai, cá nhân có liên quan. Cho đến thời điểm hiện tại, nội hàm từ “cá nhân” vẫn chưa được làm rõ là sẽ lấy ý kiến của ai học luật online. Cá nhân là các nhà khoa học, chuyên gia trong lĩnh vực quy hoạch đang cần lấy ý kiến, hay cá nhân là tất cả các cá nhân không giới hạn đang cư trú tại khu vực có quy hoạch hay không đều có quyền đóng góp cho đồ án của quy hoạch[12].
Nhóm thứ ba, cộng đồng dân cư có liên quan: Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ[13]. Tuy nhiên, định nghĩa trên trong Luật Đất đai năm 2013 rất khó để xác định một cộng đồng dân cư trên thực tế là như thế nào. Trong nhiều trường hợp, định nghĩa về cộng đồng dân cư trong Luật Đất đai năm 2013 chỉ có thể áp dụng để xác định cộng đồng dân cư ở các dân tộc thiểu số.
Đối tượng được lấy ý kiến quy định trong Luật Quy hoạch năm 2017 được mở rộng và đa dạng hơn so với Luật quy hoạch đô thị năm 2009 và Luật Xây dựng năm 2014. Theo đó, khoản 1 Điều 20 Luật Quy hoạch năm 2017 quy định: “Cơ quan lập quy hoạch có trách nhiệm lấy ý kiến các Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp của địa phương có liên quan và cơ quan, tổ chức, cộng đồng, cá nhân khác có liên quan về quy hoạch. Đối với quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh thì cơ quan lập quy hoạch còn phải lấy ý kiến của UBND các tỉnh liền kề”. Như vậy, ngoài các đối tượng được lấy ý kiến được nêu ở trên, Luật bổ sung các Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các cấp có liên quan; đối với quy hoạch vùng hoặc quy hoạch tỉnh còn phải lấy ý kiến của UBND các tỉnh liền kề.
Nhìn chung, mỗi nhóm đối tượng đóng vai trò và có ý nghĩa nhất định trong quá trình lập quy hoạch xây dựng đô thị. Đóng góp của họ sẽ ảnh hưởng đến việc quyết định thực hiện những chiến lược, chính sách, các quy hoạch của đất nước, hay một vùng lãnh thổ nhất định. Đồng thời, những nhóm đối tượng này cũng là chủ thể bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quy hoạch hay các dự án được đầu tư xây dựng, thế nên, những ý kiến đóng góp của họ sẽ thiết thực và đảm bảo tính khách quan đối với việc triển khai thực hiện quy hoạch, dự án công trình.

2.2 Chủ thể có trách nhiệm lấy ý kiến

Trách nhiệm lấy ý kiến về quy hoạch xây dựng đô thị quy định tại Điều 20 Luật quy hoạch đô thị năm 2009 như sau:
Một là, cơ quan tổ chức lập quy hoạch đô thị, chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng tổ chức lập quy hoạch chi tiết khu vực được giao đầu tư có trách nhiệm lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan về nhiệm vụ và đồ án quy hoạch đô thị.
UBND có liên quan, tổ chức tư vấn lập quy hoạch có trách nhiệm phối hợp với cơ quan tổ chức lập quy hoạch đô thị, chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng tổ chức lập quy hoạch chi tiết khu vực được giao đầu tư trong việc lấy ý kiến.
Hai là, đối với nhiệm vụ và đồ án quy hoạch đô thị thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng có trách nhiệm lấy ý kiến các bộ, cơ quan, tổ chức khác ở trung ương có liên quan; UBND có liên quan có trách nhiệm lấy ý kiến cơ quan tổ chức lập quy hoạch đô thị, chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng tổ chức lập quy hoạch chi tiết khu vực được giao đầu tư có trách nhiệm lấy ý kiến.
Ba là, tổ chức tư vấn lập quy hoạch có trách nhiệm lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan về đồ án quy hoạch đô thị.
Bốn là, các ý kiến đóng góp phải được tổng hợp đầy đủ, có giải trình, tiếp thu và báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét trước khi quyết định phê duyệt.

Ngoài ra, theo quy định của Luật Xây dựng năm 2014 thì chủ thể có trách nhiệm lấy ý kiến được quy định như sau:
Thứ nhất, cơ quan, chủ đầu tư tổ chức lập quy hoạch xây dựng có trách nhiệm lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan về nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng.
UBND có liên quan có trách nhiệm phối hợp với cơ quan tổ chức lập quy hoạch xây dựng, chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng trong việc lấy ý kiến.
Thứ hai, đối với nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ thì Bộ Xây dựng có trách nhiệm lấy ý kiến các bộ, cơ quan, tổ chức khác ở trung ương có liên quan; UBND cấp tỉnh có trách nhiệm lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan ở địa phương.
Việc quy định trách nhiệm lấy ý kiến người dân trong quy hoạch xây dựng đô thị tùy thuộc vào quy mô, tính chất của quy hoạch mà được giao về cho cơ quan tổ chức lập quy hoạch, chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng tổ chức lập quy hoạch chi tiết khu vực được giao đầu tư hay Bộ Xây dựng hoặc tổ chức tư vấn lập quy hoạch. Việc lấy ý kiến người dân sẽ giúp cho cơ quan có thẩm quyền hoàn thiện đề án quy hoạch xây dựng đô thị, đáp ứng được mong muốn cũng như nhu cầu của người dân trong khu vực quy hoạch.
So sánh đối tượng có trách nhiệm lấy ý kiến trong Luật quy hoạch đô thị năm 2009 và Luật Xây dựng năm 2014 với Luật Quy hoạch năm 2017 có thể thấy, đối tượng có trách nhiệm lấy ý kiến trong Luật Quy hoạch năm 2017 được tập trung lại là “Cơ quan lập quy hoạch” chứ không còn phân cấp theo quy mô, tính chất như trước đây nữa.

2.3 Phạm vi lấy ý kiến

Căn cứ vào quy định tại Điều 20 Luật quy hoạch đô thị năm 2009 và Điều 16 Luật Xây dựng 2014, phạm vi lấy ý kiến là: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan về nhiệm vụ và đồ án quy hoạch”.Với nội dung quy định này, ta có thể chia phạm vi lấy ý kiến theo hai hướng sau:
– Thứ nhất: Chỉ cần lấy ý kiến người dân trong khu vực quy hoạch vì chỉ những người này mới có liên quan và thuộc phạm vi lấy ý kiến.
– Thứ hai: Có thể hiểu phạm vi lấy ý kiến bao gồm người dân trong và ngoài khu vực quy hoạch nếu những người đó có liên quan đến quy hoạch.
Nếu theo cách hiểu thứ hai thì quy định về phạm vi lấy ý kiến rộng hơn, bao quát hơn. Tuy nhiên, do quy định của luật chỉ mới dừng lại ở mức độ chung chung là “có liên quan”, nên rất khó để xác định được phạm vi lấy ý kiến người dân để đảm bảo một cách tốt nhất lợi ích của người dân. Nghị định 44/2015/NĐ-CP ngày 06/5/2015 của Chính phủ quy định về phạm vi lấy ý kiến của quy hoạch xây dựng vùng; quy hoạch khu chức năng đặc thù; quy hoạch xây dựng nông thôn, nhưng lại không bao hàm quy định về phạm vi lấy ý kiến quy hoạch xây dựng đô thị. Vì vậy, có thể thấy rằng đây là một vấn đề cần phải được nghiên cứu bổ sung trong các quy định của pháp luật trong thời gian tới.

2.4 Nội dung lấy ý kiến

Theo quy định của Luật quy hoạch đô thị năm 2009 và Luật Xây dựng năm 2014, nhiệm vụ quy hoạch là các yêu cầu về nội dung nghiên cứu và tổ chức thực hiện được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt làm cơ sở để lập đồ án quy hoạch đô thị[14]. Đồ án quy hoạch đô thị là tài liệu thể hiện nội dung của quy hoạch đô thị, bao gồm các bản vẽ, mô hình, thuyết minh và quy định quản lý theo quy hoạch đô thị[15].

2.5 Thời gian, hình thức lấy ý kiến

 Thời gian lấy ý kiến
Thời gian lấy ý kiến người dân về quy hoạch xây dựng đô thị là một giới hạn mà trong khoảng thời gian đó người dân được thực hiện quyền tham gia đóng góp ý kiến của mình. Khoản 4 Điều 21 Luật quy hoạch đô thị năm 2009 quy định:“Thời gian lấy ý kiến ít nhất là 15 ngày đối với cơ quan, 30 ngày đối với tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư”.
So với Luật Xây dựng năm 2014 thì thời gian lấy ý kiến người dân trong Luật quy hoạch đô thị năm 2009 có phần ngắn hơn, cụ thể trong Luật Xây dựng năm 2014 là: “20 ngày đối với cơ quan, 40 ngày đối với tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư”[16].Bên cạnh đó, Luật Quy hoạch năm 2017 lại không quy định về thời gian lấy ý kiến người dân.
Thời gian lấy ý kiến người dân trong quy hoạch xây dựng đô thị còn tùy vào nhóm đối tượng được lấy ý kiến và hình thức lấy ý kiến được áp dụng mà ta sẽ cần một khoảng thời gian nhất định để đạt được hiệu quả tối đa nhất. Nhưng nhìn chung, quy định của pháp luật về thời gian lấy ý kiến người dân trong quy hoạch xây dựng đô thị đã hợp lý, vừa ràng buộc được trách nhiệm đối với chủ thể có thẩm quyền lấy ý kiến, vừa đảm bảo được quyền tham gia đóng góp ý kiến của người dân.
Hình thức lấy ý kiến
Để bảo đảm cho hoạt động lấy ý kiến người dân mang lại hiệu quả cao, thu hút được sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân, cần lựa chọn và kết hợp các hình thức lấy ý kiến đa dạng, phù hợp với tình hình thực tế. Hoạt động lấy ý kiến người dân về quy hoạch xây dựng đô thị sử dụng ba hình thức lấy ý kiến, là: Phát phiếu điều tra, phỏng vấn, gửi hồ sơ, tài liệu hoặc tổ chức hội nghị, hội thảo, công khai trên phương tiện thông tin đại chúng[17]. Mỗi hình thức đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng và tùy vào đối tượng lấy ý kiến mà áp dụng hình thức phù hợp.
Có thể nhận thấy những điểm khác biệt về hình thức lấy ý kiến trong Luật quy hoạch đô thị năm 2009 với Luật Quy hoạch năm 2017 qua bảng so sánh sau:

Nội dung Luật quy hoạch đô thị năm 2009 Luật Quy hoạch năm 2017
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan Gửi hồ sơ, tài liệu hoặc tổ chức hội nghị, hội thảo Gửi hồ sơ, tài liệu và đăng tải trên trang thông tin điện tử của cơ quan lập quy hoạch
Cộng đồng dân cư có liên quan Phát phiếu điều tra, phỏng vấnTrưng bày công khai hoặc giới thiệu phương án quy hoạch trên phương tiện thông tin đại chúng Đăng tải trên trang thông tin điện tử của cơ quan lập quy hoạch, niêm yết, trưng bày tại nơi công cộng, phát phiếu điều tra phỏng vấn, tổ chức hội nghị, hội thảo (một vài ý kiến cho rằng, nên bỏ hình thức hội nghị, hội thảo đối với cộng đồng dân cư do sẽ không có nhiều “cộng đồng” có kiến thức và có thể hiểu được trọn vẹn các nội dung của đồ án quy hoạch, điều này sẽ làm cho cả việc lấy ý kiến và góp ý đều không đạt được mục đích và chất lượng như mong muốn)[18].

Luật Quy hoạch năm 2017 đã thực hiện việc kết hợp nhiều hình thức lấy ý kiến người dân với nhau để đảm bảo một cách tốt nhất quyền lợi ích của người dân.
Theo quy định của khoản 3 Điều 21 Luật quy hoạch đô thị năm 2009, hình thức lấy ý kiến người dân bằng phương pháp công khai trên phương tiện thông tin đại chúng được áp dụng để lấy ý kiến cộng đồng dân cư có liên quan đối với đồ án và nhiệm vụ của quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chi tiết.

3.6 Cách thức xử lý thông tin

Theo quy định của khoản 4 Điều 20 Luật quy hoạch đô thị năm 2009, khoản 3 Điều 16 Luật Xây dựng năm 2014, ý kiến đóng góp của nhân dân sẽ được “tổng hợp đầy đủ, giải trình, tiếp thu và báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định”. Luật Quy hoạch năm 2017 cũng bao hàm quy định về ý kiến đóng góp của người dân: “Các ý kiến đóng góp phải được nghiên cứu, tiếp thu hoặc giải trình và báo cáo cấpcó thẩm quyền xem xét trước khi thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt quy hoạch”.Bên cạnh đó, Luật Quy hoạch năm 2017 còn yêu cầu:“Cơ quan lập quy hoạch có trách nhiệm công bố, công khai các ý kiến đóng góp và việc tiếp thu, giải trình các ý kiến đóng góp”[19].

3. Những vấn đề đặt ra trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin trong quá trình lập quy hoạch xây dựng đô thị

Thực tiễn thực hiện quyền tiếp cận thông tin trong quá trình lập quy hoạch xây dựng đô thị đặt ra một số vấn đề sau đây:
Một là, pháp luật hiện hành chưa bao hàm quy định cụ thể về quy trình thực hiện công tác lấy ý kiến người dân về lập quy hoạch xây dựng đô thị. Điều này dẫn đến sự lúng túng của cơ quan, tổ chức trong công tác lấy ý kiến người dân.
Hai là, quy định về hình thức lấy ý kiến người dân trong quy hoạch xây dựng đô thị chưa linh hoạt, chưa thực sự phù hợp với đặc điểm đời sống của từng địa phương. Ví dụ, tại các địa phương ven biển, đa phần người dân ở đây thường theo tàu đi đánh bắt xa bờ dài ngày, vì vậy, khi áp dụng các hình thức lấy ý kiến như hiện nay sẽ khó có thể lấy được ý kiến của những ngư dân này, trong khi đa phần nhóm đối tượng này thường là chủ hộ gia đình.
Ba là, quy định về tổng hợp, tiếp thu ý kiến đóng góp của người dân còn chưa chặt chẽ, thiếu cơ chế giải trình ý kiến đóng góp cho người dân. Đồng thời, chưa có quy định về tỷ lệ ý kiến đồng thuận bắt buộc để các đồ án quy hoạch được thông qua. Bên cạnh đó, việc lấy ý kiến người dân là nhằm mục đích tham khảo hay ý kiến của người dân hay giữ vai trò quyết định đồ án quy hoạch có được thông qua hay không hiện nay vẫn chưa được xác định rõ[20].
Bốn là,  trong quy định của pháp luật, cụm từ “cá nhân có liên quan” và “cộng đồng dân cư” chưa được giải thích rõ. Điều này, gây khó khăn trong vấn đề xác định đối tượng được lấy ý kiến về quy hoạch xây dựng đô thị. Bên cạnh đó, do chưa quy định cụ thể về phạm vi lấy ý kiến dẫn đến tình trạng bỏ sót đối tượng cần được lấy ý kiến, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của cá nhân đó khi thực hiện quy hoạch xây dựng đô thị.
Năm là, công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật về quy hoạch xây dựng đô thị chưa được thực hiện một cách nghiêm túc. Việc lấy ý kiến trong cộng đồng dân cư về quy hoạch xây dựng đô thị được chính quyền cấp xã, trưởng thôn, trưởng ấp thực hiện bằng hình thức họp dân lấy ý kiến, tuy nhiên, trưởng thôn (ấp) lại không phải là người có chuyên môn về quy hoạch xây dựng đô thị thì khó có thể giải thích cụ thể được một số vấn đề phức tạp đòi hỏi về chuyên môn cho cộng đồng được rõ.
Sáu là, trình độ dân trí một số khu vực, đặc biệt là khu vực nông thôn còn tương đối thấp, trong khi quy hoạch xây dựng đô thị với nhiều nội dung còn phức tạp và mang tính chất chuyên môn cao, khó hiểu, nên người dân không hiểu rõ được hết vai trò và tầm quan trọng của việc quy hoạch xây dựng đô thị. Điều này dẫn đến tình trạng người dân cũng không quan tâm nhiều đến việc tham gia đóng góp ý kiến để hoàn thiện quy hoạch xây dựng đô thị.

4. Một số đề xuất kiến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động lấy ý kiến người dân về quy hoạch xây dựng đô thị, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị sau đây:
Một là, cần phải quy định rõ về phạm vi được lấy ý kiến trong quy hoạch xây dựng đô thị. Trong đó, cần có quy định rõ về khu vực ngoài quy hoạch được lấy ý kiến là khu vực nào, cách tâm hoặc biên của khu vực quy hoạch bao nhiêu và tiêu chí xác định trong từng trường hợp cụ thể là như thế nào. Đồng thời, cần quy định quy trình và các hình thức lấy ý kiến người dân để phù hợp với đặc điểm của từng vùng miền, từng địa phương, nhưng vẫn đảm bảo khung quy định thống nhất chung.
Hai là, cần giải thích rõ cụm từ “cá nhân”, “cộng đồng dân cư” được lấy ý kiến trong quy hoạch xây dựng đô thị bao gồm những ai, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ sót đối tượng cần lấy ý kiến, đảm bảo quyền và lợi ích của người dân một cách cao nhất.
Ba là, cần có quy định cụ thể về tỷ lệ ý kiến đồng thuận bắt buộc để nhiệm vụ và đồ án quy hoạch được thông qua. Việc quy định một con số cụ thể để thông qua đồ án quy hoạch xây dựng đô thị sẽ nâng cao tinh thần trách nhiệm, sự nghiêm túc của cơ quan lập quy hoạch. Bên cạnh đó, người được lấy ý kiến cũng nhận thức được vai trò, tầm quan trọng và trách nhiệm của mình trong việc tìm hiểu và góp ý cho các vấn đề kinh tế – xã hội nói chung, trong việc lập quy hoạch xây dựng đô thị nói riêng./.

TRẦN VANG PHỦ

GV. Khoa Luật, Đại học Cần Thơ

NGUYỄN VÕ LINH GIANG

GV. Khoa Luật, Đại học Cần Thơ

Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 14 (390), tháng 7/2019


[1] Đoàn Phan Tân, “Khái niệm thông tin và các thuộc tính làm nên giá trị của thông tin”, Tạp chí Văn hóa – Nghệ thuật, số 3/2001, http://dlib.huc.edu.vn/bitstream/123456789/948/1/VeKNiemTTin%20v%C3%A0%20CacThuocTinhLamNenGTriCuaTT_BaiBao_.pdf [truy cập ngày 10/8/2017].

[2]Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2016, trang 1206.
[3] Khoản 1 Điều 2 Luật tiếp cận thông tin năm 2016.
[4] Khoản 2 Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966.
[5]Hoàng Minh Sơn, Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013, http://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/201602/bao-dam-quyen-tiep-can-thong-tin-theo-tinh-than-cua-hien-phap-nam-2013-299953/ [truy cập ngày 12/08/2017].
[6] Điều 69 Hiến pháp năm 1992.
[7] Điều 25 Hiến pháp năm 2013.
[8] Khoản 1 Điều 55 Luật quy hoạch đô thị năm 2009
[9] Khoản 2 Điều 55 Luật quy hoạch đô thị năm 2009
[10] Khoản 1 Điều 20 Luật quy hoạch đô thị năm 2009
[11] Khoản 1 Điều 16 Luật Xây dựng năm 2014
[12] Trần Vang Phủ, Những điểm nổi bật trong Dự thảo Luật Quy hoạch và các kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 16/2017, trang 36.
[13] Khoản 3 Điều 5 Luật Đất đai năm 2013
[14]Khoản 5 Điều 3 Luật quy hoạch đô thị năm 2009.
[15] Khoản 6 Điều 3 Luật quy hoạch đô thị năm 2009. Hiện nay, từng nội dung cụ thể của từng loại đồ án: đồ án quy hoạch chung thành phố trực thuộc trung ương; đồ án quy hoạch chung thành phố thuộc tỉnh, thị xã; đồ án quy hoạch chung thị trấn, đô thị loại V chưa công nhận là thị trấn, đồ án quy hoạch chung đô thị mới… được quy định chi tiết tại Nghị định 37/2010/NĐ-CP và Thông tư 10/2010/TT-BXD.
[16] Khoản 4 Điều 16 Luật Xây dựng năm 2014
[17] Điều 20 Luật quy hoạch đô thị năm 2009
[18]Trần Vang Phủ, Những điểm nổi bật trong Dự thảo Luật Quy hoạch và các kiến nghị hoàn thiện, tlđd.
[19] Khoản 4 Điều 20 Luật Quy hoạch năm 2017.
[20] Trần Vang Phủ, Những điểm nổi bật trong Dự thảo Luật Quy hoạch và các kiến nghị hoàn thiện, tlđd.
5.0
Quy định của pháp luật và thực trạng xét xử các vụ án xâm hại trẻ em và kiến nghị hoàn thiện

Trong những năm gần đây, số vụ án hình sự xâm hại trẻ em do Tòa án xét xử và số trẻ em bị xâm hại có xu hướng gia tăng và nghiêm trọng với nhiều thủ đoạn mới. Từ thực trạng nêu trên, cần phải đưa ra giải pháp đưa ra trong xét xử các vụ án xâm hại trẻ em. Tác giả bài viết nêu thực trạng xét xử các vụ án xâm hại trẻ em và đưa ra các giải pháp, kiến nghị …
 

Quy định của pháp luật và thực trạng xét xử các vụ án xâm hại trẻ em và kiến nghị hoàn thiện

Mục lục:

  1. Khái quát chung
  2. Thực tiễn xét xử các vụ án xâm hại trẻ em
  3. Thực trạng và giải pháp trong xét xử các vụ án xâm hại trẻ em
  4. Giải pháp đưa ra trong xét xử các vụ án xâm hại trẻ em
Bị cáo Nguyễn Trọng Trình xâm hại bé gái 9 tuổi ở Chương Mỹ bị phạt tù chung thân – Ảnh: Tư Viễn, NĐT
Bị cáo Nguyễn Trọng Trình xâm hại bé gái 9 tuổi ở Chương Mỹ bị phạt tù chung thân – Ảnh: Tư Viễn, NĐT

1. Khái quát chung

Theo Luật Trẻ em năm 2016, “trẻ em” là người dưới 16 tuổi. Xâm hại trẻ em được hiểu là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác.
Tội phạm xâm hại trẻ em, trong BLHS năm 2015, một số được quy định thành tội danh cụ thể như tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” (Điều 142), tội “Cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” (Điều 144), tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” (Điều 145)… một số được quy định thành tình tiết định khung hình phạt như tội “Giết người” (“giết người dưới 16 tuổi” điểm b khoản 1 Điều 123), tội “Làm chết người trong khi thi hành công vụ” (“đối với người dưới 16 tuổi” điểm b khoản 2 Điều 127), tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” (“đối với người dưới 16 tuổi” điểm c khoản 1 Điều 134)…hoặc được quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (“phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” hoặc “xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” các điểm i và o khoản 1 Điều 52).
So sánh với nội dung quy định của BLHS năm 1999, nội dung tại các điều luật quy định về tội phạm xâm hại tình dục trẻ em của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có sự thay đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế tình hình diễn biến và tính chất của loại tội phạm này nhằm xử lý đúng người, đúng tội, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Thứ nhất, thay đổi tên một số tội danh và cụ thể hóa độ tuổi của bị hại vào tên tội danh, giúp thể hiện rõ hơn các dấu hiệu pháp lý của tội phạm (thể hiện ngay trong tên điều luật), đây là một trong những điều kiện thuận lợi giúp các cơ quan hành pháp, tư pháp điều tra xử lý đúng hành vi, đúng tội đảm bảo tính nghiêm minh, tính răn đe của pháp luật. Cụ thể, tội “Hiếp dâm trẻ em” (Điều 122) thành tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” (Điều 142); tội “Cưỡng dâm trẻ em” (Điều 114) thành tội “Cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” (Điều 144); tội “Giao cấu với trẻ em” (Điều 115) thành tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” (Điều 145); tội “Dâm ô trẻ em” (Điều 116) thành tội “Dâm ô với người dưới 16 tuổi” (Điều 146).
Ngoài ra, BLHS năm 2015 còn cụ thể hoá một số cụm từ khác như “người đã thành niên” được thay bằng “người đủ 18 tuổi trở lên”; “nhiều người” được thay bằng “từ 02 người trở lên”; “nhiều lần” được thay bằng “từ 02 lần trở lên”; “hiếp dâm trẻ em” được thay bằng “dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ” hoặc “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi”. Cùng với đó, cụm từ “cưỡng dâm trẻ em”, “giao cấu với trẻ em”, “dâm ô với trẻ em” cũng được khái niệm cụ thể để đảm bảo tính thống nhất trong cách hiểu và quá trình áp dụng của các cơ quan có thẩm quyền.
Thứ hai, bổ sung thêm “hành vi quan hệ tình dục khác” vào mặt khách quan của tội phạm. Theo quy định của BLHS năm 1999 thì yếu tố bắt buộc để chứng minh trong một số tội xâm hại tình dục như tội hiếp dâm, cưỡng dâm là thực hiện việc “giao cấu” với nạn nhân. Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay đã xuất hiện các hành vi quan hệ tình dục phi truyền thống như quan hệ tình dục bằng miệng… Do vậy, ngoài hành vi “giao cấu” BLHS năm 2015 bổ sung thêm hành vi “quan hệ tình dục khác” làm cơ sở để chứng minh tội phạm. Việc bổ sung thêm hành vi vào mặt khách quan của tội phạm giúp nâng cao tính bao quát, toàn diện, phát triển và đảm bảo sự phù hợp của các điều luật có liên quan được quy định trong BLHS năm 2015, tránh để loại tội phạm, loại bỏ hành vi “lách luật”, lợi dụng “kẽ hở” của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội.
Thứ ba, mở rộng chủ thể thực hiện tội phạm xâm hại tình dục và nạn nhân. Trong BLHS năm 1999, những tội phạm xâm hại tình dục được cấu thành bằng hành vi “giao cấu” như tội Hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em, tội cưỡng dâm… Mặc định được hiểu chủ thể thực hiện là nam giới; đồng thời, nữ giới chỉ có thể trở thành chủ thể của Tội hiếp dâm trong trường hợp đồng phạm với vai trò người giúp sức. Tuy nhiên, với BLHS năm 2015, do công nhận các hành vi quan hệ tình dục khác trong mặt khách quan của tội phạm nên chủ thể của tội phạm xâm hại tình dục có thể là nam giới hoặc nữ giới.
Thứ tư, thay đổi khung hình phạt đối với các hành vi phạm các tội thuộc nhóm tội phạm liên quan đến xâm hại tình dục: Đối với tội “Hiếp dâm” so với BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 đã thêm trường hợp bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm khi hành vi hiếp dâm gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%; thêm trường hợp bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân khi hành vi hiếp dâm gây thương tích cho nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 46% trở lên. Việc thay đổi khung hình phạt đối với các tội danh thuộc nhóm tội phạm xâm hại tình dục đảm bảo khung hình phạt tương ứng với hậu quả do hành vi phạm tội, qua đó đảm bảo tính nghiêm minh, chính xác, tính răn đe của pháp luật.

Thứ năm, BLHS năm 2015 quy định thêm tội Sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147). Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đấu tranh, phòng ngừa tội phạm vì trên thực tế, các hình thức khiêu dâm bùng nổ và gia tăng khắp nơi dưới nhiều hình thức. Trong đó, xuất hiện cả những hiện tượng sử dụng trẻ em, người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm. Mặc dù, BLHS năm 1999 đã quy định về tội dâm ô trẻ em, song quy định này chưa bao quát hết các hành vi xâm hại tình dục trẻ em đã và đang diễn ra hiện nay. Hiện tượng ép buộc trẻ em phải biểu diễn các hành vi khiêu dâm, đóng phim khiêu dâm, xem những hình ảnh khiêu dâm… đang diễn ra khó kiểm soát. BLHS năm 2015 bổ sung thêm quy định về tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm nhằm xử lý triệt để mọi hành vi xâm phạm tình dục trẻ em là rất hợp lý, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm và hạn chế sự gia tăng của tội phạm này.
Có thể nói, BLHS năm 2015 đã khắc phục hạn chế của những quy định trước, kịp thời ban hành những quy định cụ thể, chặt chẽ, phù hợp và có hình phạt nghiêm khắc đối với loại tội phạm xâm hại trẻ em nói chung và đối với loại tội phạm xâm hại tình dục trẻ em nói riêng.

2. Thực tiễn xét xử các vụ án xâm hại trẻ em

Từ ngày 01/01/2015 đến ngày 30/6/2019, các Tòa án đã đưa ra xét xử 6.585 vụ với 7.339 bị cáo phạm các tội xâm hại trẻ em. Trong tổng số các vụ án đã đưa ra xét xử, số trẻ em là nạn nhân bị các tội phạm này xâm hại là 7.654 em (trong đó có 7.121 em nữ, 533 em nam).
Trong số trẻ em là nạn nhân của hành vi xâm hại, phần lớn là nạn nhân của hành vi xâm hại tình dục (6.429 em, chiếm 84% tổng số trẻ bị xâm hại); bị bạo lực là 727 em (chiếm 9,5% tổng số trẻ bị xâm hại); bị mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt là 264 em (chiếm 3,4% tổng số trẻ bị xâm hại), còn lại là các hình thức gây tổn hại khác (như bóc lột; bắt cóc; tổ chức, hỗ trợ, xúi giục, ép buộc trẻ em tảo hôn và các hành vi xâm hại khác…).
Trong tổng số 7.339 bị cáo phạm tội xâm hại trẻ em đã đưa ra xét xử: 432 bị cáo là người ruột thịt, người thân thích khác với nạn nhân (chiếm 5,9%); 37 bị cáo là giáo viên, cán bộ, nhân viên tại các cơ sở giáo dục (chiếm 0,5%); 776 bị cáo là người có trách nhiệm chăm sóc, chữa bệnh, người quen của trẻ em (chiếm 10,6%); 20 bị cáo là người nước ngoài (chiếm 0,3%); còn lại chủ yếu là các đối tượng khác (82,7%).
Trong tổng số các tội phạm xâm hại trẻ em đã bị đưa ra xét xử:
+ Chiếm phần lớn là các hành vi xâm hại tình dục trẻ em: 5.851 vụ với 6.165 bị cáo đã đưa ra xét xử sơ thẩm (89% số vụ và 84% số bị cáo). Trong đó: chiếm tới 46% là hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; 29,2% hành vi hiếp dâm người dưới 16 tuổi; 13,1% hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi; 0,7% hành vi cưỡng dâm người dưới 16 tuổi;
+ Hành vi bạo lực trẻ em: có 514 vụ/769 bị cáo đã đưa ra xét xử sơ thẩm (8,7% số vụ và 11,5% số bị cáo);
+ Mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em: có 180 vụ/350 bị cáo đã đưa ra xét xử sơ thẩm (2,7% số vụ và 4,8% số bị cáo);
+ Còn lại là các hành vi xâm hại khác.
Hậu quả của hành vi xâm hại trẻ em gây ra thường rất nghiêm trọng, kết quả xét xử các vụ án xâm hại trẻ em tại các Tòa án:
+ Số trẻ em tử vong do bị xâm hại: 100 em,
+ Số trẻ em bị thương tật do bị xâm hại: 199 em,
+ Số trẻ em bị rối loạn tâm thần do bị xâm hại: 51 em,
+ Số trẻ em có thai do bị xâm hại tình dục: 251 em,
+ Số trẻ em phải bỏ học do bị xâm hại: 84 em,
+ Số trẻ em bị các tác động khác về thể chất, tinh thần do bị xâm hại: 6.969 em.
Một số tội phạm xâm hại trẻ em ngoài việc gây tổn hại về thể chất như thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; từ 61% trở lên; có trường hợp trẻ em bị hoảng loạn tinh thần, tổn thương sâu sắc về mặt tâm lý…

Từ thực tiễn nêu trên cho thấy, số các vụ án về tội phạm xâm hại trẻ em là rất lớn, trong đó nhiều nhất là xâm hại tình dục trẻ em. Thời gian qua, các tội phạm xâm hại tình dục đối với trẻ em diễn biến phức tạp, có xu hướng gia tăng, nhiều vụ việc nghiêm trọng xảy ra gây bức xúc trong dư luận xã hội. Bên cạnh đó, việc triển khai các quy định của BLHS, BLTTHS, các đạo luật có liên quan và hướng dẫn thi hành trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án xâm hại tình dục cũng phát sinh một số khó khăn, vướng mắc. Để kịp thời phòng ngừa, đấu tranh với loại tội phạm này, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên; ngày 20/9/2019, Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã thông qua Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của BLHS và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi. Nghị quyết gồm 08 điều, trong đó có các nội dung hướng dẫn cụ thể về các tình tiết xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi, bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác trên cơ thể, dụng cụ tình dục hoặc dụng cụ khác được sử dụng vào hoạt động tình dục; giải thích cụ thể thế nào là hành vi giao cấu, hành vi quan hệ tình dục khác, hành vi dâm ô, trình diễn khiêu dâm, các hình thức biểu hiện trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm…
Nghị quyết cũng hướng dẫn cụ thể về một số tình tiết định tội, tình tiết định khung hình phạt; các trường hợp loại trừ xử lý hình sự; nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi và việc tổ chức xét xử vụ án xâm hại tình dục có bị hại là người dưới 18 tuổi. Tóm lại, Nghị quyết được ban hành có ý nghĩa quan trọng trong việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS năm 2015 về các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và đảm bảo áp dụng đúng, thống nhất, phù hợp với quy định pháp luật trong nước cũng như quốc tế.
Ngoài ra, TANDTC đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tiến hành tố tụng ở Trung ương trong việc hướng dẫn áp dụng pháp luật, chỉ đạo xử lý, giải quyết các vụ án xâm hại trẻ em, nâng cao hiệu quả trong công tác phòng chống loại tội phạm này, cụ thể: Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 quy định về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng Điều 150 về tội mua bán người và Điều 151 về tội mua bán người dưới 16 tuổi của Bộ luật Hình sự. Chánh án TANDTC ban hành Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21/9/2018 quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Toà gia đình và người chưa thành niên. Thông tư này đã quy định về việc xét xử vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi hoặc vụ án hình sự có người bị hại là người dưới 18 tuổi bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lý hoặc cần sự hỗ trợ về điều kiện sống, học tập do không có môi trường gia đình lành mạnh như những người dưới 18 tuổi khác thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên.

3.Thực trạng và giải pháp trong xét xử các vụ án xâm hại trẻ em

Thực trạng xét xử các vụ án xâm hại trẻ em thời gian từ ngày 01/01/2015 đến ngày 30/6/2019, cho thấy các Tòa án đã phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cùng cấp từ giai đoạn điều tra, truy tố để giải quyết kịp thời, đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội và áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với những hành vi xâm hại trẻ em, nhất là hành vi xâm hại tình dục trẻ em.
Ví dụ: Vụ án Liễu Diệp Quần (sinh năm 1987; trú tại thôn Dục Thanh, thị trấn Bách Thạch Sơn, thành phố Giao Hà, tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc), Quần và Quách Đại Phát nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, ngày 26/02/2014, đột nhập vào nhà anh Long Văn Linh (huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn), bị cháu Long Thanh Tuyền phát hiện (cháu Long ở nhà một mình, khi bị xâm hại là 10 tuổi), Quần và Phát đã dùng dao cắt cổ cháu Tuyền đến chết. TANDCC tại Hà Nội xử phạt Liễu Diệp Quần tử hình về tội “Giết người” với tình tiết định khung tăng nặng “giết trẻ em” (Bản án hình sự phúc thẩm số 307/2016/HSPT ngày 23/5/2016).
Tuy nhiên, việc giải quyết các vụ án xâm hại trẻ em còn gặp nhiều khó khăn, có nhiều trường hợp, khi xảy ra sự việc trẻ bị xâm hại, gia đình ngại tố cáo tội phạm hoặc chính tội phạm là người thân trong gia đình nên dấu kín vì sợ tai tiếng và mặc cảm. Hoặc do tác động tiêu cực của văn hóa phẩm kích động, bạo lực, phim ảnh khiêu dâm, kích dục trên internet. Tình trạng không có việc làm, trình độ văn hóa thấp, không hiểu biết pháp luật, coi thường pháp luật. Sự xuống cấp về đạo đức của một số không ít người là nguyên nhân chính gây ra tình trạng xâm hại trẻ em, có nhiều trường hợp là cha đẻ.
Ví dụ: Vụ án Phạm Văn Hoanh (sinh năm 1982; trình độ văn hóa: Lớp 3/12; trú tại thôn Trường An, xã Ba Thành, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi), sau khi ly hôn vợ, Hoanh ở cùng con gái là cháu Phạm Thị Hiếu (khi bị xâm hại là 12 tuổi 04 tháng). Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2015 đến tháng 3/2016, Hoanh đã 03 lần thực hiện hành vi dùng miệng, tay kích thích vào bộ phận sinh dục của cháu Hiếu nhằm giao cấu với cháu Hiếu nhưng không thành. TANDCC tại Đà Nẵng đã xử phạt Phạm Văn Hoanh 15 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em” (Bản án hình sự phúc thẩm số 68/2017/HSPT ngày 27/3/2017).
Ví dụ: Vụ án Đoàn Huy Hoàng (sinh năm 1982; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; trú tại ấp Cấp Rang, xã Suối Tre, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai), do có mâu thuẫn với vợ, ngày 07/01/2015, Hoàng đã dùng dao giết vợ và đâm một nhát vào ngực con trai là cháu Đoàn Phi Long (khi bị xâm hại là 12 tuổi) gây thương tích cho cháu Long tỷ lệ thương tật 57%. TAND tỉnh Đồng Nai xử phạt Đoàn Huy Hoàng tử hình về tội “Giết người” với tình tiết định khung tăng nặng “giết trẻ em” (Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2017/HSST ngày 27/6/2017).
Do đặc điểm về tâm sinh lý của trẻ em, sự bồng bột thiếu suy nghĩ và non nớt về trí tuệ, trình độ nhận thức còn nhiều hạn chế, thiếu kiến thức về xã hội và pháp luật là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ em bị xâm hại. Về thể chất, các em còn chưa phát triển đầy đủ, chưa có khả năng chống cự lại những hành vi xâm hại của tội phạm.
Ví dụ: Vụ án Nguyễn Văn Mười (sinh năm 1972; trú tại tổ 25, ấp Thành Phú, xã Thành Lợi, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long), sau khi uống rượu và xem phim sex, thấy cháu Phạm Ngọc Bích đi ngang qua nhà, Mười đã thực hiện hành vi hiếp dâm cháu Bích (khi bị xâm hại là 07 tuổi 07 tháng); sau đó, Mười giết cháu Bích để che giấu tội phạm. TANDCC tại Tp Hồ Chí Minh kết án Nguyễn Văn Mười tử hình về tội “Giết người”, 12 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em”; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là tử hình (Bản án hình sự phúc thẩm số 465/2017/HSPT ngày 30/8/2017).
Đối với việc giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em hiện nay cho thấy, việc phát hiện, thu thập tài liệu chứng cứ ban đầu như các dấu vết, mẫu tinh dịch, mẫu AND của đối tượng gây án để lại trên người và quần áo của nạn nhân hoặc ở hiện trường còn gặp nhiều khó khăn vì có nhiều trường hợp, trẻ em bị xâm hại tình dục, khi gia đình biết đã lưỡng lự trong việc giải quyết dẫn đến khai báo muộn, hoặc không biết cách thu giữ vật chứng cần thiết để giao nộp cho cơ quan chức năng, dẫn đến việc vô hình chung đã tạo điều kiện để người phạm tội có đủ thời gian xóa dấu vết. Do đó, việc thu thập chứng cứ đầy đủ, chính xác gặp nhiều khó khăn (không thu được tinh dịch, vùng kín bị hóa sẹo…) nên rất khó để xác định người bị hại có bị hiếp dâm hay không và ai là người thực hiện hành vi phạm tội. Có trường hợp, việc xác định độ tuổi của trẻ bị xâm hại có nhiều mâu thuẫn, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng, dẫn đến việc vụ án phải điều tra lại nhiều lần, kéo dài thời gian giải quyết.

4. Giải pháp đưa ra trong xét xử các vụ án xâm hại trẻ em

– TAND các cấp cần tiếp nhận, giải quyết kịp thời, xử lý nghiêm các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em; Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo việc rà soát hồ sơ, vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em để xử lý dứt điểm, có giải pháp tích cực trong việc xử lý các vụ án xâm hại trẻ em, không để tồn đọng, kéo dài.
– Tổ chức các lớp tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ xét xử để nâng cao năng lực và kỹ năng xét xử cho các Thẩm phán được giao nhiệm vụ giải quyết các vụ án về xâm hại trẻ em, bảo đảm nhận thức, áp dụng đúng đắn thống nhất pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em. Đối với các vụ án xâm hại trẻ em đã xảy ra, bên cạnh việc đấu tranh, xử lý đối tượng phạm tội thì Thẩm phán phải là người hiểu tâm lý và thân thiện với trẻ em là nạn nhân trong vụ án.
– TAND các cấp cần chủ động phối hợp với Cơ quan điều tra, VKSND cùng cấp ngay từ giai đoạn điều tra, truy tố để kịp thời nắm bắt diễn biến vụ án để lên kế hoạch xét xử, đảm bảo kịp thời giải quyết các vụ án xâm hại trẻ em được nhanh chóng, đúng thời hạn luật định và xử lý nghiêm khắc đối với loại tội phạm xâm hại trẻ em; rà soát hồ sơ, xử lý dứt điểm không để tồn đọng việc xâm hại trẻ em. Ngoài ra, tổ chức thực hiện tốt và có hiệu quả quy trình, thủ tục xét xử thân thiện đối với trẻ em, đặc biệt là trẻ em bị xâm hại tình dục.
– Nâng cao hiệu quả điều tra, xử lý tội phạm xâm hại trẻ em, cần xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật, kiên quyết đấu tranh không để lọt tội phạm. Trong công tác tổ chức các phiên tòa xét xử các vụ án hình sự về các tội xâm hại đối với trẻ em, nhất là xâm hại tình dục đối với trẻ em, các Tòa án cần cân nhắc kỹ lưỡng, đảm bảo vừa làm rõ các tình tiết của vụ án, đồng thời đảm bảo thuần phong mỹ tục, các yếu tố văn hóa, bảo vệ danh dự, nhân phẩm của trẻ em. Hình phạt áp dụng đối với các tội xâm hại trẻ em cần phải đảm bảo nghiêm minh, đúng quy định, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về xâm hại trẻ em nói riêng.
– Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các văn bản pháp luật tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình xét xử, góp phần xử lý nghiêm minh các vụ án xâm hại trẻ em nói chung và xâm hại tình dục trẻ em nói riêng.
– Hiện nay, Tòa gia đình và người chưa thành niên đã được triển khai ở 03 TANDCC và 38 tỉnh, thành phố ở Việt Nam. Đây là một cột mốc quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp cũng như cụ thể hóa chủ trương, đường lối của đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước nhằm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và xử lý người chưa thành niên phạm tội. Trong thời gian tới, với việc tội phạm xâm hại trẻ em ngày càng gia tăng, cần thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên tại tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước. Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em nói chung và trẻ em là nạn nhân trong các vụ án hình sự nói riêng cần được quan tâm hơn nữa; cần đổi mới cách thức và tổ chức hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng mà trước hết là Tòa án để bảo đảm việc tiến hành tố tụng không gây tác động xấu đến tâm sinh lý của trẻ em; xây dựng cơ chế hữu hiệu để tư vấn, hỗ trợ các nạn nhân là trẻ em bị tổn hại về tinh thần và sức khỏe, giúp các em phục hồi và phát triển lành mạnh.

PHẠM THỊ BÍCH NGỌC (Vụ Giám đốc, kiểm tra 1, TANDTC)

Nguồn: Hocluat.vn

Bàn về lỗi cố ý gián tiếp hay lỗi vô ý vì quá tự tin dưới góc độ tâm lý tội phạm
Thực tiễn cho thấy việc đánh giá để phân biệt lỗi cố ý gián tiếp và lỗi vô ý vì quá tự tin là một quá trình phân tích phức tạp do phải chứng minh yếu tố chủ quan trong ý thức của người phạm tội.

Bàn về lỗi cố ý gián tiếp hay lỗi vô ý vì quá tự tin dưới góc độ tâm lý tội phạm

Theo quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi 2017):
Lỗi cố ý gián tiếp là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra (Khoản 2 Điều 10). Còn lỗi vô ý vì quá tự tin là trường hợp người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được (Khoản 1 Điều 11).
Những trường hợp thường xảy ra nhầm lẫn trong phân biệt lỗi để định tội danh trong hoạt động tố tụng như tội Giết người (với lỗi cố ý gián tiếp) với tội Vô ý làm chết người; tội Giết người với tội Cố ý gây thương tích (trường hợp dẫn đến chết người); tội Giết người với tội Cản trở giao thông đường bộ (hành vi rải đinh, đặt vật cản trên đường bộ dẫn đến hậu quả chết người), giữa việc định tội danh về xâm phạm sở hữu và tội giết người hay chỉ định tội về tội xâm phạm sở hữu với tình tiết định khung “làm chết người”?…
Điểm khác biệt lớn nhất và qua đó có thể phân biệt được nằm ở lý trí của người phạm tội thông qua việc trả lời câu hỏi người phạm tội “bỏ mặc, chấp nhận hậu quả nếu nó xảy ra” hay chỉ là “tin rằng hậu quả không xảy ra”. Chính bởi yếu tố quyết định để có thể nhận định lại nằm trong ý thức chủ quan nên cách phân biệt chính xác nhất không chỉ dựa vào lời khai của người phạm tội trong quá trình tố tụng, vào các biểu hiện khách quan như vị trí bị tấn công trên cơ thể người bị hại, mức độ của hành vi tấn công… mà còn phải kiểm chứng thông qua các biểu hiện ra bên ngoài (biểu hiện tâm lý) của người phạm tội.
Dưới góc độ tâm lý, chúng ta có thể thấy diễn biến trong ý thức của người phạm tội trong suốt quá trình thực hiện tội phạm như sau:

Trường hợp 1: Vô ý vì quá tự tin
Trường hợp 1: Vô ý vì quá tự tin

Trong trường hợp này, trước khi bắt tay vào thực hiện tội phạm, người phạm tội hình dung được cả hai khả năng, đó là (1) khả năng sẽ không xảy ra hậu quả và (2) khả năng xảy ra hậu quả nguy hiểm. Tuy nhiên, điểm mấu chốt ở chỗ, thời điểm chính thức thực hiện hành vi, người phạm tội đã tự loại trừ khả năng xảy ra hậu quả (khả năng 2), và trong ý thức chủ quan lúc này chỉ còn lại khả năng sẽ không để lại hậu quả (khả năng 1), việc loại trừ này phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có thể về chủ quan do người phạm tội tin tưởng vào khả năng, kinh nghiệm của mình, cũng có thể do đánh giá các yếu tố khách quan như thời gian, địa điểm, thời tiết, thậm chí tin tưởng vào chính “xử sự” của nạn nhân… Chính bởi sự loại trừ này nên người đó mới quyết định thực hiện hành vi nguy hiểm. Vì vậy, về biểu hiện tâm lý, nếu hậu quả thực tế xảy ra thật thì người phạm tội sẽ bị bất ngờ do nằm ngoài tính toán của mình.

Trường hợp 2: Cố ý gián tiếp
Trường hợp 2: Cố ý gián tiếp

Do vậy, việc phân biệt chính xác được hai loại lỗi này có ý nghĩa rất lớn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, là cơ sở để xác định tội danh đúng và qua đó đảm bảo việc quyết định hình phạt có căn cứ và đúng quy định của pháp luật./.Trong trường hợp này, trước khi bắt tay vào thực hiện tội phạm, người phạm tội cũng hình dung được cả hai khả năng, đó là (1) khả năng sẽ không xảy ra hậu quả và (2) khả năng xảy ra hậu quả  nguy hiểm. Tuy nhiên, điểm khác biệt so với vô ý vì quá tự tin ở chỗ, thời điểm chính thức thực hiện hành vi và kể cả sau đó, người phạm tội vẫn hình dung trong ý thức của mình cả hai khả năng đều có thể xảy ra và sẵn sàng chấp nhận cả hai khả năng nếu thực tế nó xảy ra. Do đó về biểu hiện tâm lý, nếu hậu quả thực tế xảy ra thật thì cũng đã nằm trong tính toán và người phạm tội hoàn toàn không bị bất ngờ.

Nguồn: Hocluat.vn
Tích tụ đất trong nông nghiệp – thực trạng và các kiến nghị chính sách

Tóm tắt: Những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về tích tụ ruộng đất, mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp. Trên thực tế, quá trình tích tụ ruộng đất, mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp dù đã có nhiều thành tựu, nhưng cũng đang gặp phải nhiều vấn đề phức tạp, khó khăn phải giải quyết bằng các chính sách, giải pháp, biện pháp cụ thể, thấu đáo. Đặc biệt là vấn đề bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của người dân khi tích tụ đất nông nghiệp. Bài viết nêu rõ thực trạng này và đưa ra các kiến nghị chính sách.

Mục lục:

  1. Chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tích tụ đất nông nghiệp
  2. Khái quát tình hình tích tụ đất trong nông nghiệp
  3. Một số kiến nghị

Đất nông nghiệp

1. Chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tích tụ đất nông nghiệp

Chủ trương về tích tụ đất nông nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn được đưa ra lần đầu tiên trong Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (Nghị quyết số 26-NQ/TW).
Nhiều vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn được đề cập và định hướng phát triển một cách toàn diện, bền vững trong Nghị quyết số 26-NQ/TW. Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân. Như vậy, lần đầu tiên, vấn đề tích tụ đất nông nghiệp được Nghị quyết số 26-NQ/TW đưa ra. Đồng thời, những vấn đề về vốn, đào tạo nghề, đào tạo cán bộ quản lý, hỗ trợ chuyển đổi nghề, hạn mức giao đất nông nghiệp… cũng được đưa ra với mục tiêu là nhằm phát triển bền vững, toàn diện nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đây là chìa khóa để quá trình tích tụ đất nông nghiệp diễn ra sâu, rộng.
Tích tụ đất nông nghiệp
 
Thực hiện các chủ trương của Đảng, Luật Đất đai đã có những quy định cụ thể về tích tụ đất đai. Luật Đất đai năm 2003, đã được sửa đổi và sau đó được thay thế bằng Luật Đất đai năm 2013, có hiệu lực thi hành từ 01/7/2014, đã ảnh hưởng rất lớn tới quá trình tích tụ và tập trung đất ở nước ta.
Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã có Nghị quyết số 19-NQ/TƯ ngày 31/10/2012 Về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nghị quyết đã có nhiều định hướng quan trọngtrong việcđổi mới chính sách, pháp luật về đất đai. Đối với chính sách giao đất, cho thuê đất, Nghị quyết chỉ rõ: “Tiếp tục giao đất, cho thuê đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng có thời hạn theo hướng kéo dài hơn quy định hiện hành để khuyến khích nông dân gắn bó hơn với đất và yên tâm đầu tư sản xuất. Đồng thời, mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất (QSDĐ) nông nghiệp phù hợp với điều kiện cụ thể từng vùng, từng giai đoạn để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích tụ đất đai, từng bước hình thành những vùng sản xuất hàng hoá lớn trong nông nghiệp. Sớm có giải pháp đáp ứng nhu cầu đất sản xuất và việc làm cho bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số đang không có đất sản xuất”.

Để cụ thể hóa các chủ trương, chính sách và pháp luật về đất đai, Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp đã ban hành nhiều văn bản về tích tụ, tập trung đất đai, đề ra các nhiệm vụ và cách thức thực hiện để tích tụ, tập trung đất đai trở thành một xu hướng tích cực trong sản xuất nông nghiệp (SXNN) ở nước ta thời gian qua. Tuy nhiên, với thực trạng nền nông nghiệp cũng như thực trạng sử dụng đất của người nông dân hiện nay, chủ trương tích tụ ruộng đất, mở rộng hạn mức nhận chuyển QSDĐ nông nghiệp dù đã có nhiều thành tựu, nhưng cũng đang gặp phải nhiều vấn đề phức tạp, khó khăn phải giải quyết bằng các chính sách, giải pháp, biện pháp cụ thể, thấu đáo. Đặc biệt là vấn đề bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của người dân khi tích tụ đất nông nghiệp.

2. Khái quát tình hình tích tụ đất trong nông nghiệp

Trong thời gian gần đây, đóng góp của đất đai vào tăng trưởng nông nghiệp dường như đã tới hạn. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản lượng nông nghiệp bình quân trên 01 hecta đất của Việt Nam đang giảm dần và thấp hơn các nước trong khu vực. Ruộng đất phân tán, manh mún là cản trở chính cho việc nâng cao hiệu quả và giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích đất trong quá trình tái cơ cấu nông nghiệp. Diện tích đất bình quân hộ nông nghiệp chỉ vào khoảng 0,46 ha, và trung bình được chia thành 2,83 mảnh. Quy mô diện tích đất của hộ nông dân Việt Nam thấp hơn Trung Quốc và thấp hơn rất nhiều so với các nước khác ở châu Á, châu lục vốn được coi là nơi “đất chật, người đông”. Do vậy, tích tụ ruộng đất trở thành một giải pháp giúp nâng cao hiệu quả SXNN, thông qua việc mở rộng quy mô sản xuất phù hợp, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ và hình thành các vùng chuyên canh theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường.

2.1 Các hình thức tích tụ đất nông nghiệp chủ yếu

2.1.1 Hình thức chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp giữa các hộ nông dân với nhau 

Chuyển nhượng QSDĐ giữa các hộ nông dân với nhau (hay còn gọi là mua bán đất đai ở nông thôn) hiện nay hoàn toàn theo cơ chế thị trường, cung cầu gặp nhau, thỏa thuận giá cả và các điều kiện cần thiết theo cơ chế thị trường. Có người cần bán, gặp người cần mua, hình thành một cuộc thỏa thuận, nếu thành công sẽ có một vụ chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp. Nhà nước chỉ đóng vai trò theo dõi và quản lý biến động về đất đai theo quy định của Luật Đất đai. Theo quy định của luật, tất cả các trường hợp chuyển nhượng QSDĐ phải làm các đầy đủ các thủ tục sang tên trước bạ, chuyển QSDĐ từ người này sang người khác và phải nộp đầy đủ các loại phí, thuế theo quy định. Tuy nhiên, trong thực tế, vì những lý do khác nhau mà nhiều trường hợp chuyển nhượng QSDĐ cho nhau chỉ viết giấy trao tay, hoặc có sự làm chứng của hàng xóm là đủ.
Có nhiều nguyên nhân của việc các hộ nông dân chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp. Có thể vì lý do hộ nông dân muốn chuyển đổi nghề nghiệp, vì lý do thiếu lao động, do sản xuất kém hiệu quả so với các ngành khác… hay vì các nguyên nhân khác nữa, người nông dân bán một phần hoặc toàn bộ ruộng đất.
Tuy tỷ lệ số hộ sẵn lòng nhượng đất nông nghiệp ở các vùng không giống nhau vì nhiều nguyên nhân nhưng kết quả điều tra cho thấy, xu hướng chuyển nhượng bớt QSDĐ khi người nông dân không (hoặc ít) có nhu cầu SXNN nữa hoặc thấy rằng, SXNN cho hiệu quả thấp, đang ngày càng tăng lên ở tất cả các vùng. Do vậy, cơ hội để cho những người có nhu cầu, có khả năng về tiền vốn đầu tư, có tâm huyết với sản xuất nông, lâm nghiệp tích tụ đất đai để tăng quy mô diện tích, đầu tư cho sản xuất. Việc tích tụ nhanh hay chậm tùy thuộc khả năng của mỗi người, và khi tích tụ đến quy mô diện tích đủ lớn thì hình thành nên những trang trại sản xuất nông lâm nghiệp. Để phát triển sản xuất hàng hóa tập trung, việc tích tụ hình thành các trang trại có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.
Nhìn chung, đối tượng nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp chủ yếu là hộ nông dân, người trong cùng xã. Phần lớn các hộ nhận chuyển nhượng để tích tụ thêm đất cho SXNN. Tuy nhiên, đối tượng là doanh nhân, cán bộ công chức ở ngoài xã muốn tích tụ đất đai tuy ít nhưng có xu hướng tăng lên, chính điều này đã đẩy giá đất lên cao, gây khó khăn cho người nông dân muốn tích tụ đất đai.
Một ví dụ để thấy được xu hướng và kết quả của chuyển nhượng nhằm tích tụ đất nông nghiệp là: Theo kết quả Tổng Điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011 thì năm 2011, số hộ của cả vùng đồng bằng sông Hồng là 1.822.682 hộ, đã giảm 301.593 hộ so với năm 2006. Nhờ có chuyển nhượng và tích tụ đất nông nghiệp mà bình quân diện tích đất lúa của hộ tại vùng này trong giai đoạn 2006 – 2011 tăng 302,55 m2 từ 3.098,75 m2 lên 3.401,30 m2.
Quy mô và tốc độ chuyển nhượng đất nông nghiệp trong tổng số mảnh đất nông nghiệp vùng Đông Nam Bộ là cao nhất cả nước trong giai đoạn 1994 -2003, tuy nhiên đến sau năm 2003 thì tỷ lệ chuyển nhượng đất tại khu vực vực này giảm mạnh tụt xuống vị trí thứ hai sau vùng Tây Nguyên. Giai đoạn 1994 -2003 là giai đoạn tăng mạnh về giao dịch đất nông nghiệp thông qua hình thức chuyển nhượng, nhưng sau năm 2003 thì quy mô bắt đầu giảm xuống.
Trong những năm qua, đặc biệt là sau khi Luật Đất đai năm 2013 được ban hành, tình hình chuyển nhượng đất giữa các hộ có sự thay đổi nhất định. Ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, số thửa ruộng của một hộ có giảm đi, nhưng quy mô đất canh tác của một hộ nông dân tăng không đáng kể do các hộ nông dân không muốn nhượng QSDĐ nông nghiệp cho người khác. Ở các vùng chuyên canh phía Nam, tình hình chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp đạt kết quả khá hơn ở phía Bắc nhưng cũng chưa tạo đủ tiền đề để hình thành nền kinh tế trang trại quy mô lớn một cách phổ biến.
Hình thức chuyển nhượng đất giữa các hộ là hình thức khá hiệu quả đối với các hộ có nhu cầu mở rộng SXNN, là một trong những hình thức nên được khuyến khích. Đặc biệt, những nông dân giỏi, có năng lực tài chính lựa chọn hình thức mua đứt bán đoạn các mảnh đất xung quanh khu đất của mình qua từng năm để hình thành quy mô đủ lớn là phù hợp nhất. Hình thức này có tiềm năng thực hiện ở phía Nam, đặc biệt vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, người dân có tư tưởng thoáng hơn về mua bán đất do không bị nặng nề tâm lý giữ đất như một hình thức bảo hiểm hoặc do các nguyên nhân về văn hóa truyền thống. Hiệu quả kinh tế của hình thức này tương đối cao do các nông dân sản xuất giỏi sẽ chủ động tích tụ đất, áp dụng khoa học kỹ thuật và cơ giới hóa trong dài hạn để nâng cao hiệu quả sản xuất. Thêm vào đó, họ nắm giữ QSDĐ nên yên tâm đầu tư phát triển lâu dài, có thế chấp vay vốn các tổ chức tín dụng để sản xuất kinh doanh. Việc nông dân nhận quyền sử dụng từ nông dân khác cũng có nhiều thuận lợi do mối quan hệ cộng đồng làng xã láng giềng, hoặc bạn bè nên dễ tiếp cận và thuyết phục hộ có khả năng chuyển nhượng đất hơn.
Cản trở chính của hình thức tích tụ ruộng đất này là nguồn cung đất hạn chế khi lao động nông nghiệp dôi dư còn tương đối cao, tâm lý lo ngại công việc không ổn định, khi gặp khó khăn đất nông nghiệp vẫn là tài sản để bảo đảm cuộc sống nên ít hộ sẵn sàng bán đất (đặc biệt là ở các tỉnh miền Bắc). Giá đất nhận chuyển nhượng ngày càng tăng cũng là nguyên nhân khiến cho nông dân ngày càng khó tiếp cận với thị trường này. Nhiều hợp đồng chuyển nhượng đất giữa các hộ chỉ được xác nhận bằng giấy viết tay giữa các hộ, có sự làm chứng của các hộ xung quanh nên cơ sở pháp lý không vững chắc. Trong khi đó, khung pháp lý hiện tại vẫn còn nhiều hạn chế khi đặt ra hạn mức nhận chuyển nhượng, quy định đối tượng nhận chuyển nhượng đối với đất lúa, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và thuế chuyển nhượng đất nông nghiệp cao tương đương như các bất động sản khác. Hơn nữa, chưa có quy định về diện tích tối thiểu hoặc thuế thừa kế QSDĐ nông nghiệp khi tách hộ. Bên cạnh đó, việc chuyển nhượng đất nông nghiệp sẽ phải nộp thuế thu nhập cá nhân ở mức 2% của giá chuyển nhượng là con số cao so với lợi nhuận có thể tạo ra từ SXNN.

2.1.2 Hình thức doanh nghiệp nhận chuyển nhượng đất của nông dân

Đây là hình thức doanh nghiệp nhận chuyển nhượng đất của nhiều hộ nông dân trong cùng một vùng liền kề với nhau, sau đó đăng ký thuê lại của chính quyền địa phương, để tạo ra một vùng nguyên liệu nông nghiệp cung cấp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ có một vùng nguyên liệu ổn định để đầu tư dài hạn, có thể sử dụng QSDĐ để thế chấp vay vốn từ các tổ chức tín dụng. Về phía nông dân thì có thêm một khoản tài chính đề đầu tư chuyển đổi nghề nghiệp khi thấy nghề nông đã không còn đem lại hiệu quả kinh tế cao đối với họ hoặc họ có thể được ưu tiên làm thuê cho doanh nghiệp.
Thời gian qua, số lượng doanh nghiệp đã tăng nhiều so với năm 2007, tuy nhiên số doanh nghiệp làm nông, lâm, thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng rất nhỏ, chỉ khoảng 1,4% trong tổng số doanh nghiệp, trong đó có đến 96% là doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Các tỉnh ở miền Nam có quy mô diện tích trung bình hộ lớn nên doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn trong việc mua đất từ nông dân để sản xuất lớn. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, giá đất chuyển nhượng cao hiện là cản trở lớn đối với doanh nghiệp muốn tích tụ, đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thêm vào đó, nông dân cũng chưa sẵn sàng bán đất cho doanh nghiệp. Việc tích tụ diện tích theo nhu cầu của doanh nghiệp sẽ gặp một số khó khăn nếu diện tích mà các hộ sẵn sàng bán chưa đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Một vấn đề vướng mắc khác trong việc thực hiện các giao dịch mua đất của doanh nghiệp với hộ dân là việc mảnh đất của hộ chưa có sổ đỏ hoặc mảnh đất của hộ đang thế chấp tại ngân hàng.
Doanh nghiệp cũng ít chủ động mua đất nông nghiệp của hộ nông nghiệp để sản xuất quy mô lớn vì giá mua đất nông nghiệp cao (giá giao dịch hiện tại ở vùng đồng bằng sông Cửu Long vào khoảng 1-2 tỷ đồng/ha đối với đất lúa, 3 – 5tỷ đồng/ha đối với đất vườn) nên khó tạo ra lợi nhuận đủ hấp dẫn so với số vốn bỏ ra ban đầu để mua đất nếu chỉ SXNN. Thông thường, doanh nghiệp thực sự đầu tư kinh doanh nông nghiệp chỉ mua đất trong trường hợp của các hộ liền kề hoặc nằm rải rác ở giữa vùng chuyên canh đã được quy hoạch của họ.
Không chỉ về vấn đề giá mà việc thỏa thuận giá với mỗi người dân để hình thành quy mô đất đủ lớn quá phức tạp và tốn thời gian nên hình thức này vẫn chưa phổ biến. Ngoài ra, việc giới hạn đối tượng nhận chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp, thuế và phí liên quan đến chuyển nhượng đất (bao gồm rất nhiều loại thuế, phí như thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính, lệ phí thẩm định…) làm tăng chi phí đầu tư cho doanh nghiệp, thủ tục hành chính nhận QSDĐ nông nghiệp còn nhiều phức tạp (Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT, 2016) cũng là một lý do cản trở việc doanh nghiệp đầu tư mua đất mở rộng sản xuất. Mặt khác, Luật Đất đai năm 2013 quy định theo hướng hạn chế các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, mặc dù đã có cơ chế tự thỏa thuận nhận QSDĐ để thực hiện dự án đầu tư nhưng nhiều trường hợp khó đạt được sự đồng thuận cao của người sử dụng đất nên khó tích tụ được đất đai.
Như vậy, để áp dụng hình thức này, doanh nghiệp cần tiếp cận với nguồn cung đất đủ lớn để có thể đầu tư quy mô lớn. Chí phí đầu tư ban đầu để doanh nghiệp mua đất là quá lớn so với lợi nhuận doanh nghiệp có thể tạo ra từ sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, do đó doanh nghiệp cần nguồn vốn tín dụng lớn và trong thời gian đủ để hoạt động nông nghiệp có thể sinh lời (thường là từ 5 năm trở lên nếu trồng các loại cây ăn trái và 2 năm trở lên đối với các loại rau mầu). Doanh nghiệp cũng rất cần được giảm chi phí giao dịch và đơn giản hóa thủ tục. Cần có một đầu mối trung gian để thực hiện giao dịch vì nếu muốn tập trung một diện tích đủ lớn, doanh nghiệp phải làm hợp đồng với rất nhiều hộ dân với nhu cầu giá cả khác nhau.

2.2 Bước đầu đánh giá hiệu quả của các hình thức tích tụ đất và những vấn đề nảy sinh trong quá trình tích tụ đất trong nông nghiệp 

Nhu cầu tích tụ đất đai để SXNN với quy mô lớn là rất cần thiết tại các địa phương. Các địa phương đã tích cực, chủ động triển khai nhiều giải pháp đẩy mạnh tích tụ đất đai để sản xuất hàng hóa với quy mô lớn hơn phù hợp với đặc điểm của địa phương mình. Các quy định của pháp luật về quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn bằng QSDĐ đã đáp ứng được một phần nhu cầu tích tụ đất nông nghiệp để sản xuất, tác động tích cực trong việc đầu tư trên đất, tạo điều kiện cho nhà đầu tư yên tâm đầu tư.
Thực tế cho thấy, mặc dù các mô hình tích tụ ruộng đất hiện nay đều mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội nhất định cho các bên tham gia nhưng những khó khăn trong việc tích tụ đất đai đang là rào cản thu hút cá nhân, doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp. Trong khi đó đầu tư vào nông nghiệp rủi ro lớn, thời gian thu hồi vốn dài. Hiện nay, không nhiều mô hình tích tụ đất đai đạt được cả ba tiêu chí: công bằng, bền vững và hiệu quả.
Bước đầu, chúng ta có thể đánh giáhiệu quả của các hình thức tích tụ đất và những vấn đề nảy sinh trong quá trình tích tụ đất trong nông nghiệp như sau:

2.2.1 Hình thức chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp giữa các hộ nông dân với nhau 

Điều kiện để áp dụng hình thức chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp giữa các hộ nông dân với nhau là người dân phải có nhu cầu mua/bán QSDĐ nông nghiệp và nền sản xuất hàng hóa nông nghiệp tại địa phương đó đang phát triển mạnh.
Hình thức chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp này có một số ưu điểm sau:
– Khung pháp lý và chính sách hiện hành đã khá đầy đủ để thực hiện giao dịch.
– Việc mua đứt bán đoạn tạo ra sự yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh dài hạn, bền vững.
Tuy nhiên, hình thức chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp này có một số hạn chế đáng kể như:
– Nguồn cung đất không phong phú, không tập trung nên không có nhiều sự lựa chọn.
– Người chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp thường đòi giá cao, không hợp lý
– Vốn của hộ nhận chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp thường không có nhiều nên chỉ có thể thực hiện việc chuyển nhượng một cách nhỏ lẻ, không tích tụ lớn được để sản xuất quy mô
– Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp SXNN mới được nhận chuyển nhượng QSDĐ trồng lúa theo quy định của Luật Đất đai năm 2013.
– Quy mô bị giới hạn bởi hạn mức nhận chuyển QSDĐ theo Luật Đất đai năm 2013
– Thủ tục hành chính hay gặp khó khăn vì phải xác định các nghĩa vụ tài chính của người chuyển nhượng QSDĐ và đo đạc lại mảnh đất. Người mua QSDĐ phải trả lệ phí trước bạ cũng như chi phí cấp đổi giấy chứng nhận QSDĐ.
Để phát huy ưu điểm và khắc phục các trở ngại của hình thức chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp này, Nhà nước cần có các chính sách:
– Có chính sách và có quỹ để hỗ trợ rút người lao động ra khỏi khu vực SXNN để tạo quỹ đất.
– Phát triển bảo hiểm xã hội cho những người nông dân rời bỏ khu vực nông nghiệp, tham gia vào lĩnh vực phi nông nghiệp tại nông thôn và đô thị.
– Xây dựng hệ thống quản lý đất đai điện tử để cung cấp thông tin số hóa về QSDĐ và giao dịch bất động sản, từ bỏ sự phụ thuộc vào “Sổ đỏ” và yêu cầu bắt buộc phải đăng ký vào Sổ địa chính của cơ quan đăng ký đất đai;

2.2.2 Hình thức doanh nghiệp nhận chuyển nhượng đất của nông dân

Hình thức doanh nghiệp nhận chuyển nhượng đất của nông dân cần có điều kiện áp dụng là nền sản xuất hàng hóa nông nghiệp phát triển mạnh, mức độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương nhanh, số lao động nông nghiệp ra khỏi khu vực SXNN nhiều, các doanh nghiệp kinh doanh trong các ngành công nghiệp – dịch vụ hỗ trợ SXNN đầu tư lớn và rộng khắp.
Hình thức doanh nghiệp nhận chuyển nhượng đất của nông dân có nhiều ưu điểm dễ thấy như:
– Khung pháp lý và chính sách hiện hành có đầy đủ để thực hiện giao dịch.
– Hoạt động “mua đứt bán đoạn” QSDĐ tạo ra sự yên tâm để nhà đầu tư kinh doanh sản xuất dài hạn, bền vững.
– Doanh nghiệp không bị hạn chế về diện tích có thể nhận chuyển nhượng để đăng ký thuê lại của chính quyền địa phương.
– Doanh nghiệp có đủ vốn để tích tụ đất sản xuất quy mô lớn, tăng năng suất, giảm chi phí.
– Doanh nghiệp dễ tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng.
Tuy nhiên, hình thức này cũng gặp phải một số khó khăn, vướng mắc, như:
– Nguồn cung đất không phong phú nên không có nhiều sự lựa chọn.
– Chí phí đầu tư ban đầu để doanh nghiệp mua QSDĐ đất là quá lớn so với lợi nhuận doanh nghiệp có thể tạo ra từ sản xuất, kinh doanh nông nghiệp.
– Chi phí giao dịch cao, thủ tục phức tạp, một phần là do để có diện tích đủ lớn, doanh nghiệp phải làm việc với nhiều hộ có nhu cầu và điều kiện đa dạng.
– Thủ tục phức tạp vì sau khi doanh nghiệp nhận chuyển nhượng QSDĐ của các hộ nông dân thì doanh nghiệp phải thực hiện việc chuyển sang hình thức cho thuê chứ không được cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo quy định tại Luật Đất đai năm 2013[1].
– Thiếu thông tin về giá đất, giá đất đa dạng, thỏa thuận khó.
– Không áp dụng đối với đất lúa, đất rừng phòng hộ như quy định của Luật Đất đai năm 2013.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhận chuyển nhượng QSDĐ của nông dân, bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà nước tương tự như trường hợp chuyển nhượng đất giữa các hộ nông nghiệp với nhau, Nhà nước cần đổi mới các chương trình đào tạo nghề nông thôn, huy động sự tham gia của doanh nghiệp thuê lao động đào tạo nghề theo nhu cầu của doanh nghiệp sử dụng lao động, đồng thời thành lập các tổ chức (như Trung tâm Phát triển quỹ đất, Trung tâm Thông tin, tư vấn về đất đai) để hỗ trợ, tư vấn pháp lý cho nông dân trong các giao dịch về đất đai (sử dụng nguồn lực từ quỹ phát triển đất).
Nhìn chung, hiện nay các hình thức tích tụ ruộng đất đã có hiệu quả tại nhiều địa phương, nhưng trên thực tế, vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc tích tụ đất đai. Các khó khăn, vướng mắc này đang tạo nên một số rào cản nhất định trong việc thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp cũng như nông dân muốn liên kết mở rộng sản xuất.
Tuy nhiên, với những tác động kinh tế – xã hội to lớn và khả năng áp dụng cao, các mô hình tích tụ ruộng đất hiện nay đã khẳng định tính tất yếu để chuyển đổi mô hình SXNN, nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội cho các thành phần tham gia vào quá trình công nghiệp, hóa hiện đại hóa.

3. Một số kiến nghị

Để đẩy mạnh quá trình tích tụ ruộng đất, khuyến khích nông dân, doanh nghiệp tích tụ đất nông nghiệp phục vụ sản xuất quy mô lớn, tăng hiệu quả SXNN, cải thiện đời sống cho nông dân, trong thời gian tới, Nhà nước cần tiếp tục thực hiện các giải pháp sau:
– Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách tích tụ, tập trung đất nông nghiệp, cụ thể: i) Sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013 theo hướng quy định rõ ràng việc góp vốn chuyển QSDĐ và góp vốn không chuyển QSDĐ. Xây dựng cơ chế pháp lý để doanh nghiệp nhận góp vốn thông qua nhận QSDĐ có thể thế chấp để vay vốn ngân hàng; ii) Thúc đẩy tích tụ, tập trung đất nông nghiệp thông qua tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán chuyển nhượng QSDĐ; iii) Hỗ trợ về cơ sở hạ tầng đối với các diện tích mới được tích tụ, tập trung; iv) Quy hoạch vùng chuyên canh, đẩy mạnh đầu tư theo hình thức đối tác công + tư để xây dựng cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh thu hút đầu tư của doanh nghiệp, HTX.
– Trong lĩnh vực trồng trọt, cần nới lỏng quy định cho phép cá nhân không phải hộ nông nghiệp hoặc không sống cùng địa bàn được nhận chuyển nhượng đất lúa và đất rừng phòng hộ. Giao cho địa phương thẩm định phương án chuyển đổi mục đích sử dụng đất lúa sang các mục đích nông nghiệp, chăn nuôi và thủy sản với diện tích dưới 300 ha theo quy hoạch.
– Đẩy mạnh tín dụng cho vay theo chuỗi giá trị nông nghiệp: (i) Hoàn thiện khung pháp lý để phát triển cung ứng đồng bộ các sản phẩm dịch vụ tài chính mới (như quản lý tiền mặt, quản lý tài sản, bảo hiểm thanh toán, bảo hiểm nhân thọ, phái sinh hàng hóa, đại lý ngân hàng, biên nhận lưu kho…) nhằm tăng khả năng tiếp cận tín dụng với quy mô lớn và dài hạn hơn cho nông dân, trang trại, HTX và doanh nghiệp trong nông nghiệp, nông thôn; (ii) Xây dựng cơ chế chính sách kết hợp chặt chẽ giữa các chương trình cho vay và bảo hiểm nông nghiệp theo chuỗi giá trị nông nghiệp.
– Bỏ hạn mức nhận chuyển QSDĐ nông nghiệp đối với hộ gia đình tại Khoản 1 Điều 130 Luật Đất đai năm 2013. Sử dụng hạn mức nhận chuyển nhượng hiện nay làm hạn mức đánh thuế sử dụng đất nông nghiệp. 
– Nới lỏng quy định tại khoản 3 Điều 191 Luật Đất đai 2013 theo hướng cho phép hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp SXNN được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa.
– Sửa khoản 2 Điều 191 Luật Đất đai năm 2013 “Tổ chức kinh tế không được nhận chuyển nhượng QSDĐ trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân, trừ trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt” theo hướng cho phép tổ chức kinh tế trong nước được phép nhận chuyển nhượng QSDĐ trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân nếu tổ chức kinh tế trong nước đó đáp ứng được một số điều kiện về kinh tế và tiêu chuẩn về môi trường nhất định. Sửa đổi quy định này là tạo điều kiện để các hộ gia đình, cá nhân chuyển nhượng QSDĐ trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình mình cho tổ chức kinh tế trong nước.
– Giảm thuế, phí liên quan đến chuyển nhượng đất nông nghiệp tại Luật sửa đổi các Luật về Thuế năm 2014.
– Không xác định trường hợp các hộ chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp vì mục đích tích tụ và tập trung đất nông nghiệp là chuyển nhượng bất động sản quy định tại Điều 14 Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 và miễn thuế thu nhập cá nhân đối với trường hợp hộ chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp vì mục đích tích tụ và tập trung đất nông nghiệp sản xuất quy mô lớn.
– Xây dựng cơ chế minh bạch thông tin về đất đai./.

ThS. PHAN THỊ THU HÀ

Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn

Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 15 (391), tháng 8/2019.


[1] Mặc dù số tiền mà doanh nghiệp, tổ chức kinh tế đã trả để nhận chuyển nhượng QSDĐ được khấu trừ vào tiền thuê đất phải nộp theo điểm a khoản 4 Điều 12 Nghị định 46/2014/NĐ-CP và hướng dẫn tại khoản 2 Điều 5 Thông tư 77/2014/TT-BTC nhưng doanh nghiệp vẫn không mặn mà thực hiện. Doanh nghiệp thường lựa chọn hình thức viết giấy trao tay và giữ nguyên tên chủ sở hữu.

Phạm vi tương trợ tư pháp hình sự trong một số điều ước quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Trong việc giải quyết các vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài, các quốc gia thường tìm kiếm sự hỗ trợ giúp đỡ từ các quốc gia nước ngoài bằng hình thức tương trợ tư pháp hình sự thông qua một yêu cầu tương trợ tư pháp. Yêu cầu tương trợ tư pháp được thực hiện theo cách thức với trình tự, thủ tục mà các bên có thỏa thuận và phù hợp với quy định của pháp luật quốc gia. Một trong những nội dung mà các quốc gia quan tâm khi tiếp nhận yêu cầu tương trợ tư pháp từ quốc gia yêu cầu là có thuộc phạm vi tương trợ tư pháp hay thuộc trường hợp từ chối tương trợ.
 
Mục lục:

  1. Nhận thức chung về phạm vi tương trợ tư pháp hình sự 
  2. Quy định về phạm vi tương trợ tư pháp hình sự trong một số điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự  
    • Hiệp ước tương trợ tư pháp hình sự của Liên hiệp quốc
    • Tương trợ tư pháp hình sự của Liên minh Châu Âu
    • Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự của ASEAN
  3. Phạm vi tương trợ tư pháp hình sự trong các điều ước quốc tế song phương và pháp luật Việt Nam
    • Việt Nam đã ký kết hơn 20 Hiệp định tương trợ tư pháp với các quốc gia và đang tiếp tục đàm phán ký kết các Hiệp định khác
    • Phạm vi tương trợ tư pháp hình sự trong Luật Tương trợ tư pháp năm 2007
    • Phạm vi tương trợ tư pháp hình sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
  4. Kiến nghị

Điều ước quốc tế

I. Nhận thức chung về phạm vi tương trợ tư pháp hình sự 

1. Phạm vi tương trợ tư pháp (TTTP) hình sự được hiểu là giới hạn mà trong đó các chủ thể có thẩm quyền ở các quốc gia khác nhau thực hiện một hoặc một số hoạt động nhằm hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau trong việc giải quyết vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài.
Quy định trong một số điều ước quốc tế (ĐƯQT) và pháp luật Việt Nam về phạm vi tương trợ tư pháp hình sự cho thấy những nội dung đáng chú ý sau:
Một là, phạm vi tương trợ tư pháp hình sự là giới hạn của hoạt động hợp tác quốc tế trong giải quyết vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài và là cơ sở pháp lý để các quốc gia liên quan thực hiện hoặc từ chối thực hiện nghĩa vụ tương trợ tư pháp hình sự. Căn cứ vào phạm vi tương trợ tư pháp được quy định trong pháp luật quốc gia và các Điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên, bên được yêu cầu sẽ cân nhắc các khả năng đáp ứng hay từ chối thực hiện tương trợ tư pháp của bên yêu cầu.
Hai là, phạm vi tương trợ tư pháp hình sự phải được xác định cụ thể. Phạm vi tương trợ tư pháp hình sự được xác định theo các phương pháp khác nhau (hay kỹ thuật xây dựng khác nhau). Các Điều ước quốc tế đa phương thường sử dụng kỹ thuật liệt kê các hoạt động tương trợ tư pháp hình sự. Đồng thời, trong các Điều ước quốc tế này sẽ loại trừ các hoạt động không được điều chỉnh. Mặc dù theo cách thức nào thì phạm vi này cũng phải được xác định cụ thể.
Ba là, phạm vi tương trợ tư pháp hình sự phụ thuộc vào nhu cầu hợp tác giữa các bên liên quan, tùy thuộc vào mối quan hệ cụ thể cũng như sự cần thiết tăng cường hợp tác quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự để mỗi bên xác định phạm vi tương trợ. Xu hướng chung là phạm vi tương trợ tư pháp hình sự ngày càng mở rộng.
2. Trong thực tiễn hợp tác giữa các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của các quốc gia trong việc giải quyết vụ án hình sự có thể xảy ra các hoạt động tương trợ tư pháp ở những mức độ khác nhau[1]. Thông thường, phạm vi tương trợ tư pháp hình sự thường quy định các nội dung sau: hoạt động tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp hình sự; thu thập hoặc cung cấp chứng cứ; yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự; hoạt động trao đổi thông tin hoặc các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về hình sự; yêu cầu về cung cấp lời khai qua cầu truyền hình, chuyển giao tạm thời bị can hoặc bị cáo để làm chứng tại phiên tòa hình sự tại nước yêu cầu.

II. Quy định về phạm vi tương trợ tư pháp hình sự trong một số điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự  

1. Hiệp ước tương trợ tư pháp hình sự của Liên hiệp quốc

Hiệp ước mẫu về hỗ trợ lẫn nhau trong các vấn đề hình sự A/RES/45/117 (thông qua Nghị quyết của Đại hội đồng 45/117, sau đó được sửa đổi bởi Nghị quyết Đại hội đồng 53/112) bao gồm 22 điều và 01 phụ lục quy định những nội dung căn bản của tương trợ tư pháp hình sự giữa các quốc gia.
Điều 1 Hiệp ước xác định rõ phạm vi tương trợ tư pháp hình sự: Các Bên, phù hợp với Hiệp ước này, sẽ dành cho nhau các biện pháp tương trợ tư pháp rộng rãi nhất có thể trong các cuộc điều tra hoặc tố tụng tòa án đối với hành vi phạm tội mà hình phạt, tại thời điểm yêu cầu hỗ trợ, thuộc thẩm quyền của cơ quan tư pháp của nước yêu cầu.
TTTP có thể được thực hiện phù hợp với Hiệp ước này có thể bao gồm 07 nội dung[2]. Hiệp ước cũng quy định các trường hợp không áp dụng đối với việc bắt giữ hoặc giam giữ bất kỳ người nào có liên quan nhằm mục đích dẫn độ (i); Việc thi hành tại Nước yêu cầu các bản án hình sự được áp dụng trong Nhà nước yêu cầu trừ phạm vi được pháp luật nước yêu cầu cho phép và Điều 18 của Hiệp ước (ii); Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù để thụ án (iii) và việc Chuyển giao các thủ tục tố tụng hình sự (iv).
Năm 2007, Cơ quan Phòng chống tội phạm và ma túy của Liên hiệp quốc (UNODC) đã xây dựng Luật mẫu về tương trợ tư pháp các vấn đề hình sự bao gồm 4 Chương, 35 Điều. Điều 7 của luật này định ra giới hạn của tương trợ tư pháp hình sự mang tính nguyên tắc: tương trợ tư pháp theo Luật này có thể được cung cấp cho bất kỳ quốc gia nước ngoài nào cho dù có thỏa thuận hay không có thỏa thuận; Luật này quy định việc hỗ trợ cho bất kỳ quốc gia nước ngoài nào, trừ khi có thỏa thuận khác; Các bên có thể thỏa thuận cung cấp một phạm vi tương trợ tư pháp được đề cập tới tại khoản 2 Điều 7 và các điều khoản khác của Luật này cũng sẽ được áp dụng cho một yêu cầu hỗ trợ từ Tòa án hình sự quốc tế hoặc một Tòa án quốc tế được liệt kê trong Luật này[3].
Như vậy, Hiệp ước tương trợ tư pháp hình sự của Liên hiệp quốc chính là cơ sở quan trọng để từ đó các quốc gia thành viên có thể vận dụng trong việc xây dựng luật pháp và thể chế trong lĩnh vực hỗ trợ lẫn nhau các vấn đề hình sự. Phạm vi của Hiệp ước căn bản phản ánh nhu cầu, thực tiễn hoạt động tương trợ tư pháp trong tình hình hiện nay giữa các quốc gia.

2. Tương trợ tư pháp hình sự của Liên minh Châu Âu[4]

Quy định về tương trợ tư pháp hình sự các nước Châu Âu được quy định chủ yếu trong Công ước của Châu Âu về hỗ trợ lẫn nhau trong các vấn đề hình sự được ký tại Strasbourg ngày 20/4/1959; Nghị định thư bổ sung ngày 17/3/1978 cho Công ước châu Âu năm 1959; Các quy định về hỗ trợ lẫn nhau trong các vấn đề hình sự của Công ước ngày 19/6/1990; Công ước về hỗ trợ lẫn nhau trong các vấn đề hình sự giữa các quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu năm 2000.
Công ước đầu tiên của Châu Âu về hỗ trợ lẫn nhau trong các vấn đề hình sự năm 1959 bao gồm lời nói đầu và 30 điều áp dụng cho các thành viên của Cộng đồng Châu Âu. Công ước không có điều khoản cụ thể quy định về phạm vi tương trợ tư pháp hình sự mà phạm vi này được xác định thông qua các điều khoản liên quan đến thủ tục thực hiện tương trợ tư pháp hình sự.
Điều 1 Công ước quy định về nghĩa vụ của các quốc gia thành viên: Các Bên ký kết cam kết hỗ trợ lẫn nhau, phù hợp với các quy định của Công ước này, biện pháp hỗ trợ rộng nhất trong các thủ tục tố tụng đối với hành vi phạm tội tại thời điểm yêu cầu hỗ trợ, thuộc thẩm thẩm quyền của cơ quan tư pháp của Bên yêu cầu.
Công ước này không áp dụng cho các vụ bắt giữ, thi hành bản án hoặc vi phạm theo luật quân sự mà không phải là tội phạm theo luật hình sự thông thường.
Các quốc gia thành viên có thể từ chối tương trợ tư pháp nếu yêu cầu liên quan đến hành vi phạm tội mà Bên được yêu cầu xem xét liên quan đến tội phạm chính trị hoặc tội phạm tài chính[5].
Bên được yêu cầu cũng có thể từ chối tương trợ tư pháp khi cho rằng, việc thực hiện yêu cầu có thể ảnh hưởng đến chủ quyền, an ninh, trật tự công cộng hoặc các lợi ích thiết yếu khác của quốc gia.
Công ước về tương trợ tư pháp hình sự giữa các thành viên của Liên minh Châu Âu năm 2000 được tất cả các quốc gia thành viên ký vào ngày 29/5/2000 là nỗ lực nhằm cải thiện các hình thức tương trợ tư pháp đáp ứng yêu cầu phát sinh trong lĩnh vực hợp tác tư pháp. Mục đích của Công ước này là khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ lẫn nhau giữa các cơ quan tư pháp, cảnh sát và hải quan về các vấn đề hình sự. Công ước là sự bổ sung cần thiết cho Công ước Hỗ trợ lẫn nhau trong các vấn đề hình sự năm 1959 và Nghị định thư 1978.
Trong việc xây dựng Công ước mới này, Hội đồng Châu Âu đã không giới hạn một công cụ riêng biệt. Do đó, mục tiêu chính của Công ước là cải thiện hợp tác tư pháp bằng cách phát triển và hiện đại hóa các quy định hiện hành. Sự điều chỉnh trong Công ước này chủ yếu bằng cách mở rộng phạm vi các trường hợp có thể yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự thông qua một loạt các biện pháp nhanh, linh hoạt và hiệu quả hơn.
Điều 3 Công ước quy định về các thủ tục liên quan đến việc hỗ trợ lẫn nhau vượt ra ngoài phạm vi của Công ước 1959. Yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự theo Điều 3 không chỉ cho các cuộc điều tra về các vấn đề hình sự mà còn cho các cuộc điều tra về hành vi chịu sự xử phạt hành chính nhất định. Đồng thời, trong Công ước này có những quy định đáng chú ý như Điều 9 quy định về trường hợp Tạm thời chuyển người bị tạm giữ vì mục đích điều tra; Điều 10 Xét xử thông qua cầu truyền hình. Điều 11 quy định về Phiên điều trần của các nhân chứng và các chuyên gia qua điện thoại; Điều 13. Đội điều tra chung. Điều 14 về Điều tra bí mật; Các Điều 17 đến Điều 22 quy định các vấn đề về ngăn chặn thông tin liên lạc…
Có thể thấy EU là tổ chức quốc tế khu vực đạt được sự thỏa thuận quan trọng trong lĩnh vực tương trợ tư pháp hình sự. Phạm vi tương trợ tư pháp hình sự càng ngày càng được mở rộng phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm giữa các quốc gia thành viên. EU cũng có những quy định mang tính tiên phong trong việc hỗ trợ lẫn nhau giải quyết các vấn đề hình sự như việc lấy lời khai qua cầu truyền hình; điều tra bí mật; điều tra chung; ngăn chặn thông tin liên lạc…

3. Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự của ASEAN

Sau EU, ASEAN là tổ chức quốc tế khu vực đã xây dựng được cơ chế hợp tác trong đấu tranh phòng chống tội phạm thông qua các thỏa thuận trong Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự của ASEAN năm 2004.
Khoản 1 Điều 1 Hiệp định quy định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong tương trợ tư pháp hình sự theo nguyên tắc: Các Quốc gia thành viên, theo quy định của Hiệp định này và phù hợp với pháp luật quốc gia của mình, phải dành cho nhau các biện pháp tương trợ tư pháp rộng rãi nhất có thể được trong việc điều tra, truy tố và thủ tục tố tụng tiếp theo.
Tại khoản 2, Hiệp định xác định cụ thể phạm vi tương trợ tư pháp hình sự giữa các quốc gia thành viên bao gồm 10 nội dung cụ thể và một nội dung mang tính kỹ thuật[6].
Một điểm lưu ý của Hiệp định là chỉ áp dụng đối với việc tương trợ tư pháp giữa các Quốc gia thành viên. Các quy định của Hiệp định này không tạo ra bất cứ quyền nào cho một cá nhân trong việc thu thập, ngăn cản hoặc cản trở việc đưa ra hoặc loại bỏ bất kỳ chứng cứ nào hoặc cản trở việc thực hiện các yêu cầu tương trợ.
Công ước quy định 11 trường hợp quốc gia được yêu cầu có quyền từ chối tương trợ tư pháp và 03 trường hợp có thể từ chối nếu xét thấy cần thiết. Hiệp định cũng mở rộng phạm vi thu thập chứng cứ bằng việc cho phép sử dụng kết nối truyền hình trực tiếp hoặc các công cụ giao tiếp thích hợp khác nhằm thực hiện quá trình thu thập chứng cứ, lời khai[7]…
Nghiên cứu phạm vi tương trợ tư pháp hình sự trên đây có 03 điểm cần lưu ý:
Một là, các hiệp định tương trợ tư pháp hình sự đều giới hạn phạm vi tương trợ tư pháp hình sự giữa các quốc gia thành viên một cách cụ thể. Trong đó phạm vi tương trợ tư pháp hình sự của các nước ASEAN được xác định rất rộng. Không có các tài liệu để lý giải cho quy định một phạm vi tương trợ tư pháp hình sự rất rộng này. Tuy nhiên, xét về bối cảnh và thời gian ra đời có thể thấy, Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự của các nước ASEAN ra đời muộn hơn cả. Đồng thời, trong nội dung về phạm vi tương trợ tư pháp hình sự của các nước ASEAN dường như có sự tích hợp phạm vi của các Công ước chuyên biệt phổ cập của Liên hiệp quốc như Công ước Phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Công ước Chống tham nhũng.
Hai là, các Hiệp định đều quy định rằng Hiệp định không áp dụng đối với trường hợp cho thi hành bản án hình sự; dẫn độ; chuyển giao người bị kết án và chuyển giao vụ án hình sự. Như vậy, điểm thống nhất này trong các hiệp định trên đây cho thấy nhận thức chung của các quốc gia là khá tương đồng. Quy định này cho thấy tính chất khác nhau của tương trợ tư pháp hình sự với dẫn độ, chuyển giao người bị kết án. Về việc cho thi hành bản án hình sự tại quốc gia khác cũng như việc chuyển giao vụ án hình sự liên quan nhiều hơn đến tính chất chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, tính chất chủ quyền không phải là tuyệt đối. Hiệp định cũng thể hiện rằng trong trường hợp pháp luật quốc gia có quy định như vậy thì việc cho thi hành bản án hình sự vẫn có thể được thực hiện.
Ba là, các Hiệp định không chỉ giới hạn phạm vi tương trợ tư pháp cụ thể mà luôn có điều khoản mang tính kỹ thuật – quy định “quét”. Đây là một quy định có độ mở khác nhau. Các thành viên của Hiệp định có thể cung cấp các hình thức hỗ trợ khác nếu như điều đó không trái với mục đích của Hiệp định hoặc pháp luật quốc gia cho phép thực hiện điều đó. Trong dài hạn, các quy định mở này vẫn sẽ được duy trì nhằm đáp ứng sự linh hoạt trong thực tiễn quan hệ giữa các quốc gia thành viên.

III. Phạm vi tương trợ tư pháp hình sự trong các điều ước quốc tế song phương và pháp luật Việt Nam

1. Hiện nay, Việt Nam đã ký kết hơn 20 Hiệp định tương trợ tư pháp với các quốc gia và đang tiếp tục đàm phán ký kết các Hiệp định khác[8]. Phần này chỉ trình bày phạm vi tương trợ tư pháp hình sự trong một số hiệp định nổi bật, cụ thể:

– Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về dân sự và hình sự giữa Cộng hòa XHCN Việt Nam và Cộng hòa XHCN Tiệp Khắc ký ngày 10/12/1982: Hiện nay, hai nước Cộng hoà Séc và Xlô-va-ki-a kế thừa Hiệp định này. Hiệp định quy định phạm vi tương trợ tư pháp là tất cả các hành vi tố tụng, trong đó tập trung vào việc lấy lời khai của người làm nhân chứng, của đương sự, của bị can, hoặc của các người khác, trong việc tiến hành giám định, trong việc lập chuyển và tống đạt giấy tờ.
– Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa Cộng hòa XHCN Việt Nam và Cộng hoà Hung-ga-ri, ký ngày 18/01/1985: Tại Điều 4. Phạm vi tương trợ tư pháp bao gồm việc thực hiện các hành vi tố tụng riêng biệt như việc khám nhà, tạm giữ, tịch biên tài sản, việc gửi các chứng cứ, lấy lời khai của những người làm chứng, người giám định và những người khác, xét hỏi bị can, xem xét tại chỗ, yêu cầu tống đạt, gửi các tài liệu cũng như lập và gửi các giấy tờ. Điều 17 quy định về các trường hợp từ chối như liên quan đến chủ quyền, an ninh hoặc trái với nguyên tắc pháp luật quốc gia. Trong hiệp định cũng quy định nhiều vấn đề khác như chuyển giao vụ án hình sự, chuyển giao đồ vật… Nhìn chung phạm vi tương trợ tư pháp trong hiệp định này khá rộng xét trong bối cảnh ký kết lúc bấy giờ.
– Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự giữa Cộng hòa XHCN Việt Nam và Ấn Độ, ký ngày 8/10/2007: Điều 1 của Hiệp định quy định rõ, Phù hợp với các quy định của Hiệp định này, các Bên sẽ dành cho nhau sự tương trợ tư pháp tối đa trong các vấn đề về hình sự. tương trợ tư pháp hình sự bao gồm các tương trợ tư pháp về điều tra, truy tố hoặc các thủ tục tố tụng khác trong các vấn đề về hình sự do Bên được yêu cầu cung cấp cho Bên yêu cầu, không phụ thuộc vào việc yêu cầu tương trợ tư pháp đó do Tòa án hay cơ quan có thẩm quyền khác yêu cầu hoặc đề nghị.
Đặc biệt Hiệp định cũng quy định yêu cầu tương trợ tư pháp sẽ được thực hiện không phụ thuộc vào việc hành vi là đối tượng của điều tra, truy tố, xét xử của Bên yêu cầu có cấu thành tội phạm theo luật của Bên được yêu cầu hay không.
Khoản 4 của Điều này quy định 09 nội dung tương trợ tư pháp hình sự cụ thể và Các bên có thể dành cho nhau các tương trợ tư pháp khác phù hợp với mục đích của Hiệp định này và không trái với pháp luật của Bên được yêu cầu. Khoản 5 giới hạn tương trợ tư pháp hình sự theo Hiệp định không bao gồm: Dẫn độ, bắt hoặc giam giữ người để dẫn độ; Thực hiện bản án hình sự của Bên yêu cầu ở Bên được yêu cầu, trừ những trường hợp pháp luật của Bên được yêu cầu và Hiệp định này cho phép; Chuyển giao người đang bị giam giữ để thi hành hình phạt; Chuyển giao việc xét xử trong các vấn đề về hình sự.

2. Phạm vi tương trợ tư pháp hình sự trong Luật Tương trợ tư pháp năm 2007

Phạm vi tương trợ tư pháp hình sự theo Luật này được quy định tại Điều 17, bao gồm: Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp về hình sự (i); Triệu tập người làm chứng, người giám định (ii); Thu thập, cung cấp chứng cứ (iii); Truy cứu trách nhiệm hình sự (iv); Trao đổi thông tin (v) và Các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về hình sự (vi).
Như vậy, theo quy định của Luật tương trợ tư pháp, phạm vi tương trợ tư pháp hình sự hẹp hơn so với phạm vi tương trợ tư pháp được đề cập trong Hiệp ước tương trợ tư pháp pháp lý hình sự (mẫu) của Liên hiệp quốc.

3. Phạm vi tương trợ tư pháp hình sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

Bộ luật Tố tụng hình sự 2015(TTHS) năm 2015 có nhiều quy định mới có liên quan đến tương trợ tư pháp hình sự, cụ thể: Xác định phạm vi hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự gồm tương trợ tư pháp hình sự, dẫn độ, tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và các hoạt động hợp tác quốc tế khác được quy định trong Bộ luật TTHS, pháp luật về tương trợ tư pháp và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Điều 491). Xác định giá trị pháp lý của tài liệu, đồ vật thu thập được qua hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự (Điều 494). Quy định về việc tiến hành tố tụng của người có thẩm quyền của Việt Nam ở nước ngoài và người có thẩm quyền của nước ngoài ở Việt Nam được thực hiện theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại (Điều 495). Quy định về việc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho người làm chứng, người giám định, người đang chấp hành án phạt tù tại nước được đề nghị có mặt ở Việt Nam để phục vụ việc giải quyết vụ án hình sự hoặc có thể cho phép người làm chứng, người giám định, người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam có mặt ở nước ngoài để phục vụ việc giải quyết vụ án hình sự (Điều 496). Quy định việc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hợp tác với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trong việc truy tìm, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, tịch thu, xử lý tài sản do phạm tội mà có để phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự (Điều 507). Quy định biện pháp phong tỏa tài khoản có thể được áp dụng nếu có căn cứ cho rằng số tiền trong tài khoản đó liên quan đến hành vi phạm tội của người bị buộc tội (Điều 129). Quy định việc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể hợp tác với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trong việc phối hợp điều tra hoặc áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt (Điều 508). Quy định việc đợi kết quả thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp của nước ngoài là một trong những căn cứ để tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tạm đình chỉ điều tra trong giai đoạn điều tra; tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố; tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử (Điều 148, Điều 229, Điều 247, Điều 281, Điều 443)[9].
Ngoài ra trong các Luật Phòng, chống rửa tiền; Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Phòng, chống khủng bố cũng có các quy định cụ thể cho phép xác định phạm vi tương trợ tư pháp hình sự. Những quy định trên đây là cơ sở pháp lý quan trọng có thể bổ sung cho những khuyết thiếu của Luật tương trợ tư pháp 2007.

IV. Kiến nghị

1. Về tổng thể, trong pháp luật tương trợ tư pháp Việt Nam, phạm vi tương trợ tư pháp hình sự căn bản tương thích với các quy định trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc là thành viên. Tuy nhiên, xem xét các trường hợp cụ thể cho thấy, phạm vi tương trợ tư pháp hình sự của Việt Nam là khá hẹp so với các cam kết trong các Điều ước quốc tế đa phương và song phương. Mặc dù tại khoản 6 Điều 17 quy định “Các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về hình sự” là quy định “quét”. Quy định này có ưu điểm và hạn chế. Ưu điểm của quy định này sẽ giải quyết thỏa đáng các cam kết của Việt Nam đối với các quốc gia hữu quan. Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để giải trình các nghĩa vụ hợp tác của mình. Tuy nhiên, đây cũng là quy định bộc lộ nhiều hạn chế, đặc biệt trong quá trình thực thi các nội dung hợp tác quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự.
Trong thực tiễn thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự, Việt Nam đã giải quyết các nội dung yêu cầu tương trợ tư pháp nằm ngoài nội dung của Luật tương trợ tư pháp năm 2017. Tuy nhiên, pháp luật tương trợ tư pháp hình sự Việt Nam chưa có quy định về sự tham gia của người tiến hành tố tụng tại nước được yêu cầu, các quy định hỗ trợ điều tra hoặc cung cấp chứng cứ, liên kết, phối hợp điều tra; chưa quy định cụ thể trong việc phong tỏa, kê biên, thu giữ, tịch thu và xử lý tài sản do phạm tội mà có…”[10]. Do vậy có thể dẫn đến hệ quả là, nếu như đáp ứng các yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự của nước ngoài thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thiếu cơ sở để thực hiện; ngược lại, nếu không thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự của nước ngoài thì Việt Nam đang đi ngược lại chính các nghĩa vụ mà mình cam kết. Do đó, chúng tôi cho rằng, cần thiết phải sửa đổi quy định hiện hành về phạm vi tương trợ tư pháp hình sự theo hướng bổ sung các nội dung khác như: xác minh, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm; liên kết điều tra, phối hợp điều tra; quy định cho phép sử dụng các phương tiện kỹ thuật áp dụng công nghệ cao (thư điện tử, fax…) trong việc gửi, tiếp nhận hồ sơ ủy thác tư pháp và thực hiện một số hoạt động tương trợ tư pháp…[11].
2. Bên cạnh phạm vi tương trợ tư pháp hình sự được quy định cụ thể trong các Điều ước quốc tế và pháp luật quốc nội, các quốc gia đều có quy định các trường hợp từ chối thực hiện tương trợ tư pháp. Xét về mặt logic, các quy định từ chối này cho phép các quốc gia xem xét yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự nằm ngoài các quy định cụ thể trong phần phạm vi tương trợ tư pháp hình sự.
Điều 21 Luật tương trợ tư pháp 2007 quy định 05 trường hợp Việt Nam sẽ từ chối thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài. Tuy nhiên, cách thể hiện quy định này lại làm cho các trường hợp tương trợ tư pháp được quy định tại khoản 6 Điều 17 bị giới hạn so với các cam kết của Việt Nam. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, để vừa nâng cao hiệu quả hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm vừa hài hòa được lợi ích quốc gia, đồng thời phù hợp với các nghĩa vụ mà Việt Nam đã cam kết, cần phải sửa đổi quy định của Điều 21 theo hướng loại bỏ khoản 2, 3 của Điều này./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Công ước của Châu Âu về hỗ trợ lẫn nhau trong các vấn đề hình sự năm 1959, năm 2000 và Nghị định thư bổ sung năm 1978.
  2. Công ước của Châu Âu về hỗ trợ lẫn nhau trong các vấn đề hình sự năm năm 2000.
  3. Luật Hỗ trợ điều tra quốc tế của Nhật Bản.
  4. Hiệp đinh tương trợ tư pháp hình sự (mẫu) của Liên hiệp quốc năm 2000.
  5. Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự của ASEAN năm 2004.
  6. Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về dân sự và hình sự giữa Cộng hòa XHCN Việt Nam và Cộng hòa XHCN Tiệp Khắc năm 1982.
  7. Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa Cộng hòa XHCN Việt Nam và Cộng hoà Hung-ga-ri năm 1985.
  8. Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự giữa Cộng hòa XHCN Việt Nam và Ấn Độ năm 2007.
  9. Đỗ Mạnh Hồng, Các vấn đề pháp lý cơ bản trong lĩnh vực tương trợ tư pháp về hình sự của ASEAN, Tạp chí Luật học số 09/2008.
  10. Official Journal of the European Communities, Explanatory Report on the Convention of 29 May 2000 on Mutual Assistance in Criminal Matters between the Member States of the European Union, (2000/C 379/02).
  11. Luật tương trợ tư pháp năm 2007
  12.  Bộ luật TTHS năm 2015
  13.  Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Giáo trình Luật tương trợ tư pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016.
  14. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Vụ 13 (2017), Chuyên đề “Thực trạng và giải pháp hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự; Một số kiến nghị, sửa đổi, bổ sung Luật tương trợ tư pháp năm 2007”, Hà Nội.

ThS. DƯƠNG ĐÌNH CÔNG

Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 15 (391), tháng 8/2019

[1] Xem, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Giáo trình Luật tương trợ tư pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016.

[2] Xem Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự (mẫu) của Liên hiệp quốc theo Nghị quyết A/RES/45/117 tại website: www.un.org.

[3] Xem, Luật mẫu về tương trợ tư pháp các vấn đề hình sự của UNODC tại website: www.un.org tham khảo ngày 02/11/2018.
[4] Xem, Official Journal of the European Communities, Explanatory Report on the Convention of 29 May 2000 on Mutual Assistance in Criminal Matters between theMember States of the European Union, (2000/C 379/02) tại website: https://eur-lex.europa.eu (tham khảo ngày 02/11/2018)
[5] Thời điểm ký kết Hiệp định này, tương trợ tư pháp liên quan đến vấn đề tài chính chưa được đề cập cho đến Nghị định thư bổ sung năm 1978.
[6] Xem, Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự của ASEAN năm 2004.
[7] Đỗ Mạnh Hồng, Các vấn đề pháp lý cơ bản trong lĩnh vực tương trợ tư pháp về hình sự của ASEAN, Tạp chí Luật học số 09/2008, tr. 62-64.
[8] Xem, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Vụ 13, Chuyên đề “Thực trạng và giải pháp hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự; Một số kiến nghị, sửa đổi, bổ sung Luật tương trợ tư pháp năm 2007”, (2017), Hà Nội, tr. 10. Việt Nam cũng tham gia khoảng 15 Điều ước quốc tế đa phương có quy định về tương trợ tư pháp hình sự (trong phần này không nghiên cứu các Điều ước quốc tế đa phương này).
[9] Xem, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Vụ 13, Chuyên đề, Tlđd, tr. 5-7.
[10] Xem, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Vụ 13, Chuyên đề, Tlđd, tr. 34.

[11] Xem, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Vụ 13, Chuyên đề, tlđd, tr. 34.

Các nguyên tắc xử lý người phạm tội và pháp nhân thương mại phạm tội

Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định 07 nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội và 04 nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

Các nguyên tắc xử lý người phạm tội và pháp nhân thương mại phạm tội theo quy theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015

Nguyên tắc xử lý đối với các đối tượng phạm tội quy đinh tại Điều 3 Bộ luật Hình sự 2015:

1. Đối với người phạm tội:
a) Mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;
b) Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội;
c) Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;
d) Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn, hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;
đ) Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục;
e) Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện;
g) Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích.
2. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội:
a) Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;
b) Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế;
c) Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;
d) Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra.

Như vậy là có 07 nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội và 04 nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội.
Người chưa thành niên phạm tội

7 nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội

Các nguyên tắc này đã được sửa đổi bổ sung từ 5 nguyên tắc xử lý quy định tại Điều 3 Bộ luật Hình sự được Quốc hội thông qua ngày 21- 12- 1999, sửa đổi bổ sung ngày 16- 9- 2009 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự 1999). Các nguyên tắc này đã được áp dụng có hiệu quả trong thời gian thi hành Bộ luật Hình sự 1999 và các nguyên tắc này còn được quy định cụ thể thành từng điều luật.
Ví dụ có điều luật quy định “Khái niệm tội phạm”, có điều luật quy định phân loại tội phạm, có điều luật quy định “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự” đối với từng loại tội phạm, có điều luật quy định không áp dụng thời hiệu truy cập truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia và phạm các tội phá hoại hòa bình, chống lại loài người và tội phạm chiến tranh. Có các điều luật giải thích từng loại hình phạt, giải thích về “cố ý phạm tội”, “vô ý phạm tội”, về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, về chuẩn bị phạm tội, về phạm tội chưa đạt, về tự ý nửa chừng.chấm dứt việc phạm tội…Có điều luật quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự để khi giải quyết hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định loại hình phạt mức phạt tương xứng với hành vi phạm tội và thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
Bộ luật Hình sự cũng có các điều luật quy định về không áp dụng thời hiệu thi hành bản án đối với người phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia (chương XIII), các tội phá hoại hòa bình, chống lại loài người, tội phạm chiến tranh (Chương XXVI), người phạm tội tham ô tài sản thuộc khoản 3 khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015 và người phạm tội nhận hối lộ thuộc khoản 3 khoản 4 Điều 354 Bộ luật Hình sự 2015. Có các điều luật quy định về miễn chấp hành hình phạt đối với người bị kết án khi được đặc xá hoặc đại xá, quy định về giảm mức hình phạt đã tuyên, quy định về giảm thời thời hạn chấp hành phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện, về hoãn chấp hành hình phạt tù, về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, về xóa án tích. Có như vậy mới đảm bảo việc thực hiện thống nhất các nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội.

4 nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Pháp nhân thương mại phạm tội quy định trong Bộ luật Hình sự 2015 là pháp nhân thương mại được hiểu theo quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) được Quốc hội thông qua ngày 24/11 năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 (sau đây gọi là BLDS năm 2015). Điều 75 BLDS năm 2015 quy định pháp nhân thương mại như sau:

1. Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.
2. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác.
3. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Để thực hiện đúng và thống nhất 4 nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội, Bộ luật Hình sự 2015 có một số điều luật quy định cụ thể 4 nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội cụ thể là:
– Điều 74 quy định về: “Áp dụng quy định của bộ luật hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội”
– Điều 75 quy định về: “Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại”
– Điều 76 quy định về: “Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại” với nội dung là pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại một trong các điều: “Điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196,200, 203, 209, 210, 211, 213, 216, 217, 225, 226,227, 232, 234,235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245, 246, 300 và 304 của Bộ luật Hình sự 2015.
– Điều 77 quy định về: “Phạt tiền”
– Điều 78 quy định về: “Đình chỉ hoạt động có thời hạn”
– Điều 79 quy định về: “Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn”
– Điều 80 quy định về: “Cấm kinh doanh hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định”
– Điều 81 quy định về: “Cấm huy động vốn”
– Điều 82 quy định về: “Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội”
– Điều 83 quy định về: “Căn cứ quyết định hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội”
– Điều 84 quy định về: “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại”
– Điều 85 quy định về: “Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại”
– Điều 186 quy định về: “Quyết định hình phạt trong trường hợp pháp nhân thương mại phạm nhiều tội”
– Điều 187 quy định về: “Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án
– Điều 188 quy định về: “Miễn hình phạt”
– Điều 189 quy định về: “Xóa án tích”
Về xóa án tích quy định là: “Pháp nhân thương mại bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 2 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không thực hiện hành vi phạm tội mới”.
Theo quy định tại khoản 3 điều 60 Bộ luật Hình sự 2015 thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với pháp nhân thương mại là 05 năm và theo quy định tại khoản 4 Điều 60 Bộ luật Hình sự 2015 thì thời hiệu thi hành bản án được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Xóa án tích được coi như chưa bị kết án./.

ĐỖ VĂN CHỈNH

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Tổng hợp toàn bộ điểm mới của Bộ luật Lao động 2019

Bộ luật Lao động sửa đổi  năm 2019 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 và sẽ thay thế cho Bộ luật Lao động 2012 hiện hành. Dưới đây là những điểm mới đáng chú ý nhất của Bộ luật này.
 
Mục lục:
1. Mở rộng phạm vi và đối tượng điều chỉnh
2. Tăng tuổi nghỉ hưu lên 62 tuổi với nam, 60 tuổi với nữ
3. Quốc khánh được nghỉ 2 ngày
4. Không còn hợp đồng lao động theo mùa vụ
5. Ghi nhận hình thức hợp đồng lao động điện tử
6. Được ký hợp đồng xác định thời hạn nhiều lần với người cao tuổi
7. Tăng thời giờ làm thêm theo tháng lên 40 giờ
8. Thêm trường hợp nghỉ việc riêng hưởng nguyên lương
9. Người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng không cần lý do 
10. Có thể ủy quyền cho người khác nhận lương
11. Khi trả lương qua ngân hàng, người sử dụng lao động phải trả phí mở tài khoản
12. Cấm ép người lao động dùng lương để mua hàng hóa, dịch vụ của công ty
13. Người lao động có thể được “thưởng” không chỉ bằng tiền
14. Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào tiền lương của doanh nghiệp
15. Khi trả lương, doanh nghiệp phải gửi bảng kê chi tiết cho người lao động
16. Đối thoại định kỳ tại nơi làm việc 1 năm/lầnNgười lao động

1. Mở rộng phạm vi và đối tượng điều chỉnh

Nếu như Bộ luật Lao động 2012 quy định tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động… trong quan hệ lao động và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động thì Bộ luật Lao động 2019 mở rộng thêm đối tượng là người làm việc không có quan hệ lao động cùng một số tiêu chuẩn riêng.

2. Tăng tuổi nghỉ hưu lên 62 tuổi với nam, 60 tuổi với nữ

Điều 169 Bộ luật Lao động mới nêu rõ:

Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.
Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với nam; đủ 55 tuổi 04 tháng đối với nữ. Sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng với lao động nam; 04 tháng với lao động nữ.

Riêng người bị suy giảm khả năng lao động; làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hay làm việc ở nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn thì có thể nghỉ hưu trước không quá 05 tuổi.
So với hiện nay theo Bộ luật Lao động 2012 thì tuổi nghỉ hưu của người lao động đã tăng lên đáng kể; đồng thời, với những công việc đặc thù thì việc nghỉ hưu trước tuổi cũng được quy định ràng hơn.

3. Quốc khánh được nghỉ 2 ngày

Bên cạnh việc tăng tuổi nghỉ hưu, đáng chú ý, Điều 112 Bộ luật Lao động sửa đổi còn bổ sung thêm 01 ngày nghỉ trong năm vào ngày liền kề với ngày Quốc khánh, có thể là 01/9 hoặc 03/9 Dương lịch tùy theo từng năm.
Và như vậy, tổng số ngày nghỉ lễ, tết hàng năm sẽ nâng lên 11 ngày, trong đó: Tết Dương lịch: 01 ngày; Tết Âm lịch: 05 ngày; Ngày Chiến thắng (30/4 Dương lịch): 01 ngày; Ngày Quốc tế lao động (01/5 Dương lịch): 01 ngày; Ngày Quốc khánh: 02 ngày; Ngày Giỗ tổ Hùng Vương (10/3 Âm lịch): 01 ngày.
Trong những ngày này, người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương.

4. Không còn hợp đồng lao động theo mùa vụ

Điều 20 Bộ luật Lao động sửa đổi đã bỏ nội dung về hợp đồng mùa vụ hoặc theo một công việc có thời hạn dưới 12 tháng, thay vào đó chỉ còn 02 loại hợp đồng là: hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng lao động xác định thời hạn.

Quy định này được đánh giá là tiến bộ lớn của pháp luật lao động nhằm bảo vệ người lao động, hạn chế tình trạng người sử dụng lao động “lách luật”, không đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động bằng cách ký các loại hợp đồng mùa vụ, dịch vụ…

5. Ghi nhận hình thức hợp đồng lao động điện tử

Xuất phát từ thực tiễn, với sự phát triển của khoa học công nghệ thì việc giao kết hợp đồng lao động không đơn thuần chỉ bằng văn bản, lời nói hay hành vi. Chính vì vậy, Điều 14 Bộ luật Lao động mới đã ghi nhận thêm hình thức giao kết hợp đồng lao động thông qua phương tiện điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản.
Ngoài ra, với những trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì vẫn được coi là hợp đồng lao động.

6. Được ký hợp đồng xác định thời hạn nhiều lần với người cao tuổi

Thông thường, người cao tuổi thường là những người có nhiều năm làm việc với nhiều kinh nghiệm, đặc biệt là những công việc yêu cầu trình độ cao. Do đó, để phát huy giá trị của người cao tuổi, Điều 149 Bộ luật Lao động cho phép người sử dụng lao động thỏa thuận giao kết nhiều lần hợp đồng lao động xác định thời hạn với người cao tuổi thay vì kéo dài thời hạn hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng lao động mới như trước đây.

7. Tăng thời giờ làm thêm theo tháng lên 40 giờ

Về thời giờ làm việc, trước mắt giữ nguyên thời giờ làm việc bình thường như quy định của Bộ luật hiện hành và có lộ trình điều chỉnh giảm giờ làm việc bình thường vào thời điểm thích hợp.
Về thời giờ làm thêm, mặc dù trước đó rất nhiều phương án được đưa ra, tuy nhiên, tại Điều 107 Bộ luật Lao động 2019, Quốc hội đã quyết định không tăng thời giờ làm thêm giờ trong năm.

Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày; nếu áp dụng thời giờ làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ/ngày; không quá 40 giờ/tháng; không quá 200 giờ/năm, trừ một số trường hợp đặc biệt được làm thêm không quá 300 giờ/năm.

Điều khác biệt duy nhất về thời gian làm thêm giờ quy định tại Bộ luật Lao động 2019 với Bộ luật Lao động 2012 ở điểm:
Số giờ làm thêm trong tháng tăng lên 40 giờ thay vì 30 giờ và cụ thể hơn các trường hợp được làm thêm tới 300 giờ/năm như sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm là hàng dệt, may, da, giày, linh kiện điện, điện tử, chế biến nông, lâm, thủy sản; cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước…

8. Thêm trường hợp nghỉ việc riêng hưởng nguyên lương

Ngoài các trường hợp nghỉ việc riêng hưởng nguyên lương như trước đây (bản thân kết hôn: nghỉ 03 ngày; con kết hôn: nghỉ 01 ngày; Bố/mẹ đẻ, bố/mẹ vợ hoặc bố/mẹ chồng chết: nghỉ 03 ngày…) thì Điều 115 Bộ luật Lao động mới đã bổ sung thêm trường hợp cha nuôi, mẹ nuôi chết.
Lúc này, người lao động cũng được nghỉ 03 ngày như trường hợp bố đẻ, mẹ đẻ hay bố/mẹ chồng, bố/mẹ vợ chết.

9. Người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng không cần lý do 

Nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập từ việc áp dụng các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động, Điều 35 Bộ luật Lao động 2019 cho phép người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng không cần lý do mà chỉ cần báo trước 30 ngày với hợp đồng xác định thời hạn và 45 ngày với hợp đồng không xác định thời hạn.
Thậm chí, trong một số trường hợp, người lao động còn được đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không cần báo trước, như:

– Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận;
– Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn;
– Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;
– Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
– Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc;
– Đủ tuổi nghỉ hưu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;
– Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

Đồng thời, người lao động cũng được quyền yêu cầu người sử dụng lao động cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của mình khi chấm dứt hợp đồng lao động; các chi phí của việc cung cấp do người sử dụng lao động chi trả…

10. Có thể ủy quyền cho người khác nhận lương

Bộ luật mới quy định:

Trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp thì người sử dụng lao động có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp.

Trước đó nội dung này không được quy định tại Bộ luật Lao động 2012. Việc cho phép người lao động ủy quyền cho người khác nhận lương được cho là hợp lý, nhất là trong trường hợp người lao động bị ốm đau, tai nạn không thể trực tiếp nhận lương…

11. Khi trả lương qua ngân hàng, người sử dụng lao động phải trả phí mở tài khoản

Nếu như trước đây, Bộ luật Lao động 2012 quy định khi trả lương qua tài khoản ngân hàng, người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận về các loại phí liên quan đến việc mở và duy trì tài khoản (khoản 2 Điều 94).
Thì nay, Bộ luật Lao động mới quy định việc trả các loại phí liên quan đến mở tài khoản và phí chuyển tiền là trách nhiệm bắt buộc của người sử dụng lao động.

12. Cấm ép người lao động dùng lương để mua hàng hóa, dịch vụ của công ty

Bộ luật mới quy định người sử dụng lao động không được hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động.
Đặc biệt, không được ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định.

13. Người lao động có thể được “thưởng” không chỉ bằng tiền

Bộ luật Lao động 2019 quy định về “Thưởng” thay vì “Tiền thưởng” như Bộ luật cũ. Theo đó khái niệm thưởng cho người lao động cũng được mở rộng ra, có thể là tiền hoặc tài sản hoặc bằng các hình thức khác căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh, mức độ hoàn thành công việc của người lao động.

14. Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào tiền lương của doanh nghiệp

Điều 93 Bộ luật Lao động 2019 quy định, doanh nghiệp được chủ động trong việc xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động trên cơ sở thương lượng, thoả thuận với người lao động.
Tiền lương trả cho người lao động là số tiền để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Mức lương theo công việc hoặc chức danh không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.

15. Khi trả lương, doanh nghiệp phải gửi bảng kê chi tiết cho người lao động

Nhằm minh bạch tiền lương của người lao động, Bộ luật này yêu cầu mỗi lần trả lương, người sử dụng lao động phải thông báo bảng kê trả lương người lao động, trong đó ghi rõ: Tiền lương; Tiền lương làm thêm giờ; Tiền lương làm việc vào ban đêm; Nội dung và số tiền bị khấu trừ (nếu có)…

16. Đối thoại định kỳ tại nơi làm việc 1 năm/lần

Thay vì tổ chức định kỳ 03 tháng/lần như hiện nay thì khoản 1 Điều 63 Bộ luật Lao động sửa đổi đã nâng thời gian tổ chức đối thoại định kỳ tại nơi làm việc lên 1 năm/lần; đồng thời, bổ sung thêm một số trường hợp người sử dụng lao động phải tổ chức đối thoại như vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm, phải thôi việc; khi xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao động…
Nguồn: Luật Việt Nam (https://luatvietnam.vn/lao-dong-tien-luong/diem-moi-cua-bo-luat-lao-dong-2019-562-22946-article.html)

Quy định về nhóm công ty trong pháp luật một số quốc gia và những nội dung tham khảo cho Việt Nam

Tóm tắt: Nhóm công ty đang ngày càng xuất hiện phổ biến ở Việt Nam bởi mô hình này giúp tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các tổ hợp liên kết kinh tế của các công ty. Tuy nhiên, các quy định pháp lý hiện hành về nhóm công ty tại Việt Nam còn nhiều điểm hạn chế. Nhận diện và khắc phục các điểm hạn chế này trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm các quốc gia trên thế giới trong việc điều chỉnh các vấn đề liên quan là cần thiết để tạo môi trường thuận lợi cho các nhóm công ty phát triển, qua đó thúc đẩy nền kinh tế quốc gia.
 
Mục lục:
1. Một số bất cập trong quy định pháp luật về nhóm công ty tại Việt Nam

2. Pháp luật về nhóm công ty của một số quốc gia trên thế giới

3. Hoàn thiện pháp luật về nhóm công ty ở Việt Nam
Học luật doanh nghiệp

Khi hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh tế được mở rộng, xuất hiện một hình thức liên kết kinh tế là nhóm công ty. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005[1], nhóm công ty là “tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác”. Luật Doanh nghiệp năm 2014 có sự sửa đổi định nghĩa nhóm công ty và chỉ nêu ra hai hình thức nhóm công ty là tập đoàn kinh tế và tổng công ty[2]. Cụ thể, Luật này quy định “Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty thuộc các thành phần kinh tế là nhóm công ty có mối quan hệ với nhau thông qua sở hữu cổ phần, phần vốn góp hoặc liên kết khác”.
Nhìn chung, có thể thấy rằng, về bản chất, nhóm công ty không phải là một chủ thể pháp lý độc lập mà là tập hợp các doanh nghiệp có tư cách pháp lý độc lập. Các công ty trong nhóm có mối liên hệ với nhau về sở hữu hay gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và sản phẩm đầu ra.

1. Một số bất cập trong quy định pháp luật về nhóm công ty tại Việt Nam

Thứ nhất, chưa quy định rõ về khái niệm nhóm công ty

Sự mơ hồ trong định nghĩa nhóm công ty dẫn đến nhiều khó khăn cho công tác quản lý hoạt động của nhóm cũng như giao dịch giữa các công ty trong nhóm. Bên cạnh những ý kiến trái chiều về sử dụng cụm từ “tổng công ty” và “tập đoàn kinh tế” để chỉ nhóm công ty[3], khái niệm được Luật Doanh nghiệp năm 2014 đưa ra còn có phần chưa chính xác bởi mối quan hệ đầu tư chỉ diễn ra giữa công ty mẹ và các công ty con thông qua việc công ty mẹ có sở hữu cổ phần, phần vốn góp tại các công ty con. Giữa các công ty con với nhau không thể diễn ra quan hệ đầu tư. Khoản 2 Điều 189 Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã quy định rõ điều này: “Công ty con không được đầu tư góp vốn, mua cổ phần của công ty mẹ. Các công ty con của cùng một công ty mẹ không được cùng nhau góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau”.

Thứ hai, quy định thiếu thống nhất về căn cứ xác định sự chi phối của công ty mẹ

Sự chi phối (bao gồm sự chi phối xuất phát từ yếu tố vốn và chi phối thực tế) là cơ sở xác định công ty mẹ trong mối quan hệ công ty mẹ – công ty con. Điểm a khoản 1 Điều 189 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về sự chi phối xuất phát từ yếu tố vốn của công ty mẹ. Theo đó, công ty mẹ xác lập được quyền chi phối với công ty con khi sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của công ty con. Tuy nhiên, quy định này chưa tương thích với các quy định tại Điều 60 và Điều 144 của Luật này. Căn cứ các quy định tại Điều 60 và Điều 144, điều kiện để nắm quyền quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp là nắm giữ trên 65% vốn điều lệ đối với công ty cổ phần và từ trên 75% đối với công ty TNHH từ hai thành viên trở lên.
Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Nghị định số 69/2014/NĐ-CP (Nghị định 69) đều có các quy định để xác định sự chi phối thực tế của công ty mẹ đối với công ty con. Tuy nhiên, các quy định tại Nghị định 69 có nội hàm rộng hơn so với các quy định của Luật. Bên cạnh quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm nhân sự cấp cao của công ty con và bổ sung, sửa đổi Điều lệ công ty[4], theo Nghị định 69, quyền chi phối thực tế của công ty mẹ còn bao gồm quyền trực tiếp hay gián tiếp quyết định chiến lược, kế hoạch kinh doanh của công ty con và các trường hợp chi phối khác theo thỏa thuận giữa hai bên[5]. Tuy nhiên, Nghị định 69 mới chỉ khắc phục phần nào việc Luật Doanh nghiệp đã bỏ sót một số mối quan hệ chi phối – bị chi phối giữa công ty mẹ và công ty con. Bởi lẽ, các quy định của Nghị định này chỉ mang tính chất liệt kê một số biểu hiện về quyền chi phối thực tế của công ty mẹ thay vì xây dựng một cơ sở hay một định nghĩa rõ ràng về quyền này.

Thứ ba, quy định về cơ chế ràng buộc trách nhiệm của công ty mẹ thiếu tính khả thi

Khoản 3 Điều 190 và khoản 5 Điều 190 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 đưa ra một số quy định về trách nhiệm của công ty mẹ đối với công ty con, cũng như với các cổ đông, thành viên, chủ nợ cùng các bên liên quan khác của công ty con. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều câu hỏi liên quan đến tính khả thi và hiệu quả của các quy định này.
Lợi ích của công ty con, của các cổ đông, thành viên, chủ nợ của công ty con và các bên liên quan khác của công ty con có thể bị đe dọa khi công ty mẹ lợi dụng quyền chi phối để trục lợi. Để bảo vệ lợi ích các đối tượng này, Luật Doanh nghiệp quy định, nếu công ty mẹ can thiệp ngoài thẩm quyền của chủ sở hữu, thành viên hoặc cổ đông và buộc công ty con phải thực hiện hoạt động kinh doanh trái với thông lệ kinh doanh bình thường hoặc thực hiện hoạt động không sinh lợi mà không đền bù hợp lý trong năm tài chính có liên quan, gây thiệt hại cho công ty con thì công ty mẹ phải chịu trách nhiệm về thiệt hại đó[6]. Trường hợp công ty mẹ không đền bù cho công ty con theo quy định thì chủ nợ hoặc thành viên, cổ đông có sở hữu ít nhất 1% vốn điều lệ của công ty con có quyền nhân danh chính mình hoặc nhân danh công ty con đòi công ty mẹ đền bù thiệt hại cho công ty con[7].
Câu hỏi đặt ra là, dưới sự kiểm soát của công ty mẹ, liệu công ty con và các bên liên quan có khả năng yêu cầu công ty mẹ đền bù hay chịu trách nhiệm cho những thiệt hại phát sinh từ sự can thiệp của công ty mẹ. Thực tế ở nước ta cho thấy, không ít trường hợp công ty mẹ nắm quyền kiểm soát hoặc sở hữu lên đến 100%. Do đó, cơ chế để công ty con và các bên liên quan bảo vệ quyền lợi của họ chưa đảm bảo hiệu quả cũng như tính khả thi.
Mặt khác, việc người quản lý của công ty mẹ được cử làm đại diện phần vốn góp của công ty mẹ ở công ty con đồng thời được bổ nhiệm làm giám đốc tại công ty con diễn ra khá phổ biến. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam vẫn thiếu vắng các quy định để đảm bảo người này hành động vì lợi ích của công ty con. Do vậy, không ít trường hợp người được bổ nhiệm để điều hành hoạt động của công ty con lại bỏ qua lợi ích của công ty con và ưu tiên lợi ích công ty mẹ, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông và các bên liên quan của công ty con.

2. Pháp luật về nhóm công ty của một số quốc gia trên thế giới

2.1 Định nghĩa nhóm công ty

Để tạo môi trường pháp lý cho các nhóm công ty phát triển, các quốc gia như Mỹ, Anh và Nhật Bản đã xây dựng các quy định cụ thể để nhận diện và điều chỉnh mối quan hệ giữa công ty mẹ – công ty con và giữa các công ty con với nhau. Về bản chất, nhóm công ty bao gồm công ty mẹ và các công ty con, trong đó mỗi công ty là một thực thể pháp lý độc lập nhưng công ty mẹ giữ vai trò kiểm soát các công ty con. Nói cách khác, nhóm công ty là một hình thức tổ chức kinh tế dựa trên sự kết hợp giữa các công ty có quyền và nghĩa vụ riêng biệt nhưng trong đó, công ty mẹ có quyền tác động đến hoạt động của các công ty con.

2.2 Quy định về sự chi phối của công ty mẹ

Hai yếu tố để các quốc gia trên thế giới nhận diện công ty mẹ là sự chi phối xuất phát từ yếu tố vốn và sự chi phối thực tế đến công ty con. Điều 2 Luật Công ty của Nhật Bản xác định, sự chi phối của công ty mẹ đến từ việc sở hữu phần lớn cổ phần có quyền biểu quyết hoặc có quyền chi phối hoạt động điều hành của công ty đó[8]. Theo Điều 46 và 47 Luật Công ty Úc, một công ty được xác định là công ty mẹ của một công ty khác khi nắm giữ phần lớn số cổ phần của công ty con, kiểm soát đa số phiếu biểu quyết (thông qua việc nắm giữ loại cổ phiếu ưu đãi biểu quyết) hoặc nắm giữ quyền bổ nhiệm hoặc bãi nhiệm đa số chức danh quản lý trong công ty con[9]. Theo pháp luật Mỹ[10], quyền chi phối của công ty mẹ biểu hiện ở việc công ty mẹ sở hữu cổ phần chi phối, kiểm soát công việc kinh doanh thực tế, và quyền biểu quyết chi phối đối với công ty con. Theo đó, nếu công ty A không có khả năng chi phối công ty B thì việc nắm giữ cổ phần của công ty A đối với công ty B chỉ là quan hệ đầu tư thông thường, và công ty A không được xem là công ty mẹ của công ty B.
Như vậy, đối với quyền chi phối thông qua yếu tố vốn, đa số các quốc gia đều không ấn định một tỷ lệ cụ thể cổ phần/cổ phần có quyền biểu quyết mà công ty mẹ phải nắm giữ của công ty con. Pháp luật chuyên ngành sẽ có các quy định cụ thể về tỷ lệ cổ phần sở hữu của công ty mẹ. Ở Hoa Kỳ, một công ty nắm giữ trên 50% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của một công ty khác thì được xem là công ty mẹ của công ty khác đó. Tuy nhiên, trường hợp công ty mẹ hoạt động trong các lĩnh vực công ích, ngân hàng hay lĩnh vực đầu tư, theo các quy định pháp luật chuyên ngành, việc một công ty nắm giữ 25% tổng số cổ phần của công ty khác đã được xem là cơ sở để công ty đó được nhận diện là công ty mẹ của công ty khác đó[11].
Đối với quyền chi phối thực tế của công ty mẹ, Điều 2 Luật Công ty của Nhật Bản xác định đó là quyền tác động đến các quyết định về tài chính và kinh doanh của một công ty khác[12]. Điều 3 Sắc lệnh về thực thi Luật Công ty Nhật Bản tiếp tục cụ thể hóa các biểu hiện của quyền chi phối thực tế của công ty mẹ. Theo đó, công ty A được xem là công ty mẹ của công ty B trong các trường hợp sau:
1) Khi đa số thành viên Hội đồng quản trị công ty B là người do công ty A cử;
2) Khi giữa 2 công ty có thỏa thuận về quyền quyết định các vấn đề quan trọng về chiến lược tài chính và kinh doanh của công ty A đối với công ty B;
3) Khi khoản vay mà công ty A cho công ty B vay có giá trị vượt tổng giá trị tài sản của công ty B;
4) Khi có bằng chứng cho thấy công ty A tác động đến các quyết định về tài chính và kinh doanh của công ty B.
Ngay cả khi sự liệt kê các biểu hiện của quyền chi phối thực tế như trên là chưa đầy đủ, vẫn có thể xác định liệu một công ty có là công ty mẹ của công ty khác hay không, bởi pháp luật nước này đã có một định nghĩa chung đóng vai trò nền tảng để xem xét về sự chi phối.

2.3 Trách nhiệm của công ty mẹ

Pháp luật các nước như Hoa Kỳ, Úc và Nhật Bản đều thừa nhận tư cách pháp nhân độc lập của công ty mẹ và các công ty con, nhưng cũng đồng thời xây dựng các quy định đặc thù để giám sát và ràng buộc trách nhiệm của công ty mẹ đối với công ty con. Theo luật của Mỹ, các công ty trong nhóm công ty là những thực thể pháp lý độc lập, với quyền và nghĩa vụ riêng biệt. Tuy nhiên công ty mẹ sẽ phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại mà công ty con gây ra cho bên thứ 3 trong các trường hợp sau:
1) Khi công ty mẹ lợi dụng quyền chi phối của mình, yêu cầu công ty con tham gia vào giao dịch với bên thứ 3 vì lợi ích của công ty mẹ nhưng gây thiệt hại cho công ty con hoặc bên thứ 3;
2) Khi tài sản giữa công ty mẹ và công ty con không được tách bạch, hoặc các giao dịch được thực hiện giữa công ty mẹ và công ty con không đảm bảo nguyên tắc giao dịch giữa các chủ thể pháp lý độc lập;

3) Khi công ty con không nhận đủ vốn từ công ty mẹ để hoạt động;
4) Khi hoạt động của công ty con được công ty mẹ bảo lãnh[13].
Luật cũng quy định các cổ đông của công ty con có quyền khởi kiện công ty mẹ trong trường hợp công ty mẹ lợi dụng quyền chi phối của mình để thực hiện hoạt động sáp nhập, khiến các cổ đông của công ty con phải bán cổ phần với giá mà họ cho rằng là không công bằng[14].
Tại Úc, trong đa số trường hợp, công ty mẹ và công ty con được xem là những thực thể pháp lý độc lập ngoại trừ các trường hợp sau[15]:
1) Khi công ty mẹ thành lập công ty con nhưng không đảm bảo nguồn tài chính để công ty con hoạt động;
2) Khi Tòa án cho rằng lợi ích của bên thứ 3 sẽ được đảm bảo hơn nếu công ty mẹ là đối tượng thực hiện bồi thường thiệt hại[16];
3) Khi giữa công ty mẹ với công ty con và với các thành viên khác của công ty con có thỏa thuận về trách nhiệm của công ty mẹ.
Pháp luật Úc đề cao trách nhiệm của người quản lý với công ty mà mình được bầu ra để thực hiện quyền quản lý. Để bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan, học thuyết Phá hạn trách nhiệm[17] được Tòa án nước này áp dụng. Theo đó, thành viên công ty con có quyền khởi kiện khi người được công ty mẹ cử làm thành viên Hội đồng quản trị ở công ty con vì lợi ích riêng của mình hoặc của công ty mẹ mà gây thiệt hại cho các cổ đông khác của công ty con[18].
Tương tự Úc, hệ thống pháp luật Nhật Bản cũng xem công ty mẹ như là một cổ đông của công ty con. Trong đó, công ty con tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ bằng tài sản của mình; trách nhiệm công ty mẹ chỉ giới hạn trong phạm vi số vốn đã đầu tư. Ngoài nghĩa vụ bồi hoàn cho công ty con khi nhận được lợi ích về tài sản từ công ty con[19] và yêu cầu thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ giữa các công ty trong nhóm[20], Luật Công ty của Nhật Bản không quy định cơ chế cụ thể nào khác để ràng buộc trách nhiệm của công ty mẹ. Trên thực tế, trách nhiệm của công ty mẹ thường được xác định dựa trên các quy tắc do Tòa xây dựng, bao gồm:
1) Quy tắc giám đốc thực tế: Một cá nhân dù không chính thức được bầu vào vị trí quản lý công ty nhưng nắm thực quyền quản lý công ty vẫn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ như một người quản lý hợp pháp của công ty. Vì công ty mẹ cũng được xem như một “Giám đốc ngầm” của công ty con nên công ty mẹ phải chịu trách nhiệm cho những thiệt hại do mình gây ra cho công ty con hoặc với bên thứ ba.
2) Cơ chế phá hạn trách nhiệm: Công ty mẹ phải thực hiện các nghĩa vụ của công ty con nếu lợi dụng tư cách pháp nhân của công ty con để lách luật hoặc khitư cách pháp nhân của công ty con chỉ tồn tại như một hình thức và mọi hoạt động đều diễn ra dưới sự chi phối hoàn toàn của công ty mẹ.

3. Hoàn thiện pháp luật về nhóm công ty ở Việt Nam

Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới, chúng ta có thể hoàn thiện pháp luật về nhóm công ty với một số nội dung sau:
Khái niệm nhóm công ty. Chúng ta có thể xác định nhóm công ty là một tổ hợp liên kết kinh tế không có tư cách pháp nhân, bao gồm các công ty mẹ và các công ty con hoạt động dựa trên mối quan hệ chi phối – bị chi phối. Trong đó, công ty mẹ là doanh nghiệp có quyền chi phối một hoặc nhiều doanh nghiệp khác, nghĩa là công ty mẹ có quyền kiểm soát và tác động đến hoạt động của các công ty con trong nhóm. Công ty con là doanh nghiệp chịu sự kiểm soát của doanh nghiệp khác, và ở đây chính là công ty mẹ.
Đối với các quy định về quyền chi phối của công ty mẹ, một mặt cần rà soát, điều chỉnh các quy định để đảm bảo tính nhất quán của hệ thống các quy định về tỷ lệ sở hữu cổ phần của công ty mẹ đối với công ty con; mặt khác, cần bổ sung định nghĩa quyền chi phối thực tế của công ty mẹ và các biểu hiện của quyền này, khắc phục khả năng bỏ sót các mối quan hệ chi phối – bị chi phối giữa công ty mẹ và công ty con trên thực tế. Cụ thể như sau:
Quyền chi phối của công ty mẹ xuất phát từ: 1) Công ty mẹ sở hữu cổ phần chi phối hoặc có tỷ lệ nắm giữ vốn điều lệ từ 65% (trường hợp là công ty cổ phần) hoặc từ 75% trở lên (trường hợp là công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên); 2) Công ty mẹ tác động đến các quyết định về tài chính và kinh doanh của công ty con trên thực tế. Trong đó, các biểu hiện của quyền chi phối thực tế của công ty mẹ bao gồm:
1) Quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm nhân sự cấp cao của công ty con;
2) Quyền bổ sung, sửa đổi Điều lệ công ty con;
3) Quyền trực tiếp hay gián tiếp quyết định chiến lược, kế hoạch kinh doanh của công ty con;
4) Các trường hợp chi phối khác theo thỏa thuận giữa hai bên.
Cần quy định  rõ hình thức công ty mẹ có được quyền chi phối như:
1) Thông qua việc công ty mẹ đầu tư nắm giữ 100% vốn điều lệ để trở thành chủ sở hữu duy nhất của công ty con hoặc nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối của công ty con;
2) Thông qua việc công ty mẹ cho công ty con vay các khoản vay có giá trị vượt tổng giá trị tài sản của công ty con;
3) Thông qua thỏa thuận giữa các công ty trong tổ hợp công ty mẹ – công ty con.
Về mối quan hệ đầu tư giữa các công ty trong nhóm,. Cần quy định rõ mối quan hệ đầu tư trong nhóm công ty chủ yếu chỉ có quan hệ đầu tư xuôi (ví dụ doanh nghiệp cấp 1 đầu tư vào doanh nghiệp cấp 2), và làm rõ quan hệ đầu tư trong nhóm công ty không diễn ra theo hướng quan hệ đầu tư ngang, đầu tư chéo, đầu tư vượt cấp hay quan hệ đầu tư ngược.
Về trách nhiệm của công ty mẹ.Cần quy định đặc thù để giám sát trách nhiệm của những người được công ty mẹ cử làm người đại diện phần vốn góp của công ty mẹ ở công ty con và sau đó được công ty con bổ nhiệm làm giám đốc;xây dựng cơ chế đảm bảo thành viên công ty con có quyền khởi kiện khi người được công ty mẹ cử làm thành viên Hội đồng quản trị ở công ty con gây thiệt hại cho các cổ đông khác của công ty con.Một mặt, có thể nghiên cứu áp dụng quy tắc giám đốc thực tế trong trường hợp giám đốc hợp pháp của công ty con không thực sự thực thi thẩm quyền hợp pháp của mình mà thực quyền nằm trong tay cổ đông lớn hoặc người quản lý của công ty mẹ. Mặt khác, trong trường hợp công ty mẹ chi phối toàn bộ hoạt động của công ty con,  việc áp dụng cơ chế phá hạn trách nhiệm là cần thiết để buộc công ty mẹ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty con. Sự phá hạn trách nhiệm cần được xem xét khi:
1) Tư cách pháp nhân của công ty con bị lạm dụng để phục vụ cho mục đích bất hợp pháp của công ty mẹ hoặc giúp công ty mẹ lẩn tránh các quy định pháp luật;
2) Giữa công ty mẹ và công ty con không đảm bảo sự tách bạch về vấn đề tài sản, quản lý, nhân sự và công ty con chỉ tồn tại như một vỏ bọc của công ty mẹ;
Ngay cả khi công ty mẹ không lạm dụng tư cách pháp nhân của công ty con thì cơ chế phá hạn trách nhiệm vẫn nên được xem xét áp dụng nhằm đảm bảo lợi ích của bên thứ 3 là các cổ đông, chủ nợ, đối tác thương mại của công ty con. Các quy định pháp luật liên quan đến trách nhiệm công ty mẹ nên được điều chỉnh theo hướng bất kỳ bên thứ ba nào bị thiệt hại bởi hành vi can thiệp trái pháp luật hoặc hành vi trục lợi của công ty mẹ đều có quyền yêu cầu công ty mẹ bồi thường thiệt hại./.

Tác giả: ThS. Trần Minh Anh, Tòa án nhân dân Quận 1, TP. Hồ Chí Minh

Nguồn tin: Bài viết đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 13(389), tháng 7/2019


[1] Điều 146 Luật Doanh nghiệp năm 2005.

[2] Khoản 1 Điều 188 Luật Doanh nghiệp năm 2014 của Việt Nam.
[3] “Tổng công ty” là thuật ngữ chỉ công ty mẹ trong Tổng công ty nhà nước trước đây, trong khi đó, “Tập đoàn kinh tế” mang tính kinh tế – xã hội hơn là một thuật ngữ pháp lý. Xem thêm: Hà Thị Thanh Bình (2017), “Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh giao dịch giữa các công ty trong nhóm công ty mẹ – công ty con”, Tạp chí Khoa học Pháp lý,số 03 (106), tr. 36-45.
[4] Điểm b, c khoản 1 Điều 189 Luật Doanh nghiệp năm 2014 và điểm c, d khoản 5, Điều 3 Nghị định số 69/2014/NĐ-CP.
[5] Điểm đ, e khoản 5, Điều 3 Nghị định số 69/2014/NĐ-CP.
[6] Khoản 3 Điều 190 Luật Doanh nghiệp năm 2014.
[7] Khoản 5 Điều 190 Luật Doanh nghiệp năm 2014.
[8] Companies Act No.86 of July 26, 2005. Tham khảo tại Japanese Law Translation, link truy cập: http://www.japaneselawtranslation.go.jp/law/detail/?ft=2&re=02&dn=1&yo=companies+act+&x=50&y=8&ia=03&ph=&ky=&page=1
[9] Corporations Act No.50 of 2001.Tham khảo tại Commonweath Numbered Act, link truy cập http://www5.austlii.edu.au/au/legis/cth/num_act/ca2001172/s46.html và http://www5.austlii.edu.au/au/legis/cth/num_act/ca2001172/s47.html.
[10] Securities Act 1993 Rule 405, 17 C.F.R 230.405. Tham khảo tại Legal Information Institute, link truy cập: https://www.law.cornell.edu/cfr/text/17/230.405
[11] American Public Utility Holding Companies Act, Bank Holding Companies Act, Investment Companies Act.
[12] Companies Act No.86 of July 26, 2005. Tham khảo tại Japanese Law Translation, link truy cập: http://www.japaneselawtranslation.go.jp/law/detail/?ft=2&re=02&dn=1&yo=companies+act+&x=50&y=8&ia=03&ph=&ky=&page=1.
[13] Kurt A. Strasser, Phillip I.Blumberg (2007), Replacing misused limited liability with enterprise analysis – corporate Groups conference on corporate accountability, limit liability, and the future of globalization. Paper presented at the Conference on Corporate Accountability , Limited Liability , and the Future of Globalization, School of Oriental and African Studies.
[14] Jeffrey D. Bauman (2010), Corporations Law and Policy – Materials and problems, American Casebook Series. Thomson Reuters, 2010, p.871.
[15] H A J Ford et al (1999). Ford’s Principles of Corporations Law (9th edition), Butterworths, page 124-126.
[16] Case of Briggs v JamesHardie & Co Pty Ltd (1989) 16 NSWLR 549; 7 ACLC 841
[17] Chủ sở hữu/cổ đông phải chịu trách nhiệm cho hành vi nhân danh công ty nhưng thực chất lại vì lợi ích riêng của mình.
[18] Corporations Act No.50 of 2001 Part 2F. Tham khảo tại The Federal Register of Legislation, link truy cập: https://www.legislation.gov.au/Details/C2018C00031
[19] Điều 120 Luật Công ty Nhật: Cổ đông phải có nghĩa vụ hoàn trả nếu được trao bất kỳ lợi ích về tài sản nào từ công ty cổ phần mà không cần trả một số tiền tương ứng nào.

[20] Điều 362, 393, 416 Luật Công ty Nhật Bản.
5.0
Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện các quy định của Luật Phá sản 2014

Luật Phá sản năm 2014 ra đời đã tạo ra khung pháp lý vững chắc cho việc phá sản các doanh nghiệp, hợp tác xã. Tuy nhiên, các quy định pháp luật trong lĩnh vực này vẫn còn tồn tại một số bất cập, gây nhiều khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp, hợp tác xã cũng như các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến việc giải quyết thủ tục phá sản. Do vậy, đặt ra vấn đề cần phải có giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật để tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết thủ tục phá sản trong thực tiễn.

1. Một số bất cập, hạn chế của Luật Phá sản năm 2014

Thứ nhất, quy định về tiêu chí để xác định “Doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX) mất khả năng thanh toán”

Theo quy định của Luật Phá sản năm 2014, “phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân (TAND) ra quyết định tuyên bố phá sản”[1]. Quy định này cho thấy, một doanh nghiệp, HTX tuyên bố phá sản phải đáp ứng 02 điều kiện sau đây: (i) doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán và (ii) doanh nghiệp, HTX bị TAND ra quyết định tuyên bố phá sản.
Về tiêu chí “doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán”, Luật Phá sản năm 2014 quy định: “doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, HTX không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”[2]. So sánh với Luật Phá sản năm 2004, có thể thấy Luật Phá sản năm 2014 đã tiến bộ hơn khi thay thế quy định “doanh nghiệp, HTX lâm vào tình trạng phá sản” thành “doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán” để thể hiện đúng bản chất của đối tượng là doanh nghiệp, HTX có nguy cơ bị tuyên bố phá sản; đồng thời đưa ra tiêu chí định lượng để xác định tình trạng doanh nghiệp, HTX thay vì sử dụng tiêu chí định tính như trước đây (doanh nghiệp, HTX không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu)[3].
Tuy nhiên, trên thực tế, có không ít doanh nghiệp, HTX lại là chủ nợ với số tiền lớn hơn số nợ phải thanh toán cho các chủ nợ yêu cầu tuyên bố phá sản. Các doanh nghiệp, HTX này hoàn toàn có thiện chí trả nợ cho các chủ nợ yêu cầu tuyên bố phá sản. Vì lý do chưa thu hồi được tiền từ việc xoay vòng vốn trong kinh doanh, các doanh nghiệp, HTX này không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán và các chủ nợ yêu cầu tuyên bố phá sản không đồng ý thương lượng gia hạn, theo đó đề nghị Tòa án tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp, HTX. Đặc biệt, có trường hợp chủ nợ lạm dụng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, HTX đang gặp khó khăn tạm thời nhằm mục tiêu đẩy doanh nghiệp, HTX vào tình trạng “bị ép phải phá sản”. Tình trạng này đã làm ảnh hưởng rất lớn đến uy tín và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, HTX, thậm chí lại là nguyên nhân chính khiến cho doanh nghiệp, HTX làm ăn thua lỗ sau đó và phải phá sản “thật”.
Phá sản

Thứ hai, quy định về thời hạn ra quyết định thi hành án và định giá lại tài sản trong Luật Phá sản năm 2014 chưa thống nhất với Luật Thi hành án dân sự (THADS) năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)

Khoản 1 Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) năm 2015 quy định việc xây dựng và ban hành VBQPPL phải “bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của VBQPPL trong hệ thống pháp luật”.Tính thống nhất của hệ thống pháp luật phải được xem xét trên cả hai phương diện hình thức và nội dung. Về mặt hình thức, tính thống nhất thể hiện qua cách sắp xếp, phân loại thứ bậc, hiệu lực của các quy phạm pháp luật. Về mặt nội dung, tính thống nhất đòi hỏi pháp luật phải có tính nhất quán. Điều này có nghĩa các VBQPPL trong cùng một lĩnh vực hoặc trong những lĩnh vực khác nhau phải tạo ra sự nhất quán trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội nhất định, hạn chế tình trạng các văn bản quy định khác nhau về cùng một vấn đề[4].
Luật Phá sản năm 2014 và Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) đều quy định cơ quan THADS là cơ quan được giao nhiệm vụ, quyền hạn trong việc thi hành quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án[5]. Tuy nhiên, quy định về thời hạn ra quyết định thi hành án trong các đạo luật này lại chưa có sự thống nhất với nhau. Cụ thể, Luật Phá sản năm 2014 quy định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định tuyên bố phá sản, cơ quan THADS có trách nhiệm chủ động ra quyết định thi hành, phân công Chấp hành viên thi hành quyết định tuyên bố phá sản[6]. Trong khi đó, Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án giải quyết phá sản thì Thủ trưởng cơ quan THADS có thẩm quyền chủ động ra quyết định thi hành án và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành[7]. Như vậy, quy định của hai văn bản luật này về thời hạn để cơ quan THADS ra quyết định thi hành án đối với quyết định tuyên bố phá sản là không thống nhất với nhau, từ đó gây ra những khó khăn cho cơ quan THADS trong việc ban hành quyết định thi hành án, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh các khiếu nại liên quan đến việc tuân thủ quy định về thời hạn ra quyết định thi hành án[8].
Bên cạnh đó, quy định của Luật Phá sản năm 2014 và Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) về trường hợp định giá lại tài sản cũng chưa thống nhất. Theo Luật Phá sản năm 2014, định giá lại tài sản chỉ được thực hiện trong một trường hợp duy nhất là “khi có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 122 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản”[9]. Trong khi đó, Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định 02 trường hợp có thể định giá lại tài sản kê biên gồm: (i) Chấp hành viên có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 98 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản; (ii) Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản[10]. Như vậy, so với Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), Luật Phá sản năm 2014 đã thu hẹp các trường hợp định giá lại. Việc người được thi hành án (trong đó có các chủ nợ của doanh nghiệp, HTX bị phá sản) không có quyền yêu cầu việc định giá lại tài sản của doanh nghiệp, HTX bị phá sản có thể sẽ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong việc được thanh toán các khoản nợ.

Thứ ba, quy định về kiểm toán báo cáo tài chính của doanh nghiệp, HTX trong trường hợp doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Luật Phá sản năm 2014 quy định 02 trường hợp phát sinh nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán: (i) Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, HTX có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán; (ii) Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán[11]. Để bảo đảm thực hiện quy định này, Luật Phá sản năm 2014 quy định: “Những người theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 5 của Luật này không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Trường hợp có thiệt hại phát sinh sau thời điểm doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán do việc không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản gây ra thìphải bồi thường”[12]. Bên cạnh đó, Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, THADS, phá sản doanh nghiệp, HTX (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015) có quy định: “Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi của Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh hoặc người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, HTX không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán”[13].
Trong số các tài liệu kèm theo đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, HTX rơi vào 02 trường hợp trên, Luật Phá sản năm 2014 quy định phải có “Báo cáo tài chính của doanh nghiệp, HTX trong 03 năm gần nhất. Trường hợp doanh nghiệp, HTX được thành lập và hoạt động chưa đủ 03 năm thì kèm theo báo cáo tài chính của doanh nghiệp, HTX trong toàn bộ thời gian hoạt động”[14]. Đây là tài liệu bắt buộc, có vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và nợ phải trả cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp, HTX nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Nói cách khác, qua báo cáo tài chính thì Thẩm phán có thể nắm bắt được thực trạng tài chính của doanh nghiệp, HTX. Tuy nhiên, Luật Phá sản năm 2014 lại không nêu cụ thể báo cáo tài chính có phải kiểm toán hay không?
Đối chiếu với Luật Phá sản năm 2004, khi doanh nghiệp, HTX nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải nộp kèm theo đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản “Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, HTX, trong đó giải trình nguyên nhân và hoàn cảnh liên quan đến tình trạng mất khả năng thanh toán; nếu doanh nghiệp là công ty cổ phần mà pháp luật yêu cầu phải được kiểm toán thì báo cáo tài chính phải được tổ chức kiểm toán độc lập xác nhận”[15]. Quy định báo cáo tài chính phải được kiểm toán có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tính xác thực, khách quan của báo cáo tài chính để dựa vào đó làm cơ sở cho việc giải quyết thủ tục phá sản của doanh nghiệp, HTX. Tiếc rằng, Luật Phá sản năm 2014 đã không quy định rõ về nội dung này. Trên thực tế, việc chấp hành các quy định về chế độ tài chính kế toán còn yếu kém; quản lý sổ sách, chứng từ kế toán lỏng lẻo; tình hình tài sản và các khoản công nợ không được ghi chép, phản ánh đầy đủ, rõ ràng; hồ sơ pháp lý các khoản công nợ thiếu chứng cứ pháp lý để trả nợ và thu nợ vì không được chủ nợ và người mắc nợ đối chiếu, ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết phá sản cũng như việc thi hành quyết định thanh lý tài sản của doanh nghiệp[16].
Thực tiễn giải quyết thủ tục phá sản của Tòa án cho thấy, nếu không quy định cụ thể việc kiểm toán báo cáo tài chính của doanh nghiệp, HTX sẽ ảnh hưởng đến việc xác định tính trung thực hồ sơ yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, HTX của Tòa án. Bởi lẽ, Tòa án không phải là cơ quan chuyên môn để có thể xác thực các báo cáo tài chính mà doanh nghiệp, HTX đã nộp. Điều này gián tiếp tạo “cơ hội” cho các doanh nghiệp, HTX cố tình thực hiện việc phá sản một cách giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với chủ nợ, người lao động của doanh nghiệp, HTX.

Thứ tư, quy định về tạm ứng chi phí phá sản và mở tài khoản để nộp tiền tạm ứng chi phí phá sản

Luật Phá sản năm 2014 quy định, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ, TAND dự tính số tiền tạm ứng chi phí phá sản và thông báo cho người yêu cầu mở thủ tục phá sản để nộp tạm ứng chi phí phá sản. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo về việc nộp tạm ứng chi phí phá sản, người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải thực hiện việc tạm ứng chi phí phá sản vào tài khoản do TAND mở tại ngân hàng[17]. “Tạm ứng chi phí phá sản” là khoản tiền do TAND quyết định để đăng báo, tạm ứng chi phí quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản[18].
Tuy nhiên, Luật Phá sản năm 2014 không quy định cụ thể về cách tính tạm ứng chi phí phá sản. Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ hướng dẫn quy định về quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản chỉ bao hàm quy định hướng dẫn về cách tính mức thù lao đối với quản tài viên mà không có bất cứ quy định nào hướng dẫn cách tính tạm ứng chi phí phá sản. Bên cạnh đó, Luật Phá sản năm 2014 và Nghị định số 22/2015/NĐ-CP cũng quy định chưa cụ thể về thủ tục mở, quản lý tài khoản do Tòa án mở tại Ngân hàng để thu tiền tạm ứng chi phí phá sản. Điều này gây lúng túng cho Tòa án trong việc tổ chức thực hiện trên thực tế, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau như tài khoản mở tại ngân hàng được sử dụng cho một vụ hay nhiều vụ phá sản?

2. Kiến nghị hoàn thiện Luật Phá sản năm 2014

Một là, cần xem xét quy định lại tiêu chí để đánh giá “doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán” theo hướng tăng lên thời gian để doanh nghiệp, HTX có đủ thời gian cần thiết thực hiện nghĩa vụ thanh toán đã đến hạn theo yêu cầu của chủ nợ cũng như thực hiện việc xoay vòng vốn nhằm phục vụ cho kế hoạch kinh doanh. Theo đó, chúng tôi kiến nghị sửa đổi: “doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, HTX không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”.
Hai là, để bảo đảm sự thống nhất của các văn bản pháp luật, cần sửa đổi Luật Phá sản năm 2014 và Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) theo hướng thống nhất về thời hạn ra quyết định thi hành án đối với các quyết định tuyên bố phá sản của doanh nghiệp, HTX. Theo đó, cần xác định thời hạn ban hành quyết định tuyên bố phá sản là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án giải quyết phá sản theo tinh thần của Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Bên cạnh đó, để bảo đảm quyền và lợi ích của người được thi hành án là các chủ nợ của doanh nghiệp, HTX bị tuyên bố phá sản, Luật Phá sản năm 2014 cần kế thừa quy định của Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) bằng việc bổ sung thêm một trường hợp vào Điều 123 về định giá lại tài sản khi “Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản”.
Ba là, điểm a khoản 3 Điều 28 Luật Phá sản năm 2014 cần được sửa đổi theo hướng bổ sung yêu cầu thực hiện kiểm toán đối với báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, HTX trong trường hợp mất khả năng thanh toán. Theo đó, điểm a khoản 3 Điều 28 Luật Phá sản năm 2014 được viết lại như sau: “a) Báo cáo tài chính của doanh nghiệp, HTX trong 03 năm gần nhất. Trường hợp doanh nghiệp, HTX được thành lập và hoạt động chưa đủ 03 năm thì kèm theo báo cáo tài chính của doanh nghiệp, HTX trong toàn bộ thời gian hoạt động. Báo cáo tài chính phải được tổ chức kiểm toán độc lập xác nhận”.
Bốn là, Chính phủ cần sớm sửa đổi Nghị định số 22/2015/NĐ-CP theo hướng bổ sung quy định về cách tính tạm ứng chi phí phá sản cũng như thủ tục mở và quản lý tài khoản ngân hàng của Tòa án để thực hiện việc thu, chi khoản tiền tạm ứng chi phí phá sản cho phù hợp với quy định pháp luật về phá sản cũng như tài chính, kế toán./.

Tác giả: ThS. Trương Thị Quỳnh Trâm, Toà án nhân dân Quận 1, TP. Hồ Chí Minh

Nguồn tin: Bài viết đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 13(389), tháng 7/2019


[1] Khoản 2 Điều 1 Luật Phá sản năm 2014.
[2] Khoản 12 Điều 1 Luật Phá sản năm 2014.
[3] Điều 3 Luật Phá sản năm 2004.
[4] Nguyễn Nhật Khanh, Tính thống nhất của Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) với các văn bản pháp luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Tạp chí Khoa học Pháp lý số 02/2018, tr. 66.
[5] Khoản 1 Điều 17 Luật Phá sản năm 2014, điểm g khoản 1 Điều 2 Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
[6] Khoản 1 Điều 120 Luật Phá sản năm 2014.
[7] Khoản 2 Điều 36 Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
[8] Điều 128 Luật Phá sản năm 2014, Mục 1 Chương VI Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
[9] Khoản 1 Điều 123 Luật Phá sản năm 2014.
[10] Khoản 1 Điều 99 Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
[11] Khoản 3, 4 Điều 5 Luật Phá sản năm 2014.
[12] Khoản 5 Điều 28 Luật Phá sản năm 2014.
[13] Điều 54 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP).
[14] Điểm a khoản 3 Điều 28 Luật Phá sản năm 2014.
[15] Điểm a khoản 4 Điều 15 Luật Phá sản năm 2004.
[16] Phan Thị Mỹ Hạnh, Phá sản doanh nghiệp và thi hành Luật Phá sản ở Việt Nam, Tạp chí Dầu khí số 4/2018, tr. 60.
[17] Điều 38 Luật Phá sản năm 2014.

[18] Khoản 14 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014.