Có phải trả lại thẻ bảo hiểm y tế khi nghỉ việc?

Có nhiều vấn đề cần được quan tâm khi người lao động nghỉ việc, trong đó, không thể bỏ qua sổ bảo hiểm xã hội và thẻ bảo hiểm y tế. Liệu đồng thời với việc nhận sổ BHXH thì người lao động phải trả lại thẻ BHYT cho doanh nghiệp?

3 trường hợp phải trả lại thẻ BHYT

Theo quy định tại Điều 20 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi, bổ sung 2014, người tham gia BHYT sẽ phải trả lại thẻ BHYT trong 03 trường hợp:
– Gian lận trong việc cấp thẻ BHYT;
– Người có tên trong thẻ BHYT không tiếp tục tham gia BHYT;
– Cấp trùng thẻ BHYT.
Ngoài ra, trong trường hợp người đi khám, chữa bệnh sử dụng thẻ BHYT của người khác thì thẻ đó sẽ bị tạm giữ cho đến khi chủ thẻ đến nhận lại và nộp phạt theo quy định.
Căn cứ quy định nêu trên, khi nghỉ việc, người lao động có trách nhiệm trả lại thẻ BHYT cho doanh nghiệp, bởi lúc này, người lao động sẽ không tiếp tục tham gia BHYT tại đơn vị nơi mình làm việc.

Cố tình không trả, thẻ BHYT vẫn được sử dụng?

Nhiều người nghĩ rằng, giữ lại thẻ BHYT để khi khám, chữa bệnh được thanh toán chi phí như thường lệ do vẫn trong thời hạn sử dụng ghi trên thẻ. Tuy nhiên, đây lại là quan niệm hoàn toàn sai.
Bởi theo Điều 47 Quyết định 595/QĐ-BHXH, việc thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT được thực hiện như sau:
– Thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT đối với người tham gia BHYT đang đóng BHYT và thẻ BHYT còn giá trị sử dụng.
– Không thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT đối với người tham gia đã báo giảm đóng BHYT nhưng tại thời điểm khám, chữa bệnh thẻ BHYT vẫn còn giá trị sử dụng.
Do đó, trong trường hợp người lao động nghỉ việc, doanh nghiệp sẽ lập danh sách báo giảm lao động gửi cơ quan bảo hiểm xã hội ngay trong tháng (tính đến ngày cuối cùng của tháng). Thẻ BHYT chỉ có giá trị sử dụng đến hết tháng doanh nghiệp báo giảm, còn sau đó, dù cầm thẻ BHYT trên tay nhưng người lao động vẫn không được thanh toán chi phí khi khám, chữa bệnh.
Ví dụ: Người lao động nghỉ việc vào ngày 20/8/2019, doanh nghiệp lập báo cáo giảm người tham gia BHYT vào ngày cuối cùng của tháng là 31/8/2019 thì thẻ BHYT cũng chỉ có giá trị sử dụng đến hết tháng 8/2019.
Để tiếp tục được hưởng các quyền lợi BHYT, người lao động nghỉ việc chỉ có cách tham gia BHYT tự nguyện.

Áp dụng biện pháp khiển trách theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015

Biện pháp khiển trách là quy định mới của Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015, có lợi, phù hợp với thực tiễn xét xử về xử lý và miễn trách nhiệm hình sựđối với người phạm tội dưới 18 tuổi ở Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình thực hiện có những vướng mắc cần tháo gỡ.
Do đây là biện pháp mới, lần đầu tiên được quy định trong luật nên trong quá trình triển khai thực hiện cần có những hướng dẫn cụ thể để đảm bảo việc áp dụng biện pháp này được hiệu quả, từ đó góp phần làm giảm số vụ việc người dưới 18 tuổi phạm tội, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật của người phạm tội, nguy cơ tái phạm thấp…

1. Quy định của Bộ luật Hình sự 2015 về áp dụng biện pháp khiển trách

Điều kiện áp dụng biện pháp khiển trách đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Kế thừa nguyên tắc nhân đạo của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999, BLHS 2015 đã có những sửa đổi quan trọng trong chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Trong đó, BLHS 2015 đã sửa đổi theo hướng cụ thể hơn BLHS năm 1999 và khẳng định nguyên tắc: Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất cho họ và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. BLHS 2015 quy định việc truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.
Theo đó, trường hợp áp dụng biện pháp khiển trách đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án có quyền quyết định áp dụng biện pháp khiển trách, khi người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 93 BLHS 2015, nhằm mục đích để người dưới 18 tuổi phạm tội sửa chữa sai lầm, giúp đỡ họ phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, không phải tất cả người dưới 18 tuổi phạm tội đều được áp dụng biện pháp khiển trách, mà họ chỉ được áp dụng biện pháp khiển trách khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 93 BLHS 2015, như sau:

1. Khiển trách được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây nhằm giúp họ nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả gây ra đối với cộng đồng, xã hội và nghĩa vụ của họ:
a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của Bộ luật này;
b) Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.
2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khiển trách. Việc khiển trách đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải có sự chứng kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người dưới 18 tuổi.

Để biện pháp khiển trách được thực hiện nghiêm túc và hiệu quả thì tại khoản 3 Điều 93 BLHS 2015 quy định người bị áp dụng biện pháp khiển trách phải thực hiện các nghĩa vụ như sau:

a) Tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc;
b) Trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu;
c) Tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp.

Tùy từng trường hợp cụ thể, cơ quan có thẩm quyền ấn định thời gian thực hiện các nghĩa vụ quy định tại điểm b và điểm c khoản 3 Điều này từ 03 tháng đến 01 năm.

Trình tự, thủ tục thực hiện biện pháp khiển trách

Về trình tự, thủ tục thực hiện biện pháp khiển trách được quy định tại Điều 427 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 như sau:

1. Khi miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi phạm tội mà xét thấy có đủ điều kiện áp dụng biện pháp khiển trách theo quy định của Bộ luật hình sự thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng biện pháp khiển trách đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong vụ án do cơ quan mình thụ lý, giải quyết.
2. Quyết định áp dụng biện pháp khiển trách có các nội dung chính: a) Số, ngày, tháng, năm; địa điểm ra quyết định;b) Họ tên, chức vụ, chữ ký của người có thẩm quyền ra quyết định và đóng dấu của cơ quan ra quyết định;c) Lý do, căn cứ ra quyết định;d) Họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của bị can, bị cáo;đ) Tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự đã áp dụng;e) Thời gian thực hiện nghĩa vụ của người bị khiển trách.
3. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải giao ngay quyết định áp dụng biện pháp khiển trách cho người bị khiển trách, cha mẹ hoặc người đại diện của họ.

2. Một số khó khăn, vướng mắc và kiến nghị khi áp dụng biện pháp khiển trách

So với BLHS năm 1999, thì thủ tục áp dụng biện pháp khiển trách là một quy định mới của pháp luật hình sự, quy định này phù hợp với các Điều ước quốc tế, cũng như thể hiện sự tiến bộ, nhân văn, mang tính giáo dục trong nguyên tắc xử lý TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Quá trình thực hiện biện pháp khiển trách đã nảy sinh một số khó khăn, vướng mắc cần được hướng dẫn cụ thể trong quá trình thi hành, cụ thể như sau:
Thứ nhất: Khi xét thấy người dưới 18 tuổi phạm tội có đủ điều kiện để áp dụng biện pháp khiển trách, thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khiển trách. Việc khiển trách đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải có sự chứng kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người dưới 18 tuổi.
Vấn đề đặt ra, nếu việc khiển trách chỉ diễn ra trước sự chứng kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người dưới 18 tuổi phạm tội, thì việc khiển trách này chỉ mang tính hình thức, làm cho bản thân người bị khiển trách khó cảm thấy ăn năn, hối lỗi về hành vi phạm tội của mình. Mặt khác, nếu chỉ có sự chứng kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người dưới 18 tuổi phạm tội mà không thông báo hoặc không có sự chứng kiến của chính quyền địa phương nơi bị can, bị cáo cư trú, làm việc sẽ không phù hợp với thực tế áp dụng biện pháp khiển trách.
Bởi lẽ, trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng không thông báo cho chính quyền địa phương biết việc người dưới 18 tuổi phạm tội bị áp dụng biện pháp khiển trách hoặc người thân của người bị áp dụng biện pháp khiển trách hoặc người bị áp dụng biện pháp khiển trách cố tình không thông báo cho chính quyền địa phương biết việc người dưới 18 tuổi phạm tội đang bị áp dụng biện pháp khiển trách, thì chính quyền địa phương sẽ không biết, qua đó, không theo dõi, giám sát được người đó để yêu cầu họ thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại khoản 3 Điều 93 BLHS 2015 như: Trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp. Từ đó, việc áp dụng biện pháp khiển trách rất hình thức và không hiệu quả cho người dưới 18 tuổi phạm tội cũng như không đảm bảo trong việc chính quyền địa phương theo dõi, nhận xét, đánh giá sự tiến bộ của người bị áp dụng biện pháp khiển trách để giúp họ nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, giảm nguy cơ tái phạm.
Vì vậy, theo chúng tôi, đối với trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khiển trách, việc khiển trách đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải có sự chứng kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người dưới 18 tuổi cùng với đại diện của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú, làm việc. Trường hợp đại diện chính quyền địa phương vắng mặt thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tiến hành làm việc và thông báo kết quả cho chính quyền địa phương được biết.
Thứ hai: Đối với nghĩa vụ mà người bị áp dụng biện pháp khiển trách phải thực hiện tại khoản 3 Điều 93 BLHS 2015 như: Trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nào có nhiệm vụ theo dõi, giám sát cũng như thực hiện việc đánh giá, nhận xét kết quả thực hiện các nghĩa vụ của người đó? Đây là vấn đề mà BLHS chưa quy định rõ, cần có một quy định hướng dẫn cụ thể về cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giám sát, giáo dục và đánh giá kết quả chấp hành pháp luật của người bị áp dụng biện pháp khiển trách, nhằm đảm bảo cho người đó có trách nhiệm chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ. Cụ thể, trong trường hợp này, BLHS 2015 nên quy định giao cho cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị áp dụng biện pháp khiển trách cư trú, làm việc có trách nhiệm giám sát, giáo dục, đánh giá trong thời gian người đó thực hiện biện pháp khiển trách.
Thứ ba: Tại khoản 3 Điều 427 BLTTHS 2015 quy định về việc giao cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có trách nhiệm phải giao ngay quyết định áp dụng biện pháp khiển trách cho người bị khiển trách, cha mẹ hoặc người đại diện của họ mà Luật không quy định rằng quyết định phải được giao cho chính quyền địa phương nơi người bị áp dụng biện pháp khiển trách cư trú, làm việc. Bởi lẽ, chính quyền địa phương là nơi theo dõi, giám sát cũng như yêu cầu người đó tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 93 BLHS 2015.
Thứ tư: Ngoài ra, tại điểm c khoản 3 Điều 93 BLHS 2015 còn quy định người bị khiển trách phải thực hiện nghĩa vụ “tham gia lao động với hình thức phù hợp”. Như vậy, hiểu thế nào là lao động với hình thức phù hợp hay tiêu chí nào để xác định tính phù hợp của hình thức thức lao động; các hình thức lao động đó là gì; cơ quan, cá nhân nào có thẩm quyền giám sát quá trình lao động này của người bị khiển trách…? Vì vậy, theo quan điểm của tác giả, đây cũng là vấn đề cần sớm được hướng dẫn cụ thể./.

Kỹ năng kiểm sát trực tiếp hoạt động hỏi cung bị can

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự hỏi cung bị can là một hoạt động mang tính bắt buộc, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án hình sự nhằm đảm bảo việc truy cứu trách nhiệmhình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tộiđược tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật.

Hỏi cung bị can là gì?

Hỏi cung bị can là hoạt động của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra vụ án hình sự nhằm thu thập chứng cứ về nội dung vụ án cũng như những tin tức, tài liệu khác mà bị can biết, có ý nghĩa làm rõ nội dung vụ án, hay nói cách khác: hỏi cung bị can là một biện pháp điều tra do Điều tra viên tiến hành, thông qua việc hỏi cung bị can để củng cố và chứng minh hành vi phạm tội của bị can cũng như các thông tin khác góp phần làm sáng tỏ nội dung vụ án.

Hỏi cung bị can theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự

Bộ luật Tố tụng hình sự quy định cụ thể về hoạt động hỏi cung bị can của Điều tra viên cũng như Kiểm sát viên trong quá trình điều tra vụ án. Tại Điều 183 Bộ luật Tố tụng hiện hành quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hỏi cung bị can. Quy định này đặt ra trách nhiệm với Kiểm sát viên phải theo sát hoạt động điều tra, nắm chắc diễn biến, tiến độ điều tra của vụ án; khi thuộc các trường hợp luật định phải tiến hành hỏi cung bị can (khác với Bộ luật Tố tụng hình sựnăm 2013 chỉ quy định KSV có thể hỏi cung) để cùng Cơ quan điều tra giải quyết đúng đắn vụ án, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của bị can. Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định:

1. Việc hỏi cung bị can do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can. Có thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó. Trước khi hỏi cung bị can, Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung. Khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên tham gia việc hỏi cung bị can.
2. Trước khi tiến hành hỏi cung lần đầu, Điều tra viên phải giải thích cho bị can biết rõ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 60 của Bộ luật này. Việc này phải ghi vào biên bản.Trường hợp vụ án có nhiều bị can thì hỏi riêng từng người và không để họ tiếp xúc với nhau. Có thể cho bị can viết bản tự khai của mình.
3. Không hỏi cung bị can vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.
4. Kiểm sát viên hỏi cung bị can trong trường hợp bị can kêu oan, khiếu nại hoạt động điều tra hoặc có căn cứxác định việc điều tra vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp khác khi xét thấy cần thiết. Việc Kiểm sát viên hỏi cung bị can được tiến hành theo quy định tại Điều này.
5. Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên bức cung, dùng nhục hình đối với bị can thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.
6. Việc hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh. Việc hỏi cung bị can tại địa điểm khác được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh theo yêu cầu của bị can hoặc của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Như vậy: Kiểm sát việc hỏi cung bị can hiện nay có hai trường hợp là gián tiếp (thông qua các biên bản hỏi cung bị can) và kiểm sát trực tiếp việc hỏi cung của Điều tra viên. Trong bài viết này, người viết lưu ý một số kỹ năng khi trực tiếp kiểm sát trực tiếp việc hỏi cung bị can.

Kỹ năng kiểm sát trực tiếp hoạt động hỏi cung bị can

Trước khi tiến hành hoạt động kiểm sát trực tiếp việc hỏi cung bị can, Kiểm sát viên phải chủ động nghiên cứu hồ sơ, tài liệu trong vụ án, có những nhận xét, đánh giá sơ bộ về những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, ý nghĩa của các tài liệu trong việc chứng minh tội phạm? xác định những vấn đề chưa được làm rõ, những vấn đề còn mâu thuẫn… Nắm rõ nội dung diễn biến của vụ án, loại và đặc điểm vật chứng đã thu giữ; thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội và phương thức che giấu để tránh bị phát hiện của bị can. Nắm rõ những thông tin về lai lịch của bị can, về những mối quan hệ gia đình, quan hệ xã hội thông thường, quan hệ với các đối tượng khác trong đường dây tội phạm có gì đặc biệt, có ý nghĩa trong đấu tranh với các bị can khác trong cùng vụ án; xác định vai trò của bị can trong vụ án.
Kiểm sát viên chủ động trao đổi với Điều tra viên về kế hoạch tiến hành hỏi cung; nội dung hỏi cung; phương pháp hỏi cung; Kiểm sát viên phải luôn thận trọng trong cả trường hợp bị can nhận tội, cũng như các trường hợp bị can chối tội, không khai báo hành vi phạm tội cũng như việc bị can kêu oan.
Khi bị can nhận tội thì những lời khai của bị can có phù hợp với lời khai của những người làm chứngvà vật chứng đã thu giữ trong vụ án không? Đối với bị can chối tội thì cũng phải xác định nguyên nhân của việc không khai báo các chứng cứ khác để chứng minh nhằm buộc tội bị can có đủ căn cứ không? Có đảm bảo tính khách quan không đối với các chứng cứ sẽ được đưa ra sử dụng để đấu tranh, buộc tội bị can. Trong các trường hợp bị can là người không biết chữ, người nước ngoài, người dân tộc ít người không biết tiếng Việt, hoặc bị can có nhược điểm về thể chất thì cần phải mời người phiên dịch, Trợ giúp pháp lý… tham gia buổi hỏi cung.
Khi tham gia kiểm sát việc hỏi cung bị can, Kiểm sát viên cần phải lưu ý quan sát không gian nơi tiến hành hỏi cung, tùy thuộc vào điều kiện thực tế Kiểm sát viên sẽ lựa chọn vị trí ngồi cho phù hợp làm sao có thể quan sát bao quát được toàn bộ hoạt động hỏi cung. Kiểm sát việc Điều tra viên phải giải thích về quyền và nghĩa vụ cho bị can, thông báo cho bị can biết mình đang bị khởi tố điều tra về tội danh gì. Việc giải thích đầy đủ sẽ giúp cho bị can nắm rõ về những quyền của họ được hưởng và nhiệm vụ của họ sẽ phải thực hiện chấp hành, nếu bị can chưa rõ về vấn đề gì thì cần phải giải thích ngay cho bị can hiểu, đối với những đề nghị của bị can thì vấn đề nào hợp lý, không trái quy định của pháp luật thì cần chấp nhận, còn những vấn đề không thể thực hiện vì trái quy định của pháp luật hoặc chưa thể thực hiện ngay được thì cũng phải giải thích cặn kẽ cho bị can biết. Kiểm sát việc Điều tra viên có kiểm tra về tình trạng sức khỏe của bị can, thời điểm hiện tại có đau ốm, bệnh tật gì không? Có đủ sức khỏe, tỉnh táo, minh mẫn để làm việc không?
Kiểm sát việc Điều tra viên giải quyết các đề nghị của bị can như thế nào? Có phù hợp và đúng với các quy định của pháp luật hay không? Khi Điều tra viên hỏi Kiểm sát viên cần có sự quan sát phương pháp hỏi cung mà Điều tra viên đang sử dụng; cách đặt câu hỏi của Điều tra viên có ngắn, rõ ràng không? trong câu hỏi có ẩn ý hoặc có sự ám chỉ ra hiệu về một vấn đề gì không? Nội dung mà Điều tra viên hỏi có làm rõ được những vấn đề cần chứng minh trong vụ án không? nhất là các yếu tố cấu thành tội phạm cơ bản, đó là phải trả lời được các vấn đề sau: Bị can có thực hiện hành vi phạm tội không? nếu có thì thực hiện vào thời gian nào? địa điểm thực hiện hành vi phạm tội ở đâu? đối tượng phạm tội là gì? đặc điểm hình thức của vật chứng ra sao? phương thức thực hiện hành vi phạm tội, thủ đoạn che giấu như thế nào? động cơ, mục đích của bị can khi thực hiện hành vi phạm tội? bị can thực hiện hành vi phạm tội cùng với ai? đó là những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự.
Thông qua hoạt động kiểm sát trực tiếp việc hỏi cung bị can chặt chẽ sẽ góp phần quan trọng trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự được khách quan, toàn diện, chặt chẽ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; góp phần hạn chế những thiếu sót vi phạm của Điều tra viên trong quá tình điều tra vụ án hình sự.
Nguồn: Tạp chí Kiểm sát 

Khiếu kiện đòi lại quyền sử dụng đất của công dân, thực tiễn và kiến nghị

Tranh chấp về quyền sử dụng đất là dạng tranh chấp phức tạp và phổ biến nhất ở nước ta hiện nay, có những vụ khiếu kiện kéo dài vài năm, thậm chí đến vài chục năm, người dân đã thực hiện khiếu kiện từ cấp thấp nhất ở địa phương đến cấp cao nhất là trung ương nhưng quyền lợi vấn chưa được giải quyết.
Các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở rất đa dạng, gồm: (1) Tranh chấp xác định ai là người có quyền sử dụng đất hoặc tranh chấp về việc xác định ai là người có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất; (2) Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất hoặc thừa kế về nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất; (3) Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất hoặc chia tài sản chung là nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở; (4) Tranh chấp liên quan đến các giao dịch về quyền sử dụng đất hoặc các giao dịch về nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất (chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển đổi quyền sử dụng đất, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất…).

1. Thực tiễn khiếu kiện đòi lại quyền sử dụng đất của công dân

Thực tế, Tòa án các cấp đã thụ lý và giải quyết nhiều vụ tranh chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở mà nguồn gốc đất tranh chấp là của chủ đất cũ (do ông cha để lại, do mua bán, được tặng cho, được thừa kế hoặc khai hoang, phục hóa…mà có). Nhưng vì chiến tranh phải sơ tán đi nơi khác hoặc do làm ăn gặp khó khăn, chủ đất cũ bỏ đi nơi khác sinh sống… sau đó chủ đất không về để trực tiếp quản lý, sử dụng nữa, nên người khác đã tự ý đến mảnh đất đó xây dựng nhà ở và sử dụng canh tác liên tục, lâu dài. Người đang sử dụng đất đã sử dụng đất này từ trước hoặc từ khi Luật Đất đainăm 1987 có hiệu lực, một thời gian dài chủ đất không có ý kiến gì, nay mới khởi kiện đòi lại đất.
Đối với các loại việc trên, Tòa án cần phải xác định về đối tượng tranh chấp đó là quyền sử dụng đất và đây là một loại tài sản đặc biệt. Trước đây, khi chưa có Hiến pháp năm 1992 và Luật Đất đai năm 1993 thì đã có giai đoạn Nhà nước cấm công dân mua, bán, cho thuê, lấn, chiếm đất, phát canh thu tô dưới mọi hình thức. Do đó, các giao dịch như mua, bán, cho thuê, cầm cố đất ở thời điểm này về nguyên tắc đều bị coi là vô hiệu (không có giá trị pháp lý). Trong giai đoạn trước và sau năm 1980, nhà nước đã ban hành nhiều văn bản ghi rõ: “người có đất không sử dụng đất trong 06 tháng liền mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất đó cho phép thì nhà nước có thể thu hồi một phần hoặc toàn bộ đất”. Khoản 5 Điều 14 Luật Đất đai năm 1987 cũng quy định: “Nhà nước thu hồi toàn bộ hoặc một phần đất đã giao sử dụng trong các trường hợp sau: Người sử dụng đất không sử dụng đất được giao trong 06 tháng liền mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất đó cho phép. Điều đó đã thể hiện quan điểm, chủ trương của nhà nước đối với các trường hợp người có đất nhưng không sử dụng đất. Vì vậy, nếu đất tranh chấp đã được một bên sử dụng trước hoặc trong thời gian Luật Đất đai năm 1987 có hiệu lực và một thời gian dài không có tranh chấp, nay chủ cũ đòi lại đất thì phải xem xét kỹ đến quyền lợi của người của người dân trực tiếp quản lý, canh tác, sử dụng, tôn tạo đất liên tục trong một thời gian dài và đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính, các chính sách pháp luật về đất đai nhằm ổn định đời sống, sản xuất cho người dân.
Trường hợp chủ đất cũ và người sử dụng đất tranh chấp với nhau thì có các tình huống xảy ra như:
Một là, trong trường hợp chủ cũ không kê khai, không đứng tên trong sổ đăng ký ruộng đất hoặc sổ địa chính, không thực hiện quyền quản lý, sử dụng của chủ sử dụng đất; còn người đang sử dụng đất đã kê khai, đăng ký và được đứng tên trong sổ đăng ký ruộng đất hoặc sổ địa chính, đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) theo đúng trình tự, thủ tục về việc kê khai, đăng ký và việc cấp GCNQSDĐ là có căn cứ pháp luật, thực hiện đúng quy định của Luật Đất đai các năm: 1987, 1993, 2003 và 2013 và các văn bản pháp luật khác có liên quan thì Tòa án cần bác yêu cầu đòi đất của chủ cũ và công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho người đã được cấp GCNQSDĐ.
Hai là, đối với trường hợp cả hai bên (chủ đất cũ và người sử dụng đất) đều được cấp GCNQSDĐ theo Luật Đất đai năm 1987 hoặc Luật Đất đai năm 1993 (cấp trùng nhau) nay các bên tranh chấp quyền sử dụng đất thì Tòa án cần xác minh thời gian sử dụng đất của các bên, thu thập các tài liệu, chứng cứ về việc thực hiện thủ tục kê khai cấp GCNQSDĐ, căn cứ pháp lý để được cấp GCNQSDĐ của các bên và cần xác minh ý kiến của cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ để làm rõ việc CGCNQSDĐ có đúng pháp luật không. Trên cơ sở đó, Tòa án mới có căn cứ công nhận quyền sử dụng đất cho bên được cấp GCNQSDĐ hợp pháp. Thực tế, khi giải quyết tranh chấp, nhiều Tòa án chỉ hỏi ý kiến cán bộđịa chính xã hoặc cán bộ Phòng Tài nguyên môi trường để làm căn cứ xét xử là chưa đầy đủ, chưa có căn cứ vững chắc mà phải đi xác minh thực tế tại nơi có đất tranh chấp thông qua những người cao tuổi ở địa phương đó xác nhận…
Ba là, đối với trường hợp chưa bên nào được cấp GCNQSDĐ, nhưng quá trình sử dụng, người sử dụng đất có kê khai, được đứng tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính và họ đang quản lý, sử dụng đất liên tục từ khi có Luật Đất đai năm 1987 cho đến nay, trong khi đó chủ đất cũ không kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất, sau ngày 01/01/2014, một trong các bên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án phải thụ lý giải quyết. Tòa án cần xác minh thời gian sử dụng đất của các bên, thu thập các tài liệu, chứng cứ về việc người đang sử dụng đất thực tế đã sử dụng trong thời gian bao lâu, chủ cũ đã từ bỏ quyền sử dụng đất của mình trong hoàn cảnh nào và từ thời gian nào. Trên cơ sở đó, Tòa án xem có căn cứ xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu được quy định trong Bộ luật Dân sự hay không, trên cơ sở đó Tòa án làm căn cứ quyết định quyền sử dụng đất thuộc về người đang sử dụng đất trên thực tế.
Thực tế có những vụ án, tính chất của quan hệ pháp luật tranh chấp có cả các dấu hiệu đã nêu ở trên. Để xác định tranh chấp thuộc diện tranh chấp quyền sử dụng đất nào cần căn cứ vào việc ai kiện ai và khởi kiện về vấn đề gì. Ví dụ:
Tình huống thứ nhất, tranh chấp quyền sử dụng đất do TAND huyện Đ tỉnh Q thụ lý giải quyết tháng 9/2016. Tài sản tranh chấp là mảnh đất có diện tích 600m2, thửa số 01, tờ bản đồ số 54, thuộc quyền sử dụng của ông Đỗ C (chết năm 1987) và bà Trương Thị B (chết năm 1954). Ông C và bà B có một người con duy nhất là ông Đỗ T. Trước năm 1981, gia đình ông Đỗ T cùng cha là ông Đỗ C sinh sống tại diện tích đất trên. Năm 1981, gia đình ông Đỗ T đi kinh tế mới theo chủ trương của Chính phủ tại xã S, huyện L, tỉnh N. Ông Đỗ C ở lại diện tích đất trên. Năm 1982, ông Đỗ C đồng ý cho cháu là anh Đỗ N vào sinh sống và canh tác trên diện tích đất này. Năm 1987, ông Đỗ C qua đời để lại một ngôi nhà 5 gian trên diện tích 600m2 đất. Năm 2013, anh Đỗ N đã kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất mà không được sự đồng ý của ông Đỗ T. Ngày 30/5/2014, anh Đỗ N được Nhà nước cấp GCNQSDĐ. Tháng 4/2016, anh Đỗ N dỡ ngôi nhà cũ mà ông Đỗ C để lại và xây dựng một ngôi nhà kiên cố trên khu đất nói trên. Ông Đỗ T đã khởi kiện anh Đỗ N yêu cầu trả lại diện tích đất nêu trên.
Tình huống trên có cả dấu hiệu tranh chấp về nhà đất mà Nhà nước đã bố trí cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách quản lý đất đai, tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất, tranh chấp về việc cho ở nhờ trên đất, tranh chấp tài sản gắn liền với đất. Song, ở tình huống này, hồ sơ vụ án không có giấy tờ chứng tỏ Nhà nước đã thu hồi đất của ông Đỗ C để bố trí cho anh Đỗ N sử dụng nên đây không phải là tranh chấp về nhà đất mà Nhà nước đã bố trí cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách quản lý đất đai. Vì vậy, ông Đỗ T có quyền khởi kiện đòi lại quyền sử dụng đất của anh Đỗ N xuất phát từ việc ông là người thừa kếduy nhất của ông Đỗ C (theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS năm 2015), nhưng các đương sự không tranh chấp về quyền thừa kế nên không phải là tranh chấp về quyền thừa kế quyền sử dụng đất. Năm 1982, ông Đỗ C có cho anh Đỗ N ở nhờ nhà trên đất nhưng các bên không tranh chấp về quan hệ cho ở nhờ nhà trên đất nên không phải là tranh chấp về quan hệ liên quan đến quyền sử dụng đất. Ông Đỗ T cho rằng, việc Nhà nước cấp GCNQSDĐ cho anh Đỗ N là không đúng nhưng ông không khiếu nại hay khởi kiện UBND đã cấp GCNQSDĐ nên không thuộc thẩm quyền của UBND hay TAND theo thủ tục tố tụng hành chính. Ông Đỗ T cho rằng mình mới là người có quyền sử dụng đất chứ không phải anh Đỗ N. Do đó, đây là tranh chấp về việc ai là người có quyền sử dụng đất.
Tình huống thứ hai, ông Vũ Văn T và bà Bùi Thị Đ kết hôn với nhau có sinh được hai người con gồm bà Vũ Thị Chi (sinh năm 1918) và Vũ Thị Chu (sinh năm 1922), hiện ông T và bà Đ đã chết. Trước khi chết, ông bà có để lại cho chị em bà Chi và bà Chu một căn nhà ba gian cấp bốn nằm trên diện tích 744m2, nguồn gốc đất do ông bà tổ tiên để lại, đất có giấy chứng nhận sỡ hữu ruộng đất do Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cấp vào năm 1954, thuộc thửa đất số 167 và 212 nằm trên bản đồ điạ chính xã G, huyện V, tỉnh N. Trước khi chết, họ có giao cho con gái mình là bà Chúng quản lý và sử dụng toàn bộ diện tích đất và căn nhà cấp bốn trên đất; khi ông T và bà Đ chết thì bà Chu đã thực hiện theo đúng di nguyện mà bố mẹ trước khi chết đã trăn trối.
Gia đình bà Chu đang ở và sử dụng hợp pháp trên mảnh đất và căn nhà do bố mẹ để lại thì một sốhộ gia đình sống liền kề với gia đình nhà bà đã tự ý chiếm đất bất hợp pháp phần diện tích và căn nhà trong tổng diện tích đất 744m2 mà bố mẹ bà để lại. Cụ thể:
1. Đối với ông Vũ Văn B, năm 1987, ông Vũ Văn B là hàng xóm có nhà và đất sát cạnh với nhà bà Chúng đã tự ý lấn chiếm căn nhà 3 gian cấp bốn nằm trên diện tích 200m2, ông B đã sử dụng bất hợp pháp căn nhà của bố mẹ bà Chúng để lại. Năm 1988, ông Vũ Văn B đi khai hoang và làm kinh tế ở thôn Đ, xã S, huyện R, tỉnh N. Thời gian ông B đi khai hoang ở xã S, thuộc huyện G thì bà Chúng đã đòi được nhà, tiếp tục hương khói, thờ cúng tổ tiên. Khoảng 7 năm sau kể từ ngày ông B đi làm kinh tế mới, thì ông B lại quay trở về chiếm lại căn nhà cấp bốn 3 gian trên phần diện tích đất 200m2 mà nhà bà Chu vẫn đang ở và là nơi thờ tự. Khi chiếm lại căn nhà cấp bốn của gia đình bà Chu thì trước đó ông B vẫn cho bà Chu và các con cháu vào nhà thắp hương, giỗ, tết, thờ cũng tổ tiên bình thường. Năm 2006 thì ông B chiếm đoạt hẳn căn nhà cấp bốn, ba gian trên diện tích 200m2 đó và không cho bà Chu và các con cháu vào nhà thắp hương tổ tiên. Năm 2014, ông B tự ý phá dỡ, xê dịch và thay đổi hoàn toàn hiện trạng căn nhà mà không được sự đồng ý của bà Chu cùng toàn thể gia đình.
Ngoài căn nhà cấp bốn, ba gian trên diện tích đất 200m2 mà ông B đã lấn chiếm đó, ông B còn lấn chiếm thêm 48m2 đất và số diện tích 48m2 này, ông B đã tự ý bán cho bà L vào năm 2007 (bà L cũng là hàng xóm và nhà sát cạnh với đất của gia đình nhà bà Chu).
2. Đối với bà Vũ Thị L, năm 2007, bà L tự ý lấn chiếm của gia đình nhà bà Chúng với tổng diện tích 180m2, phần đất ở giữa của toàn bộ diện tích và sử dụng trái phép từ đó đến nay.
3. Đối với ông Nguyễn Văn M, năm 2007 ông M cũng tự ý lấn chiếm 48m2 ở phía đông bắc của mảnh đất 212 và sử dụng bất hợp pháp từ đó đến nay.
4. Đối với ông Vũ Văn D, năm 2007, ông D cũng tự ý lấn chiếm đất của nhà bà Chúng với diện tích 216m2 ở phía bắc thuộc thửa đất 212 và cũng sử dụng hợp pháp đến nay.
5. Đối với ông Vũ Văn Q, năm 2007, ông Q tự ý lấn chiếm trái phép đất của nhà bà Chúng với diện tích đất mà ông ấy đã lấn chiếm là 72m2, sau đó ông Q còn tự ý bán toàn bộ 72m2 đất lấn chiếm đó cho gia đình ông Vũ Văn V là người cùng xóm.
Bà Chu yêu cầu Tòa án giải quyết buộc các ông bà trên đây trả lại diện tích đã lấn chiếm. Tình huống này là kiện yêu cầu trả lại quyền sử dụng đất hợp pháp do bị lấn chiếm.

2. Đề xuất hướng giải quyết

Khiếu kiện đòi lại quyền sử dụng đất hợp pháp của công dân là một khái niệm rất rộng, việc đòi lại quyền sử dụng đất của chủ sử dụng đất hợp pháp là do lỗi của bên bị kiện có thể là do lấn chiếm, cho mượn, cho ở nhờ. Vì vậy hướng giải quyết như sau:
Thứ nhất, đối với tranh chấp quyền sử dụng đất do bị lấn chiếm, chủ sử dụng đất hợp pháp nên thỏa thuận với người có hành vi lấn chiếm để họ tự nguyện trả lại phần diện tích đã lấn chiếm. Trường hợp, người lấn chiếm đất cố tình không trả lại phần diện tích mà mình đã lấn chiếm thì người sử dụng đất hợp pháp gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có mảnh đất tranh chấp đó để hòa giải theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai năm 2013.
Thứ hai, đối với tranh chấp quyền sử dụng đất cho ở nhờ. Việc thỏa thuận cho mượn quyền quyền sử dụng đất là giao dịch dân sự, thuộc loại hợp đồng mượn tài sản được quy định trong BLDS năm 2015. Khi có tranh chấp hợp đồng mượn quyền sử dụng đất, nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết thì TAND áp dụng các quy định của pháp luật dân sự về hợp đồng mượn tài sản để giải quyết. Tuy nhiên thì về nguyên tắc, nếu bên có đất cho mượn chứng minh được mình vẫn thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người có quyền sử dụng đất (kê khai, đứng tên trong sổ địa chính và thực hiện các quyền năng khác) thì Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi lại đất cho mượn của bên có đất cho mượn và bên có đất cho mượn phải thanh toán cho bên mượn chi phí làm tăng giá trị của đất đó, nếu các bên có thỏa thuận.
Thứ ba, đối với tranh chấp quyền sử dụng đất cho ở nhờ. Tương tự như đất cho mượn, người cho ở nhờ cũng chỉ là giúp đỡ bên ở nhờ (không mang tính đền bù trong giao dịch dân sự). Vì vậy, trường hợp chủ sở hữu nhà ở cho người khác ở nhờ trên đất đó nay họ đòi lại đất thì Tòa án buộc người ở nhờ phải trả lại quyền sử dụng đất cho chủ nhà. Trường hợp không thể trả được bằng hiện vật thì phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho chủ nhà.
Trường hợp bên ở nhờ trên đất đã xây dựng thêm nhà ở và các công trình gắn liền với nhà ở trên đất của bên cho ở nhờ, nếu được bên cho ở đồng ý và bên ở nhờ đã sử dụng ổn định trong một thời gian dài thì Tòa án buộc bên ở nhờ trả lại phần diện tích đất có nhà đã ở nhờ, bên ở nhờ được sở hữu phần nhà mà mình đã xây dựng và sử dụng phần đất có nhà và công trình đó đồng thời phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất tương ứng với phần đất được sử dụng theo giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại địa phương vào thời điểm xét xử sơ thẩm.
THs ĐOÀN THỊ NGỌC HẢI ( Sở Tư pháp Ninh Bình) 
Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Bán hàng đa cấp là gì? Cách nhận biết công ty đa cấp lừa đảo

Ngày nay, hoạt động bán hàng đa cấp đã không còn xa lạ trong cuộc sống. Vậy bán hàng đa cấp là gì, có cách nào để nhận biết công ty đa cấp lừa đảo không?

Bán hàng đa cấp là gì?

Bán hàng đa cấp là hoạt động kinh doanh sử dụng mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhiều nhánh. Trong đó, người tham gia được hưởng hoa hồng, tiền thưởng và lợi ích kinh tế khác từ kết quả kinh doanh của mình và của những người khác trong mạng lưới (khoản 1 Điều 2 Nghị định 40/2018/NĐ-CP).
Theo đó, bán hàng đa cấp có những đặc điểm sau đây:
– Bán hàng đa cấp là một hình thức bán lẻ hàng hóa: Công ty bán hàng đa cấp có thể là công ty trực tiếp sản xuất và tiếp thị, bán lẻ sản phẩm hoặc phân phối hàng hóa do các công ty khác sản xuất. Công ty đa cấp bán lẻ hàng hóa thông qua mạng lưới tiếp thị.
– Việc bán hàng được thực hiện bởi mạng lưới người tham gia với nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau: 
Các doanh nghiệp thường bán hàng qua đại lý, cửa hàng hoặc siêu thị… Còn trong hoạt động bán hàng đa cấp, không có các đại lý, cửa hàng, siêu thị mà hàng hóa được các nhà phân phối trực tiếp sử dụng hoặc giới thiệu và bán cho người tiêu dùng.
– Người tham gia được hưởng hoa hồng, tiền thưởng từ kết quả bán hàng của mình và của người khác trong mạng lưới do mình tổ chức:
Người tham gia bán hàng đa cấp được hưởng thù lao từ 2 nguồn:
– Hoa hồng trực tiếp được tính trên doanh số bán hàng;
– Hoa hồng gián tiếp là khoản tiền thưởng khi xây dựng mạng lưới tiêu thụ của người tham gia bán hàng đa cấp.
Như vậy, người bán hàng đa cấp sẽ giúp doanh nghiệp bán hàng và được trả hoa hồng chứ không phải là người tham gia đầu tư để hưởng lợi nhuận.

Cách nhận biết công ty đa cấp không đáng tin cậy

– Người tham gia phải đặt cọc, mua hàng hoặc đóng tiền: Khi được mời tham gia một doanh nghiệp bán hàng đa cấp, lưu ý nếu phải bỏ ra một khoản tiền để đặt cọc, mua hàng thì cần phải cẩn trọng.
Việc tiêu dùng hoặc bán hàng hóa của doanh nghiệp là tùy thuộc nhu cầu, khả năng của bản thân người tham gia, công ty không được yêu cầu người tham gia phải mua một số lượng hàng hóa nhất định để được ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp.
Nhiều công ty bán hàng đa cấp bất chính tồn tại nhờ số tiền những người mới gia nhập bỏ ra mua hàng. Khi không tuyển thêm được người hoặc khi người được tuyển không mua hàng, công ty sẽ rất khó để tồn tại.
– Chỉ tập trung tìm kiếm người tham gia vào hệ thống: Công ty cho người tham gia bán hàng đa cấp nhận “hoa hồng” từ việc giới thiệu người khác tham gia vào hệ thống mà không phải từ việc mua, bán hàng hóa của người được giới thiệu đó.
Một công ty bán hàng đa cấp chân chính, việc tuyển dụng sẽ không mang lại lợi ích nếu những người được tuyển dụng không bán hàng. Bởi vì chỉ có bán hàng mới giúp hàng hóa được tiêu thụ, mang về doanh thu cho doanh nghiệp, và từ đó nhà phân phối được trả hoa hồng.
– Hứa hẹn những khoản lợi nhuận hấp dẫn: Bán hàng đa cấp là một hình thức bán hàng, phân phối hàng hóa, không phải là một hình thức đầu tư, do đó phải cân nhắc khi nghe những lời hứa hẹn hấp dẫn về lợi nhuận.
Người tham gia chỉ có thu nhập khi bán được hàng hóa và những người trong cùng hệ thống bán được hàng hóa.
– Không cho trả hàng trong thời hạn 30 ngày: Theo khoản 1 Điều 47 Nghị định 40, người tham gia bán hàng đa cấp có quyền trả lại hàng hóa đã mua từ công ty đa cấp trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận hàng.
Nếu công ty không cho phép người tham gia bán hàng đa cấp trả lại hàng hóa đã mua thì cần xem xét cẩn trọng.
– Không có giấy phép bán hàng đa cấp
Truy cập website của Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng: http://www.vca.gov.vn/DNBHDC.aspx?CateID=424 để kiểm tra.
Trên đây chỉ là một số tiêu chí để xác định doanh nghiệp đa cấp có hoạt động bất chính không, do hiện nay có quá nhiều biến tướng của loại hình kinh doanh này nên người dự định tham gia cần phải xem xét, đánh giá toàn diện các yếu tố liên quan đến hoạt động của công ty đa cấp đó.

Nguồn: Luatvietnam.vn

4 điều cần biết về công đoàn cơ sở tại các doanh nghiệp

Ai cũng biết, công đoàn cơ sở là tổ chức gần gũi nhất, tham gia đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người lao động. Tuy nhiên, thực tế, không phải ai cũng hiểu rõ về tổ chức này.

Có bắt buộc doanh nghiệp thành lập công đoàn?

Theo Điều 7 Luật Công đoàn 2012, hệ thống tổ chức công đoàn hiện nay gồm có Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và công đoàn các cấp. Trong đó, công đoàn cơ sở là cấp được tổ chức trong các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị có sử dụng lao động.
Ngoài ra, Điều 6 Luật này nêu rõ, công đoàn được thành lập trên cơ sở tự nguyện, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
Chính vì vậy, việc doanh nghiệp có thành lập công đoàn hay không hoàn toàn xuất phát từ sự tự nguyện của tập thể lao động mà không phải là nghĩa vụ của doanh nghiệp.
Thực tế, trong mỗi doanh nghiệp, việc có một tổ chức đại diện cho tập thể lao động thực sự là cần thiết, bởi không phải lúc nào cũng có thể lấy được ý kiến của toàn bộ người lao động trong doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sử dụng nhiều nhân công.
Đồng thời, tổ chức này sẽ thay mặt cho người lao động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng trước người sử dụng lao động.

Điều kiện thành lập công đoàn cơ sở

Theo Hướng dẫn 238/HD-TLĐ, các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị có sử dụng lao động được thành lập công đoàn cơ sở khi có đủ 02 điều kiện:
– Có ít nhất 05 đoàn viên công đoàn hoặc 05 người lao động có đơn tự nguyện gia nhập Công đoàn Việt Nam;
– Có tư cách pháp nhân.
Bên cạnh đó, trong một số trường hợp, các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị được thành lập công đoàn cơ sở ghép khi:
– Các cơ quan, đơn vị có đủ tư cách pháp nhân nhưng có dưới 20 đoàn viên hoặc dưới 20 người lao động tự nguyện gia nhập công đoàn;
– Các cơ quan, đơn vị có trên 20 đoàn viên hoặc trên 20 người lao động tự nguyện gia nhập công đoàn nhưng không có tư cách pháp nhân hoặc, tư cách pháp nhân không đầy đủ.
– Các doanh nghiệp có đủ điều kiện về đoàn viên, tư cách pháp nhân nhưng có chung chủ sở hữu hoặc cùng ngành nghề, lĩnh vực hoạt động trên địa bàn nếu tự nguyện liên kết thì thành lập công đoàn cơ sở có tổ chức công đoàn cơ sở thành viên.

Mức đóng đoàn phí, kinh phí công đoàn

* Đối với doanh nghiệp
Dù không bắt buộc thành lập công đoàn nhưng hàng tháng, doanh nghiệp vẫn có nghĩa vụ đóng kinh phí công đoàn cùng thời điểm đóng BHXH bắt buộc cho người lao động.
Cụ thể theo Điều 5 Nghị định 191/2013/NĐ-CP, doanh nghiệp phải đóng với mức đóng bằng 2% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH cho người lao động.
Nếu doanh nghiệp chậm đóng, đóng không đúng mức, không đủ số người thuộc diện phải đóng thì doanh nghiệp sẽ bị phạt tiền với mức từ 12% – 15% tổng số tiền phải đóng kinh phí công đoàn tại thời điểm lập biên bản và tối đa không quá 75 triệu đồng.
* Đối với người lao động là đoàn viên
Một trong những nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu của đoàn viên công đoàn là đóng đoàn phí. Theo đó, hàng tháng, đoàn viên đóng đoàn phí bằng 1% tiền lương và tối đa chỉ bằng 10% mức lương cơ sở (hiện tại, mức lương cơ sở là 1,49 triệu đồng/tháng).
Lưu ý, theo Hướng dẫn 238/HD-TLĐ, đoàn viên không đóng đoàn phí liên tục 06 tháng mà không có lý do chính đáng sẽ bị kỷ luật.

Quyền lợi của người lao động khi gia nhập công đoàn

Dù quan hệ lao động được xây dựng trên nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau, tuy nhiên, thực tế, người lao động vẫn được coi là bên yếu thế trong mối quan hệ này.
Do đó, được đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng là quyền lợi thiết thực của người lao động khi gia nhập công đoàn.
Quyền của đoàn viên công đoàn được quy định chi tiết tại Điều 18 Luật Công đoàn 2012 và Nghị định 43/2013/NĐ-CP. Theo đó, đoàn viên công đoàn sẽ được:
– Yêu cầu công đoàn đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng khi bị xâm phạm;
– Được thông tin, thảo luận, đề xuất và biểu quyết công việc của công đoàn; được thông tin về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên quan đến công đoàn, người lao động; quy định của công đoàn;
– Ứng cử, đề cử, bầu cử cơ quan lãnh đạo công đoàn; chất vấn cán bộ lãnh đạo công đoàn; kiến nghị xử lý kỷ luật cán bộ công đoàn có sai phạm;
– Được công đoàn tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý miễn phí pháp luật về lao động, công đoàn;
– Được công đoàn hướng dẫn giúp đỡ tìm việc làm, học nghề; thăm hỏi, giúp đỡ lúc ốm đau hoặc khi gặp hoàn cảnh khó khăn;
– Tham gia hoạt động văn hoá, thể thao, du lịch do công đoàn tổ chức;
– Đề xuất với công đoàn kiến nghị cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp về việc thực hiện chế độ, chính sách, pháp luật đối với người lao động.
Trên đây là 04 điều về công đoàn cơ sở mà mọi người lao động đều cần biết cũng như doanh nghiệp nên biết để duy trì môi trường lao động hài hòa, lợi ích và tiến bộ.

4 trường hợp mua bán đất đai không cần công chứng được cấp Sổ đỏ

Theo quy định, khi mua bán đất đai thì các bên phải công chứng hợp đồng chuyển nhượng. Tuy nhiên, pháp luật còn quy định 04 trường hợp mua bán đất đai không cần công chứng được cấp Sổ đỏ.
Căn cứ:
– Luật Đất đai 2013;
– Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đất đai 2013;
– Nghị định 01/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các Nghị định hướng dẫn Luật Đất đai;
– Bộ luật Dân sự 2015.

Hợp đồng mua bán đất đai bắt buộc phải công chứng?

Điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 quy định: “Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này”.
Như vậy, theo Luật Đất đai 2013 thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được công chứng. Tuy nhiên vẫn có 04 trường hợp ngoại lệ, mà theo đó các bên chuyển nhượng không cần hợp đồng có công chứng hoặc chứng thực (giấy viết tay hoặc hợp đồng đánh máy nhưng không công chứng hoặc chứng thực) mà vẫn được cấp Sổ đỏ, cụ thể:
Trường hợp 1: Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013
Theo đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên.
Trường hợp 2, 3: Theo Nghị định 43/2014/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 01/2017/NĐ-CP)
Theo khoản 1 Điều 82 Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đất đai (sửa đổi bởi khoản 54 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP) có 02 trường hợp người dân mua bán đất bằng giấy viết tay hoặc hợp đồng không công chứng chưa được cấp Sổ đỏ thì được cấp Sổ đỏ theo thủ tục lần đầu mà không phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, cụ thể:
– Sử dụng đất do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trước ngày 01/01/2008;
– Sử dụng đất do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ngày 01/01/2008 đến trước ngày 01/7/2014 mà có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật đất đai và Điều 18 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP;
Xem chi tiết tại: Giấy tờ về quyền sử dụng đất.
Theo đó, các cơ quan tiếp nhận hồ sơ đề nghị làm Sổ đỏ không được yêu cầu người nhận chuyển nhượng phải nộp hợp đồng có công chứng hoặc chứng thực.
Trường hợp 4: Theo Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015
Khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.
Theo đó, chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là một loại giao dịch dân sự cụ thể mà không công chứng thì vẫn được công nhận nếu có đủ điều kiện sau:
– Điều kiện 1: Được xác lập bằng văn bản;
– Điều kiện 2: Một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong hợp đồng (thường sẽ là trả ít nhất 2/3 số tiền chuyển nhượng của thửa đất);
– Điều kiện 3: Bên mua hoặc bên bán hoặc cả hai bên yêu cầu mà Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của hợp đồng đó.
Như vậy, có 04 trường hợp mua bán đất đai không cần công chứng được cấp Sổ đỏ. Tuy nhiên, trường hợp 4 sẽ mất thời gian yêu cầu Tòa án công nhận và khó thực hiện hơn. Để thuận lợi trong việc cấp Sổ đỏ hoặc sang tên Sổ đỏ thì các bên nên lập và công chứng hợp đồng chuyển nhượng theo quy định.

"Người có công với cách mạng” theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015

Bộ luật hình sự 2015 (BLHS 2015) có nhiều quy định mới thể hiện rõ tinh thần nhân đạo hơn với người phạm tội, đặc biệt làviệc cụ thể hóa thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Lần đầu tiên, bộ luật này quy định “người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sỹ, người có công với cách mạng” là một tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng ban đầu đã xuất hiện một số cách hiểu khác nhau về khái niệm “người có công với cách mạng” để làm cơ sở đánh giá là tình tiết giảmnhẹ theo khoản 1 hay khoản 2 Điều 51. Sau đây, tôi muốn trao đổi thêm với các đồng nghiệp về vấn đề này.
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
Trên thực tiễn, vấn đề “người có công với cách mạng” đã đượcghi nhận như một tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 46 BLHS 1999 (tức là nhữngtình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng Tòa án phải ghi rõ trong bản án). Điểm c mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ – HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng thẩm phán –Tòa án nhân dân tối cao (Nghị quyết 01) đã hướng dẫn các tình tiết được coi làtình tiết giảm nhẹ khác như sau:

Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công với nước hoặccó thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, người mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhândân, thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước…
Ngoàira, khi xét xử, tuỳ từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tộimà còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.

Hướng dẫn này chỉ nhắc tới đối tượng là “người có công với nước” hoặc có thànhtích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như đã được liệtkê chứ không nêu chính xác thuật ngữ “ngườicó công với cách mạng”. Tuy nhiên, vẫn có thể hiểu “người có công với cách mạng” cũng là “người có công với nước” hoặc là “tình tiết khác” và ghi rõ trong bản án để được áp dụng khoản 2 Điều46 BLHS 1999.
Khái niệm“người có công với cách mạng” đã chính thức được đề cập đến tại Điều1 Pháp lệnh04/2012/UBTVQH13 ngày 16/7/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều củapháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng (Pháp lệnh 04). Theo quy định này,“người có công với cách mạng” được liệt kê gồm những đối tượng cụ thể:

a)Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;
b)Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩatháng Tám năm 1945;
c)Liệt sĩ;
d)Bà mẹ Việt Nam anh hùng;
đ)Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân;
e)Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến;
g)Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;
h)Bệnh binh;
i)Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học;
k)Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;
l)Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụquốc tế;
m)Người có công giúp đỡ cách mạng.

Ngày 20/06/2017 Quốc hội nước Cộng hòaxã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộluật Hình sự năm 2015, đồng thời Bộ luật Hình sự 2015 sẽ chính thức có hiệu lựcthi hành kể từ ngày 01/01/2018. Vì vậy, việc hiểu chính xác khái niệm “ngườicó công với cách mạng” có ý nghĩa vô cùng quan trọng để cócơ sở áp dụng các chính sách hình sự.
Bởi lẽ, theo quy định của BLHS 1999, tấtcả các trường hợp bị cáo có vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột là ngườicó công với nước, có công với cách mạng hoặc có thành tích xuất sắc… (như đã đượchướng dẫn tại Nghị quyết 01) đều được nhận định là tình tiết giảm nhẹ theo khoản2 Điều 46. Tuy nhiên, hiện nay khi các Nghị quyết 109 ngày 27/11/2015, Nghị quyết 144 ngày 29/6/2016 của Quốc hội đangcòn hiệu lực, thì việc đánh giá bị cáo có vợ, chồng,cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột là “người có công với cách mạng”hay trườnghợp có công với nước, trường hợp khác… lại có giá trị khác hẳn nhau. Nếu xác địnhrõ là “người có công với cách mạng”thì cần phải áp dụng điểm x khoản 1 Điều 51 còn những trường hợp khác (người cócông với nước, anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, người mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân ….) thì chỉ được áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS2015 (tương ứng khoản 2 Điều 46 BLHS 1999). Việc áp dụng khoản 1 hay khoản 2 Điều51 có thể sẽ ảnh hưởng tới việc xem xét áp dụng nhiều chế định liên quan (nhưquyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, xem xét loại hình phạt…).
Vídụ:ngày 28/8/2016, Tòa án nhân dân huyện X xét xử Nguyễn Văn A về tội trộm cắp tàisản theo khoản 2 Điều 138 BLHS. Hồ sơ thể hiện ông Nguyễn Văn B – bố đẻ của A (sinh năm 1963, là quân nhân xuất ngũ) đã được tặng Huân chương chiến công hạng ba.
Trong trường hợp này, hiện nay có 2 quanđiểm về áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với A.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, BLHS 2015chưa hướng dẫn cụ thể như thế nào là “người có công với cách mạng”, trong khi Pháp lệnh 04 chỉ quy định về đối tượng,phạm vi, điều kiện, tiêu chuẩn, các chế độ ưu đãi người có công với cách mạngvà thân nhân của họ; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc thựchiện chính sách, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân của họ.Do đó, không thể hiểu Pháp lệnh 04 là văn bản hướng dẫn để thực hiện pháp luậthình sự. Vì vậy, theo nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo, có thể đánh giá ôngB là người có công với cách mạng và cần phải áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy địnhtại điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 đối với bị cáo A. Vì A có 2 tình tiết giảmnhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 (điểm s- thành khẩn khai báo,điểm x – có cha đẻ là người có công với cách mạng) nên đã được áp dụng Điều 47BLHS 1999 (Điều 54 BLHS 2015) để được xử dưới mức thấp nhất của khoản 2 Điều138 BLHS 1999.
Theo quan điểm thứ hai, tuy BLHS 2015chưa hướng dẫn cụ thể nhưng đến thời điểm hiện tại, Pháp lệnh 04 vẫn đang có hiệulực thi hành, không mâu thuẫn với các quy phạm pháp luật hình sự liên quan. Đâykhông phải là trường hợp không có văn bản nào hướng dẫn luật, không phải dạngquy phạm tùy nghi nên cần thiết vận dụng như quy định tại Pháp lệnh 04 để hiểuchính xác về khái niệm “người có công vớicách mạng”. Nghị định 31/2013/NĐ-CP ngày 9/4/2013 của Chính Phủ đã giảithích rõ về các trường hợp được đánh giá là người có công với cách mạng theoquy định từ điểm a đến điểm m Điều 1 Pháp lệnh 04. Theo các quy định đó, ngườiđược tặng Huân chương chiến công hạng ba không được liệt kê vào diện người cócông với cách mạng.
Hơn nữa, Khoản 1 Điều 36 Nghị định 42/2010/NĐ-CP ngày15/4/2010 của Chính phủ quy định:

1.”Huân chương Chiến công” hạng ba để tặng hoặc truy tặng cho cán bộ, chiến sỹtrong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, công an xã, dân quân tự vệ và trongcác tầng lớp nhân dân đạt các tiêu chuẩn sau:
a)Đã dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến đấu,phục vụ chiến đấu, chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật củaNhà nước, không vi phạm khuyết điểm lớn;
b)Mưu trí, dũng cảm, đạt hiệu quả cao trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu bảo vệchủ quyền, an ninh quốc gia hoặc đấu tranh với tội phạm, góp phần giữ vững anninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao;
c)Thành tích đạt được có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương trong toàn Quânkhu, Quân đoàn, Quân chủng, Binh chủng, Tổng cục, được cấp có thẩm quyền ghi nhận.

Tóm lại, đối chiếu với những quy địnhtrên, có thể hiểu ông B chỉ là người có thành tích xuất sắc khi công tác trongquân đội nhân dân Việt Nam, đã được cấp có thẩm quyền ghi nhận chứ không phảingười có công với cách mạng (hiểu đơn giản ông B là người có thành tích xuất sắctrong lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam). Với trường hợp này, có thể căn cứvào điểm c mục 5 Nghị quyết 01 và khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 để nhận định làtình tiết giảm nhẹ khác. Khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 quy định“Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiếtkhác là tình tiết giảm nhẹ nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.”
Theo quan điểm thứ hai, vì A chỉ được ápdụng 1 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 (thành khẩn khai báo) và 1 tìnhtiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS 1999 (khoản 2 Điều 51 BLHS 2015– có bố đẻ được tặng Huân chương chiến công hạng ba) nên không thể quyết địnhhình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là khoản 2 Điều138 BLHS 1999.
Qua ví dụ trên, có thể thấy, vì cách hiểukhái niệm “người có công với cách mạng” khôngthống nhất nên đã dẫn đến hai cách áp dụng chính sách hình sự khác hẳn nhau đốivới người phạm tội.
Theo ý kiến của cá nhân tôi, trong khichưa có hướng dẫn BLTTHS 2015 về khái niệm “người có công với cách mạng”, nên dẫn chiếu quy định tại Pháp lệnh 04 để hiểu và áp dụng thống nhất tình tiết giảm nhẹ “ngườiphạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sỹ, người có công với cách mạng”theo điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 (như đã phân tích tại phần quan điểm thứ hai). Như vậy, vừa thể hiện rõ sự khoan hồng của Nhà nước, vừa đảm bảo sự thốngnhất, nguyên tắc pháp chế trong các quy định của pháp luật.
Từ góc độ nghiên cứu, tiếp cận một vấn đềmới có thể nảy sinh vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật, tôi muốn đưara cùng trao đổi để có được nhận thức đúng đắn nhất. Rất mong nhận được hướng dẫncũng như ý kiến trao đổi của các đồng nghiệp để tôi có thể hoàn thiện hơn nhận thức của mình.

Vì sao ngày 9/11 được lấy là ngày Pháp luật Việt Nam?

Từ năm 2013, ngày 9/11 được lấy là ngày Pháp luật Việt Nam. Đây cũng là ngày diễn ra nhiều hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm nâng cao ý thức của người dân về việc tuân thủ, chấp hành pháp luật.

Lý do ngày 9/11 là ngày Pháp luật Việt Nam

Nếu như ngày 10/10 được lấy là ngày Luật sư Việt Nam do Sắc lệnh 46/SL về tổ chức đoàn thể luật sư được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành ngày 10/10/1945 thì ngày 09/11 được lấy là ngày Pháp luật Việt Nam bởi đây là ngày Hiến pháp đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội Việt Nam được thông qua (ngày 09/11/1946).
Đến nay, Việt Nam đã có 05 bản Hiến pháp, bản Hiến pháp đang có hiệu lực là Hiến pháp năm 2013. Tuy vậy, ý nghĩa của ngày “khai sinh” ra bản Hiến pháp đầu tiên vẫn rất được trân trọng. Đó cũng chính là lý do Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định ngày 09/11 hàng năm là ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Điều 8 của Luật này cũng nêu rõ, ngày Pháp luật được tổ chức nhằm tôn vinh Hiến pháp, pháp luật, giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật cho mọi người và trong xã hội.

Ngày Pháp luật Việt Nam được tổ chức như thế nào?

Chính phủ đã ban hành riêng một Nghị định quy định về vấn đề này. Cụ thể, tại Nghị định 28/2013/NĐ-CP, Chính phủ quy định ngày Pháp luật có thể được tổ chức dưới các hình thức như: Mít tinh; Hội thảo; Tọa đàm; Thi tìm hiểu pháp luật; Tuyên truyền, phổ biến pháp luật lưu động, triển lãm và các hình thức khác theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp.
Như thông lệ, năm nay, ngày Pháp luật tiếp tục được tổ chức. Chủ đề ngày Pháp luật năm 2018 là “Nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, thực thi, bảo vệ pháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật, góp phần xây dựng nhà nước liêm chính, hành động, kỷ cương, sáng tạo, hiệu quả; xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. Dựa vào chủ đề nêu trên, các cơ quan, bộ, ngành, địa phương tự lựa chọn chủ đề phù hợp.
Theo yêu cầu của Chính phủ, các hoạt động hưởng ứng ngày Pháp luật Việt Nam bao gồm: Vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; Tuyên truyền, phổ biến các quy định của Hiến pháp, pháp luật thiết thực với đời sống của nhân dân; Giáo dục cán bộ, công chức, viên chức và người dân ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật…

Nguồn: LuatVietnam.vn

Bất cập về hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên

Yêu cầu hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên là một yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của vụ ánđược quy định tại khoản 4 Điều 29 BLTTDS năm 2015. Trong phạm vi bài viết, tác giả trình bày và phân tích một số quy định tại khoản 4 nêu trên và một số bất cập trong thực tiễn.
Khoản 4 Điều 29 BLTTDS năm 2015 quy định, những quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên có thể bị hạn chế bao gồm: quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con; quyền quản lý tài sản riêng của con và quyền đại diện theo pháp luậtcho con với thời hạn từ 01 tới 05 năm.

1. Người có quyền yêu cầu hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên

Theo quy định tại Điều 86 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cha, mẹ; người giám hộ của con chưa thành niên; người thân thích của con chưa thành niên; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự có quyền yêu cầu hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
1.1 Về người giám hộ của con chưa thành niên: Người giám hộ của người chưa thành niên bao gồm người giám hộ đương nhiên hoặc người được UBND cấp xã nơi người chưa thành niên cư trú cử hoặc Tòa án chỉ định theo quy định tại các điều 46, 47, 48, 52 và 54 Mục 4 Chương III BLDS năm 2015.
Về người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên:Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên được xác định theo quy định tại Điều 52 BLDS năm 2015. Cụ thể là việc xác định người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên theo thứ tự sau đây: Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ; Trường hợp không có người giám hộ là anh hoặc chị ruột thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ; Trường hợp không có người giám hộ như hai trường hợp trên thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.
Về người giám hộ của người chưa thành niên được UBND cấp xã cử: Việc cử người giám hộ của người chưa thành niên được thực hiện theo quy định tại Điều 54 của BLDS năm 2015. Theo đó, người chưa thành niên không còn cha hoặc mẹ; người chưa thành niên có cha hoặc mẹ nhưng cha hoặc mẹ mất năng lực hành vi dân sự; cha hoặc mẹ có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha hoặc mẹ bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha hoặc mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ mà không có người giám hộ đương nhiên như quy định tại Điều 52 BLDS năm 2015 thì UBND cấp xã nơi cư trú của người chưa thành niên có trách nhiệm cử người giám hộ cho người chưa thành niên. Việc cử người giám hộ cho người chưa thành niên phải được sự đồng ý của người chưa thành niên. Trường hợp cử người giám hộ cho người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người chưa thành niên.
Về người giám hộ của người chưa thành niên được Tòa án chỉ định: Theo quy định tại Điều 54 của BLDS năm 2015 Tòa án chỉ định người giám hộ của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi trong các trường hợp sau: Khi có tranh chấp giữa những người giám hộ quy định tại Điều 52 BLDS năm 2015 về người giám hộ hoặc khi có tranh chấp về việc cử người giám hộ. Đối với người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi trở lên thì khi Tòa án chỉ định người giám hộ cho họ phải xem xét nguyện vọng của họ.
1.2 Về người thân thích của người chưa thành niên
Theo quy định tại khoản 19 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì “Người thân thích là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời.”. Theo đó, người thân thích của người chưa thành niên có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với người chưa thành niên bao gồm: Anh, chị ruột đã thành niên; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại người chưa thành niên; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột của người chưa thành niên.
1.3 Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em
Cơ quan quản lý nhà nước về công tác gia đình được quy định tại Điều 3 Nghị định số 02/2013/NĐ-CP ngày 03/01/2013 của Chính phủ về công tác gia đình như sau: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác gia đình trong phạm vi toàn quốc; Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện quản lý nhà nước về công tác gia đình; Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về công tác gia đình tại địa phương. Ngoài ra, theo quy định tại các khoản 11, khoản 12 Điều 8 của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và theo quy định tại các khoản 5, khoản 6 Điều 7 Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về gia đình, về bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Phòng Lao động – Thương binh và xã hội, Phòng Văn hóa và Thông tin tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về gia đình, về bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Như vậy, cơ quan quản lý nhà nước về công tác gia đình, trẽ em là các cơ quan được quy định tại các Nghị định nêu trên.

2. Những trường hợp cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên

Theo quy định tại khoản 1 Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:
Thứ nhất, bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm danh dự của con được coi là hành vi nghiêm trọng nhất trong các hành vi mà cha, mẹ có thể bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên. Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định rất rõ: “1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thực đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.”.
Nhóm tội phạm xâm phạm tới quyền sống, quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người được quy định tại Chương XIV (từ Điều 123 đến Điều 156) của BLHS năm 2015. Tuy nhiên, cần phải lưu ý là cha mẹ, mẹ bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý với lỗi cố ý mới bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên. Nghĩa vụ của cha mẹ đối với con được quy định tại Điều 69 Luật Hôn nhân và Gia đình. Theo đó, cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội; Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp phápcủa con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Hành vi vi phạm nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên của cha mẹ có thể bao gồm những hành vi sau đây: cha mẹ trốn tránh hoặc đùn đẩy trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc con hoặc thực hiện trách nhiệm một cách hời hợt, không quan tâm đến cuộc sống của con làm ảnh hưởng đến đời sống vật chất hoặc tinh thần của con; không cho con đi học, bắt làm công việc không phù hợp hoặc quá sức lao động của con; đưa con vào môi trường sống không không lành mạnh… Những hành vi vi phạm nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con như vậy nhưng đến mức nghiêm trọng thì cha mẹ cũng có thể bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.
Thứ hai, phá tán tài sản của con.
Theo quy định tại các Điều 75, 76 và 77 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì: Con có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhậpdo lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và thu nhập hợp pháp khác. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của con cũng là tài sản riêng của con; Con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý; Trường hợp cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con; Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bảncủa cha mẹ hoặc người giám hộ… Hành vi phá tán tài sản của con chưa thành niên có thể hiểu là hành vi sử dụng tài sản của con trái với nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng của con, gây hậu quả nghiêm trọng đối với tài sản riêng của con chưa thành niên như: dùng tài sản của con chi dùng cho mục đích cá nhân của cha, mẹ; dùng tài sản của con với mục đích kinh doanh bất hợp pháp; có hành vi phá hoại tài sản của con, có hành vi chiếm đoạt tài sản của con…
Thứ ba, có lối sống đồi trụy.
Người chưa thành niên là đối tượng chưa hoàn thiện về thể chất, tinh thần và nhân cách nên rất dễ bị ảnh hưởng bởi hành vi, lối sống của cha mẹ mình và rất dễ bị lôi kéo, xúi giục thậm chí ép buộc làm những điều sai trái mà bản thân họ chưa nhận thức được. Lối sống đòi trụy của cha mẹ có thể lối sống buông thả, thiếu lành mạnh; nghiện chất kích thích, ham mê cờ bạc, rượu chè, tàng trữ, mua bán văn hóa phẩm bạo lực, đồi trụy… Chính lối sống như vậy của cha mẹ thể làm con bắt chước theo hoặc cảm thấy mặc cảm, xấu hổ với bạn bè, người xung quanh…
Thứ tư, xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Một trong nghĩa vụ của cha mẹ đối với con được quy định tại Điều 69 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 là “không được xúi giục, ép buộc con làm những điều trái pháp luật, trái đạo đức xã hội”. Hành vi sau của cha mẹ có thể được xác định là “xúi giục, ép buộc con làm những điều trái pháp luật, trái đạo đức xã hội”: Dụ dỗ, lôi kéo trẻ em đi lang thang; Dụ dỗ, lừa dối, ép buộc trẻ em mua, bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý; lôi kéo trẻ em đánh bạc; Dụ dỗ, lừa dối, dẫn dắt, chứa chấp, ép buộc trẻ em hoạt động mại dâm; Lợi dụng, dụ dỗ, ép buộc trẻ em mua, bán, sử dụng văn hoá phẩm kích động bạo lực, đồi trụy; Lợi dụng trẻ em vì mục đích trục lợi; xúi giục trẻ em thù ghét cha mẹ, người giám hộ hoặc xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của người khác.

3. Hậu quả pháp lý của việc cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên

Hậu quả pháp lý của việc cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên được quy định tại Điều 87 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Cụ thể là:
– Trong trường hợp cha hoặc mẹ bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên thì người kia thực hiện quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con và đại diện theo pháp luật cho con.
– Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên được giao cho người giám hộ theo quy định của BLDS và Luật này trong các trường hợp sau đây:
+ Cha và mẹ đều bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên;
+ Một bên cha, mẹ không bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên nhưng không đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con;
+ Một bên cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên và chưa xác định được bên cha, mẹ còn lại của con chưa thành niên.
– Cha, mẹ đã bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

4. Một số bất cập trong thực tiễn

Từ thực tiễn giải quyết yêu cầu hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên tại Tòa án và nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành, tác giả thấy có những vướng mắc sau cần được hướng dẫn:
Thứ nhất, về cơ quan có quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em.
Như tác giả đã trình bày, cơ quan quả lý nhà nước về gia đình và trẻ em theo quy định hiện nay có thể là ở trung ương hoặc ở địa phương. Vậy cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em nào có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
Thứ hai, cần hướng dẫn rõ ràng hơn về những hành vi của cha, mẹ có thể bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.
Hiện nay những trường hợp cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên chỉ được quy định tại khoản 1 Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Những hành vi này có thể xảy ra hàng ngày ở nhiều nơi. Tuy nhiên, thế nào là “vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”, thế nào là “Phá tán tài sản của con” và thế nào là “Có lối sống đồi trụy” thì cần được hướng dẫn cụ thể. Tránh trường hợp hiểu không đúng dẫn đến sự tùy tiện ra quyết định hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên, thậm chí là không đúng quy định pháp luật. Đáng lẽ, tính chất mức độ hành vi của cha, mẹ là chưa nghiêm trọng hoặc chưa thể coi là phá tán tài sản của con… nhưng Tòa án ra quyết định hạn chế quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hoặc hạn chế quyền quản lý tài sản riêng của con.. hoặc ngược lại nhưng Tòa án không chấp nhận yêu cầu hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
Thứ ba, về thời hạn Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên và trình tự thủ tụcxét rút ngắn thời gian.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức do pháp luật quy định ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này. Như vậy, khoảng thời gian từ 01 đến 05 năm là rất rộng. Điều này sẽ dẫn đến tình trạng cùng tính chất, mức độ của hành vi nhưng mỗi Tòa án lại có quyết định thời hạn khác nhau. Cha, mẹ có thể có một hoặc nhiều hành vi quy định tại khoản 1 Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên theo tác giả, vấn đề thời hạn Tòa án ra quyết định hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên theo hướng phân biệt trường hợp có một hành vi có thể là từ 01 đến 03 năm nhưng với trường hợp ó 02 hành vi trở lên thì có thể tối đa là 05 năm. Ngoài ra, điều kiện, trình tự, thủ tục xét rút ngắn thời hạn hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên cũng như điều kiện để Tòa án xét rút ngắn thời hạn này cũng cần được hướng dẫn cụ thể hơn.

DƯƠNG TẤN THANH (TAND thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh)