Những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện sáng quyền lập pháp của đại biểu Quốc hội

1. Việc thực hiện sáng quyền lập pháp của đại biểu Quốc hội theo quy định của pháp luật

Sáng quyền lập pháp (SQLP) hay còn gọi là quyền trình sáng kiến pháp luật (SKPL), là một trong những quyền cơ bản của nghị sĩ các nước, trong đó có đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Việt Nam. Việc thực thi quyền này không chỉ thể hiện vai trò của ĐBQH với tư cách là thành viên, một bộ phận hợp thành Quốc hội – cơ quan thực thi quyền lập pháp, mà còn xuất phát từ vai trò, trách nhiệm người đại biểu dân cử khi nhận sự ủy quyền của cử tri/nhân dân.
Theo nghĩa chung nhất, “sáng kiến” là ý kiến mới, có tác dụng làm cho công việc được tiến hành tốt hơn[1]. Sáng kiến pháp luật là việc đưa ra kiến nghị với Quốc hội về việc xây dựng, ban hành văn bản pháp luật[2]. Theo cách hiểu này, có thể định nghĩa sáng quyền lập pháp của ĐBQH là quyền hiến định của ĐBQH, theo đó, ĐBQH tự mình trình dự án luật hoặc đưa ra kiến nghị về luật trước Quốc hội; trình dự án pháp lệnh hoặc đưa ra kiến nghị về pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) trong Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm hoặc trong cả nhiệm kỳ Quốc hội, nhằm thực hiện quyền, nghĩa vụ của ĐBQH theo quy định của pháp luật.
Lịch sử hình thành và phát triển 70 năm qua của Quốc hội Việt Nam cho thấy vai trò và quyền hạn của ĐBQH ngày càng được đề cao và khẳng định, trong đó có vai trò, quyền hạn và trách nhiệm của ĐBQH trong lĩnh vực lập pháp. Nếu như Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 chưa quy định ĐBQH có quyền trình dự án luật thì tới Hiến pháp năm 1980 đã quy định quyền này tại Điều 86. Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định quyền trình dự án luật của ĐBQH và bổ sung thêm quyền kiến nghị về luật tại Điều 87, được cụ thể hóa trong Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL).
Hiến pháp năm 2013 quy định cụ thể hơn về sáng quyền lập pháp của ĐBQH tại Điều 84:

1. Chủ tịch nước, UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật trước Quốc hội, trình dự án pháp lệnh trước UBTVQH.
2. ĐBQH có quyền trình kiến nghị về luật, pháp lệnh và dự án luật, dự án pháp lệnh trước Quốc hội, UBTVQH.

Và nội dung này tiếp tục được quy định chi tiết trong Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, tại Điều 29:

1. ĐBQH có quyền trình dự án luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh trước Quốc hội, UBTVQH theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định.
2. ĐBQH được tư vấn, hỗ trợ trong việc lập, hoàn thiện hồ sơ về dự án luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh theo quy định của pháp luật.

Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành thì sáng quyền lập pháp của ĐBQH được hiểu gồm hai quyền cụ thể: Một là, quyền trình dự án luật ra Quốc hội, trình dự án pháp lệnh ra UBTVQH; hai là, quyền kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh trước Quốc hội, UBTVQH. Cách thể hiện quyền này được thực hiện chủ yếu bằng văn bản nhưng cũng có thể phát biểu tại phiên họp thảo luận về dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội hoặc của UBTVQH[3].
Như vậy, quyền trình kiến nghị về luật, pháp lệnh và dự án luật, dự án pháp lệnh trước Quốc hội, UBTVQH của ĐBQH đã được quy định từ nhiều năm nay trong các văn bản pháp luật, nhưng thực tiễn cho thấy, gần như tuyệt đại đa số các dự án luật, pháp lệnh vẫn do Chính phủ, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, UBTVQH… trình. Việc ĐBQH thực hiện quyền trình dự án luật, dự án pháp lệnh trước Quốc hội, UBTVQH vô cùng hạn chế, mới chỉ dừng lại ở các bài phát biểu nêu lên việc cần thiết phải có luật, pháp lệnh mà chưa đưa ra được hồ sơ kiến nghị hay dự án, dự thảo hoàn chỉnh để trình Quốc hội, UBTVQH theo quy trình quy định tại Luật Ban hành VBQPPL.
Trong thời gian qua, cũng có một số ĐBQH đã trình dự án luật, pháp lệnh hoặc nêu kiến nghị về luật, pháp lệnh qua các khóa Quốc hội. Tuy nhiên, chưa một ĐBQH nào thực hiện thành công quyền trình SKPL. Theo số liệu khảo sát năm 2015 trong khuôn khổ Đề tài nghiên cứu khoa học của Viện Nghiên cứu Lập pháp “Hỗ trợ ĐBQH thực hiện quyền trình sáng kiến pháp luật – Cơ sở lý luận và thực tiễn”, khi được hỏi về việc thực hiện quyền trình sáng kiến pháp luật của chính mình, số đại biểu có câu trả lời “thỉnh thoảng, ít” chiếm 45%; khoảng 6% số ĐBQH được hỏi cho biết bản thân mình thường xuyên thực thi quyền trình SKPL; câu trả lời “chưa bao giờ” nhận được từ 47% số đại biểu được hỏi – nhiều hơn gấp rưỡi so với đánh giá tương tự về hoạt động của bản thân cá nhân đại biểu được hỏi[4]. Trong đó, ý kiến của các ĐBQH chuyên trách và kiêm nhiệm trong phần câu hỏi đánh giá cá nhân này khá tương đồng. Do ý kiến của ĐBQH về việc thực hiện quyền sáng kiến pháp luật của chính mình có độ tin cậy cao hơn (dựa trên sự việc) so với ý kiến về việc thực hiện quyền đó nói chung (dựa trên cả cảm nhận), kết quả khảo sát nêu trên cho thấy, nói chung, ĐBQH thực quyền này chưa được nhiều.

2. Những yếu tố tác động đến việc thực hiện sáng quyền lập pháp của đại biểu Quốc hội

Việc thực hiện quyền trình sáng kiến pháp luật của ĐBQH còn hạn chế do chịu tác động của nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố chủ quan và khách quan.

2.1. Yếu tố chủ quan

– Nhận thức, quan niệm về quyền trình SKPL
Nhận thức, quan niệm là một trong những trở ngại gây khó khăn khi ĐBQH thực hiện quyền trình SKPL. Cụ thể, về tư duy pháp lý, thời gian qua đã có tình trạng nhiều dự án luật sau khi được ban hành đã phải xem xét sửa đổi, bổ sung ngay hoặc thậm chí chưa có hiệu lực thi hành đã phải sửa đổi. Điều đó cho thấy tư duy pháp lý chưa theo kịp sự phát triển của xã hội, chưa đáp ứng được nhu cầu của đời sống kinh tế – xã hội và xu hướng hội nhập quốc tế. Trong khi đó, ĐBQH lại không có trong tay bộ máy, công cụ để nắm bắt, kiểm tra, đánh giá kịp thời diễn biến của sự kiện, vấn đề, phải phụ thuộc vào các cơ quan chuyên môn hay cơ quan thông tin, báo chí… nên tư duy pháp lý không chỉ không theo kịp mà có khi còn không phù hợp với sự kiện xã hội đã và đang diễn ra[5]… Hơn nữa, cách làm từ sáng kiến cá nhân trở thành sáng kiến tập thể hầu như đã thành nề nếp và cũng có hiệu quả. Có lẽ cũng vì vậy mà rất hiếm khi có một cá nhân đại biểu nào tách khỏi tập thể để trình sáng kiến độc lập riêng rẽ. Đồng thời, tâm lý e ngại đang tồn tại trong ĐBQH, nhất là ĐBQH công tác ở các địa phương trong việc đề xuất SKPL. Kết quả điều tra chỉ ra rằng, 50% số đại biểu chuyên trách và 54,5% đại biểu kiêm nhiệm được hỏi lựa chọn “Tâm lý e ngại” là nguyên nhân chủ quan gây khó khăn trong việc thực hiện sáng quyền lập pháp của cá nhân đại biểu. Khi đề xuất sáng kiến pháp luật của mình, đại biểu không chỉ phải bảo vệ quan điểm, công trình của mình trước Quốc hội, mà còn trước các nhà khoa học, các cơ quan chuyên môn và trước nhân dân. Điều này đòi hỏi ĐBQH phải có bản lĩnh vượt qua được trở ngại về tâm lý và không ngừng nâng cao năng lực để đảm bảo đưa ra sáng kiến pháp luật phù hợp yêu cầu thực tiễn và có chất lượng cao về chuyên môn pháp lý. Ngoài ra, quan niệm đã là luật thì phải “quy mô, hoành tráng” theo đúng khuôn mẫu văn bản luật từ trước tới nay cũng gây nên tâm lý ngại ngần cho đại biểu vì sẽ đòi hỏi nhiều thời gian, tâm sức, trong khi đại biểu chỉ muốn đề xuất một chính sách pháp luật cụ thể, một vấn đề cụ thể cần điều chỉnh. Trong khi đó, trên thế giới, Nghị viện các nước khá phổ biến với việc xem xét, thông qua các dự luật với dung lượng chỉ một vài trang, với một vài điều luật.
– Năng lực của ĐBQH  
Năng lực của ĐBQH còn có khoảng cách thiếu hụt khá lớn so với những yêu cầu công việc để thực hiện quyền trình SKPL. Kết quả khảo sát cho thấy, ý kiến hai nhóm đại biểu chuyên trách và đại biểu kiêm nhiệm khá đồng nhất về nguyên nhân này. “Do năng lực hạn chế” được 32% số đại biểu chuyên trách và khoảng 41% đại biểu kiêm nhiệm được hỏi coi là nguyên nhân dẫn đến thực trạng thực hiện quyền trình sáng kiến pháp luật chưa tốt như đã trình bày[6]. Đối chiếu với quy định của Luật Ban hành VBQPPL (kể cả Luật năm 2008, nhất là Luật năm 2015), có thể nhận thấy ĐBQH phải hoàn thành một khối lượng công việc rất lớn để trình dự án luật, pháp lệnh. Đó đều là những công việc đòi hỏi nhiều công sức, sự công phu, tỉ mỉ, với đội ngũ chuyên gia trình độ cao ở nhiều lĩnh vực chứ không chỉ riêng lĩnh vực pháp luật, sự vận hành đồng bộ của cả hệ thống các cơ quan liên quan tới việc xây dựng dự án luật[7] … Vì lý do này, với các bộ, ngành vốn có nhiều nguồn lực đã khó khăn trong việc trình dự án luật, thì với ĐBQH, nhất là các đại biểu hoạt động ở địa phương, lại càng khó khăn hơn nữa. Hơn nữa, mỗi khoá Quốc hội thường có hơn 2/3 số đại biểu mới lần đầu tham gia Quốc hội, chưa có dịp tìm hiểu kỹ càng quyền SKPL, trong khi đó, ngay từ năm đầu của mỗi khoá trước đây, Quốc hội đã phải xây dựng Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cả nhiệm kỳ và năm sau. Mặt khác, để trình một sáng kiến hay một dự án luật, đại biểu phải có thời gian nghiên cứu, có tri thức, đủ hiểu biết, nắm rõ vấn đề và tâm tư nguyện vọng của cử tri để lập luận và thuyết minh cho dự án luật đó về lý do trình, phạm vi, đối tượng điều chỉnh, dự báo tác động kinh tế – xã hội, dự kiến nguồn lực đảm bảo… Sự phức tạp của việc thực hiện quyền trình sáng kiến pháp luật không chỉ dừng ở việc phải có năng lực hoạch định các chính sách lập pháp phù hợp mà còn ở khả năng chuyển hóa các chính sách đó thành các quy phạm pháp luật.
Bên cạnh đó, thiếu thời gian cũng được coi là nguyên nhân quan trọng cản trở ĐBQH thực hiện quyền trình SKPL. Theo kết quả khảo sát, có đến 78,6% số đại biểu chuyên trách và 81,1% số đại biểu kiêm nhiệm, nguyên nhân chủ quan căn bản nhất dẫn đến tình trạng nêu trên được cho là do quỹ thời gian còn hạn hẹp . Trên thực tế, từ ý tưởng đến việc trình dự án luật ra Quốc hội là một chặng đường dài, với rất nhiều công đoạn từ việc đưa tên dự án vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh rồi đến các bước soạn thảo, thẩm tra, thảo luận và biểu quyết thông qua và trải qua hai kỳ họp. Đối với ĐBQH, nhất là đại biểu kiêm nhiệm còn phải dành thời gian cho các công việc khác thì khoảng thời gian theo đuổi một kiến nghị hay dự án luật dài như vậy quả thực là một thách thức không nhỏ.

2.2. Yếu tố khách quan

– Khuôn khổ pháp luật chưa rõ ràng, đồng bộ
Theo kết quả khảo sát, đa số các ĐBQH cho rằng, những quy định để thực hiện quyền trình sáng kiến pháp luật của đại biểu còn chưa rõ ràng, dẫn đến tình trạng lúng túng khó thực hiện trong thực tế (với 74% người được hỏi lựa chọn phương án này). Trong đó, 75% số đại biểu chuyên trách và 74% số đại biểu kiêm nhiệm được hỏi đồng thuận với quan điểm này, thể hiện sự thống nhất của các đại biểu về vấn đề đặt ra[8]. Trong khi đó, ý kiến của những người không phải là ĐBQH cũng khá tương đồng, với 79% số người được hỏi trả lời là do “Quy định pháp lý chưa rõ ràng, khó thực hiện”[9]. Điều này cho thấy, còn tồn tại nhiều điểm chưa nhất quán trong hành lang pháp lý khiến cho việc thực thi quyền sáng kiến pháp luật của các ĐBQH không thể diễn ra thường xuyên và có hiệu quả như cần phải có.

Có thể thấy, các quy định hiện hành chưa cụ thể, chi tiết về quy trình, thủ tục, chưa có sự tách biệt những đặc thù trong trình tự, thủ tục trình dự án luật của ĐBQH với các chủ thể khác; đặc biệt là về các điều kiện hỗ trợ đại biểu thực hiện quyền trình SKPL. Việc không có các quy định của pháp luật cụ thể như phân tích ở trên được xem là nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng quyền sáng kiến pháp luật và trình dự án luật rất ít khi được các đại biểu sử dụng, và trong những trường hợp được sử dụng, ý tưởng lập pháp của đại biểu cũng không được đưa vào chương trình lập pháp quốc gia. Đặc biệt, sự chưa rõ ràng, khó thực hiện của các quy định về quy trình, thủ tục trình sáng kiến pháp luật của ĐBQH là một trong những vướng mắc dẫn đến việc hạn chế quyền sáng kiến pháp luật của đại biểu. Thực tế cho thấy, để có một sáng kiến pháp luật thì sáng kiến đó phải được UBTVQH đồng ý đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh để trình Quốc hội cho ý kiến về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cho cả nhiệm kỳ, được xây dựng ngay từ đầu mỗi khóa Quốc hội. Hoặc khi trình kiến nghị luật, pháp lệnh đến UBTVQH, đại biểu phải gửi kiến nghị luật, pháp lệnh đó đến Chính phủ để Chính phủ tham gia ý kiến. Một số quy định hiện hành rất khó thực hiện được nếu không nói là hình thức. Ví dụ, ĐBQH chỉ đạo Ban soạn thảo trong quá trình soạn thảo dự án luật do mình đề xuất, hay các tiêu chí lập đề nghị, kiến nghị luật, pháp lệnh còn chưa cụ thể, rõ ràng và phù hợp với yêu cầu của từng loại chương trình.
Những quy trình phức tạp như trên đã gây khó khăn, khiến các đại biểu thấy “ngại” khi có ý định trình sáng kiến hay dự án luật, pháp lệnh, nhất là khi phần lớn đại biểu họat động kiêm nhiệm và có tới 1/3 tổng số đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu. Việc phải trình sáng kiến pháp luật qua nhiều khâu, nhiều trình tự tương đối phức tạp dẫn đến sáng kiến pháp luật của ĐBQH thường không theo đúng quy trình, thủ tục của Luật Ban hành VBQPPL[10]. Ví dụ, tại phiên họp thứ 45 của UBTVQH khóa XIII, sáng kiến lập pháp của đại biểu Trần Thị Quốc Khánh được nhiều đại biểu đánh giá là đã có một quá trình chuẩn bị rất công phu nhưng khi trình ra UBTVQH thì hồ sơ dự án Luật lại chưa có ý kiến chính thức của Chính phủ.
– Chương trình lập pháp quá tải
Những hạn chế trong chương trình xây dựng luật và pháp lệnh của Quốc hội là một nguyên nhân dẫn đến vướng mắc, hạn chế trong việc thực hiện quyền trình sáng kiến pháp luật của ĐBQH. Trước hết, chương trình lập pháp đang bị quá tải, với số lượng lớn các dự án luật, pháp lệnh do các cơ quan, tổ chức trình trong điều kiện Quốc hội họp mỗi năm chỉ có hai kỳ. Dù đảm bảo có đủ thời gian và năng lực soạn thảo các dự án luật thì việc trình các dự án luật của ĐBQH còn gặp phải một khó khăn khác nữa cũng về mặt thời gian, đó là khả năng được đưa vào chương trình làm việc của Quốc hội. Ở Quốc hội nước ta, với quan niệm cần phải xây dựng đủ luật đề điều chỉnh các quan hệ xã hội trong cuộc sống, chương trình xây dựng luật, pháp lệnh luôn đầy ắp các dự án luật, pháp lệnh trong tình trạng chờ để được thông qua theo kế hoạch. Trong khi đó, với cách thức tổ chức các kỳ họp Quốc hội chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, mỗi kỳ họp chỉ kéo dài hơn một tháng, thì việc hoàn thành được khối lượng các công việc này đã là một nhiệm vụ khó khăn. Đưa được dự án vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh (dù là chương trình chính thức hay dự bị) là một việc không đơn giản.
Hơn nữa, một nguyên tắc cơ bản là Chính phủ phải luôn được quyền ưu tiên trong việc xác lập chương trình làm việc của Quốc hội. Điều này là do Chính phủ là cơ quan nhà nước có khả năng nắm rõ nhất các yêu cầu của cuộc sống; đồng thời, nếu không được xác định ưu tiên của chương trình làm việc của Quốc hội thì có thể dẫn đến tình trạng các đề xuất của Chính phủ không được thực hiện kịp thời và khi đó, không có cơ sở để xác định trách nhiệm của Chính phủ về những hạn chế, yếu kém có thể có trong quá trình quản trị quốc gia. Một khi sự ưu tiên được dành cho các đề xuất của Chính phủ thì việc trình các dự án luật của cá nhân các ĐBQH rơi vào hàng sau, thế yếu. Điều này có nghĩa là cơ hội để xem xét các dự án luật do cá nhân ĐBQH trình là không nhiều. Đây cũng chính là tình trạng phổ biến ở nghị viện những nước theo mô hình đại nghị. Ở đó, người ta đã phải cố gắng giải quyết vấn đề này để đảm bảo cơ hội cho cá nhân các nghị sĩ (thực chất là thực hiện nguyên tắc dân chủ thiểu số) bằng cách quy định một khoảng thời gian cố định trong tuần làm việc để xem xét các kiến nghị của cá nhân các ĐBQH.
– Các điều kiện hỗ trợ còn thiếu và chưa phù hợp
Theo ý kiến của các ĐBQH, các điều kiện hỗ trợ đại biểu thực hiện quyền trình sáng kiến pháp luật còn thiếu, chưa phù hợp, cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong việc thực hiện quyền. Đó là điều kiện về thông tin, trang thiết bị, cơ sở vật chất, nhân lực, tài chính.
+ Về hỗ trợ thông tin
53% ĐBQH được hỏi cho rằng, một nguyên nhân khiến các ĐBQH chưa tích cực hoặc chưa từng có hoạt động trình dự án luật là do “khả năng tiếp cận thông tin còn hạn chế”. ĐBQH, nhất là ĐBQH ở địa phương chỉ có điều kiện tiếp cận thông tin tầm vĩ mô chủ yếu tại các kỳ họp Quốc hội. Trong thời gian Quốc hội không họp, ĐBQH ít có điều kiện hoặc nếu được tiếp cận thì thông tin thường chậm nên trở thành lạc hậu. Hơn nữa, không nhiều ĐBQH có điều kiện tiếp cận thông tin đa chiều hoặc thông tin chuyên sâu, cũng như khả năng tập hợp, phân tích thông tin của một số đại biểu còn hạn chế. Do vậy, ĐBQH khó có được cơ sở đầy đủ để xây dựng luận cứ, lập luận khoa học trong việc kiến nghị về luật hoặc đề xuất SKPL.
+ Cơ sở vật chất, kỹ thuật
Trong các điều kiện nêu trên, đa số các đại biểu được hỏi cho rằng, trang thiết bị có được cung cấp, nhưng trên thực tế chưa đáp ứng được nhu cầu hoạt động của các đại biểu. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa trang thiết bị và cơ sở vật chất của các ĐBQH còn nghèo nàn là nguyên nhân cơ bản dẫn đến những mặt hạn chế trong việc thực hiện quyền trình SKPL. Trong một cuộc khảo sát, mặc dù 41% ĐBQH được hỏi đồng ý như vậy, nhưng số ĐBQH phản đối còn lớn hơn, với 59% phủ nhận[11]. Có lẽ vấn đề ở đây không nằm ở bản thân trang thiết bị mà là ở hiệu quả sử dụng trang thiết bị phục vụ cho công việc.
+ Nguồn nhân lực
Về nguyên nhân khách quan do thiếu hỗ trợ nguồn nhân lực cho hoạt động trình dự án luật dẫn đến thực trạng trên, có 61% người được hỏi cho rằng, đại biểu hoàn toàn không được hỗ trợ về nguồn nhân lực; 36,7% cho rằng đại biểu được hỗ trợ về nhân lực nhưng nguồn nhân lực chưa đa dạng, chuyên sâu. Như vậy, qua số liệu có thể thấy sự hỗ trợ về nguồn nhân lực trong quá trình thực hiện vai trò đại biểu nói chung cũng như trong việc chuẩn bị cơ sở trình dự án luật nói riêng còn hạn chế.
+ Tài chính
Việc xây dựng dự án luật, pháp lệnh cần có chi phí tài chính. Để giúp ĐBQH làm việc này, pháp luật (cả Quy chế Hoạt động của ĐBQH, Đoàn ĐBQH và Luật Ban hành VBQPPL) chỉ quy định: “Văn phòng Quốc hội bảo đảm điều kiện cần thiết cho Ban soạn thảo dự án luật, dự án pháp lệnh do ĐBQH trình”. Quy định như trên còn chung chung, khó khả thi. Trong thời gian tới cần có quy định và cơ chế cụ thể hơn. Bên cạnh đó, nguồn lực cho việc trình SKPL, chi phí cho công tác xây dựng pháp luật hiện nay vẫn rất thấp, chưa thực sự tạo điều kiện cho đại biểu sử dụng khoản kinh phí eo hẹp này để khuyến khích đội ngũ tư vấn, cán bộ giúp việc trong quá trình nghiên cứu, tham mưu cho ĐBQH.
Cũng tương tự những nhận định về nguyên nhân xuất phát từ việc thiếu hụt hỗ trợ nhân lực, với 58,3% đồng thuận, đa số các ĐBQH cho rằng họ không nhận được những hỗ trợ cần thiết để hoàn thành quyền và nghĩa vụ trình dự án luật của mình. 39,6% số ĐBQH được hỏi cũng cho rằng việc hỗ trợ tài chính cho hoạt động chung hiện nay là chưa đủ[12]. Riêng đối với việc hỗ trợ tài chính để thực hiện quyền trình dự án luật, 50% đại biểu chuyên trách so với 70% đại biểu kiêm nhiệm nói rằng họ không có hỗ trợ về tài chính.

3. Một vài đề xuất

Trên cơ sở ý kiến của các ĐBQH, các chuyên gia trong lĩnh vực lập pháp, có thể gợi ý một số vấn đề cần được quan tâm giải quyết để khơi thông con đường thực hiện sáng quyền lập pháp của ĐBQH.
– Tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của ĐBQH trong việc thực hiện các chức năng của Quốc hội và với cử tri, trong đó có cơ chế gắn trách nhiệm và chất lượng công việc của đại biểu với việc tái cử. Theo đó, việc ĐBQH thực hiện quyền trình sáng kiến pháp luật ở góc độ nhất định không chỉ thể hiện năng lực, trình độ của cá nhân ĐBQH mà còn là tiêu chí đánh giá tính đại diện và sự gắn kết với cử tri và là cơ sở cho việc tái cử trong nhiệm kỳ sau.
– Cần tiếp tục đổi mới cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội để đề cao hoạt động lập pháp trong Nhà nước pháp quyền, đặc biệt là đẩy mạnh vai trò và bố trí ĐBQH hợp lý để có thể phát huy tối đa năng lực, trình độ chuyên môn của mình trong thực hiện quyền trình SKPL.
– Cần sớm nghiên cứu để ban hành một văn bản quy phạp pháp luật riêng (có thể là Nghị quyết của UBTVQH) để quy định cụ thể, tập trung, thống nhất những vấn đề liên quan trong Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 giúp ĐBQH cũng như các chủ thể có liên quan dễ nắm bắt và thực hiện. Cần có sự phân biệt và quy định cụ thể đối với quyền đưa ra kiến nghị về luật, pháp lệnh và quyền trình dự án luật, pháp lệnh của ĐBQH; đồng thời, coi quyền đưa ra kiến nghị về luật, pháp lệnh là đặc quyền riêng chỉ của ĐBQH. Cũng cần quy định thật cụ thể về các bước trong quy trình, thủ tục khi ĐBQH thực hiện quyền trình sáng kiến pháp luật (có sự khác biệt giữa hình thức thực hiện và phạm vi, tính chất, mức độ của sáng quyền). Trong đó, ghi rõ trách nhiệm của các ĐBQH và các chủ thể có liên quan (đặc biệt là trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ trình sáng quyền lập pháp của ĐBQH và thời hạn, lý do, hình thức trả lời nếu sáng quyền không được chấp nhận); liệt kê các loại văn bản phải có trong hồ sơ thực hiện quyền trình sáng kiến pháp luật của ĐBQH và yêu cầu cụ thể về nội dung, chất lượng, thời hạn đối với từng văn bản…
– Hoàn thiện, bổ sung các quy định về cơ chế hỗ trợ đại biểu thực hiện sáng quyền lập pháp (cơ chế về tiếp cận thông tin, cơ chế về sử dụng nguồn nhân lực, cơ chế về tài chính…).
Như vậy, là một trong những chủ thể thực hiện sáng quyền lập pháp nhưng ĐBQH muốn thực hiện có hiệu quả quyền này thì cần phải có sự nỗ lực, vận động tự thân cùng với những điều kiện hỗ trợ từ bên ngoài một cách đầy đủ và đồng bộ. Khi đó mới có thể hy vọng đưa quyền này ra khỏi khuôn khổ quy định trên giấy./.
Tác giả: Trần Tuyết Mai, TS. Viện Nghiên cứu Lập pháp.


*Bài viết có sử dụng nguồn thông tin từ Đề tài “Hỗ trợ đại biểu Quốc hội thực hiện quyền trình sáng kiến pháp luật – Cơ sở lý luận và thực tiễn” do TS. Trần Tuyết Mai làm Chủ nhiệm.
[1] Trung tâm Từ điển học và Nhà xuất bản Đà Nẵng; Từ điển tiếng Việt, 1997, tr. 816.

[2] Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2003, tập 3, tr. 730.
[3] Xem Bùi Ngọc Thanh: “Đại biểu Quốc hội Việt Nam với việc thực hiện quyền SKPL”, Kỷ yếu Hội thảo “Đại biểu Quốc hội với việc thực hiện SQLP” do Viện Nghiên cứu Lập pháp và Viện Rosa Luxemburg tổ chức. Nxb. Lao động, Hà Nội, 2013.
[4]Báo cáo khảo sát do Ban chủ nhiệm Đề tài nghiên cứu khoa học của Viện Nghiên cứu Lập pháp “Hỗ trợ ĐBQH thực hiện quyền trình sáng kiến pháp luật – Cơ sở lý luận và thực tiễn” thực hiện, năm 2015.
[5] Trần Ngọc Vinh, Một số khó khăn, trở ngại khi đại biểu Quốc hội thực hiện quyền trình SKPL, tham luận tại Hội thảo “Phương hướng, giải pháp xây dựng cơ chế hỗ trợ đại biểu Quốc hội đẩy mạnh thực hiện quyền trình SKPL”, Hà Nội, ngày 05/05/2016.
[6] Báo cáo khảo sát, tlđd.
[7] Trần Ngọc Vinh, tlđd.
[8]Báo cáo khảo sát, tlđd.
[9]Báo cáo khảo sát, tlđd.
[10] Ngô Việt Hồng, Căn cứ, phương hướng giải pháp xây dựng cơ chế hỗ trợ đại biểu Quốc hội thực hiện quyền trình SKLP, tham luận tại Hội thảo “Phương hướng, giải pháp hỗ trợ đại biểu Quốc hội đẩy mạnh thực hiện quyền trình SKLP, Hà Nội, ngày 05/05/2016.
[11]Báo cáo khảo sát, tlđd.

[12]Báo cáo khảo sát, tlđd.

Khái niệm hợp đồng và những nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật hợp đồng Việt Nam
Hợp đồng và luật hợp đồng là chế định cốt lõi của luật tư nói riêng và của toàn bộ hệ thống pháp luật nói chung. Do đó, việc xây dựng một cách khoa học khái niệm hợp đồng cũng như các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh nó có ý nghĩa và vai trò quan trọng. Bài viết này phân tích ba yếu tố cấu thành nên một hợp đồng trong khoa học pháp lý Việt Nam từ thời Pháp thuộc đến nay và phân tích ba nguyên tắc cơ bản trong pháp luật hợp đồng Việt Nam đương đại qua đó tìm hiểu sự thay đổi về tư duy lập pháp cũng như một số ưu điểm và hạn chế của chúng.

1. Khái niệm hợp đồng

1.1 Thành tố của hợp đồng

Theo Vũ Văn Mẫu, khế ước được tạo ra bởi sự ưng thuận giữa hai hoặc nhiều bên kết ước. Hai điều kiện cần để tạo ra hợp đồng là người kết ước và chủ đích của sự ưng thuận[1]. Tìm hiểu khái niệm hợp đồng thông qua câu hỏi hợp đồng được tạo ra như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào chế định giao kết hợp đồng của mỗi nền pháp luật. Trong bài viết này, các phân tích về thành tố của hợp đồng chủ yếu đứng trên quan điểm của truyền thống pháp luật La Mã – Đức (Civil Law) mà Việt Nam bị ảnh hưởng trong thời kỳ Pháp thuộc và kéo dài cho đến tận ngày nay. Pháp luật hợp đồng Việt Nam do đó không có điều kiện bắt buộc về sự đối ứng (consideration)[2] khi hình thành hợp đồng như trong pháp luật hợp đồng của Common Law và sự đối ứng (consideration) cũng sẽ không được xem xét ở đây.
Chủ thể giao kết hợp đồng
Người kết ước, hay chủ thể giao kết hợp đồng là các bên tham gia vào một quan hệ hợp đồng, có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Trong một quan hệ hợp đồng, xuất hiện những cặp chủ thể tương ứng là người có quyền (trái chủ) và người có nghĩa vụ (thụ trái). Một trái chủ có thể có nhiều thụ trái và ngược lại, một thụ trái có thể có nhiều trái chủ. Lưu ý rằng, có những trường hợp “các bên” trong quan hệ hợp đồng mang tính kỹ thuật pháp lý hơn là thực chất, khi mà một người giao kết hợp đồng với chính bản thân mình. Người đó thực hành hai (hoặc nhiều hơn) tư cách pháp lý khác nhau và giao kết hợp đồng giữa các tư cách đó[3]. Ví dụ như: một người được ủy quyền bởi cả hai bên trong quan hệ hợp đồng để giao kết hợp đồng; một người được ủy quyền giao kết một hợp đồng và giao kết hợp đồng đó với chính mình[4].
Sự thỏa thuận ý chí
Chủ đích của sự ưng thuận hay mục đích của thỏa thuận có nghĩa là các bên phải thỏa thuận với nhau về một việc xác định nào đó, ý chí của mỗi bên phải cùng hướng về một mục đích, hay còn gọi là sự thống nhất ý chí, nhưng không nhất thiết phải thỏa thuận về tất cả những vấn đề xoay quanh hay phát sinh từ mối quan hệ của họ. Những vấn đề mà các bên chưa thỏa thuận, vì nhiều lý do mà chủ yếu là do họ không thể lường trước những trường hợp phát sinh bất đồng gặp phải trong tương lai, sẽ được dự liệu trong các quy định của pháp luật về chế định hợp đồng. Ý chí của các bên cần đủ rõ ràng (không có nghĩa là không chấp nhận sự ngầm định) và ăn nhập với nhau. Chẳng hạn nếu một bên muốn có xe đạp để đi, họ có thể mua hoặc thuê chiếc xe. Một bên muốn kiếm được lợi từ chiếc xe đạp không sử dụng nữa, họ có thể cho thuê hoặc bán chiếc xe. Dù ý chí của mỗi người là mua hoặc thuê/bán hoặc cho thuê, chúng đều có sự tương đồng về việc bên A phải trả tiền cho bên B, và bên B phải đưa xe cho bên A đi. Nhưng hai cặp ý chí mua – cho thuê và thuê – bán không thống nhất với nhau, khi đó các bên không có sự thỏa thuận.
Hệ quả pháp lý
Có các bên kết ước và có sự thỏa thuận giữa các bên về một việc xác định nào đó chưa đủ để tạo ra một hợp đồng. Sự thỏa thuận phải tạo lập một hệ quả pháp lý mới có khả năng tạo thành hợp đồng. Hệ quả pháp lý được hiểu là sự tạo lập, thay đổi hay chấm dứt một quyền lợi (và nghĩa vụ dân sự tương ứng) hoặc một quan hệ pháp luật[5]. Một thỏa thuận để được coi là hợp đồng, cần là một trong những nguồn gốc phát sinh của nghĩa vụ dân sự (nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ ý chí của chủ thể) cả về mặt chủ quan và khách quan.
Về mặt chủ quan, một sự thỏa thuận hay một lời cam kết đôi khi chỉ nhắm đến những nghĩa vụ mang tính luân lý chứ không phải là nghĩa vụ pháp lý. Dựa trên hiệu lực của nghĩa vụ[6] hay chủ đích của nghĩa vụ[7], ta cần phân biệt nghĩa vụ pháp lý/có tính ràng buộc bởi pháp luật, với các loại nghĩa vụ phi pháp lý/luân lý/không có tính ràng buộc bởi pháp luật như nghĩa vụ tự nhiên, nghĩa vụ đạo đức, nghĩa vụ tôn giáo.
Nếu người tham gia vào thỏa thuận không thực sự muốn bị ràng buộc bởi pháp luật mà họ chỉ thiết lập nghĩa vụ mang tính luân lý, thì pháp luật không thể cưỡng chế họ thực hiện nghĩa vụ đó được, mặc dù họ có thể bị lên án về mặt đạo đức. Đó có thể là các thỏa thuận mang tính xã giao hay vui đùa giữa mọi người; lời hứa (và chấp nhận lời hứa) về sự giúp đỡ thiện tâm; hay sự cam đoan bằng danh dự[8].
Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931, Bộ Dân luật Trung Kỳ năm 1936, Bộ Dân luật Việt Nam Cộng hòa năm 1972 đều đề cập đến hai đặc điểm của nghĩa vụ tự nhiên: không thể cưỡng chế thi hành bởi pháp luật và trái chủ không có tố quyền[9]. Tuy nhiên nếu người thụ trái đã tự nguyện thi hành nghĩa vụ tự nhiên, thì họ không thể đổi ý hoặc yêu cầu trái chủ phải hoàn lại[10]. Nói cách khác, pháp luật chỉ cung cấp hiệu lực ràng buộc cho sự tự nguyện thực hiện nghĩa vụ tự nhiên chứ không cung cấp hiệu lực ràng buộc cho sự thể hiện ý chí muốn tạo lập nghĩa vụ tự nhiên. Bởi vậy nghĩa vụ tự nhiên có thể hiểu là những việc-phải-làm mang tính luân lý và đạo đức nhiều hơn là pháp lý, nhưng nằm ở giữa hai thứ đó[11].
Nghĩa vụ đạo đức đơn thuần là sự ràng buộc trong lương tâm. Một người có thể đưa ra lời hứa về sự giúp đỡ thiện tâm với một người nào đó mà không nhận được sự đối ứng nào. Nghĩa vụ tôn giáo có thể hiểu là những nghĩa vụ dựa trên một giáo lý tôn giáo nào đó, mà một người gia nhập cần phải thực hiện. Nếu một người không thực hiện hành vi giúp đỡ thiện tâm hoặc hành vi bị ràng buộc bởi giáo lý, thì luật pháp không thể cưỡng chế anh ta thực hiện điều đó. Trong pháp luật Việt Nam Cộng hòa cũ, nếu có tai nạn trong những sự giúp đỡ thiện tâm, tòa án cũng không áp dụng trách nhiệm khế ước đối với người giúp đỡ[12]. Cả hai Bộ dân luật Bắc Kỳ và Trung Kỳ cũ đều quy định “luật pháp không can thiệp vào sự thi hành các nghĩa vụ về luân lý cùng về tôn giáo”[13].
Nghĩa vụ tự nhiên có thể biến đổi thành nghĩa vụ dân sự bởi người thụ trái nếu sự cam kết của người thụ trái đáp ứng các yêu cầu nhất định như nguyên nhân hoặc hình thức hoặc có một nghĩa vụ đối ứng[14]. Điều này có thể áp dụng cho các loại nghĩa vụ phi pháp lý khác, rằng nếu chúng đáp ứng được những yêu cầu nhất định thì người ta có thể suy đoán về ý chí của các bên thỏa thuận rằng họ muốn chịu sự ràng buộc một cách nghiêm túc bởi pháp luật, và do đó chúng trở thành hợp đồng. Như vậy, một thỏa thuận giữa trái chủ và thụ trái không nhằm phát sinh một hệ quả pháp lý, mà chỉ nhằm phát sinh một hệ quả luân lý nói chung hay nghĩa vụ tự nhiên nói riêng không thể coi là hợp đồng được.
Về mặt khách quan, sự thỏa thuận cần tạo ra được hệ quả pháp lý thì mới có thể coi là hợp đồng. Pháp luật luôn đặt ra một giới hạn tự do thỏa thuận nhất định, mà vượt qua lằn ranh đó thì sự thống nhất ý chí của các bên dù có muốn tạo lập một ràng buộc pháp lý cũng không được công nhận. Tuy nhiên ngay cả trong giới hạn của sự tự do thỏa thuận, liệu một sự thỏa thuận có chủ đích tạo ra sự ràng buộc pháp lý có thể coi là hợp đồng hay không, nếu sự ràng buộc ấy lại không đến từ chính thỏa thuận mà lại đến từ nguyên nhân khác.
Vũ Văn Mẫu đưa ra trường hợp sự thỏa thuận giữa các bên chỉ là sự ưng thuận chấp nhận một quy chế pháp lý. Các bên trong thỏa thuận thống nhất ý chí với nhau thừa nhận những quyền và nghĩa vụ mà pháp luật thực định đã trao/áp đặt lên họ. Ở đây ý chí cá nhân không phải là nguồn gốc chính yếu làm phát sinh nghĩa vụ, mà quy định của pháp luật mới là nguồn gốc phát sinh nghĩa vụ trong quan hệ giữa các bên[15]. Nghĩa vụ pháp lý nhưng không phát sinh từ ý chí của các bên được gọi là nghĩa vụ pháp định, để phân biệt với nghĩa vụ dân sự[16].
Chúng tôi cho rằng, trong trường hợp này cần xem xét thỏa thuận đó bị hoãn hiệu lực chứ không phải vô hiệu bởi nó thỏa mãn đầy đủ những yếu tố của một hợp đồng, ngoại trừ việc hệ quả khách quan mà nó nhắm tới đã được thiết lập bởi quy định của pháp luật. Một khi quy định luật thực định đó hết hiệu lực, khiến cho điều kiện về hệ quả ràng buộc khách quan của sự thỏa thuận được thỏa mãn mà sự thỏa thuận đó vẫn chưa hết hạn để phát sinh hiệu lực, thì lúc ấy thỏa thuận sẽ trở thành hợp đồng.

1.2 Khái niệm hợp đồng trong pháp luật Việt Nam[17]

Điều 644(2) Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 quy định:“Khế ước là một hiệp ước của một người hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người khác để tặng cho, để làm hay không làm cái gì”.
Điều 680(2) Dân luật Trung Kỳ năm 1936 quy định: “Khế ước là một hiệp ước của một người hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người khác để chuyển giao, để làm hay không làm cái gì”.
Điều 653 Bộ Dân luật Việt Nam Cộng hòa năm 1972 quy định: “Khế ước hay hiệp ước là một hành vi pháp lý do sự thỏa thuận giữa hai người hay nhiều người để tạo lập, di chuyển, biến cải hay tiêu trừ một quyền lợi, đối nhân hay đối vật”.
Điều 394 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 và Điều 388 BLDS năm 2005 của Việt Nam ngày nay đều quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Điều 385 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Khái niệm về hợp đồng của hai bộ Dân luật Bắc Kỳ và Trung Kỳ thiếu sự bao quát khi đề cập ngay đến một sự phân loại nghĩa vụ dựa trên nội dung của nghĩa vụ, là chuyển giao quyền, làm hoặc không làm một việc gì đó. Riêng Bộ Dân luật Bắc Kỳ sử dụng thuật ngữ “tặng cho” dường như loại trừ các trường hợp chuyển giao quyền có đền bù, có nội hàm hẹp hơn nhiều so với thuật ngữ “chuyển giao” trong Bộ Dân luật Trung Kỳ. Cách phân loại này được đề cập tới nhiều trong việc thực hiện nghĩa vụ, nhưng cũng chỉ là một cách trong nhiều cách phân loại nghĩa vụ. Nội hàm của hai khái niệm này không bao quát được yếu tố tạo lập hậu quả pháp lý. Khái niệm hợp đồng của hai bộ luật này chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi BLDS Pháp năm 1804, do những chuyên gia pháp lý thời đó là người Pháp hoặc tiếp thu nền khoa học pháp lý Pháp[18].
Bộ Dân luật năm 1972 của Việt Nam Cộng hòa nhắc đến sự thỏa thuận với nghĩa tương đồng với khế ước/hợp đồng. Tuy nhiên điều này không gây ra sự nhầm lẫn nào vì việc tạo lập hậu quả pháp lý được nhắc đến ngay sau đó.
BLDS năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005 lại không sử dụng thuật ngữ “hợp đồng” như tất cả các nghiên cứu cơ bản về hợp đồng mà có một bổ ngữ “dân sự” ở sau. Bổ ngữ “dân sự” này đã tạo ra bất cập trong thực tiễn. Về mặt cấu trúc của hệ thống pháp luật, ở những nước có sự phân biệt ngành luật công và luật tư thì BLDS thường được coi là bộ luật nền tảng của luật tư. Do vậy khái niệm hợp đồng và chế định hợp đồng trong BLDS có tính bao quát cho toàn bộ các quan hệ tư nơi mà các chủ thể trong quan hệ ở vị thế bình đẳng với nhau và giao kết hợp đồng dựa trên tự do ý chí. Việc thêm bổ ngữ “dân sự” ở đằng sau có thể khiến cho những người thực hành pháp luật hiểu nhầm rằng chế định về hợp đồng dân sự trong BLDS năm 1995 và năm 2005 chỉ áp dụng cho các quan hệ dân sự thuần túy (phục vụ mục đích sinh hoạt, tiêu dùng, không làm phát sinh lợi nhuận) mà không áp dụng cho các quan hệ tư khác như thương mại, kinh doanh, lao động[19] thể hiện tư duy không chính xác về cấu trúc của hệ thống pháp luật tư và không thích ứng với cơ chế thị trường[20].
Có lẽ thuật ngữ “hợp đồng dân sự” của BLDS 2005 là sự kế thừa mặc định từ BLDS năm 1995. Ở hoàn cảnh BLDS năm 1995 ra đời, nước ta vừa mới bắt đầu quá trình đổi mới, thoát ra khỏi nền kinh tế kế hoạch được gần 10 năm và trong tư duy của các chuyên gia cũng như nhà quản lý vẫn còn những quan niệm cũ về “kế hoạch hóa”, đặc biệt trong các quan hệ nhằm làm phát sinh lợi nhuận, dẫn đến sự phân biệt hợp đồng kinh tế, thương mại và hợp đồng dân sự thuần túy[21]. Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 tồn tại song song với BLDS năm 1995 đã tạo nên hai hệ thống pháp luật hợp đồng riêng biệt. Hai hệ thống này có sự trùng lặp, mâu thuẫn và không thống nhất[22], vì vậy dẫn đến sự sửa đổi về thuật ngữ trong BLDS năm 2015, chỉ còn là “hợp đồng”. Những người soạn thảo BLDS năm 2015 trình bày rằng, sự sửa đổi này nhằm loại bỏ mọi cách hiểu không chính xác cả về mặt khoa học và trong thực tiễn về phạm vi điều chỉnh của chế định hợp đồng trong BLDS, để chế định hợp đồng này là nền tảng của mọi quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực tư[23].
Ở tất cả các khái niệm hợp đồng của các BLDS nêu trên, với sự sử dụng các từ “để” và “về” khi nói đến mục đích của hợp đồng trong việc tạo lập hệ quả pháp lý, có thể thấy nhà làm luật nhìn nhận về sự ràng buộc của hợp đồng nghiêng về mặt chủ quan của sự thỏa thuận ý chí hơn là mặt khách quan/kết quả của sự thỏa thuận đó. Người ta quan tâm đến việc các bên có ý chí tạo lập hệ quả pháp lý ràng buộc mình hay không hơn là việc hệ quả pháp lý ràng buộc các bên xuất phát từ sự thỏa thuận hay xuất phát từ quy chế pháp lý được định sẵn bởi pháp luật.
Từ sự phân tích ba thành tố của hợp đồng, khảo sát về khái niệm hợp đồng trong pháp luật thực định ở Việt Nam từ xưa đến nay, có thể thấy, khái niệm hợp đồng trong pháp luật Việt Nam được hoàn thiện dần theo thời gian. Bộ Dân luật Việt Nam Cộng hòa năm 1972 và BLDS năm 2015 hiện nay đều có chung quan điểm về hợp đồng rằng, hợp đồng là một sự thỏa thuận/sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể, nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.

2. Những nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật hợp đồng Việt Nam

2.1 Về cấu trúc của những nguyên tắc cơ bản

Trong BLDS năm 2005, chế định hợp đồng có nhiều nguyên tắc chi phối và có sự trùng lặp lẫn nhau: những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật (Chương II Phần thứ nhất); nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ dân sự (Điều 283); nguyên tắc giao kết hợp đồng (Điều 389) và nguyên tắc thực hiện hợp đồng (Điều 412). Điều này khiến cho việc xác định nguyên tắc nào là nguyên tắc chung xuyên suốt BLDS và nguyên tắc nào là nguyên tắc riêng chỉ ở một vài chế định mới có gặp khó khăn.
BLDS Việt Nam 2015 khắc phục nhược điểm nêu trên, chỉ đưa ra một bộ nguyên tắc chung cho cả Bộ luật, mang tính khái quát hóa cao và giảm đáng kể số lượng nguyên tắc của BLDS. Trong BLDS Việt Nam năm 2015, chế định hợp đồng nằm ở Phần thứ ba về trái quyền với tên gọi “nghĩa vụ và hợp đồng”. Ở phần này không có quy định nào về nguyên tắc cơ bản của hợp đồng nói chung hay việc giao kết, thực hiện hợp đồng nói riêng. Những người soạn thảo Bộ luật đã giải thích rằng, việc bỏ đi các quy định riêng về nguyên tắc giao kết hợp đồng hay nguyên tắc thực hiện hợp đồng không có nghĩa là việc giao kết và thực hiện hợp đồng không tuân thủ nguyên tắc nào, mà nó phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự Việt Nam[24].
Từ Điều 3. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự trong BLDS năm 2015, có thể rút ra hai nguyên tắc cơ bản của luật tư là nguyên tắc tự do ý chí (khoản 2) và nguyên tắc thiện chí (khoản 3). Trong đó, nguyên tắc tự do ý chí là cơ sở cho hai tiểu nguyên tắc của nó là nguyên tắc hiệu lực ràng buộc của hợp đồng và tự do ý chí có sự giới hạn bởi các trật tự công cộng (khoản 4). Điều 5. Áp dụng tập quán của Bộ luật tuy không được coi là “nguyên tắc cơ bản” của pháp luật dân sự, nhưng ở cấp độ chế định hợp đồng, nó là một quy định chung mang tính khái quát áp dụng cho cả chế định thì vẫn nên được coi là nguyên tắc cơ bản của pháp luật về hợp đồng. Như vậy, pháp luật hợp đồng Việt Nam có ba nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc tự do ý chí, nguyên tắc thiện chí và nguyên tắc áp dụng tập quán.

2.2 Nguyên tắc tự do ý chí hay tự do hợp đồng

Nguyên tắc tự do ý chí trong pháp luật hợp đồng được hiểu là các bên được tự do giao kết hợp đồng hay thỏa thuận về việc xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự theo ý chí của mình miễn là nó không trái với trật tự công cộng. Nguyên tắc này khi chiếu vào việc thực hiện nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồng lại mang một sắc thái khác, làm phát sinh một tiểu nguyên tắc là nguyên tắc hiệu lực ràng buộc của hợp đồng[25].
Theo Vũ Văn Mẫu, nguyên tắc tự do ý chí trong luật hợp đồng là một sản phẩm lịch sử của các lý thuyết về tự do thế kỷ 18, ảnh hưởng mạnh mẽ đến các BLDS của Pháp và Đức[26], gián tiếp ảnh hưởng tới pháp luật hợp đồng của Việt Nam. Lý thuyết này ủng hộ tự do ý chí vô giới hạn vì tin rằng sự tự do thương lượng giữa các cá nhân với nhau để ràng buộc chính mình sẽ mang lại công bằng và sự tự do cạnh tranh sẽ mang lại sự thịnh vượng về kinh tế[27], đã dẫn tới hệ quả là coi hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương là một nguồn gốc quan trọng của nghĩa vụ (đề cao nghĩa vụ dân sự thay vì nghĩa vụ pháp định) vì nó đến từ chính ý chí của chủ thể bị ràng buộc. Đó cũng là hai căn cứ phát sinh nghĩa vụ đầu tiên trong BLDS Việt Nam năm 2015 tại Điều 275.
Một người có quyền tự do giao kết hợp đồng, nghĩa là tự do quyết định mình sẽ bị ràng buộc như thế nào. Và một khi đã tuyên bố ý chí về sự tự ràng buộc thì người đó không còn được tự do thực hiện nghĩa vụ nữa, mà sẽ bị cưỡng chế thực hiện. Hiệu lực ràng buộc của hợp đồng còn được gọi dưới cái tên Latin pacta sunt servanda, được hiểu đơn giản là “cam kết phải được tôn trọng”. Điều 3(2) BLDS Việt Nam năm 2015 quy định về nguyên tắc tự do ý chí như sau: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”.
Quy định trên, theo Đỗ Văn Đại, là có vài vấn đề sau mà chúng tôi thấy hợp lý. Thứ nhất, việc gộp chung nhóm xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền đều đặt trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận có thể tạo ra rủi ro pháp lý khi một người có thể tự do thực hiện và chấm dứt nghĩa vụ dân sự của mình chứ không phải là sự ràng buộc phải thực hiện nghĩa vụ dân sự đó. Có lẽ khi áp dụng, các thẩm phán cần hiểu cụm từ “trên cơ sở” một cách linh hoạt[28].
Thứ hai là sự mở rộng tự do ý chí của các bên gây ra sự mâu thuẫn trong chính bộ luật. BLDS năm 2005 ở Điều 4 quy định “Cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng”. Sự thay đổi thuật ngữ từ “hợp pháp” thành “không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội” khiến Điều 3(2) BLDS Việt Nam năm 2015 có thể bỏ qua quy định về những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mà vẫn công nhận hiệu lực của hợp đồng. Chẳng hạn điều kiện về hình thức phải công chứng. Một hợp đồng theo luật phải công chứng mới có hiệu lực, thì có thể coi sự không công chứng là vi phạm điều cấm của luật hay không[29]? Có thể thấy quy định này chưa chú ý đến sự khác biệt giữa nội hàm của các cụm từ “trái pháp luật”, “không hợp pháp” và “vi phạm điều cấm của luật”.
Thứ ba là sự bỏ đi từ “bắt buộc” trong cụm từ “hiệu lực bắt buộc thực hiện”, khiến cụm từ “hiệu lực thực hiện” không rõ nghĩa[30]. Sự ràng buộc thực hiện đến từ sự tự do ý chí và là một yếu tố quan trọng của hợp đồng nói riêng và hành vi pháp lý nói chung. Vì vậy cần nhấn mạnh sự ràng buộc ở trong nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự.
Sự hạn chế tự do ý chí
Lý thuyết tự do ý chí với tư tưởng tự do cá nhân vô giới hạn không thể điều chỉnh các mối quan hệ xã hội một cách công bằng khi mà con người sống quá phụ thuộc vào nhau với nhiều mối quan hệ phức tạp đan xen lẫn nhau. Để giải quyết vấn đề giữa cá nhân và cộng đồng, cần phải dung hòa hai thuyết tự do và thuyết xã hội bằng cách tôn trọng quyền tự do giao kết hợp đồng và chỉ giới hạn sự tự do này bởi những nguyên nhân chính đáng mà tiêu biểu là trật tự công cộng và đạo đức xã hội[31].
Ngô Huy Cương chỉ ra ba lý do của sự giới hạn tự do ý chí: nhu cầu cân đối giữa lợi ích cá nhân và lợi ích công cộng, nhu cầu bảo vệ người yếu thế trong xã hội, và nhu cầu phát triển kinh tế có trật tự đúng hướng theo sự lựa chọn chung[32]. Nếu như hai nhu cầu đầu tiên đã được thừa nhận rộng rãi bởi pháp luật nhân quyền trong sự giới hạn tự do, thì nhu cầu thứ ba về phát triển kinh tế có trật tự và theo sự lựa chọn chung có lẽ vẫn còn nhiều tranh cãi, vì chúng ta mới bước ra khỏi một nền kinh tế kế hoạch khoảng 30 năm và đang xây dựng kinh tế thị trường.
Hạn chế tự do hợp đồng có thể xem xét dưới hai khía cạnh là hạn chế về nội dung giao kết và chủ thể giao kết. Hạn chế tự do giao kết hợp đồng về nội dung là dạng hạn chế điển hình nhất, thể hiện rõ nhất qua chế định về vô hiệu giao dịch dân sự do xâm phạm trật tự công cộng và đạo đức xã hội.
Trong BLDS năm 2015, Điều 122 về Giao dịch dân sự vô hiệu dẫn chiếu về Điều 117 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, ở điểm c khoản 1 nêu “Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”. Ở đây đã có sự biến chuyển về quan niệm khi xóa bỏ nguyên tắc về giao kết hợp đồng ở Điều 389 BLDS năm 2005 “Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội”; và thay thế bằng nguyên tắc “không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội” ở Điều 3 và sự thể hiện nguyên tắc ở Điều 117 của BLDS năm 2015. Trong luật tư, từ “trái” pháp luật có nội hàm rộng hơn “vi phạm điều cấm của luật” bởi không phải quy phạm luật tư nào cũng là quy phạm mệnh lệnh mà phần lớn là quy phạm dự liệu, đặc biệt là trong chế định hợp đồng.
BLDS năm 2015 không sử dụng “trật tự công cộng” để làm căn cứ giới hạn quyền ở trong những nguyên tắc cơ bản, có lẽ do nghi ngại tính trừu tượng của nó[33], và chỉ sử dụng nó với nghĩa rất hẹp, không biết vô tình hay có chủ đích ở Điều 525 về việc hành khách trong hợp đồng vận chuyển làm mất trật tự công cộng.
Điều 3 khoản 4 BLDS 2015 thay “lợi ích của Nhà nước” ở Điều 10 BLDS năm 2005 thành “lợi ích quốc gia, dân tộc”. Lợi ích quốc gia, dân tộc là khái niệm mang tính chính trị, không đồng nhất với lợi ích của Nhà nước bởi vì “quốc gia, dân tộc” và “nhà nước” là những khái niệm khác nhau. Sự thay đổi này hưởng ứng xu thế đang lên của quyền con người trong đời sống chính trị và pháp lý. Khi nhà nước luôn bị coi là một trong những chủ thể xâm phạm đến quyền của mỗi cá nhân nhiều nhất, thì sự thay đổi về thuật ngữ này là hợp lý.
Có thể nói, BLDS năm 2015 ở những nguyên tắc cơ bản đã thu hẹp hơn phạm vi giới hạn tự do ý chí, đồng nghĩa với mở rộng sự tự do giao kết hợp đồng của các bên.
Ngoài lời văn của nguyên tắc cơ bản, sự thể hiện của hạn chế tự do hợp đồng còn nằm trong nhiều quy định chi tiết của BLDS hoặc ở luật chuyên ngành về các điều khoản áp đặt quyền và nghĩa vụ cho các bên trong một quan hệ tư. Ở trường hợp này, nghĩa vụ pháp định xuất phát từ hiệu lực của luật đã thay thế nghĩa vụ dân sự xuất phát từ ý chí của các bên. Các trường hợp thường thấy là các quy định mang tính mệnh lệnh điều chỉnh các loại hợp đồng lao động, hợp đồng giữa người tiêu dùng và bên bán hàng, điều lệ doanh nghiệp, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng có đối tượng là bất động sản, v.v..
Hạn chế tự do giao kết hợp đồng về chủ thể chủ yếu nhằm bảo vệ những nhóm yếu thế trong xã hội, bảo vệ người thứ ba, hay bảo vệ lợi ích công cộng. Chẳng hạn pháp luật về doanh nghiệp có các quy định phải ưu tiên chuyển nhượng phần vốn góp cho hoặc phát hành cổ phần cho thành viên/cổ đông trong công ty, hoặc trường hợp người cung cấp dịch vụ công cộng không được từ chối giao kết hợp đồng với mọi người nếu còn khả năng cung cấp dịch vụ và không được phân biệt đối xử với bất cứ ai dựa trên bất cứ yếu tố nào về sắc tộc, tôn giáo, giới tính, màu da, v.v..[34].

2.3 Nguyên tắc thiện chí

“Thiện chí” bắt nguồn từ thuật ngữ Latin “bona fide”, trong tiếng Anh là “good faith”, là thuật ngữ trừu tượng và chỉ được làm rõ nghĩa khi gắn chặt với hoàn cảnh cụ thể của một ứng xử cụ thể. Thiện chí không được định nghĩa bởi luật, mang nghĩa về mặt luân lý nhiều hơn với liên hệ gần gũi về sự trung thực, không có sự ác ý hay tư lợi bất chính.
Điều 6 BLDS năm 2005 quy định về nguyên tắc thiện chí như sau: “Trong quan hệ dân sự, các bên phải thiện chí, trung thực trong việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự, không bên nào được lừa dối bên nào”. Điều 3(2) BLDS năm 2015 đã lược bớt đoạn “không bên nào được lừa dối bên nào” ra khỏi nguyên tắc thiện chí: “Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực”.
Theo Ngô Huy Cương, nguyên tắc thiện chí ở BLDS năm 2005 nhấn mạnh về yếu tố phi lừa dối của sự thiện chí, tức là cách thức hành xử chứ không nhấn mạnh vào động cơ hay mục đích của hành vi. Ông cũng đưa ra nhận xét mà có thể áp dụng cho cả quy định mới của BLDS năm 2015 về nguyên tắc thiện chí rằng, nguyên tắc này chưa đủ lớn khi không đề cập tới thiện chí trong giải quyết tranh chấp và trong một số trường hợp đặc biệt khác[35]. Sự bổ sung thêm vào nguyên tắc rằng giai đoạn chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, các bên cũng phải tuân thủ nghĩa vụ thiện chí có thể coi là một nỗ lực khái quát hóa thiện chí cho tất cả các giai đoạn của một hợp đồng, nhưng không nhắc đến thiện chí trong việc giải quyết tranh chấp mà bao gồm nhiều phương thức khác nhau từ thương lượng, hòa giải đặc biệt cần sự thiện chí, đến trọng tài, tòa án thì vẫn còn thiếu sót.
Vì nội hàm của thuật ngữ “thiện chí” không rõ ràng, cần phải giải nghĩa trong những trường hợp cụ thể nên việc xác định nội dung của nguyên tắc thiện chí cần phải được giao cho tòa án. Ngày nay các tòa án ở Hoa Kỳ có khuynh hướng tiếp cận học thuyết về sự thiện chí theo hai khía cạnh về sự công bằng và khía cạnh kinh tế học[36]. Tương đồng như vậy, Vũ Văn Mẫu nhận xét rằng, một sự thi hành thành ý không thể trái với sự công bằng. Còn về mặt kinh tế, khi sự thi hành quá thiệt cho trái chủ và quá lợi cho người thụ trái thì bị coi là không thành ý[37].
Trong lĩnh vực luật hợp đồng, đặc biệt là ở giai đoạn giao kết, nguyên tắc thiện chí được giải thích gần gũi với nguyên tắc tự do ý chí, có nghĩa là việc xác lập hợp đồng và các điều kiện của nó phụ thuộc vào ý chí của các bên[38]. Trong giai đoạn thực hiện hợp đồng, nguyên tắc này có thể không gắn với ý chí của các bên lúc đầu mà lại gắn với sự công bằng về lợi ích giữa các bên[39]. Hoặc với việc chấp nhận sự thực hiện chủ yếu chứ không phải thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của hợp đồng, thiện chí là sự thông cảm cho những thiếu sót khi thực hiện nghĩa vụ của đối phương[40]. Đặc biệt sự vận dụng nguyên tắc này trong một số hoàn cảnh đặc thù có thể coi là tạo ra ngoại lệ cho nguyên tắc hiệu lực ràng buộc của hợp đồng, đó là trong trường hợp thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi (hardship)[41].
BLDS năm 2005 có nguyên tắc riêng về thực hiện hợp đồng, Điều 412 khoản 1 cho thấy nguyên tắc thực hiện đúng và đủ nghĩa vụ hợp đồng là quan trọng nhất và được ưu tiên hàng đầu so với hai nguyên tắc thực hiện trung thực, tin cậy (mà ở đây không xuất hiện thuật ngữ “thiện chí”) và nguyên tắc tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác: “Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức và các thoả thuận khác”.Có lẽ với sự bãi bỏ nguyên tắc riêng của chế định hợp đồng, áp dụng một cách toàn diện nguyên tắc thiện chí cùng với sự công nhận trường hợp không cần phải thực hiện đúng những nghĩa vụ đã cam kết khi có hoàn cảnh thay đổi, BLDS Việt Nam đã có những chuyển biến trong quy tắc thực hiện nghĩa vụ.

2.4 Nguyên tắc áp dụng tập quán

Nguyên tắc này trong khoa học pháp lý được một số học giả đề cập như là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng nói riêng và pháp luật dân sự nói chung[42]. Một nền pháp luật theo hệ thống dân luật thường có hai nguồn cơ bản là luật thành văn và tập quán pháp. BLDS Việt Nam đặt thứ tự ưu tiên áp dụng của tập quán chỉ sau thỏa thuận của các bên và luật thành văn. Tập quán đóng vai trò quan trọng trong việc bổ khuyết những khoảng trống hay giải thích những vấn đề chưa rõ ràng của hợp đồng, nếu pháp luật thực định cũng không có giải pháp cho vấn đề đó.
Định nghĩa về tập quán trong BLDS 2015 (Điều 5 khoản 1) nêu ra ba đặc điểm chính yếu của tập quán, đó là có nội dung rõ ràng đủ để xác định quyền và nghĩa vụ của chủ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong thời gian dài và được mọi người cùng thừa nhận như là những quy tắc ràng buộc. Hai điều kiện để áp dụng tập quán (Điều 5 khoản 2) là: (1) thiếu vắng giải pháp cho vấn đề pháp lý từ các nguồn gốc nghĩa vụ có tính ưu tiên cao hơn là sự thỏa thuận và quy định pháp luật; (2) tập quán không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. Có lẽ chính vì yếu tố (2) nên nhà làm luật Việt Nam đã không xếp quy định áp dụng tập quán vào những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật hay của pháp luật dân sự nói chung.
Quy định chung về áp dụng tập quán tuy đã được công nhận từ lâu nhưng vấn đề chính yếu của nguyên tắc này là cụ thể hóa nó. Sự áp dụng tập quán có đặc điểm khác biệt đặc thù với các áp dụng các nguồn pháp luật khác như luật và án lệ, bởi lẽ nó không “thành văn” cả về nghĩa pháp lý và nghĩa thông dụng. Tập quán có khi không được ghi nhận trong một văn bản nào cả mà chỉ là một quy tắc được nhiều người ngầm định tuân thủ. Trong một tranh chấp cần viện đến tập quán tất yếu sẽ xuất hiện vấn đề chứng minh tập quán. Như vậy cần có những quy định chi tiết để hướng dẫn các tòa án trong việc đánh giá tính xác thực của những quy phạm được các bên viện dẫn xem chúng có đáp ứng đủ điều kiện của một tập quán hay không, bên nào có nghĩa vụ chứng minh tập quán, v.v..
Trong thực tế, đôi khi có những tập quán mà các bên viện dẫn trái ngược nhau. Khi không có những khảo cứu đầy đủ về tập quán thì việc áp dụng và chứng minh tập quán gặp nhiều khó khăn. Các tòa án ở Việt Nam còn gặp nhiều vướng mắc và chưa có sự thống nhất cao trong việc công nhận và áp dụng tập quán[43]. Điều này đòi hỏi chúng ta cần sớm ban hành danh mục tập quán. Trong thời kỳ Pháp thuộc, Hội đồng khảo sát tục – lệ đã sưu tầm và giải đáp trên 300 vấn đề về tập quán, làm cơ sở cho các tòa án thời đó áp dụng tập quán khi xét xử nếu không có quy định của pháp luật[44]. Hiện nay chúng ta mới chỉ có kế hoạch xây dựng danh mục tập quán trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình theo Nghị định số 32/2002/NĐ-CP. Cần mở rộng phạm vi khảo cứu để có thể áp dụng tập quán rộng rãi hơn nữa trong các tranh chấp, bù đắp cho những thiếu hụt trong pháp luật thành văn./.


[1] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân luật lược khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước; Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr. 56–57.
[2] “Consideration” có bản chất pháp lý là vật/thứ/việc (things) được trao đi đổi lại giữa các bên trong giao kết hợp đồng, cam kết và hứa hẹn trao đổi các vật/thứ/việc (things) trong quá trình thực hiện hợp đồng trên thực tế. Trong đa số trường hợp, nếu không có “consideration” thì hợp đồng không có giá trị ràng buộc các bên trong giao kết hợp đồng. Xem thêm: Phạm Quang Huy, “Consideration” theo pháp luật hợp đồng Hoa Kỳ, Tạp chí Luật học số 11(198) tháng 11/2016.
[3] Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung) (Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc , tư.vậy đác văn bviết, ia Hà Nội, 2013), 220.
[4] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân Luật lược Khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, tr. 57.
[5] Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), tr. 12.
[6] Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), tr. 70.
[7] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân Luật lược Khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, tr. 32.
[8] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân Luật lược Khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, tr. 59–60.
[9] Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), tr. 13-15.
[10] Vũ Văn Mẫu và Lê Đình Chân, Danh từ và tài liệu – Dân luật và Hiến luật (Sài Gòn: Tủ sách Đại học Sài Gòn, 1968), tr. 132.
[11] Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), tr. 71.
[12] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân Luật lược Khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, 60.
[13] Điều 462 Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931, Điều 678 Bộ Dân luật Trung Kỳ năm 1936, theo Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), tr. 14.
[14] Ngô Huy Cương, tr. 72.
[15] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân Luật lược Khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, tr. 59.
[16] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân Luật lược Khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, tr. 25.
[17] Định nghĩa về “hợp đồng kinh tế” trong Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 không được nhắc đến vì đây là một định nghĩa không bao quát tất cả các loại hợp đồng.
[18] Người soạn thảo chủ yếu của Bộ Dân luật Bắc Kỳ là một thẩm phán người Pháp, Chánh nhất tòa Thượng thẩm Morché (Vũ Văn mẫu, Dân Luật Khái Luận (Sài Gòn: Bộ Quốc Gia Giáo dục xuất bản, 1961), tr. 314 – 315).
[19] Đỗ Văn Đại, b.t.v, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 (Hà Nội: Nxb. Hồng Đức, 2016), tr. 367.
[20] Nguyễn Như Phát, Một số đề xuất sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005, Trang thông tin pháp luật dân sự. https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/03/09/4690/ truy cập 29/07/2018.
[21] Bùi Ngọc Cường, Vấn đề hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh tế ở nước ta hiện nay, Tạp chí Khoa học pháp lý số 4/2001. https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/02/22/3525/ truy cập 29/07/2018.
[22] Xem thêm: Ngô Ngọc Bửu và Trần Đình Phụng, Cần sửa đổi một số quy định về hợp đồng dân sự cho phù hợp với thể chế của tổ chức thương mại thế giới WTO, Tạp chí Phát triển kinh tế số 9/2004. https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2007/11/23/5418/ truy cập 29/07/2018.
Phạm Hữu Nghị, Sửa đổi BLDS năm 2005: vấn đề cải cách hợp đồng, Trang thông tin pháp luật dân sự. https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/03/09/4691/ truy cập 29/07/2018.
Bài viết Pháp luật về hợp đồng cần được thay đổi theo hướng nào khi BLDS năm 2005 được sửa đổi?, Cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp. http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1519 truy cập 29/07/2018.
[23] Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, tr. 367.
[24] Đỗ Văn Đại, Sđd, tr. 367–368, tr. 386.
[25] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân Luật lược Khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, tr. 243.
[26] Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), tr. 20.
[27] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân luật lược khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, tr. 83–84.
[28] Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, tr. 25.
[29] Đỗ Văn Đại, tlđd, tr. 25.
[30] Đỗ Văn Đại, tlđd, tr. 25.
[31] Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), tr. 30.
[32] Ngô Huy Cương, tlđd, tr. 29.
[33] Ngô Huy Cương, tlđd, tr. 30.
[34] Ngô Huy Cương, tlđd, tr. 33–34.
[35] Ngô Huy Cương, tlđd, tr. 156.
[36] Emily Houh, The Doctrine of Good Faith in Contract Law: A (Nearly) Empty Vessel?, Utah Law Review, Vol. 2005, p. 1, 2005, 1-2. https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=622982 truy cập 29/07/2018
[37] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân Luật lược Khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, tr. 250.
[38] Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), tr. 155.
[39] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân Luật lược Khảo – Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, tr. 250.
[40] Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), tr. 374.
[41] Nguyễn Anh Thư, “Đề xuất sửa đổi, bổ sung qui định liên quan đến nguyên tắc thiện chí trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học 30, số p.h 3 (2014): tr. 61–72.
[42] Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật hợp đồng (phần chung), tr. 159
Lê Nguyễn Gia Thiện và Lê Nguyễn Gia Phúc, Những nguyên tắc cơ bản của các BLDS trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 13, Tháng 7 2014
[43] Vụ Hợp tác Quốc tế, Tòa án nhân dân tối cao, “Tập quán pháp – thực trạng ở Việt Nam và một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng tập quán pháp ở Việt Nam”, 2013, tr. 57.
[44] Vụ Hợp tác Quốc tế, Tòa án nhân dân tối cao, tr. 41.

(Tác giả: TS. Trần Kiên – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Khắc Thu – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội)

(Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 2+3/2019)

Vai trò và tầm quan trọng của hòa giải, đối thoại trong giải quyết tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính

Dự án Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án sẽ được trình để Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIV. Trước đó, ngày 14/9/2019, dự án Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến.
Dự án này đã nhận được sự ủng hộ, đánh giá cao của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quá trình chuẩn bị, sáng kiến pháp luật cũng như trách nhiệm trong việc xây dựng dự thảo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Vai trò và tầm quan trọng của hòa giải, đối thoại trong giải quyết tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính

Có thể thấy, trong các phương thức giải quyết tranh chấp thì hòa giải là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp mang tính truyền thống, phù hợp với tâm lý, tình cảm và văn hóa của người Việt Nam. Truyền thống này đã được ghi nhận và pháp luật cũng có khung pháp lý cơ bản cho hoạt động hòa giải, đối thoại phát triển, bao gồm cả cơ chế hòa giải, đối thoại trong tố tụng và hòa giải ngoài tố tụng.
Hòa giải, đối thoại đóng vai trò đặc biệt quan trọng, là nhu cầu và đòi hỏi của xã hội để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong đời sống. Hòa giải thành, đối thoại thành giúp giải quyết triệt để, hiệu quả các tranh chấp mà không phải mở phiên tòa xét xử; kết quả hòa giải thành, đối thoại thành phần lớn được các bên tự nguyện thi hành; tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức của các bên liên quan và Nhà nước; hạn chế tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, gây bức xúc trong dư luận.
Từ những ý nghĩa và tầm quan trọng nêu trên, tăng cường hòa giải, đối thoại luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm [1]. Tại phiên họp ngày 15/12/2017, Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương đã kết luận: “…giao Tòa án nhân dân tối cao triển khai nghiên cứu, xây dựng Đề án đổi mới, tăng cường hòa giải, đối thoại trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, hành chính; đề xuất việc hoàn thiện cơ sở pháp lý và các điều kiện bảo đảm triển khai thực hiện phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và yêu cầu thực tiễn…”. Tại Hội nghị triển khai công tác Tòa án năm 2019, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định: “Việc Tòa án mở rộng thí điểm hòa giải, đối thoại trong giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính là một hướng đi đúng đắn. Trên cơ sở tổng kết thí điểm, phải nghiên cứu để tạo ra các thiết chế bảo đảm quyền tự quyết của người dân theo đúng tinh thần việc dân sự cốt ở đôi bên”.

Thực tiễn chứng minh

Thực hiện kết luận của Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương, Tòa án nhân dân tối cao đã triển khai thí điểm về đổi mới, tăng cường hòa giải, đối thoại trong giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính tại đạt được những kết quả vô cùng to lớn. Sau 6 tháng triển khai thực hiện hoạt động thí điểm tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng và 09 Tòa án nhân dân cấp huyện của thành phố này, tỷ lệ hòa giải, đối thoại thành được 1.827 vụ việc/2.399 vụ việc, đạt tỷ lệ 76,2%. Sau thành công thí điểm tại Hải Phòng, Tòa án nhân dân tối cao mở rộng triển khai thí điểm tại 16 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Sau gần 10 tháng thực hiện thí điểm, các Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án của 16 tỉnh, thành phố đã hòa giải thành, đối thoại thành được 36.985 vụ việc, trên tổng số 47.493 vụ việc được hòa giải, đối thoại, đạt tỷ lệ 78,08%.
Những con số “biết nói” nêu trên đã chứng minh hòa giải, đối thoại là một phương thức giải quyết tranh chấp hữu hiệu.

Ưu điểm của phương thức hòa giải, đối thoại

Kết quả thí điểm đạt được nêu trên đã khẳng định những giá trị mà phương thức giải quyết tranh chấp này mang lại. Đó là, sự tôn trọng tối đa tự do ý chí, quyền tự định đoạt của các bên tham gia với sự hỗ trợ của các Hòa giải viên giúp các bên trao đổi, đàm phán với nhau, gợi ý về các giải pháp phù hợp để giải quyết tranh chấp. Thời gian giải quyết nhanh chóng. Tranh chấp được giải quyết một cách kín đáo và bảo mật thông tin, tiêu chí mà phương thức giải quyết bằng tố tụng tại Tòa án không có được. Thông qua hòa giải, đối thoại, các bên tìm được tiếng nói chung, hài hòa lợi ích các bên từ đó giữ gìn được mối quan hệ tốt đẹp. Việc hòa giải, đối thoại được tiến hành tại Tòa án cũng tạo được sự tin tưởng cho các bên trong quá trình hòa giải, đối thoại. Kết quả hòa giải thành, đối thoại thành được pháp luật thừa nhận và bảo đảm thực hiện. Kết quả giải quyết tranh chấp bằng hòa giải, đối thoại qua quá trình thương lượng, có sự thỏa thuận, nhất trí của các bên nên được các bên tôn trọng, tuân theo, do đó có tính khả thi cao.
Hòa giải, đối thoại thành công sẽ giảm tải công việc và áp lực đối với công tác xét xử của Tòa án, hạn chế khiếu kiện kéo dài qua nhiều cấp, tiết kiệm được chi phí, công sức, thời gian của Nhà nước và cơ quan, tổ chức, cá nhân. Và đây cũng là phương thức giải quyết tranh chấp ít tốn kém.
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cũng cho thấy hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp với xu thế của thời đại, thúc đẩy giao lưu dân sự, kinh tế phát triển đồng thời nâng cao hình ảnh, uy tín quốc gia trên bình diện quốc tế.
Đối với các khiếu kiện hành chính, đối thoại giúp nâng cao hiệu quả giải quyết, hạn chế khiếu kiện kéo dài.
Bên cạnh đó, Hòa giải, đối thoại tại Tòa án cũng thu hút, huy động nguồn nhân lực có kiến thức và kinh nghiệm trong xã hội (lãnh đạo địa phương, Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên đã nghỉ hưu, người đã từng tham gia công tác Hội thẩm, các luật sư…) tham gia phối hợp cùng Tòa án tiến hành hòa giải, đối thoại để giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính.
Hòa giải, đối thoại, với vai trò và tầm quan trọng, với sự kiểm nghiệm của thực tiễn và những ưu điểm nêu trên, chúng tôi mong muốn rằng Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án sẽ sớm được Quốc hội xem xét, thông qua. Chúng tôi tin tưởng rằng, khi được thông qua, Luật sẽ tạo hành lang pháp lý và bước đột phá trong việc đẩy mạnh hòa giải, đối thoại trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính tại Tòa án, đáp ứng được các yêu cầu đặt ra trong việc hoàn thiện thể chế pháp luật và cải cách tư pháp theo chủ trương của Đảng và Nhà nước.

SƠN HẢI

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

1. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020;
– Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020;
– Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 03-6-2013 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới;
– Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03-6-2017 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;
– Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03-6-2017 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Quy định về trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới theo pháp luật Việt Nam

Quy định về trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới theo pháp luật Việt Nam

Sau khi tham gia các Công ước CCPR, CRC và CEDAW, Việt Nam đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật từng bước nội luật hóa các quy định của Công ước. Đến nay, bên cạnh nguyên tắc hiến định: “Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”, Việt Nam còn ban hành nhiều văn bản quan trọng có những quy định liên quan đến bạo lực trên cơ sở giới. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật quy định về trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bạo lực còn có mức độ, tập trung vào các quy định sau:

Thứ nhất, quy định pháp luật về trợ giúp pháp lý: 

Việc trợ giúp pháp lý được điều chỉnh bởi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Theo Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, người được trợ giúp pháp lý bao gồm: người có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo; trẻ em (quy định này thậm chí còn mở rộng hơn so với quy định tại điểm d Điều 37, điểm b khoản 2 Điều 40 Công ước CRC); người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo; những người có khó khăn về tài chính (người thuộc hộ cận nghèo hoặc là người đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng) thuộc một trong các trường hợp sau: cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; người nhiễm chất độc da cam; người cao tuổi; người khuyết tật; người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự; nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người; người nhiễm HIV.
Như vậy, tiến bộ hơn Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 hiện hành đã quy định 02 nhóm đối tượng người được trợ giúp pháp lý độc lập liên quan chặt chẽ đến nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới (Người có khó khăn về tài chính là nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người). Ngoài ra, nếu nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới thuộc một trong trong 12 nhóm đối tượng được trợ giúp pháp lý còn lại thì vẫn được hưởng quyền trợ giúp pháp lý.
Bên cạnh đó, thông qua quy định việc “phân biệt đối xử người được trợ giúp pháp lý” là một trong những hành vi bị cấm (Điểm a khoản 1 Điều 6 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017) cũng cho thấy hoạt động trợ giúp pháp lý bảo đảm cho người được trợ giúp pháp lý có quyền ngang nhau khi thụ hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý mà không bị phân biệt đối xử dù họ là nạn nhân của bạo lực trên cơ sở giới hoặc là nam hay nữ.
Nhằm bảo đảm sự tham gia bình đẳng của người được trợ giúp pháp lý trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và hỗ trợ thực hiện các biện pháp bảo vệ và hỗ trợ cho người được trợ giúp pháp lý là người mẹ, trẻ em gái, nạn nhân bạo lực gia đình, nạn nhân bị mua bán, nạn nhân bị xâm hại tình dục, Thông tư số 11/2014/TT-BTP ngày 17/4/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định về bảo đảm bình đẳng giới trong trợ giúp pháp lý (hiện vẫn còn hiệu lực) đã quy định một số biện pháp như tạo điều kiện cho người được trợ giúp pháp lý tiếp cận và thực hiện quyền, nghĩa vụ của họ theo quy định của pháp luật mà không bị phân biệt đối xử về giới; không tạo áp lực hoặc sử dụng điểm yếu về giới tính của người được trợ giúp pháp lý để buộc họ phải quyết định ngay lập tức hướng giải quyết vụ việc; khi phát hiện người được trợ giúp pháp lý là nạn nhân bạo lực gia đình, nạn nhân bị mua bán, nạn nhân bị xâm hại tình dục, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý thông tin, phối hợp với cơ sở trợ giúp, hỗ trợ nạn nhân để thực hiện biện pháp hỗ trợ, bảo vệ và trợ giúp theo quy định của pháp luật; trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý cho các đối tượng trên, nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý chuyển vụ việc cho cơ quan có thẩm quyền xử lý hoặc đề nghị cơ quan công an hỗ trợ, bảo đảm an toàn cho nạn nhân…
Nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới là người được trợ giúp pháp lý được trợ giúp pháp lý theo hình thức tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, tư vấn để được bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (Điều 31, Điều 32, Điều 33 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017). Riêng trong lĩnh vực tham gia tố tụng, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan có thẩm quyền thi hành tạm giữ, tạm giam có trách nhiệm phối hợp với các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý cho họ. Đặc biệt, với việc quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan trên trong việc giải thích về quyền được trợ giúp pháp lý cho các đối tượng; thông báo, thông tin cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước để có thể tiếp cận đối tượng kịp thời là một cơ chế quan trọng giúp giảm thiểu việc bỏ lọt những người thuộc diện được trợ giúp pháp lý, trong đó có nạn nhân bị bạo lực trên cơ sở giới. Đồng thời, với quy định về chỉ định bào chữa cho trẻ em thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý đã tạo cơ sở cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng này (Điều 41 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017; Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC- TANDTC-VKSNDTC ngày 29/6/2018 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng).

Thứ hai, quy định về bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình: 

Luật Bình đẳng giới năm 2006 và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 quy định khái niệm, hành vi, điều cấm, biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, xử lý đối với các hành vi bất bình đẳng giới, bạo lực gia đình và bảo vệ nạn nhân của các hành vi trên. Các quy định trên là cơ sở để xác định hành vi bạo lực gia đình, bạo lực trên cơ sở giới và là cơ sở để các văn bản pháp luật khác quy định các biện pháp cụ thể trong việc đấu tranh phòng, chống các hành vi này, bảm đảm phù hợp với các quy định của các Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đặc biệt, trên cơ sở quy định mang tính nguyên tắc “Phụ nữ là nạn nhân bạo lực gia đình được tư vấn pháp luật để giải quyết tình trạng bạo lực gia đình” (Khoản 1, Điều 24 Luật phòng Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007) đã tạo cơ sở cho việc điều chỉnh chính sách trợ giúp pháp lý cho đối tượng này.

Thứ ba, quy định về phòng, chống mua bán người:

Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011 quy định: (1) Các khái niệm về “Bóc lột tình dục”, “Nô lệ tình dục”, “Cưỡng bức lao động” (Điều 2); (2) Các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người (Điều 3); (3) Các biện pháp trong phòng, chống mua bán người; phát hiện, xử lý hành vi vi phạm pháp luật và tiếp nhận, xác minh, bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân; (4) Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong phòng, chống mua bán người. Đặc biệt, Điều 36 quy định nạn nhân được tư vấn pháp luật để phòng ngừa bị mua bán trở lại và được trợ giúp pháp lý để làm thủ tục đăng ký hộ khẩu, hộ tịch, nhận chế độ hỗ trợ, đòi bồi thường thiệt hại, tham gia tố tụng và các thủ tục pháp lý khác có liên quan đến vụ việc mua bán người. Trình tự, thủ tục trợ giúp pháp lý được thực hiện theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý.

Thứ tư, quy định về hình sự và tố tụng hình sự: 

Bộ luật Hình sự năm 2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2017 (sau đây gọi chung là Bộ luật hình sự năm 2015) có nhiều điều luật quy định liên quan đến răn đe, trừng phạt hành vi bạo lực trên cơ sở giới đủ yếu tố cấu thành tội phạm và bảo vệ nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới chống lại các hành vi này. Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: Tình tiết phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên; người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác… là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 52); các tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với các khung hình phạt tương ứng áp dụng đối với mức độ thương tật mà hành vi bạo lực gây ra cho nạn nhân (Từ Điều 134 đến Điều 139); tội hành hạ người khác (Điều 140); các tội khác liên quan đến chống bạo lực tình dục đối với phụ nữ và trẻ em (Từ Điều 141 đến Điều 147), riêng Bộ luật Hình sự năm 2015 có bổ sung tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147); các tội mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt người (Điều 150 đến Điều 153); tội làm nhục người khác, vu khống (Điều 155, Điều 156); các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình, trong đó bao gồm các tội xuất phát từ yếu tố bạo lực gây ra, đủ sức cấu thành tội phạm có thể bị xử lý theo các tội tương ứng (Điều 181, Điều 182, Điều 185). Đặc biệt, Bộ luật quy định “tội xâm phạm quyền bình đẳng giới” (Điều 165) có tính chất mở rộng so với Điều 130 “Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ” (Bộ luật tố tụng hình sự năm 1999).
Bên cạnh đó, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng quy định về việc nạn nhân trong các vụ án được bảo vệ đời tư thông qua quy định quyền của người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố có quyền “Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giữ bí mật việc tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của họ, người thân thích của họ khi bị đe dọa” (Điều 56); quy định khi tiến hành khám người hay xem xét thân thể người để tìm chứng cứ quan trọng đối với vụ án phải do người cùng giới tiến hành và có người cùng giới chứng kiến, trong trường hợp cần thiết thì có bác sỹ tham gia… (Điều 194 và Điều 203). Vận dụng quy định trên, nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới có cơ sở để được bảo vệ trong các vụ án hình sự.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng quy định cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải thích cho người bị hại thuộc diện được trợ giúp pháp lý về quyền được trợ giúp pháp lý, nếu họ đề nghị trợ giúp pháp lý thì phải thông báo cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước để cử người thực hiện trợ giúp pháp lý cho họ (Điều 71); Trợ giúp viên pháp lý và luật sư (bao gồm cả luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, luật sư của tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý) được tham với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại (Điều 84). Đây là các quy định mới bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người bị hại thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.

Thứ năm, quy định về dân sự và tố tụng dân sự:

Bộ luật dân sự năm 2015 có nhiều quy định liên quan đến việc chống lại các hành vi bạo lực, kể cả bạo lực trên cơ sở giới: (1) Quy định các nguyên tắc trong dân sự như nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ dân sự, không phân biệt giới tính (Điều 5); nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự, cụ thể khi quyền dân sự của chủ thể bị xâm phạm (kể cả do hành vi bạo lực), chủ thể có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận quyền dân sự của mình, buộc chấm dứt hành vi vi phạm, buộc xin lỗi, cải chính công khai, buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự, buộc bồi thường thiệt hại (Điều 9); nguyên tắc không ai được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực khi tham gia quan hệ dân sự, giải quyết các tranh chấp dân sự (Điều 12); (2) Quy định các quyền về nhân thân và tài sản của cá nhân, nghiêm cấm việc xâm phạm các quyền này, kể cả sử dụng vũ lực và khi các quyền này bị xâm phạm, chủ thể quyền có thể có thể lựa chọn các giải pháp bảo vệ quyền của mình (Chương III); (3) Quy định giao dịch vô hiệu trong trường hợp do bị lừa dối, đe dọa và người tham gia giao dịch đó có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu, bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường (Điều 132 và Điều 137); (4) Quy định hạn chế năng lực hành vi dân sự xuất phát từ hành vi có tính chất bạo lực của người nghiện ma tuý hoặc chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình để bảo vệ tài sản cho người có liên quan (Điều 23).
Đồng thời, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định Thẩm phán có trách nhiệm giải thích, hướng dẫn cho đương sự biết để họ thực hiện quyền yêu cầu trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý (Khoản 6 Điều 48). Đây là quy định bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý cho đương sự là đối tượng trợ giúp pháp lý trong vụ án dân sự.

Thứ sáu, quy định về trẻ em:

Luật Trẻ em năm 2016 có các quy định bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực, bao gồm cả bạo lực trên cơ sở giới: (1) Quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với trẻ em, trong đó có các hành vi liên quan quan đến bạo lực; (2) Quy định các quyền của trẻ em, trong đó liên quan đến việc chống bạo lực đối với trẻ em; (3) Quy định riêng về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt để có chính sách riêng hỗ trợ các đối tượng này, trong đó có một số đối tượng có nguy cơ bị bạo lực (Điều 10 Luật Trẻ em năm 2016). Về trợ giúp pháp lý, Luật trẻ em năm 2016 quy định trẻ em có quyền được trợ giúp pháp lý trong tố tụng và xử lý vi phạm hành chính (Điều 30).

Bàn về thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án
Trong tố tụng dân sự, hòa giải là một chế định rất quan trọng đóng vai trò đặc biệt trong việc giải quyết các tranh chấp. Với cách thức mềm dẻo, linh hoạt, thân thiện, dựa trên nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận giữa các đương sự, hòa giải góp phần giải quyết những mâu thuẫn phát sinh mà không phải qua con đường tố tụng tại Tòa án nhân dân.
Hòa giải không chỉ đơn thuần là một hoạt động hỗ trợ giúp cho việc giảm tải khối lượng giải quyết tranh chấp tại Toà án nhân dân mà còn góp phần tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức cho các bên liên quan và Nhà nước; hạn chế được tình trạng các tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, gây bức xúc trong nhân dân. Thực tiễn giải quyết tranh chấp dân sự cho thấy các Thẩm phán thường tạo điều kiện cho các bên tranh chấp hoà giải ngay trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm.
Trước đây, theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011, hòa giải ngoài Tòa án chưa được đề cập đến. Chỉ đến khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2015 tại kỳ họp Khóa 10 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2016 đã bổ sung một chương mới (Chương XXXIII) quy định về điều kiện, phương thức để công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án. Theo đó:

1. Về đối tượng tham gia hòa giải thành ngoài Tòa án

Là cơ quan, tổ chức, cá nhân và các bên tham gia thỏa thuận hòa giải phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; phải là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận hòa giải. Trường hợp nội dung thỏa thuận hòa giải thành liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người thứ ba thì phải được người thứ ba đồng ý (theo Điều 416 và Điều 417 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).

2. Về điều kiện để được công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án

Theo quy định tại Điều 418 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Người yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án phải gửi đơn đến Tòa án trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày các bên đạt được thỏa thuận hòa giải thành.
Đơn yêu cầu phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
Các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, đ, e và g Khoản 2 Điều 362 của Bộ luật này;
Tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức đã tiến hành hòa giải;
Nội dung, thỏa thuận hòa giải thành yêu cầu Tòa án công nhận.
Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi văn bản về kết quả hòa giải thành theo quy định của pháp luật có liên quan.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu thì phải ra quyết định mở phiên họp xét đơn yêu cầu để ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án hoặc quyết định không công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án.

3. Về thẩm quyền của Viện kiểm sát trong kiểm sát thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án

Theo quy định tại Khoản 7, Khoản 8 Điều 419 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì:

7. Quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án được gửi cho người tham gia thỏa thuận hòa giải, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và Viện kiểm sát cùng cấp”.
8. Quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Như vậy, theo quy định trên thì sau khi ra quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án, Quyết định này sẽ được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp nhưng thời hạn gửi, thẩm quyền của Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp như thế nào nếu quyết định có vi phạm luật chưa đề cập đến.
Mặc dù, tại Khoản 5 Điều 419 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có quy định: “… Quyết định của Tòa án phải có các nội dung quy định tại Điều 370 của Bộ luật này” nhưng đây chỉ là quy định về nội dung của quyết định theo Khoản 1 Điều 370, còn đối với các khoản khác của Điều 370 trong đó có đề cập đến thời hạn gửi quyết định giải quyết việc dân sự cho Viện kiểm sát cùng cấp là 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định có được áp dụng luôn trong trường hợp này hay không? Và thẩm quyền của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp trong việc kiểm sát các quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án có hay không? Cụ thể như thế nào pháp luật cũng chưa được đề cập cụ  thể, gây khó khăn cho công tác kiểm sát đối với thủ tục này.
Nếu áp dụng quy định dành cho quyết định giải quyết việc dân sự (Hội đồng giải quyết việc dân sự gồm Thẩm phán, Thư ký, Kiểm sát viên và những người tham gia phiên họp) thì lại không phù hợp với mục đích ban đầu của việc thí điểm áp dụng thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án là giải quyết nhanh, gọn các tranh chấp mà không theo con đường tố tụng. Do đó, thiết nghĩ các cơ quan có thẩm quyền cần phải sớm ban hành một thủ tục riêng dành cho Thẩm phán cũng như Viện kiểm sát thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình đối với thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án nhằm rút ngắn thời gian giải quyết mà vẫn mang lại hiệu quả cao trên thực tế.
Trên đây là trao đổi của người viết từ thực tiễn công tác kiểm sát thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án. Rất mong nhận được ý kiến phản biện, trao đổi của các bạn đồng nghiệp để làm tốt hơn nữa công tác kiểm sát trong lĩnh vực này.

Thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài tại Bộ luật Dân sự 2015

Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là một vấn đề vô cùng phong phú. Trong quan hệ dân sự này, vấn đề thừa kế được coi là một lĩnh vực quan trọng. Việc xác định việc để lại thừa kế và hưởng thừa kế có ý nghĩa lớn đối với việc xác lập quyền sở hữu. Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 đã quy định rất cụ thể cách giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài.
Thừa kế trong tư pháp quốc tế là thừa kế có yếu tố nước ngoài. Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài được căn cứ vào các yếu tố sau: Các bên tham gia quan hệ thừa kế (có thể một hoặc hai bên) là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài; Đối tượng của quan hệ thừa kế là di sản ở nước ngoài; Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ thừa kế xảy ra ở nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài.
Thừa kế có yếu tố nước ngoài là một loại quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, đã xuất hiện từ lâu và được xem như là một hiện tượng tất yếu khách quan của giao lưu dân sự quốc tế. Điều 663 BLDS 2015, đó là: Thừa kế có yếu tố nước ngoài là quan hệ thừa kế có ít nhất một bên chủ thể là cá nhân, pháp nhân nước ngoài hoặc căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài hoặc tài sản thừa kế ở nước ngoài.

1. Pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài

1.1. Thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài theo quy định tại Điều 680 BLDS 2015

Khoản 1 Điều 680 BLDS 2015 quy định: “Thừa kế được xác định theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch ngay trước khi chết”.
Các vấn đề về nội dung của di chúc, thời điểm mở thừa kế, di sản thừa kế,… đều được xác định theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch ngay trước khi chết.
Ví dụ: Một người nước ngoài đầu tư tại Việt Nam, người đó có nhiều loại tài sản ở Việt Nam, gồm cả động sản và bất động sản, người này có vợ và một con là người nước ngoài hiện đang sống tại nước ngoài. Người này trước khi chết đã lập di chúc và để lại di sản cho vợ và con của mình. Theo đó, tất cả các vấn đề về thời điểm mở thừa kế, người hưởng di sản,… đều được áp dụng theo pháp luật của nước người để lại di sản thừa kế là công dân. Tức là trường hợp này cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam sẽ áp dụng luật nội dung của nước ngoài nhưng các quy định liên quan đến thủ tục ( luật hình thức) sẽ tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam.
Khoản 2 Điều 680 BLDS 2015 quy định: “Việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có bất động sản”. Bất động sản là một loại tài sản đặc biệt, do đặc tính gắn liền với đất đai, mà đất đai là một phần lãnh thổ của quốc gia, không thể sinh sôi, vì vậy việc thực hiện quyền thừa kế với loại tài sản này sẽ có những điểm khác biệt.
Việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản được hiểu là người hưởng di sản thừa kế hay người còn sống có được sở hữu bất động sản hay không hoàn toàn do pháp luật của nước nơi có bất động sản quy định.[1]
Ví dụ: Việt Nam thừa nhận quyền hưởng di sản theo di chúc của người được hưởng di sản nhưng nếu họ không thuộc diện mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì họ không thể đứng tên là chủ sở hữu của ngôi nhà đó, họ chỉ được hưởng giá trị của ngôi nhà đó mà thôi.
a.Thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài theo quy định tại Điều 681 BLDS 2015
Khoản 1 Điều 681 BLDS 2015 quy định: “ Năng lực lập di chúc, thay đổi hoặc hủy bỏ được xác định theo pháp luật của nước mà người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc”.
Có thể thấy, việc chuyển dịch di sản cho người thừa kế theo di chúc là thừa kế dựa trên cơ sở ý chí định đoạt của người lập di chúc khi còn sống. Di chúc là sự thể hiện ý chí cá nhân nhằm chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Quan hệ thừa kế theo di chúc được đặt ra trong trường hợp người chết để lại di chúc và di chúc đó là hợp pháp. Di chúc có thể định đoạt một phần hoặc toàn bộ di sản.
BLDS 2015 đã đưa ra những nguyên tắc áp dụng luật đối với các nội dung liên quan đến tính hợp pháp của di chúc. Khoản 1 Điều 681 BLDS 2015 xác định hệ thuộc luật quốc tịch (lex nationalis) để giải quyết xung đột pháp luật về năng lực lập di chúc. Quy định này phù hợp với việc xác định pháp luật áp dụng đối với năng lực hành vi dân sự của cá nhân và phù hợp với các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký kết. Trong trường hợp người Việt Nam lập di chúc ở nước ngoài thì năng lực lập di chúc, thay đổi và hủy bỏ di chúc tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam.[2]
Khoản 2 Điều 681 BLDS 2015 quy định: “Hình thức của di chúc được xác định theo pháp luật của nước nơi di chúc được lập. Hình thức của di chúc cũng được công nhận tại Việt Nam nếu phù hợp với pháp luật của một trong các nước sau đây: a) Nước nơi người lập di chúc cư trú tại thời điểm lập di chúc hoặc tại thời điểm người lập di chúc chết; b) Nước nơi người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập di chúc hoặc tại thời điểm người lập di chúc chết; c) Nước nơi có bất động sản nếu di sản thừa kế là bất động sản”.
Khoản 2 Điều 681 BLDS 2015 sử dụng hệ thuộc luật nước nơi lập di chúc để xác định tính hợp pháp hình thức của di chúc (locus regin actum). Khác với nguyên tắc áp dụng luật đối với việc xác định năng lực lập, thay đổi, hủy bỏ di chúc, hình thức của di chúc trong trường hợp có yếu tố nước ngoài không căn cứ vào quốc tịch của người lập di chúc mà căn cứ vào lãnh thổ nơi người để lại di sản lập di chúc. Như vậy, nếu công dân Việt Nam lập di chúc ở Pháp thì phải tuân thủ những quy định của pháp luật Pháp về hình thức di chúc. Và nếu công dân nước ngoài lập di chúc ở Việt Nam thì phải tuân thủ những quy định của Việt Nam về hình thức di chúc. Điều này hoàn toàn hợp lý. Bởi lẽ, nhiều quốc gia quy định di chúc có hiệu lực khi được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, do đó, cần phải tuân theo các quy định của quốc gia nơi lập di chúc về hình thức của di chúc.
Việc thừa kế của công dân Việt Nam đối với tài sản ở nước ngoài, pháp luật của nước ta không có các quy định cấm và trên thực tế Nhà nước cho phép và bảo hộ công dân Việt Nam hiện đang cư trú trong nước được nhận các di sản thừa kế mà người thân của họ để lại ở nước ngoài. Đối với việc thừa kế theo di chúc của công dân Việt Nam ở nước ngoài.
Điều 638 BLDS quy định những di chúc bằng văn bản dưới đây cũng có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực: “Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó; Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước đó”.
Đối với những trường hợp nếu công dân Việt Nam lập di chúc ở nước ngoài theo pháp luật của nước ngoài thì các di chúc này được coi là hợp pháp nếu pháp luật nước ngoài được áp dụng để lập di chúc không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khoản 1 Điều 670 BLDS 2015).
Nếu căn cứ vào pháp luật nước nơi di chúc được lập thì di chúc đó không phù hợp về hình thức, trường hợp này các cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét đến các hệ thống pháp luật có liên quan khác, ví dụ pháp luật của nước nơi cư trú hoặc pháp luật của nước người lập di chúc có quốc tịch vào thười điểm lập di chúc hoặc tại thời điểm người đó chết hoặc pháp luật của nước nơi có bất động sản nếu di sản thừa kế là bất động sản. Chỉ cần thỏa mãn một trong các hệ thống pháp luật nêu trên thì hình thức của di chúc được coi là hợp pháp.
Cùng với sự phát triển nhanh chóng và đa dạng của hợp tác quốc tế, bên cạnh áp dụng các quy phạm xung đột thực chất hay quy phạm xung đột đơn phương trong luật quốc nội, các quốc gia đã ký kết nhiều điều ước quốc tế để điều chỉnh các mối quan hệ tế. Trên thực tế, ở một số lĩnh vực và trong những mối quan hệ nhất định, các quy phạm của các điều ước quốc tế đóng vai trò chủ đạo trong việc điều chỉnh các mối quan hệ của tư pháp quốc tế nói chung và quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng.

2. Một số điểm mới của BLDS 2015 trong vấn đề thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài so với BLDS 2005

Trên cơ sở kế thừa các quy định của BLDS 2005, có thể thấy BLDS đã có thêm những bổ sung quan trọng góp phần giải quyết được các vấn đề phát sinh về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, so với quy định tương ứng của Điều 767 BLDS 2005 thì Điều 680 BLDS 2015 thiếu 2 khoản 3 và 4 đây là quy định về trường hợp di sản không có người thừa kế. BLDS 2005 quy định đối với di sản không có người thừa kế sẽ thuộc về Nhà nước, nếu là động sản thuộc về nhà nước mà người để lại di sản thừa kế là công dân, nếu là bất động sản sẽ thuộc về nhà nước nơi có bất động sản. Quy định như vậy là cần thiết, dẫu biết rằng những trường hợp di sản không có người thừa kế là hãn hữu nhưng với vai trò điều chỉnh xã hội, pháp luật phải dự liệu các trường hợp có thể xảy ra dù không phổ biến. BLDS 2015 không tiếp tục quy định vấn đề này là bởi vì theo quy định tại Điều 680 nếu có quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nảy sinh và rơi vào trường hợp di sản không có người thừa kế thì căn cứ vào khoản 1 Điều 680 vẫn hoàn toàn có thể giải quyết được. Cụ thể pháp luật của nước mà người để lại thừa kế là công dân sẽ được áp dụng.
Thứ hai, so với Điều 768 BLDS 2005 thì ở Điều 681 BLDS 2015 để xác định tính hợp pháp về hình thức của di chúc bên cạnh việc áp dụng hệ thuộc luật của nước nơi di chúc được lập thì còn có thể xác định tính hợp pháp về hình thức dựa trên các hệ thuộc khác được quy định tại khoản 2 Điều 681 BLDS 2015. Quy định này rõ ràng là mềm dẻo hơn, phù hợp hơn so với quy định tại Điều 768 BLDS 2005 khi mà chỉ xem xét tính hợp pháp về hình thức của di chúc theo duy nhất một hệ thuộc luật là luật của nước nơi lập di chúc. Quy định này vì thế gần hơn với quy định của pháp luật quốc tế cụ thể là Công ước La Hay ngày 5/10/1961 về xung đột pháp luật liên quan đến hình thức định đoạt tài sản bằng di chúc.
Từ những phân tích trên, có thể thấy BLDS 2015 đã quy định một cách khá chặt chẽ và phù hợp với thông lệ quốc tế về vấn đề thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài. Cũng từ đây, nâng cao giá trị pháp luật Việt Nam và góp phần giải quyết hiệu quả các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh trong đời sống xã hội hiện nay./
1.2.PGS.TS Nguyễn Văn Cừ và PGS.TS Trần Thị Huệ (Chủ biên) – Bình luận khoa học Bộ luật dân sự 2015, tr 1074

HOÀNG ĐÌNH DŨNG (Tòa án quân sự Khu vực 2 – Quân khu 4)

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Bàn về thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong trường hợp Tòa án là bị đơn trong vụ án dân sự

Bài viết phân tích, đánh giá quy định của pháp luật tố tụng dân sự về căn cứ chuyển đơn khởi kiện trong trường hợp vụ việc không thuộc thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ khi Tòa án là bị đơn trong vụ án dân sự, từ đó nêu ra thực trạng của pháp luật tố tụng dân sự, thực tiễn áp dụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.
Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là một trong những nguyên tắc hiến định [1]. Cụ thể hóa nguyên tắc hiến định này, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (TAND) năm 2014 [2] và Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 [3] đã dành riêng một điều luật để quy định về nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” và mọi hành vi của cá nhân, cơ quan, tổ chức can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong trường hợp khi Tòa án chính là cơ quan bị yêu cầu bồi thường thiệt hại và cũng chính là cơ quan giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại và tuyên buộc chính mình phải bồi thường hoặc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, không buộc mình phải bồi thường. Điều này không tránh khỏi sự “hoài nghi” của người yêu cầu bồi thường nói riêng và của cả xã hội nói chung về phán quyết của Tòa án khi “Tòa án lại xử chính mình” – người “vừa đá bóng, vừa thổi còi”. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và đề ra giải pháp hoàn thiện quy định về thẩm quyền của Tòa án trong trường hợp này là điều cần thiết.
1.Quy định của pháp luật
Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ là sự phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ việc dân sự giữa các Tòa án cùng cấp với nhau, được tiến hành trên cơ sở đảm bảo cho việc giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án được thuận lợi, nhanh chóng; tiết kiệm chi phí và tạo sự thuận lợi cho các đương sự tham gia tố tụng, tránh sự chồng chéo trong việc thực hiện thẩm quyền giữa các Tòa án cùng cấp.[4
Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ bao gồm: Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự và thẩm quyền giải quyết việc dân sự được quy định tại Điều 39 của BLTTDS năm 2015.
Đối với thẩm quyền giải quyết việc dân sự, do có sự khác nhau về đặc điểm, tính chất, quyền và lợi ích được bảo vệ của từng đối tượng người yêu cầu, người bị yêu cầu nên BLTTDS năm 2015 đã quy định cụ thể về Tòa án có thẩm quyền giải quyết đối với từng loại yêu cầu cụ thể.
Đối với thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự, tố tụng dân sự cũng đảm bảo nguyên tắc tự định đoạt của đương sự khi cho phép các bên đương sự có quyền thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc Tòa án nơi có trụ sở của nguyên đơn nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết. Tuy nhiên, sự thỏa thuận đó không được trái với quy định của BLTTDS về thẩm quyền theo cấp Tòa án. Đối với các tranh chấp có đối tượng [5] tranh chấp là bất động sản thì chỉ có Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.
Quy định về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự thường ưu tiên xác định là Tòa án nơi cư trú, làm việc, có trụ sở của bị đơn. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của từng lĩnh vực quan hệ pháp luật dân sự mà thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ không chỉ quy định trong BLTTDS mà còn được quy định cụ thể trong các luật chuyên ngành. Theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, Toà án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường là TAND cấp huyện nơi cá nhân bị thiệt hại cư trú, làm việc, nơi tổ chức bị thiệt hại đặt trụ sở, nơi thiệt hại xảy ra theo sự lựa chọn của người bị thiệt hại hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự [6].
Chính vì chủ thể đặc biệt của các loại án này nên quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 đã không thể tránh khỏi các trường hợp Tòa án nơi cá nhân bị thiệt hại cư trú, làm việc hoặc nơi tổ chức bị thiệt hại đặt trụ sở hoặc nơi thiệt hại xảy ra theo yêu cầu của người bị thiệt hại cũng chính là Tòa án bị yêu cầu bồi thường.
Ngày 18/9/2012, TANDTC, VKSNDTC và Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP về việc “Hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính”. Theo Thông tư này, trường hợp TAND cấp huyện là Tòa án có trách nhiệm bồi thường thì TAND cấp huyện đó báo cáo TAND cấp trên trực tiếp để TAND cấp trên lấy vụ án lên giải quyết theo thủ tục sơ thẩm. Hướng dẫn này đã phần nào hạn chế được việc Tòa án vừa là cơ quan xét xử vừa là bị đơn trong vụ án ở Tòa án cấp huyện. Tuy nhiên, hướng dẫn này chưa khắc phục được tình trạng tương tự như trên đối với Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao.
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 có hiệu lực vào ngày 01/7/2018 vẫn chưa khắc phục được hạn chế của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 như đã phân tích. TAND cấp huyện nơi cư trú, làm việc của người yêu cầu bồi thường hoặc nơi đặt trụ sở của bị đơn theo lựa chọn của người yêu cầu bồi thường là Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm yêu cầu bồi thường trong trường hợp bị đơn là các cơ quan theo quy định, trong đó bao gồm cơ quan tiến hành tố tụng cấp huyện. TAND cấp tỉnh nơi cư trú, làm việc của người yêu cầu bồi thường hoặc nơi đặt trụ sở của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại theo lựa chọn của người yêu cầu bồi thường là Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp huyện [7]. Như vậy, TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh vẫn có thể phải xét xử sơ thẩm, TAND cấp cao vẫn có thể phải xét xử phúc thẩm các vụ án yêu bồi thường thiệt hại mà chính mình là bị đơn.
Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới cũng có quy định về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng, điển hình như:
Ở Anh, mọi vụ kiện dân sự tiến hành chống lại Nhà nước sẽ do Tòa án cấp cao hoặc Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết. Tuy nhiên, có thể chuyển vụ kiện từ Tòa án cấp sơ thẩm lên Tòa án cấp cao hoặc chuyển vụ kiện từ Tòa án cấp cao xuống Tòa án cấp sơ thẩm nếu có đủ điều kiện. Riêng đối với việc chuyển vụ kiện từ Tòa án cấp cao xuống Tòa án cấp sơ thẩm sẽ chỉ được thực hiện với sự chấp thuận của Nhà nước.[8]
Ở Nhật Bản, việc đề nghị đền bù thiệt hại hình sự sẽ được đệ trình lên Toà án ra quyết định “vô tội”.[9]
Ở Hàn Quốc, để xem xét vụ việc có đơn yêu cầu đòi bồi thường kiện Nhà nước hoặc chính quyền địa phương, một Hội đồng Trung ương được thành lập ở Bộ Tư pháp, một Hội đồng Đặc biệt được thành lập ở Bộ Quốc phòng để xem xét đơn yêu cầu bồi thường đối với thiệt hại do các quân nhân hoặc công chức quốc phòng gây ra cho người khác. Hội đồng Trung ương và Hội đồng Đặc biệt thành lập một Hội đồng cấp Quận huyện theo các điều kiện được quy định tại Sắc luật của Tổng thống. Hội đồng Trung ương, Hội đồng Đặc biệt và Hội đồng cấp Quận huyện được bố trí chỗ làm việc theo quyết định của Bộ trưởng Tư pháp. Mỗi Hội đồng có Chủ tịch chịu trách nhiệm kiểm soát chung.[9]
Ở Trung Quốc, TAND trung cấp trở lên thành lập Hội đồng bồi thường, thành phần gồm ba đến bảy thẩm phán. Hội đồng bồi thường ra quyết định bồi thường, thực hiện nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số. Quyết định bồi thường của Hội đồng bồi thường là quyết định có hiệu lực pháp luật, buộc phải thực hiện.[10]
2. Thực tiễn áp dụng
Vụ án thứ nhất: Tranh chấp dân sự về bồi thường thiệt hại cho người bị kết án oan trong hoạt động tố tụng hình sự, giữa nguyên đơn bà Phan Thị Kim P với bị đơn TAND huyện T, tỉnh Đ.
Ngày 27/7/1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 652/QĐ-TTg về việc giao đất để xây dựng cơ sở hạ tầng khu dân cư và chợ mới thị tứ Trường Xuân (xã T, huyện T, tỉnh Đ) với diện tích thu hồi là 98.536m2. Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định số 478/QĐ-UB-CH phê duyệt chi tiết khu Trung tâm thương mại xã T, huyện T. Căn cứ vào hồ sơ kỹ thuật, mặc dù ranh giới quy hoạch còn cách đất của gia đình bà Phan Thị Kim P khoảng 55m, nhưng Ủy ban nhân dân huyện T vẫn cưỡng chế thu hồi diện tích 11.200m2, thửa số 18, tờ bản đồ số 11, tại xã TL (xã T) thuộc quyền sử dụng của cha bà là ông Phan Văn B. Bà P đã khiếu nại, phản đối thì bị Công an, Viện Kiểm sát huyện T khởi tố, bắt giam. Sau đó, TAND huyện T xét xử và xử phạt bà P 12 tháng tù giam về tội “Chống người thi hành công vụ”. Cho rằng mình bị oan nên bà P đã khiếu nại. Ngày 19/01/2013, Công an huyện T ban hành Quyết định đình chỉ điều tra bị can số 01. Tại Quyết định tái thẩm số 11/2015/DS-TT ngày 18/11/2015 của Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại Thành phố H đã xác định bà P không phạm tội. Vì vậy, bà P đã nộp đơn khởi kiện đến TAND huyện T yêu cầu TAND huyện T bồi thường thiệt hại do bị kết án oan với số tiền tổng cộng là 2.181.413.900 đồng.
Vụ án sau đó được TAND tỉnh Đ lấy lên để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2017/DS-ST ngày 13/3/2017, TAND tỉnh Đ đã quyết định: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim P về bồi thường thiệt hại cho người bị kết án oan trong hoạt động tố tụng hình sự. Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 23/7/2017, bà P đã kháng cáo lên TAND cấp cao tại Thành phố H. Ngày 06/11/2017, TAND cấp cao tại Thành phố H đã xét xử phúc thẩm và không chấp nhận kháng cáo của bà P. [11]
Vụ án thứ hai: Tranh chấp dân sự về bồi thường thiệt hại cho người bị kết án oan trong hoạt động tố tụng hình sự, giữa nguyên đơn bà Nguyễn Ánh M với bị đơn TAND tỉnh C.
Ngày 12/8/2005, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh C khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với bà Nguyễn Ánh M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 19/10/2007, TAND tỉnh C xét xử, tuyên phạt bà M 15 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiến đoạt tài sản”. Sau đó, Tòa phúc thẩm TANDTC tại Thành phố H xét xử phúc thẩm đã hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh C giải quyết theo thủ tục chung. Ngày 24/02/2010, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh C đình chỉ vụ án. Bà M khởi kiện đến TAND thành phố C, tỉnh C yêu cầu TAND tỉnh C bồi thường số tiền 1.596.000.000 đồng và xin lỗi công khai tại nơi cư trú. Ngày 28/3/2014, TAND thành phố C mở phiên tòa xét xử Tòa án cấp trên trực tiếp của mình với tư cách là bị đơn trong vụ án dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại và tuyên buộc TAND tỉnh C phải xin lỗi công khai tại nơi cư trú và bồi thường cho bà M số tiền 386.000.000 đồng. Không đồng ý với bản án sơ thẩm, bà M kháng cáo lên TAND tỉnh C. Ngày 27/8/2014, TAND tỉnh C đã xét xử phúc thẩm khi chính mình vừa là người phán quyết, vừa là bị đơn và đã không chấp nhận kháng cáo của bà M, giữ nguyên bản án sơ thẩm. [12]
3. Kiến nghị hoàn thiện
Một thực trạng đang diễn ra hiện nay đối với các vụ án dân sự về yêu cầu bồi thường thiệt hại trong đó chính Tòa án là cơ quan bị yêu cầu bồi thường – đó là Tòa án đã, đang và sắp phải tự xử chính mình.
Về mặt lý thuyết, Hội đồng xét xử xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nhưng thực tế, họ cũng chính là người đang công tác tại Tòa án bị yêu cầu bồi thường thiệt hại, họ có thể có mối quan hệ đồng nghiệp thân thiết với chính người hoặc cơ quan thi hành công vụ gây ra thiệt hại hoặc bị chi phối bởi sự lãnh đạo, chỉ đạo của người đứng đầu Tòa án bị yêu cầu bồi thường. Mặt khác, Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại lại tuyên buộc chính mình phải bồi thường hoặc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, không buộc mình phải bồi thường. Điều này không tránh khỏi tâm lý “hoài nghi” của người yêu cầu bồi thường nói riêng và của cả xã hội nói chung về phán quyết của Tòa án khi “Tòa án lại xử chính mình” như vụ án thứ hai nêu trên.
Theo quy định của Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 18/9/2012, nếu Tòa án cấp huyện có trách nhiệm bồi thường thì Tòa án cấp huyện phải báo cáo Tòa án cấp tỉnh để lấy vụ án đó lên giải quyết theo thủ tục sơ thẩm [13]. Đây là quy định tiến bộ, đảm bảo sự khách quan, vô tư của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án dân sự về yêu cầu bồi thường thiệt hại khi chính Tòa án cấp huyện là cơ quan bị yêu cầu bồi thường. Tuy nhiên, Thông tư này chỉ hướng dẫn đối với vụ án dân sự về yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật khi tiến hành các hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính. Yêu cầu bồi thường thiệt hại thuộc các trường hợp khác cũng có thể áp dụng tinh thần của Thông tư này như trường hợp vụ án thứ nhất đã nêu. Cho nên, nếu trường hợp Tòa án cấp tỉnh hoặc Tòa án cấp cao cũng chính là cơ quan bị yêu cầu thì chưa có hướng khắc phục. Vậy để đảm bảo sự vô tư, khách quan trong khi làm nhiệm vụ, tránh sự hoài nghi của chính người yêu cầu và xã hội, thì Tòa án cấp tỉnh hay Tòa án cấp cao sẽ phải báo cáo cho Tòa án cấp nào và Tòa án cấp nào sẽ có thẩm quyền lấy vụ án lên để giải quyết. Trong khi đó, theo quy định của Luật Tổ chức TAND năm 2014, TAND cấp cao không có thẩm quyền xét xử sơ thẩm [13].
Việc giao vụ án yêu cầu bồi thường mà Tòa án cấp cao là bị đơn cho chính Tòa án cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án cấp cao giải quyết cũng là một bất cập. Vì Tòa án cấp tỉnh cũng sẽ bị chi phối bởi Tòa án cấp trên trực tiếp chính là bị đơn trong vụ án. Do đó cũng có thể không đảm bảo tính khách quan khi đưa ra phán quyết.
Qua tham khảo các quy định của pháp luật một số nước trên thế giới, đối chiếu với tình hình thực tiễn ở Việt Nam hiện nay – trong giai đoạn tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả [14], tác giả kiến nghị trước hết nên xem xét quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự về yêu cầu bồi thường trong một số trường hợp đặc biệt theo hướng:
– Trường hợp Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết vụ án cũng chính là Tòa án có trách nhiệm bồi thường, thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện có văn bản báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh để ra quyết định giao cho một Tòa án nhân dân cấp huyện lân cận, thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh đó giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
– Trường hợp Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết vụ án cũng chính là Tòa án có trách nhiệm bồi thường, thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh có văn bản báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao để ra quyết định giao cho một Tòa án nhân dân cấp tỉnh lân cận, thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp cao đó giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
– Trường hợp Tòa án nhân dân cấp cao là Tòa án có trách nhiệm bồi thường, thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú của người yêu cầu bồi thường có văn bản báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để ra quyết định giao cho một Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp cao lân cận đó giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
Việc phân công một Tòa án khác có thẩm quyền giải quyết đối với các trường hợp nêu trên phải dựa trên nguyên tắc có lợi nhất cho người yêu cầu về khoảng cách địa lý.
Kết luận. Thiết nghĩ, pháp luật đều luôn hướng tới sự hoàn thiện để có thể theo kịp sự vận động không ngừng của xã hội và nhằm đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người dân, đáp ứng yêu cầu mà thực tiễn đặt ra. Tuy nhiên, cũng không thể tránh khỏi những điểm chưa hợp lý – gây nên sự hoài nghi của xã hội, người yêu cầu bồi thường thiệt hại – Tòa án đó vừa là bị đơn, đồng thời cũng vừa là Tòa án có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm hoặc Tòa án cấp trên trực tiếp vừa là bị đơn, đồng thời cũng vừa là Tòa án giải quyết phúc thẩm. Vì vậy, trước hết cần sớm hoàn thiện quy định về thẩm quyền giải quyết trong trường hợp Tòa án là bị đơn trong vụ án dân sự. Điều này tất yếu dẫn đến việc phải sửa đổi, bổ sung các văn bản luật có liên quan để đảm bảo sự thống nhất với nhau như: Luật Tổ chức TAND năm 2014 và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 về thẩm quyền của Tòa án đối với trường hợp đặc thù này. Và trong tương lai xa hơn, các nhà làm luật nước ta cũng nên xem xét hướng đến một mô hình, một thiết chế độc lập như ở Hàn Quốc sẽ đảm bảo được sự độc lập, vô tư, khách quan hơn khi giải quyết các vụ việc mà Tòa án là bị đơn trong vụ án dân sự về bồi thường thiệt hại./.
—-
1.Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013.
2.Điều 9 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.
3.Điều 12 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
4.Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr. 77.
5.Đối tượng: Là người, vật, hiện tượng mà con người nhằm vào trong suy nghĩ, hành động. (Xem: Viện ngôn ngữ học – Hoàng Phê chủ biên (2016), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 427).
6.Khoản 1 Điều 23 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009.
7.Điều 53 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.
8. Lê Thái Phương (2017), Tìm hiểu Luật bồi thường nhà nước của Vương quốc Anh, Trang thông tin về bồi thường nhà nước – Bộ Tư pháp: http://btnn.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=181 [Truy cập ngày 09/10/2019]
9.Điều 6 Luật đền bù hình sự Nhật Bản năm 1950. (http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=1237&TabIndex=3&TaiLieuID=2037 [Truy cập ngày 09/10/2019])
10.Điều 10 Luật bồi thường nhà nước Hàn Quốc năm 1967 được sửa đổi, bổ sung năm 2005. (Xem Trang thông tin điện tử Dự thảo online: http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=1237&TabIndex=3&TaiLieuID=2037 [Truy cập ngày 09/10/2019])
11.Điều 23 Luật Nhà nước bồi thường thiệt hại của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1994. (http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=1237&TabIndex=3&TaiLieuID=2040 [Truy cập ngày 09/10/2019])
12.Bản án số 260/2017/DS-PT ngày 06/11/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Tranh chấp dân sự về bồi thường thiệt hại cho người bị kết án oan trong hoạt động tố tụng hình sự”.
13.Duy Nhân (2014), Tòa xử chính mình: Làm sao khách quan?, Trang thông tin điện tử Báo Người lao động: https://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/toa-xu-chinh-minh-lam-sao-khach-quan-20140831100205242.htm [Truy cập ngày 09/10/2019]
14. Trong lĩnh vực hình sự, khi vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên thì Bộ luật Tố tụng hình sự giao quyền cho Tòa án cấp tỉnh là Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm (điểm c khoản 1 Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Tuy nhiên, trong lĩnh vực dân sự, khi vụ án mà Tòa án cấp huyện, cấp tỉnh hoặc cấp cao là bị đơn, thì Tòa án đó lại là cơ quan xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm khi chính mình là bị đơn thì có vẻ chưa phù hợp như đã phân tích. Tuy nhiên, nếu vụ án mà bị cáo là Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán cao cấp hoặc Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (những người công tác tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp cao, tối cao và đồng thời họ còn có thể giữ các chức vụ lãnh đạo trong các cơ quan đó), thì việc giao cho Tòa án cấp tỉnh xét xử sơ thẩm, nếu nơi tội phạm được thực hiện đồng thời là nơi họ đã hoặc đang công tác trước khi thực hiện hành vi phạm tội là vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu thêm để hoàn thiện quy định về thẩm quyền xét xử trong tố tụng hình sự.
15.Điều 29 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.
16.Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương (Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu của Ban chấp hành Trung ương khóa XII).

ThS. ĐỖ THỊ NHUNG (Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, Bình Dương)

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Giải pháp nhằm hạn chế trả lại đơn khởi kiện tranh chấp đất đai

Trong các loại đơn khởi kiện tranh chấp về dân sự, thì tranh chấp đất đai là loại tranh chấp có nhiều yếu tố phức tạp nhất, chiếm tỷ lệ cao nhất, các đương sự thường khiếu nại quyết liệt, gay gắt, dai dẳng. Và đơn khởi kiện tranh chấp đất đai cũng là loại đơn chiếm tỷ lệ bị trả lại đơn nhiều nhất, với nguyên nhân chính là chưa có biên bản hòa giải đất đai cơ sở hoặc biên bản hòa giải đất đai cơ sở chưa đúng quy định của Luật Đất đai 2013.

Quy định của pháp luật về hoà giải tranh chấp đất đai:

Hoà giải là quá trình tự nguyện khi các bên tranh chấp đất đai cùng thương lượng để đạt tới một giải pháp đồng thuận với sự giúp đỡ của một người, nhóm người trung gian và trung lập.
Quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở:
Điều 202 Luật Đất đai:
Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.
Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.
Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ:
Khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thực hiện các công việc sau:
a) Thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất;
b) Thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải. Thành phần Hội đồng gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân là Chủ tịch Hội đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn. Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
c) Tổ chức cuộc họp hòa giải có sự tham gia của các bên tranh chấp, thành viên Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Việc hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt. Trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi là việc hòa giải không thành.
Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản, gồm có các nội dung: Thời gian và địa điểm tiến hành hòa giải; thành phần tham dự hòa giải; tóm tắt nội dung tranh chấp thể hiện rõ về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất đang tranh chấp, nguyên nhân phát sinh tranh chấp (theo kết quả xác minh, tìm hiểu); ý kiến của Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai; những nội dung đã được các bên tranh chấp thỏa thuận, không thỏa thuận.
Biên bản hòa giải phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng, các bên tranh chấp có mặt tại buổi hòa giải, các thành viên tham gia hòa giải và phải đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã; đồng thời phải được gửi ngay cho các bên tranh chấp và lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã.
Trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo.

Các sai sót thường gặp liên quan đến hòa giải đất đai cơ sở

Dù pháp luật đất đai có quy định thì thực tiễn hoà giải tranh chấp đất đai ở Việt Nam không đạt hiệu quả cao. Và khi người dân khởi kiện tranh chấp đất đai sẽ bị trả lại đơn khởi kiện bởi các sai sót thường gặp liên quan đến hòa giải đất đai cơ sở là:
– Tranh chấp chưa qua thủ tục hòa giải ở cơ sở theo quy định do đương sự không hiểu biết pháp luật.
– Việc hòa giải tranh chấp đất đai không thể hiện bằng biên bản hòa giải mà chỉ có một biên bản làm việc ghi nhận ý kiến của các bên đương sự và sau đó kết luận là không hòa giải được.
– Biên bản hòa giải không đảm bảo về mặt hình thức, không có chữ ký của các thành viên tham gia hòa giải, không có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn.
– Thành phần tham gia hòa giải không đúng quy định như không có sự tham gia của Ủy ban Mặt trấn Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Không có mặt của tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn. Không có đại diện của một số hộ dân cư sinh sống lâu đời tại khu vực có đất tranh chấp biết rõ về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất đối với thửa đất đó.
– Chưa thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất.
– Vi phạm thời hạn giải quyết là 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai (có trường hợp nhận đơn nhưng không giải quyết hoặc để kéo dài trong nhiều năm dẫn đến việc khiếu nại vượt cấp).
Vấn đề tồn tại trong việc tiến hành hòa giải đất đai cơ sở tại Ủy ban nhân dân cấp xã hiện nay là Ủy ban nhân dân chưa thật sự quan tâm đến các quy định của pháp luật đất đai mà chỉ dựa vào kinh nghiệm, máy móc, rập khuôn theo những cách làm cũ làm cho công tác hòa giải không đảm bảo. Đây là thủ tục bắt buộc mà pháp luật đã quy định nên khi đương sự nộp đơn khởi kiện tại Tòa án buộc Tòa phải trả lại đơn do vi phạm, chưa có đủ điều kiện khởi kiện.
Giải pháp hạn chế trả lại đơn khởi kiện tranh chấp đất đai do hòa giải ở cơ sở chưa đúng quy định của Luật Đất đai năm 2013
Thông báo trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện phải thể hiện rõ thiếu sót của biên bản hòa giải ở cở sở để người khởi kiện biết mà yêu cầu Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn khắc phục ngay và rút kinh nghiệm khi hòa giải các đơn khiếu nại tranh chấp đất đai tiếp theo.
Đối với trường hợp trả lại đơn khởi kiện do chưa được hòa giải cơ sở hoặc do thủ tục hòa giải chưa đảm bảo đồng thời với việc gửi văn bản yêu cầu bổ sung đơn khởi kiện cho đương sự đã đề xuất gửi một bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phải hòa giải để Ủy ban biết thực hiện đúng quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự hoàn tất thủ tục khởi kiện.
Ban hành Công văn nhấn mạnh rõ quy định về việc phải tuân theo quy định tại Điều 202 của Luật Đất đai năm 2013, điều 88 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ gửi đến Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn trên địa bàn nhằm khẳng định sự cần thiết của việc hòa giải ở cơ sở với nội dung cụ thể của Điều 202 và Điều 88 nêu trên.
Trong quá trình thực hiện công tác tại các địa phương như: đi tham gia xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản thì bản thân trực tiếp trao đổi với cán bộ địa chính xã, thị trấn về những quy định này, nhất là việc hòa giải tranh chấp đất đai ở cấp xã, thị trấn phải tuân thủ đúng quy định của Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 43 để cán bộ địa chính tham mưu, đề xuất với lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chú trọng tổ chức hòa giải trong những vụ việc cụ thể.

Kiến nghị, đề xuất:

Để việc hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban cấp xã đạt hiệu quả và đi vào nề nếp, tạo điều kiện cho quá trình thụ lý và giải quyết các vụ án liên quan đến tranh chấp quyền sử dụng đất được nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. thiết nghĩ cần đề xuất, kiến nghị:
Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 6, khóa XIII, có hiệu lực từ ngày 01/7/2014 có những điểm mới, phù hợp với giai đoạn phát triển hiện nay và Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 hướng dẫn Luật Đất đai. Tuy nhiên, việc triển khai thi hành đòi hỏi cần phải có các văn bản hướng dẫn thực hiện, đối với Tòa án nhân dân tối cao cần có những Nghị quyết hướng dẫn cụ thể quy định của Luật Đất đai liên quan đến các tranh chấp đất đai như đã hướng dẫn đối với việc thi hành Luật Đất đai 2003 (ví dụ Nghị quyết số 01/2003, 02/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) để Tòa án nhân dân các cấp thực hiện một cách thống nhất.
Bổ sung hoặc mở rộng thêm quy chế phối hợp giữa Tòa án nhân dân cấp tỉnh với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về nội dung phối hợp để Ủy ban nhân dân cấp xã phường thực hiện đúng chức năng, đúng thời hạn và quy định trong hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở.
Trong khi chưa bổ sung quy chế, đề nghị Lãnh đạo Tòa án tỉnh có văn bản gửi Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố để yêu cầu Ủy ban nhân dân xã Phường thực hiện đúng quy định về hòa giải tranh chấp đất đai.

Một số vướng mắc, bất cập của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về quản trị công ty

Quản trị công ty là gì?

Quản trị tổ chức là quản trị những hoạt động phát sinh từ sự tập hợp tự giác của một nhóm người một cách có ý thức nhằm hoàn thành mục tiêu chung cụ thể.
Tổ chức là một thực thể tồn tại có mục tiêu phải hoàn thành, có đời sống và hoạt động riêng của nó để có thể tồn tại và phát triển. Công ty cũng là một tổ chức, nó cần được quản trị. Công ty muốn cạnh tranh thành công thì phải hoạt động hiệu quả, điều này tùy thuộc nhiều vào việc quản trị công ty.
Quản trị công ty là một quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ công ty lên đối tượng quản trị, sử dụng một cách tốt nhất những tiềm năng và cơ hội để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu đề ra theo đúng luật định và thông lệ xã hội.

Chức năng của quản trị công ty

Chức năng quản trị là những hoạt động riêng biệt của quản trị, thể hiện những phương thức tác động của nhà quản trị đến các lĩnh vực quản trị trong công ty. Theo đó, quản trị công ty có bốn chức năng, bao gồm: Kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát. Trong đó:
– Chức năng kế hoạch hóa là chức năng đầu tiên trong tiến trình quản trị, xác định mục tiêu, mục đích của công ty, sau đó, quyết định các biện pháp để thực hiện mục tiêu này.
– Chức năng tổ chức là thiết lập một cấu trúc hợp lý của công ty nhằm bảo đảm cho việc đạt được mục đích, mục tiêu của công ty, bao gồm: Việc xác định những việc phải làm, những ai sẽ phải làm việc đó, các công việc sẽ được phối hợp lại với nhau như thế nào, những bộ phận nào cần phải được thành lập, quan hệ phân công và trách nhiệm giữa các bộ phận đó và hệ thống quyền hành trong công ty.
– Chức năng lãnh đạo là truyền đạt, giải thích cho các cấp dưới kế hoạch đã đề ra, lãnh đạo và thúc đẩy họ đạt được mục tiêu của công ty.
– Chức năng kiểm soát là bảo đảm cho các hoạt động được thực hiện đúng pháp luật, điều lệ và kế hoạch.

Một số vướng mắc, bất cập của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về quản trị công ty

Ở nước ta, hệ thống các quy định về quản trị công ty được đề cập tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Trong đó, Luật Doanh nghiệp năm 2014 có vai trò trung tâm, chi phối hầu hết vấn đề quản trị công ty cho các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, đối với các quy định quản trị công ty đặc thù, hiện nay đang có khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về vấn đề quản trị doanh nghiệp cho đối tượng này như: Nghị định số 69/2014/NĐ-CP ngày 15/7/2014 của Chính phủ về tập đoàn kinh tế nhà nước và tổng công ty nhà nước; Nghị định số 25/2010/NĐ-CP ngày 19/3/2010 của Chính phủ về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu; Nghị định số 71/2017/NĐ-CP ngày 06/6/2017 của Chính phủ hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng với công ty đại chúng; Thông tư số 95/2017/NĐ-CP ngày 22/9/2017 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 71/2017/NĐ-CP…
Ngoài ra, các quy định quản trị doanh nghiệp đặc thù còn được quy định căn cứ theo lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp (tín dụng, bảo hiểm, chứng khoán, …). Nhìn chung, các luật chuyên ngành thường quy định dẫn chiếu để áp dụng khung pháp lý về quản trị theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015 và trong các nghị định hướng dẫn thi hành các luật về vấn đề này.
Có thể nói, hệ thống các quy định pháp luật về quản trị công ty ở Việt Nam quy định khá cụ thể, rõ ràng về cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quyền lực, cơ quan quản lý, cơ quan điều hành, cơ quan kiểm soát trong các công ty. Trong đó, Luật Doanh nghiệp năm 2014 với những quy định quan trọng mang tính đột phá đã góp phần tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng, hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư. Theo đó, các quy định về quản trị doanh nghiệp được hoàn thiện hơn theo hướng bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của nhà đầu tư, đưa doanh nghiệp trở thành một loại hình kinh doanh an toàn hơn. Tuy nhiên, những quy định về quản trị công ty trong
Luật Doanh nghiệp năm 2014 vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập cơ bản như sau:
Thứ nhất, quy định về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tại Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2014:
– Khoản 2 Điều 13 quy định “công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”. Như vậy, Luật không quy định rõ chức danh nào trong công ty là người đại diện sẽ dẫn tới sự tùy tiện trong quá trình thực thi.
– Khoản 6 Điều 13 quy định “đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty bị tạm giam, kết án tù, trốn khỏi nơi cư trú, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề vì phạm tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và tội khác theo quy định của Bộ luật Hình sự thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về người đại diện theo pháp luật của công ty”. Quy định này không hợp lý bởi Hội đồng thành viên gồm 02 thành viên mà thành viên là người đại diện thuộc trong các trường hợp trên thì không thể có quyết định mới của Hội đồng về người đại diện theo pháp luật của công ty.
Thứ hai, quy định về kiểm soát viên tại Điều 103 và Điều 105:- Điều 103 quy định khá rõ và đầy đủ tiêu chuẩn của kiểm soát viên trong doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, quy định này không áp dụng đối với các kiểm soát viên trong các loại hình công ty khác. Có thể thấy, vai trò của kiểm soát viên trong doanh nghiệp nhà nước là tương đối lớn, nhưng sẽ tạo ra sự phân biệt với các loại hình công ty khác.
– Khoản 1 Điều 105 quy định: “Trưởng ban kiểm soát làm việc chuyên trách tại công ty; các thành viên khác có thể tham gia ban kiểm soát của không quá 04 doanh nghiệp nhà nước nhưng phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan đại diện chủ sở hữu”. Theo đó, với những quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 102 thì công việc của ban kiểm soát trong một doanh nghiệp là rất lớn. Hiện nay, hầu hết các công ty có 03 thành viên trong ban kiểm soát, chỉ có số lượng nhỏ công ty là có đến 05 thành viên. Những thành viên này thường do hội đồng quản trị chỉ định, không độc lập và là cấp dưới, phụ thuộc vào thành viên của hội đồng quản trị và tổng giám đốc. Như vậy, hoạt động của ban kiểm soát sẽ không hiệu quả. Trên thực tế, hầu hết các kiểm soát viên làm việc kiêm nhiệm tại công ty, chỉ có một số lượng nhỏ kiểm soát viên là cổ đông, đại điện của cổ đông, không là người lao động trong công ty, không chuyên trách, không có chuyên môn cao. Do vậy, việc tham gia các doanh nghiệp nhà nước khác là không hợp lý.
Thực tế hiện nay ở Việt Nam cũng cho thấy, ban kiểm soát chưa thể hiện đầy đủ vai trò bảo vệ cổ đông và nhà đầu tư. Do đó, rủi ro mà nhà đầu tư và cổ đông phải gánh chịu từ sự “lép vế” của ban kiểm soát là rất lớn.
Thứ ba, quy định liên quan đến công ty hợp danh: Quy định về trách nhiệm của thành viên góp vốn mâu thuẫn ngay trong Luật Doanh nghiệp năm 2014. Tại điểm c khoản 1 Điều 172 quy định “thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty” trong khi điểm a khoản 2 Điều 182 lại quy định “thành viên góp vốn chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp”. Như vậy, trách nhiệm của thành viên góp vốn sẽ thực hiện theo quy định nào, chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã góp hay số vốn đã cam kết góp?
Bên cạnh đó, Điều 179 về điều hành kinh doanh của công ty hợp danh quy định chủ tịch hội đồng thành viên, giám đốc hoặc tổng giám đốc có các nhiệm vụ như nhau (khoản 4) thì theo như phân tích ở trên, mỗi chức năng quản trị công ty tương ứng với một chức danh nhất định. Bởi vậy, quy định các chức danh khác nhau có cùng nhiệm vụ là không hợp lý.
Thứ tư, quy định tại Điều 162 về hợp đồng, giao dịch giữa công ty với thành viên hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc, kiểm sát viên, cổ đông sở hữu từ 10% cổ phần phổ thông trở lên… phải được đại hội đồng cổ đông của công ty cổ phần chấp thuận là không hợp lý bởi đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan cao nhất của công ty cổ phần. Đại hội đồng cổ đông họp thường niên mỗi năm một lần mà những nội dung phải thảo luận và thông qua rất nhiều. Bên cạnh đó, trong nền kinh tế thị trường, thời gian là cơ hội nên có hợp đồng phải được đại hội đồng cổ đông chấp thuận sẽ làm giảm tính hiệu quả của quá trình kinh doanh.
Thứ năm, thực tế cho thấy, quyền lợi của cổ đông thiểu số chưa được bảo vệ hiệu quả là do từ nhiều nguyên nhân khác như như việc không nắm rõ các quyền của mình, tâm lý phó thác cho cổ đông lớn và thiếu động lực đấu tranh cho quyền lợi của chính các cổ đông thiểu số. Đồng thời, các cổ đông lớn có khuynh hướng thao túng việc quản trị, điều hành công ty, cũng như lạm dụng quyền cổ đông, thành viên lớn để loại bỏ hoặc ngăn cản thực hiện quyền của cổ đông thiểu số. Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật hiện hành chưa tạo những điều kiện thuận lợi nhất để cổ đông thực hiện quyền khởi kiện này của mình, trình tự thủ tục khởi kiện còn nhiều phức tạp, tốn kém rất nhiều về thời gian và tiền bạc của các cổ đông thiểu số khi họ phát hiện những sai sót, gian lận trong quá trình điều hành của các cấp quản lý công ty đều có quyền khởi kiện. Ngoài ra, các quy định pháp luật về quyền của cổ đông trong công ty cổ phần chưa được thực hiện một cách đầy đủ và nghiêm túc, chưa có nghị định hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp năm 2014 về việc bỏ phiếu từ xa đối với các cổ đông. Do vậy, xảy ra tình trạng nhiều công ty cổ phần tiến hành đại hội đồng cổ đông ở những nơi xa xôi, điều kiện đi lại khó khăn, thủ tục ủy quyền phức tạp nhằm hạn chế sự tham gia của các cổ đông thiểu số.
Thứ sáu, khoản 3 Điều 144 về điều kiện để nghị quyết được thông qua quy định như sau: “3. Trường hợp Điều lệ công ty không quy định khác, việc biểu quyết bầu thành viên hội đồng quản trị và ban kiểm soát phải thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu…”. Luật Doanh nghiệp năm 2014 không còn quy định việc bầu thành viên hội đồng quản trị và ban kiểm soát phải thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu, mà có thể chọn phương thức bầu bình thường. Có một số ý kiến không tán thành với việc quy định bắt buộc bầu dồn phiếu, vì có thể dẫn đến tình trạng các cổ đông lớn của công ty lợi dụng để lựa chọn phương án có lợi cho mình thay vì lợi ích chung của công ty. Tuy nhiên, theo tác giả, đây là một nhận định chưa chính xác về bản chất và thực tế vấn đề, tước bỏ một công cụ quan trọng để bảo vệ nhóm cổ đông thiểu số.
Bên cạnh đó, việc quy định cho phép hội đồng quản trị có quyền thông qua hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại điều lệ công ty theo khoản 5 Điều 149 Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã dẫn đến có nhiều trường hợp, hội đồng quản trị, vì sự chủ quan trong nhận định của mình, ra các quyết định đầu tư sai lầm, gây thiệt hại cho các cổ đông thiểu số.
Thứ bảy, hiện nay, yêu cầu về công khai và minh bạch hóa thông tin đối với doanh nghiệp nói chung còn yếu, chưa thật đầy đủ và tương thích với thông lệ quốc tế; chưa có cơ chế kiểm tra và giám sát hiệu quả chất lượng của các thông tin được công bố.  Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật về công khai, minh bạch hóa thông tin trong còn mang tính hình thức, sơ sài. Các quy định của pháp luật cũng cho thấy sự hạn chế rất lớn trong cơ chế kiểm tra và giám sát các thông tin công bố ra ngoài của các công ty cổ phần gây ra rất nhiều thiệt hại cho thị trường, cho các cổ đông, cho các nhà đầu tư và cho tất cả các bên liên quan.
Thứ tám, khoản 4 Điều 162 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Hợp đồng, giao dịch bị vô hiệu và xử lý theo quy định của pháp luật khi được ký kết hoặc thực hiện mà chưa được chấp thuận theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, gây thiệt hại cho công ty; người ký kết hợp đồng, cổ đông, thành viên hội đồng quản trị hoặc giám đốc hoặc tổng giám đốc có liên quan phải liên đới bồi thường thiệt hại phát sinh, hoàn trả cho công ty các khoản lợi thu được từ việc thực hiện hợp đồng, giao dịch đó”.
Theo quy định trên thì cổ đông chỉ có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu hợp đồng, giao dịch được thực hiện không đúng với quy định của pháp luật, hay nói cách khác là có yếu tố phạm tội hoặc cố ý gây thiệt hại. Hơn nữa, cổ đông chỉ có thể yêu cầu người quản lý có liên quan phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu có thiệt hại phát sinh, các thành viên khác không phải chịu trách nhiệm liên đới. Điều này cũng chưa phù hợp với nguyên tắc quản trị doanh nghiệp tốt (nguyên tắc là người quản lý doanh nghiệp/doanh nghiệp phải làm việc/hoạt động vì lợi ích cao nhất của cổ đông, quyền lợi của cổ đông cũng cần phải được bảo vệ ở mức cao nhất).
Có thể nói, sau hơn 03 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp năm 2014 trên thực tế thì nội dung mới về quản trị công ty vẫn chưa cho thấy những tác động tích cực, rõ rệt. Với những tồn tại và hạn chế trong các quy định của Luật như hiện nay, vấn đề cấp bách đặt ra là cần tiếp tục hoàn thiện Luật cùng các văn bản dưới luật về quản trị công ty để tạo hành lang pháp lý thuận lợi, rõ ràng và an toàn cho hoạt động của doanh nghiệp, nhằm theo kịp và đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.

Nguồn: Chuyên trang Học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm xâm phạm sở hữu khác

Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn có sự nhầm lẫn trong việc định tội danh giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội lừa dối khách hàng (Điều 198), tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175)…
Tác giả sẽ phân tích, làm rõ những điểm giống và khác nhau giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu khác nhằm đảm bảo cho việc định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được chính xác.
1.Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Chương XVI của BLHS năm 2015 (từ Điều 168 đến Điều 180), do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội xâm phạm sở hữu, là việc người phạm tội đã dùng những thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin sai sự thật, có thể bằng lời nói hoặc hành động làm cho người có tài sản hoặc người có trách nhiệm trông giữ, quản lý tài sản tin, tưởng giả là thật, mà “tự nguyện” giao tài sản cho người phạm tội.
Điều 174 BLHS năm 2015 quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: “1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…”. Do đó, ta có thể đưa ra khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân.
Trên thực tế hành vi gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hợp thành bởi hai yếu tố học luật. Đó là đưa ra những thông tin gian dối và chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản nhầm lẫn, tin tưởng vào những thông tin không đúng sự thật ấy mà trao tài sản cho người phạm tội. Khi giao tài sản chủ tài sản không biết mình bị lừa dối. Họ có thể phát hiện ra ngay sau khi trao tài sản nhưng bản chất của hành vi chiếm đoạt là dựa trên thủ đoạn lừa dối thì vẫn bị xử lý về tội này.
Nếu tài sản chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ tài sản thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi nhận tài sản từ người bị lừa dối. Khi nhận tài sản cũng là lúc người phạm tội đã làm chủ được tài sản đó trên thực tế và cũng là lúc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được coi là hoàn thành.
Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang ở trong sự chiếm hữu của người phạm tội thì hình thức thể hiện của hành vi chiếm đoạt là hành vi giữ lại tài sản đáng lẽ phải giao cho người bị lừa dối vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã nhận nhầm tài sản hoặc không nhận. Khi người bị lừa dối nhận nhầm hoặc không nhận tài sản cũng là lúc người phạm tội lừa đảo đã làm chủ được tài sản đó và cũng là thời điểm hoàn thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Ví dụ: A nhờ B chuyển cho C số tiền 50 triệu đồng. Trong lúc giao tiền cho C, B đã dùng thủ đoạn gian dối là ghi trong giấy giao nhận tiền là số tiền 50 triệu đồng, do tin tưởng B nên C đã ký vào giấy nhận tiền và không đếm cụ thể số tiền mình nhận, nhưng thực tế thì B chỉ giao cho C số tiền 40 triệu đồng. Khi về đến nhà C mới phát hiện ra số tiền mình nhận được chỉ là 40 triệu đồng, thiếu 10 triệu đồng. Như vậy B đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản thể hiện ở việc B ghi vào giấy giao nhận tiền với C là số tiền 50 triệu đồng, nhưng thực tế B chỉ giao cho C số tiền 40 triệu đồng và giữ lại 10 triệu đồng.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có cấu thành vật chất, chính vì vậy việc xác định tài sản bị chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc, đây là dấu hiệu định lượng để xác định cấu thành cơ bản hoặc cấu thành định khung tăng nặng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn có sự nhầm lẫn trong việc định tội danh giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu khác do có hành vi khách quan gần giống với hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như: tội lừa dối khách hàng (Điều 198), tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175)…
2.Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Điều 175 của BLHS năm 2015: “1. Người nào thực hiện một trong các hành vi phạm tội dưới đây chiếm đoạt tài sản của người khác giá trị từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a, Vay mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b, Vay mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản…”
Cả hai tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có các yếu tố về khách thể, mặt chủ quan, mặt khách quan và chủ thể của tội phạm cơ bản giống nhau. Tuy nhiên giữa hai tội có sự khác nhau về thời điểm thực hiện hành vi lừa dối, cụ thể:
Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi lừa dối được người phạm tội thực hiện trước thời điểm thực hiện sự giao kết, thỏa thuận. Việc thực hiện sự giao kết, thỏa thuận trong trường hợp này là sau khi người phạm tội đã chiếm được lòng tin của người bị hại. Như vậy hành vi lừa dối xảy ra trước hành vi chiếm đoạt, là điều kiện để hành vi chiếm đoạt tài sản xảy ra, không có hành vi lừa dối thì không thể chiếm đoạt được tài sản.
Ví dụ: A nói với B là do mẹ bị bệnh nặng và vay B số tiền 10 triệu đồng để đưa mẹ đi cấp cứu, do B tin tưởng nên cho A vay số tiền trên. Sau khi nhận được tiền A đã sử dụng số tiền đó để đánh bạc và bị thua, không có khả năng trả nợ cho B. Qua vụ án trên ta có thể thấy rằng A có hành vi lừa dối B làm cho B tin tưởng, sau đó B mới giao tài sản cho A. Như vậy, hành vi lừa dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra trước hành vi giao nhận tài sản giữa chủ tài sản và người phạm tội. Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt tài sản xảy ra.
Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, việc giao nhận tài sản là ngay thẳng thông qua các giao dịch dân sự hợp pháp như hợp đồng vay mượn, cho thuê, nhờ giữ hộ… do đó sau khi có được tài sản thông qua các hợp đồng, giao kết thì hành vi lừa dối mới xảy ra nhằm giữ lại tài sản đáng lẽ phải trả cho chủ tài sản. Sau khi hết thời hạn vay mượn, cho thuê … nhưng người phạm tội cố tình không trả hoặc sử dụng tài sản vào mục đích khác dẫn đến mất khả năng chi trả hoặc bỏ trốn nhằm trốn tránh trách nhiệm phải chi trả tài sản, do đó hành vi lừa dối trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được thực hiện nhằm che giấu hành vi chiếm đoạt tài sản và được thực hiện sau khi có sự giao nhận tài sản giữa chủ tài sản và người phạm tội.
Ví dụ: M là bạn của H, ngày 15/3/2017 M hỏi mượn chiếc xe mô tô của H để đi lại và hẹn 5 ngày sau sẽ trả, H đồng ý và giao xe cho M. Sau khi nhận được xe, M đã sử dụng xe để tham gia đánh bạc và bị thua, do không có tiền trả nợ nên M đã mang xe của H đi cầm cố lấy tiền trả nợ và tiêu xài, sau đó không có khả năng chuộc xe về trả cho H, sau 02 tuần M nói với H là xe bị mất trộm. Như vậy hành vi lừa dối của M có sau hành vi M nhận tài sản từ H, mục đích nói dối của M là nhằm che dấu hành vi chiếm đoạt tài sản của mình (do M đã mang xe đi cầm cố và không có khả năng chuộc xe về trả cho H).
Như vậy giữa tội lạm dụng tín dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản có sự khác nhau về thời điểm và mục đích của hành vi lừa dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Vì vậy để xác định người phạm tội thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản phải xem xét thời điểm giao nhận tài sản có hay không mục đích chiếm đoạt. Nếu người phạm tội có hành vi gian dối ngay từ đầu nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì đó là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nếu tại thời điểm giao nhận tài sản người phạm tội chưa có hành vi gian dối, mà việc giao nhận được thực hiện một cách ngay thẳng nhưng sau khi có được tài sản thì người phạm tội mới có hành vi gian dối nhằm che dấu việc chiếm đoạt tài sản thì đó là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản [1 ].
3.Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản
Điều 355 của BLHS năm 2015 quy định: “1. Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 06 năm: a) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm; b) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm…”
Hành vi khách quan của tội này là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi vượt ra khỏi phạm vi quyền hạn của mình khi thi hành công vụ nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác thể hiện ở các thủ đoạn sau: Lạm dụng chức vụ, quyền hạn uy hiếp tinh thần của người khác để chiếm đoạt tài sản; lạm dụng chức vụ, quyền hạn lừa dối người khác nhằm chiếm đoạt tài sản của họ; lạm dụng chức vụ quyền hạn để lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Việc phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản thực chất là việc phân biệt trường hợp “lợi dụng chức vụ quyền hạn” lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 174 BLHS với tội Lạm dụng chức vụ quyền hạn lừa dối chiếm đoạt tài sản của người khác quy định tại Điều 355 BLHS.
Cả hai trường hợp phạm tội trên đều được thực hiện bằng hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản, chỉ khác nhau ở cách thức thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể như sau: Ở trường hợp lạm dụng chức vụ quyền hạn lừa dối chiếm đoạt tài sản được thực hiện bằng việc sử dụng chức vụ, quyền hạn mà người phạm tội có trong khi thi hành công vụ để lừa dối chiếm đoạt tài sản của người khác. Đây là một trong số các tội phạm về chức vụ nên hành vi khách quan của tội lạm dụng chức vụ chiếm đoạt tài sản phải được thực hiện trong khi thi hành công vụ [ ].
Ví dụ: A là Chủ tịch xã, tuy không có thẩm quyền giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng A đã nói với B là mình có thẩm quyền và nhận của B số tiền 100.000.000 đồng để ký quyết định giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái quy định.
Ở trường hợp “lợi dụng chức vụ quyền hạn” lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điểm d, khoản 2 Điều 174 BLHS năm 2015), hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản được thực hiện bằng việc dựa trên chức vụ quyền hạn mà người phạm tội có để lừa dối người khác nhằm chiếm đoạt tài sản của họ. Việc lợi dụng chức vụ quyền hạn không đòi hỏi người phạm tội phải sử dụng chức vụ quyền hạn của mình trong khi thi hành công vụ để lừa dối người khác nhằm chiếm đoạt tài sản mà chỉ cần người phạm tội có chức vụ quyền hạn và dựa trên chức vụ quyền hạn để thực hiện hành vi phạm tội.
Ví dụ: A là điều tra viên huyện B, biết được vụ án H vận chuyển trái phép chất ma túy với khối lượng lớn do Công an tỉnh C đang thụ lý giải quyết. A biết M là người nhà của H nên đã gọi điện thoại cho M nói là mình được phân công giải quyết vụ án và có thể giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho H với điều kiện M phải giao cho A số tiền 10.000.000 đồng, M đã tin tưởng và giao cho A số tiền 10.000.000đ.
Trong tình huống trên A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tình tiết định khung là “Lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội”.
4.Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lừa dối khách hàng
Điều 198 của BLHS năm 2015 quy định: “1. Người nào trong việc mua, bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mà cân, đong, đo, đếm, tính gian hàng hóa, dịch vụ hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;b) Thu lợi bất chính từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng…”
Tội lừa dối khách hàng là trường hợp người phạm tội có hành vi gian dối trong cân đo, đong đếm, tính gian, đánh tráo loại hàng hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác… trong việc mua bán với khách hàng gây thiệt hại nghiêm trọng cho khách hàng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Điểm giống nhau của cả hai tội này đều được thực hiện bằng thủ đoạn gian dối, tuy nhiên đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hành vi gian dối được thực hiện dưới mọi hình thức còn đối với tội lừa dối khách hàng hành vi gian dối chỉ diễn ra trong quan hệ mua bán bằng những hành vi cụ thể như cân, đo, đong đếm thiếu, mua bán hàng giả …
5. Một số kiến nghị, đề xuất
Trên cơ sở nghiên cứu quy định của BLHS năm 2015 và thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật giải quyết các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong thời gian qua, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo áp dụng đúng quy định của pháp luật đối với tội phạm này như sau:
Thứ nhất: Hoàn thiện các quy định của pháp luật để làm rõ hơn dấu hiệu định tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đồng thời sớm ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định của BLHS nói chung và đối với các tội xâm phạm sở hữu nói riêng một cách toàn diện, phù hợp với quy định của BLHS hiện hành.
Thứ hai: Để tránh tình trạng nhầm lẫn giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội xâm phạm sở hữu cùng sử dụng hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản, cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể về hành vi khách quan của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo hướng: Hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gồm hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Giữa hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt phải là kết quả của hành vi lừa dối. Hành vi lừa dối nếu chỉ nhằm tiếp cận tài sản không có ý nghĩa quyết định đối với việc chiếm đoạt được tài sản thì không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy từng trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một trong các tội xâm phạm sở hữu khác nếu hành vi chiếm đoạt thỏa mãn CTTP của tội đó.
Thứ ba: Cần tăng cường về số lượng và nâng cao năng lực trình độ đối với các chủ thể tiến hành tố tụng như: Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán ….
Để thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự nói chung và đối với các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng, đòi hỏi các chủ thể tiến hành tố tụng phải thường xuyên trau dồi, nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, công tâm khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ, đặc biệt phải nắm vững các quy định của pháp luật, trú trọng đến việc nâng cao nhận thức và áp dụng thống nhất pháp luật hình sự nhằm khắc phục tình trạng điều tra, truy tố, xét xử oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm.
Tóm lại, việc làm rõ các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ tạo cơ sở lý luận cho việc nhận thức thống nhất, đúng đắn các quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong BLHS năm 2015, việc phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội có dấu hiệu pháp lý tương tự nhằm tránh sự nhầm lẫn trong việc áp dụng quy định của BLHS đối với các tội phạm này trên thực tế. Bên cạnh đó tác giả đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm đảm bảo cho việc áp dụng đúng các quy định của pháp luật đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, góp phần ngăn ngừa, đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm này, bảo vệ được quyền sở hữu về tài sản cho Nhà nước, tổ chức cá nhân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

TRIỆU THỊ TUYẾT (Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn)

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).


1.Lê Đăng Doanh (2005), Sự khác nhau giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS) với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 BLHS), Tạp chí Tòa án nhân dân.
2.Lê Đăng Doanh (2013), Định tội danh đối với các tội xâm phạm sở hữu, Bộ luật hình sự năm 1999, Nxb .Tư pháp, Hà Nội
.